Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển ngành nghề của hộ nông dân ở huyện diễn châu tỉnh nghệ an
Trang 1Lời cam đoan
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn thị minh ph−ợng
Trang 2Lời cám ơn
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận
được sự quan tâm giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể và cá nhân Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến:
Tập thể các thầy, cô giáo Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn, Khoa Sau
đại học, Trường Đại học Nông nghiệp I, đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn GS.TS Phạm Thị Mỹ Dung - người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Ban Giám hiệu và tập thể anh chị, em Khoa Kinh tế - Trường Đại học Vinh là cơ quan chủ quản của tôi, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi về thời gian, tinh thần, vật chất để học tập và nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn các tập thể, cơ quan, ban, ngành đã tạo điều kiện và giúp
đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu và nghiên cứu Đặc biệt, tôi xin cảm ơn tập thể lớp Cao học Kinh tế Khoá 11 đã cùng chia sẻ với tôi trong suốt quá trình học tập; bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Bà con nông dân và UBND xã Diễn Lộc, Diễn Bích, Diễn Quảng, và UBND huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu của các tập thể và cá nhân đã dành cho tôi!
Tác giả luận văn Nguyễn thị minh phượng
Trang 3Mục lục Trang
1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
2 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về ngành nghề nông thôn 5
2.1 Một số vấn đề lý luận về ngành nghề hộ nông dân và ngành nghề nông thôn 5 2.1.1 Ngành nghề nông thôn của hộ nông dân và ngành nghề nông thôn 5
2.1.2 Phát triển ngành nghề nông thôn 8
2.1.3 Vai trò của ngành nghề nông thôn 10
2.1.4 Những đặc điểm của ngành nghề nông thôn nước ta hiện nay 15
2.2 Thực tiễn phát triển ngành nghề nông thôn 19
2.2.1 Thực tiễn phát triển ngành nghề nông thôn ở trên thế giới 19
2.2.2 Thực tiễn phát triển ngành nghề nông thôn ở Việt Nam 26
2.3 Những nghiên cứu có liên quan đến đề tài 32
3 Đặc đIểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 34
3.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 34
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 34
Trang 43.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 36
3.2 Phương pháp nghiên cứu 43
3.2.1 Chọn điểm điều tra 43
3.2.2 Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu 44
3.2.3 Phương pháp phân tích đánh giá 45
3.3 Hệ thống chỉ tiêu phân tích 47
4 thực trạng hoạt động ngành nghề của hộ nông dân huyện diễn châu 50
4.1 Thực trạng hoạt động ngành nghề của hộ nông dân huyện Diễn Châu 50
4.1.1 Quá trình phát triển ngành nghề của các hộ nông dân huyện Diễn Châu 50 4.1.2 Thực trạng về nguồn lực của các hộ nông dân 57
4.2 Kết quả và hiệu quả sản xuất của các ngành nghề nông thôn 67
4.2.1 Kết quả và chi phí sản xuất của các ngành nghề nông thôn 67
4.2.2 Hiệu quả sản xuất của các ngành nghề nông thôn 72
4.2.3 Hiệu quả xã hội và môi trường trong phát triển ngành nghề nông thôn ở huyện Diễn Châu 74
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển ngành nghề của hộ nông dân 78
4.3.1 Các yếu tố bên ngoài 78
4.3.2 Các yếu tố bên trong 80
4.3.3 Phân tích nguyên nhân, điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của việc phát triển một số ngành nghề trên địa bàn 85
4.4 Định hướng và các giải pháp chủ yếu phát triển ngành nghề của hộ nông dân 88
4.4.1 Định hướng 88
4.4.2 Các giải pháp 91
5 Kết luận và kiến nghị 105
5.1 Kết luận 105
5.2 Kiến nghị 106
Trang 5Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
Trang 6Danh mục các bảng
Bảng 2.1 Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn 29 Bảng 2.2 Cơ cấu hộ NT theo 3 nhóm ngành chủ yếu 31 Bảng 3.1 Tình hình dân số và lao động huyện Diễn Châu (2001 - 2003) 37 Bảng 3.2 Một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản huyện Diễn Châu (2001 - 2003) 40 Bảng 4.1 Tình hình chung về phát triển ngành nghề nông thôn của huyện
Bảng 4.2 Tình hình phát triển một số ngành nghề chủ yếu của hộ nông
Bảng 4.3 Phân tổ các hộ điều tra theo số năm làm nghề và theo nhóm
Bảng 4.4 Nhu cầu thay đổi cơ cấu kinh tế của hộ nông dân 56 Bảng 4.5 Tình hình huy động và sử dụng vốn của các hộ nông dân 58 Bảng 4.6 Tình hình sử dụng đất của các hộ nông dân 60 Bảng 4.7 Tình hình sử dụng lao động của các hộ nông dân 62 Bảng 4.8 Tình hình sử dụng thời gian lao động của các hộ nông dân 63 Bảng 4.9 Một số đặc trưng về chủ hộ hoạt động ngành nghề 64 Bảng 4.10 Tình hình cung cấp nguyên vật liệu của các hộ nông dân 65 Bảng 4.11 Thị trường tiêu thụ sản phẩm của các hộ nông dân 67 Bảng 4.12 Tổng giá trị sản xuất bình quân của các hộ nông dân 68 Bảng 4.13 Chi phí trung gian bình quân của các hộ 69 Bảng 4.14 Giá trị tăng thêm bình quân của các hộ nông dân 71 Bảng 4.15 So sánh giá trị tăng thêm bình quân nhân khẩu của các hộ ngành
Bảng 4.16 Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn 72 Bảng 4.17 Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả chi phí đầu tư 73 Bảng 4.18 Quan hệ giữa số lao động ngành nghề và kết quả sản xuất của
Bảng 4.19 Quan hệ giữa trình độ của chủ hộ với sử dụng lao động và kết
Bảng 4.20 Quan hệ giữa vốn, lao động ngành nghề và kết quả sản xuất của
Bảng 4.21 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức 87
Trang 7Danh mục sơ đồ, Biểu đồ và phụ lục
Biêủ đồ 1 Cơ cấu kinh tế huyện Diễn Châu năm 2003 42 Sơ đồ 4.1 Cây vấn đề Nguyên nhân hạn chế phát triển NNNT của
Sơ đồ 4.3 Cây giải pháp phát triển NNNT của hộ nông dân Diễn Châu 104
Trang 81 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động ngành nghề của các hộ nông dân ở Việt Nam gắn liền với quá trình phát triển kinh tế của đất nước Các ngành nghề cùng với những nét độc đáo riêng của từng sản phẩm đã trở thành một phần không thể thiếu được trong quá trình phát triển kinh tế văn hoá truyền thống dân tộc "Ngày xưa và cả hôm nay, nghề thủ công lúc nào cũng có vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế nông thôn" [20] Người nông dân không chỉ sản xuất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm và nguyên vật liệu mà còn thực hiện các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp Phát triển ngành nghề nông thôn không chỉ thuần tuý là giải pháp nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân, hoặc chỉ giải quyết vấn đề việc làm trong lúc nông nhàn, mà quan trọng hơn còn là giải pháp chiến lược cơ bản
và lâu dài để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Hơn 10 năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới đất nước với những chủ trương chính sách phát triển kinh tế đúng đắn của Đảng và Nhà nước đã thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Sản xuất nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng tương đối cao theo hướng đa dạng hoá sản phẩm, đời sống người nông dân bước đầu được cải thiện Tuy nhiên, nông thôn Việt Nam đang đứng trước những khó khăn thử thách lớn đó là bình quân diện tích canh tác trên đầu người thấp, lao động thiếu việc làm, tỷ lệ lao động thiếu việc làm ở nông thôn vào khoảng 22% [25], trong khi đó hàng năm có khoảng 1 triệu người bổ sung vào lực lượng lao động xã hội; ngành nghề phi nông nghiệp phát triển chậm nên nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn, lao động thủ công là chính; mức sống của người dân nông thôn còn thấp, 90% số người nghèo của cả nước tập trung ở nông thôn, trong nông thôn tỷ lệ đói nghèo chiếm 13 - 15%, sự chênh lệch về mức sống ngày càng tăng dẫn đến xu hướng di dân tự do từ nông thôn ra thành thị [34]
Trang 9Sự khôi phục và phát triển ngành nghề trong những gần đây đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong sự phát triển kinh tế, xã hội của các địa phương, giải quyết việc làm cho hàng vạn người lao động, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng Phát triển ngành nghề nông thôn đã giải quyết việc làm cho khoảng 11 triệu lao động, chiếm 30% lao động nông thôn Theo kết quả điều tra nông thôn - nông nghiệp - thuỷ sản của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn cho thấy: từ năm 1994 đến năm 2001 tính chung hộ phi nông nghiệp ở nông thôn đã tăng từ 8% - 17% [8]
Với mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020, từ kinh nghiệm của các nước trên thế giới và trong khu vực, Đảng
ta đã xác định con đường CNH - HĐH đất nước là không chỉ tập trung ở thành thị mà còn phát triển công nghiệp ở nông thôn Hộ nông dân là đơn vị kinh tế
tự chủ đóng vai trò cơ sở trong nền sản xuất nông nghiệp nước ta, với gần 80% dân số sống ở nông thôn, vì vậy CNH - HĐH nông thôn đóng vai trò rất quan trọng trong tiến trình CNH - HĐH đất nước Để thực hiện được điều đó, bản thân mỗi hộ không những phải dịch chuyển cơ cấu sản xuất theo hướng phát triển ngành nghề, dịch vụ mà còn phải dịch chuyển lao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp, lao động ngành nghề, dịch vụ
Đối với Nghệ An mà cụ thể là huyện Diễn Châu, ngành nghề nông thôn đã
có từ lâu đời, qua thời gian bị mai một đi và nay đang dần được khôi phục và phát triển thêm một số nghề mới Từ trước đến nay mặc dù đã có một số ngành nghiên cứu nhằm phát triển NNNT nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào tập trung làm rõ những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn của việc phát triển NNNT
Trang 10của địa phương, của người dân cũng như các khó khăn trở ngại khi phát triển ngành nghề là vấn đề cần thiết Để góp phần nghiên cứu và đánh giá đúng thực trạng phát triển NNNT ở huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An và đưa ra những giải pháp thúc đẩy NNNT phát triển chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu
đề tài "Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển ngành nghề của
hộ nông dân ở huyện Diễn Châu - tỉnh Nghệ An"
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn hoạt động ngành nghề của các hộ nông dân nhằm đánh giá đúng thực trạng và tiềm năng phát triển của các ngành nghề nông thôn Từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển ngành nghề, góp phần tăng thu nhập cho hộ nông dân, thực hiện xoá đói giảm nghèo, góp phần thực hiện thành công mục tiêu CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn của địa bàn nghiên cứu
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về NNNT và phát triển NNNT
- Đánh giá thực trạng phát triển ngành nghề của các hộ nông dân ở huyện Diễn Châu - tỉnh Nghệ An
- Xác định những yếu tố ảnh hưởng tới sản xuất ngành nghề của các hộ nông dân huyện Diễn Châu
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để phát triển ngành nghề của hộ nông dân ở huyện Diễn Châu - tỉnh Nghệ An
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển ngành
nghề ở các hộ nông dân trên địa bàn huyện Diễn Châu - tỉnh Nghệ An
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trang 11- Về nội dung: Nghiên cứu đánh giá đúng thực trạng những vấn đề về quá trình phát triển ngành nghề của hộ nông dân Các yếu tố sản xuất chủ yếu như lao động, tiền vốn, trình độ chuyên môn, của các hộ Kết quả và hiệu quả của ngành nghề của các hộ Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngành nghề của các nông hộ Từ đó phát hiện những lợi thế cũng như những khó khăn ảnh hưởng đến phát triển ngành nghề ở các hộ nông dân Đề xuất các giải pháp phù hợp góp phần phát triển ngành nghề để giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho cư dân nông thôn
- Về thời gian: Để có sự nhìn nhận về thực tiễn hoạt động ngành nghề
đang diễn ra ở các hộ nông dân hiện nay, đề tài tập trung nghiên cứu tình hình hoạt động ngành nghề của các hộ nông dân ở địa bàn trong năm 2003
- Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trên địa bàn huyện Diễn Châu, tập trung ở 3 xã điển hình, các hộ nông dân kiêm ngành nghề và các hộ thuần nông Trong đó nghiên cứu mỗi xã có 30 hộ có hoạt động ngành nghề
và 10 hộ thuần nông Tổng số hộ có hoạt động ngành nghề là 90 hộ và 30 hộ thuần nông
Trang 122 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
đổi của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất qua các phương thức sản xuất mà
có nhiều cách định nghĩa về hộ nông dân Theo từ điển chủ nghĩa khoa học cộng sản thì: "Nông dân là một giai cấp chuyên sản xuất những sản phẩm nông nghiệp trên cơ sở sở hữu tư nhân hoặc sở hữu tập thể và tham gia lao động sản xuất bằng sức lao động của chính mình"[33] Theo tác giả Frank Ellis, hộ nông dân được
định nghĩa "Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình
để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao"[18] Theo tác giả Đào Thế Tuấn, hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá
và các hoạt động phi nông nghiệp ở NT [36] Như vậy, hiện nay hộ nông dân vừa tham gia hoạt động sản xuất nông lâm ngư, vừa tham gia hoạt động ngành nghề, dịch vụ Các hoạt động ngành nghề dịch vụ của nông dân bao gồm sản xuất, chế biến và dịch vụ
Chế biến ở gia đình nông dân chủ yếu là chế biến nông sản và chế biến
Trang 13thuỷ hải sản Theo từ điển bách khoa chế biến nông sản là quy trình công nghệ biến đổi nông sản thành thực phẩm hoặc các dạng sản phẩm khác phù hợp với mục đích sử dụng và thị hiếu của người tiêu dùng; còn chế biến thuỷ sản là chế biến nguyên liệu thuỷ sản do khai thác hay nuôi trồng được thành các mặt hàng khác (các gia vị, thức ăn chăn nuôi, dược phẩm, mỹ phẩm, ) [21]
Chính vì vậy, ngoài sản xuất nông nghiệp, trong quá trình phát triển kinh tế nông thôn nhiều ngành mới đã ra đời "Ngành nghề thủ công đầu tiên xuất hiện trong các hộ nông dân nhằm tận dụng lao động dư thừa, tranh thủ thời gian nông nhàn để sản xuất ra các dụng cụ sản xuất hoặc các vật phẩm tiêu dùng cho đời sống bằng lao động thủ công"[14]
Cũng có người quan niệm rằng: Ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn là những hoạt động kinh tế phi nông nghiệp với một số nghề thủ công mỹ nghệ được lưu truyền từ đời này qua đời khác trong từng gia đình, từng dòng họ, từng làng xã, dần dần hình thành nên những làng nghề truyền thống tạo ra những sản phẩm hàng hoá tiêu dùng độc đáo vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị văn hoá nghệ thuật đặc trưng cho từng cộng đồng, dân tộc
Các nghề thủ công ra đời trên cơ sở nông nghiệp, nó tồn tại gắn liền với nông nghiệp và phục vụ trực tiếp cho đời sống nông thôn một cách kịp thời, chặt chẽ Nghề thủ công xuất hiện nhằm tận dụng thời gian nông nhàn bằng các công cụ đơn giản, một số người có kỹ năng nhất định bằng nguyên liệu sẵn có sáng tạo ra công nghệ sản xuất và tạo ra sản phẩm
Hoạt động ngành nghề phi nông nghiệp của hộ nông dân là bước khởi
đầu của sự ra đời các cơ sở hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn Phát triển công nghiệp nông thôn để thay đổi kinh tế nông thôn từ nền kinh tế nông nghiệp truyền thống sang nền kinh tế được CNH, HĐH Từ đó thực hiện CNH, HĐH đất nước là một biện pháp phổ biến được áp dụng thành công ở nhiều nước trên thế giới
NNNT Việt Nam thường được phát triển trong các làng xã hay các làng
Trang 14nghề Làng nghề ở nông thôn Việt Nam có bề dày lịch sử lâu đời, nhưng nhìn chung thì quy mô sản xuất nhỏ, lao động thủ công là chủ yếu và lực lượng lao
động trong làng nghề thường mang tính chất gia đình, không được đào tạo mà chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, cha truyền con nối Chính vì vậy, chúng tôi nhận thấy rằng: Ngành nghề trong nông thôn bao gồm những nghề tiểu thủ công nghiệp ở NT, có từ thời thuộc Pháp tồn tại đến nay (kể từ khi hình thành đến nay khoảng 100 năm trở lên), kể cả những nghề được cải tiến hoặc sử dụng máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ những công nghệ truyền thống
Hoạt động ngành nghề của hộ nông dân là một bộ phận hợp thành của công nghiệp nông thôn Theo tác giả Nguyễn Điền, phát triển công nghiệp nông thôn và CNH nông thôn có sự khác nhau Phát triển công nghiệp nông thôn là thuật ngữ có nội dung hẹp chỉ bao gồm việc mở mang các ngành nghề ngoài nông nghiệp ở nông thôn, không bao gồm các hoạt động kinh tế khác ở nông thôn Khác với CNH nông thôn là thuật ngữ có nội dung rộng bao gồm cả phát triển công nghiệp nông thôn, CNH, HĐH nông nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội ở nông thôn, nhằm phát triển nông thôn toàn diện [17]
Theo các nhà khoa học và các chuyên gia của Bộ NN&PTNT trong quá trình nghiên cứu, khảo sát NNNT theo quy mô toàn quốc năm 1997 đã đưa ra một khái niệm khá đầy đủ về NNNT như sau: "NNNT là những hoạt động kinh tế phi nông nghiệp bao gồm tiểu thủ công nghiệp, các hoạt động dịch vụ sản xuất và đời sống, có quy mô vừa và nhỏ với các thành phần kinh tế như hộ gia đình, hộ sản xuất (gọi chung là hộ), các tổ chức kinh tế HTX, DNTN, Công ty TNHH (gọi chung là cơ sở sản xuất) Các tổ chức hộ và cơ sở này với mức độ khác nhau đều gắn kết mật thiết với nông thôn và có sử dụng các nguồn lực của nông thôn (đất đai, lao động, nguyên liệu và các nguồn lực khác) và có ảnh hưởng lớn tới quá trình phát triển kinh tế xã hội của NT"[10]
UNESCO cũng đã đề nghị thay thế khái niệm nghề thủ công bằng khái niệm công nghiệp truyền thống [42] Như vậy chứng tỏ rằng NNNT đã luôn được quan
Trang 15tâm đề cập để có điều kiện và phát triển NNNT cũng là một mối quan tâm của nhiều
tổ chức Phát triển NNNT là một hướng đi cơ bản, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thêm nữa, nghề thủ công là nơi gặp gỡ của nghệ thuật và kỹ thuật từ điển bách khoa của nhà xuất bản Mac Milan Company đã viết: “Thủ công nghiệp vừa là một cách thức sản xuất có tính chất công nghiệp, vừa là một dạng hoạt động có tính chất mỹ thuật”[37] Như vậy, nghề và làng nghề còn là một trong những nơi lưu giữ
và thể hiện bản sắc văn hoá dân tộc một cách đầy đủ và tinh tế nhất
Căn cứ theo Quyết định số 132/2000/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển NNNT ra ngày 24/11/2000 thì NNNT quy định trong quyết định này bao gồm:
a Sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn
- Chế biến bảo quản nông, lâm, thuỷ sản;
- Sản xuất vật liệu xây dựng, đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thuỷ tinh, dệt may, cơ khí nhỏ ở nông thôn;
- Xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất NNNT;
Vậy theo chúng tôi, ngành nghề của hộ nông dân thực chất là một bộ phận cấu thành nên ngành nghề nông thôn Đây là những NNNT có nguồn gốc từ các
hộ nông dân có thể ở dạng hộ kiêm Như vậy nghiên cứu phát triển ngành nghề của hộ nông dân chính là nghiên cứu phát triển một bộ phận trong NNNT
2.1.2 Phát triển ngành nghề nông thôn
Phát triển có thể hiểu là một quá trình tăng lên cả về lượng lẫn chất trong một thời kỳ nhất định Hay chính là bao gồm cả sự tăng lên về quy mô
Trang 16sản lượng (tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội [19]
Phát triển NNNT được hiểu là sự tăng lên về quy mô các làng nghề, sự tăng lên về số lượng các cơ sở sản xuất, các hộ sản xuất nghề, đồng thời là sự tăng lên về giá trị sản lượng, về thu nhập của người lao động, sự tăng lên về thu nhập của địa phương cũng như sự tăng lên về tổng thu nhập của các cơ sở
và hộ sản xuất nghề Hay cũng chính là sự biến đổi về cơ cấu GDP của địa phương theo hướng tiến bộ là tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ và cũng được thể hiện thông qua sự tăng trưởng kinh tế của địa phương có NNNT, thể hiện bằng tốc độ tăng số hộ khá và giàu, giảm số hộ nghèo
Phát triển bền vững là quan niệm mới của sự phát triển Nó lồng ghép quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và làm tốt hơn về môi trường: bảo
đảm những nhu cầu hiện tại mà không phương hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của tương lai Tăng thu nhập kết hợp với các chính sách môi trường và thể chế vững chắc có thể tạo cơ sở cho việc giải quyết cả hai vấn đề môi trường và phát triển Điều then chốt đối với phát triển bền vững không phải là sản xuất ít đi mà sản xuất khác đi, sản xuất phải đi đôi với việc tiết kiệm các nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường [13]
Chính vì vậy, sự phát triển NNNT yêu cầu cần sự tăng trưởng của NNNT phải đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường
Trên quan điểm phát triển bền vững, phát triển NNNT còn yêu cầu: sự phát triển phải có kế hoạch, quy hoạch; sử dụng các nguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn, nguyên liệu cho sản xuất, đảm bảo hợp lý có hiệu quả; nâng cao mức sống cho người lao động; không gây ô nhiễm môi trường; giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc,
Mỗi ngành sản xuất đều có một đặc điểm riêng, các đặc điểm đó có ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả sản xuất cũng như việc xác định kết quả và hiệu quả của ngành sản xuất đó Ngành nghề trong nông thôn mang lại lợi ích kinh tế cho người dân NT, góp phần tăng trưởng kinh tế xã hội Để đánh giá
Trang 17trình độ tổ chức, sử dụng các yếu tố sản xuất của các cơ sở cũng như các hộ làm nghề chúng ta sử dụng thước đo hiệu quả kinh tế Đó chính là hiệu quả sản xuất của các cơ sở và của các hộ làm nghề được phản ánh bằng tỷ lệ so sánh giữa chi phí bỏ ra để đầu tư cho sản xuất và thu nhập đạt được do sản xuất ngành nghề mang lại Hiệu quả ấy được phản ánh qua các chỉ tiêu: thu nhập của một công lao động làm nghề, thu nhập đạt được từ một đồng chi phí
bỏ ra hay thu nhập đạt được từ một đồng tài sản được đầu tư cho sản xuất ngành nghề
Hiệu quả chính là mục tiêu hàng đầu của mỗi đơn vị sản xuất, đó chính
là cơ sở để đơn vị sản xuất tồn tại và phát triển Hiệu quả kinh tế được định nghĩa tổng quát là một phạm trù phản ánh trình độ, năng lực quản lý sao cho
đảm bảo thực hiện có kết quả cao những nhiệm vụ kinh tế xã hội đặt ra với chi phí tối thiểu
"Hiệu quả là đặc trưng kinh tế kỹ thuật xác định bằng tỷ lệ so sánh giữa
đầu ra và đầu vào của hệ thống Đối với nền sản xuất xã hội có thể nói cụ thể hơn: Hiệu quả kinh tế của nền sản xuất xã hội phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của xã hội trong sản xuất thông qua các chỉ tiêu đặc trưng được xác
định bằng tỷ lệ so sánh giữa các chỉ tiêu phản ánh kết quả đạt được về kinh tế
so với các chỉ tiêu phản ánh chi phí bỏ ra hoặc nguồn sản xuất được huy động vào cho sản xuất"[31]
Tóm lại, hiệu quả kinh tế xã hội của việc phát triển NNNT chính là sự tương quan so sánh giữa chi phí bỏ ra với kết quả đạt được thông qua sản xuất ngành nghề Đồng thời cũng là sự tương quan so sánh giữa chi phí bỏ ra với kết quả đạt được về mặt xã hội thông qua phát triển NNNT như giải quyết vấn
đề thất nghiệp trong nông thôn, góp phần tăng trưởng nền kinh tế địa phương, bảo vệ tốt hơn môi trường sinh thái, giảm bớt sự chênh lệch giàu nghèo,
2.1.3 Vai trò của ngành nghề nông thôn
Việt Nam là một nước nông nghiệp với gần 80% dân số và trên 70% lực
Trang 18lượng lao động sống ở NT Phát triển NNNT sẽ mang lại nhiều lợi ích lớn cho
đất nước không chỉ ở chỗ tận dụng nguyên liệu tại chỗ, tận dụng lao động nông nhàn, khai thác trình độ tay nghề của người lao động, mà phát triển nghề trong nông thôn có ý nghĩa rất to lớn đối với nền kinh tế quốc dân, những đóng góp của NNNT trong việc phát triển kinh tế xã hội ở khu vực NT
đã khẳng định vai trò của thực thể kinh tế này Đó là:
* Ngành nghề nông thôn giải quyết việc làm cho lao động và sử dụng hợp lý nguồn lao động nông thôn
Phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ ở khu vực NT có nguồn gốc và liên quan đến nông nghiệp sẽ tạo ra việc làm cho
lao động NT theo hướng "ly nông bất ly h ương" Trong các ngành nghề thủ
công truyền thống, lao động sống thường chiếm tỷ lệ tới 60% đến 65% giá thành sản phẩm nên việc phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống sẽ phù hợp với yêu cầu giải quyết việc làm cho lực lượng lao động đang ngày càng dư thừa nhanh chóng ở nông thôn [30]
Hơn thế nữa, để bảo đảm tăng trưởng của ngành nông nghiệp đặc biệt là
đưa công nghệ máy móc hiện đại nhằm tăng năng suất và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp cần phải rút bớt lao động từ lĩnh vực nông nghiệp sang lĩnh vực khác Phát triển các ngành nghề, hoạt động dịch vụ ở nông thôn là cần thiết để tạo việc làm và phân bổ hợp lý lực lượng lao động nông thôn Phát triển ngành nghề ở các làng nghề đã giải quyết việc làm cho khoảng trên 5 triệu lao động, nếu tính cả các hoạt động phi nông nghiệp khác cùng phát triển với các làng nghề thì đã giải quyết việc làm cho khoảng 11 triệu lao động, chiếm gần 30% lao động trong NT cả nước, với khoảng 1,3 triệu hộ sản xuất [9] Nhiều làng nghề đã thu hút trên 60% lao động của các địa phương Việc khôi phục và phát triển các làng nghề có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết việc làm cho lao động dư thừa ở NT Vấn
đề là chính những lao động dư đó khi tận dụng sẽ tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội
và gia đình, góp phần giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội của NT, tránh được
Trang 19dòng người tự do di chuyển vào thành phố và tránh hiện tượng "Nhàn c ư vi bất thiện" đảm bảo phát huy môi trường sống lành mạnh trong NT [15]
Phát triển các hoạt động ngành nghề ở NT còn kéo theo sự phát triển của nhiều ngành nghề khác trước hết là tạo ra những việc làm gián tiếp trong các ngành, các lĩnh vực khác như giao thông vận tải, điện, nước, qua đó góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động NT từ thuần nông chuyển sang cơ cấu nông, công nghiệp, dịch vụ "NNNT được coi là động lực trực tiếp giải quyết việc làm cho lao động NT"[5]
Đồng thời với phát triển nông nghiệp, phát triển NNNT góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực của hộ, cơ sở, vùng: Đất đai được khai thác và sử dụng có hiệu quả hơn, đặc biệt là về mặt lợi thế so sánh; nguồn nguyên liệu đặc biệt là nông sản phẩm được thu hút cho ngành nghề chế biến; huy động được những nguồn vốn nhàn rỗi trong nông thôn Ngoài ra NNNT còn huy động nguồn lực từ nơi khác, các vùng địa phương xung quanh để đưa vào sử dụng có hiệu quả
* Ngành nghề nông thôn góp phần tăng thu nhập, tạo nguồn tích luỹ cho nông dân
Sự phát triển NNNT làm cho thu nhập của người dân tăng lên, đa dạng hơn Các hộ gia đình bên cạnh nguồn thu từ sản xuất nông nghiệp, họ còn có thêm nguồn thu nhập từ sản xuất các ngành nghề và thực tế đã cho thấy đa số các ngành nghề đem lại hiệu quả kinh tế cao cho hộ, góp phần nâng cao đời sống cư dân nông thôn Theo kết quả điều tra NNNT năm 1997 thì thu nhập của những hộ có thu từ ngành nghề gấp từ 2 đến 4 lần so với hộ thuần nông và các làng nghề hầu như không có hộ đói [5] Nguồn thu nhập tăng lên từ sản xuất phi nông nghiệp sẽ là điều kiện để người nông dân gia tăng tích luỹ, tiết kiệm và đầu tư lại vào sản xuất Khả năng tích luỹ được tạo ra từ một lao động ngành nghề tuy chưa lớn nhưng cũng cao hơn rõ rệt so với các hộ nông nghiệp thuần [22] Tỷ lệ tích luỹ trong NT tăng từ 5,2% năm 1990 lên 10% năm
Trang 201995, về số tuyệt đối tính theo giá thực tế từ 872 tỷ đồng (1990) lên 953,37 tỷ
đồng (1995) tương ứng 1 tỷ USD theo tỷ giá hối đoái [24]
* Ngành nghề nông thôn góp phần tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đào tạo
và cung cấp lực lượng lao động có tay nghề, kỹ năng giỏi cho xã hội
Sự hình thành, mở rộng và phát triển các ngành nghề có vai trò quan trọng đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH - HĐH [29] Nó được coi là động lực chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội NT theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ Phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển toàn diện, chuyển
NT từ cơ cấu kinh tế thuần nông và lấy sản xuất lương thực là chính sang một cơ cấu mới: nông, công nghiệp, dịch vụ để khai thác tốt các tiềm năng tại khu vực NT Việc phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp NT tác động tích cực tới nông nghiệp, làm thay đổi tính chất và trình độ nông nghiệp Theo báo cáo đánh giá thực trạng phát triển NNNT của Bộ NN&PTNT, GDP của tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ tăng lên trong tổng GDP được tạo ra ở NT và tăng từ 26,8% năm 1990 lên 35,5% năm 1996 Cơ cấu lao động ngành nghề phi nông nghiệp thời kỳ này tăng từ 20 đến 29,5% [6] Khối lượng sản phẩm hàng hoá do các NNNT sản xuất ra đã đáp ứng được nhu cầu trong nước và một phần cho xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội ở các địa phương Tại các làng nghề, cơ cấu kinh tế chuyển dần theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, cơ cấu lao động cũng dịch chuyển theo hướng tăng dần tỷ trọng lao động phi nông nghiệp, giảm dần
tỷ trọng lao động thuần nông Tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm từ 80% năm
1994 xuống 70% năm 2001, tương tự lao động phi nông nghiệp ở NT đã tăng từ 20% năm 1994 lên 30% năm 2001 [9]
Trong điều kiện lao động thủ công là chính của các làng nghề thì kinh nghiệm sản xuất là yếu tố ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất Do vậy, phát huy
Trang 21kinh nghiệm cổ truyền và kỹ năng kỹ xảo của người lao động có tay nghề là vấn
đề chất lượng trong việc sử dụng lao động, giúp cho việc phát huy thế mạnh của lao động có tay nghề cao, giúp cho họ có điều kiện làm ra nhiều sản phẩm kinh
tế và truyền lại bí quyết nghề nghiệp cho các thế hệ sau Hơn nữa, để nâng cao sức cạnh tranh, các ngành phải được tiến hành trên cơ sở ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới, công nghệ hiện đại Sự kết hợp giữa công nghệ truyền thống và công nghệ hiện đại đã tạo ra năng suất, chất lượng sản phẩm cao hơn hẳn so với sản xuất thủ công Từ đó, lao động trong các làng nghề cũng sẽ có điều kiện tiếp xúc với khoa học công nghệ hiện đại, có điều kiện học tập nâng cao tay nghề
* Ngành nghề nông thôn sẽ tăng cường đóng góp cho ngân sách địa phương, thúc đẩy kết cấu hạ tầng nông thôn phát triển theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
Ngân sách địa phương sẽ có những nguồn thu mới từ sản xuất ngành nghề
NT và các hoạt động dịch vụ thông qua thuế, các dự án đầu tư, và đây sẽ là cơ
sở để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng NT phục vụ sản xuất và đời sống Nhờ đó
mà hệ thống cơ sở vật chất trong xóm làng như đường sá, điện, nước sạch, trường học, trạm xá và nhiều công trình xã hội khác được nâng cấp Mặt khác, từ đó các
địa phương có làng nghề phát triển có nguồn kinh phí cho việc thực hiện các hoạt
động sinh hoạt văn hoá và tăng cường giao lưu, tiếp thu văn minh tiến bộ của nhân loại Kinh tế hộ gia đình phát triển sẽ thúc đẩy mở rộng các hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm để xây dựng kết cấu hạ tầng NT Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, vốn đầu tư của nhân dân hàng năm là 10.000 tỷ đồng, cao gấp 3 lần so với vốn đầu tư của Nhà nước Và khi cơ sở hạ tầng NT phát triển sẽ tạo điều kiện để sản xuất nông nghiệp và NNNT ứng dụng các tiến bộ khoa học
kỹ thuật mới, công nghệ hiện đại, mở rộng sản xuất và giao lưu kinh tế Từ đó các làng nghề không thể giữ nguyên mọi trạng thái lạc hậu về công cụ mà điều cần thiết là thay thế lao động thủ công ở một số khâu công việc nặng nhọc, tiêu tốn nhiều sức lao động và độc hại nhưng vẫn giữ được tính chất truyền thống từ
Trang 22những bí quyết của công nghệ truyền thống trong việc tạo ra sản phẩm Chính vì vậy mà đã nâng cao năng suất lao động, tạo nên thu nhập cao cho người dân NT
* Ngành nghề nông thôn tạo ra các công cụ sản xuất và giải quyết đầu
ra cho sản xuất nông nghiệp
Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp chế tạo ra những công cụ cần thiết cho sản xuất nông nghiệp từ đơn giản đến phức tạp Hiện nay nền nông nghiệp nước ta còn lạc hậu, yêu cầu đặt ra là công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp nông thôn phải thúc đẩy quá trình cơ giới hoá trong nông nghiệp, nhanh chóng đưa công nghệ máy móc hiện đại vào sản xuất Bên cạnh đó nghề chế biến nông sản, thuỷ hải sản vừa sử dụng sản phẩm nông nghiệp, ngư nghiệp làm nguyên liệu chế biến, nâng cao giá trị cho các sản phẩm nông nghiệp, ngư nghiệp, vừa cung cấp phụ phẩm phục vụ chăn nuôi Trong các làng nghề chế biến, chăn nuôi có điều kiện phát triển, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Phát triển ngành nghề chế biến là hướng đi chiến lược để đưa nền nông nghiệp nước ta phát triển theo hướng CNH, HĐH
2.1.4 Những đặc điểm của ngành nghề nông thôn nước ta hiện nay
2.1.4.1 Đặc điểm của sản phẩm
Sản phẩm của NNNT là sản phẩm hàng hoá nhưng lại hoàn toàn khác với sản phẩm công nghiệp: sản phẩm công nghiệp được sản xuất ra hàng loạt nhưng sản phẩm của NNNT lại được sản xuất đơn lẻ, thậm chí là độc đáo hay
là độc nhất vô nhị Hơn nữa một số sản phẩm của NNNT lại được tạo ra bởi bàn tay của các nghệ nhân tài hoa, sản phẩm ấy còn mang theo cả tính bí truyền của nghề nghiệp vào giá trị sản phẩm Những sản phẩm ở mỗi nơi, mỗi làng nghề lại nổi tiếng với những nét độc đáo riêng
Sản phẩm của NNNT có chu kỳ sản xuất ngắn, sản phẩm thường là hàng tiêu dùng, ít làm tư liệu sản xuất Hàng hoá của NNNT thường vượt ra khỏi những lợi ích kinh tế thông thường, nó chứa đựng cả những giá trị về bản sắc văn hoá dân tộc
Trang 232.1.4.2 Đặc điểm về lao động và sử dụng lao động
Công việc của các NNNT có nhiều công đoạn phù hợp với các đối tượng khác nhau nên có thể tận dụng được nhiều loại lao động trên địa bàn NT và ngay trong hộ lao động được chia ra làm hai loại: lao động gia đình và lao động làm thuê với trình độ khác nhau Quy mô lao động nhỏ, số lao động bình quân của 1 hộ có khoảng từ 3 - 4 lao động thường xuyên và 2 - 3 lao động thời vụ, ở
1 cơ sở sản xuất thì bình quân có 26 - 28 lao động thường xuyên và 8 - 10 lao
động thời vụ Một phần lao động ở các làng nghề có trình độ hoá không cao và
ít được đào tạo về chuyên môn, chủ yếu làm việc theo hướng dẫn trực tiếp Tỷ
lệ lao động chưa qua đào tạo là 35% ở các cơ sở, còn ở hộ là 54 - 78% [6] Nhưng bên cạnh đó lại có những nghệ nhân có trình độ tay nghề rất cao, họ
được học việc từ nhỏ Lao động sử dụng thường xuyên của hộ chuyên đều lớn hơn lao động hộ 27,2% (Phía Bắc 28,8%, Phía Nam 25,8%) Một số tỉnh như Bắc Ninh, Nam Định, Hà Tây, Ninh Bình, Quảng Nam, Lâm Đồng, Đắc Lắc, các tỉnh Nam Bộ tỷ lệ lao động thuê ngoài của các hộ chuyên còn cao hơn, làm cho thị trường lao động NT phát triển Đẩy mạnh ngành nghề tăng quy mô lao động trong các hộ chuyên là một trong những giải pháp quan trọng để thu hút lao động dư thừa trong NT đồng thời tạo điều kiện để hộ chuyên phát triển thành các doanh nghiệp có quy mô sản xuất và khả năng cạnh tranh lớn hơn nhằm phát triển các NNNT theo hướng CNH [5]
Lao động trong các NNNT chủ yếu là lao động thủ công Lực lượng lao
động tại các NNNT lại được phân ra thành các trình độ khác nhau Căn cứ theo trình độ tay nghề và công việc mà người ta phân công lao động trong các làng nghề ra thành các loại: nghệ nhân, thợ giỏi, lao động có kỹ thuật, lao
động phổ biến và lao động tận dụng [26]
2.1.4.3 Đặc điểm nhà xưởng, thiết bị và công nghệ
Về nhà xưởng sản xuất của các ngành nghề trong nông thôn nhìn chung còn rất đơn giản và nhỏ bé, chủ yếu theo hướng tận dụng mặt bằng hiện có
Trang 24của hộ, thậm chí nơi sản xuất cũng chính là nơi ở, nơi làm việc, nơi nghỉ ngơi Công cụ phần lớn là thủ công và có sự khác biệt lớn giữa các cơ sở sản xuất (các doanh nghiệp, các công ty) và các hộ sản xuất
Ngày nay, công cụ và trang thiết bị của NNNT có một phần được cải tiến, có
sự trang bị máy móc vào một số khâu công việc của quá trình sản xuất Đối với những nét tinh tế thì vẫn sử dụng công cụ thủ công là chủ yếu Theo số liệu báo cáo chung của Bộ NN&PTNT và của một số nhà nghiên cứu về NNNT cho thấy sản xuất ở các làng nghề vẫn chủ yếu là thủ công chiếm đến 79% số hộ, mức độ cơ khí hoá còn thấp, mới chỉ đạt 37 - 40% nhưng chỉ là những thiết bị cũ và lạc hậu, 86% trong số các thiết bị ấy mà cơ sở sản xuất và hộ sử dụng đều là thiết bị loại thải từ công nghiệp thành thị [9] Sự yếu kém về nhà xưởng, công nghệ, thiết bị như hiện nay, công nghiệp nông thôn gặp khó khăn lớn trong việc cạnh tranh với sản phẩm cùng loại của công nghiệp thành thị cũng như hàng ngoại nhập tràn lan
Công nghệ ở NNNT được tích luỹ chủ yếu ở trong những người dân bởi nó không dễ bắt chước mà nó là công nghệ gắn với tính truyền thống Do vậy để học
được việc tại các làng nghề truyền thống người thợ học việc phải gian nan trải qua nhiều công việc tưởng chừng như không liên quan đến nghề nghiệp Có những làng nghề phát triển đã ứng dụng một số công nghệ mới vào sản xuất, đã có tác dụng nhiều đến sản xuất, đặc biệt là giải phóng lao động khỏi những khâu nặng nhọc, độc hại, nâng cao năng suất lao động, giảm ô nhiễm môi trường Việc cải tiến công nghệ sản xuất trong NNNT cần phải được nghiên cứu thận trọng và kỹ lưỡng bởi nó luôn gắn liền với tính truyền thống mà không thể phổ biến rộng rãi
Đây cũng chính là đặc điểm phân biệt giữa hệ thống công cụ và công nghệ của ngành nghề trong nông thôn và sản xuất công nghiệp Thực tế cho thấy phát triển ngành nghề nông thôn theo hướng CNH thông qua phát triển mạng lưới điện, thực hiện điện khí hoá Việc áp dụng công nghệ phải tính đến yếu tố thích ứng của kỹ thuật nhằm sử dụng đầy đủ và hiệu quả lao động NT hơn là áp dụng kỹ thuật hiện
đại theo hướng vốn đầu tư lớn mà ít sử dụng lao động [5]
Trang 252.1.4.4 Vốn và quan hệ tín dụng
Việc xác định lượng vốn cho phát triển NNNT là một điều khó, tuy nhiên có thể thấy rằng vốn đầu tư cho phát triển NNNT ở các nông hộ còn quá nhỏ bé, thiếu, làm hạn chế khả năng đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm và
mở rộng sản xuất Song cá biệt có những ngành nghề có vốn đầu tư tương đối lớn, số vốn đó lên đến hàng trăm triệu đồng, thậm chí là hàng tỷ đồng ở các
hộ đang có xu hướng phát triển thành các doanh nghiệp Đây là những cơ sở
có nhu cầu trang bị mới thiết bị và mở rộng quy mô sản xuất Bình quân một cơ sở sản xuất tại các làng nghề truyền thống ở vùng đất cổ Kinh Bắc là 184,57 triệu đồng trong đó vốn tự có của các cơ sở là 88,1%[16]
Quan hệ tín dụng tại các ngành nghề được thể hiện ở mức độ vay vốn của các hộ, các cơ sở sản xuất Nhìn chung, tỷ lệ được vay vốn của các cơ sở sản xuất ngành nghề còn ít Mức vay ở các cơ sở sản xuất của quốc doanh thường cao hơn ở các cơ sở tư nhân và các hộ gia đình Có 41,48% số cơ sở sản xuất được vay vốn với mức vay là trên 36 triệu đồng/cơ sở, trong khi đó ở các số hộ số liệu tương ứng là 21,98% và dưới 10 triệu đồng [6]
2.1.4.5 Nguyên liệu đầu vào và thị trường tiêu thụ sản phẩm
Nguyên liệu sản xuất của các NNNT chủ yếu được lấy từ địa phương và trong nước Đó là các sản phẩm của nông nghiệp, nông sản, thậm chí là các phế phẩm của sản xuất nông nghiệp Một phần nhỏ nguồn nguyên liệu này được nhập
từ nước ngoài, chủ yếu phục vụ cho việc cải tiến mẫu mã sản phẩm, hoàn thiện sản phẩm và thay đổi trang thiết bị công nghệ Hầu hết nguồn nguyên liệu để sản xuất sản phẩm truyền thống được lấy từ tự nhiên (kim loại, đất sét, cao lanh, gỗ, mây, tre, song, đá, lá cây, sợi, rơm, ) Việc tổ chức khai thác nguyên liệu này chưa tốt
Do quá trình khai thác cho sản xuất ngày càng nhiều nên nguồn nguyên liệu ngày càng khan hiếm, nơi cung cấp nguyên liệu ngày càng xa nơi sản xuất Các nguyên liệu đặc biệt quý hiếm cho sản xuất nghề ngày càng trở nên cạn kiệt như các loại
gỗ quý và đã gây cản trở không nhỏ đối với sản xuất của một số làng nghề gỗ mỹ
Trang 26nghệ Sự khan hiếm nguyên liệu và sự khai thác bất hợp pháp các nguyên liệu quý
ở trên thị trường đã làm cho giá cả các nguyên liệu này không ổn định, sản xuất kém chủ động Từ đó kéo theo giá thành sản phẩm tăng lên
Sản phẩm của NNNT chủ yếu được tiêu thụ ở trong nước (có đến 80% sản phẩm của ngành nghề) Số sản phẩm còn lại tham gia xuất khẩu thì chủ yếu thuộc hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống Sản phẩm của NNNT nhìn chung còn đơn điệu, chất lượng chưa cao, mẫu mã bao bì chưa hấp dẫn, chưa theo kịp với sự phát triển của đời sống xã hội trong nước cũng như chưa đáp ứng được thị hiếu tiêu dùng của người nước ngoài [7]
Người tiêu dùng sản phẩm này thì luôn tìm tòi, khám phá những nét tinh tuý, nét văn hoá độc đáo được thể hiện ở trên mỗi sản phẩm Do sản phẩm NNNT chủ yếu là sản phẩm hàng hoá, chu kỳ sản xuất ngắn nên khi sản phẩm
bị ế đọng không bán được sẽ có tác động ngay đến sản xuất và đời sống của người dân làm nghề Hơn nữa, sản phẩm của ngành nghề này luôn hiện tượng
ép cấp, ép giá của tư thương gây thiệt thòi cho người sản xuất Một điểm khác nữa đối với sản phẩm của NNNT là sản phẩm chủ yếu là hàng tiêu dùng, ít làm tư liệu sản xuất, cho nên việc nắm bắt được thị hiếu của người tiêu dùng
và đồng thời luôn tìm cách đáp ứng được những thay đổi của người tiêu dùng
sẽ là vấn đề hết sức cần thiết cho quá trình tiêu thụ sản phẩm
2.2 Thực tiễn phát triển ngành nghề nông thôn
2.2.1 Thực tiễn phát triển ngành nghề nông thôn ở trên thế giới
Quá trình CNH đất nước bắt đầu từ các nước phương Tây Các nước này tập trung xây dựng các xí nghiệp CNH ở các đô thị và duy trì nông thôn với nền nông nghiệp cổ truyền Với lý luận công nghiệp đô thị phát triển đến trình
độ cao sẽ tạo ra đòn bẩy thúc đẩy công nghiệp NT phát triển theo [17] Nhiều nước đi theo thuyết trên cuối cùng đã không đạt được kết quả như mong muốn nên dần dần chuyển sang phát triển công nghiệp đồng thời cả thành thị và lẫn nông thôn Sản xuất nông nghiệp của nhiều nước được tiến hành theo quy mô
Trang 27các nông trại, các nông trại ban đầu thì sản xuất ra các loại nông sản nhưng dần dần đều đẩy mạnh phát triển các hoạt động ngành nghề, dịch vụ Số nông trại có thu nhập ngoài sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng đã góp phần quan trọng vào quá trình CNH nông thôn cũng như CNH đất nước Cụ thể:
ở Đài Loan, phát triển công nghiệp không chỉ tập trung ở các trung
tâm đô thị mà trải đều trên khắp đảo, từ các thành phố đến các thị trấn NT Bên cạnh đó, chính sách của chính quyền cũng hỗ trợ các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp NT phát triển Nhờ đó công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
NT của Đài Loan phát triển mạnh mẽ, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, là nguồn thu ngoại tệ quan trọng tài trợ cho quá trình CNH, tạo công ăn việc làm, cải thiện thu nhập cho khu vực NT, và giảm khoảng cách giữa nông thôn
và thành thị Trong thập kỷ 60, công nghiệp NT của Đài Loan đã đóng góp 60% thu nhập cho khu vực NT, tạo công ăn việc làm cho khoảng 20% lao
động NT và đóng góp 60% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu cả nước
Thu nhập trong các hoạt động công nghiệp tăng lên, thu hút nhiều lao
động ra khỏi các hoạt động nông nghiệp Giai đoạn thập kỷ 60 - 70, tỷ lệ lao
động NT trong các hoạt động phi nông nghiệp của Đài Loan tăng từ 35% lên 65%, lao động trong nông nghiệp giảm từ 45% xuống còn 29%, nhờ lao động
được rút bớt khỏi nông nghiệp nên năng suất lao động và quy mô sản xuất nông nghiệp tăng, thu nhập của nông dân dẫn đến tăng tiết kiệm để tái đầu tư vào nông nghiệp và các hoạt động công nghiệp nông thôn
Trong thập kỷ 80, Đài Loan thực hiện một số chương trình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở NT Hệ thống chính sách mới được ban hành phục vụ mục tiêu trên là: khuyến khích đầu tư; Cải thiện công nghệ quản lý; Thiết lập các khu công nghiệp và chế xuất nhằm nâng cao trình độ công nghệ và tiêu chuẩn hoá sản phẩm của các doanh nghiệp Trong các chính sách trên, quan trọng nhất là việc chính quyền và tư nhân đầu tư và phát triển các khu công nghiệp, chế biến xuất khẩu ở các thị trấn nông thôn
Trang 28Năm 1995, Đài Loan phát triển 95 cụm công nghiệp với diện tích 13.003 ha
và 3 khu chế xuất có tổng diện tích 192 ha Ba khu chế xuất có 235 doanh nghiệp với tổng số vốn đầu tư là 1,26 tỷ USD Tính đến năm 1996, tổng kim ngạch xuất khẩu của các khu chế xuất đạt 56,15 tỷ USD, riêng năm 1996 kim ngạch xuất khẩu đạt 6,3 tỷ USD, chiếm 18% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu, thu hút 55 ngàn lao động [2] Do vậy, bình quân nông hộ ở Đài Loan có 5,1 người và chỉ có 1,5 lao động làm nông nghiệp Số trang trại thuần nông chỉ chiếm 10% và số thu nhập ngoài nông nghiệp của trang trại bình quân chiếm 62% tổng thu nhập [12]
Nhật Bản là một trong những nước có trình độ sản xuất hiện đại vào bậc nhất thế giới nhưng NNNT vẫn được chú trọng duy trì và phát triển ở Nhật Bản rất chú trọng trong việc phát triển các xí nghiệp vừa và nhỏ ở thị trấn, thị tứ, ở NT để làm vệ tinh cho các xí nghiệp ở đô thị lớn Ngành nghề thủ công vẫn được quan tâm
ở Nhật Bản, với phong trào mỗi làng một sản phẩm từ năm 1945 đến năm
1990, số trang trại chuyên làm nông nghiệp giảm từ 53,5% xuống 12%; số hộ chỉ làm một phần nông nghiệp tăng từ 46,5% đến 88% Có 62% nông trại không có lao động nông nghiệp thường xuyên, mà chỉ hoạt động với lao động ngoài nông nghiệp tham gia vào sản xuất nông nghiệp Đây là những trang trại kiểu đặc biệt, kiểu Nhật Bản, đất đai canh tác ít, người trong nông hộ phải đi làm việc khác, chỉ khi nào rỗi mới về trang trại, mà các tác giả phương Tây đã gọi là "trang trại ngày chủ nhật", do thường hoạt động vào ngày nghỉ Tỷ lệ thu nhập từ nông nghiệp của các nông trại Nhật Bản cũng giảm dần, trong khi thu nhập từ ngoài nông nghiệp tăng lên [12]
Từ năm 1970, Nhật Bản đẩy mạnh tiến trình CNH nông thôn Thu nhập của nông dân tăng nhanh do chính sách phi tập trung hoá công nghiệp, đưa sản xuất công nghiệp về NT Cơ cấu kinh tế NT thay đổi, tỷ lệ đóng góp của các ngành phi nông nghiệp trong thu nhập dân cư NT ngày càng tăng (năm 1950 phi nông nghiệp
đóng góp 29%, năm 1990 chiếm 85% tổng thu nhập hộ nông dân) Năm 1990 phần thu nhập phi nông nghiệp cao hơn 5 đến 6 lần phần thu từ nông nghiệp Tính
Trang 29cả thu nhập từ nông nghiệp và phi nông nghiệp, thu nhập của nông dân tính theo
đầu người hay bình quân hộ đều cao hơn thu nhập hộ công nhân đô thị [2]
Như vậy, cho dù là một đất nước có nền công nghiệp HĐH và phát triển mạnh như ở Nhật Bản thì NNNT vẫn được tồn tại, bảo tồn, phát huy và phát triển có trật tự trong nông thôn dưới sự hỗ trợ to lớn và có hiệu quả trên mọi phương diện của Chính phủ Nay Nhật Bản đã có nhiều mặt hàng dân dụng
được sản xuất bằng phương pháp kỹ thuật truyền thống, góp phần làm phong phú sản phẩm hàng hoá và phát triển kinh tế của đất nước, của khu vực
ở Trung Quốc con đường CNH đã đạt được nhiều thành tích đáng học tập, từ phong trào những "đốm lửa nhỏ" trong nông thôn đến chiến lược CNH, HĐH theo kiểu "xây dựng công nghiệp h ương trấn" (hương là xã, trấn là thị
trấn) [17] Trung Quốc đã thực hiện thành công CNH đất nước ở thành thị lẫn nông thôn giải quyết được việc làm cho nông dân Tạo ra lượng sản phẩm hàng hoá công nghiệp lớn ngay tại địa bàn nông thôn phục vụ cho tiêu dùng ở trong nước và xuất khẩu được thị trường các nước rất ưa chuộng nhờ mẫu mã
đẹp, giá cả hợp lý Giải quyết được nhiều vấn đề về xã hội, về môi trường mà các nước khi thực hiện CNH thường gặp phải Năm 1988 ở nông thôn lao
động công nghiệp và dịch vụ đã tăng từ 7,2% lên 23,8% thu nhập ngoài nông nghiệp từ 7% tăng lên 27,3% và giá trị công nghiệp dịch vụ ở nông thôn từ 11,7% tổng giá trị sản lượng đã tăng lên 53,5%
Phát triển công nghiệp nông thôn có ý nghĩa rất quan trọng đến xoá đói nghèo ở Trung Quốc Do các doanh nghiệp NT thu hút trên 20% lao động NT nên thu nhập tăng từ việc tham gia các hoạt động công nghiệp NT giúp nâng cao đời sống của khu vực NT Trong giai đoạn 1978 - 1996, tính theo giá 1997, thu nhập trên đầu người một năm trong các doanh nghiệp NT đã tăng 12 lần, từ 307 NDT lên 3.950 NDT Do đó, chỉ trong vòng chưa đầy 10 năm từ 1978 đến 1985, tỷ lệ nghèo
đói của Trung Quốc đã giảm 2,7 lần và Trung Quốc được đánh giá là nước thành công nhất trong số các nước đang phát triển trong công tác xoá đói nghèo [2]
Trang 30Trong thành công của công cuộc cải cách nông nghiệp và nông thôn Trung Quốc, phát triển công nghiệp nông thôn là nhân tố nổi bật Sự phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp nông thôn đã làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt nông thôn và đóng góp rất lớn đến sự tăng trưởng phát triển của toàn bộ nền kinh tế Những đóng góp quan trọng của công nghiệp NT bao gồm: đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tăng thu nhập của nông dân, tạo công
ăn việc làm cho lao động dư thừa ở NT, thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn
và thành thị, đóng góp vào GDP và là nguồn thu ngoại tệ quan trọng Có thể nói rằng sự phát triển mạnh mẽ các doanh nghiệp nông thôn của Trung Quốc
tạo nên thành công cho chính sách "ly nông bất ly h ương", phần lớn cư dân
nông thôn vẫn có thể làm giàu bằng các ngành nghề công nghiệp và dịch vụ trên chính quê hương mình
Thái Lan là một nước trong khu vực Đông Nam á cùng với Việt Nam Trong quá trình CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn, Chính phủ Thái Lan đã rất chú ý phát triển các lĩnh vực phi nông nghiệp nhằm thực hiện có hiệu quả quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Do vậy mà các ngành nghề
NT được khôi phục và phát triển mạnh, đặc biệt là lĩnh vực chế biến nông sản Chế biến nông sản đã trở thành thế mạnh của Thái Lan, được thế giới biết đến
Đồng thời ngành chế biến nông sản truyền thống của Thái Lan có tác dụng tốt
đối với sản xuất nông nghiệp, giúp nông dân giải quyết tốt đầu ra, nâng cao thu nhập cho nông dân NT [4] Cho đến nay 95% hàng xuất khẩu của Thái Lan là đồ dùng trang trí nội thất và lưu niệm [17] Các NNNT của Thái Lan
đã góp phần không nhỏ trong quá trình tạo việc làm, tăng thu nhập cho dân cư nông thôn Thái Lan
ấn Độ là một quốc gia có dân số đông thứ 2 thế giới sau Trung Quốc,
dân cư tập trung chủ yếu ở nông thôn, đời sống nông dân gặp nhiều khó khăn Vấn đề phát triển tiểu thủ công nghiệp và NNNT ở ấn Độ lúc đầu cũng có nhiều thiếu sót, chỉ quan tâm đến phát triển công nghiệp lớn Sau nhận thức
Trang 31được thiếu sót đó, Chính phủ đã kịp thời quan tâm đến phát triển tiểu thủ công nghiệp và đã lập nên mạng lưới các viện (lúc đầu có 4 viện, sau lập lên 16 viện) để phụ trách chương trình phát triển tiểu thủ công nghiệp
Đến năm 1960 chương trình đã xây dựng được 36.457 cơ sở TTCN Năm 1973 trở đi mỗi năm Chính phủ lựa chọn ra thợ giỏi và cấp cho mỗi người 500 rupi/tháng để khuyến khích họ nâng cao tay nghề và đã có 227 nghệ nhân được hưởng khoản trợ cấp này [14] TTCN ấn Độ đã góp phần to lớn vào công cuộc tạo dựng việc làm cho người dân trong đó đa số là dân cư nông thôn, góp phần tạo ra thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân đất nước đông dân số này Hiện nay Chính phủ ấn Độ đã xây dựng
được một hệ thống tổ chức chuyên ngành có khả năng phát triển TTCN vững chắc, lâu dài trên phạm vi cả nước [35]
ở Inđônêxia chương trình phát triển NNNT được Chính phủ hết sức quan
tâm và được thể hiện thông qua kế hoạch 5 năm một lần với 3 giai đoạn như sau:
Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất là xây dựng các xưởng sản xuất, các trung tâm để bán hàng TTCN
Kế hoạch 5 năm lần thứ hai là thực hiện các dự án hướng dẫn và phát triển công nghiệp nhỏ, nhằm giáo dục, đào tạo, mở mang các hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp nhỏ
Kế hoạch 5 năm lần thứ ba là Chính phủ trực tiếp tổ chức một số cơ quan để quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ cung cấp vật tư, thiết bị, tiêu thụ sản phẩm
Đồng thời Chính phủ Inđônêxia đã đứng ra tổ chức các trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, đề ra các chính sách khuyến khích, hỗ trợ công nghiệp nhỏ phát triển như chính sách ưu đãi thuế, ưu tiên chế biến nông sản xuất khẩu
"Hội đồng thủ công nghiệp quốc gia" được tổ chức để chỉ đạo và thúc đẩy nghề TTCN phát triển với các việc làm như: tổ chức nghiên cứu và trưng bày mẫu mã, tổ chức hội chợ triển lãm ở nông thôn
Theo ghi nhận của tác giả Nguyễn Điền: ở đảo Java (Inđônêxia) có 10
Trang 32làng nghề và 44% lao động NT có tham gia hoặc ít nhiều có tham gia vào hoạt
động kinh tế ngoài nông nghiệp này Thu nhập của nông dân ở đây từ nguồn ngoài nông nghiệp tăng từ 12% đến 23% tổng thu nhập của họ [17]
ở Philippin trên cơ sở phát triển ngành nghề TTCN và CNNT, Chính phủ
Philippin đã luôn quan tâm đến vấn đề CNH nông thôn Từ 1978 - 1982, Chính phủ đã đề ra chương trình và dự án phát triển CNNT trước hết là tập trung vào nghề TTCN sản xuất hàng tiêu dùng đơn giản, chế biến thực phẩm và chế tạo công
cụ cho sản xuất nông nghiệp Với các chính sách hỗ trợ hợp lý của Chính phủ là tài chính, tín dụng, thuế, công nghệ, thông tin và xuất khẩu Ngành nghề chế biến nông sản và thực phẩm của Philippin được chủ ý hơn cả, đặc biệt là ngành chế biến gọi là NATA (chế biến nước dừa tinh khiết) đã là món ăn lâu đời của người dân nơi đây Cả nước có trên 300 cơ sở chế biến NATA cung cấp cho công ty thực phẩm Inter Food để xuất khẩu Năm 1993, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm này của Philippin đạt 14 triệu USD trong đó 85% được xuất sang Nhật [28]
Qua nghiên cứu thực tiễn phát triển NNNT của các nước, chúng tôi rút
ra một số kinh nghiệm cho Việt Nam như sau:
- Muốn phát triển NNNT trước hết phải chú ý phát triển làng nghề và ngành nghề truyền thống Từ đó tạo thị trường nông thôn rộng lớn cho các sản phẩm phi nông nghiệp và dịch vụ, góp phần thúc đẩy làng nghề phát triển theo hướng CNH Để tăng năng suất lao động và giảm lao động nặng nhọc, nhiều ngành nghề cổ truyền đã trang bị một phần máy móc thiết bị cơ khí và nửa cơ khí, kết hợp bàn tay điêu luyện và khối óc sáng tạo của các nghệ nhân Vì thế các ngành nghề thủ công mỹ nghệ cổ truyền đang có điều kiện phát triển mạnh Chính điều này đã tạo điều kiện để nông nghiệp tiếp cận kỹ thuật tiên tiến, làm quen với tác phong sản xuất công nghiệp
- Đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực ở NT có vai trò quan trọng đối với
sự phát triển của NNNT Các nước đều chú ý cho đầu tư giáo dục và đào tạo tay nghề cho người lao động để họ tiếp thu được kỹ thuật tiên tiến Các nước đều sử
Trang 33dụng các phương pháp huấn luyện tay nghề cho người lao động như: bồi dưỡng tại chỗ, bồi dưỡng tập trung, bồi dưỡng ngắn hạn, theo phương châm thiếu gì huấn luyện đấy Đồng thời tiến hành lập các trung tâm, các viện nghiên cứu để
đào tạo nghề một cách có hệ thống mà các cơ sở sản xuất hoặc các địa phương có nhu cầu Ngoài ra các nước cũng rất chú ý đến kinh nghiệm thực tiễn, tức là mới các nhà kinh doanh, nhà quản lý có kinh nghiệm trong việc CNH nông thôn để báo cáo những chuyên đề hoặc mang các sản phẩm đi triển lãm, trao đổi,
- Vai trò của Nhà nước trong việc giúp đỡ, hỗ trợ về mặt tài chính, vốn cho các làng nghề truyền thống phát triển sản xuất kinh doanh Sự hỗ trợ về vốn, tài chính của Nhà nước thông qua các dự án cấp vốn, bù lãi suất cho ngân hàng, bù giá đầu ra cho người sản xuất Thông qua sự hỗ trợ, giúp đỡ này mà các làng nghề truyền thống lựa chọn các kỹ thuật gắn với lựa chọn hướng sản xuất Nhà nước tạo
điều kiện cho các ngành, nghề thủ công truyền thống đổi mới công nghệ, mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường
- Nhà nước có chính sách thuế và thị trường phù hợp để thúc đẩy làng nghề truyền thống phát triển Đi đôi với việc hỗ trợ về tài chính, tín dụng là chính sách thuế và thị trường của Nhà nước để khuyến khích ngành nghề truyền thống phát triển
- Khuyến khích sự kết hợp giữa đại công nghiệp với NNNT, giữa trung tâm công nghiệp với làng nghề truyền thống, thúc đẩy nhau cùng phát triển
Sự kết hợp giữa đại công nghiệp với NNNT và trung tâm công nghiệp với làng nghề truyền thống là thể hiện sự phân công lao động, thông qua hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau, nhất là trong vấn đề lựa chọn kỹ thuật và lựa chọn hướng sản xuất
Để tạo dựng cho mối quan hệ này, ở hầu hết các nước đều thiết lập chương trình kết hợp giữa các trung tâm công nghiệp với làng nghề truyền thống [23]
2.2.2 Thực tiễn phát triển ngành nghề nông thôn ở Việt Nam
Cùng với sản xuất nông nghiệp, hoạt động ngành nghề, dịch vụ được hình thành và phát triển trong các hộ gia đình nông dân nước ta từ lâu đời Khó có thể
Trang 34xác định được thời gian xuất hiện chính xác của các NNNT và các làng nghề Việt Nam nhưng có thể khẳng định đây là những nghề, những làng nghề đã xuất hiện rất lâu và góp phần không nhỏ đến sự phát triển kinh tế của đất nước [11]
Từ thời Bắc thuộc (thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ IX), bên cạnh nông nghiệp các ngành thủ công nghiệp và thủ công mỹ nghệ cũng được mở mang như: ươm tơ, dệt lụa, kéo sợi, dệt vải, gốm sứ, đúc đồng, rèn sắt, làm đường, làm muối [12]
Từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIX ở nước ta nhiều trung tâm thủ công nghiệp ở nông thôn được hình thành và phát triển trở thành những làng nghề, phường thủ công , đã tổ chức ra các xưởng thủ công tập trung, ban hành những quy định về
mở chợ, họp chợ và tạo điều kiện cho chợ phát triển, thúc đẩy lưu thông [12]
Từ sau năm 1945 đến trước ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ở miền Bắc với phong trào hợp tác hoá cao độ hoạt động ngành nghề, dịch vụ ở
hộ nông dân hầu như không được phát triển ở miền Nam, nông dân tự bỏ vốn
đầu tư trang bị và sử dụng các loại máy nông nghiệp, dần dần hình thành một lực lượng dịch vụ cơ khí tư nhân ở nông thôn Các hộ nông dân ở miền Nam
có máy kéo và máy nông nghiệp đã đi làm đất, bơm nước, đập lúa thuê, xay xát và đã xuất hiện các điểm tư nhân sửa chữa máy Hệ thống cung ứng dịch
vụ máy móc, xăng dầu, phụ tùng, cơ khí, phân bón, thuốc trừ sâu mở rộng
đến các vùng, các tụ điểm kinh tế, các đầu mối giao lưu, hệ thống mua thu gom đã hình thành để lưu thông tiêu thụ sản phẩm tận thôn ấp, thị tứ Việc trang bị máy móc công cụ nhờ viện trợ nước ngoài để nhập máy móc công cụ
và sự tài trợ của ngân hàng phát triển châu á cho chương trình cơ giới hoá nông nghiệp miền Nam [12] đã thúc đẩy phát triển hoạt động ngành nghề, dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp trên cơ sở hộ nông dân
Sau khi thống nhất đất nước kinh tế hộ nông dân gần như không tồn tại Với cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sản xuất nông nghiệp và kinh
tế nông thôn của nước ta bị giảm sút nghiêm trọng đời sống của người nông dân gặp nhiều khó khăn [1]
Trang 35Hội nghị lần thứ 10 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VI (năm 1988), ban hành Nghị quyết 10 đánh dấu sự bắt đầu của thời kỳ đổi mới nền sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn nước ta [3] Vai trò tự chủ của hộ nông dân được thừa nhận, sức sản xuất được giải phóng và tiếp theo nông dân
được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài Với quan điểm nhất quán chuyển dần sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, đã có bước chuyển căn bản
về cấu trúc nền sản xuất xã hội, theo hướng dân chủ hoá, khai thác mọi tiềm năng hiện thực Bên cạnh việc tổ chức sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước, tạo chủ trương khuyến khích công nghiệp và dịch vụ gia đình phát triển Nghị quyết Hội nghị đại Bảng giữa nhiệm kỳ của Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VII tiếp tục làm rõ thêm "Kinh tế cá thể, tiểu chủ, phần lớn dưới hình thức hộ gia đình, đang là một bộ phận đông đảo, có tiềm năng to lớn, có vị trí quan trọng lâu dài Phải có chính sách giúp đỡ, hỗ trợ thành phần này về vốn, về công nghệ, về thông tin thị trường giúp họ làm ăn có hiệu quả, tạo thêm công ăn việc làm và đóng góp vào công cuộc phát triển của đất nước"
Nhờ có chủ trương và chính sách ấy mà công nghiệp và dịch vụ gia đình
đã phát triển mạnh mẽ, nhiều ngành nghề truyền thống đã được khôi phục và phát triển, nhiều ngành nghề mới xuất hiện, đặc biệt là hệ thống dịch vụ gia
đình rộng khắp thoả mãn mọi mặt của đời sống xã hội, góp phần phát triển sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân Nhờ vậy, không chỉ sản xuất nông nghiệp
đạt được nhiều thành tựu to lớn mà hoạt động ngành nghề dịch vụ của hộ nông dân được khôi phục và phát triển mạnh
Đến nay, cả nước đã có khoảng 27% số hộ nông dân sản xuất nông nghiệp kiêm ngành nghề; 13% số hộ chuyên sản xuất ngành nghề; 40.500 cơ sở (trong đó: Doanh nghiệp nhà nước chiếm 14,1%, HTX chiếm 5,8%, DNTN chiếm 80,1%) thu hút được hơn 11 triệu lao động, chiếm 30% lực lượng lao động NT Ngành nghề NT
đã sản xuất ra một khối lượng hàng hoá lớn, năm 2000 đạt giá trị sản lượng khoảng hơn 40.000 tỷ đồng và có tốc độ tăng trưởng khoảng 9% Thu nhập bình quân của
Trang 36một hộ ngành nghề bằng 3 - 4 lần thu nhập của hộ nông nghiệp [43]
Phát triển NNNT đã làm tăng tỷ lệ sử dụng lao động nông thôn Qua số liệu ở bảng 2.1 cho thấy tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở NT theo các vùng kinh tế ở nước ta đã tăng dần qua các năm
Bảng 2.1 Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn
(ĐVT: %)
Năm Vùng
Ngành nghề phát triển làm cho kinh tế NT ngày càng phát triển và đời sống nhân dân được nâng cao Thu nhập của người lao động làm nghề thường cao hơn so với thu nhập của người lao động làm nông nghiệp Tiền công của lao
động có kỹ thuật trong làng nghề gốm sứ, chạm khắc gỗ, rèn đúc đạt được từ 800 ngàn đồng đến 1,2 triệu đồng/LĐ/tháng, khai thác đá từ 20 - 70 ngàn đồng/1ngày
Trang 37công, dệt vải và thêu ren từ 180 ngàn đến 300 ngàn đồng/1 tháng [16]
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, kinh tế nông thôn nước ta khi bước vào thế kỷ XXI vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức không nhỏ; trong
đó những bất cập trong cơ cấu kinh tế vẫn còn nhiều và rõ nét, đã và đang hạn chế quy mô và tốc độ CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn
Theo kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản năm
2001 do Tổng Cục Thống kê công bố tháng 4 năm 2002, khu vực NT có 13,2 triệu hộ, trong đó 79,8% số hộ làm việc trong lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, chỉ có 17% số hộ làm việc trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Hai tỷ lệ tương ứng của năm 1994 là 81,6% và 8,0% Như vậy, sau 7 năm cơ cấu ngành nghề của hộ và lao động nông thôn chuyển dịch rất chậm: giảm 0,8% số hộ và lao động khu vực nông nghiệp (theo nghĩa rộng), bình quân 0,11%/năm Sự bất hợp lý này còn được thể hiện rõ nét qua các chỉ tiêu khác: cho đến nay 78,6% số hộ NT vẫn lấy nguồn thu nhập chính từ khu vực nông nghiệp, chỉ có 21,4% số hộ có nguồn thu nhập chính từ các hoạt động công nghiệp và dịch vụ Cơ cấu thu từ sản xuất kinh doanh của hộ chủ yếu vẫn
từ nông nghiệp: 75,6%, còn công nghiệp chỉ có 13,8% và dịch vụ 10,6% [2]
Cơ cấu kinh tế nông thôn nước ta hiện nay không đồng đều giữa các vùng và các địa phương Trong khi vùng Đông Nam bộ có cơ cấu ngành nghề của các hộ nông thôn khá tiến bộ: 64% nông nghiệp và 36% phi nông nghiệp thì 7 vùng còn lại cơ cấu ngành nghề của hộ vẫn còn mang nặng tính thuần nông và chuyển dịch rất chậm, nhất là vùng miền núi phía Bắc và Tây Nguyên Hai tỷ lệ tương ứng của Vùng Tây Bắc là 93,0% và 5,5%, vùng Đông Bắc là 88,4% và 8,6%, vùng Tây Nguyên là 91,1% và 6,9%, vùng Bắc Trung bộ là 82% và 14%, vùng đồng bằng sông Hồng là 78% và 16,9% và đồng bằng sông Cửu Long là 78,8% và 19,2% Tính chất không đồng đều về cơ cấu kinh tế không chỉ thể hiện giữa các vùng trong nước
mà còn bộc lộ rõ nét giữa các tỉnh trong vùng, các huyện trong một tỉnh Vùng
Đông Nam bộ có cơ cấu kinh tế nông thôn tiến bộ nhất cả nước, lại chuyển dịch
Trang 38theo hướng CNH - HĐH, nhưng tính đồng đều vẫn còn thấp ở các vùng miền núi
phía Bắc, Bắc Trung bộ và Tây Nguyên, tính chất thuần nông vẫn còn rất nặng nề và
chuyển biến rất chậm theo hướng sản xuất hàng hoá Cơ cấu ngành nghề ở nông
thôn mang nặng tính thuần nông nên lao động dư thừa lại tập trung vào các ngành
nông nghiệp, nhất là vùng đồng bằng ven biển và vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa
Khu vực công nghiệp và dịch vụ nông thôn cả nước chưa tạo được chỗ làm thu hút
lao động dư thừa từ nông nghiệp Đó là sự bất cập lớn nhất, hạn chế tốc độ chuyển
dịch cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn nước ta hiện nay
Bảng 2.2 Cơ cấu hộ nông thôn theo 3 nhóm ngành chủ yếu
(Nguồn: Số liệu của Tổng cục Thống kê[2])
Riêng đối với vùng Bắc Trung bộ tuy không có nhiều ngành nghề
truyền thống nổi tiếng song gần như tỉnh nào cũng có làng nghề Một số đã
thành địa chỉ quen thuộc của khách hàng như chiếu cói Nga Sơn (Thanh Hoá),
dè cót, gạch gói (Nghệ An), mộc Thái Yên, rèn Trung Lương (Hà Tĩnh), nón
Ba Đồn (Quảng Bình), đúc đồng (Thừa Thiên Huế)
Trong thời kỳ tập thể hoá nông nghiệp, ngành nghề thủ công ở nông thôn
Trang 39hoạt động lặng lẽ trong các hộ gia đình Đã có lúc hình thành các HTX TTCN nhưng không thành công lại rút về hộ gia đình Thời kỳ đổi mới, trước sức cạnh tranh của cơ chế thị trường, nhiều ngành nghề TTCN nông thôn chững lại, có nơi sa sút vì không tiêu thụ được sản phẩm Nhiều làng nghề tiêu biểu như mộc Thái Yên (Hà Tĩnh), cả xã có 10 thôn thì 8 thôn làm mộc với 902 hộ/1500 hộ, doanh thu mỗi năm 17 tỷ đồng, thu nhập bình quân 350 ngàn đồng đến 500 ngàn đồng/tháng Làng rèn Trung Lương (Hà Tĩnh) có 165 hộ, rèn đúc 700.000 nông cụ mỗi năm, cung cấp nông cụ cho 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, thu nhập bình quân lao động 300 ngàn đồng/tháng, có việc làm thường xuyên [2]
Cả vùng có 90% cơ sở sản xuất công nghiệp NT tồn tại với quy mô hộ gia đình không thuê hoặc có thuê ít lao động Phần lớn các hộ công nghiệp kết hợp trồng trọt, chăn nuôi với làm nghề Sản xuất các thể, phân tác, quy mô nhỏ, quy trình hợp tác phân công chuyên môn hoá diễn ra chậm chạp, yếu ớt
Nhìn chung, công nghiệp nông thôn Bắc Trung bộ trong những năm qua phát triển chậm, ngoài một số lĩnh vực như công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, còn lại đều gặp khó khăn Hàng hoá sản xuất ra không có nơi tiêu thụ
Công nghiệp nông thôn phân tán, quy mô nhỏ, phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp cả về lao động, vốn, thị trường Công nghiệp lạc hậu, năng suất lao động thấp, lãng phí nguyên liệu, ô nhiễm môi trường, chưa có sự gắn kết giữa công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ, giữa sản xuất và thị trường Công nghiệp nông thôn chưa đáp ứng yêu cầu của sản xuất nông nghiệp Chưa phát huy hết những lợi thế về nguyên liệu, lao động, sự khéo léo về tay nghề và thị trường nông thôn rộng lớn Sự hỗ trợ của Nhà nước còn chưa mạnh vì vậy công nghiệp phát triển bấp bênh, nay làm mai bỏ, hiệu quả thấp
2.3 Những nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Trong báo cáo khoa học "Nghiên cứu những vấn đề cần giải quyết trong phát triển làng nghề truyền thống ở vùng đất cổ Kinh Bắc" của Phạm Vân Đình,
Trang 40Đinh Văn Hiến, Nguyễn Phượng Lê đã đề cập đến một số vấn đề lý luận về NNNT, mối quan hệ giữa sản xuất nông nghiệp và ngành nghề nông thôn và nghiên cứu ở một số làng nghề tiêu biểu như Ninh Hiệp, Đại Bái, Bát Tràng, Long Văn, Đồng Kỵ, với những tính chất đa dạng bao gồm cả hỗ trợ và canh tranh, và
đã nêu ra quan hệ qua một số chỉ tiêu về đất đai, lao động, vốn, thu nhập
Báo cáo khoa học của Đinh Văn Đãn, Dương Văn Hiểu về "Khảo sát thực trạng phát triển ngành nghề nông thôn ở tỉnh Ninh Bình" cũng đề cập đến vai trò, ý nghĩa của việc phát triển NNNT đối với trong công cuộc phát triển nông nghiệp nông thôn nước ta
Đỗ Quang Dũng, "Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình CNH, HĐH ở nông thôn Hà Tây", luận án thạc sĩ kinh tế, Hà Nội năm 1997 Tác giả cho rằng: phát triển NNNT là một trong những biện pháp cơ bản nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá
Nó thu hút và giải quyết việc làm cho khá đông số lao động nông thôn ở các vùng
NT, từ đó góp phần tăng thêm thu nhập từ phi nông nghiệp cho người nông dân
Nguyễn Thị Hoàng Đan, "Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển ngành nghề truyền thống trong nông thôn ở huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng", luận văn thạc sĩ kinh tế, Hà Nội, 2003 Trong phạm vi nghiên cứu
đề tài này, tác giả đã nêu khái quát về thực trạng phát triển các làng nghề, ngành nghề truyền thống, tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, các vấn đề
về môi trường ở các làng nghề, ngành nghề truyền thống ở huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng, và từ đó đề xuất một số giải pháp phát triển
Ngoài các cơ quan trực thuộc Bộ NN&PTNT nghiên cứu về các NNNT, ngoài Sở Kế hoạch & Đầu tư các tỉnh, Sở Công nghiệp các tỉnh, Hội đồng Liên minh HTX, Phòng Công nghiệp các huyện thì còn có cả Viện nghiên cứu Văn hoá gian dân, Học viện Chính trị quốc gia và các nhà nghiên cứu lịch sử, cùng nhiều tổ chức quốc tế cũng luôn quan tâm và có những đề tài nghiên cứu về lĩnh vực NNNT này