Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất một số loại nấm ăn tại tỉnh vĩnh phúc
Trang 1Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Đỗ Thị Hương
i
Trang 2Lời Cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này tôi nhận được sự giúp đỡ trực tiếp và tận tình của thầy giáo TS Nguyễn Hữu Ngoan, các thầy cô giáo trong bộ môn Kinh tế lượng, khoa Kinh tế và phát triển nông thôn-trường Đại học nông nghiệp I
Sự giúp đỡ nhiệt tình của các Cán bộ thuộc Trung tâm Công nghệ sinh học - Viện di truyền nông nghiệp Viện Nam, Phòng Nông nghiệp thị xã Vĩnh Yên, Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Vĩnh Phúc và các xã thuộc
địa bàn nghiên cứu, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi nghiên cứu, thực hiện thành công đề tài
Từ đáy lòng mình, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quí báu đó!
Tác giả
Đỗ Thị Hương
ii
Trang 3Mục lục
Lời cam đoan i
Lời Cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các biểu đồ, đồ thị vi
Tên các đồ thị và biểu đồ vi
Danh mục các sơ đồ vi
Tên các sơ đồ vi
Danh mục các bảng vii
1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
2.1 Cơ sở lí luận nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất nấm 4
2.1.1 Một số kiến thức chung về nấm 4
2.1.2 Vai trò của nấm ăn đối với đời sống con người 5
2.1.3 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của sản xuất một số loại nấm ăn được
nuôi trồng ở nước ta 8
2.1.4 Khái niệm hiệu quả kinh tế 14
2.1.5 Phát triển sản xuất nấm ăn và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá 17
2.2 Cơ sở thực tiễn sản xuất nấm ăn 22
2.2.1 Thực trạng ngành sản xuất nấm ăn trên thế giới 22
2.2.2 Thực trạng ngành sản xuất nấm ăn ở Việt Nam 24
3 đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 26
3.1 Đặc điển địa bàn nghiên cứu 26
3.1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên 26
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 30
3.2 Phương pháp nghiên cứu 35
3.2.1 Phương pháp duy vật biên chứng và duy vật lịch sử 35
3.2.2 Phương pháp thống kê kinh tế và phân tích số liệu thống kê 36
iii
Trang 43.2.3 Phương pháp điều tra nhanh nông thôn (PRA) 37
3.2.4 Phương pháp chuyên gia chuyên khảo 37
3.2.5 Phương pháp chọn mẫu điều tra 38
3.2.6 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 38
4 thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất một số loại nấm ăn chủ yếu ở tỉnh Vĩnh Phúc 40
4.1 Thực trạng sản xuất và hiệu quả sản xuất nấm ăn ở tỉnh Vĩnh Phúc 40
4.1.1 Tình hình trang bị cơ sở vật chất và sản xuất nấm những năm gần đây 40
4.1.2 Một số mô hình sản xuất nấm ăn ở Vĩnh Phúc 44
4.1.3 Thực trạng sản xuất và hiệu quả sản xuất nấm của hộ nông dân 46
4.1.4 Thực trạng sản xuất và hiệu quả sản xuất nấm ăn ở trang trại 74
4.1.5 So sánh hiệu quả kinh tế sản xuất nấm trang trại với quy mô hộ 78
4.1.6 Hạch toán giá thành và so sánh hiệu quả sản xuất nấm tươi và
nấm chế biến 82
4.2 Các nhân tố ảnh h ưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất nấm 86
4.2.1 Sản xuất và cung ứng giống nấm 86
4.2.2 Nguyên liệu sản xuất nấm 88
4.2.3 Công nghệ sản xuất và chế biến 89
4.2.4 Sản lượng và chất lượng nấm sơ chế 90
4.2.5 Thị trường tiêu thụ nấm 91
4.2.6 Vốn cho sản xuất 98
4.2.7 Trình độ lao động 98
4.2.8 Khí hậu, thời tiết 99
4.2.9 Các nhân tố khác 101
4.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hiệu quả sản xuất nấm 102
4.3.1 Định hướng phát triển sản xuất nấm 102
4.3.2 Tổ chức sản xuất và cung ứng giống nấm 112
4.3.3 Chế biến và bảo quản nấm 131
4.3.4 Tổ chức mở rộng và ổn định thị trường tiêu thụ 131
5 kết luận và kiến nghị 132
5.1 Kết luận 132
5.2 Kiến nghị 134
Tài liệu tham khảo 135
iv
Trang 5Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
Trang 6Danh mục các biểu đồ, đồ thị
Đồ thị 1 Biến động giá nấm tươi qua các tháng năm 2003 97 Biểu đồ 1 Biểu diễn chi phí, doanh thu và lợi nhuận nấm mỡ 128 Biểu đồ 2 Biểu diễn chi phí, doanh thu và lợi nhuận nấm rơm 129 Biểu đồ 3 Biểu diễn chi phí, doanh thu và lợi nhuận nấm sò 129
Danh mục các sơ đồ
Sơ đồ 2 Kênh tiêu thụ nấm của cơ sở sản xuất 94 Sơ đồ 3 Hệ thống tổ chức và quản lí sản xuất nấm ăn 105 Sơ đồ 4 Các tác nhân ảnh hưởng đến ngành hàng nấm 106 Sơ đồ 5 Sơ đồ cung cấp giống nấm tỉnh Vĩnh Phúc 114 Sơ đồ 6 Xử lí nguyên liệu trồng nấm mỡ 119 Sơ đồ 7 Xử lí nguyên liệu trồng nấm rơm 120 Sơ đò 8 Xử lí nguyên liệu trồng nấm sò 122 Sơ đồ 9 Tổ chức sản xuất và cung cấp giống nấm 123
vi
Trang 7Danh mục các bảng
Bảng 1 Các axit amin có trong nấm rơm 5
Bảng 2 Thành phần dinh dưỡng của nấm sò và nấm mỡ 6
Bảng 3 Điều kiện cần thiết ảnh hưởng đến các giai đoạn sản xuất nấm mỡ 12
Bảng 4: Biên độ và nhiệt độ thích hợp với nấm sò 13
Bảng 5 Diện tích đất sử dụng trồng nấm ăn ở hộ nông dân tỉnh Vĩnh Phúc 18
Bảng 6 Sản lượng nấm qua các năm của Việt Nam 24
Bảng 7 Khí hậu thời tiết Tĩnh Vĩnh Phúc qua các tháng 29
Bảng 8 Tình tình phát triển dân số và lao động của tỉnh Vĩnh Phúc
năm 1997 – 2003 31
Bảng 9 Cơ sở vật chất của hộ trồng nấm (bình quân /hộ) 40
Bảng 10: Kết quả huấn luyện và sản xuất nấm ăn ở Vĩnh Phúc 43
Bảng 11 Quy mô sản xuất nấm của các hộ qua các năm 47
Bảng 12: Tình hình sử dụng nguyên liệu và lựa chọn loại nấm sản xuất qua các năm ở tỉnh Vĩnh Phúc 50
Bảng 13 Tình hình đầu tư chi phí sản xuất nấm mỡ 53
Bảng 14 Tình hình đầu tư chi phí sản xuất nấm sò 54
Bảng 15 Tình hình đầu tư chi phí sản xuất nấm rơm tươi 56
Bảng 16 Đầu tư chi phí sản xuất 1 tấn nấm chế biến năm 2003 60
Bảng 17 Năng suất và sản lượng thu được qua các năm 64
Bảng 18: Hiệu quả kinh tế sản xuất nấm mỡ tươi trên quy mô 1 tấn rơm 66
Bảng 19: Hiệu quả kinh tế sản xuất nấm sò tươi trên quy mô 1 tấn bông 66
Bảng 20: Hiệu quả kinh tế sản xuất nấm rơm tươi trên quy mô 1 tấn rơm 67
Bảng 21 Hiệu quả kinh tế sản xuất 1 tấn nấm chế biến năm 2003 68
Bảng 22: Hiệu quả kinh tế sản xuất nấm của hộ phân tổ theo quy mô
nguyên liệu năm 2003 70
Bảng 23 Hiệu quả kinh tế sản xuất 3 loại nấm ở hộ nông dân qua 3 năm 72
Bảng 24 Những khó khăn các hộ sản xuất nấm thường gặp 73
vii
Trang 8Bảng 25 Kết quả đầu tư và sản xuất ở một số trang trại và liên hợp
trang trại ở Vĩnh Phúc năm 2003 75
Bảng 26 Đầu tư chi phí sản xuất 1 tấn nấm xuất khẩu ở trang trại
năm 2003 76
Bảng 27 Hiệu quả kinh tế sản xuất 3 loại nấm tính bình quân một trang trại 77
Bảng 28 So sánh chi phí sản xuất nấm ăn tươi /1 tấn NVL giữa
quy mô trang trại và quy mô hộ năm 2003 79
Bảng 29 So sánh hiệu suất sử dụng NL quy mô trang trại và quy mô hộ 81
Bảng 30: So sánh hiệu quả kinh tế sản xuất 3 loại nấm ăn quy mô hộ
với trang trại năm 2003 83
Bảng 31 So sánh kết quả và hiệu quả 3 loại nấm ăn năm 2003 84
Bảng 32 Giá thành sản phẩm nấm 84
Bảng 33 Hiệu quả kinh tế sản xuất nấm tươi và nấm chế biến 86
Bảng 34 Kết quả sản xuất giống nấm ở Vĩnh Phúc năm 2002 - 2003 88
Bảng 35 Quy mô sản xuất nấm ăn phản ánh thu nhập của hộ 89
Bảng 36: Sản lượng và chất lượng nấm sơ chế bình quân/hộ năm 2003 91
Bảng 37 Tình hình tiêu thụ nấm theo địa điểm bán 92
Bảng 38 Tỉ lệ bán phân theo đối tượng mua 92
Bảng 39 Giá tiêu thụ một số loại nấm 96
Bảng 40 Trình độ lao động ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nấm 99
Bảng 41 Thời vụ trồng nấm tác động đến năng suất nấm ăn 101
Bảng 42 Giá trung bình một số loại nấm ăn tại Vĩnh Phúc 107
Bảng 43 Đánh giá của chủ hộ về nhu cầu thị trường nấm 109
Bảng 44 Hiệu suất sử dụng nguyên liệu các chủng giống nấm ăn năm 2003 115
Bảng 45 Nhật trình thao tác và tiêu chuẩn nhiệt độ trong giai đoạn
ủ lên men chính nguyên liệu 118
Bảng 46 Nhật trình và diễn biến nhiệt độ trong nhà lên men phụ 119
Bảng 47 Điều kiện nuôi trồng nấm rơm 120
Bảng 48 Kết quả và hiệu sản xuất nấm trên quy mô 1 tấn nguyên liệu 130
viii
Trang 91 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ thời nguyên thuỷ, con người đã biết thu hái nấm mọc từ tự nhiên làm thực phẩm Việc khai thác tự nhiên ngày càng không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng, nấm không mọc theo chu kỳ và lượng khai thác cũng rất ít Một số loại nấm có giá trị và thuộc loại quý hiếm có nguy cơ biến mất như nấm linh chi, nấm hương vừa có giá trị kinh tế và dược phẩm cao
Trong những năm vừa qua, nông nghiệp nông thôn có nhiều tiến bộ trong việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất và phân bố lực lượng lao động Song
đặc trưng chủ yếu của nông dân Việt Nam là sản xuất lương thực mà trọng tâm là lúa Do việc áp dụng nhanh các biện pháp thâm canh và kỹ thuật canh tác mới trong các mô hình kinh tế hộ nông dân, nên năng suất và sản lượng
đều tăng Ngoài sản phẩm chính là thóc, nhân dân còn tận dụng sản phẩm phụ như rơm, rạ, thanh gỗ để làm chất đốt, phân bón và đặc biệt sử dụng để sản xuất nấm mang lại hiệu quả kinh tế cao
Ngày nay, dưới ánh sáng của khoa học kỹ thuật con người đã thấy được tầm quan trọng và giá trị của các loại nấm ăn Nên đã tập trung phát triển sản xuất các loại nấm ăn như nấm rơm, nấm sò, nấm mỡ, nấm mộc nhĩ có giá trị dinh dưỡng cao (giàu chất khoáng, các a xít amin không thay thế, nhiều vitamin A, B, C, D, E) không gây xơ cứng động mạch và không làm tăng lượng cholesterol trong máu Nấm còn là nguồn thảo dược chữa bệnh như nấm linh chi, huyền thoại một vị thuốc quý trong đông y
Xuất phát từ giá trị kinh tế của nấm, ở Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu và phát triển sản xuất nấm ở một số tỉnh như Hưng Yên, Bắc Ninh, Thái Bình, Hải Dương, Hà Tây, Ninh Bình, Vĩnh Phúc và Đồng bằng sông Cửu
1
Trang 10Long Hiện nay, trồng nấm ăn trở thành một nghề phụ của nhiều hộ nông dân Nghề này tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho nông hộ, tận dụng được sản phẩm phụ từ sản xuất nông nghiệp
Tuy vậy, khi nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, sản xuất nấm ăn hàng hoá đã phát sinh nhiều vấn đề cần giải quyết như phân tích kinh tế, chính sách, chuyển giao công nghệ, chế biến sản phẩm, phát triển thị trường Do vậy, nghiên cứu thực trạng sản xuất và tiêu thụ nấm từ đó tìm ra điểm mạnh để phát huy, biện pháp khắc phục những hạn chế trong sản xuất và tiêu thụ nấm của nông hộ là cần thiết Để góp phần làm sáng tỏ thêm, chúng tôi được giao thực hiện đề tài
nghiên cứu ''Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất một số loại nấm ăn tại tỉnh Vĩnh Phúc''
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu thực trạng hiệu quả sản xuất nấm ăn của các nông hộ trên địa bàn Vĩnh Phúc Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình sản xuất và nâng cao hiệu quả sản xuất nấm
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Luận giải cơ sở khoa học của sản xuất nấm ăn trong điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ở nước ta hiện nay
Đánh giá thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh tế 3 loại nấm ăn chủ yếu (nấm mỡ, nấm sò, nấm rơm) của hộ nông dân tỉnh Vĩnh Phúc
Trên cơ sở phân tích thực trạng hiệu quả sản xuất và luận giải một cách logic các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất nấm ăn Đề ra giải pháp chủ yếu nhằm sản xuất nấm ăn đạt hiệu quả kinh tế, xã hội ngày càng cao
2
Trang 111.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiệu quả kinh tế và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất 3 loại nấm ăn chủ yếu (nấm mỡ, nấm sò, nấm rơm)
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Nội dung nghiên cứu
+ Cơ sở lý luận và thực tiễn sản xuất nấm ăn ở nước ta
+ Vấn đề cung cấp giống và nguyên liệu cho hộ nông dân trồng nấm + Quy trình kỹ thuật sản xuất nấm
+ Phương pháp chế biến, bảo quản nấm
+ Phân tích kênh tiêu thụ nấm tại địa phương
+ Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất từng loại nấm: nấm sò trồng trên bông, nấm mỡ và nấm rơm trồng trên rơm
+ Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất nấm ăn
1.3.2.2 Địa điểm nghiên cứu
Thị xã Vĩnh Yên và phụ cận (xã Thanh Trù, xã Đồng Tâm, xã Hội Hợp, xã Hợp Thịnh, xã Thanh Lãng) – tỉnh Vĩnh Phúc
1.3.2.3 Thời gian nghiên cứu
- Nghiên cứu và hoàn thành luận văn từ tháng 9/2003 – tháng 8/2004
- Thu thập số liệu năm 2001 - 2002 - 2003
3
Trang 122 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
2.1 Cơ sở lí luận nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất nấm
2.1.1 Một số kiến thức chung về nấm
Nấm thuộc loài thực vật bậc thấp, không có diệp lục, chủ yếu sống ký sinh hay cộng sinh trên xác của thực vật hoặc các chất hữu cơ rữa nát Trong
tự nhiên và môi trường nhân tạo, căn cứ vào mục đích sử dụng và ý nghĩa kinh
tế có thể chia nấm thành các loại sau đây:
- Các nấm có chứa độc tố (gọi chung là nấm độc) Những loại nấm này thường mọc tự nhiên Con người trong quá trình thu hái nếu không phân biệt
được nấm độc, khi ăn phải đều gặp huy hiểm Có một số loại nấm chứa độc tố chôlin, muscarin với liều lượng ăn phải 3-5 mg có thể gây chết người Gần
đây ở các tỉnh Yên Bái, Bắc Cạn đã có người ăn phải nấm độc thu hái tự nhiên
đã dẫn đến tử vong
- Các loại nấm không chứa độc tố được con người sử dụng làm thức ăn (gọi tắt là nấm ăn) Những loại nấm này mọc từ trong tự nhiên đồng thời do nhu cầu tiêu dùng ngày càng nhiều, người ta đã nghiên cứu các phương pháp nuôi trồng nhân tạo để tạo ra sản lượng ngày càng lớn và tránh sự thu hái nhầm lẫn nấm độc trong tự nhiên Hiện nay, trên thế giới và trong nước các loại nấm này đang được nuôi trồng, chế biến thành nguồn thực phẩm có giá trị Các nấm ăn chủ yếu hiện nay là nấm mỡ, nấm rơm, nấm sò, nấm mộc nhĩ, nấm hương, nấm kim châm
- Các loại nấm gây hại chủ yếu trong sản xuất nông lâm nghiệp thường gặp như nấm gây bệnh xoăn lá ở khoai tây, cà chua Trong sản xuất người ta
đã có nhiều biện pháp phòng trừ các loại nấm gây hại để thu được năng suất cây trồng cao
4
Trang 13- Trong y học có nhiều loại nấm được dùng làm thuốc chữa bệnh cho người và gia súc Một số nấm quý sản xuất ra một số chất kháng sinh như penicilin - nấm lim, nấm ngân nhĩ có nhiều ở miền núi được sử dụng để chế các loại thuốc lão hoá [5]
2.1.2 Vai trò của nấm ăn đối với đời sống con người
2.1.2.1 Về mặt dinh dưỡng
Nấm ăn là loại thực vật có giá trị dinh dưỡng cao Hàm lượng prôtein (đạm thực vật) chỉ sau thịt, cá Ngoài ra có chứa nhiều chất khoáng, axit amin không thay thế, vitamin A, B, C, D, E và không có độc tố
Tính theo trọng lượng tươi, nấm rơm chứa 2,66-5,05% prôtein, trong prôtein này có đầy đủ 19 loại axit amin (bảng 1)
Bảng 1 Các axit amin có trong nấm rơm
TT Axit amin % prôtein TT Axit amin % prôtein
1 Izôlơzin 4,2 11 Axit glutanic 17,6
* Nguồn: Công nghệ nuôi trồng nấm, năm 2002, trang 27
Trong 19 loại axit amin thì 8 loại đầu là các axit amin không thay thế (nghĩa là cơ thể người và động vật không thể tự tổng hợp được) Các axít amin không thay thế chiếm đến 38,2% tổng lượng axit amin trong nấm rơm Tỷ lệ này cao hơn so với ở thịt lợn, thị bò, sữa bò, trứng gà
Lượng chất béo (lipid) trong nấm rơm vào khoảng 3% (tính theo trọng lượng khô), loại chất béo bão hoà chiếm 41,2%, chất béo chưa bão hoà chiếm
5
Trang 1458,8% Loại chất béo chưa bão hoà chủ yếu là tiền vitamin D2 (ergocalciferol)
và γ- ergosterol
Nấm rơm chứa nhiều loại vitamin Lượng vitamin có trong 100 gam nấm rơm tươi như sau: vitamin B1 (0,35 mg); vitamin B2 (1,63 –2,98mg); axit nicotinic - B5 (64,88 mg); vitamin C (158,44 – 206,27 mg)
Nấm sò không chỉ ăn ngon mà còn có giá trị dinh dưỡng cao Trong nấm sò khô, lượng prôtêin khoảng 20% và có 8 axit min không thay thế
Tương tự như nấm mỡ cũng có nhiều axit amin có lợi cho sức khoẻ được thể hiện ở bảng 2
Bảng 2 Thành phần dinh dưỡng của nấm sò và nấm mỡ
* Nguồn: Hướng dẫn nuôi trồng nấm ăn trong gia đình, NXB VH dân tộc, 2002, tr 10
Trong 100g nấm mỡ khô (chỉ có 9% nước) có chứa 36,1g prôtêin; 3,6g lipít; 31,2g hydratcarbon; 6g chất xơ và sinh ra một năng lượng tương đương
6
Trang 15với 1264J Ngoài ra trong 100g nấm mỡ còn có 14,2 g chất khoáng với 131mg canxi, 718 mg phốt pho và 188,5 mg sắt [8]
Vốn đầu tư thấp, quay vòng nhanh Chu kỳ nuôi trồng nấm ngắn, nấm rơm 20-25 ngày, nấm sò, nấm mỡ từ 2 - 2,5 tháng Do đó khi gặp thiên tai hoặc biến động của thị trường, vẫn kịp dừng sản xuất hoặc chuyển hướng canh tác, điều này không đơn giản ở các loại cây trồng khác
Nguyên liệu sử dụng trồng nấm chủ yếu là sản phẩm phụ trong nông, lâm nghiệp, thường có nhiều ở các địa phương Phát triển trồng nấm vừa giải quyết về mặt môi trường, đồng thời tạo nên sản phẩm mới và bã nấm còn có thể sử dụng làm phân bón
Xuất khẩu nấm có giá trị cao, tăng thu nhập cho hộ nông dân Với những nấm quen thuộc, như nấm rơm, nấm mỡ, giá bán trung bình 1.200 - 1.300 đôla Mỹ/tấn nấm muối [2] Như vậy, so với nhiều loại nông sản thực phẩm khác, như lúa đậu, nấm có giá bán cao hơn nhiều
Trong tình hình chung của nước ta, lao động nông nghiệp nhàn rỗi khá nhiều, trong khi đời sống còn ở mức thấp Trồng nấm thu hút lượng lớn lao
động vào các công đoạn: gia công chế biến meo giống, chất mô, xếp mô,
7
Trang 16chăm sóc, thu mua và chế biến sản phẩm nấm Tạo công ăn việc làm cho nhiều người, đồng thời mang lại nguồn thu nhập đáng kể
Việc trồng nấm để bán hoặc xuất khẩu, sẽ phát sinh ra lượng nấm thừa Lượng nấm này thường không nhỏ Đây là nguồn thực phẩm rất quý, không những bổ sung cho khẩu phần ăn hàng ngày chưa thật đầy đủ của người dân,
mà còn góp phần bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cho mọi người
2.1.3 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của sản xuất một số loại nấm ăn được
nuôi trồng ở nước ta
2.1.3.1 Đặc điểm kinh tế sản xuất nấm và thị trường tiêu thụ nấm ăn
- Đặc điểm kinh tế của sản xuất nấm ăn
Sản xuất nấm hay bất kỳ một ngành sản xuất vật chất nào khác, muốn tồn tại và phát triển thì phải kết hợp hài hoà các yếu tố về tư liệu sản xuất và lực lượng lao động Trong sản xuất nông nghiệp, đất đai là nguồn tư liệu sản xuất không thể thiếu mà diện tích lại đang bị thu hẹp Để người nông dân có thu nhập không chỉ dựa vào sản xuất nông nghiệp thuần tuý mà còn có nguồn thu khác từ các phế phẩm phụ rẻ tiền, tận dụng không gian không sử dụng vào sản xuất trồng trọt (như đồi trọc, đất đá ), nhà kho bỏ trống để làm nhà xưởng nuôi trồng nấm có giá trị kinh tế hơn Cùng với nguyên liệu dồi dào các cơ sở vật chất của hộ đều được sử dụng một cách hiệu quả trong trồng nấm Tuy nhiên đối với hộ nông dân và các tổ chức kinh tế có khả năng về vốn vẫn
có thể đầu tư thêm lán trại để mở rộng sản xuất Những đầu tư ban đầu cho sản xuất nấm không lớn như các ngành nghề khác, thời gian quay vòng ngắn, nên dễ dàng được người sản xuất chấp nhận đầu tư để mở rộng quy mô sản xuất Đặc điểm kinh tế đáng chú ý nhất là trong sản xuất nấm, việc chế biến nấm thành mặt hàng xuất khẩu rất đơn giản, dễ làm, phù hợp với trình độ và
điều kiện sản xuất ở nông thôn Chính vì những đặc điểm kinh tế quan trọng trên đây người sản xuất luôn luôn chủ động tìm biện pháp nhằm tăng năng
8
Trang 17suất, chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản phẩm, đen lại lợi nhuận và thu nhập cho nông dân
- Thị trường tiêu thụ nấm ăn
Hiện nay, thị trường nấm mỡ khá rộng lớn, các thành phố lớn và khu công nghiệp nhu cầu tiêu dùng nấm tươi ngày càng tăng Giá bán lẻ tại Hà Nội trung bình từ 15.000 –20.000 đồng/1 kg [8]
Trên thế giới thị trường nấm ăn được hình thành từ lâu và nhu cầu sản lượng ngày càng tăng đối với tất cả các loại nấm Tuy nhiên nấm mỡ và nấm rơm có mức cầu nhiều ở khu vực các nước như Mỹ, Tây âu, Nhật Bản và các nước phát triển châu á Những năm gần đây Việt Nam chủ yếu xuất nấm cho
Đài Loan, Nhật bản, Italia, Malaysia nhưng còn ít chỉ tập trung sản xuất ở miền bắc (nấm mỡ), nấm rơm ở đồng bằng Cửu Long Giá nấm mỡ muối xuất khẩu tại cảng Hải Phòng trung bình là 1.200-1.400 USD/1 tấn
Trong giai đoạn 1990 - 2000, sản lượng nấm thế giới tăng từ 2 – 2,37 triệu tấn Trung Quốc là nước sản xuất nấm lớn nhất thế giới, chiếm 28% sản lượng nấm trên toàn thế giới Mỹ là một trong những nước nhập khẩu lớn nhất, hàng năm giá trị nhập khẩu nấm khoảng 193 triệu USD Sản phẩm nhập khẩu chủ yếu là nấm đóng hộp (82%) Giá nấm tươi bán trên thị trường Mỹ hiện nay phổ biến ở mức 24USD/kg USDA dự báo trong tương lai, nhu cầu tiêu thụ nấm tươi của Mỹ sẽ tiếp tục tăng [2]
2.1.3.2 Đặc điểm kỹ thuật các loại nấm
Nấm chủ yếu sống dị dưỡng, lấy thức ăn từ các nguồn hưu cơ (động vật hoặc thực vật) Ngoại trừ niêm kháng thay đổi hình dáng tế bào để nuốt lấy thức ăn, còn lại hầu hết các loại nấm khác đều lấy thức ăn qua màng tế bào Với cấu trức sợi, tơ nấm len lỏi sâu vào trong cơ thể (rơm, rạ, mùn cưa gỗ ) rút lấy thức ăn nuôi toàn bộ cơ thể (tản dinh dưỡng hay tản sinh sản)
- Nấm mỡ
9
Trang 18Nấm mỡ có tên khoa học là Agaricus bisporus sống ưa lạnh và mát
Quả nấm màu trắng, thịt nấm dày, ăn giòn và ngon có mùi thơm đặc trưng Nuôi trồng nấm mỡ phải được tiến hành trong nhà hoặc lán trại có mái che
Có thể tận dụng nhà kho chứa, chuồng trại chăn nuôi không sử dụng, các hang
đá vôi để trồng nấm mỡ Do đó rất thuận lợi cho công tác quản lí và chăm sóc nấm Nấm mỡ còn là thực phẩm sạch, đảm bảo vệ sinh trong quá trình sử dụng như các loại rau sạch đang được khuyến khích hiện nay Quá trình sản xuất nấm mỡ có thể kéo dài từ tháng 10 năm trước đến hết tháng 3 năm sau
Quá trình sản xuất nấm mỡ có thể tóm tắt theo trình tự các công đoạn sau:
Chuẩn bị địa điểm nuôi trồng và lập kế hoạch nguyên liệu → chế biến nguyên liệu thành giá thể trồng nấm → cấy giống → chăm sóc quá trình phát triển sợi nấm → phủ đất → chăm sóc sợi nấm sau khi phủ đất → chăm sóc quá trình phát triển quả thể nấm và thu hái, chế biến bảo quản, tiêu thụ nấm→ kết thúc sản xuất thu dọn bã nấm
Mỗi công đoạn có thời gian nhất định và kế tiếp nhau Nếu tổ chức thiếu sự nhịp nhàng, không ăn khớp và sai lệch về thời gian của mỗi công
đoạn thì đều có ảnh hưởng xấu đến các giai đoạn tiếp theo và kết quả thu được năng suất thấp, chất lượng không đạt yêu cầu
Các loại nguyên liệu có thể dùng để trồng nấm mỡ như rơm rạ, thân cây ngô, lõi ngô, trấu hoặc phân chuồng Có nhiều công thức chế biến các loại nguyên liệu trên để trồng nấm Các loại nguyên liệu này nếu để nguyên hình dạng tự nhiên thì không thể sử dụng để trồng nấm được Nguyên liệu phải chế biến bằng cách trộn thêm một số hoá chất thông dụng như can xi cacbonat, super phốt phát, urê, sulfat amôn với tỉ lệ theo qui trình, sau đó ủ lên men trong điều kiện nhiệt độ và ẩm độ thích hợp Sau thời gian ủ một ngày, nguyên liệu đạt yêu cầu về lý học và hoá học phù hợp với sinh trưởng và phát triển của nấm và được gọi là giá thể trồng nấm Tuỳ từng chủng loại nấm ăn
10
Trang 19khác nhau mà có phương pháp chế biến giá thể phù hợp Nấm mỡ có hệ men proteraza hoạt động mạnh do vậy giá thể phải được chế biến kỹ Trong quá trình trồng nấm mỡ cần hết sức chú ý một số yếu tố kỹ thuật ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và phát triển của nấm qua các thời kỳ Trước hết, điều kiện môi trường để sợi nấm phát triển tốt và thích hợp nhất là pH từ 7,0-7,5 ở một số vùng ven biển, nguồn nước thường bị nhiễm mặn, chua do đó khi xử lý giá thể trồng nấm thường môi trường không đạt tiêu chuẩn, phải kiểm tra thường xuyên và có biện pháp xử lý bằng việc bổ sung vôi bột hoặc nước vôi trong để làm tăng pH của môi trường Nhiệt độ thích hợp cho sợi nấm phát triển từ 22-240C nhưng quả nấm lại hình thành và phát triển tốt ở nhiệt độ 16-
200C Chính vì vậy ở các tỉnh phía Nam (không kể Đà Lạt) không thể trồng
được nấm mỡ, còn ở miền Bắc thì có thể trồng được nấm mỡ vào mùa đông Nấm mỡ cũng như các loài nấm đều ưa ẩm Độ ẩm giá thể dao động 60-70%
và độ ẩm không khí thích hợp 80-85% (Bảng 3) Do đặc điểm kỹ thuật đó mà trồng nấm phải tưới ẩm hàng ngày Tuy nhiên, nếu độ ẩm thay đổi lớn hơn hoặc nhỏ hơn mức thích hợp 9% và kéo dài trong 10 ngày sẽ làm cho năng suất, sản lượng nấm giảm [12]
Nấm không có diệp lục, quả thể nấm mỡ màu trắng, do đó trong quá trình hình thành và phát triển quả nấm không có nhu cầu ánh sáng Vì thế, nuôi trồng nấm mỡ cần được tiến hành trong nhà hoặc lán che, không cho ánh sáng trực tiếp ảnh hưởng đến sự mọc quả thể nấm Tuỳ thuộc vào điều kiện rộng hay hẹp trong nhà nuôi, có thể làm thành luống trên nền nhà hoặc bắc giàn bằng tre, gỗ nhưng phải luôn luôn đảm bảo độ thông thoáng để nồng độ khí CO2 trong nhà dao động xung quanh 0,3% Các đặc điểm then chốt trên
đây là những yếu tố cơ bản cho quá trình sản xuất nấm mỡ Năng suất, sản lượng nấm mỡ cao hay thấp phụ thuộc việc thực hiện đúng quy trình sản xuất nấm
11
Trang 20ở nước ta, từ những năm 1998 trở về trước nhiều hộ nông dân chưa nắm vững qui trình kỹ thuật trồng nấm mỡ, nuôi trồng ồ ạt dẫn đến bị thất thu lớn Hoặc ở Thái Bình những năm 1979 - 1980 sản xuất nấm không có tổ chức, nên nấm sản xuất ra không tiêu thụ hết Như vậy, nuôi trồng nấm không thể coi như một số việc trồng trọt hoặc chăn nuôi mà đây là loại hình sản xuất mang tính kỹ thuật cao, cần phải tổ chức chặt chẽ và đồng bộ mới đem lại hiệu quả
Bảng 3 Điều kiện cần thiết ảnh hưởng đến các giai đoạn sản xuất nấm mỡ
ở Vĩnh Phúc đã xuất hiện các mô hình trồng nấm ngoài đồng ruộng, trên đồi rừng, ruộng bạc màu, đất trống, đồi núi trọc gần nguồn nước để xây dựng lán trại cố định hoặc di động Lán trại trồng nấm gần nơi ủ nguyên liệu, nhà bảo vệ, lò sấy nấm Có điện sử dụng cung cấp nước và chiếu sáng trong khâu chăm sóc, thu hoạch nấm Sự ra đời của các mô hình này đã tạo ra một bước đột phá cho việc mở rộng địa điểm, mặt bằng diện tích trồng nấm ở nông thôn Năng suất nấm mỡ thường đạt 250 kg tươi/1 tấn nguyên liệu, tăng 25%
so với năng suất trồng nấm trong nhà trước đây [10]
- Nấm sò
Nấm sò có tên khoa học là Pleurotus corncopiae Nấm sò có dạng
giống như kèn Trompet Cuống nhỏ là trung tâm của mũ nấm, mang lá dưới
mũ nấm, màu trắng từ cuống đến vành mũ, loại nấm này thích hợp với thời tiết
12
Trang 21mát trồng vào tháng 4 –5 và tháng 9 –10 Nấm được trồng trên các thân gỗ, các loại cây có lá rộng và nhựa trắng đều có thể sử dụng trồng nấm sò tốt, cũng có thể trồng trên mùn cưa, rơm rạ, bông phế thải dạng hạt
Trồng nấm sò đạt hiệu suất sử dụng rơm, rạ và bông phế liệu dạng hạt rất cao, phổ biến đến mức 80-90% Chu kỳ sản xuất thường 35-40 ngày, biên
độ nhiệt độ dao động khá rộng [8] Dưới đây là biên độ nhiệt độ thích hợp với
3 loài nấm sò khác nhau thể hiện ở bảng 4
Bảng 4: Biên độ và nhiệt độ thích hợp với nấm sò
Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng của hệ sợi nấm
(0C)
Nhiệt độ tối ưu cho sự phân hoá và phát triển của quả thể (0C)
Loài nấm sò
Phạm vi nhiệt độ Nhiệt độ tối ưu Phân hoá Phát triển
* Nguồn: Công nghệ nuôi trồng nấm tập I, tr 109
ở Vĩnh Phúc có thể trồng nấm sò quanh năm nhưng thuận lợi nhất từ tháng 10 đến tháng 3 dương lịch hàng năm Để trồng nấm sò có hiệu quả thì
độ ẩm cơ chất (giá thể trồng) từ 65-70%, độ ẩm không khí ≥ 80%, pH ~ 7 (trung tính) Về ánh sáng, không cần thiết trong giai đoạn nuôi sợi Khi nấm hình thành quả thể cần ánh sáng khuếch tán Độ thông gió rất cần thiết trong giai đoạn nuôi sợi, khi nấm mọc lên thông thoáng vừa phải Nếu thay đổi đột ngột môi trường, quá lạnh hoặc quá nóng hoặc trong quá trình xử lí nguyên liệu không đúng quy trình khi cấy giống nấm dễ bị chết [16]
- Nấm rơm
Nấm rơm có tên khoa học là Volvariella volvacea Thích hợp với thời tiết
nóng ẩm, ở miền Bắc trồng vào các tháng 4 –9 Yêu cầu nhiệt độ thích hợp để nấm rơm sinh trưởng và phát triển là 30-320C Độ ẩm cơ chất 65-70% Độ ẩm
13
Trang 22không khí ~ 80%, pH ~ 7, ưa thoáng khí, nấm rơm sử dụng xenlulô trực tiếp Tuy nhiên nếu nhiệt độ mùa hè nhiệt độ khoảng 36 - 370C cũng gây khó khăn cho việc trồng nấm rơm [5]
Quả thể nấm rơm hình quả nhót và có màu xám lông chuột, được trồng nhiều ở các nước châu á, nhất là ở khu vực Đông Nam á Nấm rơm ăn ngon,
có hương vị hấp dẫn Thị trường nấm rơm cũng phát triển trong những năm gần đây, đặc biệt hấp dẫn đối với sản phẩm nấm tươi, nấm đóng hộp Các quốc gia và khu vực như Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Công là nơi tiêu thụ số lượng lớn về nấm rơm
ở Việt Nam, từ 1989 đến nay sản xuất nấm rơm phát triển ở đồng bằng sông Cửu Long, ở miền Bắc sản xuất chỉ tập trung vào tháng 4 –9 Tuy nhiên sản xuất nấm còn hạn chế vì thị trường nấm rơm so với nấm mỡ còn mới mẻ
và khâu chế biến còn chưa phát triển mạnh Tuy vậy thời tiết khí hậu miền Bắc vừa cho phép phát triển nấm mỡ đồng thời cũng có điều kiện để trồng nấm rơm nhằm sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất cho nghề trồng nấm, giải quyết việc làm cho lao động dư thừa, tăng thu nhập cho người nông dân
2.1.4 Khái niệm hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là những chỉ tiêu đánh giá kết quả của quá trình sử dụng các nguồn lực tự nhiên và con người trong sản xuất kinh doanh của bất
kỳ một loại hình sản xuất nào Trong nền kinh tế thị trường người sản xuất hàng hoá luôn luôn quan tâm làm gì? Làm như thế nào để sản phẩm hàng hoá làm ra có giá thành hạ, lợi nhuận tối đa, chiếm lĩnh thị trường một cách nhanh nhất
Có rất nhiều chỉ tiêu thể hiện hiệu quả kinh tế, tuy nhiên hiệu quả kinh
tế không phải là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh quy mô mà thực chất là chỉ tiêu phản ánh chất lượng của quá trình sản xuất Các chỉ tiêu hiệu quả có quan hệ chặt chẽ với nhau trong hoạt động của sản xuất kinh doanh Phương pháp so
14
Trang 23sánh đo lường hiệu quả kinh tế được thể hiện bằng chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh trên chỉ tiêu hao phí hoặc ngược lại [11]
Chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh
H =
Chỉ tiêu hao phí Chỉ tiêu hao phí
Hoặc H =
Chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh
- Hiệu quả sản xuất là chỉ tiêu thể hiện chất lượng trong sản xuất là mối quan hệ giữa kết quả và chi phí
được thể hiện qua hiện vật giá trị sản phẩm và cơ cấu sản phẩm
Trong tính toán hiện nay các chỉ tiêu kết quả được xác định bao gồm: + Chỉ tiêu khối lượng sản phẩm
Các chỉ tiêu hao phí được biểu hiện ở hai phạm vi:
+ Lao động sống và lao động vật hoá thực tế hao phí chuyển vào sản phẩm sản xuất ra
+ Nguồn dự trữ sản xuất: Toàn bộ của cải thiên nhiên, vốn sản xuất, nguồn lao động
15
Trang 24Mục tiêu sản xuất kinh doanh của hộ là tối đa hoá lợi nhuận hoặc thu nhập Để hộ sản xuất nấm đạt được lợi nhuận cao nhất thì phải nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả sản xuất
Trong điều kiện kinh tế mở ở nước ta hiện nay, sự phát triển của nhiều loại nông sản quan trọng đang bị thị trường quốc tế quyết định như cà phê, cao
su, chè, lụa tơ tằm, nấm mỡ, nấm rơm và các rau quả khác Sản phẩm nấm Vĩnh Phúc sản xuất ra nhiều nhưng hiện nay tiêu dùng nội bộ vẫn là chủ yếu
Để tăng sản lượng phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu tăng thu ngoại tệ thì vấn đề sản xuất nấm cho xuất khẩu là vấn đề có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả kinh tế sản xuất Đối với nước ta, nhiều nhà kinh tế học đã cho rằng cần chọn những mặt hàng sử dụng nhiều lao động, ít vốn, tỷ số vốn trên lao động thấp (K/L) để sản xuất và xuất khẩu là phù hợp Chính vì vậy sản xuất nấm ở các
hộ nông dân là thoả mãn điều kiện tỷ số K/L thấp Vì ở nông hộ ngoài sử dụng vốn và lao động sẵn có, hơn nữa tính cần cù và tận dụng cao Dựa vào đặc
điểm này xác định lợi thế của sản phẩm xuất khẩu (nấm mỡ, nấm rơm) theo công thức mà các nhà kinh tế đã tính và phân tích hệ số bảo hộ danh nghĩa như sau:
Trị số Hb càng nhỏ hơn 1 càng thể hiện lợi thế của sản phẩm đó so với sản phẩm cùng loại trên thế giới
áp dụng công thức ta tính được lợi thế xuất khẩu của nấm mỡ và nấm rơm muối dạng sơ chế năm 2003 như sau:
16
Trang 25Giá sản phẩm nấm mỡ muối trong nước: 13.600 đồng/1kg
Giá sản phẩm nấm rơm muối trong nước: 13.400 đồng/1kg
Giá nấm mỡ muối là 1,3 USD/1kg, giá nấm rơm muối: 1.2USD/1kg
Tỉ giá hối hoái của đồng Việt Nam với đồng USD năm 2003 là 15.530
2.1.5 Phát triển sản xuất nấm ăn và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá
2.1.5.1 Sản xuất nấm góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Xem xét việc đất nông nghiệp bình quân trên đầu người càng giảm năm
2001 bình quân đất nông nghiệp trên đầu người là 702,89 m2, đến năm 2002 bình quân đất nông nghiệp trên đầu người chỉ là 659,65 m2, trong khi trồng nấm lại có thể sử dụng được diện tích các loại đất trống, đất bạc màu (đất nghèo mùn chiếm 25,6%) để xây dựng nhà xưởng sản xuất [3]
Thay thế một số loại rau sản xuất kém hiệu quả trên vùng đất đó
Qua số liệu bảng 5 cho ta thấy rằng: một phần diện tích đất hoang hoá
bỏ trống và diện tích rau màu canh tác hiệu quả thấp như khoai môn, khoai lang, bí, cà pháo đã được hộ nông dân làm lán trồng các loại nấm ăn và phần diện tích này được hộ sử dụng tăng dần, năm 2002 so với năm 2001 phần diện tích rau màu chuyển sang làm nấm tăng 18,1% Mặt khác nó chiếm phần lớn trong diện tích nuôi trồng nấm, năm 2001 chiếm 79,71%, năm 2002 chiếm 82,27%, năm 2003 chiếm 76,54% trong tổng diện tích nuôi trồng nấm của hộ
17
Trang 26Diện tích chuồng trại, kho tàng dùng để nuôi trồng nấm không đáng kể chỉ chiếm 25,3% năm 2003
Bảng 5 Diện tích đất sử dụng trồng nấm ăn ở hộ nông dân
tỉnh Vĩnh Phúc
Đơn vị: m 2 /hộ
Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Diễn giải Diện tích
(m 2 ) Cơ cấu(%) Diện tích(m 2 ) Cơ cấu (%) Diện tích (m 2 ) Cơ cấu(%)
1 Diện tích đất hoang hoá 8,6 5,95
2 Diện tích trồng rau màu 99,4 79,71 117,4 82,27 110,6 76,54
3 Kho tàng 13,9 11,15 13,9 9,74 13,9 9,62
4 Chuồng trại 11,4 9,14 11,4 7,99 11,4 7,89Tổng diện tích trồng nấm 124,7 100 142,7 100 144,5 100
* Nguồn: Tổng hợp từ điều tra thực tế
Chứng tỏ rằng: phần đất canh tác hiệu quả sử dụng thấp đã đ−ợc hộ nông dân chuyển dần vào nuôi trồng nấm ăn có hiệu quả kinh tế cao hơn, hiệu quả
sử dụng đất cao hơn Có hộ nông dân nuôi trồng nấm quy mô nhỏ không chuyên canh có thể sử dụng một số mô hình kết hợp trồng 2 lúa + 1 nấm
đồng/công Nếu tính trên 1 ha thì tổng giá trị thu hoạch đạt 500-600 triệu
đồng/năm, lợi nhuận 200 - 250 triệu đồng, gấp nhiều lần trồng lúa, cao hơn cả chuyên canh rau và hoa
Nếu mô hình 2 lúa + 1 nấm đông, dành 20% diện tích vụ đông để trồng nấm đông (chủ yếu thay ngô) vẫn trồng lúa xuân muộn, lúa mùa sớm, thay
18
Trang 27bằng 20% diện tích trồng ngô để nuôi trồng nấm sau gặt mùa, trong tháng 10 dựng lán trồng nấm cơ động để trồng nấm mỡ đông, thu hoạch nấm xong trước trung tuần tháng 2, kịp cấy lúa xuân muộn Nếu sử dụng 100 - 200m2lán cơ động sử dụng trong 3 năm, đầu tư khoảng 3.000-5.000 kg rơm và 70-
120 công lao động (trong tháng 4) và 1-2 triệu đồng vốn, sản lượng nấm mỡ tươi đạt 600-1.000 kg, doanh thu từ 4-8 triệu đồng, lợi nhuận đạt 3-5 triệu
đồng gấp 30-50 lần trồng ngô, lại có thêm 2-3 tấn phân hữu cơ bón cho lúa [4]
2.1.5.2 Sản xuất nấm với chủ trương tạo việc làm, giảm lao động dư thừa
trong nông thôn
Sản xuất nấm ăn tại Vĩnh Phúc được triển khai từ năm 1999, khi mới xây dựng nghề nấm này bà con rất phấn khởi Nhiều nông hộ đã tham gia sản xuất nhưng với quy mô nhỏ lẻ và thường làm mô hình Hiện nay thì số hộ tham gia sản xuất nấm mang tích chất làm ăn lớn theo kiểu trang trại Sản phẩm sản xuất ra đến đâu tiêu thụ hết đến đó, chưa phải sử dụng một hình thức chế biến nào để bảo quản lâu dài Nhiều cán bộ địa phương đã hy vọng rằng nghề nấm này thành công và sẽ thay thế được nghề đun lò gạch, một nghề truyền thống sản xuất gạch gói thủ công tại xã Thanh Trù gây độc hại cho sức khoẻ con người Từ trước đến nay lò gạch đun tại nhà, chưa có biện pháp tách khỏi khu dân cư
Tỉnh Vĩnh Phúc, bình quân số lao động chính trên nông hộ là 2,2 lao
động, trong đó lao động phụ là 1,1, lao động thuê là 0,1 Tỉ lệ lao động làm nông, lâm nghiệp, thuỷ sản chiếm 76,7%, lao động trong lĩnh vực dịch vụ chiếm 12,6% Lao động công nghiệp xây dựng chiếm 10,7% Số lao động địa phương đi làm nơi khác là không đáng kể Tỉ lệ thất nghiệp giảm dần qua 3 năm năm 2001 là 4%, năm 2002 là 3%, năm 2003 là 2,8% [20]. Trong chương trình giải quyết việc làm và xoá đói giảm nghèo thì nghề nấm là một trong những nghề được Tỉnh quan tâm Chính vì vậy, từ năm 1999 nghề nấm
19
Trang 28được khơi dậy và phát triển ở mộ số địa phương trên địa bàn tỉnh Đặc biệt, chiến lược chuyển dịch cơ cấu cây trồng bằng việc đưa nấm vào sản xuất tại các hộ nông dân và cho vay vốn ưu đãi cộng với một phần hỗ trợ nhỏ để xây dựng nhà lán tạm nuôi trồng nấm Nghề này cho thu nhập cao hơn nhiều so với trồng các loại rau địa phương thông thường, sử dụng lao động trong thời gian nhàn dỗi, khai thác nguồn phụ phẩm của ngành trồng trọt Như vậy, địa phương đã bước đầu thành công việc tạo việc làm và xoá đói giảm nghèo ở một số vùng Hạn chế được tệ nạn xã hội ở nông thôn, giảm sự di dời lao động
từ nông thôn ra các thành phố lớn
Nông dân vùng đồng bằng sông Hồng nói chung và vùng bán sơn địa Vĩnh Phúc nói riêng phần lớn lao động trong lĩnh vực nông nghiệp Trong những năm vừa qua thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về CNH và HĐH, nâng dần tỉ trọng dịch vụ, công nghiệp trong cơ cấu kinh tế quốc dân Nông nghiệp và nông thôn Việt Nam đã có những tiến bộ đáng chú ý trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lao động
Vĩnh Phúc mặc dù hàng năm số lượng lao động nông nghiệp tăng 1,5%, song tỷ trọng lao động nông nghiệp có giảm Từ năm 2000 đến 2002 giảm 0,9% Do các nguyên nhân sau: lao động nhàn dỗi ngoài lúc mùa vụ được sử dụng thu gom sản phẩm phụ để sản xuất nấm, làm các hoạt động dịch vụ khác như buôn bán, nghề may so với những năm trước kia thì lượng lao động nhàn dỗi này thường phân tán di rời kiếm ăn ở các nơi khác gây mất an ninh trật tự, khó quản lí dân Hiện nay việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và việc tận dụng lao động dư thừa tại chỗ đã đưa tình trạng sử dụng không hết lao động tiến lên tận dụng hết lao động ở mức cao
Với lực lượng lao động dồi dào và nhân công rẻ (từ 12.000-15.000
đồng/công) là một lợi thế trong sản xuất nông sản hàng hoá và chính nó là nguồn lực quan trọng để cạnh tranh về mặt giá cả so với giá nấm trên thế giới
20
Trang 292.1.5.3 Bảo vệ môi trường, góp phần cải tạo đất và thâm canh nông nghiệp
- Sản xuất nấm sử dụng phế phụ phẩm làm sạch đồng ruộng
Phát triển nghề sản xuất nấm ăn – nấm dược liệu còn có ý nghĩa góp phần giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường, môi sinh Phần lớn lượng rơm rạ sau khi thu hoạch lúa ở một số địa phương đều bị đốt bỏ ngoài đồng ruộng hoặc nén xuống kênh rạch, sông ngòi gây cản trở dòng chảy Đây là nguồn tài nguyên rất lớn nhưng chưa được sử dụng, nếu đem trồng nấm không những tạo ra loại sản phẩm có giá trị cao mà phế liệu sau khi thu hoạch nấm chuyển sang làm phân bón hữu cơ tăng thêm độ phì đất Trong thực tế, nhiều cơ sở trồng nấm hiện nay sử dụng phế loại sau thu hoạch nấm làm phân bón cho lúa, rau đã tăng năng suất cao hơn từ 10-20% so với tập quán canh tác cũ Một số nước trên thế giới như Hà Lan, Đài Loan đã chế biến và xuất khẩu loại “Phân hữu cơ từ bã nấm” sang nước khác [6]
Việc sử dụng sản phẩm phụ từ nông nghiệp như rơm, rạ, bã mía từ các nhà mía đường đã làm giảm khâu xử lí giác thải, tránh ôi mốc Chất thải sau khi kết thúc chu kỳ sản xuất nấm, còn tận dụng xử lý vi sinh làm nguồn phân bón cho cây trồng rất tốt không gây ô nhiễm môi trường đất Việc sản xuất nấm có thể dần dần thay thế nghề đun lò gạch gây ô nhiễm môi trường không khí và làm mất dần đất nông nghiệp tại địa phương Theo điều tra số hộ ở xã Thanh Trù, khoảng 100% số hộ trước kia đun lò gạch, gói và lấy đất làm gạch
từ khu đất sản xuất nông nghiệp, dẫn đến tầng đất canh tác trở nên chai cứng, giảm dần đi độ phì của đất, có khi diện tích ấy trở thành các ao hồ không có quy hoạch, nằm rải rác xen lẫn đất trồng lúa, trồng màu Chính vì vậy đưa nghề nấm vào địa phương là giải quyết một phần ô nhiễm môi trường của vùng
- Sản xuất nấm cung cấp sản phẩm sạch
Lịch sử loài người luôn luôn gắn bó với sự phong phú và đa dạng của thiên nhiên Từ việc hái lượm nấm mọc trong tự nhiên từ những thân cây gỗ
21
Trang 30Nhưng các loại nấm hoang mọc này có loại ăn được có loại rất độc mà con người khó phân biệt được Hiện nay công nghệ phát triển gắn liền với thị trường sôi động có rất nhiều nông dân sản xuất rau quả với mục đích thu lời cao, nên một số loại rau xanh không đủ cung cấp cho người tiêu dùng Trong khi đó nấm ăn lại hội tụ đầy đủ các tố chất dinh dưỡng cao hơn các loại rau và gần ngang bằng với thịt cá mà vẫn đảm bảo sản phẩm sạch Vì vậy, nấm ăn
được xem như một loại “rau sạch và thịt sạch” (Nguyễn Hữu Đống) [4], được
sử dụng rộng rãi trong các bữa ăn của con người
Sau khi quá trình sản xuất nấm kết thúc, các nguyên liệu ban đầu bị mục nát do bị phân huỷ bởi các tố chất hoá học như phân đạm, phân lân, bột canxi cacbonnát và vi khuẩn xâm nhập Bã nấm đó được xử lí bằng phooc môn, sau đó ủ để bã nấm phân huỷ dưới dạng mùn Phế phẩm sau sản xuất nấm đã cung cấp lượng chất dinh dưỡng lớn làm phân bón cho cây trồng, làm thức ăn cho cá rất tốt và có hiệu quả tốt như một loại phân vi sinh Loại phân này không gây ảnh hưởng đến môi trường đất mà ngược lại còn bổ sung lượng mùn giúp đất có lớp đất tơi xốp, không làm chai cứng các thành phần của đất
2.2 Cơ sở thực tiễn sản xuất nấm ăn
2.2.1 Thực trạng ngành sản xuất nấm ăn trên thế giới
Các nước trên thế giới hiện nay tập trung nghiên cứu và sản xuất nấm
mỡ, nấm hương, nấm sò và nấm rơm là chủ yếu Khu vực Bắc Mỹ và châu Âu trồng nấm theo phương pháp công nghiệp Những nhà máy sản xuất nấm có công suất từ 200 - 1000 tấn/năm được cơ giới hoá cao Từ khâu xử lí nguyên liệu đến thu hái chế biến đều do máy móc thực hiện Năng suất nấm trung bình đạt từ 40-60% so với nguyên liệu ban đầu (nấm mỡ)
Năm 1990, tổng sản lượng nấm ăn toàn thế giới là 3.763.000 tấn, trong
đó nấm mỡ 1.424.000 tấn còn lại các loại nấm khác Năm 1994, tổng sản
22
Trang 31lượng nấm trên thế giới là 4.909.000 tấn, trong đó nấm mỡ đạt 1.846.000 tấn (37,6%), nấm rơm 798.800 tấn (6,1%) còn lại các loại nấm khác [8]
Khu vực châu á (Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc) triển khai sản xuất nấm theo mô hình trang trại vừa và nhỏ, đặc biệt là ở Trung Quốc nghề trồng nấm đã thực sự đi vào từng hộ nông dân Sản lượng nấm mỡ, nấm hương của Trung Quốc lớn nhất thế giới (2.850.000 tấn chiếm 53,79% tổng sản lượng), Nhật Bản 360.100 tấn (7,34%), Hàn Quốc 92.000 tấn, sản lượng nấm của các nước chủ yếu là nấm mỡ (1994) [23]
Thị trường tiêu thụ nấm lớn nhất trên thế giới hiện nay là Mỹ, Nhật Bản,
Đài Loan, các nước châu Âu giá 1 kg nấm mỡ tươi trung bình 6 -10 USD, cao hơn so với 1 kg thịt bò Hàng năm các nứơc này phải nhập khẩu từ Trung Quốc (nấm muối và nấm đóng hộp) Mỗi năm tỉnh Phúc Kiến xuất sang Mỹ 23.000 - 26.000 tấn nấm mỡ đóng hộp Năm 1994, Nhật Bản nhập khẩu 7.804 tấn và tiêu thụ hàng năm 25.000-30.000 tấn nấm mỡ Tại các nước này, do khó khăn về nguồn nguyên liệu và giá công lao động rất đắt nên những người nuôi trồng nấm và kinh doanh mặt hàng này đang chuyển dịch sang các nước chậm phát triển để mua nguyên liệu (nấm muối) và đầu tư sản xuất, chế biến tại chỗ [2]
Nhiều hãng sản xuất của Mỹ, Nhật Bản, Italia, Đức, Đài Loan đã đến Việt Nam và tìm hiểu về tình hình sản xuất nấm, đặt vấn đề mua hàng và hợp tác đầu tư vào ngành này Các tỉnh phía Nam đã và đang sản xuất nấm rơm muối, đóng hộp với số lượng hàng ngàn tấn/năm sang thị trường Đài Loan, Hồng Kông, Thái Lan Các tỉnh phía Bắc xuất nấm mỡ muối, nấm hộp sang thị trường Nhật Bản, Italia, Đài Loan, Đức với số lượng hàng năm chưa đáng
Trang 32Trung Quốc đang sản xuất nấm mỡ muối với giá 1.300-1.500USD/tấn,
nếu Việt Nam xuất bằng hoặc thấp hơn giá trên thì vẫn triển khai sản xuất
được mặt hàng này Việt Nam có nguồn nguyên liệu nhiều, giá công lao động
rẻ, để tổ chức sản xuất nấm mỡ sẽ thuận lợi hơn so với Trung Quốc
2.2.2 Thực trạng ngành sản xuất nấm ăn ở Việt Nam
- Năm 1984 thành lập Trung tâm nghiên cứu nấm ăn thuộc Đại học
Tổng hợp Hà Nội
- Năm 1985 tổ chức FAO tài trợ và UBND thành phố Hà Nội quyết định
thành lập Trung tâm sản xuất giống nấm Tương Mai - Hà Nội
- Năm 1986 được tổ chức FAO tài trợ có nhiều công ty nấm ra đời như
công ty nấm Thanh Bình, công ty rau quả Vegetexco…
- Năm 1992 - 1993, công ty nấm Hà Nội nhập thiết bị chế biến đồ hộp
và nhà trồng nấm công nghiệp của Italia Thành phố Hà Nội, Unimex Quảng
Ninh, tỉnh Hà Nam, Hải Hưng, Vĩnh Phú, Hà bắc, Thanh Hoá, Thái Bình đã
đầu tư hàng tỷ đồng cho nghiên cứu và sản xuất nấm ăn Phong trào trồng nấm
mỡ trong các năm 1988 -1992 đã mở rộng hầu hết các tỉnh phía Bắc [12] Từ
năm 1989 - 2000 nuôi trồng nấm ở nước ta đã đạt được kết quả như (Bảng 6)
Bảng 6 Sản lượng nấm qua các năm của Việt Nam
* Nguồn: Nấm ăn cơ sở khoa học và công nghệ nuôi trồng, tr 17
Qua bảng sản lượng nấm ăn của Việt Nam cho thấy sản lượng nấm ăn
trong vòng 10 năm đã tăng gần 10 lần Tuy nhiên không ổn định trong giai
24
Trang 33đoạn 1990-1997 do nhiều nguyên nhân trong đó có những nguyên nhân về kỹ thuật và tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm
Các loại nấm ăn tại Việt Nam hiện nay được nuôi trồng rất nhiều như nấm rơm ,nấm sò, nấm mỡ, nấm linh chi, nấm mộc nhĩ nhưng chủ yếu sản xuất ra vẫn là tiêu dùng nội địa, ước tính trung bình một năm trong nước tiêu dùng khoảng 100 tấn nấm tươi Các tỉnh phía Nam nghề này cũng đang phát triển mạnh
Trong những năm vừa qua, nghề trồng nấm ở Việt Nam được đầu tư nhưng kết quả vẫn thấp, một trong các lí do chủ yếu là tổ chức sản xuất nấm của các đơn vị chuyên doanh về nấm còn yếu kém Chất lượng nấm chưa đảm bảo và nhập giống từ nhiều nguồn khác nhau, nên việc chọn lọc, kiểm tra
đánh giá chất lượng của từng loại chưa có đơn vị nào đứng ra đảm bảo Thiếu cán bộ kỹ thật hướng dẫn nuôi trồng nấm cho các hộ gia đình Sản lượng nấm
so với thế giới còn quả nhỏ bé Hợp đồng xuất khẩu nấm thường không đủ về
số lượng, chất lượng thấp dẫn đến mất lòng tin với khách hàng nước ngoài
25
Trang 343 đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đặc điển địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lí
Vĩnh phúc là một tỉnh thuộc vùng đông Bắc Bộ
- Phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang
- Phía Nam giáp tỉnh Hà Tây
- Phía Đông giáp Thành phố Hà Nội
- Phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ
Tỉnh nằm ở toạ độ 21007’ - 21034’ độ vĩ bắc, 105019’ - 105047’ độ kinh
đông Trung tâm kinh tế, chính trị đặt tại thị xã Vĩnh Yên, cách Hà Nội 45 km
về phía Tây theo quốc lộ 2 và có tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai chạy qua, liền kề với cảng hàng không quốc tế Nội Bài và có trục đường 18 thông với cảng Hải Phòng và cảng nước sâu Cái Lân Nằm ở vùng chuyển tiếp giữ đồng bằng Sông Hồng - khu vực kinh tế trọng điểm của miền Bắc với các tỉnh trung
du miền núi phía Bắc, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ trước sự lan toả của các khu công nghiệp lớn thuộc Hà Nội như Bắc Thăng Long, Sóc Sơn sự hình thành
và phát triển các tuyến hành lang giao thông quốc gia liên quan đến Vĩnh Phúc như : hành lang Việt Trì, Hà Giang đã giúp tỉnh xích gần hơn với các trung tâm kinh tế, công nghiệp và những thành phố lớn của đất nước, đây là
điều kiện tốt để Vĩnh Phúc giao lưu hàng hoá và phát triển [20]
3.1.1.2 Điều kiện tự nhiên
+ Khí hậu
Khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm là đặc trưng của miền Bắc, nhưng ở Vĩnh Phúc thì nhiệt độ có thấp hơn các vùng khác lân cận Mùa hè nóng ẩm và mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 10, mùa đông lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm
26
Trang 35sau Mùa thu tiết trời mát Do vậy mùa nào thì thích hợp trồng nấm ấy Mùa
hè thích hợp trồng nấm rơm (tháng 4 –tháng 9), nấm sò trồng vụ hè thu (tháng 4-5, tháng 9-10), mùa đông thích hợp trồng nấm mỡ (thời vụ từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau) Với điều kiện khí hậu này bà con có thể luân phiên trồng được rất nhiều nấm mà không thể nào để thời gian bỏ trống được
Đó là chưa kể đến trồng các loại nấm dược liệu khác, ví dụ nấm mọc nhĩ, nấm linh chi trồng trên mùn cưa sau khi hết chu kỳ sản xuất có thể sử lý lại trồng nấm sò
- Nhiệt độ trung bình năm là 23,20C - 250C, tối cao trung bình là 27,40C (bảng 7) Các tháng 6, 7, 8 là các tháng có nhiệt độ cao nhất trong năm nhiệt
độ từ 27,7 – 300C, độ ẩm trung bình 80 - 84%, các tháng này rất phù hợp với
đặc tính sinh học của nấm rơm Nhiệt độ thấp nhất là 16 - 17,40C tháng có nhiệt độ thấp là tháng 12, 1, 2 và độ ẩm cũng rất phù hợp cho trồng nấm mỡ
Sự biến thiên nhiệt độ các mùa và biến động chênh lệch nhiệt độ ngày đêm ở
đây không lớn lắm Hướng gió thị hành là hướng Đông –Nam thổi từ tháng 4
đến tháng 9, song vùng cũng bị chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa đông bắc thổi từ tháng 10 đến tháng 3 kèm theo mưa phùn và nhiệt độ thấp, nhiều khi xuống dưới 150C và kéo dài từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau Tình hình
đó ảnh hưởng không tốt đối với cây trồng, nhất là cây lúa, song đối với sản xuất nấm mỡ thì lại là điều kiện rất thuận lợi cho nấm sinh trưởng và phát triển đặc biệt là giai đoạn từ khi hình thành sợi nấm đến khi có quả thể và quá trình thu hái
- Độ ẩm: không khí trung bình năm là 80-81% Đặc biệt cuối mùa đông
độ ẩm trung bình có tháng lên tới 84% làm cho không khí trở lên ẩm ướt Với
độ ẩm này đều thích hợp trồng cả 3 loại nấm ăn trên, phân theo từng vụ
- ánh sáng: Số giờ nắng trung bình hàng năm từ 1340 - 1800 giờ/năm,
đặc biệt trong mùa đông số giờ nắng trong ngày thường là thấp, dưới 5 giờ
ẩm độ không khí cao, nhiệt độ thấp, số giờ nắng ít và trời mùa đông thường
27
Trang 36âm u kéo dài là điều kiện thuận lợi cho nhiều loại sâu bệnh hại cây trồng phát triển Song điều kiện đó lại rất thích hợp với đặc điểm kỹ thuật của một số loại nấm và là môi trường cho nấm phát triển tốt
Tóm lại: điều kiện khí hậu thời tiết của tỉnh Vĩnh Phúc thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng một số loại nấm ăn như nấm mỡ (tháng 10 - tháng 3 năm sau), nấm rơm (tháng 4 - tháng 9), nấm sò gần như trồng được quanh năm (trừ tháng 1-3 tiết trời quá lạnh) Cùng với việc phát triển mạnh các cây nông nghiệp, sử dụng tối đa khả năng của đất và sản phẩm phụ từ nông nghiệp
ta có thể sản xuất được nhiều sản phẩm nấm mà mục tiêu là sản xuất hàng hoá, mang lại giá trị cao
+ Đất đai
Tỉnh có 3 loại đất chính: Đất đồng bằng phù sa sông Hồng, sông Lô, sông Phó Đáy chiếm 62,2%, tập trung phần lớn ở phía nam tỉnh, đất bạc màu chiếm 24,2%, tập trung ở vùng gò đồi ven chân núi Tam Đảo và vùng đồi huyện Lập Thạch, đất đỏ vàng nhạt chiếm 15,1% nằm chủ yếu ở phía bắc tỉnh ven chân núi Tam Đảo
Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 137.136,18 ha, trong đó đất nông nghiệp có 66.659,68 ha, chiếm 52,64 %, đất lâm nghiệp là 30.439,33 ha, chiếm 22,2%, đất chuyên dùng là 18.780,02 ha lượng tăng của đất chuyên dùng bình quân là 8,3% mà chủ yếu là đất làm nguyên vật liệu xây dựng, đất xây dựng tăng ha Do thực hiện chuyển dịch cơ cấu đất đai nên trong quỹ đất nông nghiệp cũng có sự thay đổi cụ thể là đất trồng cây hàng năm giảm qua 3 năm là 1,9% Nguyên nhân của sự giảm này là do đất vườn tạp tăng bình quân 7,31% [20] Đáng chú ý là trong tổng diện tích đất trồng cây hàng năm
có 46.174,06 ha trong đó 85,91% được dùng để sản xuất lúa, diện tích trồng hoa màu, rau và các cây trồng khác chỉ chiếm 13,84% Điều này càng chứng
tỏ rằng lúa vẫn là cây trồng chính của tỉnh Do vậy, tận dụng sản phẩm phụ từ
28
Trang 37Bảng 7 Khí hậu thời tiết tỉnh Vĩnh Phúc qua các tháng
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 1 0 1 1 1 2 C ả
năm
1 Nhiệt độ trung bình oC 16,3 17,4 20,6 24,0 27,7 28,9 29,2 28,5 27,5 25,0 21,5 18 23,8
- Tối cao trung bình 19,6 20,3 23,4 27,3 31,9 32,9 33,1 32,2 31,4 29,1 25,6 21,9 27,4
- Tối thấp trung bình 14 15,4 16,4 21,6 24,5 25,8 26,1 25,6 24,6 22,0 20,5 15,2 21,0
- Tối thấp tuyệt đối 3,7 5,0 9,9 13,8 16,3 20,4 21,1 21,8 17,4 13,1 8,9 4,4 3,7
Trang 38trồng lúa (hàng năm Vĩnh Phúc có trên 300.000 tấn rơm rạ) để sản xuất mặt hàng nấm
Mặt khác tận dụng được một số nhà kho, bãi hoang để xây lán trồng nấm là tiết kiệm được rất nhiều diện tích đất
Diện tích đất lâm nghiệp là 30346,82 ha chiếm 22,13%, đây là nguồn khai thác nguyên liệu bằng gỗ đáng kể cho trồng một số loại nấm khác như mọc nhĩ, nấm hương, nấm linh chi
Tóm lại tiềm năng đất đai ở đây rất thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng nấm
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
3.1.2.1 Dân số, lao động, việc làm
- Dân số
Dân số tỉnh năm 2001 có 1.132.049 người, tốc độ tăng dân số trung bình 1,29% Trong đó dân số sống bằng nghề nông là 948.360 người chiếm 83,77% tổng dân số cả tỉnh (bảng 8) Dân số thuộc ngành nông nghiệp qua các năm giảm, năm 2001 so với năm 2000 giảm 1,07%, việc giảm giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp là do một số người làm nghề nông nghiệp chuyển sang làm các nghề khác như công nhân, dịch vụ
Dân số Vĩnh Phúc năm 2003 có 1.147.161 người với hơn 10 dân tộc anh
em cùng chung sống trên địa bàn 9 huyện thị, trong đó, tỷ lệ dân nông thôn chiếm 87.9%, dân thành thị 12,1% Mật độ dân số trung bình của tỉnh 800 người/km2 Mặc dù tỉnh có tỷ lệ dân nông thôn còn cao, công nghiệp mới đang bắt đầu phát triển, chưa đẩy nhanh được việc chuyển dịch cơ cấu lao động Chính vì vậy sản xuất nông nghiệp và nghề phụ (chủ yếu là sản xuất hàng hoá) tại chỗ ở nông thôn mang lại thu nhập chính cho nông hộ Đây cũng là tiền đề cho việc phát triển công nghiệp, dịch vụ, thương mại hợp tác phát triển trên địa bàn tỉnh trong tương lai
- Về lao động
30
Trang 39Bảng 8 Tình tình phát triển dân số và lao động của tỉnh Vĩnh Phúc
* Nguồn: Niên giám thống kê năm 2001, 2002 tỉnh Vĩnh Phúc; Báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc năm 2003, Cục thống
kê tỉnh Vĩnh Phúc, Báo cáo tổng hợp điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạnh 2001-2010
Trang 40Kết quả của mỗi quá trình sản xuất là sự kết hợp giữa lao động của con người với tư liệu sản xuất Nếu tư liệu sản xuất là yếu tố cơ bản thì lao động là yếu tố quyết định đến kết quả sản xuất Vì vậy phân bổ lao động có ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả sản xuất Vấn đề cấp thiết và thiết thực hiện nay đối với các cấp là việc sử dụng đầy đủ hợp lý nguồn lao động tại chỗ, phân bố nguồn lao động cho các ngành kinh tế, các vùng sản xuất một cách hợp lí trên cơ sở
điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh nhằm khai thác triệt để những thế mạnh và tiềm năng sẵn có của địa phương
Tình hình dân số và lao động của tỉnh được trình bày ở bảng 8, nguồn lao
động của tỉnh có 644.000 người, trong đó có 494.000 người thuộc lao động nông nghiệp chiếm 76,7% tổng số (khoảng 40% lao động nông thôn còn nhàn rỗi) Chất lượng lao động còn thấp, tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ chiếm 18,8% tổng lực lượng lao động (năm 2003) Chủ hộ nông nghiệp theo mẫu
điều tra hộ sản xuất nấm, có trình độ văn hoá cấp II trở xuống chiếm gần 70%,
đây là vấn đề cần được Đảng và Nhà Nước ta quan tâm, lý do trên cũng đã ít nhiều gây khó khăn trong việc tiếp nhận và chuyển giao những kiến thức, tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
3.1.2.2 Đánh giá chung về mạng lưới giao thông của tỉnh Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc có mạng lưới giao thông khá phát triển và phân bố đều khắp với 3 loại: giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông
- Giao thông đ ường bộ
Trên địa bàn tỉnh có 4 tuyến đường quốc lộ đi qua là QL2, QL2b, QL2c và QL23 với tổng chiều dài 129 km, trong đó tỉnh quản lý 3 tuyến với chiều dài 89 km
Đường tỉnh có 18 tuyến với tổng chiều dài 251 km, trong đó có 56.45% được rải nhựa hoặc bê tông xi măng
32