Thực trạng và giải pháp tăng thu nhập cho hộ nông dân ở huyện cẩm giàng
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp i
-
Vũ Thị Xoa
Thực trạng và giải pháp tăng thu nhập cho hộ nông dân ở huyện Cẩm Giàng
Luận văn thạc sĩ kinh tế
Hà Nội - 2004
Trang 2Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp i
Trang 3Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
i
Trang 4Tôi xin chân thành cám ơn PGS.TS Đỗ Kim Chung – Giảng viên Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn – Người thầy đã dành nhiều thời gian tâm huyết, tận tình hướng dẫn chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Tôi xin được bày tỏ tấm lòng biết ơn đến Ban giám hiệu Nhà trường, các thầy cô giáo đặc biệt là các thầy các cô trong Bộ môn Phát triển nông thôn – Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, những người
đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường
Tôi xin chân thành cám ơn Huyện uỷ, UBND huyện Cẩm Giàng, Đảng uỷ, UBND các xã và các hộ dân ở huyện Cẩm Giàng – tỉnh Hải Dương đã cung cấp những số liệu cần thiết và giúp đỡ tôi trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu tại địa bàn
Cuối cùng tôi xin chân thành cám ơn gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Trang 5Trang
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt v
Danh mục các hình vẽ đồ thị viii
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2.2.1 Thực trạng thu nhập của nông dân thế giới và bài học kinh nghiệm 29 2.2.2 Thực trạng thu nhập của nông dân Việt Nam 32 2.3 Một số công trình nghiên cứu có liên quan 39
3 đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 41 3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội huyện Cẩm Giàng 41 3.2 Phương pháp nghiên cứu 46 3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 46 3.2.2 Thu thập số liệu 47
iii
Trang 65 Một số giải pháp tăng thu nhập cho hộ nông
5.2 Một số giải pháp chung 116 5.3 Một số giải pháp cụ thể đối với hộ nông dân 126 5.3.1 Đối với hộ thuần nông 127 5.3.2 Đối với hộ sản xuất kinh doanh 133
5.3.3 Đối với hộ kiêm ngành nghề 136 5.3.4 Đối với hộ sản xuất chuyên ngành nghề 139
iv
Trang 7Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
BQ
CC
CN CNH CNH - HĐH CNKT
CN - TTCN
DS
DT DTĐCT DTĐGT
DV
ĐBSH
ĐH
ĐVT GDP GTSX GTTLSX HĐH HTX
KD KDBB - DV KHKT KHKT - CN LĐ
LĐTV LĐTX Ng.ng NHNN
NN - DV NTTS TAGSGC
Bình quân Cơ cấu Công nghiệp Công nghiệp hoá
Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá Công nhân kỹ thuật
Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệpDân số
Diện tích Diện tích đất canh tác Diện tích đất gieo trồng Dịch vụ
Đồng bằng sông Hồng
Đại học
Đơn vị tính Tổng giá trị sản phẩm trong huyện Giá trị sản xuất
Giá trị tư liệu sản xuất Hiện đại hoá
Hợp tác xã
Kinh doanh Kinh doanh buôn bán - dịch vụ Khoa học kỹ thuật
Khoa học kỹ thuật - Công nghệ Lao động
Lao động thời vụ Lao động thường xuyên Ngành nghề
Ngân hàng Nhà nước Ngành nghề - dịch vụ Nuôi trồng thuỷ sản Thức ăn gia súc gia cầm
v
Trang 8TLSX
TN TSCĐ
TTCN
TV
TW
TX UBND
VH - GD V
TNN
Tư liệu sản xuất Thu nhập
Tài sản cố định Tiểu thủ công nghiệp Thời vụ
Truơng ương Thường xuyên
Uỷ ban nhân dân Văn hoá - giáo dục V
ật tư nông nghiệp
vi
Trang 94.8 Diện tích đất phân theo hệ thống canh tác 73 4.9 Mức thu nhập bình quân 1 nông hộ điều tra năm 2003 80
4.10 Cơ cấu hộ nông dân phân theo các mức độ thu nhập 89 4.11 Mức thu nhập bình quân theo lao động và nhân khẩu của nông hộ
điều tra năm 2003
92
4.12 Mức chi tiêu củaa nông hộ điều tra năm 2003 93 4.13 Cơ cấu chi tiêu của nông hộ điều tra năm 2003 94 4.14 Mức tích luỹ và khoảng cách chênh lệch bình quân của nông hộ điều tra 95 4.15 Chủ hộ ảnh hưởng tới thu nhập của hộ nông dân điều tra 97 4.16 ảnh hưởng của quy mô nguồn lực đến thu nhập của nông hộ 99 4.17 ảnh hưởng của nguồn thu ngoài nông hộ tới thu nhập của nông hộ điều tra 1014.18 Thu nhập của các nhóm hộ phân theo nguồn vốn 102
vii
Trang 10Danh mục đồ thị
2.1 Thu nhập của hộ nông thôn năm 2002 ở các vùng 37 3.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Cẩm Giàng
qua 3 năm (2001 - 2003) 43 4.1 Tỷ lệ hộ phân theo quy mô đầu lợn 75 4.2 Nguồn thu ngoài HĐSXKD của nhóm hộ giàu và hộ nghèo 79 4.3 Cơ cấu nguồn thu nhập của hộ nông dân điều 88
viii
Trang 111 mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hộ nông dân (nông hộ) là đơn vị kinh tế cơ bản ở nông thôn ở Việt Nam, nông dân chiếm 70% tổng số dân sống ở nông thôn nhưng mức đóng góp của dân cư nông thôn chỉ bằng 1/4 so với dân cư thành thị trong tổng mức thu nhập quốc dân, tỷ lệ nghèo đói trong nông thôn chiếm 90% tổng số người nghèo đói của cả nước (năm 2000)[38] Do đó, nâng cao thu nhập cho hộ nông dân là vấn đề quan trọng trong mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Đảng và Nhà nước ta đã có đường lối, chủ trương, chính sách giúp hộ nông dân khẳng định sức mạnh của mình Nhất là sau khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị ra đời, hộ nông dân trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, hơn 10 triệu hộ tự ra quyết định sản xuất tự phân phối sản phẩm tự chịu trách nhiệm rủi ro Họ đã cùng với các thành phần kinh tế khác liên tục tạo ra khối lượng sản phẩm lớn cho xã hội với 90% lượng lương thực và thực phẩm Nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp, phát triển tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp nhỏ có lợi thế và đạt hiệu quả cao Họ đã giải quyết tốt vấn đề việc làm ở nông thôn, nâng cao thu nhập góp phần xây dựng cuộc sống mới và tích cực làm giảm tỷ lệ nghèo đói trong nông thôn (trong nông thôn năm 1990 tỷ lệ nghèo đói là 29% đến năm 1999 tỷ lệ này giảm xuống còn 13%)[4], đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH - HĐH) đất nước
Nhìn chung đến nay, đời sống của phần lớn nông dân Việt Nam vẫn còn thấp, theo thống kê năm 2002 thu nhập bình quân hộ ở thành thị là 32 tr.đ/hộ và 14,4 tr.đ/hộ ở nông thôn Vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) có 3,5 triệu hộ thu nhập bình quân trong vùng là 21 tr.đ/hộ riêng hộ nông dân nông thôn thu nhập là 16,8 tr.đ/hộ tức mỗi nhân khẩu chỉ đạt 250.000 đồng/người/tháng[6] Nếu tính trên một ha diện tích đất nông nghiệp thì giá trị nông sản làm ra trên một ha
đất bình quân cả nước khoảng 17 tr.đ/năm Như vậy, bình quân một nhân khẩu
1
Trang 12chỉ thu được 2,72 tr.đ/năm trong đó thu nhập ròng khoảng 1,36 tr.đ/người/năm tức 113.333 đồng/người/tháng Trong khi bình quân ruộng đất tính trên đầu người ở nước ta xếp loại thấp nhất thế giới: Bình quân đất nông nghiệp trên cả nước một nhân khẩu là 1.224m2, một nhân khẩu nông nghiệp là 1.600m2, ĐBSH lần lượt là 509m2 và 633m2 [19] Do vậy, muốn phát triển nông nghiệp để nâng cao thu nhập cho hộ nông dân phải bằng mọi cách nâng cao giá trị thu hoạch và thu nhập ròng trên một ha đất nông nghiệp lên gấp nhiều lần Nhưng thực hiện
điều này như thế nào vẫn là câu hỏi quan trọng cần được giải đáp? Song để nâng cao thu nhập cho hộ nông dân không chỉ dựa vào nông nghiệp bởi thực tế cho thấy hoạt động ngành nghề cũng đang phát triển mạnh trong khuôn khổ hộ nông thôn Hiện cả nước có khoảng 1,33 triệu hộ phát triển ngành nghề phi nông nghiệp, thu từ các ngành nghề này cao gấp 2 - 3 lần so với sản xuất nông nghiệp,
đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt, tạo cho gần 10 triệu người có công
ăn việc làm (bằng 29,5% lực lượng lao động nông thôn)[19] Tất yếu phải phát triển tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, ngành nghề truyền thống nhằm giải quyết vấn đề việc làm nghiêm trọng trong nông thôn và đồng thời nâng cao thu nhập cho hộ Nhưng thực hiện điều này như thế nào trong khi ngành nghề hiện nay phát triển mạnh chủ yếu ở loại hình kinh tế hộ (chiếm 97%) với quy mô nhỏ sức cạnh tranh yếu hạn chế khả năng phát triển theo hướng công nghiệp hoá
Mới đây, tại tỉnh Thái Bình xuất hiện phong trào thi đua “cánh đồng 50
triệu/ha ” và “thu nhập hộ 50 triệu/hộ/năm” nhằm nâng cao thu nhập cho người
dân Phong trào đã gợi mở cách thức làm ăn mới của người nông dân trong cơ chế thị trường[25] Mục tiêu của phong trào phù hợp với điều kiện đất nông nghiệp ngày càng bị giảm đi trong quá trình CNH - HĐH, trong khi áp lực dân số
và lao động ngày càng tăng Đồng thời, nó sẽ tạo tiền đề thúc đẩy công nghiệp chế biến phát triển, tạo điều kiện thúc đẩy khoa học công nghệ mới vào sản xuất, thu hút chất xám về nông thôn nhằm xây dựng một nền sản xuất hàng hoá lớn, hiệu quả và bền vững có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao Đó cũng là
2
Trang 13bước cụ thể hoá yêu cầu của Đại hội IX của Đảng trong việc “đổi mới cơ cấu cây
trồng, vật nuôi tăng giá trị thu được trên đơn vị diện tích”[9] Song vấn đề ra
đâu là cơ sơ khoa học cho việc tính thu nhập hộ? Bởi với hộ nông dân, hoạt động sản xuất của họ đa dạng nên việc tính toán thu nhập là vấn đề khó khăn và phức tạp đến nay chưa được làm rõ Mặc dù đã có nhiều phương pháp được đưa ra, trong đó phương pháp tính theo hệ thống tài khoản quốc gia được nhiều người sử dụng Liệu phương pháp này có phù hợp không?
Để góp phần làm sáng tỏ vấn đề trên, chúng tôi nghiên cứu thực tế tại huyện Cẩm Giàng - tỉnh Hải Dương Nơi đây có vị trí địa lý khá thuận lợi cho phát triển kinh tế và nông dân luôn tích cực tham gia các phong trào thi đua sản xuất nhằm tăng thu nhập Đặc biệt vài năm trở lại đây nhiều cơ chế chính sách được mở rộng, nhiều chương trình dự án được triển khai trên địa bàn huyện như: Chuyển
đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi nhằm đạt gía trị sản xuất 38 triệu đồng/ha, chuyển
đổi ruộng từ ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn, kiên cố hoá kênh mương, khôi phục lại ngành nghề truyền thống, khuyến khích đầu tư phát triển nhiều doanh nghiệp tư nhân Nhưng không biết nguyên nhân từ đâu, thu nhập bình quân đầu người một năm là 5,7 triệu đồng (tr.đ), tỷ lệ hộ nghèo trong huyện chiếm 14,3% trong tổng
số 27.120 hộ và có xu hướng nghèo trở lại, tỷ lệ lao động thiếu việc làm cao[2]
Xuất phát từ tính cấp thiết đó, chúng tôi nghiên cứu đề tài “Thực trạng và giải
pháp tăng thu nhập cho hộ nông dân ở huyện Cẩm Giàng ”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Chúng tôi dựa trên cơ sở nghiên cứu thực trạng sản xuất và thu nhập của hộ nông dân ở huyện Cẩm Giàng, để tìm những yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng tới thu nhập của hộ, từ đó đề xuất một số giải pháp tăng thu nhập cho hộ nông dân nhằm nâng cao mức sống của nông dân Cẩm Giàng
3
Trang 141.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá và làm rõ một số vấn đề lý luận thu nhập của hộ nông dân và tăng thu nhập cho hộ nông dân
- Đánh gía thực trạng thu nhập của hộ nông dân và những yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập của hộ nông dân ở huyện Cẩm Giàng
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng thu nhập cho nông dân huyện Cẩm Giàng
1.3 Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung: Luận văn liên quan chủ yếu tới lĩnh vực thu nhập của hộ nông dân Vì vậy, chúng tôi sẽ đi sâu thảo luận về vấn đề thu nhập, phương pháp tính thu nhập, những yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập, các quan điểm chủ trương chính sách của Nhà nước nhằm tăng thu nhập cho hộ nông dân và đề xuất các giải pháp nhằm tăng thu nhập cho nông hộ
+ Về không gian: Chúng tôi tập trung nghiên cứu thu nhập của một số hộ
nông dân ở huyện Cẩm Giàng cụ thể: hộ thuần nông, hộ kiêm ngành nghề, hộ chuyên ngành nghề và hộ kinh doanh buôn bán - dịch vụ (KDBB - DV)
+ Về thời gian : Chúng tôi sử dụng chủ yếu số liệu năm 2003 để nghiên
cứu thực trạng thu nhập của nông hộ Tuy nhiên để làm sáng tỏ các vấn đề có liên quan đến thu nhập nông hộ chúng tôi có sử dụng một số số liệu của những năm trước
4
Trang 152 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về thu nhập của hộ nông dân
2.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về thu nhập của hộ nông dân
2.1.1 Khái niệm hộ nông dân
Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, thu nhập chính từ các hoạt động sản xuất trong nông hộ và ngoài nông hộ Thu từ sản xuất trong nông hộ bao gồm các ngành sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp, thu từ ngoài nông hộ bao gồm: tiền đi làm thuê, trợ cấp, tiền gửi về, tiền lương hưu, quà biếu
Hộ nông dân là đơn vị kinh tế mà trong đó quan hệ giữa các thành viên là quan hệ đồng sở hữu, cộng đồng trách nhiệm với ý thức làm việc cho mình, cho gia đình mình, mỗi người đều làm việc hết lòng, không cần một sự kiểm tra, thúc
ép nào, ở đây ngoài yếu tố kinh tế còn có cả những yếu tố tình cảm đạo đức chi phối họ[36]
Hay có thế hiểu theo Frank Ellis (1988): “Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh
tế lớn hơn nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và
có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao ”[15] Phát triển thêm ở khía cạnh khác, Đào Thế Tuấn khái niệm về hộ nông dân: “ Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn ”[33] Ông đưa ra mối quan
hệ về hoạt động sản xuất của nông hộ như sau:
* Mối quan hệ hoạt động của hộ
Mục tiêu sản xuất - - - - - Nhân tố sản xuất
Chiến lược sản xuất - - - Mức doanh thu [33]
5
Trang 16Theo mối quan hệ này, nhân tố sản xuất ở đây bao gồm: vốn, lao động, kỹ thuật, đất đai sẽ quyết định tới mục đích sản xuất là để tiêu dùng hay sản xuất
để bán Khi đó mới đặt ra chiến lược sản xuất: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? mức doanh thu lớn hay nhỏ? Nếu doanh thu lớn họ sẽ tiếp tục đầu tư vào tư liệu sản xuất, có thể mở rộng sản xuất mua thêm đất, thuê lao động, đầu tư kỹ thuật và họ chuyển tới một mục tiêu sản xuất khác Cứ như vậy, hoạt động của hộ
do được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau cho nên thu nhập hộ nông dân được nhìn nhận và khái niệm cũng khác nhau
Quan điểm của Chayanov về thu nhập của hộ nông dân trong điều kiện không tồn tại thị trường sức lao động [dẫn theo 36]: Theo ông thu nhập hộ nông
dân không giống thu nhập của các xí nghiệp tư bản Thu nhập trong nông hộ không chỉ có tiền lãi kinh doanh mà còn bao gồm toàn bộ giá trị lao động Như vậy, thu nhập của hộ nông dân là phần còn lại sau khi lấy tổng giá trị sản xuất trừ
đi tổng chi phí vật chất
Quan điểm của Barnum và Squire về thu nhập của hộ nông dân trong
điều kiện có tồn tại thị trường sức lao động [dẫn theo 36]: Theo các ông trong
điều kiện tồn tại thị trường sức lao động thì thời gian lao động được phân chia thành thời gian lao động nghỉ ngơi, thời gian lao động làm việc nhà, thời gian làm sản xuất nông nghiệp và thời gian làm việc có tiền công (bao gồm lao động thuê ngoài và lao động đi làm thuê) Từ đó các ông khái niệm thu nhập hộ nông dân như sau: Thu nhập của nông dân được tính bằng giá trị sản phẩm sau khi trừ
đi các phần: Phần sản phẩm hộ đã tiêu dùng, giá trị công lao động thuê ngoài, chi
6
Trang 17phí đầu vào cho sản xuất và cộng giá trị tiền lao động đi làm thuê Song ở đây các
ông lại tính giá tiền công giống nhau, điều này không đúng Sau đó khái niệm này được Allanlow nghiên cứu và bổ sung thêm với điều kiện tiền công là khác nhau cho các loại lao động, giá cả các sản phẩm cũng khác nhau
Quan điểm của một số nhà nghiên cứu của Việt Nam, khái niệm này còn
đa dạng và phong phú nhiều Có người lấy giá trị sản phẩm hàng hoá để đánh giá thu nhập của hộ nông dân Đứng trên góc độ khác có người lấy chỉ tiêu tổng giá trị trên một ha diện tích để phân tích đánh giá thu nhập của nông hộ[16,10] Một
số khác lại cho rằng thu nhập của hộ là tổng giá trị sản phẩm từ nông nghiệp, ngành nghề, chăn nuôi, thuỷ sản Song để đi sâu nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau về nông hộ nhiều nhà khoa học và nghiên cứu kinh tế ở Việt Nam đã
sử dụng chỉ tiêu thu nhập hỗn hợp để đánh giá thu nhập của nông dân Thu nhập
hỗn hợp của hộ nông dân là phần thu được sau khi lấy tổng thu (tức là toàn bộ giá trị sản phẩm từ các hoạt động sản xuất trong nông hộ) trừ đi chi phí vật chất, trừ đi tiền công thuê ngoài và trừ chi phí khác (bao gồm thuế, khấu hao tài sản
cố định ) [18] Như vậy, trong phần thu nhập của nông hộ sẽ bao hàm tiền công lao động của chủ hộ, tiền công lao động của các thành viên và lãi kinh doanh
Rút ra từ các quan điểm trên Đỗ Kim Chung đ ưa ra quan điểm về thu nhập của nông hộ nh ư sau[dẫn theo 5]: Vẫn là thu nhập hỗn hợp song phần chi
phí mà hộ tự sản xuất ra không qua trao đổi trên thị trường là khó hạch toán cho nên thu nhập của hộ nông dân vẫn bao gồm cả phần chi phí này Ngoài thu nhập
có được từ các hoạt động sản xuất trong nông hộ thì nguồn thu từ các hoạt động ngoài nông hộ chiếm tỷ lệ không nhỏ
Xuất phát từ những quan điểm trên và đặc trưng về hộ nông dân ở Việt Nam Chúng tôi tổng quát về khái niệm thu nhập của hộ nông dân như sau:
+ Thu nhập của hộ nông dân bao gồm các khoản thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong nông hộ, tiền công lao động gia đình (chủ hộ và các thành viên), bao gồm các khoản được trao đổi hay không được trao đổi trên thị trường
7
Trang 18+ Ngoài nguồn thu nhập từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, nông hộ có thể có thu nhập từ những công việc khác như đi làm thuê, thu từ tài sản bất động sản, tiền lương hưu, từ việc chuyển nhượng tài sản khác như quà biếu, tiền gửi Nhìn chung, có thể nói rằng hộ nông dân có thu nhập là từ các hoạt động sản xuất kinh doanh khác nhau như thu nhập theo sản xuất mùa vụ, từ sản xuất nông nghiệp khác, từ sản xuất ngành nghề phi nông nghiệp và nguồn ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh Riêng thu nhập mùa vụ vẫn quan trọng và chiếm tỷ lệ lớn trong tổng thu nhập của hầu hết các hộ nông dân Thu nhập mùa vụ là tổng thu nhập từ các sản phẩm được sản xuất theo mùa vụ như thóc, ngô, rau
Như vậy, nếu so sánh với hoạt động sản xuất tư nhân thì thu nhập của hoạt
động sản xuất tư nhân là phần thưởng cho người chủ các yếu tố sản xuất để tạo ra hàng hoá và dịch vụ Còn đối với nông hộ, thu nhập là phần thưởng chung cho cả chủ hộ và các thành viên trong nông hộ Nguồn thu nhập này không phân chia cho các thành viên mà để làm ngân quỹ chung cho nông hộ Ngân quỹ này được dùng vào hai mục đích đó là chi tiêu và tích luỹ
2.1.2.2 Nội dung và phương pháp tính thu nhập cho hộ nông dân
Do hộ nông dân là thành phần kinh tế đặc biệt Hộ nông dân có thể tham gia nhiều hoạt động sản xuất khác nhau song các hoạt động sản xuất của nông hộ hầu hết có quan hệ mật thiết với nhau nên việc hạch toán riêng từng ngành không thể chính xác Đất đai và lao động gia đình là yếu tố cơ bản giúp nông hộ thực hiện quá trình sản xuất Do đó, không phải mọi chi phí sản xuất có thể tính theo giá thị trường Chính vì vậy, việc hạch toán thu nhập cho hộ nông dân không giống các thành phần kinh tế khác, không tính theo công thức C + V + m mà
được cụ thể như sau[5]:
Nội dung và phương pháp tính tổng thu của hộ nông dân
♦ Nội dung: Tổng thu của hộ nông dân được tạo nên từ sự đóng góp bằng
tiền hay hiện vật của các bộ phận riêng lẻ nhưng được kết hợp ăn ý với nhau từ
8
Trang 19các thành viên trong nông hộ Có nghĩa rằng tổng thu của hộ nông dân có được từ hoạt động sản xuất khác nhau trong nông hộ do các thành viên cùng chung gánh vác để tạo ra Một số khác lại cho rằng việc kiếm được từ những công việc khác ngoài nông hộ như làm thuê, lương hưu, trợ cấp cũng làm tăng nguồn thu cho
họ Như vậy tổng thu của hộ có được từ hai nguồn chính là thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong nông hộ và thu từ ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh
- Thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh (HĐSXKD) trong nông hộ, là giá trị
của tất cả sản phẩm sản xuất từ hoạt động nông nghiệp (bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản và dịch vụ nông nghiệp) và hoạt động phi nông nghiệp (tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp, kinh doanh buôn bán và dịch vụ) trong nông hộ thu
được trong một năm Nó bao gồm số tiền bán được của các sản phẩm và giá trị của những sản phẩm mà nông hộ tự sản xuất tự tiêu dùng
Phần bán được, đó chính là lượng tiền đã thu được hay sẽ thu được từ việc
bán các sản phẩm Sản phẩm đó bao gồm sản phẩm chính và sản phẩm phụ của các ngành sản xuất trong nông hộ
Phần tự tiêu, đó chính là phần sản phẩm do hộ tiêu dùng vào các mục đích như: ăn, uống, dùng cho quá trình sản xuất tiếp theo, được ước tính với giá trị
có thể của nó Trong phần này chỉ tính cho sản phẩm chính vì giá trị sản phẩm phụ nhỏ, tính toán phức tạp nên chúng tôi bỏ qua
Sản phẩm chính là toàn bộ sản phẩm sản xuất ra nhằm phục vụ trực tiếp đến
đời sống của con người; nó là toàn bộ sản phẩm thu được thuộc mục đích chính của quá trình sản xuất kinh doanh như thóc Còn sản phẩm phụ là toàn bộ sản phẩm thu được thuộc mục đích phụ của quá trình sản xuất như rơm, rạ
- Thu ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh, là các khoản thu thực tế của
nông hộ có thể bằng tiền có thể bằng hiện vật Nguồn thu này có được từ các thành viên trong nông hộ tham gia vào các hoạt động sản xuất khác ngoài nông
hộ như làm trong các nhà máy, xí nghiệp, làm ăn ở xa, đi xuất khẩu lao động hay làm cho các nông hộ khác có tiền gửi vào ngân quỹ chung của nông hộ Nguồn
9
Trang 20này còn có được từ các tổ chức hay cá nhân ngoài nông hộ đem lại như quà cho, biếu, trợ cấp của Nhà nước Như vậy, nó bao gồm tiền công đi làm thuê, tiền hay hiện vật được trợ cấp, quà biếu, tiền gửi từ nước ngoài về, tiền lương hưu, lãi suất cho vay, tiền phụ cấp
♦ Phương pháp tính tổng thu của hộ nông dân
- Thu từ hoạt động sản xuất trong nông hộ bằng tổng thu của ngành nông nghiệp và ngành phi nông nghiệp Song mỗi hoạt động sản xuất khác nhau có cách tính khác nhau
Đối với hoạt động nông nghiệp, trước hết là sản xuất trồng trọt, do sản xuất trồng trọt mang tính thời vụ nên tổng thu được tính theo thời vụ Tổng thu từ sản xuất mùa vụ bao gồm thu từ các sản phẩm thu hoạch theo mùa như thóc, ngô, khoai, sắn, rau, đó là toàn bộ giá trị sản phẩm được bán, giá trị sản phẩm mà hộ tiêu dùng trong gia đình, làm thức ăn cho chăn nuôi, giống cây trồng vật nuôi và phân bón Cụ thể được tính như sau:
Thu từ sản xuất mùa vụ = Số lượng sản phẩm chính ì giá bán trên thị
tr ường + Số lượng sản phẩm phụ được bán ì giá bán [1.1]
Số lượng sản phẩm được tính cho từng loại cây trồng theo từng vụ trong một năm Giá được tính theo giá bán trên thị trường của từng loại sản phẩm theo từng
vụ tại thời điểm chính vụ
Ngành nuôi trồng thuỷ sản được tính theo công thức [1.1] Riêng ngành chăn nuôi việc tính toán không đơn giản như trên bởi thu thập số liệu về sản lượng sản xuất là khó khăn, ít chính xác Do đó tổng thu ngành chăn nuôi được tính theo công thức sau:
Thu từ sản xuất chăn nuôi = Số lượng sản phẩm (chính, phụ) được bán ì giá trên thị tr ường + SL sản phẩm chính mà hộ tự tiêu ì giá tương ứng [1.2]
Tổng thu từ sản xuất chăn nuôi được tính bằng tổng thu từng chu kỳ sản xuất
trong một năm
10
Trang 21Đối với hoạt động phi nông nghiệp, bao gồm các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh buôn bán - dịch vụ Trong đó đối với các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tính theo công thức [1.2] Số lượng sản phẩm
được tính theo từng tháng, quý hay năm trong một năm Thu từ kinh doanh buôn bán chính là tổng doanh thu được tính như sau:
Tổng thu = Số l ượng sản phẩm hàng hoá ì giá bán [1.3]
- Thu ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh, được tính từ nhiều nguồn thu khác nhau Mỗi nguồn thu có phương pháp tính khác nhau Những khoản thu bằng tiền cố định theo tháng như: công lao động đi làm thuê thường xuyên, lương
hưu, tiền phụ cấp hàng tháng được tính như sau: Lấy tổng số tiền lĩnh một
tháng nhân với 12 tháng Những khoản thu bằng tiền khác như tiền thưởng theo quý, theo năm, tiền tết, tiền làm thêm giờ, thêm ca, tiền làm thuê theo thời vụ
được cộng theo số tiền nhận thực theo từng đợt Còn các khoản thu bằng hiện
vật sẽ được quy theo giá trị tương đương Khoản thu ngoài hoạt động sản xuất
kinh doanh được tính vào thu nhập cuối cùng của nông hộ Nó không được hạch toán theo chi phí sản xuất của nông hộ
Nội dung và phương pháp tính tổng chi phí sản xuất
♦ Nội dung: Chi phí sản xuất thể hiện hoặc bằng hiện vật hoặc bằng tiền các
yếu tố sản xuất được đưa vào một hay nhiều quá trình sản xuất Thực chất chi phí
sản xuất bao gồm phần chi phí tự có của nông hộ (phần không phải trả) và toàn
bộ phần chi khác (phần phải trả) để có thể tạo ra một lượng sản phẩm liên quan với thời kỳ một năm Phần không phải trả tiền, đó chính là các yếu tố mà hộ giữ
lại hay hộ tự có và đưa vào quá trình sản xuất bao gồm công lao động gia đình, vật tư tự sản xuất, lãi suất của phần vốn tự có, sản phẩm tiêu dùng trong nông hộ,
khấu hao tài sản cố định Phần phải trả tiền, đó chính là các yếu tố mà hộ phải
bỏ ra để chi trả vào quá trình sản xuất như tiền mua sắm máy móc, mua sắm vật tư, tiền thuê lao động, tiền trả lãi tiền vay, tiền đóng thuế
11
Trang 22Việc phân biệt 2 loại chi phí này rất quan trọng bởi phần chi phí tự sản xuất chiếm tỷ lệ lớn trong tổng chi phí Song nó khó hạch toán một cách chính xác vì toàn bộ chi phí này không thể tính theo giá thị trường Ví dụ, công lao động gia
đình không thể tính bằng tiền bởi thời gian lao động co giãn Cũng nhờ có sự phân biệt này mà chúng ta thấy rằng kinh tế nông hộ có sức sống bền bỉ và tồn tại trong mọi chế độ kinh tế xã hội ngay cả khi hạch toán bị thâm hụt triền miên Nếu theo lý thuyết kinh tế, dựa trên cách mà các chi phí tiến triển theo số lượng sản phẩm thì tổng chi phí sản xuất được chia thành chi phí cố định và chi
phí biến đổi Chi phí cố định là chi phí không thay đổi theo số lượng sản phẩm
Nó bao gồm các chi phí liên quan đến yếu tố sản xuất cố định như đất đai, máy móc, nhà xưởng, hay nói cách khác nó bao gồm khấu hao tài sản cố định và thuế
Chi phí biến đổi là chi phí tuân theo qui luật về năng suất giảm dần và thay đổi trong mối quan hệ chặt chẽ với số lượng sản phẩm Chi phí này bao gồm các chi phí có liên quan đến các yếu tố sản xuất biến đổi mà người sản xuất có thể đưa vào quá trình sản xuất nhiều hay ít tuỳ thuộc vào chủ yếu tố sản xuất đó mong muốn, bao gồm chi phí mua vật tư, chi phí thuê công lao động, Song không phải tất cả chi phí đều hạch toán được, một số loại chi phí do nông hộ tự sản xuất không trao đổi trên thị trường không hạch toán trong phần chi phí sản xuất Ngoài ra còn loại chi phí mà ít nông hộ quan tâm đến song nó chiếm một tỷ lệ
không nhỏ trong tổng chi phí, đó chính là chi phí cơ hội Bởi trong thực tế chủ hộ
có thể thu được một số lượng sản phẩm bổ xung nào đó trong một điều kiện nhất
định bằng cách chịu bỏ một phần tiền từ hoạt động khác Ví dụ, hộ nông dân nuôi 20 con lợn có thể nuôi thêm 10 con nữa với điều kiện nếu không dành ra một phần vốn để đào ao thả cá Như vậy, phần thu từ 10 con lợn bị mất đi khi chủ
hộ dành phần đó để nuôi cá gọi là chi phí cơ hội Chi phí cơ hội chính là phần thu
nhập mất đi do thực hiện hoạt động sản xuất khác Chi phí cơ hội còn là phần lãi suất tiền gửi thu được của giá trị chi phí khả biến, nếu không dùng vào chi phí biến đổi Chi phí này biến đổi theo chi phí biến đổi
12
Trang 23Việc phân biệt giữa chi phí cố định và chi phí biến đổi rất quan trọng bởi nó liên quan đến việc ra quyết định sản xuất của nông hộ Hộ sẽ dựa vào đó xem xét cơ hội tiếp tục hay ngừng một hoạt động sản xuất nào đó Bởi, trong trường hợp giá bán sản phẩm thấp hơn tổng chi phí sản xuất thì người sản xuất có thể vẫn tiếp tục sản xuất nếu như giá bán sản phẩm cao hơn chi phí khả biến còn ngược lại nên ngừng hoạt động Nhờ có việc phân biệt này Nhà nước đã đưa ra những chính sách giúp hộ nông dân yên tâm phát triển sản xuất
Song các hoạt động sản xuất của hộ nông dân có quan hệ chặt chẽ với nhau
Do vậy, nhiều máy móc, thiết bị, vật dụng được dùng chung cho nhiều hoạt động Hay nhiều khoản chi bằng tiền khó có thể tách riêng cho từng hoạt động Từ đó
chi phí trong nông hộ được chia thành chi phí chung và chi phí riêng Việc phân
biệt được chi phí chung và chi phí riêng sẽ giúp chúng ta hạch toán chi phí chính xác và rõ ràng Việc phân biệt này cũng chứng tỏ cách tính các chi phí (tổng chi phí và chi phí cho một đơn vị sản phẩm) là khác nhau Tuy nhiên xác định được
đâu là chi phí chung, đâu là chi phí riêng là vấn đề cần được quan tâm Chi phí
chung là những khoản chi phí khó có thể tách riêng cho từng ngành vì chúng không tính trực tiếp cho từng loại sản phẩm mà tính chung cho nhiều hoạt động sản xuất thậm chí tính chung cho toàn bộ hoạt động kể cả hoạt động sinh hoạt
của nông hộ Chi phí riêng là phần được khấu trừ trực tiếp cho từng loại sản
phẩm Từ những phân tích trên chúng tôi đã tiến hành phân loại chi phí theo các nhóm chi phí sau:
+ Chi phí cố định bao gồm khấu hao tài sản cố định và thuế
+ Chi phí biến đổi bao gồm chi phí trực tiếp từng ngành bao gồm các khoản chi phí được trao đổi trên thị trường
+ Chi phí chung khác bao gồm các khoản chi phí không thuộc 2 loại chi phí trên Chiếm tỷ lệ lớn ở khoản chi phí này là tiền trả lãi suất vay, đó là số tiền trả người cho vay hay các tổ chức tín dụng, ngân hàng theo phần chi trả cho vốn vay
13
Trang 24♦ Phương pháp tính chi phí sản xuất của hộ nông dân
Tổng chi phí SX = Chi phí biến đổi + Chi phí cố định + Chi phí chung khác [1.4]
Trong đó:
- Chi phí biến đổi bằng tổng các chi phí như chi phí vật tư, chi phí thuê lao
động và chi phí cơ hội Chi phí vật tư là số tiền thực tế để mua vật tư cho từng loại sản phẩm Chi phí vật tư bằng số lượng các loại vật tư được nông hộ dùng cho sản xuất nhân với gía thị trường của các loại vật tư đó Chi phí thuê lao động
là số tiền thực tế trả cho người làm thuê có thể là thuê thường xuyên có thể là thuê thời vụ, thuê theo công việc Chi phí cơ hội bằng tổng chi phí khả biến của từng ngành nhân với 1/2 thời gian thực hiện chu kỳ sản xuất nhân với lãi suất tính theo tháng của ngân hàng Do đặc điểm sản xuất nông nghiệp mà chi phí khả biến không liên tục vì vậy khi tính chi phí cơ hội thường chỉ tính cho một nửa thời gian thực hiện chu kỳ sản xuất Chi phí này được tính riêng cho từng loại sản phẩm, từng ngành sản xuất [5]
- Chi phí cố định bao gồm khấu hao tài sản cố định (TSCĐ), thuế phải trả
Khấu hao tài sản cố định chính bằng nguyên giá của TSCĐ chia cho số năm có thể sử dụng cộng với phần chi phí sửa chữa lớn TSCĐ trong một năm điều tra Thuế là toàn bộ số tiền chi thực tế của nông hộ, nó có thể được tính theo tháng hay theo vụ Chi phí này được tính chung cho mọi hoạt động của nông hộ
- Chi phí chung khác là toàn bộ khoản chi bằng tiền của nông hộ trong suốt
một năm Trong đó, trả lãi suất tiền vay được tính như sau: Trả lãi suất tiền vay bằng tổng số tiền vay từng nguồn nhân lãi suất/tháng (năm) của từng nguồn vay nhân số tháng (năm) vay Chi phí này cũng được tính chung cho mọi hoạt động
Từ 2 thành phần chính trên chúng tôi đã đi đến nội dung và phương pháp tính thu nhập cho nông hộ như sau
14
Trang 25Nội dung và phương pháp tính thu nhập cho hộ nông dân
♦ Nội dung: Thu nhập của hộ nông dân là phần còn lại sau khi nông hộ đã
loại trừ hết các khoản chi phí sản xuất Như vậy, thu nhập của hộ nông dân bao gồm lợi nhuận kinh doanh, tiền công của chủ hộ và các thành viên trong nông hộ, phần chi phí tự sản xuất không trao đổi trên thị trường và các khoản thu từ hoạt
động ngoài nông hộ Một phần thu nhập sẽ được nông hộ sử dụng vào việc chi tiêu đời sống, sinh hoạt, một phần dùng để đầu tư cho quá trình sản xuất tiếp theo hay gửi tiết kiệm
♦ Phương pháp tính thu nhập cho hộ nông dân
Thông thường nhiều người tính thu nhập theo công thức sau:
Thu nhập nông hộ = Tổng thu của nông hộ - tổng chi phí sản xuất [1.5]
Nếu đứng trên góc độ toán học việc tính thu nhập cho hộ nông dân như cách tính trên không sai Song đứng trên góc độ phân tích kinh tế nếu tính theo công thức [1.5] chưa thấy rõ hiệu quả sản xuất kinh doanh của nông hộ bởi tổng thu của nông hộ bao gồm hai nguồn thu khác nhau, đó là thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong nông hộ và thu ngoài hoạt động sản xuất của nông hộ Trong đó nguồn thu ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh có được không phải thông qua quá trình đầu tư chi phí sản xuất của nông hộ Nó chính là các khoản thu được từ các hoạt động khác ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh của nông hộ Do đó, nguồn thu này không hạch toán theo chi phí sản xuất mà được tính trực tiếp vào nguồn thu nhập cuối cùng nên thu nhập của hộ nông dân được tính như sau:
Thu nhập của nông hộ = Thu nhập từ HĐSXKD + Thu ngoài HĐSXKD [1.6]
Trong đó, thu nhập từ HĐSXKD trong nông hộ được nhìn nhận như là phần thưởng cho cả nông hộ từ việc đầu tư vào nhiều hoạt động sản xuất khác nhau trong nông hộ Nó bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp như trồng rọt, chăn nuôi, NTTS và hoạt động sản xuất phi nông nghiệp như công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và KDBB - DV trong nông hộ Điều này có nghĩa
15