Thực trạng và những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trực thuộc thành phố hà nội
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trường Đại học nông nghiệp I
Trang 2Bộ giáo dục và đào tạo
Trường Đại học nông nghiệp I
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tất cả các nguồn số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc và mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã đ−ợc cám ơn đầy đủ
Hà nội, ngày 20 tháng 8 năm 2004
Tác giả luận văn
Bùi Đức Long
Trang 4Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo trường Đại học Nông nghiệp I, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Khoa Sau Đại học, ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, Sở Tài chính Vật giá Hà Nội, Sở Lao động Thương binh xã hội Hà Nội, Chi cục Tài chính doanh nghiệp Hà Nội, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi giúp
đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo, tiến sỹ Trần Văn Đức người đã trực tiếp và tận tâm hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Vì nhiều lý do khách quan và chủ quan luận văn còn có những hạn chế Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các Thầy giáo, Cô giáo và đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 8 năm 2004
Bùi Đức Long
Trang 5Danh mục chữ viết tắt
HĐQT ………: Hội đồng quản trị SXKD ……….: Sản xuất kinh doanh TTCK ……….: Thị trường chứng khoán UBND ………: Uỷ ban nhân dân
XHCN ……….: Xã hội chủ nghĩa
Trang 6Danh mục các bảng biểu
Bảng 18 Một số chỉ tiêu của CTCP dệt 10/10 trước và sau CPH 59
Bảng 7 Phân loại DNNN theo hiệu quả sản xuất kinh doanh 102
Bảng 9 Phân loại DNNN theo thu nhập của người lao động 102
Bảng 11 Số lượng các DNNN CPH theo ngành đến hết năm 2002 103Bảng 12 Số lượng các DNNN CPH theo vốn điều lệ hết năm 2002 103Bảng 13 Danh sách các DNNN đã CPH đến hết năm 2002 (phụ lục 1) 104
Trang 7Danh mục các sơ đồ
Trang
Sơ đồ 1 Lịch sử hình thành và phát triển Công ty cổ phần 14Sơ đồ 2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần 18
Trang 8Danh mục các đồ thị
Trang
Trang 91 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Doanh nghiệp Nhà nước (gọi tắt là DNNN) là thành phần kinh tế chủ lực và đóng vai trò chủ đạo của nền kinh tế quốc dân Trong suốt mấy chục năm qua DNNN giữ những vị trí then chốt, đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học
và công nghệ, nêu gương về năng suất chất lượng, hiệu quả kinh tế - xã hội và chấp hành pháp luật chi phối nhiều ngành và lĩnh vực then chốt, là lực lượng nòng cốt trong tăng trưởng kinh tế, trong xã hội và đóng góp ngân sách Nhà nước, góp phần quan trọng trọng ổn định kinh tế xã hội, đồng thời DNNN là lực lượng chính trong việc bảo đảm cung cấp sản phẩm và dịch vụ công ích chủ yếu của xã hội Tuy nhiên khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường thì các DNNN đã dần bộc lộ những yếu điểm và tỏ ra không có hiệu quả như: hiệu quả sản xuất, kinh doanh và sức cạnh tranh thấp, không tương ứng với điều kiện và lợi thế có được Tốc độ tăng trưởng của một số đơn vị có biểu hiện giảm dần; Không ít DNNN còn ỷ lại vào sự bảo hộ, bao cấp của Nhà nước đầu tư đổi mới công nghiệp chậm, trình độ công nghệ lạc hậu Do đó gây
ra những hậu quả không tốt, Nhà nước thất thoát vốn, thu nhập của người lao
động thấp, DNNN trở thành gánh nặng cho ngân sách Nhà nước [12] Vì vậy việc duy trì các DNNN ở những lĩnh vực không quan trọng là không cần thiết
Trong điều kiện từng bước mở rộng hội nhập quốc tế và khu vực, gia nhập các tổ chức khu vực và quốc tế (AFTA, WTO) thì việc nâng cao hiệu quả
và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp là vấn đề có ý nghĩa sống còn Mặt khác để giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà nước thì đòi hỏi Chính phủ phải có mô hình quản lý mới [11] Việc cổ phần hoá (gọi tắt là CPH) DNNN
là một phương cách mà nhờ đó doanh nghiệp nâng cao được tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình, nâng cao khả năng cạnh tranh
Trang 10trong sản xuất kinh doanh Chính vì vậy việc đổi mới và phát triển các doanh nghiệp trong đó có CPH là một tất yếu khách quan và phù hợp với quá trình chuyển đổi nền kinh tế của đất nước Hiện nay nước ta là một nước có nền kinh tế phát triển trong khu vực châu á, việc tham gia vào các tổ chức kinh tế trong khu vực và trên thế giới sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ hơn nữa Để thực hiện được mong muốn trên thì việc phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ việc CPH trong thời gian tới là việc làm rất cấp thiết
Cho đến nay số lượng các DNNN trực thuộc thành phố Hà Nội quản lý CPH vẫn là con số rất kiêm tốn Vậy tại sao quá trình CPH thuộc Thành phố
Hà Nội lại chậm như vậy? Làm thế nào để đẩy nhanh tiến trình CPH DNNN?
Để kịp thời có những tổng kết và đánh giá một cách khoa học về thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về CPH, về kết quả và hoạt động của các Công
ty Cổ phần trực thuộc thành phố Hà Nội là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn hiện nay Xuất phát từ thực tiễn sản xuất, yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đưa nước ta trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 Chúng tôi đã chọn đề tài:
cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc thành phố Hà Nội”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước
Đánh giá thực trạng quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc thành phố Hà Nội trong những năm qua, xác định kết quả tích cực đã
đạt được, những tồn tại và nguyên nhân Đưa ra định hướng và đề xuất các giải pháp cơ bản góp phần đẩy nhanh tiến độ và thực hiện có hiệu quả công tác cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước trên địa bàn nghiên cứu
Trang 11Việc nghiên cứu đề tài này sẽ giúp tôi nhiều và rất thiết thực cho việc cổ phần hoá công ty vào tháng 6/2004 trên cương vị là phó giám đốc, phó ban ban đổi mới doanh nghiệp của Công ty Đầu tư Khai thác Hồ Tây - Hà Nội
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các vấn đề kinh tế, tổ chức gắn liền với quá trình CPH các doanh nghiệp Nhà nước
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát một số DNNN trực thuộc thành phố Hà Nội
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 10/2003 đến tháng 5/2004
Phạm vi nội dung: nghiên cứu các DNNN đã CPH, đang CPH đánh giá mặt được, chưa được, tìm ra nguyên nhân để có biện pháp đẩy nhanh quá trình CPH
Trang 122 Tổng quan tàI liệu nghiên cứu
2.1 Cơ sở lý luận
Công tác CPH thực chất là chuyển đổi sở hữu của doanh nghiệp, từ sở hữu của Nhà nước sang đa dạng hoá chủ sở hữu nhằm thu hút các nguồn vốn và kinh nghiệm tổ chức sản xuất từ các nhà đầu tư và người lao động, tạo cơ sở cho việc
đổi mới các quan hệ quản lý và phân phối sản phẩm, tạo động lực mới, phát huy quyền làm chủ kinh doanh nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của DN thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn nhằm hiện đại hoá nền kinh tế
2.1.1 Nền kinh tế thị trường, đặc điểm và cơ chế vận động
Kinh tế thị trường là hình thức kinh tế ở trình độ và giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá Với tư cách là một hệ thống kinh tế, kinh tế thị trường có những đặc điểm trong kết cấu và các liên hệ kinh tế của nó
Thứ nhất: về mặt kết cấu nền kinh tế thị trường gồm các bộ phận cơ bản sau đây:
- Bộ phận thứ nhất bao gồm các doanh nghiệp, công ty, những đơn vị kinh tế độc lập có tư cách pháp nhân, có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, bình đẳng với nhau về mặt pháp lý, nhưng lệ thuộc với nhau trong hệ thống phân công lao động xã hội, tức là có sự tồn tại của các tổ chức, các đơn
vị kinh tế với tư cách là các chủ thể của nền kinh tế hàng hoá, các quan hệ hàng hoá tiền tệ
Trong nền kinh tế thị trường không chỉ có hình thức kinh tế tư nhân thuần tuý, mà đồng thời còn có nhiều hình thức kinh tế khác kinh tế tập thể, kinh tế Nhà nước Nhưng dù thuộc thành phần kinh tế nào thì các đơn vị, các
tổ chức kinh tế cũng đều độc lập với nhau, có quyền tự chủ trong SXKD và giữa các đơn vị, các tổ chức kinh tế này có mối liên hệ trao đổi với nhau để
Trang 13thoả mãn nhu cầu của mình Đây là điều kiện để có nền kinh tế hàng hoá, nền kinh tế thị trường
- Bộ phận thứ hai cấu thành nền kinh tế thị trường chính là hệ thống thị trường, các quan hệ thị trường, môi trường kinh tế cho sự tồn tại và vận
động của các chủ thể SXKD Trong nền kinh tế thị trường có cả một hệ thống thị trường gồm: thị trường hàng hoá tư liệu tiêu dùng, tư liệu sản xuất, thị trường sức lao động, thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán Đó là hệ thống thị trường thống nhất, không bị chia cắt theo
địa giới hành chính, hơn nữa về một số mặt, một số lĩnh vực nó còn mở rộng gắn liền với thị trường thế giới
- Bộ phận nữa của nền kinh tế thị trường là kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội của đất nước Đây là bộ phận vừa là điều kiện vừa là biểu hiện của sự phát triển của nền kinh tế thị trường Đó chính là hệ thống giao thông vận tải, mạng lưới thương mại, du lịch, mạng thông tin liên lạc, hệ thống ngân hàng, các công ty tài chính, bảo hiểm và các tổ chức tư vấn
- Bộ phận cuối cùng cấu thành nền kinh tế thị trường là những vấn đề hết sức quan trọng và không thể thiếu được đó chính là hệ thống thể chế pháp luật tạo nên môi trường pháp lý hướng dẫn và điều chỉnh các hành vi của các chủ thể kinh tế, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể kinh tế như: quyền
tự do kinh doanh theo pháp luật, quyền chuyển nhượng tài sản, quyền sở hữu tài sản
Thứ hai: ngoài những đặc trưng riêng về mặt kết cấu, nền kinh tế thị trường còn có những đặc trưng về hình thức của các quan hệ kinh tế, đó là tính phổ biến, tính bao trùm của các quan hệ hàng hoá tiền tệ
Cùng việc biến tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, sức lao động, tiền tệ
và các dịch vụ thành hàng hoá, thì hầu như mọi quan hệ kinh tế trong nền kinh
tế thị trường đều mang hình thức quan hệ tiền tệ Trong nền kinh tế thị trường
Trang 14tồn tại một hệ thống các quan hệ và quy luật kinh tế chi phối hoạt động của các chủ thể cũng như của toàn bộ nền kinh tế, trong đó nổi bật là các quan hệ
và quy luật: cung cầu, cạnh tranh, quy luật giá trị và giá trị thặng dư, quy luật tích tụ tư bản Các quan hệ và quy luật này là những yếu tố trực tiếp điều tiết hành vi của chủ thể kinh tế Các doanh nghiệp xuất phát từ nhu cầu và điều kiện của thị trường để xây dựng và lựa chọn phương án kinh doanh, họ lấy việc giành thế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường, tối đa hoá lợi nhuận làm mục tiêu của việc sản xuất kinh doanh
Thị trường điều tiết hoạt động của mọi chủ thể kinh tế và do đó cũng là yếu tố trực tiếp điều tiết hoạt động của toàn bộ nền kinh tế Đó chính là cơ chế vận động của nền kinh tế thị trường, hay cơ chế thị trường Cơ chế thị trường
là cơ chế điều tiết tự phát, điều tiết bằng “bàn tay vô hình“
Ưu thế của điều tiết thị trường bằng bàn tay vô hình là nó phát huy tối
đa mọi nguồn lực của xã hội, nó kích thích sự sáng tạo của mọi chủ thể kinh
tế, nhạy bén linh hoạt trong việc đáp ứng nhu cầu đa dạng, phong phú và luôn biến đổi của thị trường
Cơ chế thị trường với sự điều tiết của bàn tay vô hình là cơ chế chọn lọc
tự nhiên, đào thải những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả tạo ra sức mạnh cho cả hệ thống doanh nghiệp phát triển
Cơ chế thị trường là một cơ chế kích thích và điều tiết có hiệu quả, nhưng cơ chế thị trường không phải là vạn năng, hoàn hảo, không có khuyết tật Trong khi kích thích tới mức cao độ tính năng động, sáng tạo vì mục tiêu lợi nhuận, cơ chế thị trường cũng kích thích đầu cơ, làm cho quan hệ cung cầu, giá cả thị trường không phải bao giờ cũng phản ánh đúng nhu cầu của xã hội Trong khi kích thích sản xuất ở những khâu, những bộ phận riêng biệt nó
đã phá vỡ sự cân đối chung, những điều kiện sản xuất bình thường của nền kinh tế, gây nên những hậu quả cho nền kinh tế như khủng hoảng, thất nghiệp,
Trang 15ô nhiễm môi trường, mất cân bằng xã hội, làm suy thoái đạo đức con người và nhiều hậu quả khác về kinh tế xã hội
Khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định, có hiệu quả, bảo vệ người lao động, bảo vệ môi trường sinh thái, hạn chế những phân cực của xã hội chính là những yêu cầu,
là cơ sở khách quan của chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước
Nghiên cứu đặc điểm về kết cấu, quan hệ kinh tế và cơ chế vận động của nền kinh tế thị trường, Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật và hệ thống chính sách vĩ mô ưu tiên, lựa chọn những mô hình kinh tế, những loại hình doanh nghiệp phát triển phù hợp với kinh tế thị trường, phát huy tối đa những
ưu thế của chúng để thúc đẩy nền kinh tế phát triển một cách vững chắc đồng thời có các biện pháp ngăn ngừa, khắc phục những khuyết tật, những hậu quả
mà kinh tế thị trường mang lại
2.1.2 Xu hướng vận động của doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế
thị trường
2.1.2.1 Khái niệm, vai trò và đặc điểm của doanh nghiệp Nhà nước
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập và hoạt động sản xuất kinh doanh theo pháp luật với mục đích là lợi nhuận
Có nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau tuỳ theo tiêu thức phân loại
và mục đích nghiên cứu Xét theo góc độ sở hữu thì các doanh nghiệp được chia thành:
- Doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước
- Doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân
- Doanh nghiệp thuộc sở hữu tập thể
Trong nền kinh tế thị trường dưới sự tác động của các quy luật và các quan hệ thị trường, để có thể tồn tại và phát triển được thì các doanh nghiệp dù
Trang 16ở loại hình nào cũng phải phát huy tối đa tính năng động sáng tạo của mình để
đáp ứng và thoả mãn một cách nhanh nhậy và đầy đủ nhất các nhu cầu hết sức phong phú, đa dạng và luôn thay đổi của thị trường
DNNN với tư cách là một tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý hoạt động SXKD theo những mục tiêu kinh tế xã hội của Nhà nước đề ra Sự ra đời và tồn tại của các DNNN ở mỗi nước trên thế giới đều do những nguyên nhân kinh tế, xã hội khách quan chi phối, do vậy vai trò của DNNN đối với các nước cũng khác nhau Tuy vậy chúng đều trở thành một bộ phận quan trọng trong cơ cấu của nền kinh tế mỗi nước, thể hiện:
- Thứ nhất: DNNN là thực lực kinh tế quan trọng, là công cụ hữu hiệu trong tay Nhà nước để Nhà nước thực hiện chức năng điều chỉnh cho nền kinh
tế Như ta đã biết nền kinh tế thị trường do sự tác động của bàn tay vô hình nó
đã mang lại cho nền kinh tế nhiều khuyết tật, các doanh nghiệp cạnh tranh không bình đẳng, lợi ích của các doanh nghiệp không phải lúc nào cũng phù hợp với lợi ích của xã hội Do vậy nếu không được điều chỉnh sẽ dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp sẽ tự phát vận động và phát triển theo từng xu hướng riêng, vì lợi ích cá nhân, điều này sẽ làm cho nền kinh tế phát triển theo hướng mất cân đối dễ dẫn đến suy thoái và khủng hoảng kinh tế
Để điều chỉnh nền kinh tế, Nhà nước dùng hệ thống các chính sách pháp luật tạo hành lang và tạo ra sự kích thích, điều tiết quan trọng nhằm vừa phát huy thế mạnh vốn có, vừa đảm bảo hành lang pháp lý cần thiết hướng vào mục tiêu chung Đó là hướng quan trọng nhất, song chỉ riêng điều đó chưa đủ, Nhà nước cần phải có một thực lực kinh tế, một sức mạnh nằm ngay trong đời sống kinh tế xã hội, thông qua điều hành trực tiếp các DNNN mà tác động gián tiếp vào các doanh nghiệp khác phát triển theo quỹ đạo của mình từ đó góp phần làm cho nền kinh tế ổn định và tăng trưởng
Trang 17Thứ hai: DNNN là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện các chức năng quản lý xã hội của mình, thể hiện:
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp luôn hướng tới mục tiêu
là kinh doanh mang lại lợi nhuận tối đa, do vậy họ thường đầu tư vào những ngành, những lĩnh vực mà có thể đạt được mục tiêu của họ Còn các ngành, các lĩnh vực khó khăn mang lại lợi nhuận ít hoặc không có lợi nhuận thì họ không đầu tư, song chính các ngành, lĩnh vực này nếu được đầu tư thì nó rất
có ý nghĩa hoặc có hiệu quả lớn về mặt xã hội và không thể thiếu được khi xã hội ngày càng phát triển Do vậy, để thực hiện chức năng xã hội của mình Nhà nước buộc phải đầu tư vào các lĩnh vực trên, đó là các DNNN công ích, sản xuất và cung ứng các dịch vụ công cộng hoặc phục vụ quốc phòng an ninh
Thứ ba: thông qua các DNNN mà Nhà nước tác động trực tiếp đến sự phân bố các nguồn lực Do kinh tế thị trường chạy theo lợi nhuận và tự do cạnh tranh, mặt khác các nguồn lực kinh tế của đất nước phân bố không đều, vì vậy không phát huy được tổng thể các nguồn lực kinh tế Nhà nước thông qua các DNNN mà điều chỉnh và tác động trực tiếp đến việc phân bố này trong xã hội, đảm bảo phát huy tối đa các nguồn lực của đất nước
ở Việt Nam, ngoài những vai trò trên, DNNN giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, DNNN là nhân tố cơ bản mang đầy đủ bản chất của nền kinh tế quá độ lên Chủ nghĩa xã hội DNNN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, nó làm nền móng, làm nòng cốt cho sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước
Trong nền kinh tế thị trường DNNN có những nét đặc trưng khác hẳn với các DNNN trong nền kinh tế tập trung bao cấp, đó là:
- DNNN là một tổ chức kinh tế có đầy đủ tư cách pháp nhân, có quyền
tự chủ kinh doanh, tự chủ về tài chính Nhà nước không can thiệp trực tiếp và tuyệt đối bằng hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh Nhà nước, mà Nhà nước quản lý
Trang 18các doanh nghiệp thông qua hệ thống chính sách và pháp luật Các DNNN chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc bảo toàn và phát triển vốn Nhà nước giao, đảm bảo các chỉ tiêu về nộp ngân sách Nhà nước, Nhà nước xoá bỏ bao cấp đối với DNNN
- Hoạt động trong nền kinh tế thị trường, do đó các DNNN chịu sự chi phối hoàn toàn bởi các quy luật kinh tế khách quan của nền kinh tế thị trường DNNN được quyền tự huy động vốn và đầu tư vốn, cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau và có thể bị phá sản theo luật phá sản nếu kinh doanh thua lỗ kéo dài
2.1.2.2 Xu hướng vận động của doanh nghiệp Nhà nước
Như trên chúng ta đã nghiên cứu, DNNN có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của mỗi nước, tuy vậy thực tế cho thấy các DNNN làm ăn ngày càng kém hiệu quả, ngay cả trong điều kiện được Nhà nước ưu đãi song các DNNN vẫn làm ăn kém hiệu quả hơn doanh nghiệp tư nhân Điều này cho thấy nếu các nước vẫn duy trì nhiều DNNN thì sẽ dẫn đến tình trạng nền kinh
tế kém hiệu quả, ngân sách Nhà nước phải trợ cấp cho DNNN lớn và có thể dẫn đến khủng hoảng kinh tế Nhà nước
Có thể đưa ra các nguyên nhân dẫn đến sự hoạt động không hiệu quả của các DNNN, xét trên quan hệ quản lý đối với chúng:
Thứ nhất: DNNN luôn được sự bảo vệ, trợ cấp của Nhà nước, không phải chịu sức ép kinh tế cao vì vậy DNNN không tìm biện pháp để nâng cao hiệu quả, không có sự gắn bó, rằng buộc lợi ích vật chất của cán bộ quản lý và công nhân với hiệu quả hoạt động của DNNN
Thứ hai: các DNNN thường hoạt động trong sự kiểm soát quá chặt chẽ
và sự áp đặt cứng nhắc về nhiều mặt của Nhà nước Điều đó làm giảm đi tính chủ động, năng động sáng tạo trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Một số DNNN khác hoạt động sản xuất kinh doanh mang tính chất và
Trang 19vị trí độc quyền không có môi trường cạnh tranh làm mất động lực quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Thứ ba: các cán bộ quản lý của DNNN do sự bổ nhiệm, sắp xếp của cấp trên nên thường thiếu những người cán bộ quản lý điều hành sản xuất kinh doanh có trình độ và năng lực thực sự
Thứ tư: các DNNN thường phải đảm nhiệm nhiều trách nhiệm xã hội, thậm chí là những gánh nặng xã hội
Tình trạng kinh doanh thua lỗ, kém hiệu quả của các DNNN diễn ra ở hầu hết các nước trên thế giới Xuất phát từ thực trạng đó, trong khoảng giữa thập niên 80, trên thế giới đã có xu hướng khá phổ biến là từ bỏ các DNNN Hơn 60 nước đã tuyên bố “từ bỏ” DNNN, ở Pháp 200 DNNN, ở Hà Lan 75 DNNN, ở Thuỵ Điển 75 DNNN
ở Việt Nam việc giải bài toán DNNN đang ngày càng bộc lộ những yếu
điểm của nó, thì Nhà nước đã chỉ đạo việc sắp xếp và chuyển đổi DNNN để tăng cường hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này Trong đó CPH là biện pháp khá phổ biến
ở các nước khác nhau cách giải quyết vấn đề này là khác nhau Trên thế giới việc giải “bài toán” DNNN thực tế đã diễn ra theo 3 hướng sau đây:
Thứ nhất: bán tài sản của các DNNN nhằm thu về cho ngân sách của Chính phủ một khoản thu đáng kể Chẳng hạn ở Anh năm 1987 thu về 3,75 tỷ bảng Anh nhờ bán tài sản của các DNNN, ở Pháp, Italia cũng đã thu về hàng chục tỷ USD do bán các tài sản của các DNNN
Thứ hai: áp dụng những những biện pháp chủ yếu nhằm cải tiến quản lý các DNNN Đó là những biện pháp nhằm đặt giám đốc doanh nghiệp (DN) vào các tình huống, điều kiện giống như giám đốc các doanh nghiệp tư nhân, giao cho họ mục tiêu thương mại, thực hiện chế độ tự chủ rộng rãi, gắn thu nhập với kết quả hoạt động tài chính doanh nghiệp, tách các mục tiêu xã hội
Trang 20khỏi các mục tiêu thương mại, ít nhất là trên phương diện tài chính, tức là Nhà nước bù đắp những thiệt hại do DN phải đảm nhiệm, những nhiệm vụ xã hội
do yêu cầu của chính phủ
Thứ ba: giảm tỷ trọng các DNNN, Nhà nước chỉ giữ những ngành, những lĩnh vực thiết yếu để thực hiện có hiệu quả các chức năng của mình Các DNNN còn lại thì được tư nhân hoá hay cổ phần hoá (CPH)
2.1.3 Sự cần thiết phải cổ phần hoá Doang nghiệp Nhà nước
2.1.3.1 Công ty Cổ phần và những ưu điểm của nó
Công ty Cổ phần ra đời trên cơ sở nền sản xuất xã hội hoá cao, đặc biệt
là xã hội hoá về vốn Do đó việc nghiên cứu lịch sử hình thành Công ty Cổ phần là rất cần thiết cho sự hình thành và phát triển hình thái Công ty Cổ phần Lịch sử hình thành Công ty Cổ phần trên thế giới chia thành 3 hình thái, bắt đầu từ hình thái sơ khai cho đến hình thái chung vốn đến hình thái Công ty
Cổ phần
+ Hình thái kinh doanh một chủ:
Dùng để chỉ các loại doanh nghiệp, trong đó sở hữu của người chủ tư nhân được duy trì và phát triển bằng lao động của bản thân hoặc thuê mướn với vốn liếng sẵn có Hình thức này gồm 2 loại: kinh doanh theo phương thức sản xuất TBCN và kinh doanh theo phương thức hàng hoá nhỏ Giữa chúng tuy có sự khác nhau về đặc điểm, về mục đích kinh doanh, nhưng lại là sự kế tiếp khách quan, tất yếu của cùng một quá trình phát triển dựa trên sở hữu tư nhân Hình thái kinh doanh một chủ ngày càng phát triển theo những quy luật kinh tế tồn tại của nền sản xuất TBCN thì quy mô tích tụ và tập trung tư bản ngày càng lớn hơn Với mục đích kinh doanh là ngày càng thu được lợi nhuận cao và sự chi phối bởi hai cực cạnh tranh và độc quyền, quá trình trên đã làm cho tư bản nhỏ lần lượt bị tư bản lớn đánh bại
Trang 21+ Hình thức kinh doanh chung vốn:
Sự ra đời của hình thức này đáp ứng yêu cầu phát triển của kinh tế hàng hoá, thị trường thế giới ngày càng mở rộng, quy mô buôn bán sản xuất đòi hỏi tập trung tư bản ngày càng cao, các nhà tư bản cá biệt không tự mình đáp ứng
được nữa Khi xuất hiện hình thái này dần dần chiếm lĩnh các ngành trọng yếu, quy mô lớn Đây là bước tiến hoá trong chế độ tín dụng từ phương thức kinh doanh chủ yếu dựa vào vay mượn sang phương thức kinh doanh chủ yếu dựa vào góp vốn Vì vậy, xét về mặt sở hữu, hình thái kinh doanh chung vốn là tiền đề cho sự ra đời Công ty Cổ phần với tư cách là sự chung vốn của nhiều người cùng tham gia quản lý, kinh doanh, cùng chia sẻ lợi nhuận và rủi ro theo phần vốn góp
+ Hình thái Công ty Cổ phần:
Chính sự ra đời và phát triển của chế độ tín dụng đã góp phần thúc đẩy nhanh quá trình tập trung tư bản bằng việc thúc đẩy nhanh quá trình tuần hoàn
và di chuyển các loại vốn, tăng nhanh quy mô sản xuất kinh doanh và thúc
đẩy nhanh quá trình sản xuất hoá sở hữu trong nền kinh tế thị trường TBCN Nhờ đó tạo cơ sở cho việc hình thành thị trường vốn đầu tư và thông qua hoạt
động của hệ thống ngân hàng đã góp phần tạo tiền đề cho sự ra đời CTCP Sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán đã giúp cho các công ty
mở rộng và xâm nhập mạnh mẽ vào tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế thị trường TBCN Sự ra đời và phát triển của CTCP đã đánh dấu sự chuyển hướng nền kinh tế từ trạng thái vay mượn chủ yếu qua ngân hàng hoặc chung vốn sang huy động vốn trên thị trường tài chính, Công ty Cổ phần và thị trường tài chính có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động vào nhau cùng phát triển, trải qua thời gian, hình thái Công ty Cổ phần ngày càng được hoàn thiện, phát triển và
đa dạng hoá
Trang 22Hình thái kinh doanh 1 chủ
- Thứ nhất: nó làm rõ được quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp, làm rõ quan hệ giữa quyền sở hữu tài sản và quyền quản lý doanh nghiệp tạo
điều kiện cho doanh nghiệp tự chủ sản xuất kinh doanh và tự chủ huy động vốn
- Thứ hai: Công ty Cổ phần tạo điều kiện cải tạo hoạt động của doanh nghiệp
- Thứ ba: tạo điều kiện ổn định thúc đẩy đơn vị phát triển lâu dài, tạo
điều kiện để cán bộ, nhân viên gắn bó với doanh nghiệp, phát huy khả năng
đóng góp xây dựng doanh nghiệp
- Thứ tư: Công ty Cổ phần tạo điều kiện hình thành thị trường chứng khoán, cho phép giải quyết vấn đề khan hiếm và hiệu quả sử dụng vốn
- Thứ năm: Công ty Cổ phần cho phép giải quyết tốt mối quan hệ giữa các lợi ích kinh tế (Nhà nước, công ty và các cá nhân) thực hiện tốt nguyên tắc các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật
Trang 232.1.3.3 Bản chất của Công ty Cổ phần
* Một số khái niệm
Công ty Cổ phần: là doanh nghiệp trong đó có cổ đông cùng nhau góp vốn, cùng tham gia quản lý, cùng chia lợi nhuận, cùng chịu rủi ro tương ứng với phần vốn góp của mình [18]
- Cổ phần là số vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau
- Cổ phần chi phối của Nhà nước: là các loại cổ phần đáp ứng một trong 2 điều kiện sau:
+ Cổ phần của Nhà nước chiếm hơn 50% tổng số cổ đông công ty
+ Cổ phần của Nhà nước chiếm ít nhất gấp 2 lần cổ phần của cổ đông lớn nhất khác trong công ty
- Cổ phần đặc biệt của Nhà nước: là cổ phần của Nhà nước trong công
ty mà Nhà nước không có cổ phần chi phối nhưng có quyền quyết định một số vấn đề quan trọng của công ty được ghi trong điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty Cổ phần
- Giám đốc (Tổng giám đốc): là người điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty và chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị và thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn được giao
Trang 24- Ban kiểm soát: là tổ chức của công ty có trách nhiệm thay mặt cổ
đông kiểm soát các hoạt động của công ty, chủ yếu là vấn đề tài chính
* Đặc điểm của Công ty Cổ phần
* Xét về mặt tài chính
Đặc trưng có tính quyết định để phân biệt Công ty Cổ phần với các loại hình tổ chức kinh tế khác là vốn của Công ty Cổ phần được chia thành nhiều phần Điều này rất thuận lợi, bởi những đối tượng có số tiền tích luỹ nhỏ không đủ điều kiện thành lập doanh nghiệp hay một loại hình kinh doanh nào thì việc xuất hiện Công ty Cổ phần đã tạo cho họ cơ hội đầu tư một cách có lợi
và an toàn cho những khoản vốn nhỏ nhưng gộp lại trở thành rất lớn thông qua cách mua cổ phiếu Hình thức cổ phiếu có sức hấp dẫn riêng mà các hình thức khác không có, bởi vì:
- Việc mua cổ phiếu không những đem lại cho cổ đông lợi tức cổ phần
mà còn hứa hẹn mang đến cho cổ đông một khoản thu nhập ngầm nhờ việc gia tăng trị giá cổ phiếu khi công ty làm ăn có hiệu quả
- Các cổ đông có quyền tham gia quản lý theo điều lệ của công ty và
được pháp luật đảm bảo, điều đó làm cho quyền sở hữu của cổ đông trở nên cụ thể và có sức hấp dẫn hơn
- Cổ đông có quyền ưu đãi hơn trong việc mua cổ phiếu mới phát hành của công ty trước khi đem bán rộng rãi cho công chúng
Bản thân Công ty Cổ phần được pháp luật thừa nhận như một pháp nhân độc lập, tách rời với cá nhân góp vốn và người kiểm soát nó, tách quyền
sở hữu với quyền quản lý và sử dụng Những người đóng vai trò sở hữu trong Công ty Cổ phần có thể trực tiếp đứng ra kinh doanh hoặc là uỷ thác chức năng đó cho bộ máy quản lý của công ty
* Xét về sở hữu
Công ty Cổ phần có nhiều chủ sở hữu Hình thái Công ty Cổ phần đã
Trang 25thực hiện tách quan hệ sở hữu với quyền quản lý và sử dụng tạo hình thái xã hội hoá sở hữu Những người đóng vai trò sở hữu trong Công ty Cổ phần không trực tiếp đứng ra kinh doanh mà uỷ thác chức năng đó cho bộ máy quản
lý của công ty Phần lớn các cổ đông không tham gia trực tiếp quản lý mà giao cho bộ máy quản lý của công ty điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh cùng mọi quan hệ giao dịch Chủ sở hữu chỉ thực hiện quyền sở hữu của mình trên các mặt:
- Thu lợi tức cổ phần trên cơ sở kết quả hoạt động của công ty
- Quyết định các vấn đề có tính chiến lược của công ty khi tham gia
đại hội cổ đông thông qua điều lệ, phương án xây dựng
- Không được trực tiếp rút vốn từ công ty, nhưng có thể chuyển nhượng quyền sở hữu của mình thông qua bán cổ phiếu
* Xét về mặt pháp lý
Công ty Cổ phần (CTCP) có tư cách pháp nhân độc lập, công ty có đủ tư cách là bên “nguyên” có quyền yêu cầu luật pháp xử lý những cá nhân, tổ chức xâm phạm đến quyền lợi của công ty Công ty cũng có thể là bên “bị
đơn” có thể bị toà án truy tố khi công ty vi phạm lợi ích của cá nhân, của tổ chức kinh tế nào đó hoặc vi phạm luật pháp gây ra thiệt hại cho xã hội
Các cổ đông - người góp vốn cho công ty chỉ có trách nhiệm với cam kết tài chính của công ty và được giới hạn bằng số tiền mà họ đóng góp dưới hình thức mua cổ phiếu và các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm tài chính trong phạm vi số tiền đã đầu tư vào công ty mà không phải chịu trách nhiệm vô hạn Nhờ đặc điểm này Công ty Cổ phần đã khắc phục được những trở ngại quan trọng mà các hình thức kinh doanh khác không thực hiện được như tránh mạo hiểm cho toàn bộ số tài sản của mình, cổ phiếu đã tạo sự tin tưởng và chủ
động đầu tư của những người có vốn không e ngại với những hậu quả tài chính
có thể xảy ra với toàn bộ tài chính gia đình họ
Trang 26* Xét về mặt tổ chức quản lý
Cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần phản ánh rất rõ đặc điểm về sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý kinh doanh Quyền sở hữu tối cao đối với công ty thuộc về đại hội cổ đông, thường được tổ chức mỗi năm một lần để lựa chọn và bãi miễn hội đồng quản trị, quyết định sửa đổi điều lệ công ty, phân chia lợi nhuận, phát hành cổ phiếu bầu ban kiểm soát, còn toàn
bộ hoạt động quản lý kinh doanh thuộc về Ban giám đốc điều hành, tổng giám
đốc (giám đốc) có thể là người của công ty hoặc người được thuê từ bên ngoài, giám đốc không làm việc theo nhiệm kỳ mà làm việc theo hợp đồng ký kết với hội đồng quản trị
Với cơ cấu tổ chức này đã tạo ra một mô hình quản lý rất chặt chẽ và hiệu quả, thích ứng với nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển
Giám đốc(hoặc tổng giám đốc điều hành)
Phó giám đốc
(Giám đốc điều
hành)
Phó giám đốc (Giám đốc điều hành)
Phó giám đốc (Giám đốc điều hành)
Phòng ban chuyên môn
Các Xí nghiệp trực thuộc
Các Xí nghiệp trực thuộc
Đại hội cổ đông
Sơ đồ 2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần
Trang 27* Ưu điểm của Công ty Cổ phần so với doanh nghiệp Nhà nước
Như đã phân tích ở trên ta thấy mô hình CTCP có những ưu điểm cơ bản so với DNNN như sau:
2.1.4 Tính tất yếu của cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước
2.1.4.1 Khái niệm cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước
- Xét về mặt hình thức: cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà n ước (CPH
DNNN) là Nhà nước bán một phần hay toàn bộ giá trị cổ phần của mình trong DNNN cho các đối tượng là tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hoặc cho cán bộ quản lý và công nhân của doanh nghiệp bằng nhiều hình thức khác nhau để hình thành Công ty Cổ phần
- Xét về mặt thực chất: CPH DNNN là phương thức thực hiện xã hội hoá
sở hữu, chuyển hình thức kinh doanh một chủ với sở hữu Nhà nước trong DN thành Công ty Cổ phần với nhiều chủ sở hữu để tạo ra mô hình DN phù hợp với nền kinh tế thị trường và đáp ứng được yêu cầu của kinh doanh hiện đại
Tóm lại CPH DNNN là quá trình chuyển DNNN với sở hữu Nhà nước thành Công ty Cổ phần với hình thức sở hữu nhiều người
2.1.4.2 Các hình thức cổ phần hoá của Việt Nam
Xuất phát từ chủ trương của Nhà nước đề ra, đồng thời đứng trên quan
điểm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và xử lý hài hoà lợi ích giữa Nhà
Trang 28nước, doanh nghiệp và người lao động, Nhà nước đã đưa ra mô hình CPH với các hình thức sau:
Hình thức 1: giữ nguyên vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn
Hình thức 2: bán một phần vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp Hình thức 3: bán toàn bộ vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp
Hình thức 4: thực hiện hình thức 2 và 3 kết hợp với phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn
Trong thực tế tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp, có thể
sử dụng từng hình thức trên hay kết hợp giữa các hình thức trên
2.1.4.3 Tính tất yếu của cổ phần hoá Doanh nghiệp Nhà nước
Khi bước sang nền kinh tế thị trường đặc biệt vào những thập niên cuối thế
kỷ XX, khu vực hoá và toàn cầu hoá là xu thế phát triển tất yếu của nền kinh tế thế giới Việc gia nhập các tổ chức kinh tế của khu vực và thế giới như AFTA, NAFTA, EU và WTO luôn là mong muốn của bất cứ quốc gia nào Xu thế hoà nhập tạo cơ hội cạnh tranh bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp song cũng đặt các doanh nghiệp vào một cuộc chơi khắc nghiệt với quy luật” mạnh thắng, yếu thua” Hàng rào thuế quan mà Chính phủ các nước sử dụng để bảo vệ các sản phẩm trong nước sản xuất mất tác dụng Vì vậy, biện pháp duy nhất để các doanh nghiệp không bị loại khỏi cuộc chơi là phải tăng cường khả năng cạnh tranh của chính mình để tạo chỗ đứng vững trên thương trường.Trong khi đó theo báo cáo của Bộ Tài chính, những thập niên 90, các DNNN Việt Nam chủ yếu trong tình trạng trang thiết bị lạc hậu từ 3-5 thế hệ Cơ cấu kinh tế chưa phù hợp, chủ yếu là ngành nông nghiệp chiếm 27%, thương mại 43%, công nghiệp và xây dựng chiếm 30% (trong khi các nước phát triển là 70-80%); cơ cấu của vốn chưa hợp
lý (81% vốn cố định, 19% vốn lưu động) Quy mô của doanh nghiệp nhỏ (dưới 1
tỷ đồng) chiếm 68% Thực tế trên đã khiến hiệu quả sử dụng vốn của các DNNN
Trang 29rất thấp Mỗi đồng vốn chỉ tạo ra 2,3 đồng doanh thu và 0,1 đồng lợi nhuận Tài sản cố định trong các DNNN chiếm từ 70-80% nhưng chỉ cung cấp được 44% tổng sản phẩm xã hội Với thực trạng này các DNNN của Việt Nam không đủ sức cạnh tranh khi gia nhập các tổ chức khu vực và thế giới Vì vậy, để tạo được chỗ đứng trên thương trường, Việt Nam cần phải cải cách DNNN để tìm con
đường cho sự phát triển Nhiều giải pháp đã được đưa ra như cơ cấu lại vốn và lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp, sáp nhập các doanh nghiệp có vốn nhỏ, hoạt động trong các lĩnh vực tương đối giống nhau, liên doanh, liên kết với nước ngoài để tận dụng nguồn vốn nước ngoài nâng cấp các trang thiết bị lạc hậu, tiếp cận phương thức quản lý tiên tiến Song những giải pháp này vẫn chưa tạo được
sự thay đổi về chất, hiệu quả sản xuất, kinh doanh của đa số các doanh nghiệp vẫn thấp, sức cạnh tranh vẫn còn yếu, chưa có sự thay đổi mang tính bước ngoặt Trước thực trạng này cùng với sự nhận thức về những ưu việt của hình thức CTCP như chúng ta đã phân tích phần trên, do vậy Nghị quyết Trung
ương 3 khoá IX đã đưa ra một giải pháp quan trọng là “Chuyển một số DNNN thành CTCP” Đây là một xu thế tất yếu khách quan khi chuyển sang nền kinh
Trang 30công ty lớn thì phổ biến là CPH thông qua thị trường chứng khoán Mức độ CPH ở mỗi công ty phụ thuộc vào ý đồ của Chính phủ muốn duy trì ảnh hưởng đến mức độ nào trong việc kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp
Quá trình CPH đã mang lại hiệu quả hết sức điển hình, ở các nước phát triển là hình thành hàng loạt các Công ty Cổ phần hỗn hợp Nhà nước - tư nhân, trong đó một số lĩnh vực Nhà nước giữ cổ phần khống chế, còn một số lĩnh vực khác Nhà nước chỉ giữ ở mức có thể kiểm soát hoạt động của chúng Chính phủ dùng số tiền thu được từ CPH các DNNN không chỉ
để giảm thâm hụt ngân sách mà còn mua cổ phiếu của các công ty tư nhân trên thị trường chứng khoán, để đảm bảo cho mình những khoản thu nhập
bổ sung, thâm nhập và mở rộng quyền chi phối của mình trong các lĩnh vực cần kiểm soát và chống độc quyền Như vậy, đồng thời với quá trình chuyển đổi sở hữu trong khu vực kinh tế Nhà nước là quá trình “Nhà nước hoá” trở lại các công ty tư nhân trong chiến lược cơ cấu lại nền kinh tế thị trường hỗn hợp, đảm bảo mức tăng trưởng ổn định cho đất nước và giải quyết công ăn việc làm cho người lao động
2.2.1.2 Cổ phần hoá ở các nước đang phát triển ở khu vực Châu á
Các nước đang phát triển ở khu vực châu á có đặc điểm chung là nền kinh tế có tốc độ phát triển nhanh và ổn định trong nhiều năm Mục tiêu chính của CPH DNNN là: Nhà nước rút khỏi các lĩnh vực xét thấy không cần thiết phải nắm giữ và duy trì sự độc quyền Nhà nước mà chuyển giao cho khu vực tư nhân nhằm thực hiện sự cạnh tranh để nâng cao hiệu quả của các DN Mục tiêu nữa của CPH ở các nước là phát triển thị trường chứng khoán trong nước, thể hiện đặc biệt ở các nước: Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Malaysia, Thái Lan Điều này cho phép, cùng với việc bán cổ phần của Nhà nước cho tư nhân thì việc mở rộng thị trường vốn và thị trường chứng khoán cũng trở nên phổ biến và do đó, số lượng và các loại hình Công ty Cổ phần tăng lên nhanh
Trang 31chóng ở nước này Số tiền thu được tử quá trình CPH sẽ bù vào các khoản ngân sách dành cho đầu tư cho cơ sở hạ tầng và các ngành kinh tế chiến lược
mà Nhà nước thấy cần thiết phải tham gia và kiểm soát
2.2.1.3 Cổ phần hoá ở các nước x∙ hội chủ nghĩa trước đây
ở các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) việc thực hiện CPH các DNNN không thông qua ngân hàng hoặc thị trường chứng khoán như ở các nước tư bản phát triển Hiệu quả CPH các DNNN ở các nước này đạt kết quả thấp Nguyên nhân chủ yếu là:
- Quá trình CPH ở các nước này có mục tiêu ôm đồm (nhiều mục tiêu)
“mục tiêu XHCN” Tức là không những vì mục tiêu nâng cao khả năng huy
động vốn, khả năng cạnh tranh của các DN mà còn phải bảo đảm các mục tiêu xã hội như giải quyết lao động trong DN, công bằng xã hội
- Điều kiện thực hiện cổ phần hoá chưa đầy đủ mà đã thực hiện với quy mô lớn, trong khi nền kinh tế thị trường chưa phát triển, kinh tế tư nhân còn quá nhỏ bé, thị trường chứng khoán chưa phát triển, các DNNN kinh doanh kém hiệu quả, máy móc thiết bị lạc hậu, hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh và đồng bộ; các vấn đề liên quan đến khả năng của doanh nghiệp sau khi CPH cũng như giải quyết việc làm cho lao động dôi dư chưa giải quyết
được do không đủ nguồn tài chính, mặc dù những doanh nghiệp Nhà nước đã cho không cán bộ công nhân viên chức nhưng vẫn sản xuất kinh doanh không
có hiệu quả
2.2.1.4 Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà Nước ở Trung Quốc
Trung Quốc là nước mà Việt Nam có nhiều nét tương đồng với mong muốn tìm kiếm kinh nghiệm có thể vận dụng vào việc thúc đẩy CPH DNNN ở nước ta
Đầu những năm 80, Trung Quốc có 348.000 DNNN, sản xuất 423,8 tỷ nhân dân tệ giá trị sản phẩm chiếm 80,3% tổng giá trị sản lượng công nghiệp
Trang 32toàn quốc Căn cứ vào yêu cầu của quá trình chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã nhận thấy hoạt động của DNNN có nhiều vấn đề đáng lo ngại trong đó, nổi lên:
- Hiệu quả kinh tế thấp, không ít doanh nghiệp bị thua lỗ và thua lỗ ngày càng tăng
- Gánh nặng nợ nần trong các DNNN càng lớn
- Các DNNN phải gánh chịu quá nhiều chức năng xã hội
- Tình trạng thất thoát tài sản Nhà nước quá nghiêm trọng
- Thiết bị của doanh nghiệp già cỗi lạc hậu
Trước tình trạng đó, Trung Quốc chủ trương đổi mới DNNN, trong đó có việc chuyển đại bộ phận DNNN thành Công ty Cổ phần (CTCP)
• Về quan niệm
Trung Quốc dựa trên những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác để tiến hành CPHDNNN Họ nhận thức rằng, kinh tế cổ phần là sản phẩm tất yếu của sự vận động của mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, gắn liền với kinh tế hàng hoá và hoạt động tín dụng, là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả, CTCP đã từng thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế các nước TBCN Trung Quốc đã vận dụng những nhận thức nói trên vào việc xây dựng CTCP trong nền kinh tế Trung Quốc đặt vấn đề CPH một bộ phận DNNN là một phần hữu cơ trong tổng thể các đổi mới DNNN, mà đổi mới DNNN là khâu then chốt của cải cách kinh tế Trung Quốc nhấn mạnh: cải cách kinh tế bao gồm cấu trúc lại cơ cấu ngành và cơ cấu sản xuất vĩ mô vào vi mô, đổi mới quản lý sản xuất và kinh doanh nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao Muốn vậy, một mặt phải chuyển đổi DNNN thành doanh nghiệp hiện đại, trong đó có sự tách biệt giữa sở hữu và kinh doanh, giữa Nhà nước và doanh nghiệp; mặt khác, phải đẩy mạnh CPH một
bộ phận DNNN Đồng thời, coi tiền đề cải cách doanh nghiệp là xây dựng
đồng bộ cơ chế thị trường Trong tổng thể đó, mỗi khâu đều có vị trí quan trọng của nó, không cô lập và tách rời nhau
Trang 33• Về tiến trình cổ phần hoá
Năm 1991, Trung Quốc mới chính thức triển khai CPH DNNN Khi đó, cả nước có 3.200 doanh nghiệp cổ phần thí điểm, không kể các doanh nghiệp cổ phần hợp tác thuộc kinh tế Hương Trấn Năm 1993, 10.300 CTCP đã phát hành cổ phiếu trị giá 400 tỷ nhân dân tệ Năm 1994,47% cổ phiếu được bán cho công nhân viên chức trong doanh nghiệp, 46% thuộc quyền sở hữu của pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn, chỉ có 7% cổ phiếu phát hành ra ngoài xã hội Năm 1995, cả nước có trên 12.000 CTCP có sở hữu hỗn hợp trong đó Nhà nước sở hữu 40%, các pháp nhân 40%, cá nhân 20%,
• Hình thức tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nuớc
CPH DNNN ở Trung Quốc được tiến hành dưới 3 hình thức
Một là: DNNN cùng với các doanh nghiệp trong nền kinh tế tham gia nắm giữ cổ phiếu hình thành CTCP Hình thức góp cổ phần của các doanh nghiệp giữ cổ phiếu hình thành CTCP Hình thức góp cổ phần của các doanh nghiệp
có thể là: lấy tài sản cố định như nhà xưởng, thiết bị quy ra giá trị để góp cổ phần; lấy vốn dự trữ để đầu tư vào các doanh nghiệp khác; lấy tài sản vô hình như khách hàng, bản quyền, nhãn mác để tham gia cổ phần Các CTCP kiểu này có lợi cho việc hợp tác kinh tế theo chiều ngang, có lợi cho việc di chuyển hợp lý và kết hợp tối ưu các yếu tố sản xuất nên được phát triển rất nhanh
Hai là: hình thức bán cổ phần cho công nhân viên chức trong nội bộ doanh nghiệp Thông qua hình thức này, công nhân viên chức có cổ phần, trở thành
cổ đông tại doanh nghiệp mình làm việc Lợi ích của họ và doanh nghiệp gắn liền với nhau tăng tính làm chủ của người lao động đối với doanh nghiệp Tuy nhiên, hình thức CPH này nảy sinh những mâu thuẫn giữa thu nhập trước mắt của công nhân viên chức với sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp và thường xuất hiện tình trạng phân phối chênh lệch về phía công nhân viên chức
Ba là: CPHDNNN bằng cách phát hành công khai cổ phiếu ra xã hội, trong
Trang 34đó, có doanh nghiệp trực tiếp phát hành cổ phần trên thị trường để tập trung vốn, mở rộng, xây dựng mới doanh nghiệp hoặc phát triển các mặt hàng hiện
có của doanh nghiệp; có doanh nghiệp lại lấy cơ quan tiền tệ làm chủ, các doanh nghiệp lớn đóng góp cổ phần, phát hành cổ phiếu ra ngoai xã hội Hiện nay, hình thức CPH này không nhiều
• Những kết quả đạt được của cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước ở Trung Quốc
Thứ nhất: thúc đẩy tập trung vốn, góp phần tích cực giải quyết vấn đề thiếu vốn của doanh nghiệp Trong hơn 10.000 DNNN đã chuyển sang CTCP có hơn 700 doanh nghiệp đã bán cổ phiếu trên thị trường với giá trị lưu thông hơn
500 tỷ NDT Đã có hơn 100.000 người làm việc trên TTCK, 31 triệu người đã mua cổ phiếu loại B tại lục địa, số vốn tập trung của cả 2 loại công ty này gộp lại là 13 tỷ USD Đó là một nguồn vốn quan trọng giúp ích nhiều cho việc đầu tư các công trình trọng điểm và các dự án cải tạo ở Trung Quốc [8]
Thứ hai: CPHDNNN tạo thuận lợi cho chuyển đổi cơ chế kinh doanh của doanh nghiệp, xây dựng chế độ doanh nghiệp hiện đại đây là mục tiêu quan trọng nhất ở Trung Quốc, thông qua quá trình này, doanh nghiệp được tách rời
ra với chính quyền, quyền sở hữu tách rời quyền kinh doanh, phát huy vai trò
tự chủ, tự chịu trách nhiệm của DN, khi DNNN chuyển sang CTCP thì doanh nghiệp không còn đơn thuần thuộc sở hữu Nhà nước nữa, nên chính quyền không còn chỗ dựa để can thiệp trực tiếp vào DN
Thứ ba: với tư cách là đơn vị sản xuất kinh doanh (SXKD) thuộc kinh doanh độc lập trong khuôn khổ luật pháp và chính sách của Nhà nước, dưới sự giám sát của cổ đông và toàn xã hội, các CTCP phải trực tiếp đi vào thị trường, tham gia cạnh tranh, tự tìm tòi để tồn tại và phát triển Do vậy, các CTCP sẽ vừa phải thận trọng, vừa phải năng động trong hoạt động SXKD phù hợp với
đòi hỏi của cơ chế thị trường
Trang 35Thứ tư: chuyển DNNN thành CTCP đã tạo điều kiện thuận lợi để Trung
Quốc có thể thiết lập và phát triển những tập đoàn doanh nghiệp qui mô lớn,
có sức cạnh tranh, rất cần thiết cho công cuộc phát triển trong nước và vươn ra thị trường thế giới
* Những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tế CPHDNNN ở Trung Quốc
Một là, cần có quan niệm đúng về vai trò CTCP và sự cần thiết phải CPHDNNN, trên cơ sở đó có sự nhất trí cao trong quan điểm và tổ chức thực hiện Đại hội XV Đảng Cộng sản Trung Quốc khẳng định luận điểm có thể coi là kết luận "Chế độ cổ phần là một hình thức tổ chức vốn của xí nghiệp hiện đại, có lợi cho việc phân tách quyền sở hữu với quyền kinh doanh, có lợi cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động của xí nghiệp và tiền vốn CNTB có thể
sử dụng chế độ cổ phần, XHCN cũng có thể sử dụng cổ phần Không thể nói chung chung cổ phần là công hữu hay tư hữu, vấn đề quyết định là xem ai nắm được quyền không chế cổ phiếu" [8] Kết luận này là cơ sở cho việc đẩy mạnh triển khai CPHDNNN ở Trung Quốc Đây là một bài học kinh nghiệm quí đối với Việt Nam trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường nói chung
và CPHDNNN nói riêng
Hai là, thành lập các cơ quan quản lý, điều hành CPH Các cơ quan này thay mặt Nhà nước quản lý tài sản Nhà nước và kịp thời giải quyết các vấn đề nảy sinh, tạo bước tiến vững chắc cho CPH
Ba là, CPH theo thứ tự doanh nghiệp có quy mô nhỏ trước, qui mô vừa và lớn sau gắn với hình thành tập đoàn CTCP Bởi CPH DNNN là công việc mới
mẻ, nếu đi ngay vào thực hiện ở DN có quy mô vừa và lớn e rằng không đủ kinh nghiệm cần thiết Việc triển khai CPH ở những DN có quy mô nhỏ sẽ là nơi tốt nhất để đào luyện trong thực tế "những nhà kinh doanh đỏ" cho chương trình CPH tiếp theo CPHDNNN nhỏ còn có tác dụng để huy động vốn để mở rộng, đổi mới khách hàng, công nghệ, nâng cao hiệu quả hoạt động của DN,
đồng thời làm bài học kinh nghiệm cho việc CPH các DNNN có quy mô vừa
và lớn
Trang 36Bốn là, coi trọng hình thức CTCP mà Nhà nước nắm cổ phần chi phối để
đảm bảo duy trì vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước Trung Quốc cho rằng CTCP do Nhà nước nắm cổ phần chi phối là hình thức hợp lý để chắp nối mối quan hệ giữa Chính phủ và DN, giữa kinh tế Nhà nước và kinh tế tư nhân Trung Quốc quy định rõ loại DNNN cần CPH Các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành như: quốc phòng, dầu mỏ, năng lượng nguyên tử, hàng không, cấp nước, điện lực, bưu chính, đường sắt, tiền tệ, in giấy bạc, Nhà nước cần phải nắm giữ, không CPH Còn các doanh nghiệp thuộc các ngành khác
đều được CPH, tuỳ tính chất ngành nghề và mức độ phân bổ sở hữu cổ phần
mà quyết định tỷ lệ cổ phần của Nhà nước
Năm là, mạnh dạn phát động quần chúng, phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, không áp đặt cho bất cứ doanh nghiệp nào, song cũng không buông lỏng mà thường xuyên nắm tình hình, khuyến khích những DN làm tốt, khêu gợi và hướng dẫn những DN làm sai trái quan điểm của Đảng
Tuy nhiên, việc tiến hành CPH DNNN ở Trung Quốc cũng không phải là hoàn toàn suôn sẻ, mà đang đứng trước những phức tạp và khó khăn cần giải quyết đó là :
- Việc thực hiện CPH làm tăng thêm vai trò "chủ thể của kinh tế XHCN và vai trò "chủ đạo" của kinh tế Nhà nước hay không, mấu chốt là ai khống chế
được cổ phiếu Để khống chế được cổ phiếu trong các CTCP đòi hỏi Nhà nước
và tập thể phải có thực lực đủ mạnh và phương pháp kinh doanh thích hợp
- Việc thực hiện CPH như thế nào là không dễ dàng bởi đây là việc làm mới mẻ chưa từng có trong lịch sử xây dựng CNXH
- Vấn đề giải quyết gánh nặng phúc lợi là một khó khăn lớn nhất và phức tạp nhất trong việc thực hiện CPH DNNN Do trách nhiệm về phúc lợi xã hội hạn chế về sa thải dư thừa, các doanh nghiệp thua lỗ rất khó khăn trong việc
chuyển đổi tình trạng tài chính của mình như chuyển sang CTCP
Trang 372.2.2 Kinh nghiệm rút ra đối với Việt Nam
Qua quá trình thực hiện CPH của các nước trên thế giới chúng ta rút ra những bài học đối với quá trình CPH ở nước ta như sau:
2.2.2.1 Về mục tiêu
Hầu hết các nước đều cho rằng, mục tiêu chính của chương trình CPHDNNN là nhằm nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của DN, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển Đồng thời giảm thiểu số doanh nghiệp làm
ăn thua lỗ, tối đa hoá các đơn vị làm ăn có lãi và các khoản thu cho ngân sách Nhà nước, tạo nguồn để giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội khác Ngoài ra, qua công tác CPH, hầu hết Chính phủ các nước đều muốn chuyển một số lĩnh vực ngành nghề mà các khu vực kinh tế khác có thể đảm nhận, giảm bớt gánh nặng và thâm hụt cho ngân sách, cân đối khả năng thanh toán nợ nước ngoài; phát triển thị trường vốn trong nước
2.2.2.2 Tổ chức bộ máy chỉ đạo
Kết quả nghiên cứu, khảo sát cho thấy, Chính phủ các nước có chương trình CPH thành công thường giao cho Bộ Tài chính hoặc Bộ Ngân khố, thậm chí thành lập riêng một bộ chuyên trách chỉ đạo thực hiện như Hungary Các cơ quan này có nhiệm vụ chỉ đạo thực hiện CPHDNNN có đủ điều kiện; chịu trách nhiệm nắm giữ cổ phần của Nhà nước ở các DNNN chuyển đổi sở hữu thông qua cơ quan quản lý tài sản hoặc công ty tài chính của Nhà nước Với cách thức tổ chức như trên, chương trình CPH sẽ nhất quán, rõ ràng với sự tham gia của đông đảo nhân dân trong nước, hạn chế tối đa sự lạm dụng hoặc khả năng tổn thất cho Nhà nước Nhiều quốc gia còn ban hành riêng một bộ luật nhằm tạo hành lang pháp
lý cao nhất cho quá trình chuyển đổi sở hữu DNNN
2.2.2.3 Tiêu chí lựa chọn doanh nghiệp chuyển đổi
Nếu xét về quy mô, bước đầu hầu hết các quốc gia đều tiến hành chuyển đổi sở hữu các DN vừa và nhỏ có hiệu quả hoạt động trong mọi lĩnh
Trang 38vực cạnh tranh Người Mêxicô cho đây là bài học thành công Vì họ coi việc bán các DN nhỏ là để học tập kinh nghiệm, giảm rủi ro tới mức nhỏ nhất Nếu xét về lĩnh vực thị trường, các quốc gia thường ưu tiên tiến hành cải cách DN hoạt động trong các lĩnh vực có thị trường đang và sẽ hoạt động tốt Nhưng các DNNN lại không có lợi thế về quản lý so với các DN thuộc thành phần kinh tế khác như: khách sạn, vận tải bằng tàu thuyền loại nhỏ, vận tải ô tô Tiếp đó mới đến những DN hoạt động trong các lĩnh vực khó khăn hơn về thị trường Những lĩnh vực trước đây Nhà nước cần độc quyền hoặc tư nhân chưa
có đủ điều kiện để tham gia Nhìn chung, việc bắt đầu cải cách từ đâu phụ thuộc vào mối quan tâm của các nhà đầu tư và khả năng của Chính phủ mỗi nước Nhưng đều phải có sự đầu tư mới và thay đổi phương thức quản lý để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho các DN chuyển đổi
2.2.2.4 Đánh giá và định giá doanh nghiệp
Hầu hết các nước đều cho rằng, phương pháp tốt nhất là để thị trường quyết định giá bán thông qua đấu thầu, cạnh tranh, nhất là các DN nhỏ Đối với những doanh nghiệp lớn, việc xác định giá bán DN thường được thực hiện bằng nhiều phương pháp để có thể kiểm tra mức độ hợp lý của giá sàn, trên cơ
sở đó tổ chức đấu thầu (làm theo những điều kiện nhất định để thu hút các cổ
đông chiến lược) và đấu giá trên thị trường để có được phương án chuyển đổi tối ưu Nhìn chung, việc định giá doanh nghiệp có quy mô lớn đều khó khăn, nhất là ở các quốc gia đang phát triển Qua tìm hiểu, có thể thấy những phương pháp thường được các nước sử dụng là [23]
- Phương pháp xác định theo giá thành tài sản (phương pháp chi phí)
- Phương pháp giá trị tài sản thuần (NAY)
- Phương pháp thu nhập (lợi nhuận)
- Phương pháp so sánh trực tiếp (giá thị trường hiện hành)
- Phương pháp thặng dư
Trang 39- Phương pháp đấu giá
- Phương pháp dòng tiền chiết khấu
2.2.2.5 Giải quyết vấn đề tài chính và lao động dôi dư
Trước khi thực hiện chuyển đổi sở hữu, các nước đều tiến hành giải quyết vướng mắc về tài chính đối với những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh không hiệu qủa hoặc hiệu quả thấp Kinh nghiệm chỉ ra rằng, các DNNN vừa và nhỏ có tính cạnh tranh có thể và cần được bán một cách nhanh chóng thông qua đấu thầu cạnh tranh Tuy nhiên, để tăng tính hấp dẫn DN trước khi bán, các nước thường giải quyết dứt điểm một số vấn đề sau:
a Giải quyết các khoản nợ dây dưa, khả năng thanh toán thấp vì người mua không muốn nhận những khoản nợ này, còn Chính phủ lại không muốm
bỏ thêm tiền để thanh toán hộ doanh nghiệp
b Loại bỏ những tài sản, các dự án đầu tư không hiệu quả theo mệnh lệnh hành chính ở các DNNN trong các thời kỳ trước Đây là yêu cầu chính
đáng của cổ đông tương lai
c Loại bỏ các chất thải không thích hợp để bảo vệ môi trường Đây là
điều kiện tiên quyết ở các nước Đông Âu, Trung á
d Giải quyết vấn đề lao động dôi dư bằng các biện pháp đồng bộ bảo
đảm về mặt xã hội, chẳng hạn như đào tạo lại, trả trợ cấp thôi việc và bảo hiểm thất nghiệp Bởi người mua không muốn kế thừa và giải quyết vấn đề phức tạp này
2.2.3 Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam
2.2.3.1 Nhận định chung về DNNN ở Việt Nam
Cũng như các nước trong phe XHCN trước đây Việt Nam xây dựng mô hình kinh tế chỉ huy, vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung Xác
định một chủ thể kinh tế Nhà nước, các thành phần kinh tế khác không được
Trang 40công nhận về mặt pháp lý và ngày càng thu hẹp lại Hàng loạt DNNN do quốc hữu hoá các xí nghiệp của tư bản dân tộc và tư sản mại bản và thành lập mới Nhà nước điều hành và quản lý DNNN trực tiếp bằng các chỉ tiêu pháp lệnh, thực hiện chế độ bao cấp đối với DNNN trên nguyên tắc tài chính thu đủ chi Giá cả chỉ là công cụ để tính toán cho việc cấp phát vật tư và giao sản phẩm Chính cơ chế kế hoạch hoá tập trung đã chi phối lớn đến cơ chế hoạt động và làm giảm hiệu quả của DN, biến DNNN thành đơn vị hành chính mất đi tính chủ động của đơn vị sản xuất, kinh doanh Cũng do chế độ bao cấp các DNNN bằng mọi cách huy động tối đa các nguồn lực của Nhà nước để thực hiện các chỉ tiêu được giao hơn là (tối thiểu hoá chi phí sản xuất) để tối đa hoá lợi nhuận Sản phẩm sản xuất ra đều giao nộp cho Nhà nước, dẫn tới các DNNN hoạt động trong môi trường không có cạnh tranh Cơ chế quan liêu bao cấp tồn tại quá lâu đã làm cho DNNN làm ăn ngày càng kém hiệu quả, trở thành gánh nặng cho ngân sách Nhà nước Nhìn chung các DNNN vẫn tồn tại các vấn đề cơ bản sau:
- Tỷ suất lợi nhuận thấp
- Hiệu quả sử dụng vốn thấp
- Năng suất lao động thấp
- Tiêu hao vật chất cao hơn khu vực ngoài quốc doanh
- Sự đóng góp đích thực vào nguồn thu ngân sách thấp
- Chi phí cho một chỗ làm việc cao
- Tình trạng mất vốn là phổ biến
Nguyên nhân của sự tồn tại là:
- Do hệ đa mục tiêu (kinh tế, xã hội)
- Do số lượng DNNN còn quá lớn, Nhà nước không đủ nguồn lực đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh của DN nhất là nhu cầu đổi mới trang thiết
bị của DN