1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ gỗ trụ mỏ tại công ty lâm nông nghiệp đông bắc bắc giang

110 408 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ gỗ trụ mỏ tại công ty lâm nông nghiệp đông bắc bắc giang
Tác giả Tôn Hoàng Thanh Huế
Người hướng dẫn GS.TS Phạm Thị Mỹ Dung
Trường học Trường Đại học Nông Nghiệp I
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 819,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ gỗ trụ mỏ tại công ty lâm nông nghiệp đông bắc bắc giang

Trang 1

Lời Cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ bất cứ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đã đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 10 tháng 09 năm 2004

Tác giả luận văn

Tôn Hoàng Thanh Huế

Trang 2

Lời cảm ơn

Sau một thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc

sĩ này, tôi đã nhận đ ược sự hướng dẫn, giúp đỡ và động viên của nhiều cá nhân và tập thể

Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với GS.TS Phạm Thị Mỹ Dung - Tr ường Đại học Nông Nghiệp I - Người đã trực tiếp h ướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn tới toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Khoa Sau đại học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của Ban giám đốc và cán bộ các phòng ban của Công ty lâm nông nghiệp Đông Bắc tỉnh Bắc Giang đã cung cấp tài liệu giúp tôi hoàn thành luận văn

Lời cuối cùng, cho tôi đ ược tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới gia

đình cùng ng ười thân, bạn bè đã động viên, giúp đỡ để bản thân tôi hoàn thành tốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn

Hà Nội, ngày 10 tháng 09 năm 2004 Tác giả

Tôn Hoàng Thanh Huế

Trang 3

Mục lục

trang

1 Mở đầu

1

2.1 Một số vấn đề liên quan tới tiêu thụ sản phẩm 4

2.1.1 Khái niệm tiêu thụ sản phẩm 4

2.1.2 Vai trò của tiêu thụ sản phẩm 5

2.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác tiêu thụ sản phẩm 7

2.1.4 Nội dung chủ yếu của công tác tiêu thụ sản phẩm 10

2.2.1 Đặc điểm kinh tế – kỹ thuật của gỗ trụ mỏ 21

2.2.2 Đặc điểm tiêu thụ gỗ trụ mỏ 232.3 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài 26

3.1 Đặc điểm cơ bản của Công ty lâm nông nghiệp Đông Bắc 27

3.1.1 Quá trình hình thành Công ty lâm nông nghiệp Đông Bắc 27

3.1.2 Điều kiện tự nhiên của Công ty 30

3.1.3 Tình hình dân sinh kinh tế – xã hội 36

3.1.4 Đặc điểm bộ máy quản lý của Công ty 36

3.2.1 Ph ương pháp thu thập số liệu 39

3.2.3 Ph ương pháp phân tích đánh giá 39

Trang 4

3.2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu 40

4.1 Đánh giá thực trạng tiêu thụ gỗ trụ mỏ của Công ty lâm nông nghiệp

4.1.1 Đánh giá kết quả tiêu thụ gỗ trụ mỏ của Công ty 43

4.1.2 Đánh giá các kênh và thị trường tiêu thụ gỗ trụ mỏ 49

4.1.3 Đánh giá việc tạo nguồn sản phẩm hàng hóa và tổ chức tiêu thụ 56

4.1.4 Đánh giá kết quả và hiệu quả kinh doanh gỗ trụ mỏ của

4.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến tiêu thụ 734.2 Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh tiêu thụ gỗ trụ mỏ tại Công ty lâm

4.2.1 Định h ướng tiêu thụ gỗ trụ mỏ của Công ty trong những năm tới 84

4.4.2 Một số giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ gỗ trụ mỏ tại Công ty lâm

Trang 5

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

Trang 6

DANH MụC BảNG BIểU

Bảng 4.1 Khối l−ợng tiêu thụ theo loài cây gỗ của Công ty 43 Bảng 4.2 Khối l−ợng tiêu thụ theo công dụng của gỗ qua 3 năm 2001 – 2003 45 Bảng 4.3 Giá trị tiêu thụ theo từng loài cây gỗ của Công ty 47 Bảng 4.4 Giá trị tiêu thụ theo công dụng từng loại gỗ của Công ty 48 Bảng 4.5 Doanh thu tiêu thụ gỗ trụ mỏ theo các kênh tiêu thụ 51 Bảng 4.6 Tình hình thực hiện hợp đồng mua bán gỗ trụ mỏ của Công ty với

Bảng 4.9 Kết quả công tác thu mua và khai thác gỗ trụ mỏ của Công ty 60

Bảng 4.10 Kết quả, hiệu quả kinh doanh của Công ty qua 3 năm 2001 - 2003 70

Bảng 4.11 Kết quả kinh doanh gỗ trụ mỏ của Công ty qua 3 năm 2001 - 2003 72 Bảng 4.12 Nhu cầu về gỗ trụ mỏ vùng Đông Bắc Bắc bộ từ năm 2000 - 2005 80 Bảng 4.13 Khối l−ợng cung ứng gỗ trụ mỏ của Tổng Công ty lâm nghiệp

Việt Nam

83 Bảng 4.14 Diện tích khai thác rừng trồng NL gỗ trụ mỏ theo chu kỳ kinh

doanh 7 năm của Công ty

88

Trang 7

Bảng 4.15 Diện tích trồng rừng NL gỗ trụ mỏ chia cho các lâm trường

thành viên

89 Bảng 4.16 Nhu cầu vốn cho các lâm trường thành viên 92 Bảng 4.17 Bảng phân tích SWOT trong tiêu thụ gỗ trụ mỏ của Công ty 97

Sơ đồ

Sơ đồ 3.1 Sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty 37 Sơ đồ 4.1 Các kênh tiêu thụ gỗ trụ mỏ Công ty tham gia 50 Sơ đồ 4.6 Những thuận lợi và khó khăn trong tiêu thụ gỗ trụ mỏ của

trường thành viên

89

Trang 8

1 Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp giải phóng dân tộc đã được hoàn thành Đất nước ta bước sang kỷ nguyên mới, đó là kỷ nguyên xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh Muốn được như vậy thì mọi người dân, mọi cấp chính quyền, mọi ngành kinh tế, dù là kinh tế quốc doanh hay kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, sản xuất kinh doanh theo hình thức nào, đều phải phấn đấu hết sức mình để đạt được hiệu quả cao nhất Chính vì lẽ đó, đến năm 2003 mặc dù ngành than đã khai thác được triệu tấn than thứ 15 Nhưng với ưu thế địa lý ở vùng Đông Bắc nước ta có một trữ lượng than vô cùng to lớn Do vậy, việc làm sao để khai thác than ngày càng nhiều, ngày càng hiệu quả hơn đang là một vấn đề rất bức xúc được đặt ra cho ngành than

Có hai cách khai thác than, đó là khai thác ở các mỏ than lộ thiên và khai thác than ở các mỏ sâu trong lòng đất bằng các hầm lò Để khai thác và vận chuyển than từ sâu trong lòng đất người ta phải đào và làm các đường hầm lò Vật liệu để chống đỡ các hầm lò sao cho khỏi sập cơ bản hiện nay ở nước ta là bằng các loại gỗ mà ta quen gọi là gỗ trụ mỏ Từ đây, tổ chức sản xuất và cung ứng gỗ trụ mỏ cho khai thác than hầm lò ra đời Trong khi chưa

có một loại vật liệu nào thay thế có tính ưu việt hơn thì gỗ trụ mỏ vẫn có một

vị thế rất quan trọng trong nhiệm vụ khai thác than Bởi vậy, việc khai thác

và kinh doanh gỗ trụ mỏ từ lâu được nhiều doanh nghiệp quan tâm và đầu tư

Công ty lâm nông nghiệp Đông Bắc nằm trong vùng quy hoạch nguyên liệu gỗ trụ mỏ có nhiều thế mạnh và tiềm năng của đất nước, là nơi cung ứng gỗ trụ mỏ cho các mỏ than và chế biến lâm sản Nhiệm vụ chính của Công ty là trồng cây gây rừng, chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ rừng, khai thác, chế biến và tiêu thụ lâm sản

Trang 9

Trong những năm gần đây, kể từ khi nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, hoạt động sản xuất kinh doanh gỗ trụ mỏ có nhiều biến đổi Nếu như trước đây Công ty chỉ lo tới việc làm sao hoàn thành được chỉ tiêu kế hoạch do Nhà nước đặt ra thì ngày nay việc sản xuất và cung ứng gỗ trụ mỏ đang gặp nhiều khó khăn: vừa phải lo sản xuất lại vừa phải lo tiêu thụ, luôn phải cố gắng, nỗ lực tìm cho mình một vị thế, chỗ đứng trên thị trường, nâng cao uy tín của mình đối với khách hàng Việc tổ chức tốt khâu tiêu thụ hàng hóa và xác định kết quả tiêu thụ tốt mới

có thể cung cấp thông tin kịp thời chính xác, có như vậy mới đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho Công ty Do đó mà đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm luôn có tầm quan trọng và mang tính thời cuộc đối với sự thành bại của Công ty

Chính vì những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn và đi sâu nghiên cứu

đề tài: “Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ gỗ trụ mỏ

tại Công ty lâm nông nghiệp Đông Bắc - Bắc Giang”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Luận văn tập trung nghiên cứu, làm rõ thực trạng và những vấn đề tồn tại cần giải quyết trong khâu tiêu thụ gỗ trụ mỏ, từ đó đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy tiêu thụ gỗ trụ mỏ và nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tiêu thụ sản phẩm

- Đánh giá thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng tới tiêu thụ gỗ trụ mỏ của Công ty lâm nông nghiệp Đông Bắc

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh tiêu thụ gỗ trụ mỏ tại Công ty

Trang 10

1.3 Đối t−ợng, nội dung và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối t−ợng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề liên quan đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm gỗ trụ mỏ của Công ty lâm nông nghiệp Đông Bắc

1.3.2 Nội dung và phạm vi nghiên cứu

* Về nội dung

Tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tiêu thụ sản phẩm Nghiên cứu tình hình tiêu thụ gỗ trụ mỏ của công ty trong 3 năm 2001 - 2003 Nghiên cứu các nhân tố chủ yếu tác động đến hoạt động tiêu thụ gỗ trụ mỏ

Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh tiêu thụ gỗ trụ mỏ tại Công ty

Trang 11

2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

2.1 Một số vấn đề liên quan tới tiêu thụ sản phẩm

2.1.1 Khái niệm tiêu thụ sản phẩm

Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

Tiêu thụ sản phẩm thực hiện mục đích của kinh doanh là đưa sản phẩm

từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng, là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng sản phẩm hàng hóa Nó là khâu lưu thông hàng hoá, là cầu nối trung gian giữa một bên là sản xuất phân phối và một bên là tiêu dùng Qua tiêu thụ, sản phẩm chuyển từ trạng thái hiện vật sang trạng thái tiền tệ và kết thúc một vòng luân chuyển vốn Chỉ khi nào tiêu thụ được sản phẩm thì doanh nghiệp mới có thể thu hồi được vốn kinh doanh, thực hiện mục tiêu lợi nhuận, tiếp tục chu kỳ sản xuất kinh doanh mới

Thực tiễn cho thấy, ứng với mỗi cơ chế quản lý kinh tế, công tác tiêu thụ sản phẩm được thực hiện bằng các hình thức khác nhau Trong nền kinh tế

kế hoạch hóa tập trung, Nhà nước quản lý kinh tế bằng mệnh lệnh Hoạt động tiêu thụ sản phẩm trong thời kỳ này chủ yếu là giao nộp sản phẩm cho các đơn

vị theo địa chỉ và giá cả định sẵn Hiện nay, nền kinh tế nước ta đã chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh là đơn vị hạch toán độc lập, tự tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Nhà nước không can thiệp trực tiếp đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Nhà nước chỉ quản lý vĩ mô và tác

động gián tiếp đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Trong mô hình kinh tế này doanh nghiệp phải tự trả lời ba câu hỏi: Sản xuất cái gì? Cho ai? và sản xuất như thế nào? Sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp tuỳ thuộc vào sự nỗ lực của bản thân mỗi doanh nghiệp

Trang 12

Tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa quyết định đối với chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Dựa vào khả năng tiêu thụ, doanh nghiệp có thể xây dựng kế hoạch mua đầu vào và dự trữ tài chính, dự trữ nguyên vật liệu

2.1.2 Vai trò của công tác tiêu thụ sản phẩm

Trong cơ chế thị trường mục đích của kinh doanh là phải tiêu thụ được sản phẩm, hàng hóa để có lợi nhuận Tiêu thụ là khâu cuối của quá trình kinh doanh nhưng lại là khâu quyết định cho sự sống còn của doanh nghiệp

Trong một doanh nghiệp, toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh từ khâu đầu đến khâu cuối cùng của chu kỳ sản xuất diễn ra một cách nhịp nhàng, liên tục Các khâu có mối liên hệ mật thiết với nhau; khâu trước là khâu cơ sở, là tiền đề cho việc thực hiện khâu sau Trong đó tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng, là mắt xích kết thúc của một chu kỳ kinh doanh Công tác tiêu thụ sản phẩm gắn người sản xuất với người tiêu dùng, nó giúp các nhà sản xuất hiểu thêm về kết quả sản xuất của mình và nhu cầu khách hàng Tiến hành tốt công tác tiêu thụ sản phẩm là động lực thúc đẩy sản xuất, tăng nhanh vòng quay vốn kinh doanh, vì sự biến động thời gian của một chu kỳ sản xuất kinh doanh phụ thuộc một phần vào tiêu thụ sản phẩm

Thông qua tiêu thụ sản phẩm mà xác định nhu cầu của xã hội nói chung và từng khu vực nói riêng với từng sản phẩm Trên cơ sở đó các doanh nghiệp sẽ xây dựng được các kế hoạch phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất Kết quả hoạt

động tiêu thụ sản phẩm phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, phản

ánh sự đúng đắn, mục tiêu của chiến lược kinh doanh, phản ánh sự cố gắng nỗ lực của doanh nghiệp trên thị trường, đồng thời thể hiện trình độ tổ chức, năng lực điều hành, tỏ rõ thế và lực của doanh nghiệp trên thương trường

Tóm lại, để hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục và hiệu quả thì công tác tiêu thụ sản phẩm phải được thực sự coi trọng Hơn thế nữa, trong nền kinh tế thị trường hiện nay việc tiêu thụ

Trang 13

sản phẩm còn mang tính quyết định sự sống còn của các đơn vị sản xuất kinh doanh [20]

Tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Khi sản phẩm của doanh nghiệp được tiêu thụ hết, tiêu thụ kịp thời nó sẽ tạo ra tín hiệu thông tin về “cầu” hay thị trường tiêu thụ

Để từ đó giúp cho doanh nghiệp dự đoán dược lượng “cầu” ở thời gian tiếp theo

và xác định được lượng “cung” là bao nhiêu? Trên cơ sở những thông tin đó, tạo

điều kiện để doanh nghiệp huy động vốn cho sản xuất kinh doanh được kịp thời,

đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và đạt hiệu quả cao trong kinh doanh [16]

Tiêu thụ hàng hóa giữ vai trò trong việc phát triển và mở rộng thị trường, trong việc duy trì mối quan hệ chặt chẽ giữa doanh nghiệp và khách hàng, qua đó

đánh giá được kết quả hạch toán kinh doanh lỗ hay lãi, có hiệu quả không

Bởi vậy, trong cơ chế thị trường công tác tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ là vô cùng quan trọng, là vấn đề quan tâm hàng đầu của mỗi doanh nghiệp

Đây là vấn đề cực kỳ gay cấn cần được giải quyết bởi đó là khâu then chốt trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, nó quyết định đến sự tồn tại hay phá sản của doanh nghiệp

Tiêu thụ sản phẩm có vai trò trong việc cân đối giữa cung và cầu Khi hoạt động tiêu thụ diễn ra suôn sẻ, nhịp nhàng thì doanh nghiệp có thể tồn tại

và đứng vững trên thị trường Sự tồn tại của doanh nghiệp sẽ góp phần vào việc thu hút lao động, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giảm tệ nạn xã hội, tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất và tránh được sự mất cân đối, giữ được sự bình ổn trong xã hội

Khi hàng hóa được thị trường chấp nhận có nghĩa là quá trình tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng sẽ được thực hiện Khi đó doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng nguồn lực xã hội, sử dụng sản phẩm của các doanh nghiệp khác làm yếu tố đầu vào nên sẽ thúc đẩy sản xuất các doanh nghiệp khác có liên

Trang 14

quan phát triển theo Bên cạnh đó, hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp diễn ra thuận lợi cũng là dấu hiệu tốt, chứng tỏ nền kinh tế đang tăng trưởng và phát triển thuận lợi

Ư Nhu cầu sản phẩm của thị trường

Trong thị trường người sản xuất phải dựa vào nhu cầu sản phẩm thì mới sản xuất, nên nhu cầu là yếu tố quyết định cho việc tiêu thụ

Môi trường kinh tế

Các yếu tố tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập quốc dân, thu nhập bình quân đầu người, lãi suất của ngân hàng, mức độ lạm phát có tác

động lớn và nhiều mặt tới môi trường hoạt động của doanh nghiệp, nó ảnh hưởng trực tiếp tới số lượng, chủng loại, cơ cấu sản phẩm mà doanh nghiệp tiêu thụ được trên thị trường

Ă Môi trường chính trị và pháp luật

Thông qua hệ thống chính sách kinh tế như chính sách về thuế, chính sách

về xuất nhập khẩu, chính sách quản lý các doanh nghiệp Nhà nước thực hiện về quản lý, định hướng và điều tiết nền kinh tế Chính sách của Nhà nước đối với việc sản xuất kinh doanh, cấm sản xuất kinh doanh ở từng ngành nghề cũng có tác động rất lớn đến hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp Sự chặt chẽ và ổn định của môi trường này sẽ giúp cho các doanh nghiệp yên tâm đầu tư cho sản xuất

Trang 15

 Môi trường văn hóa - xã hội

Mỗi xã hội, mỗi thị trường trong những thời kỳ nhất định đều có những

đặc điểm về thị hiếu, thói quen tiêu dùng, cơ cấu và xu hướng tiêu dùng khác nhau Do vậy, nghiên cứu các đặc điểm về văn hóa xã hội trong từng thời kỳ giúp cho các doanh nghiệp lựa chọn mặt hàng lĩnh vực kinh doanh phù hợp với nhu cầu và tập tính tiêu dùng của từng vùng thị trường

Ê Môi trường nhân khẩu học

Cơ cấu dân cư, tỷ lệ sinh, tỷ lệ chết, cơ cấu tuổi, giới tính là những yếu tố

có tác động rất lớn đến hiệu quả tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Nghiên cứu các vấn đề này giúp cho doanh nghiệp xác định được sản phẩm và các hoạt

động sản xuất kinh doanh đem lại hiệu quả cao nhất

⁄ Đối thủ cạnh tranh

Đó là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cùng mặt hàng và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh mặt hàng có thể thay thế cho mặt hàng mà doanh nghiệp đang kinh doanh Đây là những doanh nghiệp trực tiếp cạnh tranh chia xẻ thị trường, chia xẻ khách hàng và khối lượng hàng hóa tiêu thụ với doanh nghiệp

Do đó, doanh nghiệp cần nghiên cứu thật tỉ mỉ về đối thủ cạnh tranh của mình để

có phương án thích hợp trong sản xuất kinh doanh cũng như hoạt động tiêu thụ sản phẩm sao cho đạt hiệu quả cao nhất

Ngoài các nhân tố trên, những nhân tố như môi trường địa lý sinh thái, các tổ chức trung gian, những người cung ứng đầu vào cho doanh nghiệp cũng có những tác động nhất định đến công tác tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp

ơ Các nhân tố chủ quan

Đây là những nhân tố thuộc về doanh nghiệp và doanh nghiệp có thể kiểm soát, thay đổi và điều chỉnh cho phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh thực tế

Trang 16

Ư Quy mô của doanh nghiệp

Quy mô của doanh nghiệp lớn hay nhỏ nó sẽ quyết định đến quy mô thị trường và khối lượng hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có quy mô nhỏ thì khó có ảnh hưởng chi phối được thị trường và mức độ tiêu thụ sản phẩm cũng chỉ dừng lại ở mức độ nhỏ tương ứng và ngược lại

Tiềm lực tài chính

Đây là một yếu tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua khối lượng (nguồn vốn) mà doanh nghiệp có thể huy động và kinh doanh, khả năng đầu tư có hiệu quả các nguồn vốn, khả năng quản lý

có hiệu quả các nguồn vốn trong kinh doanh Đây là yếu tố chủ chốt quyết

định đến quy mô của doanh nghiệp và tầm cỡ cơ hội có thể khai thác

Ă Con người

Trong kinh doanh con người là yếu tố quan trọng hàng đầu để đảm bảo thành công Một doanh nghiệp có sức mạnh về con người là doanh nghiệp có khả năng lựa chọn đúng và đủ số lượng lao động cho từng vị trí công tác và sắp xếp

đúng người trong một hệ thống thống nhất theo yêu cầu của công việc

 Tiềm lực vô hình

Đây là hình ảnh và uy tín của doanh nghiệp trên thương trường, mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu hàng hóa, uy tín và mối quan hệ xã hội của lãnh đạo doanh nghiệp Đây là những tiềm lực tạo nên sức mạnh của doanh nghiệp trong hoạt

động tiêu thụ sản phẩm thông qua khả năng bán hàng gián tiếp của doanh nghiệp

Ê Khả năng kiểm soát và độ tin cậy của nguồn cung cấp các yếu tố đầu vào và dự trữ hàng hóa ở doanh nghiệp

Sự kiểm soát chặt chẽ các yếu tố này sẽ giúp doanh nghiệp đảm bảo cung cấp đầy đủ hàng hóa đáp ứng yêu cầu của khách hàng một cách chính xác, nhanh chóng từ đó góp phần nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thị trường

Trang 17

⁄ Trình độ tổ chức và quản lý

Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có cơ cấu tổ chức và phân cấp quản

lý chặt chẽ Công tác tổ chức quản lý được thực hiện tốt thì sẽ là một lợi thế cạnh tranh có giá trị đối với doanh nghiệp

Chất lượng sản phẩm

Đây là một công cụ cạnh tranh quan trọng của doanh nghiệp và là yếu tố sống còn để cho doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển Khi chất lượng sản phẩm tốt không chỉ tăng khả năng thu hút khách hàng, tăng khối lượng hàng hóa tiêu thụ và là điều kiện tốt nâng cao uy tín cho doanh nghiệp Mặt khác, nó còn giúp cho doanh nghiệp thu thêm nhiều bạn hàng, giúp doanh nghiệp giành thắng lợi trong cạnh tranh Nó như là một sợi dây vô hình thắt chặt khách hàng với doanh nghiệp, duy trì vị trí vững chắc của doanh nghiệp trên thị trường

Chính sách giá của doanh nghiệp

Giá cả là một yếu tố rất nhạy cảm trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động tiêu thụ sản phẩm nói riêng bởi vì nó có liên quan trực tiếp tới lợi ích cá nhân, có tính mâu thuẫn giữa người mua và người bán, mối quan hệ giữa các nhà sản xuất kinh doanh và thị trường xã hội Đối với các doanh nghiệp, giá cả được xem như là một tín hiệu đáng tin cậy, phản ánh tình hình biến động của thị trường

Ô Hoạt động marketing của doanh nghiệp

Bao gồm rất nhiều khâu từ việc nghiên cứu thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu, lựa chọn sản phẩm, giá cả, lựa chọn và tổ chức kênh tiêu thụ Vì vậy, hoạt động này đóng vai trò rất quan trọng có ảnh hưởng quyết định tới công tác tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp

2.1.4 Nội dung chủ yếu của tiêu thụ sản phẩm

2.1.4.1 Nghiên cứu thị trường

Có thể hiểu thị trường là nơi diễn ra các hoạt động (trực tiếp và gián tiếp) mua bán hàng hoá Nghiên cứu thị trường là việc làm cần thiết, đầu tiên

Trang 18

đối với mỗi doanh nghiệp khi bắt đầu kinh doanh, đang kinh doanh hoặc muốn mở rộng và phát triển kinh doanh Nghiên cứu thị trường là sự nhận thức một cách khoa học, có hệ thống mọi nhân tố tác động tới thị trường mà các doanh nghiệp phải tính đến khi ra quyết định Vì thị trường không phải là bất biến mà nó luôn biến động, đầy bí ẩn và thường xuyên thay đổi không ngừng Nghiên cứu thị trường là xuất phát điểm để định ra các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Từ chiến lược đã xác định, doanh nghiệp tiến hành lập

và thực hiện kế hoạch kinh doanh, chính sách thị trường Nghiên cứu kỹ thị trường tìm ra các thông tin cần thiết về ảnh hưởng của thị trường, tới việc ra quyết định về chính sách tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, đó là bí quyết thành công trên thương trường Bởi vậy các doanh nghiệp phải thực hiện công tác nghiên cứu thị trường một cách cẩn thận

Mục tiêu của nghiên cứu thị trường là xác định thực trạng của thị trường theo các tiêu thức có thể lượng hoá và về nguyên tắc có thể đạt được bằng khoa học thống kê Nghiên cứu thị trường nhằm phát hiện ra các quy luật vận động của giá cả, tìm cách giải thích các ý kiến về cung cầu các loại sản phẩm dịch vụ

do doanh nghiệp cung cấp, hay lý do về sự trội hơn của các cơ hội cạnh tranh sản phẩm Đây là cơ sở để doanh nghiệp đưa ra các quyết định của mình Nghiên cứu thị trường nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, qua đó chỉ ra những cơ hội và nguy cơ đối với doanh nghiệp Nghiên cứu thị trường phải quan tâm 3 lĩnh vực: cầu hàng hoá và dịch vụ, cạnh tranh về hàng hoá dịch vụ, guồng máy phân phối

Trang 19

Cầu là số lượng hàng hóa dịch vụ mà người tiêu dùng muốn mua và

có khả năng mua tại các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian nhất

định (các yếu tố khác không đổi – Ceteris paribus) [15]

Nhu cầu về một loại hàng hóa nào đó trên thị trường là tổng nhu cầu của tất cả người mua về hàng hóa đó trên thị trường ở mức giá đó Khi giá cả hàng hóa dịch vụ càng cao thì lượng cầu về hàng hóa đó càng ít và ngược lại Quy luật này phản ánh tỉ lệ nghịch giữa giá cả và lượng cầu hàng hóa dịch vụ

Cầu biểu diễn ý muốn và khả năng của người mua, cầu phụ thuộc vào rất nhhiều yếu tố như thu nhập, thị hiếu, số lượng người tiêu dùng, giá cả của chính sản phẩm đó và giá cả hàng hóa của các đối thủ cạnh tranh, giá cả sản phẩm thay thế, co dãn cầu, tập quán người tiêu dùng Có thể biểu diễn mối quan hệ giữa cầu và các yếu tố đó dưới dạng phương trình sau:

DX = F(PX, PY, I, N, T, E) Trong đó: DX - cầu đối với hàng hóa X

PX - giá của hàng hóa X

PY - giá của hàng hóa liên quan (thay thế hoặc bổ sung)

Cung là số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người sản xuất muốn bán và

có khả năng bán tại các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian nhất định (các yếu tố khác không đổi) [15]

Trang 20

Số lượng hàng hóa được cung trong một khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá cả của nó tăng lên và ngược lại (các yếu tố khác không đổi) Quy luật cung phản ánh một thực tế là khi giá tăng, động cơ sản xuất hàng hóa tăng lên

Cung biểu diễn mong muốn và khả năng của người bán, chứ không biểu hiện quá trình mua bán trên thực tế Cung phụ thuộc vào nhiều yếu tố như công nghệ sản xuất, giá của hàng hóa liên quan trong sản xuất, giá của các yếu tố đầu vào, chính sách thuế, số lượng người sản xuất… Có thể biểu diễn mối quan hệ giữa cung và các yếu tố đó dưới dạng phương trình sau:

SX = F(PX, PY, T, N, Pi, CN) Trong đó: SX - cung loại hàng hóa X

PX - giá của hàng hóa X

Pi - giá của yếu tố đầu vào

N - số lượng người sản xuất

ơ Phân tích mạng lưới tiêu thụ

Việc tiêu thụ sản phẩm đạt kết quả ở một mức độ nào đó không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố cung cấp các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ trên thị trường mà còn phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức mạng lưới tiêu thụ chúng Mạng lưới tiêu thụ

được tổ chức cụ thể như thế nào lại phụ thuộc rất lớn vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp sản xuất sẽ hình thành mạng lưới tiêu thụ sản phẩm không giống với một doanh nghiệp thương mại hay dịch vụ Trong phân tích mạng lưới tiêu thụ doanh nghiệp phải chỉ rõ được ưu nhược của từng kênh tiêu thụ và so sánh kênh tiêu thụ của doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh

Trang 21

ơ Định giá

Trong nền kinh tế thị trường thì yếu tố giá cả giữ vai trò rất quan trọng,

nó có thể kích thích sản xuất và cũng có thể làm mất đi một ngành sản xuất, lĩnh vực sản xuất nào đó Giá cả là một phạm trù kinh tế của sản xuất hàng hóa, giá cả xuất hiện trong lưu thông, trên thị trường Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa Việc quy định giá sản phẩm là một quyết định quan trọng đối với doanh nghiệp vì giá cả sản phẩm luôn được coi là một công cụ mạnh mẽ hữu hiệu trong sự cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Nó ảnh hưởng to lớn tới khối lượng sản phẩm tiêu thụ, tác động mạnh tới thu nhập doanh nghiệp Khi giá cả của một sản phẩm hàng hóa nào đó tăng thì sẽ dẫn đến các hàng hóa liên quan khác cũng tăng theo và ngược lại

Giá thành quyết định giới hạn thấp nhất của giá Vì vậy, khi ấn định mức giá bán, giá thành được coi là cơ sở quan trọng nhất Hiện nay đối với bất kỳ doanh nghiệp nào cũng muốn tìm ra các giải pháp để hạ giá thấp xuống, làm tăng lợi nhuận, điều chỉnh giá một cách chủ động, tránh được mạo hiểm Để có thể lựa chọn được mức giá hợp lý cho sản phẩm của mình trước hết doanh nghiệp cần xác định giới hạn trên và giới hạn dưới trên cơ sở tính toán mức chi phí và phân tích dự đoán tình hình thị trường như quan hệ cung cầu, tình hình kinh tế, lạm phát, lãi suất, tăng trưởng hay suy thoái

2.1.4.2 Tổ chức tạo nguồn sản phẩm hàng hóa cho tiêu thụ

Tuỳ tổ chức kinh doanh mà chia doanh nghiệp ra hai loại là doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp thương mại Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất: sản xuất → sản phẩm → kho → tiêu thụ; của doanh nghiệp thương mại: mua hàng hóa → kho → tiêu thụ

Tổ chức sản xuất phải gắn với các đơn vị sản xuất như tổ, đội, phân xưởng theo đặc thù sản phẩm nông nghiệp hay công nghiệp Tuỳ theo sản phẩm mà quan niệm kho sản phẩm là kho có nhà chứa (ví dụ: kho đường) hay kho ngoài

Trang 22

trời (ví dụ: kho than là một bãi, kho gỗ có thể là một khu vực ngoài trời) Tổ chức mua hàng gắn với các đơn vị cung ứng, chạy hàng [12]

2.1.4.3 Tổ chức các kênh phân phối sản phẩm

Trong thực tế có nhiều kênh thoả mãn nhu cầu của doanh nghiệp Vì vậy doanh nghiệp phải lựa chọn một hoặc vài kênh tiêu thụ sản phẩm cũng như mục tiêu chiến lược của mình Khi đánh giá các kênh để đưa ra các quyết

định lựa chọn người ta thường dựa theo tiêu chuẩn như sau:

- Tiêu chuẩn kinh tế

Mỗi kênh tiêu thụ có mức doanh số và chi phí khác nhau Căn cứ mục tiêu và khả năng của doanh nghiệp để xác định các thứ tự ưu tiên đối với mối tương quan giữa doanh số và chi phí Một số kênh tiêu thụ có thể tạo ra doanh

số bán hàng cao hơn, chi phí cố định thấp, song chi phí sẽ tăng nhanh theo doanh số [17]

- Tiêu chuẩn kiểm soát

Các nhà trung gian, các đại lý bán hàng là cơ sở kinh doanh độc lập, có những mục tiêu kinh doanh riêng và thường chỉ quan tâm tới việc nâng cao lợi nhuận của họ Khả năng và mức độ cần kiểm soát đối với hoạt động của kênh phân phối phụ thuộc vào phương thức phân phối, chiến lược của doanh nghiệp

và số lượng các nhà trung gian Khả năng kiểm soát các hoạt động cũng như giám sát việc thực hiện trách nhiệm các thành viên trong kênh

- Tiêu chuẩn thích nghi

Mỗi kênh đều có một thời gian hoạt động theo giao ước và có thể mất đi tính phù hợp nào đó do thay đổi của môi trường, do sự phát triển và mục tiêu khác nhau của các thành viên trong kênh Do đó cần có những cân nhắc và quyết định phù hợp với sự lựa chọn của các nhà trung gian, thời hạn cũng như chính sách hỗ trợ nhằm đảm bảo cho kênh tiêu thụ hoạt động ổn định

Trang 23

Kênh phân phối là đường đi và phương thức di chuyển hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu cho người tiêu dùng Các kênh phân phối tạo ra các dòng chảy hàng hóa từ người sản xuất qua các phần tử trung gian và đến người tiêu dùng cuối cùng

- Các phần tử trung gian chủ yếu bao gồm: người bán buôn, người bán

lẻ, người môi giới, đại lý và nhà phân phối

Ă Người bán buôn

Là người trực tiếp mua sản phẩm của doanh nghiệp và bán lại cho người bán lẻ Đây là những người có vốn kinh doanh lớn, có điều kiện kinh doanh, có khả năng chi phối nhất định đến cả người sản xuất, người bán lẻ, người môi giới

và thường có xu hướng trở thành độc quyền Mặc dù người bán buôn ít trực tiếp tiếp cận với người tiêu dùng, song họ lại có thế mạnh là có vốn lớn, có điều kiện

Trang 24

kinh doanh thuận lợi, do vậy họ có khả năng đẩy nhanh việc tiêu thụ sản phẩm cho nhà sản xuất Trung gian bán buôn có thể bán buôn tổng hợp, bán buôn siêu chuyên doanh, bán buôn qua mối, bán buôn trực tiếp giao hàng, bán buôn đặt hàng, bán buôn giao cho ký gửi

 Người bán lẻ

Đây là những người trung gian bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng Người bán lẻ hoạt động như các đại lý của họ, dự trữ hàng và thực hiện các xúc tiến bán, mở rộng khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng cho hàng hóa của họ hơn cho hàng hóa của những người cung cấp khác

Ê Người môi giới và đại lý

Là những người trung gian có quyền hành động hợp pháp thay mặt cho nhà sản xuất Nhiệm vụ của nhà môi giới là tạo điều kiện cho người mua và người bán gần nhau, chắp nối bán buôn, bán lẻ thị trường Họ không sử dụng hàng hóa, không tham gia vào tài chính, không chịu rủi ro mà chủ yếu tạo thêm lợi nhuận cho việc mua bán nhanh chóng, hiệu quả và họ thường được hưởng

“hoa hồng” từ hai phía

Trang 25

các doanh nghiệp và người tiêu dùng, doanh nghiệp có thể tập trung được mọi nguồn lợi nhuận và tạo lợi thế trong cạnh tranh trên thị trường, giảm được chi phí khâu trung gian, sản phẩm mới được đưa nhanh vào tiêu dùng Song chi phí khấu hao bán hàng tăng, chu chuyển vốn chậm, tổ chức và quản lý kênh phức tạp

Người bán lẻ

Người bán buôn

Đại lý

Người bán buôn

(kênh4)

Người bán lẻ (kênh 2)

(kênh 1)

Người tiêu dùng(kênh 3)

Sơ đồ 2.1: Các kênh tiêu thụ sản phẩm Các kênh gián tiếp:

Đây là hình thức doanh nghiệp sản xuất bán sản phẩm của mình cho người tiêu dùng thông qua các khâu trung gian bao gồm người bán buôn, người bán lẻ, người môi giới, đại lý Tuỳ thuộc vào số lượng các khâu trung gian trong kênh phân phối mà ta có các loại kênh phân phối dài ngắn khác nhau

ư Kênh 2

Là kênh gián tiếp bao gồm một người trung gian gần nhất với người tiêu dùng trên thị trường và khâu trung gian ở đây chỉ có người bán lẻ Thông qua người bán lẻ, doanh nghiệp sản xuất cung cấp sản phẩm đến người tiêu dùng

Đây là loại kênh ngắn thuận tiện cho nhu cầu tiêu dùng, hàng hóa được lưu

Trang 26

chuyển nhanh, người sản xuất được giải phóng khỏi chức năng bán lẻ Loại kênh này thích hợp với các doanh nghiệp bán lẻ lớn (các siêu thị, cửa hàng lớn) có điều kiện quan hệ trực tiếp với người sản xuất, thuận tiện trong giao nhận và vận chuyển Bảo đảm trình độ phân công lao động xã hội, tạo điều kiện tập trung chi phí, năng lực sản xuất Tuy vậy, nó cũng có nhiều hạn chế đó là: quy mô lưu thông hàng hóa còn thấp, chuyên môn hóa chưa cao, phân bố dự trữ trong kênh phân phối không cân đối và hợp lý

ư Kênh 3

Đây là kênh gián tiếp, theo hình thức này phải thông qua hai khâu trung gian là người bán buôn và người bán lẻ Kênh này thuộc loại kênh dài, từng khâu của quá trình sản xuất và lưu thông được chuyên môn hóa, tạo điều kiện

để phát triển sản xuất, mở rộng thị trường, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất

và tiền vốn Kênh này tuy thời gian lưu chuyển và chi phí lưu thông lớn hơn các kênh trước, rủi ro lớn, việc giám sát khách hàng, giá cả đối với sản phẩm của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, nhưng thích hợp với điều kiện sản xuất

và lưu thông nhiều loại sản phẩm hàng hóa, tổ chức và quản lý kênh chặt chẽ, quy mô hàng hóa lớn, vòng quay vốn nhanh phù hợp với quan hệ mua bán của nhiều loại doanh nghiệp

ư Kênh 4

Đây là loại kênh gián tiếp dài nhất, tham gia vào kênh này có đầy đủ các thành phần trung gian như người môi giới, người bán buôn, người bán lẻ Thông thường các loại sản phẩm dễ bảo quản, các sản phẩm sơ chế dần được phân phối theo kênh này Kênh phân phối này dễ phát huy tác dụng tốt nếu người chủ doanh nghiệp biết cách kiểm soát các thành phần trong kênh tiêu thụ và chia sẻ lợi nhuận một cách hợp lý cho mỗi thành phần tham gia Tuy nhiên, các mặt hàng phải trải qua nhiều khâu trung gian phức tạp hoặc được sử dụng trong các trường hợp kinh

Trang 27

Tóm lại, sử dụng kênh gián tiếp hàng hóa được phân phối rộng rãi trên nhiều vùng thị trường khác nhau, cho phép người sản xuất tập trung được mọi nguồn lực của mình vào sản xuất, đồng thời phát huy hết được lợi thế của những phần tử trung gian để nâng cao hiệu quả hoạt động thương nghiệp, nhờ thế có thể tăng cường lợi thế cạnh tranh và mở rộng việc chi phối thị trường, tránh được tình trạng ứ đọng vốn do phải dự trữ hàng hóa gây nên và san sẻ bớt rủi ro trong kinh doanh cho các nhà sản xuất Tuy nhiên, sử dụng kênh này sẽ kéo dài khoảng cách giữa người sản xuất và người tiêu dùng cả về không gian và thời gian, làm cho hàng hóa đến tay người tiêu dùng chậm Người sản xuất sẽ khó nắm bắt được các thông tin về thị trường và khách hàng, làm tăng chi phí cho hoạt động thương mại và các nhà kinh doanh sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình cạnh tranh trên thị trường

2.1.4.4 Tổ chức công tác tiêu thụ sản phẩm

Sản xuất và tiêu thụ sản phẩm có mối quan hệ ảnh hưởng trực tiếp đến nhau bởi sản xuất sản phẩm chất lượng cao thì sẽ ảnh hưởng đến việc tiêu thụ và doanh thu tiêu thụ Tổ chức công tác tiêu thụ sản phẩm bao gồm hàng loạt công việc khác nhau từ quảng cáo, chào hàng, giới thiệu sản phẩm đến việc tổ chức công tác tiêu thụ, ký kết hợp đồng tiêu thụ, phương thức thanh toán Công tác tổ chức tiêu thụ sản phẩm tốt, chất lượng sản phẩm cao sẽ tăng được khối lượng sản phẩm bán ra Đây chính là biện pháp chủ quan của doanh nghiệp nhằm đẩy mạnh quá trình tiêu thụ được nhanh chóng Vì vậy, khâu tổ chức tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đẩy mạnh tiêu thụ, tăng doanh thu tiêu thụ

2.1.4.5 Đánh giá kết quả và hiệu quả tiêu thụ

- So sánh kết quả tiêu thụ so với kế hoạch, so sánh với thời gian trước qua các chỉ tiêu hiện vật và giá trị

- Phân tích lãi tiêu thụ hay còn gọi là lãi Marketing Đó là phần chênh lệch giữa giá bán và các chi phí để có nguồn hàng bán ra bao gồm: giá mua, chi phí

Trang 28

phục vụ marketing (chi phí thu mua, phân loại, chế biến, quảng cáo, chi phí vận chuyển, bốc xếp ) [11]

Tuỳ theo vị trí của các thành viên tham gia vào thị trường mà việc tính lãi tiêu thụ có thể dùng các giá khác nhau Đối với người bán buôn, đó là chênh lệch giữa giá mua tại nơi sản xuất, chi phí khác với giá bán buôn Còn đối với người bán lẻ, đó là chênh lệch giữa giá mua buôn, chi phí khác và giá bán lẻ cho người tiêu dùng Việc nghiên cứu lãi tiêu thụ giúp cho việc nhận biết lợi ích giữa những người tham gia vào thị trường

- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tiêu thụ sản phẩm

2.2 Tiêu thụ gỗ trụ mỏ

2.2.1 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của gỗ trụ mỏ

Cây nguyên liệu gỗ trụ mỏ là loài cây thường được trồng ở vùng có khí hậu á nhiệt đới, trên diện tích phải trồng rừng thay thế sau khi đã khai thác và diện tích đất trống núi trọc - những nơi có độ dốc dưới 250, nhiệt độ bình quân từ

150C - 220C

Cây trồng gỗ trụ mỏ thường là những cây gỗ tỉa thưa, có khả năng tái sinh trồi nhanh Cây trồng lấy gỗ mỏ phải là gỗ rừng trồng còn tươi, cây chịu lực nén tốt, dễ bóc vỏ, không bị sâu mọt, nấm mục, rỗng lõi, nứt vỡ Gỗ phải được phát hết cành mấu, ít nhựa, bạnh vè, thân tròn thẳng, độ cong cho phép một làn không quá 1/3 đường kính trung bình thân cây gỗ, có độ bền cơ học cao để tiện mang vác và có thể giữ được lâu trong hầm lò [21]

Về cơ cấu loài cây, trên cơ sở năng suất của các loài trên các dạng lập địa mà lựa chọn tập đoàn cây trồng gỗ trụ mỏ đó là bạch đàn Urôphylla mô hom, các dòng PN2, PN14, U6 (tên khoa học gọi là Encalyptus Camaldulensis), loài cây keo mô hom các dòng BV10, BV16, BV32 (tên khoa học

gọi là Acacia Mangium)

Trang 29

Phương thức chủ yếu trồng rừng nguyên liệu là trồng rừng thâm canh và trồng rừng chuyên canh, tỷ lệ gỗ mỏ thương phẩm chiếm khoảng 65% trong trữ lượng cây gỗ mỏ Chu kỳ sản xuất của cây bạch đàn thường là 7 năm và của cây keo là 8 năm [23]

Gỗ trụ mỏ được sử dụng để chống, chèn lò trong khai thác than hầm

lò, do đó gỗ trụ mỏ được chia thành 4 loại:

Ư Gỗ lò cái: Gỗ được dùng để chống sập đường lò ở đường lò chính gọi

là gỗ lò cái, chiều dài của gỗ lò cái từ 2,2m đến 2,5m với đường kính từ 13cm

 Gỗ chèn: Gỗ chèn dùng để chèn vào hai bên cho đất đỡ sụp hoặc rải trên cho đất không bị rơi vào đường hầm, chiều dài của gỗ chèn từ 1,2m

Trang 30

chất của các khoáng sản rất phức tạp đã làm hạn chế việc áp dụng kỹ thuật mới, công nghệ mới Vì vậy, việc sử dụng gỗ chống chèn lò như hiện nay vẫn là phương pháp chủ yếu của ngành than

2.2.2 Đặc điểm tiêu thụ gỗ trụ mỏ

2.2.2.1 Đặc điểm chung của tiêu thụ lâm sản

Ư Do đặc điểm của sản xuất và tiêu thụ lâm sản, thị trường lâm sản là thị trường đa cấp Mỗi loại lâm sản đáp ứng đòi hỏi của thị trường về tất cả các mặt thời gian, không gian, chất lượng Do vậy, các chủ thể kinh tế tham gia kênh tiêu thụ cần bỏ ra những chi phí nhất định Những chi phí này được phản ánh vào giá cả thể hiện trong thị trường tiêu thụ công nghiệp, các nhà máy mua nửa thành phẩm của ngành chế biến lâm sản rồi chế biến tiếp tục để tạo ra các thành phẩm bán cho người tiêu dùng Các sản phẩm từ gỗ có những

đặc tính và chất lượng riêng thể hiện qua các thông số như độ bền, độ đàn hồi,

độ co ngót, độ uốn, độ thấm nước[18]

Người bán lâm sản, đặc sản là những doanh nghiệp lâm nghiệp, hộ nông dân, các tổ chức kinh tế khác Lâm sản có thể được bán trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc thông qua những bộ phận dịch vụ tiêu thụ Người tiêu dùng là các nhà máy, xưởng chế biến lâm sản, hộ nông dân, các cá nhân tiêu dùng tự do

Ă Do quy mô, cơ cấu và sự vận động của thị trường khác nhau nên tập tính, thói quen sử dụng gỗ của người tiêu dùng cũng khác nhau Dẫn đến nhu cầu

và chủng loại sản phẩm gỗ cho từng loại thị trường khác nhau như gỗ trụ mỏ, gỗ xây dựng, gỗ chế biến đồ, gỗ củi cho công nghiệp và cho các hộ gia đình, gỗ cho chế biến thành ván nhân tạo Từ đó cần phải có chính sách giá cả và chính sách sản phẩm hợp lý cho từng loại thị trường

 Vận chuyển là yếu tố tác động mạnh mẽ đến việc chế biến và thị trường tiêu thụ lâm sản Trong lâm nghiệp, gỗ thường được khai thác vào

Trang 31

mùa khô để tiện vận chuyển gỗ từ rừng ra bãi giao hàng hay vận chuyển gỗ

đến người tiêu dùng Do đó, vào mùa khô dung lượng gỗ cung cấp trên thị trường tương đối lớn, các lâm sản phải vận chuyển ra từ rừng đến các trung tâm dân cư lớn Các nhà máy thường đặt tại các trung tâm đó và sau khi chế biến, sản phẩm lại được chuyên chở đến các trung tâm dân cư khác nhỏ hơn hoặc các vùng thị trấn, vùng trung du và miền núi, các đầu mối giao thông, các chợ nông thôn và tại các cơ sở sản xuất

Tại chợ nông thôn, vùng trung du và miền núi, việc mua bán chủ yếu diễn ra giữa những người sản xuất nhỏ Các sản phẩm gỗ thường ở mức độ chế biến thấp, các loại sản phẩm thường nghèo nàn nên người mua bị hạn chế trong sự lựa chọn

Tại các cơ sở sản xuất, sản phẩm mua, bán thường thông qua các hợp đồng kinh tế Lượng sản phẩm trao đổi ở đây tương đối lớn và quan hệ kinh tế trở nên

rõ ràng Do đó cần vận chuyển sản phẩm gỗ bằng các phương tiện tốt, thích hợp

để rút ngắn thời gian vận chuyển Cần áp dụng các biện pháp với các giá bán khác nhau cũng cần phải linh hoạt để giảm chi phí vận chuyển, bảo quản và thiệt hại do giảm phẩm cấp

Ê Do chu kỳ sản xuất của cây rừng thường dài hàng chục năm Cung sản phẩm gỗ của năm sau là kết quả sản xuất của những năm trước Do đó, chu kỳ sống của sản phẩm chế biến gỗ thường dài hơn so với chu kỳ sản phẩm của ngành công nghiệp

⁄ Giá cả các mặt hàng lâm sản thường rất nhạy cảm đối với sự biến

động theo chu kỳ và do mở rộng quan hệ buôn bán quốc tế, giá cả thường

được quy định theo tình hình cung cầu trên thị trường thế giới Nhất là sản phẩm đã qua chế biến như ván sàn, ván sợi, ván lạng

Các chính sách và quyết định của Nhà nước về quản lý tài nguyên rừng, về khai thác, chế biến và phân phối sản phẩm rừng có ảnh hưởng

Trang 32

nhiều đến thị trường lâm sản Nhà nước không tham gia trực tiếp điều tiết cung cầu thị trường mà chỉ tham gia điều tiết gián tiếp như Nhà nước quy hoạch vùng ổn định nguyên liệu và kiểm soát nghiêm ngặt việc khai thác và chế biến gỗ từ vùng nguyên liệu tập trung

2.2.2.2 Đặc điểm riêng của tiêu thụ gỗ trụ mỏ

+ Cầu gỗ trụ mỏ là cầu thứ cấp và xuất phát từ cầu khai thác than hầm lò và đặc điểm mỏ than Cầu gỗ trụ mỏ là cầu trực tiếp cho sản xuất Vì toàn bộ gỗ trụ mỏ được dùng vào chống chèn lò không cần phải trải qua giai đoạn chế biến hoặc dịch vụ trung gian làm tăng giá trị của nó [19]

+ Gỗ trụ mỏ là tư liệu không thể thay thế được trong khai thác than hầm lò, cho nên sản phẩm thay thế là rất ít

+ Gỗ trụ mỏ là sản phẩm chỉ tiêu thụ trong nước và thị trường độc quyền về gỗ trụ mỏ được chỉ định trước

+ Chu kỳ sản xuất của cây gỗ dài thường từ 7 – 8 năm

+ Cầu gỗ trụ mỏ chịu ảnh hưởng bởi tính thời vụ của cung gỗ trụ mỏ

Do đó, gỗ trụ mỏ thường chủ yếu khai thác vào mùa khô để tiện vận chuyển

gỗ từ rừng ra các bãi tập kết gỗ hay vận chuyển gỗ đến các mỏ than

2.3 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài đó là:

“Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng” (Công ty lâm nông nghiệp Đông

Trang 33

Quyết định số 149/1998/QĐ-TTg ngày 16/9/1999 của Thủ tướng Chính

phủ về quy hoạch phát triển lâm nghiệp vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ Đông Bắc

đến năm 2010.

Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 80/2002/QĐ - TTg ngày 24/6/2002

về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng

Quyết định số 199/QĐ-BNN-PTNT ngày 22/01/2003 của Bộ trưởng Bộ

Nông nghiệp và PTNT phê duyệt “Chiến l ược phát triển lâm nghiệp giai đoạn

2001 – 2010

Tác giả Nguyễn Xuân Thắng – “Báo cáo b ước đầu đánh giá rừng trồng thâm canh bằng cây mô hom và công tác quản lý kỹ thuật trồng rừng nguyên liệu”, Bắc Giang năm 2001

Các công trình nghiên cứu trên tập trung vào nghiên cứu các vấn đề về kỹ thuật và một số vấn đề kinh tế liên quan đến gỗ trụ mỏ

Tác giả Phạm Xuân Phương - Luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp

“Nghiên cứu thị trường gỗ trụ mỏ vùng Đông Bắc Bắc bộ” năm 1998 Tác giả đã

đi sâu nghiên cứu về thị trường gỗ trụ mỏ vùng Đông Bắc Bắc bộ

Trang 34

3 địa điểm và phương pháp nghiên cứu

3.1 Đặc điểm cơ bản của Công ty lâm nông nghiệp Đông Bắc

3.1.1 Quá trình hình thành Công ty lâm nông nghiệp Đông Bắc

Công ty lâm nông nghiệp Đông Bắc được thành lập vào tháng 10 năm 1959 lúc đó có tên là Công ty nông lâm thủy sản Bắc Giang thuộc

Bộ Nội thương

Năm 1960 chuyển thành Phân cục lâm sản Bắc Giang trực thuộc Tổng cục lâm nghiệp Năm 1962 đến năm 1969 chuyển thành Công ty lâm sản liên tỉnh Hà Bắc thuộc Tổng Công ty lâm sản Việt Nam Từ năm 1970 đến năm

1973 đổi tên là Công ty vận chuyển cung cấp lâm sản Hà Bắc thuộc Công ty lâm nghiệp Hà Bắc Từ 1974 đến năm 1977 chuyển thành Công ty vật tư lâm sản Hà Bắc thuộc Công ty công nghiệp rừng Đông Bắc

Từ tháng 10 năm 1977 đến năm 1979 chuyển thành Xí nghiệp vận tải lâm sản Hà Bắc thuộc Công ty cung ứng lâm sản sau là Liên hiệp chế biến cung ứng lâm sản I Đến tháng 4 năm 1980 theo quyết định 125 của Bộ Lâm nghiệp chuyển thành Công ty lâm sản Đông Bắc trực thuộc Tổng Công ty lâm sản Việt Nam

Tháng 4 năm 1984 chuyển thành Công ty gỗ trụ mỏ hay còn gọi là Liên hiệp xí nghiệp gỗ trụ mỏ thuộc Bộ Lâm nghiệp Công ty lúc này chia thành nhiều xí nghiệp nhỏ

Cuối cùng đến năm 1996 theo quyết định 375 TCT-TCLĐ tổ chức lại

đổi tên thành Công ty lâm nông nghiệp Đông Bắc, trực thuộc Tổng Công ty lâm nghiệp Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Trụ sở chính ở 160

đường Xương Giang, thị xã Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

Như vậy, trong 38 năm từ năm 1958 đến năm 1996 Công ty luôn có sự chuyển biến, thay đổi để phù hợp với xu hướng và phát triển

Trang 35

Là một doanh nghiệp Nhà nước với tư cách là một đơn vị hạch toán độc lập, tự chủ về tài chính chịu trách nhiệm trước Nhà nước về mọi hoạt động sản xuất và kinh doanh của đơn vị mình, Công ty có tài khoản riêng mở tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang, chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc vay vốn, bảo tồn vốn và sử dụng vốn vay

Công ty lâm nông nghiệp Đông Bắc nằm trong vùng Đông bắc Bắc

bộ là vùng quy hoạch trồng rừng nguyên liệu gỗ trụ mỏ, do đó gỗ trụ mỏ là sản phẩm chuyên môn hóa của vùng Nhiệm vụ chính của Công ty là: trồng rừng nguyên liệu, cung cấp gỗ trụ mỏ cho ngành than theo QĐ 149/1998/QĐ-TTg ngày 21/8/1998 của Thủ tướng Chính phủ Rừng gỗ mỏ không những cung cấp gỗ để chống chèn lò trong khai thác hầm lò mà còn có thể tận thu sản phẩm còn lại để chế biến gỗ ván dán, ván sợi ép, gỗ củi Doanh thu từ việc bán gỗ trụ mỏ là một trong những nguồn thu nhập chính của các doanh nghiệp lâm nghiệp và các hộ gia đình làm nghề rừng Mặt khác, việc gây trồng rừng gỗ mỏ còn đóng vai trò quan trọng trong việc tăng độ che phủ của rừng, hạn chế sự ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp chế xuất, khu khai thác, góp phần khắc phục hiện tượng hạn hán, lũ lụt, cung cấp nước đầy đủ cho sản xuất và sinh hoạt trong vùng, đồng thời tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động trong vùng

Công ty có 13 đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc, hoạt động khép kín

từ khâu thiết kế, dịch vụ kỹ thuật, trồng rừng, khai thác tài nguyên rừng, kinh doanh chế biến các sản phẩm lâm nông sản tiêu thụ trong nước

Các đơn vị thành viên bao gồm:

- Xí nghiệp chế biến và kinh doanh lâm sản Đông Bắc - tỉnh Bắc Giang

- Xí nghiệp kinh doanh lâm nông sản Bắc Giang

- Xí nghiệp bảo quản nông lâm sản - tỉnh Bắc Giang

Trang 36

- Xí nghiệp thiết kế và bảo vệ rừng- tỉnh Bắc Giang

- Xí nghiệp xây lắp công trình Bắc Giang

- Xí nghiệp chế biến lâm sản Hữu Lũng - tỉnh Lạng Sơn

Nhiệm vụ của các lâm trường thành viên

- Các lâm trường Hữu Lũng1, lâm trường Hữu Lũng 2, lâm trường Hữu Lũng 3, lâm trường Cao Lộc, lâm trường Chi Lăng, lâm trường Đồng Sơn, lâm trường Phúc Tân có nhiệm vụ đảm bảo trồng rừng phòng hộ, trồng rừng nguyên liệu cho năng suất chất lượng cao, quản lý bảo vệ và khai thác tài nguyên rừng hợp lý, góp phần hoàn thành nhiệm vụ cung ứng gỗ mỏ của Công ty

- Xí nghiệp thiết kế và bảo vệ rừng chịu trách nhiệm thiết kế bảo đảm chất lượng các hạng mục công trình đã giao trong năm kế hoạch, cung ứng phân bón cho các đơn vị thành viên, tham gia cùng văn phòng Công ty nghiệm thu một số công trình XDCB lâm sinh

- Các Xí nghiệp kinh doanh lâm nông sản Bắc Giang, Xí nghiệp chế biến và kinh doanh lâm sản Đông Bắc, Xí nghiệp chế biến lâm sản Hữu Lũng chịu trách nhiệm thu mua, vận chuyển lâm sản tới các địa điểm tập kết cố định Tổ chức thu mua gỗ mỏ từ vườn rừng của dân, của các tổ chức

Trang 37

tập thể, các lâm trường trong và ngoài Công ty theo địa bàn mà Công ty quy

định Cung ứng vật tư nông lâm sản và chế biến các sản phẩm từ gỗ như gỗ tròn, gỗ xẻ, tre nứa, đồ mộc dân dụng, đồ mộc mỹ nghệ cho trong nước và xuất khẩu

- Xí nghiệp xây lắp công trình Bắc Giang chịu trách nhiệm mở đường khai thác rừng trồng cho các lâm trường thuộc Công ty

- Văn phòng Công ty trên cơ sở kế hoạch đã phân khai cho các đơn vị, chịu trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra nghiệm thu khối lượng, chất lượng hoàn thành cho các đơn vị

3.1.2 Điều kiện tự nhiên của Công ty

3.1.2.1 Vị trí địa lý

Công ty lâm nông nghiệp Đông Bắc nằm trong phạm vi hành chính 3 tỉnh Bắc Giang - Lạng Sơn - Thái Nguyên

Trên tọa độ: Từ 21028 đến 21050 vĩ độ Bắc

Từ 105037 đến 10702 kinh Đông Khu vực nằm gần địa bàn kinh tế trọng điểm phía bắc, có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ đến nơi tiêu thụ gỗ hết sức thuận lợi

Trụ sở chính của Công ty lâm nông nghiệp Đông Bắc nằm ở trung tâm thị xã Bắc Giang, nằm trên đường quốc lộ 1A, gần với đường sắt đi Hà Nội - Lạng Sơn - Quảng Ninh, gần sông Thương - sông Cầu - sông Lục Nam [8]

- Các xí nghiệp trực thuộc Công ty chủ yếu nằm trong phạm vi tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang Điều này rất thuận lợi cho việc vận chuyển, thu mua và tiêu thụ gỗ trụ mỏ và các mặt hàng khác

- Đối với khu vực các lâm trường trồng rừng nguyên liệu gỗ trụ mỏ nằm tập trung tại ba tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, Thái Nguyên Khu vực nằm gần địa

Trang 38

bàn kinh tế trọng điểm phía Bắc, là nơi đầu nguồn các con sông Thương, sông

Kỳ Cùng, sông Cầu các hồ thủy lợi, du lịch: hồ Núi Cốc, hồ Suối Cái, hồ Cai Hiển, suối Cấy, hồ Cấm Sơn Cụ thể từng địa điểm lâm trường như sau:

ư Lâm trường Hữu Lũng I, lâm trường Hữu Lũng II, lâm trường Hữu Lũng III đang SảN XUấT KINH DOANH trên địa bàn huyện Hữu Lũng- tỉnh Lạng Sơn; phía bắc giáp huyện Chi Lăng; phía nam giáp huyện Lục Nam; phía

đông giáp huyện Yên Thế; phía tây giáp huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên

ư Lâm trường Đồng Sơn nằm trên địa bàn huyện Yên Thế - Bắc Giang, cách thị xã Bắc Giang 30km về phía tây nam; có phía bắc giáp tỉnh Lạng Sơn; phía nam giáp huyện Lạng Giang, Tân Yên; phía đông giáp huyện Hữu Lũng - Lạng Sơn và phía tây giáp tỉnh Thái Nguyên

ư Lâm trường Phúc Tân nằm ở địa bàn huyện Phổ Yên, thị xã Sông Công - tỉnh Thái Nguyên; có phía bắc và tây giáp huyện Đại Từ; phía nam giáp tỉnh Vĩnh Phúc; phía đông giáp thành phố Thái Nguyên

ư Lâm trường Cao Lộc nằm trên 4 xã của huyện Cao Lộc - tỉnh Lạng Sơn Phía bắc giáp xã Bảo Lâm và Thanh Hòa; phía nam giáp huyện Chi Lăng; phía đông giáp xã Xuất Lễ và phía tây giáp huyện Văn Quan - tỉnh Thái Nguyên

ư Lâm trường Chi Lăng nằm trên địa bàn huyện Chi Lăng - tỉnh Lạng Sơn Phía bắc giáp Bắc Thủy; phía nam giáp tỉnh Bắc Giang; phía tây giáp xã

Hữu Kiên, Liên Sơn; phía đông giáp xã Quan Lang, xã Mai Sao

3.1.2.2 Địa hình

Địa hình thuộc phạm vi của Công ty là địa hình đồi núi bát úp nối tiếp nhau chạy từ đông sang tây Độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 150m - 300m, đỉnh cao nhất là 650m (lâm trường Cao Lộc); độ dốc bình quân từ 180 - 250, có nơi hơn 350, xen kẽ với đồi núi có nhiều dải ruộng

Trang 39

Địa hình thấp dần theo hướng tây bắc - đông nam Địa hình mang tính chất vùng trung du bán sơn địa, điều kiện địa hình có nhiều thuận lợi cho sản xuất lâm nghiệp, thâm canh cây rừng và thực hiện nông lâm kết hợp

3.1.2.3 Khí hậu

Khu vực mà Công ty hoạt động thuộc khí hậu vùng núi thấp nhiệt đới gió mùa, hàng năm có 2 mùa phân biệt nhưng mang những đặc điểm chuyển tiếp giữa vùng núi và trung du Bắc bộ Do vậy, nhiệt độ ấm hơn, lượng mưa cao hơn

- Mùa mưa nóng từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau

- Nhiệt độ trung bình là 230C, nơi cao nhất là 39,50C và có nơi thấp nhất là 2,50C (vùng Cao Lộc) Thời gian nóng nhất vào tháng 7 và lạnh nhất vào tháng 1

- Lượng mưa bình quân là 1400mm/năm, năm cao nhất là 1800mm, năm thấp nhất là 1200mm Trong đó mưa tập trung vào tháng 6, tháng 7, tháng

8 chiếm hơn 70% tổng lượng mưa cả năm Số ngày mưa trung bình từ 130 ngày

đến 140 ngày/năm Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10

- Mùa mưa có gió đông nam ẩm và mát, mùa khô có gió mùa đông bắc lạnh khô có từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Do địa hình đồi núi xen kẽ và

xa biển nên ít bị ảnh hưởng bởi gió bão, một số nơi có sương muối xuất hiện vào tháng 12, tháng 1

- Độ ẩm không khí: bình quân năm là 82%, cao nhất là 94% và thấp nhất là 74%

Nhìn chung, khí hậu khu vực mang tính chất nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều Mùa hè không quá nóng, mùa đông không quá lạnh, chênh lệch giữa hai mùa là không lớn, điều này ảnh hưởng tốt đến quá trình sinh trưởng và

Trang 40

phát triển quanh năm của cây rừng, rất thuận tiện cho việc sản xuất kinh doanh trồng cây nông lâm đặc sản và buôn bán kinh doanh [9]

3.1.2.4 Thuỷ văn

Trong khu vực có nhiều suối chạy theo hướng tây bắc - đông nam, là nơi đầu nguồn của nhiều con sông lớn và là nơi tạo nguồn nước cho các hồ thuỷ lợi, hồ du lịch quan trọng, là vùng đệm cho rừng quốc gia

Các lâm trường trồng rừng phòng hộ, rừng nguyên liệu đầu nguồn cho các con sông Kỳ Cùng, sông Trung, sông Thương, tạo nguồn nước cho các

hồ thuỷ lợi, hồ du lịch như hồ Cấm Sơn, hồ Cai Hiển, hồ Suối Cái, hồ Núi Cốc Ngoài các con sông lớn còn có các suối nhỏ đều là chi lưu của các con sông, mùa mưa có lượng nước lớn, nhưng mùa khô các suối rất ít nước Do

đó, hệ thống sông suối trong khu vực có tác dụng điều hòa khí hậu, tưới tiêu phục vụ sản xuất, mặt khác nó còn mang một ý nghĩa lớn trong việc vận xuất

và vận chuyển lâm sản

3.1.2.5 Hiện trạng rừng và thảm che

Các lâm trường của Công ty lâm nông nghiệp Đông Bắc được thành lập

đã lâu, liên tục thực hiện nhiệm vụ xây dựng vốn rừng, trồng rừng nguyên liệu

gỗ mỏ và trồng rừng phòng hộ do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và

địa phương giao kế hoạch chỉ tiêu

Với diện tích đất rừng đã được Nhà nước giao quản lý, sử dụng ở những nơi đất tốt điều kiện thuận lợi, không phải nơi xung yếu, rất xung yếu,

đầu nguồn các con sông, hồ, các lâm trường tổ chức trồng rừng gỗ mỏ với nguồn vốn tín dụng Nhà nước theo QĐ số 149/1998/TTg ngày 21-08-1998 của Thủ tướng Chính phủ Còn những nơi là xung yếu, rất xung yếu, nơi đầu nguồn các con sông, hồ, vùng đệm cho rừng quốc gia, các lâm trường trồng rừng theo dự án 327, 661

Ngày đăng: 02/08/2013, 16:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1: Các kênh tiêu thụ sản phẩm  Các kênh gián tiếp: - Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ gỗ trụ mỏ tại công ty lâm nông nghiệp đông bắc bắc giang
Sơ đồ 2.1 Các kênh tiêu thụ sản phẩm Các kênh gián tiếp: (Trang 25)
Sơ đồ 3.1: Bộ máy quản lý của Công ty - Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ gỗ trụ mỏ tại công ty lâm nông nghiệp đông bắc bắc giang
Sơ đồ 3.1 Bộ máy quản lý của Công ty (Trang 44)
Bảng 4.3. Giá trị tiêu thụ theo từng loài cây gỗ của Công ty - Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ gỗ trụ mỏ tại công ty lâm nông nghiệp đông bắc bắc giang
Bảng 4.3. Giá trị tiêu thụ theo từng loài cây gỗ của Công ty (Trang 54)
Sơ đồ 4.1: Các kênh tiêu thụ gỗ trụ mỏ Công ty tham gia - Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ gỗ trụ mỏ tại công ty lâm nông nghiệp đông bắc bắc giang
Sơ đồ 4.1 Các kênh tiêu thụ gỗ trụ mỏ Công ty tham gia (Trang 58)
Bảng 4.6. Tình hình thực hiện hợp đồng mua bán gỗ trụ mỏ - Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ gỗ trụ mỏ tại công ty lâm nông nghiệp đông bắc bắc giang
Bảng 4.6. Tình hình thực hiện hợp đồng mua bán gỗ trụ mỏ (Trang 60)
Bảng 4.8. Diện tích đất rừng và rừng trồng nguyên liệu gỗ mỏ - Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ gỗ trụ mỏ tại công ty lâm nông nghiệp đông bắc bắc giang
Bảng 4.8. Diện tích đất rừng và rừng trồng nguyên liệu gỗ mỏ (Trang 64)
Bảng 4.12. Nhu cầu về gỗ trụ mỏ vùng Đông Bắc Bắc bộ - Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ gỗ trụ mỏ tại công ty lâm nông nghiệp đông bắc bắc giang
Bảng 4.12. Nhu cầu về gỗ trụ mỏ vùng Đông Bắc Bắc bộ (Trang 87)
Bảng 4.13. Khối l−ợng cung ứng gỗ trụ mỏ của Tổng Công ty lâm nghiệp Việt Nam - Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ gỗ trụ mỏ tại công ty lâm nông nghiệp đông bắc bắc giang
Bảng 4.13. Khối l−ợng cung ứng gỗ trụ mỏ của Tổng Công ty lâm nghiệp Việt Nam (Trang 90)
Bảng 4.14. Diện tích khai thác rừng trồng NL gỗ trụ mỏ theo chu kỳ - Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ gỗ trụ mỏ tại công ty lâm nông nghiệp đông bắc bắc giang
Bảng 4.14. Diện tích khai thác rừng trồng NL gỗ trụ mỏ theo chu kỳ (Trang 94)
Bảng 4.15. Diện tích trồng rừng nguyên liệu gỗ chia cho - Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ gỗ trụ mỏ tại công ty lâm nông nghiệp đông bắc bắc giang
Bảng 4.15. Diện tích trồng rừng nguyên liệu gỗ chia cho (Trang 97)
Bảng 4.16. Nhu cầu vốn cho các lâm tr−ờng thành viên - Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ gỗ trụ mỏ tại công ty lâm nông nghiệp đông bắc bắc giang
Bảng 4.16. Nhu cầu vốn cho các lâm tr−ờng thành viên (Trang 100)
Sơ đồ 4.6. Những thuận lợi và khó khăn trong tiêu thụ gỗ trụ mỏ của Công ty - Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ gỗ trụ mỏ tại công ty lâm nông nghiệp đông bắc bắc giang
Sơ đồ 4.6. Những thuận lợi và khó khăn trong tiêu thụ gỗ trụ mỏ của Công ty (Trang 104)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w