Giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp Mường Chà, tỉnh Điện Biên (Luận văn thạc sĩ)Giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp Mường Chà, tỉnh Điện Biên (Luận văn thạc sĩ)Giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp Mường Chà, tỉnh Điện Biên (Luận văn thạc sĩ)Giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp Mường Chà, tỉnh Điện Biên (Luận văn thạc sĩ)Giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp Mường Chà, tỉnh Điện Biên (Luận văn thạc sĩ)Giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp Mường Chà, tỉnh Điện Biên (Luận văn thạc sĩ)Giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp Mường Chà, tỉnh Điện Biên (Luận văn thạc sĩ)Giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp Mường Chà, tỉnh Điện Biên (Luận văn thạc sĩ)Giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp Mường Chà, tỉnh Điện Biên (Luận văn thạc sĩ)Giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp Mường Chà, tỉnh Điện Biên (Luận văn thạc sĩ)Giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp Mường Chà, tỉnh Điện Biên (Luận văn thạc sĩ)
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS Dương Văn Sơn
2 TS Lưu Thái Bình
Thái Nguyên, tháng 01/2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng cho công trình nghiên cứu của bất kỳ học vị nào
Mọi thông tin được thu thập trong quá trình nghiên cứu và làm việc, những nội dung trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Lý Thanh Tiềm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm, Phòng Quản lý đào tạo sau đại học đã giảng dạy, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học
Trong thời gian học tập tôi đã nhận được sự quan tâm, chỉ bảo nhiệt tình của tập thể giáo viên, của giảng viên hướng dẫn thực hiện luận văn tốt nghiệp đảm bảo kế hoạch và tiến độ đề ra
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới cô giáo PGS.TS Dương Văn Sơn, người đã trực tiếp hướng dẫn giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo và tập thể cán bộ công chức Văn phòng Tỉnh ủy Điện Biên nơi tôi công tác đã tạo điều kiện giúp đỡ và cung cấp thông tin giúp tôi hoàn thành Luận văn
Qua đây tôi xin chân thành cảm ơn tới các tập thể cá nhân nơi tôi thu thập thông tin, Phòng Nông nghiệp và PTNT và các phòng, ban có liên quan của huyện Mường Chà và bạn bè đồng nghiệp, người thân đã động viên khích
lệ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành Luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 01 năm 2018
Tác giả luận văn
Lý Thanh Tiềm
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4
1.1.1 Khái niệm nông nghiệp 4
1.1.2 Kinh tế nông nghiệp và một số vấn đề liên quan 4
1.1.3 Phát triển kinh tế nông nghiệp 11
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 17
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông nghiệp ở một số địa phương 18
1.2.2 Bài học rút ra cho huyện Mường Chà 25
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 27
2.2 Nội dung nghiên cứu 27
2.3 Phương pháp nghiên cứu 28
2.3.1 Chọn điểm nghiên cứu 28
2.3.2 Thu thập số liệu 28
2.3.3 Phương pháp phân tích 30
Trang 62.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 31
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Đặc điểm tự nhiên - kinh tế xã hội ảnh hướng đến phát triển kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp của huyện nói riêng 33
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 33
3.1.2 Về kinh tế - xã hội 35
3.2 Thực trạng phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Mường Chà 38
3.2.1 Quy mô, sản lượng nông nghiệp 38
3.2.2 Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 43
3.2.3 Hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp huyện Mường Chà 47
3.3 Khó khăn, hạn chế, yếu kém và yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Mường Chà 58
3.3.1 Khó khăn, hạn chế, yếu kém 58
3.3.2 Yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Mường Chà 61
3.4 Quan điểm, mục tiêu và giải pháp nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Mường Chà đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 68
3.4.1 Quan điểm 68
3.4.2 Mục tiêu 69
3.4.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Mường Chà đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 70
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 75
1 Kết luận 75
2 Khuyến nghị 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 PHỤ LỤC
Trang 7UBND Ủy ban nhân dân
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện Mường Chàgiai
đoạn 2014-2016 38
Bảng 3.2 Diện tích, sản lượng một số loại cây trồng chính giai đoạn 2014 - 2016 40
Bảng 3.3 Diện tích, sản lượng dứa giai đoạn 2014-2016huyện Mường Chà 41
Bảng 3.4 Tổng đàn gia súc, gia cầm của huyện các năm 2014 - 2016 42
Bảng 3.5 Kết quả phân loại hộ điều tra theo thành phần kinh tế 48
Bảng 3.6 Số hộ trồng và diện tích một số cây lương thựctheo phân loại kinh tế hộ 48
Bảng 3.7 Giá trị sản xuất một số cây lương thực theo kinh tế hộ 50
Bảng 3.8 Diện tích và giá trị sản xuất một số cây trồng kháctheo kinh tế hộ 51
Bảng 3.9 Kết quả điều tra số gia súc theo phân loại kinh tế hộ 52
Bảng 3.10 Kết quả điều tra số gia cầm theo phân loại kinh tế hộ 53
Bảng 3.11 Kết quả điều tra cơ cấu thu nhập từ nông nghiệp và phi nông nghiệp theo phân loại kinh tế hộ năm 2016 55
Bảng 3.12 Kết quả điều tra về nhân khẩu và lao động theo phân loại kinh tế hộ năm 2017 55
Bảng 3.13 Khó khăn trong sản xuất trồng trọt và lâm nghiệp 60
Bảng 3.14 Khó khăn trong chăn nuôi hộ gia đình 60
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Hình 3.1: Diện tích, sản lượng ngành trồng trọt của huyệngiai đoạn
2014-2016 39 Hình 3.2 Giá trị ngành nông nghiệp trong tổng ngành kinh tế của huyện
giai đoạn 2014 - 2016 44 Hình 3.3 Giá trị sản xuất trong nội bộ ngành nông nghiệpcủa huyện qua
các năm 2014 - 2016 45 Hình 3.4 Đánh giá của chủ hộ về sự thay đổi cơ cấu thu nhập nội bộ
ngành nông nghiệp trong 3 năm gần đây 54
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta có hơn 70% dân số sinh sống ở khu vực nông thôn Vì vậy, trong mọi giai đoạn phát triển của nước ta nông nghiệp đã được xác định là mặt trận kinh tế hàng đầu Đảng và Chính phủ luôn quan tâm đến phát triển nông nghiệp và nông thôn, coi đây là một lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Chính nông nghiệp tạo ra phần lớn việc làm và thu nhập cho bà con nông dân, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số
Sau 30 năm đổi mới, mặc dù đã có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP năm 2016 còn 16,32%, nhưng nhìn chung Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp với 44,3% lao động nông nghiệp Nông nghiệp là nền tảng để ổn định kinh tế - xã hội, là một ngành quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam về phương diện việc làm và
an ninh lương thực Trong Báo cáo tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, đã chỉ rõ phương hướng, nhiệm vụ của phát triển ngành nông nghiệp và kinh tế nông thôn là: “xây dựng nền nông nghiệp theo hướng hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; nâng cao gia trị gia tăng, đẩy mạnh xuất khẩu”[16]
Trong những năm qua, sản xuất nông, lâm nghiệp của Mường Chà được chú trọng đầu tư phát triển khá toàn diện Tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp giai đoạn 2011 - 2015 đạt 2,2%; năm 2015, tỷ trọng nông nghiệp chiếm 52,8% trong cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn, sản lượng lương thực năm 2015 đạt 21.285 tấn, cơ bản đảm bảo an ninh lương thực và có sản phẩm bán ra trên thị trường Bước đầu hình thành một số vùng sản xuất hàng hoá tập trung như: vùng trồng cây Khoai sọ (xã Sa Lông), cây Dong riềng (xã Pa Ham, Nậm Nèn), cây Dứa (xã Na Sang, Sa Lông) [10] Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Mường Chà lần thứ XIX, Nhiệm kỳ 2015 - 2020 đã xác định:
Trang 11“phát triển nông nghiệp là nhiệm vụ trọng yếu của cả hệ thống chính trị và người dân; là cơ sở để giảm nghèo nhanh và bền vững và xây dựng nông thôn mới, gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nhằm khai thác tiềm năng, lợi thế của từng vùng theo hướng sản xuất hàng hóa, đảm bảo an ninh lương thực, nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp”
Tuy nhiên, hiện nay lĩnh vực phát triển nông nghiệp ở huyện Mường Chà với việc sử dụng nguồn tài nguyên vốn có của nông nghiệp, nông thôn vẫn còn có những vấn đề cần quan tâm là: Diện tích hoang hóa còn nhiều; tỷ
lệ hộc nghèo cao, đời sống nhân dân vùng nông thôn còn nhiều khó khăn; đời sống văn hóa tinh thần, trình độ dân trí, cơ sở y tế, giáo dục còn thấp kém; sản lượng lương thực hàng năm tăng không ổn định, phát triển nông nghiệp toàn diện chưa được quan tâm đúng mức; một bộ phận người dân thiếu đói, thiếu đất sản xuất, tập quán canh tác lạc hậu đã dẫn đến hệ lụy di cư tự do, tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; diện tích cây ăn quả
và cây công nghiệp chưa phát triển tương xứng với tiềm năng
Kinh tế nông nghiệp là một lãnh vực sản xuất ra những sản phẩm tất yếu cho xã hội, mà khu vực thành thị không thay thế được, như lương thực, thực phẩm, nguyên liệu nông nghiệp, do đó, cần được quan tâm nghiên cứu đầy đủ hơn cả về mặt lý luận và thực tiễn Xuất phát từ những vấn đề nêu trên
tôi lựa chọn đề tài “Giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Mường
Chà, tỉnh Điện Biên” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá đúng thực trạng phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên
- Đề xuất những giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Cập nhật và hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn
về phát triển kinh tế nông nghiệp tại một huyện miền núi Mường Chà, tỉnh Điện Biên
Trang 12- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn thiết thực, là tài liệu giúp huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên đề xuất giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên đến năm 2020 và định hướng đến 2025 có cơ sở khoa học Luận văn nghiên cứu khá toàn diện và có hệ thống, những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên, có ý nghĩa thiết thực cho quá trình phát triển nông nghiệp huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên
và đối với các địa phương có điều kiện tương tự
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Khái niệm nông nghiệp
Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân Hoạt động nông nghiệp không những gắn liền với các yếu tố kinh tế, xã hội mà còn gắn với các yếu tố tự nhiên Nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản Theo nghĩa hẹp nó là một ngành trực tiếp trồng trọt lương thực, chăn nuôi Ở luận văn này, tôi tiếp cận, nghiên cứu nông nghiệp theo nghĩa hẹp của nó [9]
Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội Sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng mà các ngành sản xuất khác không thể có, đó là:
- Sản xuất nông nghiệp có tính vùng
- Ruộng đất là tư liệu sản xuất nông nghiệp chủ yếu
- Đối tượng sản xuất nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi
- Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao
1.1.2 Kinh tế nông nghiệp và một số vấn đề liên quan
1.1.2.1 Khái niệm kinh tế nông nghiệp
Kinh tế nông nghiệp là một ngành kinh tế của quốc dân có chức năng phân tích ảnh hưởng của các quy luật kinh tế trong nông nghiệp, áp dụng những thành tựu kinh tế vào thực tế lãnh đạo các cơ sở nông nghiệp, tạo điều kiện phát triển lực lượng sản xuất
Kinh tế nông nghiệp còn là một môn khoa học nghiên cứu những vấn
đề kinh tế của sản xuất nông nghiệp: mối quan hệ giữa người và người, tác động và sự vận dụng cụ thể các quy luật kinh tế về sản xuất và phân phối sản phẩm trong nội bộ ngành nông nghiệp
Trang 141.1.2.2 Vai trò, vị trí của kinh tế nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
- Cung cấp lương thực thực phẩm cho nhu cầu xã hội
- Cung cấp yếu tố đầu vào ngành công nghiệp và khu vực đô thị
- Làm thị trường tiêu thụ của công nghiệp và dịch vụ
- Nông nghiệp tham gia vào xuất khẩu
- Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường
1.1.2.3 Vấn đề nông nghiệp trong một số lý thuyết kinh tế
a) Kinh tế học Mác - Lênin
- Học thuyết kinh tế của Các Mác:
Các Mác là người kế thừa có chọn lọc những tư tưởng khoa học của các nhà kinh tế trước đó người đứng gần Mác nhất là Adam - Smít
và Ricácđô
Trong quá trình phân tích Mác đã chỉ ra việc chuyển xã hội từ nền kinh
tế tự nhiên, sinh tồn, tự cấp, tự túc sang nền kinh tế hàng hóa là một tất yếu Kinh tế hàng hóa là nền kinh tế từ chậm phát triển sang phát triển
Nền kinh tế sinh tồn, tự cấp tự túc đó chính là nền kinh tế mà nông nghiệp là hoạt động sản xuất chủ yếu, vậy để phát triển phải làm chuyển động ngành này
Trong các lý thuyết của Mác, học thuyết về phân công lao động xã hội
và sự hình thành các ngành kinh tế quốc dân có nói tới khía cạnh nông nghiệp
là một ngành sản xuất Mác cho rằng sự phân công lao động đã làm "cơ sở chung của mọi nền sản xuất hàng hóa"
Có ba loại phân công:
+ Phân công lao động chung thành những ngành lớn
+ Phân công lao động đặc thù (loại và thứ)
+ Phân công lao động cá biệt trong xưởng thợ
Và cơ sở của mọi sự phân công đó là: Sự tách rời giữa chăn nuôi và trồng trọt, giữa nông nghiệp và công nghiệp, sự xuất hiện nhiều ngành nghề khác nhau
Trang 15và giữa thành thị với nông thôn Những sự tách rời đó xảy ra khi nào? Điều đó chỉ có được khi có sự nâng cao năng suất lao động xã hội, đặc biệt là trong nông nghiệp, tức nông nghiệp phải đạt tới một sự phát triển nhất định
Trong học thuyết về địa tô, Mác chỉ ra tính chất nhiều vẻ của nông nghiệp trong những điều kiện khác nhau, sự khác nhau đó xuất phát không chỉ
về vị trí và chất lượng của đất đai mà còn do sự khác nhau về cách thức đầu tư
tư bản vào ruộng đất Và việc đầu tư tư bản vào ruộng đất phụ thuộc vào chính những thay đổi về kỹ thuật, thâm canh, Lý luận về địa tô của Mác là một chỉ dẫn về một nền nông nghiệp phát triển không chỉ tăng quy mô diện tích mà bằng thâm canh cao Tư bản kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp,
đã biến hầu hết nông phẩm thành những thương phẩm trong trao đổi hàng hóa đạt đến nền nông nghiệp của kinh tế thị trường [9]
- Học thuyết kinh tế của V.I.Lênin:
Trong tác phẩm "Chủ nghĩa tư bản phát triển ở Nga" phân tích sự giải
thể của công xã nông thôn dẫn đến một sự phân hóa và phân tầng xã hội của nông thôn, tới sự mở rộng sản xuất hàng hóa và do đó tới chủ nghĩa tư bản
Tư tưởng cơ bản của Lênin ở đây là nhấn mạnh tới tầm quan trọng của
sự giải thể nền sản xuất truyền thống và sản xuất hàng hóa là con đường dẫn đến phát triển Ông còn nhấn mạnh đến sự xuất hiện một thứ chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp tức là phát triển một nền nông nghiệp thương phẩm
Mùa xuân 1921 Lênin đã đề ra "chính sách kinh tế mới" hay mô hình
NEP như một chiến lược quá độ dần dần sang chủ nghĩa xã hội [9]
+ Về tư tưởng: Nhanh chóng khắc phục sự khủng hoảng kinh tế và chính trị của nước Nga lúc này Khơi dậy tính năng động trong nông nghiệp và nông dân sau đó đến tiểu thủ công nghiệp và các ngành kinh tế khác qua động lực lợi ích kinh tế, chuyển chế độ trưng thu lương thực sang chế độ thuế lương thực
+ Về biện pháp:
Thiết lập quan hệ hàng hóa tiền tệ giữa Nhà nước và nông dân, giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa công nhân và nông dân
Trang 16Khôi phục và tổ chức nền sản xuất công nghiệp cho phù hợp với yêu cầu của công nhân và nông dân
Coi thương nghiệp là "mắt xích đặc biệt" để phục vụ thực hiện những
nhiệm vụ phát triển nông nghiệp, liên kết công - nông nghiệp
Thực hiện hạch toán kinh tế Hướng hoạt động tài chính tín dụng vào việc khôi phục phát triển nông nghiệp
Sử dụng sức mạnh của nền kinh tế nhiều thành phần thực hiện rộng rãi các hình thức kinh tế quá độ của chủ nghĩa tư bản nhà nước
Vấn đề hợp tác hóa nông nghiệp: theo nguyên tắc tự nguyện, tiến hành
từ thấp đến cao và quản lý dân chủ
Tóm lại: Chiến lược quá độ dần sang chủ nghĩa xã hội trong NEP chính
là "bắt đầu từ nông dân", đây là đột phá khẩu để khôi phục và thúc đẩy kinh
tế hàng hóa trong nông nghiệp phát triển Một tiền đề cho sự phát triển kinh tế
- xã hội và sự đứng vững của chính quyền Xô Viết [9]
b) Kinh tế học hiện đại
Kinh tế học hiện đại là một trong những trường phái kinh tế lớn nhất hiện nay, gồm nhiều nhà kinh tế học ở các nước tư bản phát triển Lý thuyết kinh tế của họ giải quyết các vấn đề của nền kinh tế thị trường hiện đại Đặc trưng của kinh tế học hiện đại là dùng phương pháp toán học để mô tả và tham gia điều hành nền kinh tế Lý thuyết "bàn tay vô hình" của A.Smith là nguyên lý chi phối trong các nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường Khi trình độ xã hội hóa cao của sản xuất làm cho nền kinh tế thị trường có nguy cơ thất bại, thuyết "bàn tay hữu hình" của Keynes ra đời nhằm cứu nguy cho chủ nghĩa tư bản Sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế cho phép kiểm soát được chu kỳ kinh tế và làm cho nền kinh tế tăng trưởng Sau một thời gian áp dụng rộng rãi học thuyết của Keynes, những nhược điểm của học thuyết bộc lộ ra, đó là sự can thiệp quá sâu của Nhà nước vào nền kinh tế Những biện pháp can thiệp của Nhà nước làm cho cơ chế linh hoạt vốn có của
Trang 17thị trường bị sơ cứng Sự phục hồi của trường phái tự do kinh doanh, trường phái thể chế đã phê phán mạnh mẽ lý thuyết của Keynes và giúp cho chủ nghĩa tư bản thích ứng với bước phát triển mới của nó Ở đây chúng ta lưu ý tới trường phái thể chế mới vì đối tượng nghiên cứu của nó khác hẳn các trường phái lý thuyết kinh tế tư bản khác Trường phái này đưa yếu tố "thể chế ", yếu tố "kết cấu" vào trong quá trình phân tích xã hội tư bản Trường phái này cho rằng hệ thống kinh tế chỉ là một bộ phận của tổng hợp nhiều thể chế trong nền văn hóa của con người, do đó nghiên cứu giải quyết vấn đề phát triển phải nghiên cứu cả tổng thể thể chế xã hội Vai trò của Nhà nước trong đời sống kinh tế là kế hoạch hóa, kiểm soát nền kinh tế bằng các chính sách
để khắc phục những khuyết tật của thị trường [9]
Như vậy kinh tế học hiện đại không trực tiếp đề cập tới vấn đề nông nghiệp trong phát triển kinh tế nhưng trong các luận điểm của nó đã chỉ ra cách thức để phát triển đó là nền kinh tế thị trường có sự can thiệp của Nhà nước ở một mức độ nhất định Việc chuyển sang kinh tế thị trường ở những nước kinh tế kém phát triển, trong đó nông nghiệp là nền tảng thì vai trò của Nhà nước đặc biệt quan trọng Những thay đổi thể chế trong lĩnh vực nông nghiệp là hết sức cần thiết để gạt bỏ những vật cản bám rễ sâu trong các xã hội này Thực tiễn lịch sử cho thấy những bài học thành công trong việc chuyển nền kinh tế nông nghiệp kém phát triển trở thành các nền kinh tế nông nghiệp hàng hóa chính là từ những bước khởi đầu của sự thay đổi chính sách đối với nông nghiệp
Tóm lại: Trên đây là những tư tưởng cơ bản của các lý thuyết kinh tế
Các lý thuyết kinh tế kể trên có những quan điểm khác nhau về vai trò của nông nghiệp trong phát triển kinh tế:
- Hầu hết các quan điểm đều cho rằng kinh tế nông nghiệp có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, do đó muốn phát triển kinh tế xã hội cần phải chú ý tới phát triển kinh tế nông nghiệp
Trang 18Trong số những lý thuyết đó còn có thuyết phân tích sâu hơn: cách làm thế nào để kinh tế nông nghiệp phát triển và đi từ đâu
Ngoài ra những lý thuyết không trực tiếp đề cập tới vấn đề kinh tế nông nghiệp, nhưng từ những quan điểm của các lý thuyết này đã đưa ra những gợi
ý cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp, chẳng hạn:
- Lưu ý tới các "cực tăng trưởng" trong nông nghiệp
- Chú ý tới lợi thế so sánh của nông nghiệp trong trao đổi quốc tế tức chú ý tới những nông sản xuất khẩu đem lại ngoại tệ
- Lưu ý tới sự thay đổi cơ chế, tác động của nó tới sự phát triển của kinh tế nông nghiệp
Việc chắt lọc những ý tưởng trong các lý thuyết kinh tế trên là hết sức cần thiết để hiểu biết và vận dụng vào quá trình đổi mới kinh tế nông nghiệp, phát triển nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay
1.1.2.4 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và tài cơ cấu nông nghiệp
- Cơ cấu kinh tế nông nghiệp:
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là số lượng của các bộ phận hợp thành của kinh tế nông nghiệp Cơ cấu kinh tế nông nghiệp phản ảnh mặt lượng và mặt chất của sự tăng trưởng Cơ cấu kinh tế nông nghiệp gồm có[1]:
+ Cơ cấu ngành
+ Cơ cấu vùng lãnh thổ
+ Cơ cấu thành phần kinh tế
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp:
Nông nghiệp là một hệ thống phức tạp gồm nhiều bộ phận có mối quan
hệ hữu cơ với nhau Những bộ phận này được coi như là các phần tử trong một cấu trúc có sự quan hệ mật thiết mà sự thay đổi của phần tử này hay sự biến đổi của một yếu tố làm cho phần tử này thay đổi thì cũng làm cho các yếu tố khác của phần tử khác thay đổi và kéo theo đó là những biến đổi của
Trang 19cấu trúc Làm thay đổi các phần tử bên trong một cấu trúc chính là làm thay đổi cơ cấu hay là chuyển dịch cơ cấu Như vậy, có thể hiểu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là quá trình làm biến đổi cấu trúc và các mối quan hệ tương tác trong hệ thống theo những định hướng và mục tiêu nhất định, nghĩa
là đưa hệ thống đó từ trạng thái này tới trạng thái khác tối ưu hơn thông qua
sự quản lý, điều khiển của con người theo đúng quy luật khách quan
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi của cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trường phát triển Chuyển dịch cơ cấu kinh tế có mối liên hệ chặt chẽ với tăng trưởng và phát triển kinh
tế, vừa là kết quả của quá trình phát triển kinh tế xã hội trong một giai đoạn nhất định vừa là yếu tố cực kì quan trọng thúc đẩy phát triển nền kinh tế xã hội quốc gia lên một trình độ mới Để phục vụ cho việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện tại và chiến lược phát triển kinh
tế xã hội của quôc gia trong một giai đoạn dài, cơ cấu kinh tế và sự chuyển dịch của nó cần phải được xem xét tổng quát để rút ra các ưu nhược điểm, phát hiện các điểm mạnh, xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh hơn
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp gắn liền với quá trình tái phân công lao động xã hội Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tạo ra hệ thống kinh tế nông nghiệp hợp lý cho phép khai thác tối ưu các nguồn lực (vốn, tài nguyên, lao động, kỹ thuật,…), đảm bảo sự phát triển cân đối, ổn định, bền vững, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý tạo điều kiện để ngành nông nghiệp nhanh chóng thích ứng với yêu cầu hội nhập và mở rộng hợp tác quốc tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý góp phần duy trì có hiệu quả nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể là nền tảng, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 20Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý góp phần thực hiện thành công quá trình CNH, HĐH, thực hiện chiến lược hướng về xuất khẩu, từng bước chuyển sang nền kinh tế tri thức
- Tái cơ cấu nông nghiệp
Thuật ngữ "Tái cơ cấu" hiện đang được sử dụng khá phổ biến và cũng
có nhiều cách hiểu khác nhau Tuy nhiên, một cách chung nhất có thể hiểu: Tái cơ cấu là sự thay đổi chiến lược, mục tiêu, tầm nhìn của một hệ thống hoặc là sự cơ cấu lại hệ thống bao gồm các hoạt động như sắp xếp lại, chuyển đổi hình thức hoạt động, xác định lại mục tiêu, chiến lược, tầm nhìn, các giá trị cốt lõi và chuẩn mực của tổ chức hay doanh nghiệp
Tái cơ cấu có thể ở các cấp độ khác nhau, cấp độ cao là sự thay đổi tầm nhìn, chiến lược, cơ cấu lại toàn bộ tổ chức có tính hệ thống; cấp thấp là sự chuyển đổi, sắp xếp lại, đổi mới quy trình hoạt động và cũng có thể bao gồm
cả hai cấp, vừa thay đổi tầm nhìn chiến lược, vừa thực hiện tổ chức sắp xếp lại doanh nghiệp
1.1.3 Phát triển kinh tế nông nghiệp
1.1.3.1 Khái niệm và mục tiêu phát triển kinh tế nông nghiệp
a) Khái niệm phát triển kinh tế
Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên hay tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm tăng về quy mô sản lượng, sự biến đổi về cơ cấu KT-XH, phải phản ánh được nội dung cơ bản: Sự tăng lên về qui mô sản xuất làm tăng thêm giá trị sản lượng của cải, vật chất, dịch vụ và sự biến đổi tích cực về cơ cấu kinh tế, tạo ra một cơ cấu hợp lý có khả năng khai thác nguồn lực trong
và ngoài nước[6]
b) Khái niệm phát triển kinh tế nông nghiệp
Phát triển kinh tế nông nghiệp là quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về mọi mặt của nền kinh tế nông nghiệp trong một thời kỳ nhất định
Phát triển kinh tế nông nghiệp theo những khía cạnh sau:
Trang 21- Phát triển sức sản xuất trong nông nghiệp;
- Phát triển phân công lao động trong nông nghiệp;
- Nâng cao dân trí;
- Giải quyết tốt vấn đề môi trường [6]
c) Mục tiêu phát triển kinh tế nông nghiệp
- Bảo đảm an ninh lương thực quốc gia trước mắt và lâu dài;
- Tăng nhanh sản xuất nông sản hàng hoá và hàng hoá xuất khẩu;
- Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho dân cư nông nghiệp và nông thôn;
- Bảo vệ môi trường sinh thái, giảm nhẹ thiên tai để phát triển bền vững [6]
1.1.3.2 Nội dung phát triển kinh tế nông nghiệp
a) Phát triển kinh tế nông nghiệp về lượng
- Tăng quy mô, sản lượng
- Tăng giá trị sản xuất nông nghiệp
- Tăng trưởng các ngành trong nội bộ nông nghiệp
b) Phát triển kinh tế nông nghiệp về chất
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý
- Hoàn thiện tổ chức sản xuất nông nghiệp
- Tăng năng suất nông nghiệp
- Giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập lao động nông nghiệp
- Bảo vệ, tái tạo môi trường sống và sản xuất nông nghiệp[6]
1.1.3.3 Chỉ tiêu phát triển kinh tế nông nghiệp
Quan điểm phổ biến hiện nay đánh giá phát triển kinh tế nông nghiệp là xác định rõ cả về những vấn đề định tính và định lượng của hoạt động kinh tế nông nghiệp trong một thời kỳ nhất định
- Chỉ tiêu định lượng bao gồm:
+ Năng suất nông nghiệp
Trang 22+ Việc làm và thu nhập lao động
- Chỉ tiêu định tính bao gồm:
+ Thay đổi tỷ lệ đóng góp của các ngành trong nội bộ nông nghiệp + Hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp: Với đất đai; với lao động; hiệu quả sử dụng vốn[6]
1.1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông nghiệp
a) Yếu tố thuộc về tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
Các yếu tố tự nhiên có vai trò quan trọng trong việc hình thành các hệ sinh thái nông nghiệp khác nhau Các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc hình thành các cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên một vùng lãnh thổ gồm có: Khí hậu, nguồn nước, đất đai và hệ sinh vật
Sản xuất nông nghiệp diễn ra trên địa bàn rộng lớn và đối tượng khai thác là sinh vật nuôi trồng gắn liền với vị trí địa lý, thổ nhưỡng, khí hậu, chế
độ thuỷ văn, ánh sáng, hệ sinh thái, tài nguyên thiên nhiên,… Đây là các yếu
tố tiền đề cực kỳ quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp
Vấn đề căn bản là lựa chọn được cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu nghề nghiệp để huy động và khai thác có hiệu quả nhất những lợi thế so sánh
về tự nhiên, tránh và hạn chế rủi ro cũng như những tác động bất lợi của tự nhiên để tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm, góp phần cạnh tranh thắng lợi trong nền kinh tế thị trường
Do vậy, phát triển kinh tế nông nghiệp phải trên cơ sở bố trí được cơ cấu cây trồng, vật nuôi tương thích với điều kiện thổ nhưỡng, chế độ thuỷ văn, ánh sáng, khí hậu, phải tôn trọng các quy luật tự nhiên để đảm bảo năng suất cây trồng, vật nuôi cao nhất, đảm bảo mức sinh lời lớn với chi phí thấp, qua đó đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất
Ngày nay, mặc dù khoa học - công nghệ đã phát triển đến trình độ rất cao, con người đã tạo ra những giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao và thích ứng với điều kiện tự nhiên, nhưng để có một cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Trang 23hợp lí, mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất, nhất thiết phải tôn trọng các quy luật tự nhiên, coi trọng vấn đề bảo vệ môi trường, sinh thái Đồng thời khuyến khích sự sáng tạo của con người nhằm tranh thủ tốt nhất những lợi thế của tự nhiên để phát triển kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng đạt hiệu quả cao nhất[17]
b) Yếu tố thị trường ảnh hưởng đến kinh tế nông nghiệp
Thông qua quan hệ cung - cầu, giá cả thị trường đối với sản phẩm nông nghiệp, yếu tố này chi phối rất lớn đến cơ cấu cây trồng, vật nuôi Bởi vì, trong kinh tế thị trường những sản phẩm nào có lợi nhuận cao, thị trường ổn định thì các doanh nghiệp, hộ gia đình, hợp tác xã sẽ đầu tư vốn để phát triển
Thông qua những chức năng như điều tiết và kích thích sản xuất, thông tin tín hiệu cho người sản xuất và quản lý, thị trường tác động mạnh đến sự cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu ngành nghề trong sản xuất nông nghiệp Bởi
vì, mục đích của người kinh doanh là tối đa hoá lợi nhuận, nếu có thị trường
ổn định để tiêu thụ hàng hoá, giá cả có thể chấp nhận được thì đó là căn cứ, là tiếng gọi đối với nhà đầu tư kinh doanh nông nghiệp
Quy mô, cơ cấu và động thái của thị trường chi phối rất lớn và có thể nói là yếu tố quyết định đối với người sản xuất - kinh doanh, chi phối quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi
Trong nền kinh tế thị trường, cả 3 vấn đề cơ bản là sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai đều do thị trường quyết định Thị trường không chỉ quyết định về số lượng mà còn về chất lượng, cơ cấu, mẫu mã sản phẩm hàng hóa, dịch vụ Thị trường tác động trực tiếp đến quy mô, trình độ phát triển của cơ sở kinh tế, đến xu hướng phân công lao động, vị trí, tỷ trọng các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân Do vậy, phát triển kinh tế nông nghiệp có hiệu quả phải căn cứ vào nhu cầu thị trường để làm định hướng cho cơ cấu cây trồng, vật nuôi Thị trường có vai trò là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, là điều kiện thúc đẩy thị trường nông nghiệp phát triển
Trang 24Tuy nhiên, nếu để thị trường phát triển tự phát sẽ dẫn đến mất cân đối, do đó cần phải có sự quản lý của Nhà nước để điều tiết thị trường
c) Yếu tố về kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp
Các yếu tố của kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội như hệ thống giao thông, thuỷ lợi, điện, nước sinh hoạt,… là điều kiện, là tiền đề cho sản xuất hàng hoá Tất cả các yếu tố đó đều tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến phát triển kinh tế nông nghiệp
d) Yếu tố nguồn lực đầu tư sản xuất và hoạt động cung ứng dịch vụ nông nghiệp
Vốn đầu tư cũng là yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với việc phát triển kinh tế nông nghiệp Có vốn mới giải quyết được vấn đề tăng cường cơ sở kỹ thuật, ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn lao động Vì vậy, để tăng trưởng kinh tế nông nghiệp cao và ổn định, phải tăng cường đầu tư vốn cho phát triển sản xuất và kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn cũng như các yếu tố kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội liên quan khác
e) Yếu tố năng lực của chủ thể sản xuất
Trình độ, kỹ năng của người lao động, tập quán canh tác, ngành nghề truyền thống cũng chi phối mạnh mẽ đến bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu sản phẩm ở mỗi vùng, mỗi địa phương Các nghề tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ cũng tác động tích cực tới việc phát triển kinh tế nông nghiệp Muốn phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH tất yếu phải phát triển lực lượng sản xuất, trong đó lực lượng lao động là nhân tố hàng đầu Chỉ có đội ngũ lao động với chất lượng cao, cơ cấu hợp lý mới có khả năng tiếp thu được khoa học công nghệ, nhất là công nghệ tin học, sinh học để phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn
f) Yếu tố khoa học - công nghệ
Tiến bộ khoa học - công nghệ được ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp cho phép tạo ra những sản phẩm mới, chất lượng và năng suất cao hơn
Trang 25Những thành tựu và kiến thức về khoa học xã hội và nhân văn cũng tác động tích cực đến việc nâng cao trình độ văn hoá, kiến thức kinh tế cho nông dân trong phát triển kinh tế nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới
Khoa học - công nghệ phát triển đã tạo cho người nông dân nhiều giống mới với phẩm chất tốt, cho phép đổi mới công nghệ sản xuất, bảo quản, chế biến, cho phép thực hiện phân công lại lao động xã hội Khoa học - công nghệ phát triển sẽ hạn chế được những yếu tố bất lợi của tự nhiên, kinh tế và xã hội
Sự phát triển và ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ vào sản xuất nông nghiệp đã góp phần tăng nhanh năng suất lao động, nâng cao chất lượng
và hiệu quả sản xuất Tuy nhiên, trong quá trình ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ phải đảm bảo đồng bộ, phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ lao động và sự tiếp cận của nền kinh tế nông nghiệp trong từng giai đoạn nhất định
g) Các cơ chế, chính sách Nhà nước về phát triển kinh tế nông nghiệp
Đó là tổng thể những tác động về thể chế, chính sách kinh tế nhằm định hướng và điều tiết ngành kinh tế nông nghiệp Thông qua hệ thống pháp luật, các chính sách và công cụ quản lý vĩ mô như chính sách đầu tư, chính sách tài chính, tiền tệ, tỷ giá, chính sách thương mại, xuất nhập khẩu, chính sách kinh
tế đối ngoại,… yếu tố này tác động mạnh mẽ đến việc định hướng phát triển kinh tế nông nghiệp Nhà nước tạo động lực và hành lang pháp lý điều tiết sản xuất, kinh doanh qua hệ thống luật pháp và chính sách Nhà nước còn can thiệp vào thu hút, sử dụng vốn đầu tư để phát triển kinh tế nông nghiệp có hiệu quả theo mục tiêu, phương hướng chung của đất nước
Ngoài ra, phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện còn chịu ảnh hưởng trực tiếp của các chính sách phát triển kinh tế của tỉnh như chính sách đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn; chính sách chuyển giao khoa học và công nghệ; chính sách khuyến khích phát triển các mặt hàng mũi nhọn trong nông nghiệp,…
Trang 26Các yếu tố cơ bản nêu trên có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau và cùng tác động đến phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn Tuy nhiên, trong đinh hướng phát triển kinh tế nông nghiệp, phải tìm ra những yếu tố có ảnh hưởng quyết định đến quá trình này để trên cơ sở đó có các biện pháp tổ chức thực hiện phù hợp [17]
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng về phát triển kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN, đã làm cho kinh tế nông nghiệp phát triển tốt là nhờ có ba tác nhân quan trọng đã tác động đến nền kinh tế nước ta trong thời gian qua là:
- Chỉ thị 100/CT-TW, ngày 13-01-1981 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IV) về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã lao động; Chỉ thị này có ý nghĩa quyết định trong việc xác định quyền tự chủ về sức lao động của nông dân [4]
- Nghị quyết 10-NQ/TW, ngày 05-4-1988 của Bộ Chính trị về đổi mới kinh tế nông nghiệp đã mang lại sức sống mới cho nền kinh tế nói chung và nền kinh tế nông nghiệp nới riêng với nội dung chủ yếu là khoán hộ, đã xác nhận hộ nông dân được quyền tự chủ ruộng đất lâu dài và làm chủ thêm nhiều
tư liệu sản xuất chủ yếu khác như: sức kéo và công cụ sản xuất.[5]
- Nghị quyết 05-NQ/TW, ngày 10-6-1993 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khăa VII về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xă hội nông thôn; đây là Nghị quyết chuyên đề đầu tiên của BCH Trung ương bàn về chính sách đối với kinh tế - xă hội nông thôn thời kỳ đổi mới [3]
- Đại hội lần thứ VIII (1996) của Đảng đã đề ra mục tiêu “từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp” Đại hội đã xác định: “Đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
Trang 27nghiệp và nông thôn”; về cơ cấu kinh tế nông nghiệp: “Phát triển toàn diện nông, lâm ngư nghiệp, gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản và đổi mới cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện địa hóa” Ngày 10-11-1988, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW về “một
số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn”, nêu rõ vị trí của CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Sau Nghị quyết 10 (1988), Nghị quyết 06 (1998) là Nghị quyết chuyên bàn về phát triển nông nghiệp và nông thôn Nếu Nghị quyết 10 được coi như tạo ra bước đột phá trong tiến trình đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp, thì Nghị quyết 06 (khóa VIII) của Bộ Chính trị là bước ngoặt quan trọng trong hoạch định đường lối phát triển nông nghiệp, nông thôn, xác định mô hình cơ cấu kinh tế nông nghiệp thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Các văn kiện, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, X, XI, XII đều có
sự cụ thể hóa thêm đường lối đổi mới kinh tế cũng như đổi mới cơ chế quản
lý kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp nhằm tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy nông nghiệp phát triển
Chính nhờ những chỉ thị, nghị quyết nêu trên, nông dân gần như đã nhận được toàn bộ quyền tự chủ về sức lao động, vốn, đất đai, tư liệu sản xuất nông nghiệp khác Họ phấn khởi thật sự và sản xuất nông nghiệp tăng rõ rệt, đời sống nông dân ngày một cải thiện, bộ mặt nông thôn có nhiều thay đổi
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông nghiệp ở một số địa phương
a) Kinh nghiệm của huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
Chiếm tỷ trọng không lớn trong cơ cấu kinh tế của địa phương, chỉ với 28,8% và đang từng bước chuyển dịch theo hướng giảm dần, thế nhưng kinh
tế nông, lâm nghiệp, thủy sản, trong đó có lĩnh vực chăn nuôi đang có những đóng góp không nhỏ đối với tăng trưởng kinh tế của huyện Văn Chấn
Nhìn vào lĩnh vực chăn nuôi của huyện Văn Chấn, không khó để nhận
ra những tín hiệu vui khi chăn nuôi đã trở thành một nghề cho thu nhập khá hơn hẳn Nếu trước đây, một trong những nguyên nhân khiến ngành chăn
Trang 28nuôi của địa phương chưa thực sự phát triển, là do chưa có chính sách cụ thể cho chăn nuôi gia súc, gia cầm; hình thức chăn nuôi lạc hậu, nông dân chủ yếu chăn nuôi quảng canh theo cách chăn thả tự nhiên; con giống chưa được lựa chọn tốt, phần nhiều vẫn là giống địa phương, thì nay những yếu tố này
đã căn bản được đáp ứng bằng nhiều nguồn lực hỗ trợ trên cơ sở các chính sách, chương trình, dự án khuyến khích phát triển chăn nuôi của tỉnh, cũng như các chính sách lồng ghép Qua đó, tạo đà cho nghề chăn nuôi ở địa phương phát triển mạnh mẽ, góp phần quan trọng vào việc xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống cho người dân Đặc biệt, những địa phương vùng khó khăn, trước đây chưa chú trọng phát triển chăn nuôi, nay đã mạnh dạn đầu tư xây dựng các mô hình trang trại
Sùng Đô - 1 trong 4 xã đặc biệt khó khăn của huyện Văn Chấn, lĩnh vực chăn nuôi đang có sự chuyển dịch mạnh về phương thức từ chăn nuôi quảng canh sang chăn nuôi bán chăn thả Ở Sùng Đô hiện nay, mô hình chăn nuôi trâu, bò, lợn quy mô trên chục con trở lên hiện đã có tới vài chục hộ
Phù Nham là xã rộng lớn nằm trong vùng lòng chảo Mường Lò, chăn nuôi hiện đang chiếm khoảng 40% tỷ trọng của nền kinh tế địa phương Nhiều
mô hình kinh tế chăn nuôi trong dân đang cho hiệu quả kinh tế tốt
Có thể thấy, từ sự chuyển đổi mạnh mẽ tập quán phát triển mạnh chăn nuôi đại gia súc gắn với thâm canh và bán thâm canh, huyện Văn Chấn đang triển khai thực hiện hiệu quả các chính sách hỗ trợ để tăng đàn đại gia súc bằng các phương pháp tăng cơ học và tăng tự nhiên, tập trung chủ yếu tại các
xã vùng cao và vùng thượng huyện Hình thành vùng chăn nuôi hàng hóa của huyện, trong đó chú trọng phát triển chăn nuôi trâu, bò ở các xã vùng cao, vùng thượng huyện; chăn nuôi lợn tập trung chủ yếu ở các xã vùng ngoài và một số xã vùng trong
Từ năm 2008 đến nay, nguồn lực từ các chính sách hỗ trợ phát triển chăn nuôi của tỉnh, huyện Văn Chấn đã hình thành và phát triển được trên 160
Trang 29mô hình chăn nuôi trang trại quy mô nhỏ và vừa theo hướng công nghiệp và bán công nghiệp Trong đó, có 63 cơ sở chăn nuôi lợn thịt quy mô 50 con trở lên; 41 cơ sở chăn nuôi lợn nái; 33 cơ sở chăn nuôi trâu, bò, còn lại là các cơ
sở chăn nuôi gia cầm
Hiệu quả các giải pháp chuyển đổi cơ cấu nội ngành theo hướng nâng cao giá trị sản xuất hàng hóa gắn với xây dựng nông thôn mới thông qua các chính sách hỗ trợ khuyến khích phát triển sản xuất, chăn nuôi của tỉnh, đã trở thành động lực phát triển kinh tế nói chung, lĩnh vực chăn nuôi nói riêng ở địa phương Đến năm 2015, tổng đàn gia súc của huyện đã đạt trên 119.000 con, tăng gần 10.000 con so với năm 2000; tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 6.300 tấn Tính đến tháng 4/2016, tổng đàn gia súc của huyện tăng, đạt và vượt kế hoạch với trên 124.000 con
Triển khai đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp một cách đồng bộ, tập trung tái cơ cấu nội ngành giữa các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, tăng giá trị, hiệu quả trên một đơn vị diện tích; tăng tỷ trọng chăn nuôi trong cơ cấu nông nghiệp, năm 2016, trên địa bàn huyện Văn Chấn thực hiện 6/8 đề án theo Quyết định 250/QĐ-UBND ngày 19/2/2016 của UBND tỉnh Trong đó, thực hiện đề án hỗ trợ chăn nuôi, huyện được giao hỗ trợ 53 cơ sở tập trung gồm:
Hỗ trợ 30 cơ sở chăn nuôi bò, quy mô 10 con/cơ sở tại 7 xã gồm: Nậm Búng, Gia Hội, Suối Quyền, Thượng Bằng La, Đại Lịch, Phù Nham và Nghĩa Sơn;
hỗ trợ 4 cơ sở chăn nuôi trâu, bò quy mô 30 con/cơ sở tại các xã: Nậm Búng, Gia Hội, thị trấn Nông trường Liên Sơn, thị trấn Nông trường Nghĩa Lộ; hỗ trợ 5 cơ sở chăn nuôi lợn thịt quy mô 100 con/lứa tại xã Nghĩa Tâm, Đại Lịch, thị trấn Nông trường Liên Sơn và thị trấn Nông trường Nghĩa Lộ; hỗ trợ 5 cơ
sở nuôi lợn nái quy mô 15 con/cơ sở tại 5 xã, thị trấn; hỗ trợ 5 cơ sở chăn nuôi gia cầm quy mô 1.000 con/lứa tại các xã Nghĩa Tâm, Sơn Thịnh, thị trấn Nông trường Liên Sơn và thị trấn Nông trường Nghĩa Lộ Huyện đã nghiệm thu hoàn thành 53/53 cơ sở theo kế hoạch tỉnh giao
Trang 30Bước đầu triển khai thực hiện Đề án Hỗ trợ chăn nuôi giai đoạn 2016 -
2020 của tỉnh thấy rằng, với các chính sách hỗ trợ khá phù hợp và kịp thời,
Đề án đã khuyến khích người chăn nuôi trên địa bàn huyện chuyển đổi phương thức chăn nuôi, mở rộng quy mô phát triển chăn nuôi tập trung theo hướng hàng hóa Có thể thấy, tin tưởng và vui hơn ai hết khi đón nhận các chính sách hỗ trợ của tỉnh chính là các hộ chăn nuôi Với nông nghiệp huyện Văn Chấn, đây còn được xem là đòn bẩy động lực để đạt mục tiêu đến năm
2020, đưa giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản của huyện đạt con số từ 1.500 tỷ đồng trở lên
b) Kinh nghiệm của huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La
Yên Châu là một huyện miền núi, biên giới của tỉnh Sơn La, nằm trên trục quốc lộ 6; có tổng diện tích tự nhiên là 85.937 ha, trong đó: diện tích đất lâm nghiệp là 43.945 ha, diện tích cây ăn quả là 2.657 ha; diện tích cây lương thực trên đất dốc 17.934 ha; dân số có 75.668 người, gồm 5 dân tộc: Thái, Kinh, Mông, Xinh Mun, Khơ Mú và một số ít đồng bào dân tộc khác cùng sinh sống Huyện có 14 xã và 1 thị trấn với 184 bản, 6 tiểu khu, có 4 xã vùng cao biên giới Trung tâm huyện cách thành phố Sơn La 62 km theo hướng Đông Nam, cách Hà Nội 240 km theo hướng Tây Bắc
Xác định nông nghiệp là thế mạnh trong phát triển kinh tế, huyện đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao chất lượng các loại sản phẩm có giá trị kinh tế, năng suất, chất lượng, có khả năng cạnh tranh cao, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động Tập trung đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, từng bước nâng cao giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích canh tác; đẩy mạnh triển khai các mô hình trình diễn về cây trồng, vật nuôi giống mới có năng suất và chất lượng cao, kết hợp với đẩy mạnh áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật mới vào quá trình sản xuất Các mô hình thực hiện đạt mục tiêu đề ra và được nhân dân ứng dụng,
mở rộng sản xuất mang lại hiệu quả
Trang 31- Về phát triển cây ăn quả: huyện Yên Châu có trên 24 nghìn ha đất sản xuất nông nghiệp, do địa hình chia cắt nên chủ yếu là đất dốc và đã bị bạc mầu Với phương châm trước hết là cải tạo vườn cây ăn quả kém hiệu quả sang vườn cây ăn quả có thu nhập cao, đồng thời nhân rộng diện tích cây ăn quả có lợi thế của huyện như: Xoài, chuối, nhãn, mận Huyện đã tổ chức cho cán bộ, nhân dân đi thăm quan học hỏi những mô hình ở các địa phương khác để vận dụng tại địa phương mình Từ mô hình nhãn ghép với quy mô 2 ha bằng nguồn vốn của Trung tâm khuyến nông tỉnh và ngân sách của huyện cấp năm 2011, một số
hộ tại xã Tú Nang đã mạnh dạn đốn tỉa và ghép giống nhãn chín muộn giống gốc từ Hưng Yên; mô hình ghép xoài Đài Loan Sau một năm cho sản phẩm, với năng suất cao, chất lượng ngon, mẫu mã đẹp, giá bán cao
- Về lĩnh vực trồng trọt có nhiều khởi sắc: Mô hình thâm canh ngô lai được triển khai diện rộng, huyện đã phối hợp với Công ty ngô giống xây dựng các mô hình trình diễn ngô lai giống mới tại 14 xã Đến nay, các mô hình được bà con đưa vào sản xuất đại trà, 100% sử dụng giống mới; các hộ nông dân áp dụng biện pháp thâm canh, đầu tư phân bón, đưa năng suất ngô
từ 35 tạ/ha lên 55 tạ/ha, có hộ đạt 10 tạ/ha
Mô hình thâm canh lúa nước, mô hình trình diễn các giống lúa: Hoa khôi 4 được thâm canh theo phương pháp SRI kết hợp với nuôi cá, PAC 807- Giống lúa nếp ĐT52, TBR225,… Các hộ gia đình đã đưa giống mới vào sản xuất, chủ động giống để gieo cấy
Mô hình trồng tỏi trên ruộng 1 vụ, 2 vụ được thử nghiệm đầu tiên với 1
ha tại Chiềng Đông Qua thực tiễn cho thấy, mô hình rất phù hợp với điều kiện đầu tư, trình độ sản xuất của bà con nông dân, tăng hệ số sử dụng đất, tăng thu nhập cho nông dân, góp phần làm thay đổi tập quán canh tác của nông dân Mô hình được mở rộng ở nhiều xã với diện tích hơn 100 ha, mang lại thu nhập cao cho nông dân
- Về lĩnh vực chăn nuôi: các mô hình phát triển chăn nuôi bò cái sinh sản, chăn nuôi dê, gà thả vườn, lợn nái sinh sản, thụ tinh nhân tạo cho bò, ủ
Trang 32phân vi sinh, sử dụng chế phẩm Balasa làm đệm lót sinh học trong chăn nuôi
gà và chăn nuôi lợn được phổ biến rộng rãi trong nông thôn
Chương trình thuỷ sản: Thực hiện triển khai và phát triển các mô hình chăn nuôi cá (ươm cá giống, nuôi cá ruộng, cá ao) như: Nuôi cá rô phi đơn
tính, tôm càng xanh, mô hình nuôi cá chép lai 3 máu,
Chương trình khí sinh học: Năm 2006 có 40 công trình, đến năm 2014, toàn huyện đã xây dựng được trên 500 công trình, mô hình đã góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, nhiều hộ nông dân xây dựng mô hình sử dụng bã thải tưới cho rau, chạy máy phát điện, trạm khuyến nông huyện có 4 kĩ thuật viên chuyên trách về chương trình khí sinh học chuyên tư vấn cho bà con thực hiện
- Về mô hình khuyến công, khuyến lâm: Yên Châu đã xây dựng được
các mô hình: Máy sấy nông sản, tưới ẩm tiết kiệm nước cho chè, máy làm đất
đa năng, máy nâng xếp mía, trồng thâm canh cây gỗ lớn (giổi xanh), Các
mô hình khuyến công, khuyến lâm đã đáp ứng được các thông số kỹ thuật và phát huy tác dụng, được các hộ nông dân học tập và nhân rộng
Ngoài ra, huyện còn tích cực chuyển giao các tiến bộ khoa học kĩ thuật đến tận người dân, nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp dưới nhiều hình thức xây dựng các mô hình trình diễn, các mô hình sản xuất tiên tiến để qua đó hướng dẫn, tập huấn kỹ thuật cho bà con nông dân Phối hợp với các chương trình, các dự án triển khai đúng mục tiêu,
có hiệu quả, tăng cường kỹ năng tiếp cận thị trường cho nông dân Bên cạnh
đó, công tác chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, công tác thâm canh, tăng
vụ và đưa cơ giới hóa vào quá trình sản xuất được đẩy mạnh thực hiện
Những kết quả trên đã góp phần nâng cao tổng sản lượng lương thực trên địa bàn huyện Năm 2014, tổng sản lượng lương thực toàn huyện đạt 87.270 tấn, tăng 34.360 tấn so với năm 2010, góp phần đưa giá trị của sản xuất nông nghiệp tăng dần qua các năm (năm 2014 đạt 9082 tỷ đồng, chiếm 38,4% cơ cấu kinh tế của huyện, tăng 48,1% so với năm 2010) Đời sống của
Trang 33nhân dân các dân tộc trên địa bàn huyện không ngừng được nâng lên, góp phần làm giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn 2011-2015 qua các năm (giảm từ 42,6% năm 2010 xuống còn 28,34% năm 2014)
Để tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập bền vững cho người nông dân, trong nhiệm kỳ XX (2015-2020), Đảng bộ huyện Yên Châu đã xác định nhiệm vụ trọng tâm về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn là: Tập trung phát triển kinh tế nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới Xây dựng và phát triển mô hình hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới, chuyển từ hộ sản xuất cá thể, đơn lẻ là chủ yếu sang sản xuất liên kết qua hợp tác xã, liên kết với doanh nghiệp qua hợp tác xã, tạo sự đột phá trong phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp Chuyển đổi một số cây trồng kém hiệu quả sang cây trồng khác có hiệu quả kinh tế cao Trồng rừng kinh tế, rừng sản xuất theo kế hoạch Phát triển rừng sinh thái gắn với phát triển du lịch, tập trung theo hướng liền vùng, liền khoảnh, khuyến khích các doanh nghiệp đầu
tư phát triển kinh tế rừng, công nghiệp sơ chế Phát triển các mô hình rau sạch, an toàn, các sản phẩm hàng hóa có lợi thế ở địa phương Tiếp tục triển khai các đề án xây dựng nông thôn mới, huy động các nguồn lực trong nhân dân, quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn lực đầu tư của nhà nước, hoàn thành chỉ tiêu về xây dựng nông thôn mới
Trên cơ sở tiềm năng, lợi thế của địa phương, một số lĩnh vực, dự án huyện đang quan tâm ưu tiên thu hút đầu tư đó là: Dự án đầu tư vùng trồng rau
an toàn theo tiêu chuẩn VIETGAP; dự án phát triển vùng xoài Yên Châu; dự án phát triển vùng chuối Yên Châu; dự án phát triển vùng cây chè Yên Châu; dự án phát triển vùng cây dược liệu; dự án chế biến sản phẩm sau thu hoạch; dự án phát triển vùng du lịch Hang Chi Đảy, du lịch Hồ Chiềng Khoi, khu căn cứ cách mạng Việt Nam - Lào; dự án phát triển các làng nghề thổ cẩm,
Phát huy kết quả đạt được trong những năm qua, trong giai đoạn
2015-2020 tin tưởng rằng với sự nỗ lực phấn đấu, quyết tâm của huyện, Yên Châu
Trang 34sẽ thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XX, phấn đấu trở thành huyện phát triển khá trong tỉnh Sơn La
1.2.2 Bài học rút ra cho huyện Mường Chà
Để phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Mường Chà cần nghiên cứu kỹ các điều kiện để phát triển nông nghiệp, nghiên cứu để phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới: Phát triển nông, lâm nghiệp, thuỷ sản theo hướng chất lượng, có giá trị cao và bền vững; phát huy lợi thế so sánh các tiểu vùng kinh tế; mỗi địa phương một sản phẩm Chú trọng chế biến, tiêu thụ nông sản; phát triển mạnh kinh tế trang trại, gia trại, thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp trên địa bàn Quản lý diện tích đất trồng lúa nước, chú trọng công tác thuỷ lợi, phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn và dịch bệnh cho cây trồng, vật nuôi Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, nhất là khâu giống, bảo vệ thực vật, thú y, khuyến nông; thâm canh, tăng vụ đưa cơ giới hoá vào sản xuất
Nông nghiệp là khu vực kinh tế truyền thống, tập trung tuyệt đại đa số lao động của xã hội; nó chịu ảnh hưởng to lớn của điều kiện đất đai, khí hậu
và là khu vực duy nhất sản xuất ra lương thực - thực phẩm Do những đặc điểm nổi bật đó, kinh tế nông nghiệp có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế, đồng thời bản thân nó chịu ảnh hưởng to lớn của quá trình phát triển
Từ kinh nghiệm về phát triển kinh tế nông nghiệp của một số địa phương trong nước có thể rút ra bài học cho huyện Mường Chà như sau:
- Khuyến khích nông dân đẩy mạnh phát triển các nông sản có lợi thế cạnh tranh phục vụ xuất khẩu đi đôi với đầu tư thâm canh, đa dạng hóa sản xuất trên cơ sở địa phương tập trung đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, nhất là hệ thống thủy lợi, hỗ trợ tín dụng, khoa học và công nghệ
- Phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp và sử dụng nhiều lao động ở nông thôn
Trang 35- Ưu tiên đầu tư phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ trong nông nghiệp
- Khuyến khích các công ty, doanh nghiệp tham gia vào thu mua, xuất khẩu nông sản thông qua chính sách hỗ trợ tín dụng đầu tư xây dựng nhà máy chế biến, kho chứa nông sản ngay tại địa bàn nông thôn để nông dân yên tâm đầu tư vào sản xuất, giảm bớt rủi ro
- Tạo môi trường thuận lợi để khuyến khích các thành phần kinh tế trong nông nghiệp phát triển
- Cần thay đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp như hiện nay sang tư duy kinh tế nông nghiệp, tức là không sản xuất theo số lượng mà phải tập trung về hiệu quả, về giá trị, sản xuất theo tín hiệu thị trường, theo chuỗi giá trị nông sản
Trang 36Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế nông nghiệp, quá trình phát triển các ngành trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp trên địa bàn huyện Mường Chà (huyện Mường Chà không
có diện tích nuôi trồng thủy sản nên ở Luận văn này không đi sâu nghiên cứu ngành thủy sản)
Đối tượng điều tra khảo sát bao gồm: hộ sản xuất nông nghiệp, hợp tác
xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn huyện Mường Chà
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Năm 2014 - 2016
- Về không gian: Huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên
- Về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến nội dung phát triển kinh tế nông nghiệp, hộ nông dân, đánh giá phát triển kinh tế nông nghiệp
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Thực trạng phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Mường Chà:
+ Phát triển kinh tế nông nghiệp về lượng: tăng quy mô, sản lượng, tăng giá trị sản xuất, tăng trưởng các ngành trong nội bộ ngành nông nghiệp,
+ Phát triển kinh tế nông nghiệp về chất: Chuyển dich cơ cấu kinh tế nông nghiệp, tổ chức sản xuất (hộ gia đình, hợp tác xã, doanh nghiệp, )
+ Khó khăn, thách thức và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Mường Chà: Yếu tố tự nhiên, tài nguyên, thị trường, cơ sở
hạ tầng, nguồn lực đầu tư, năng lực của chủ thể sản xuất, khoa học công nghệ trong nông nghiệp,
- Giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Mường Chà
Trang 372.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Chọn điểm nghiên cứu
Chọn 3 xã làm điểm nghiên cứu đại diện cho 3 tiểu vùng khác nhau của huyện đó là: xã Ma Thì Hồ ở phía Tây, xã Na Sang ở phía Nam, xã Huổi Lèng phía Bắc (điều tra từng bản trong từng xã), những xã này có thể đại diện cho từng vùng và cho huyện
2.3.2 Thu thập số liệu
2.3.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp sử dụng trong luận văn được thu thập từ các thông tin công bố chính thức của các cơ quan Nhà nước, các nghiên cứu cá nhân, tổ chức về tình hình sản xuất nông nghiệp và tổ chức kinh tế xã hội
Các số liệu thứ cấp chủ yếu từ các nguồn, các công trình khoa học trong nước có liên quan đến phát triển nông nghiệp, thông qua các tài liệu trong và ngoài nước đã công bố như: Niên giám thống kê tỉnh Điện Biên và huyện Mường Chà qua các năm; tài liệu báo cáo của các tổ chức trong và ngoài nước; văn bản của UBND huyện, tỉnh, các sở, ban, ngành của tỉnh Điện Biên, tài liệu trên internet như các trang Website, các báo cáo nghiên cứu chuyên đề, các tài liệu khác,
2.3.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp được sử dụng trong luận văn là số liệu tác giả thu thập từ các hộ nông nghiệp trên địa bàn Đây là số liệu chưa được công bố, tính toán chính thức, phản ánh kết quả phát triển kinh tế nông nghiệp, các nhân tố ảnh hưởng và các vấn đề khác có liên quan
Phương pháp được sử dụng để thu thập số liệu sơ cấp:
- Phương pháp điều tra theo bảng hỏi (phiếu điều tra) đã chuẩn bị trước
để phỏng vấn nông hộ Sử dụng phương pháp này để điều tra hộ nông dân, hộ sản xuất nông nghiệp Nội dung thông tin cần thu thập ở hộ sản xuất nông nghiệp gồm thông tin về hộ: danh tính, nghề nghiệp (thuần nông, hỗn hợp),
Trang 38phân loại kinh tế hộ, quy mô sản xuất (diện tích canh tác, số thửa ruộng, số đầu gia súc, )
Luận văn đã thực hiện điều tra ở 03 xã đại diện cho 03 tiểu vùng khác nhau của huyện (xã Ma Thì Hồ ở phía Tây, xã Na Sang ở phía Nam, xã Huổi Lèng phía Bắc), mỗi xã thực hiện điều tra trên tất cả các bản trong xã Số hộ điều tra là 90 hộ nông dân thuộc 03 xã Cụ thể: xã Ma Thì Hồ 30 hộ, xã Huổi Lèng 30 hộ và xã Na Sang 30 hộ Chọn các hộ để điều tra phân theo hiện trạng kinh tế hộ, không chọn các hộ không liên quan đến sản xuất nông nghiệp, có cả các giàu, hộ khá, hộ trung bình, hộ cận nghèo và hộ nghèo trong
xã (xác định hiện trạng kinh tế hộ trước khi tiến hành điều tra theo danh sách của trưởng bản) Các hộ được lựa chọn để điều tra phỏng vấn theo phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên Cụ thể:
+ Xã Ma Thì Hồ 30 hộ, trong đó: 04 hộ giàu, 04 hộ khá, 02 hộ trung
- Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc đối với các đại diện khối kinh tế tập thể như hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp nông nghiệp, nhà quản lý,
- Phương pháp quan sát trực tiếp: Sử dụng phương pháp quan sát để thu thập thông tin về tình hình cơ sở hạ tầng ở địa phương, cơ sở vật chất và điều kiện sống của người dân
- Phương pháp thảo luận nhóm những người liên quan để tìm hiểu khó khăn thách thức và yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông nghiệp
Trang 39- Phương pháp chuyên gia (cán bộ cấp huyện như Phó Chủ tịch UBND huyện phụ trách lĩnh vực nông nghiệp, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện,…) nhằm tham khảo ý kiến đánh giá và các đề xuất giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện
2.3.3 Phương pháp phân tích
- Phương pháp xử lý số liệu chủ yếu là phương pháp của thống kê
Công cụ xử lý và tính toán: Sử dụng phần mềm Excel để xử lý các số liệu đã thu thập được Các thông tin định lượng và định tính trong bảng hỏi (phiếu điều tra) được tính toán xử lý một số đại lượng thống kê thông dụng của mẫu (n) như: Độ lệch chuẩn (SD), sai số chuẩn (SE), hệ số biến động (CV%),
- Phương pháp phân tổ thống kê: Phân chia tổng thể thống kê thành các
tổ có tính chất khác nhau (phân chia theo thành phần kinh tế, theo thu nhập )
để hệ thống hoá và tổng hợp số liệu thu thập được, phân chia theo các tiêu thức, chỉ tiêu phù hợp với mục đích, nội dung nghiên cứu
- Phương pháp đồ thị thống kê: Trình bày và phân tích các thông tin
thống kê bằng các biểu đồ, đồ thị và bản đồ thống kê (biểu đồ cơ cấu ngành,
đồ thị tốc độ tăng trưởng, tổng giá trị sản xuất, ) để trình bày các đặc điểm số lượng của nội dung nghiên cứu Từ đó phân tích được những đặc điểm cơ bản của hiện tượng bằng trực quan một cách dễ dàng và nhanh chóng, đồng thời trình bày các thông tin thống kê một cách khái quát và sinh động; thu hút sự
chú ý của người đọc, giúp người xem dễ hiểu, dễ nhớ
- Phương pháp phân tích dãy số biến động theo thời gian:
Dãy số biến động theo thời gian là dãy các trị số của một chỉ tiêu thống
kê được sắp xếp theo thứ tự thời gian, dùng để phản ánh quá trình phát triển của hiện tượng Căn cứ vào đặc điểm của dãy số biến động theo thời gian ta
có thể vạch rõ xu hướng, tính quy luật phát triển của hiện tượng theo thời gian
và từ đó có thể dự đoán khả năng hiện tượng có thể xảy ra trong tương lai
Trang 40- Phương pháp so sánh:
Phương pháp so sánh (so theo thời gian, theo vùng sinh thái, theo đặc điểm…) để xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích, phản ánh chân thực hiện tượng nghiên cứu, giúp cho việc tổng hợp tài liệu, tính toán các chỉ tiêu được đúng đắn, cũng như giúp cho việc phân tích tài liệu được khoa học, khách quan, phản ánh đúng những nội dung cần nghiên cứu
- Phương pháp SWOT:
Phương pháp này được áp dụng trong đề tài để thấy được các thuận lợi, khó khăn, những cơ hội và thách thực hiện nay cho phát triển kinh tế nông nghiệp ở huyện Mường Chà, từ đó đưa ra những giải pháp phát triển phù hợp với những tiềm năng và lợi thế của huyện
2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
- Thông tin chung của hộ:
+ Đặc điểm và danh tính hộ: họ tên, địa chỉ, học vấn, lao động, nhân khẩu, ngành nghề, phân loại kinh tế hộ,…
+ Nguồn lực đất đai: Các loại đất đai, đất thuê mướn,…
+ Cây trồng: Số hộ trồng, diện tích cây trồng, giá trị sản xuất, thay đổi diện tích đất canh tác quan 3 năm qua,…
+ Vật nuôi: Số hộ nuôi, số đầu vật nuôi, giá trị sản xuất vật nuôi,… + Thu nhập nông nghiệp, thu nhập phi nông nghiệp, tỷ trọng thu nhập + Khó khăn, thách thức trong sản xuất nông nghiệp: trồng trọt, chăn nuôi,…
- Thông tin về doanh nghiệp, hợp tác xã (Thu thập qua số liệu thứ cấp)
- Phát triển kinh tế nông nghiệp về lượng:
+ Quy mô sản xuất: diện tích canh tác, nhân khẩu, lao động, số thửa ruộng,
+ Sản lượng
+ Giá trị sản xuất nông nghiệp, cơ cấu giá trị sản xuất,…