1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật giâm cành cho giống chè trung du búp tím tại Phú Thọ (Luận văn thạc sĩ)

105 169 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật giâm cành cho giống chè trung du búp tím tại Phú Thọ (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật giâm cành cho giống chè trung du búp tím tại Phú Thọ (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật giâm cành cho giống chè trung du búp tím tại Phú Thọ (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật giâm cành cho giống chè trung du búp tím tại Phú Thọ (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật giâm cành cho giống chè trung du búp tím tại Phú Thọ (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật giâm cành cho giống chè trung du búp tím tại Phú Thọ (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật giâm cành cho giống chè trung du búp tím tại Phú Thọ (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật giâm cành cho giống chè trung du búp tím tại Phú Thọ (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật giâm cành cho giống chè trung du búp tím tại Phú Thọ (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -

Người hướng dẫn khoa học:

1 TS Dương Trung Dũng

2 TS Nguyễn Hữu Phong

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nghiên cứu trong luận văn là kết quả lao động của chính tác giả Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đã được cảm ơn và các thông tin chích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Ngô Đình Cương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bản Luận văn, trong quá trình thực tập tôi đã nhận được

sự giúp đỡ tận tình và tạo điều kiện thuận lợi của Khoa sau đại học; Khoa Nông Học - Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên

Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

- TS Dương Trung Dũng - Giảng viên khoa Nông học - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

- TS Nguyễn Hữu Phong - Trưởng phòng chuyển giao và Phát triển công nghệ - Trung tâm nghiên cứu và phát triển chè - Viện KHKT nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc

Những người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập và hoàn thành Luận văn

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo, các cán bộ viên chức trong Khoa Sau đại học, Khoa Nông Học - Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên

Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo Viện KHKT NLN miền núi phía Bắc, Trung tâm nghiên cứu và phát triển Chè, nơi tôi công tác và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Nhân dịp này, tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới những người thân trong gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên và khích

lệ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành Luận văn

Phú Hộ, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận văn

Ngô Đình Cương

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích của đề tài 3

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

3.1 Ý nghĩa khoa học 3

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Cơ sở khoa học của giâm cành chè 4

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 6

1.3 Đặc điểm sinh lý của cành chè giâm 7

1.4 Vai trò sinh lý của phân đa lượng (N:P:K) đối với cây chè 8

1.6 Kỹ thuật giâm cành chè 11

1.7 Các kết quả nghiên cứu về giâm cành chè 11

1.7.1 Các kết quả nghiên cứu trên thế giới 11

1.7.2 Các kết quả nghiên cứu tại Việt Nam 14

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Đối tượng nghiên cứu 21

2.2 Vật liệu nghiên cứu 21

2.3 Thời gian địa điểm nghiên cứu 22

2.4 Nội dung nghiên cứu 22

2.5 Phương pháp nghiên cứu 22

2.5.1 Các thí nghiệm và phương pháp bố trí thí nghiệm 22

2.5.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 24

2.6 Phương pháp xử lý số liệu 27

Trang 6

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28

3.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng cửa giá thể đến sinh trưởng và phát triển cành giâm trên giống chè Trung du búp tím 28

3.1.1 Ảnh hưởng của giá thể giâm đến tỉ lệ sống của hom chè 28

3.1.2 Ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng, phát triển các bộ phận dưới mặt đất của hom chè trong vườn ươm 30

3.1.3 Ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng, phát triển các bộ phận trên mặt đất của cành chè giâm 36

3.1.4 Ảnh hưởng của giá thể đến đường kính gốc và tỉ lệ xuất vườn của cây chè con sau 8 tháng giâm cành 42

3.1.5 Ảnh hưởng của giá thể giâm cành đến tình hình sâu bệnh hại trong vườn ươm 44

3.1.6 Chi phí để sản xuất 1 vạn cây giống trên các nền giá thể khác nhau so với đóng bầu 45

3.2 Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng cây chè giống trong vườn ươm của giống chè trung du búp tím 46

3.2.1 Ảnh hưởng của công thức bón phân đến sinh trưởng chiều cao cây 47

3.2.2 Ảnh hưởng của công thức bón phân đến động thái ra lá của cành chè giâm 49

3.2.3 Ảnh hưởng của công thức bón phân đến sinh trưởng bộ rễ cành chè giâm 52

3.2.4 Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến chất lượng cây chè giống trước khi xuất vườn 53

3.2.5 Hiệu quả kinh tế từ các công thức nghiên cứu 54

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 56

1 Kết luận 56

2 Đề nghị 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

BẢNG SỐ LIỆU KHÍ TƯỢNGTẠI PHÚ HỘ 64

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CCN Cây công nghiệp

PTNT Phát triển nông thôn

QCVN Quy chuẩn Việt Nam

TCN Tiêu chuẩn ngành

Trang 9

DANH MỤC CÁC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Thời gian và lượng phân cho từng đợt bón 24 Bảng 3.1 Ảnh hưởng của giá thể giâm đến tỉ lệ sống của hom chè các

giai đoạn sau cắm hom (ngày) 28 Bảng 3.2 Ảnh hưởng của giá thể đến tỷ lệ ra mô sẹo của cành giâm các

giai đoạn sau cắm hom (ngày) 31 Bảng 3.3 Ảnh hưởng của giá thể đến tỷ lệ ra rễ của cành chè giâm 33 Bảng 3.4 Ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng bộ rễ cành chè

giâm 34 Bảng 3.5 Ảnh hưởng của giá thểđến tỷ lệ bật mầm của cành chè

giâm 37 Bảng 3.6 Ảnh hưởng của giá thể giâm cành đến chiều cao cây chè

con 39 Bảng 3.7 Ảnh hưởng của giá thể đến số lóng cành chè giâm 41 Bảng 3.8 Ảnh hưởng của giá thể đến chiều dài lóng cành chè giâm 42 Bảng 3.9 Ảnh hưởng của giá thể đến đường kính gốc và tỉ lệ xuất vườn,

tỉ lệ hóa nâu của cành chè giâm sau 8 tháng 43 Bảng 3.10 Ảnh hưởng của giá thể giâm cành đến tình hình sâu bệnh hại

trong vườn ươm 45 Bảng 3.11 Chi phí để sản xuất 1 vạn cây giống trên các nền giá thể khác

nhau so với đóng bầu 46 Bảng 3.12 Ảnh hưởng của công thức bón phân đến sinh trưởng chiều cao

cây chè giâm 48 Bảng 3.13 Ảnh hưởng của công thức bón phân đến động thái ra lá của

cành chè giâm 51 Bảng 3.14 Ảnh hưởng của công thức bón phân đến sinh trưởng bộ rễ

cành chè giâm 52

Trang 10

Bảng 3.15 Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến chất lượng cây

chè giống trước khi xuất vườn 54 Bảng 3.16 Lợi nhuận sản xuất 1 vạn bầu chè giống 55

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây chè (Camellia sinensis (L)O Kuntze) là cây công nghiệp lâu năm,

có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nóng ẩm Tuy nhiên, nhờ những đặc tính hữu ích và có giá trị lớn đối với sức khỏe con người mà cây chè đã trở thành cây trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới

Việt Nam là nước có điều kiện tự nhiên phù hợp cho cây chè sinh trưởng phát triển Cây chè giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp của nước nhà, là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của ngành Nông nghiệp Việt Nam Sản xuất chè cho thu nhập chắc chắn, ổn định, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là nông thôn vùng Trung du miền núi phía Bắc Sản xuất chè Việt Nam có nhiều lợi thế như đa dạng và phong phú về nguồn giống, đất đai, khí hậu phù hợp, có nhiều

mô hình năng suất cao, nhiều vùng chè có chất lượng cao như Tân Cương (Thái Nguyên), Mộc Châu (Sơn La), Bảo Lộc (Lâm Đồng) Các giống chè Shan bản địa năng suất cao, chất lượng tốt có thể chế biến chè vàng, chè Phổ Nhĩ và sản xuất chè hữu cơ giá trị cao

Giống Trung Du thuộc thứ chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis Var Macrophilla), gồm Trung du búp xanh và Trung du búp tím là giống bản địacủa

Việt Nam Giống chè Trung du từ lâu đã được coi là khởi thủy của cây chè Việt Nam; theo kết quả của các nhà nghiên cứu về chè thì chè Trung du được di thực

từ Vân Nam (Trung Quốc) vào Việt Nam từ rất lâu, đã thích ghi, ổn định và phù hợp với điều kiện đất đai thổ nhưỡng vùng Trung du, được mặc nhiên mang tên chè Trung du và là gốc của các vùng chè miền Bắc nước ta Do vậy, mà Cây chè Trung du gắn liền với tập quan sinh sống của người nông dân vùng Trung du miền núi phía Bắc, những vùng chè Trung du nổi tiếng tập trung chủ

Trang 12

yếu ở Việt Nam như Thanh Ba - Phú Thọ, Tân Cương - Thái Nguyên,… đây là lợi thế của giống chè Trung du cần được nghiên cứu để phát triển trong sản xuất

Chè Trung Du búp tím do chủ yếu được trồng bằng hạt nên xuất hiện nhiều cá thể con lai làm cho quần thể nương chè không đồng đều và năng suất chưa cao, chất lượng búp chè chưa ổn định Vì thế yêu cầu tuyển chọn giống chè Trung du và nhân giống vô tính là cần thiết khi mở rộng diện tích giống chè này trong sản xuất và công tác nghiên cứu chọn tạo giống chè, ngay từ những năm 1922 ở Phú Hộ, Du Pasquier đã so sánh giống chè Assam và Manipur để chọn ra ngoại hình lý tưởng làm vườn nhân giống

Cây chè cũng như hầu hết các loại cây trồng khác có thể nhân giống bằng hai phương pháp khác nhau: nhân giống hữu tính và nhân giống vô tính, mỗi hình thức nhân giống đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định Ngày nay, cùng với sự phát triển của các ngành khoa học người ta có thể nhân giống

vô tính đối với nhiều loại cây trồng trong đó có cây chè; các phương pháp nhân giống vô tính được áp dụng như giâm cành, chiết, ghép và nuôi cấy mô nhằm nhân nhanh các giống chè mới để đưa ra sản xuất vì hệ số nhân giống cao Nhân giống vô tính sẽ tạo ra sự đồng đều về hình thái, giữ được đặc trưng, đặc tính của cây mẹ (giống cây mẹ cả về hình thái và nội chất) vì vậy nương chè rất đồng đều, năng suất và chất lượng cao; thời kỳ kiến thiết cơ bản bản ngắn (cho thu hoạch sớm), nhiệm kỳ kinh tế dài, hệ số nhân giống cao

Do vậy, để khai thác có hiệu quả và mở rộng diện tích, phát triển bền vững cây chè Trung du búp tím là việc làm cấp bách Cùng với nghiên cứu tuyển chọn cây chè Trung du búp tím đầu dòng bổ sung có nguồn gen địa phương, công tác phát triển nguồn gen cây chè Trung du búp tím nhằm nâng cao giá trị nguồn gen cây trồng bản địa, xây dựng thương hiệu cho sảnphẩm chè Trung du

Trang 13

búp tím Phát triển cây chè Trung du búp tím góp phần nâng cao thu nhập, tác động đến chính sách phát triển kinh tế vùng Trung du miền núi phía Bắc Đây

là lợi thế của giống chè Trung du tím cần được nghiên cứu để phát triển trong

sản xuất Từ đòi hỏi của thực tiễn sản xuất chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên

cứu biện pháp kỹ thuật giâm cành cho giống chè Trung Du búp tím tại Phú Thọ” Với mục đích hoàn thiện quy trình kỹ thuật giâm cành chè để nâng cao

tỷ lệ xuất vườn của giống chè Trung du búp tím

2 Mục đích của đề tài

Xác định được biện pháp kỹ thuật giâm cành thích hợp nhằm nâng cao

tỷ lệ xuất vườn, mang hiệu quả kinh tế cao cho giống chè Trung du búp tím

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Xác định được giá thể giâm hom, kỹ thuật bón phân phù hợp cho giống chè Trung du búp tím làm cơ sở khoa học bổ sung hoàn thiện quy trình giâm hom chè

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả thực hiện đề tài sẽ góp phần hoàn thiện quá trình nghiên cứu về giống chè Trung du búp tím Nâng cao hiệu quả sản xuất giống chè phục vụ việc mở rộng diện tích nâng góp phần thay thế các diện tích giống chè Trung

du búp tím già cỗi, năng suất thấp Bên cạnh đó giảm các chi phí sản xuất giống mang lại hiệu quả kinh tế cho người trồng chè

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở khoa học của giâm cành chè

Cây chè cũng như hầu hết các loại cây trồng khác có thể nhân giống bằng hai phương pháp: Nhân giống hữu tính và nhân giống vô tính, mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định

Nhân giống vô tính chè cũng giống như các loại cây trồng khác bao gồm: Nuôi cấy mô, triết, ghép và giâm cành trong đó phương pháp giâm cành là khả thi nhất

Giâm cành chè là biện pháp dùng một đoạn cành dài 4 - 5 cm, có 1 lá nguyên vẹn sạch sâu bệnh Cành có màu xanh hoặc từ xanh chuyển sang nâu Mỗi hom có một mầm nách dài không quá 1cm Sau đó đem giâm trên nền vật liệu nhất định (đất, cát, xơ dừa, trấu…) để tạo thành cây con mới với số lượng lớn phục vụ sản xuất

Phương pháp giâm cành chè là sử dụng một bộ phận gồm đoạn thân lá (cơ quan dinh dưỡng) để tái sinh ra cây chè mới Phiến lá của hom chè là cơ quan để quang hợp tạo ra những chất dinh dưỡng nuôi hom và tái sinh cây, lá

có vai trò quan trọng trong việc tạo thành cây chè Do đó lá không thể bị thương

và phải sạch sâu bệnh

Mỗi giống chè có những đặc điểm khác nhauvì vậy khi giâm cành tỷ lệ

ra rễ và bật mầm khác nhau Trong thực tế có những giống khi giâm cành tỷ lệ xuất vườn rất cao nhưng cũng có những giống tỷ lệ xuất vườn rất thấp vì vậy giá thành cây giống rất cao Để giâm cành chè có hiệu quả cần phải khắc phục những nhược điểm của các giống tạo điều kiện thuận lợi cho cành giâm phát triển

Trang 15

Đặc điểm của cây mẹ, tuổi hom, kích thước hom, thời vụ giâm khác nhau dẫn đến hàm lượng và tỷ lệ các chất thuộc nhóm kích thích sinh trưởng khác nhau do đó sự hình thành rễ và chồi cũng vì thế mà khác nhau Nếu một hom chè ở một thời vụ nhất định có tỷ lệ các chất thuộc nhóm Auxin và Xytokinin thích hợp cho việc hình thành rễ và chồi thì đó là thời vụ giâm có hiệu quả nhất đối với giống chè đó Với tuổi hom khác nhau các chất kích thích trong đó cũng khác nhau, vì vậy mà kết quả giâm cành cũng khác nhau

Rõ ràng rằng tuổi hom, kích thước hom giâm sẽ quyết định tỷ lệ và hàm lượng các chất Phytohoocmon trong hom, thông qua đó mà quyết định quá trình hình thành rễ và chồi của hom giâm Do đó việc nghiên cứu một số chỉ tiêu như tuổi hom giâm (hom xanh, hom bánh tẻ, hom nâu) hoặc tăng kích thước bầu giâm sẽ có ý nghĩa đối với việc làm tăng tỷ lệ ra rễ và bật mầm của hom giâm trên cơ sở đó tăng chất lượng cây chè giống trước khi trồng

Ngoài ra, do thời vụ khác nhau mà hàm lượng các chất Phytohoocmon và

sự tổng hợp các chất trong hom khác nhau nên kết quả giâm cũng khác nhau vì vậy việc nghiên cứu thời vụ giâm được xem là một khâu kỹ thuật quan trọng không thể bỏ qua

Để đảm bảo chất lượng hom giống, khi nuôi hom nương chè thường được bón phân Tuy nhiên việc bón phân phù hợp hoặc bón không cân đối sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hàm lượng các chất trong hom, thông qua đó tạo điều kiện thuận lợi hay khó khăn cho sự hình thành rễ, chồi và sinh trưởng của hom giâm

Vì vậy nghiên cứu lượng phân và dạng phân cho vườn giống khi nuôi hom cũng cần được nghiên cứu

Một nhược điểm của các giống chè khi trồng mới bằng cây giâm hom; Trong những năm đầu cây sinh trưởng yếu, tỷ lệ chết cao Để khắc phục hiện tượng trên, các giải pháp kỹ thuật như tăng kích thước bầu giâm, tăng tuổi cây

Trang 16

giống, kết hợp với các biện pháp kỹ thuật làm tăng tỷ lệ sống và tăng sức sinh trưởng của cây chè giống khi trồng mới, đồng thời bón phân bổ sung cho cây

mẹ nhằm cải thiện chất lượng hom giống, tăng tuổi cây chè giống, dùng cây trồng xen làm cây che bong tạm thời, thời vụ trồng…được xem là những cơ sở khoa học và là biện pháp kỹ thuật tổng hợp làm nâng cao tới mức tối đa hệ số nhân giống cũng như nhanh chóng mở rộng diện tích của một số giống chè mới chọn tạo ở Việt Nam

Cơ sở khoa học và những giải pháp nêu trên của Đề tài nhằm đạt hiệu quả cao trong nhân giống và khắc phục những hạn chế khi trồng mới giống chè Trung du búp tím đang là yêu cầu của sản xuất và cũng là quá trình hoàn thiện trong nghiên cứu, phục vụ cho việc mở rộng diện tích giống chè này và một số giống chè có đặc điểm tương tự ra sản xuất nhằm tăng nhanh diện tích các giống chè chất lượng cao thay thế các giống chè có năng suất thấp và chất lượng kém giúp cho ngành chè Việt Nam sản xuất hiệu quả hơn

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

Thực tế hiện nay trong sản xuất giống chè toàn bộ giá thể được đóng trong bầu PE, thông thường mỗi bầu giâm hom đất nặng 0,5 kg, diện tích chè nước ta chủ yếu tập trung tại vùng đồi núi nên trong quá trình vận chuyển tốn rất nhiều chi phí và nhân công, bên cạnh đó trong quá trình vận chuyển dễ dập nát ảnh hưởng đến chất lượng cây giống Từ đó vấn đề lựa chọn được giá thể phù hợp trong sản xuất bầu chè giống làm giảm các chi phí sản xuất đảm bảo chất lượng cây giống là rất cần thiết Đối với một số giống chè bản địa có chất lượng tốt, có giá trị về nguồn gen, có giá trị về dược liệu cần được bảo tồn và phát triển chính vì vậy mà việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trong nhân giống cũng rất cần được quan tâm

Trang 17

1.3 Đặc điểm sinh lý của cành chè giâm

Cây chè có thể nhân giống bằng 2 phương pháp khác nhau: nhân giống hữu tính và nhân giống vô tính Mỗi phương pháp đều có những ưu, nhược điểm khác nhau Trước kia người ta thường dùng phương pháp nhân giống hữu tính (gieo hạt), phương pháp này có những ưu điểm: kỹ thuật gieo trồng tương đối đơn giản, dễ làm, chi phí lao động, vật tư thấp, tính thích ứng của cây con với điều kiện ngoại cảnh tương đối tốt Tuy nhiên, phương pháp này lại tồn tại những nhược điểm như quần thể nương chè không đồng đều, năng suất và chất lượng búp thấp Ngày nay với sự phát triển của khoa học công nghệ người ta

đã có thể nhân giống chè bằng các hình thức khác nhau như: Giâm cành chè, chiết, ghép nuôi cấy mô nhằm nhân nhanh các giống mới Nhân giống vô tính

đã tạo nên sự đồng đều về hình thái, giữ nguyên đặc trưng của cây mẹ, năng suất, chất lượng cao, nhưng nhược điểm là chi phí giá thành cao, đặc biệt với những giống khó nhân giống

Thực vật nói chung và cây chè nói riêng có khả năng tái sinh cơ thể mới

từ các cơ quan sinh dưỡng Khi một đoạn cành được cắt ra khởi cơ thể mẹ thì các quá trình phân chia tế bào vẫn tiếp tục xảy ra để hình thành mô sẹo từ mặt cắt của cành giâm phía dưới mặt đất và mầm ở nách lá hoạt động để hình thành một cây chè hoàn chỉnh Tuy nhiên khả năng này thường có ở những cành bánh

tẻ và có chứa đỉnh sinh trưởng, đặc biệt phải có môi trường thuận lợi Quá trình trên chịu ảnh hưởng của 3 nhóm nhân tố sau:

- Đặc điểm và trạng thái sinh lý của cây mẹ và cành giâm

- Các biện pháp kỹ thuật áp dụng đối với cành giâm

- Điều kiện môi trường trong vườn ươm như chế độ nhiệt, chế độ ẩm, độ nhiễm bệnh và cỏ dại

Tỷ lệ và hàm lượng giữa nhóm auxin và xytokinin quyết định sự phân hoá các bộ phận trên và dưới mặt đất của cây chè Với một hom chè để trưởng

Trang 18

thành một cây chè hoàn chỉnh cần phải sinh trưởng rễ và chồi Nhưng để hình thành rễ cần phải tăng hàm lượng các chất thuộc nhóm auxin lúc mới giâm, sau

đó rễ tự động tổng hợp các chất thuộc nhóm xytokinin xúc tiến quá trình hình thành các chồi để tạo nên cây chè hoàn chỉnh Đó là cơ sở của việc sử dụng một

số các chất kích thích sinh trưởng để làm tăng khả năng ra rễ, tăng tỷ lệ suất vườn của những giống khó nhân giống

1.4 Vai trò sinh lý của phân đa lượng (N:P:K) đối với cây chè

Chè là cây công nghiệp lâu năm, bộ phận thu hoạch chính là búp và lá non, vì vậy cây chè cần được cung cấp và hấp thu dinh dưỡng liên tục suốt quá trình sinh trưởng và phát triển Trong thành phần phân bón cho cây chè, các yếu tố đa lượng (N:P:K) đóng một vai trò hết sức quan trọng nó quyết định rất lớn đến năng suất cũng như chất lượng chè thành phẩm Vai trò của các yếu tố

đa lượng (N:P:K) trong giai đoạn vườn ươm vô cùng quan trọng ngoài việc cung cấp dinh dưỡng cho hom chè sinh trưởng phát triển, khi bón cân đối các yếu tố đa lượng sẽ giúp cho cây tăng khả năng chịu hạn, chịu lạnh, chống chịu sâu bệnh hại

- Đạm (N): Là thành phần quan trọng của hợp chất hữu cơ cấu tạo nên

diệp lục tố, nguyên sinh chất, axit nucleic, protein Đạm là dinh dưỡng thúc đẩy sinh trưởng, cải thiện kích thước chồi, kích thước lá, giảm sự ra hoa, kết trái trên cây chè, tăng năng suất, giúp ra lá nhiều, ra búp mới, lá xanh.Đối với giai đoạn chè vườn ươm đạm rất quan trọng, sau 2 tháng tiến hành bón đạm nhằm thúc đẩy sinh trưởng giảm sự ra hoa từ đó dinh dưỡng tập trung cho cây chè con phát triển Tuy nhiên nếu bón thừa đạm cũng không tốt Thừa đạm sẽ làm cho cây không chuyển hóa hết được sang dạng hữu cơ, làm tích lũy nhiều dạng đạm vô cơ gây độc cho cây Thừa đạm sẽ làm cho cây sinh trưởng thái quá, gây vóng Các hợp chất cácbon phải huy động nhiều cho việc giải độc đạm nên

Trang 19

không hình thành được các chất “xơ” nên làm cây yếu, các quá trình hình thành hoa quả bị đình trệ làm giảm hoặc không cho thu hoạch, giảm sức đề kháng của cây chè đối với sâu bệnh Đối với giai đoạn chè vườn ươm đạm rất quan trọng, sau 2 tháng tiến hành bón đạm nhằm thúc đẩy sinh trưởng giảm sự ra hoa từ đó dinh dưỡng tập trung cho cây chè con phát triển

- Lân (P 2 O 5 ): Lân có vai trò quan trong trong quá trình trao đổi năng lượng

và Protein Thúc đẩy ra rễ giúp tăng hấp thu chất dinh dưỡng, góp phần tạo năng suất và nâng cao chất lượng chè thương phẩm Lân cần thiết cho sự phát triển của bộ rễ, kích thích chồi mới, tăng khả năng chịu hạn, tăng tuổi thọ của cây, tăng năng suất và lượng đường hòa tan và tannin, tăng chất lượng chè Thiếu Lân cây chè chậm lớn, khả năng phân cành kém, lâu khép tán, lá có màu xanh đục, thân cây mảnh, rễ kém phát triển, khả năng hấp thu đạm kém Quá trình tái tạo

rễ non (rễ tơ) bị chậm dẫn đến khả năng hấp thụ dinh dưỡng kém làm cho năng suất chè không ổn định Trong nhân giống chè lân đóng vai trò vô cùng quan trọng, giai đoạn đầu lân thúc đẩy sự ra rễ của hom cắm, phát triển bộ rễ từ đó thúc đẩy quá trình hấp thu dinh dưỡng cho hom chè, kích thích mầm hom, tránh

sự rụng lá hom trong vườn ươm Bên cạnh đó lân còn giúp cây chè con trong giai đoạn vườn ươm tăng cường khả năng chịu hạn

- Kali (K 2 O): Nhu cầu kali của cây chè tương đối cao, ở những nơi đất

thiếu kali nếu bón đủ kali cho chè thì tác dụng của kali rất rõ rệt năng suất có thể tăng từ 28 - 35%, hàm lượng tanin tăng 6,7% và các chất hòa tan 8% Giúp cây cứng chắc, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, rét và hạn, giảm khô lá và rụng lá già, tăng năng suất và tăng độ ngọt, độ đậm trong chè búp Giúp tăng khả năng thẩm thấu qua màng tế bào, điều chỉnh PH, lượng nước qua khí khổng Hoạt hóa enzim có liên quan đến quang hợp và tổng hợp hydratcacbon Cải thiện khả năng sử dụng ánh sáng mặt trời khi thời tiết lạnh và mây mù, do vậy

Trang 20

nâng cao khả năng chống rét và các điều kiện bất lợi khác cho cây Thiếu kali gây ảnh hưởng xấu đến sự trao đổi chất trong cây, làm suy yếu hoạt động của hàng loạt các men, làm phá hủy quá trình trao đổi các hợp chất các bon và protein trong cây, làm tăng chi phí đường cho quá trình hô hấp

Biểu hiện thiếu kali có thể thấy là: Các lá già trở nên vàng sớm và bắt đầu từ bìa lá sau đó bìa lá và đầu lá có thể trở nên đốm vàng hoặc bạc, bìa lá chết và bị hủy hoại và lá có biểu hiện như bị rách Thiếu kali làm chậm lại hàng loạt các quá trình hóa sinh, làm xấu đi hầu như tất cả các mặt của quá trình trao đổi chất Thiếu kali sẽ làm chậm quá trình trình phân bào, sự tăng trưởng và sự dài ra của tế bào Thiếu kali còn làm giảm năng suất quang hợp và trực tiếp dẫn đến giảm sản lượng mùa màng Ngược lại, sự dư thừa kali cũng không tốt cho cây Dư thừa ở mức thấp gây đối kháng ion, làm cây không hút được đầy đủ các chất dinh dưỡng khác như magie, natri v.v , ở mức cao có thể làm tăng áp suất thẩm thấu của môi trường đất, ngăn cản sự hút nước và dinh dưỡng nói chung, ảnh hưởng xấu đến năng suất cây chè

Cây chè trong giai đoạn vườn ươm rất cần Kali vì giúp cây chè con tăng cường khả năng chịu lạnh, giúp cứng cây, bên cạnh đó tăng khả năng kháng bệnh tốt hơn

1.5 Vai trò của giá thể đối với cây trồng

Giá thể là môi trường sống của cây trồng vì vậy vai trò của giá thể rất quan trọng, đối với nhân giống cây trồng một giá thể được xem là lý tưởng khia đảm bảo độ xốp, thoáng khí, giữ và thoát nước tốt, sạch sâu bệnh và cỏ dại Vì vậy trong quá trình nghiên cứu, sản xuất việc lựa chọn được giá thể vừa đảm bảo các tiêu chuẩn phù hợp cho cây trồng phát triển còn cần tính toán đến chi phí sản xuất nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cho người sản xuất Chính vì vậy việc nghiên cứu các loại giá thể khác nhau trong giâm cành chè có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nhân giống chè

Trang 21

1.6 Kỹ thuật giâm cành chè

Đây là phương pháp dùng một hom chè (đoạn cành + lá thật + mầm nách) đem giâm xuống đất với các biện pháp chăm sóc thích hợp chúng sẽ phát triển thành một cây chè hoàn chỉnh Chiều dài của hom 4 - 6cm, vết cắt trên và dưới theo hình chiếu của hom có dạng hình thang cân Hom cắt xong tiến hành cắm ngay là tốt nhất Sau khi cắm xuốngđất, phần mặt cắt dưới đất các quá trình phân chia tế bào vẫn diễn ra và hình thành mô sẹo từ đó sẽ phát triển ra rễ và đồng thời thân lá trên mặt đất phát triển Quá trình tái sinh này phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố như:

- Đặc điểm sinh lý của cây mẹ và chất lượng hom đem giâm

- Điều kiện môi trường vườn giâm: lý hoá tính đất đóng bầu, chế độ sáng,

độ ẩm, nhiệt độ, sâu bệnh, cỏ dại…

- Các biện pháp kỹ thuật chăm sóc

1.7 Các kết quả nghiên cứu về giâm cành chè

1.7.1 Các kết quả nghiên cứu trên thế giới

Cũng như nghiên cứu về nhân giống vô tính cây trồng nói chung, nghiên cứu các biện pháp nhân giống vô tính đối với cây chè được nhiều tác giả quan tâm, các biện pháp nhân giống đã được nghiên cứu như giâm hom, chiết, ghép, nuôi cấy mô

Nhân giống chè bằng phương pháp ghép: Nghiên cứu về ghép lần đầu tiên vào những năm 1921- 1923, sau đó là Guirard năm 1947- 1954 Tuy nhiên các tác giả đều cho rằng phương pháp nhân giống này không khả thi vì những

kỹ thuật đòi hỏi mang tính kỹ thuật cao và trong nhiều trường hợp sự thích hợp giữa gốc ghép và mắt ghép đã làm cho cây giống nhanh thoái hoá

Theo Aono H và cộng sự (1985) [36] khi nghiên cứu về gốc ghép, phương pháp ghépcho rằng: giống chè Yabukita là giống dùng làm gốc ghép tốt hơn so với các giống Fujimidori và Yutakamidori

Trang 22

Nyirenda H E (1990) [39] khi nghiên cứu về khả năng sinh trưởng của cây chè ghép cho rằng: các dòng chè được ghép trên các gốc ghép khỏe mạnh

sẽ có khả năng sinh trưởng búp tốt hơn nhờ có bộ rễ ăn sâu, lượng chất dinh dưỡng dự trữ trong rễ cao, số rễ hút cung cấp dinh dưỡng nhiều

Ngày nay với sự phát triển của khoa học mà hàng loạt những thành tựu được áp dụng vào việc nhân giống chè Theo Narender Kiain (1996) [38] cho rằng: hiện nay trong lĩnh vực công nghệ chè đang tập trung vào hệ thống nhân giống nhanh, kỹ năng tái tổ hợp cây trồng từ những cơ quan trên cây hoặc mô cây Theo tác giả áp dụng kỹ thuật nuôi cấy mô có hiệu quả đối với việc sản xuất các dòng chè đơn bội Nếu dùng phương pháp nuôi cấy mô, các nhà chọn giống có thể rút ngắn thời gian khoảng 20 năm để tạo giống mới so với phương pháp thông thường

Tại Ấn Độ các nhà nghiên cứu cho biết: Những hom có nụ hoa, sự ra rễ không bị ảnh hưởng nhưng nếu nụ hoa tiếp tục phát triển thì sinh trưởng của hom sẽ kém

Nghiên cứu về Hoocmon, các chất sinh trưởng đối với sự ra rễ của hom chè giâm các nhà khoa học cho rằng: các Hoocmon và các chất kích thích sinh trưởng chỉ có hiệu quả cao trong phạm vi hẹp đối với những giống chè quý hiếm và khó ra rễ Ở Zaia người ta đã dùng cách ngâm hom chè vào dung dịch nước vôi trong, thuốc tím và 2,4D trước khi giâm Ở Liên Xô cũ đã sử dụng các chất như: 2,4D, α NAA, IAA với thời gian ngâm hom 24 giờ

Ở Trung Quốc, Viện Sinh lý thực vật, Viện Nghiên cứu Chè Trung ương

đã tiến hành nghiên cứu các chất kích thích sinh trưởng đối với cành giâm nhưng chưa thấy áp dụng nhiều trong sản xuất vì hiệu quả chưa cao

Nghiên cứu kỹ thuật cắm hom khi giâm cành chè các tác giả thuộc Liên

Xô cũ, Ấn Độ, Srilanka đều khẳng định giâm hom chè vào túi Polyetylen không

Trang 23

những không ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom chè mà còn tạo điều kiện tốt cho quá trình vận chuyển cây con ra nương và do đó góp phần tăng tỷ lệ sống khi trồng mới

Việc bón phân cho cành giâm theo các tác giả chỉ nên bắt đầu khi các hom giâm đã có rễ và kết thúc khi bắt đầu giai đoạn luyện cây trước khi mang trồng

Có thể dùng phân Sulphat, phân Urê, phân tổng hợp với lượng 2 - 30g/m2 tuỳ từng giai đoạn Một số tác giả khác đều cho rằng phân N, P, K theo tỷ lệ 15:10:10 bón với lượng 1,5g hỗn hợp này cho một bầu sẽ cho kết quả tốt Tại Srilanka sau khi hom chè đã bật mầm và ra rễ bón 15g hỗn hợp T55 (35 phần đạm sunphat +10 phần Kali + 10 phần muối Magiê) cho 100 bầu, bón 28g T55 cho 100 bầu chè trước khi trồng hai tháng sẽ cho kết quả tốt

Theo Wuxu (1995) [41] khi nghiên cứu vai trò của các nguyên tố trong quá trình phát triển của cành chè giâm đã khẳng định: Kali và Mg có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của bộ rễ chè

Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy độ pH của giá thể là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình hình thành của bộ rễ bất định Phần lớn các loại cây trồng khi giâm cành ra rễ tốt trong môi trường trung tính (pH=7) Theo Bruckel.D.W (1969) [37] cho rằng: việc tăng độ axit trong giá thể sẽ ức chế sự hình thành rễ của cành giâm, trong khi đó ảnh hưởng của việc tăng độ kiềm là không rõ rệt Kết quả này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Zuconi.F

và Pera (1978) [43] khi theo dõi trên cây đậu xanh cho thấy: nếu giâm ở giá thể

có pH = 6,5 tốt hơn khi giâm ở giá thể có pH = 7,5 và kém hơn ở pH = 2,5 Trong khi đó Pau J.C (1966) [40] cho rằng: hàm lượng Cation trao đổi trong than bùn ảnh hưởng rất lớn đến số lượng và độ dài của rễ cây hoa cúc, khi hàm lượng Cation trao đổi tăng từ 0 đến 100% số lượng rễ của cành giâm giảm dần

từ 15 xuống 4 cái/cây, rễ đạt độ dài tối đa khi hàm lượng này là 37%

Trang 24

Hàm lượng oxy tự do cũng ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ ra rễ của cành giâm và mức độ ảnh hưởng của nó đối với mỗi loài cây rất khác nhau Theo Zimnerman, P.W(1930) [42] cho rằng: nồng độ oxy trong nước đạt 1ppm sẽ kích thích cành liễu ra rễ rất nhanh, trong khi đó một số giống nho chỉ ra rễ khi nồng độ oxy trong nước từ 0 đến 20%

Theo Bruckerl (1969)[37] một số chất hữu cơ được bổ sung vào hỗn hợp giá thể thường hay sử dụng như giấy vụn, trấu hun, rơm sau khi trồng nấm, phân gia cầm, cỏ khô, Khi phối trộn các chất liệu đó tiếp tục được phân hủy

và cung cấp chất dinh dưỡng hữu ích cho cây trồng

Như vậy mỗi giống cây trồng khác nhau có khả năng nhân giống vô tính khác nhau, trong đó giá thể là một trong những yếu tố quyết định thời gian và chất lượng của cành giâm

1.7.2 Các kết quả nghiên cứu tại Việt Nam

Ở Việt Nam nhân giống vô tính đối với cây chè từ lâu đã được nhiều tác giả nghiên cứu Theo Đỗ Ngọc Quỹ và Nguyễn Văn Niệm (1979)[20] chè có thể nhân giống vô tính theo ba hình thức khác nhau: Giâm cành, chiết và ghép

Theo Võ Ngọc Hoài (1998) [8] cho rằng: giâm cành được bắt đầu nghiên cứu ở Trung Quốc từ năm 1900, ở Ấn Độ năm 1911, ở Gruzia năm 1928, ở Nhật Bản năm 1936 và ở Srilanka năm 1938

Theo Đỗ Ngọc Quỹ (1980) [21] phương pháp chiết cành được nông dân Trung Quốc áp dụng từ lâu để nhân các giống tốt như giống Phúc Đỉnh, Bạch Hảo, Thuỷ Tiên, Thiết Quan Âm, Chính Hòa, nhưng phương pháp này không được áp dụng rộng rãi vì hệ số nhân giống thấp

Nhân giống chè bằng phương pháp chiết cành: Theo Đỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Kim Phong (1997)[22] cho rằng: Chiết cành chè là phương pháp nhân giống đơn giản nhất so với giâm cành và ghép, tuy nhiên hệ số nhân của phương pháp này thấp

Trang 25

Nguyễn Xuân An (2006) [1] khi nghiên cứu về ghép chè, kết luận: Cả 2 phương pháp: Ghép áp và ghép nêm đều có kết quả nhất định, tuy nhiên ghép

áp đoạn cành cho kết quả tốt hơn, khả năng phát triển của cành ghép mạnh hơn,

tỷ lệ nảy mầm đạt 90,19%, tỉ lệ ghép sống đạt 87,04% Thời gian nảy mầm ngắn 25 đến 39 ngày

Nguyễn Văn Thiệp - Inoue Kazumi (2006) [27] khi nghiên cứu khả năng nuôi cấy mô của một số giống chè, kết luận: Khả năng nẩy chồi của một số giống chè khi nuôi cấy bằng phôi hạt là như nhau trong khi đó nếu nuôi cấy bằng búp của các giống chè Shan và giống LDP1 có tỷ lệ nẩy chồi thấp hơn Các giống Shan và giống LDP1, Shan Chất Tiền, Gruzia 3 có khả năng tạo thành phôi vô tính, khả năng tạo chồi và rễ mạnh hơn các giống khác

Nhìn chung các phương pháp nhân giống trên đều có những ưu điểm nhưngvẫn còn những nhược điểm nhất định như: kỹ thuật phức tạp, không thuận tiện, hệ số nhân giống thấp, hoặc giá thành cây giống cao Nhân giống vô tính đối với cây chè bằng phương pháp giâm hom có tính khả thi hơn vì hệ số nhân giống cao, dễ thực hiện, thời gian cây giống đạt tiêu chuẩn xuất vườn nhanh, giá thành hạ, việc vận chuyển dễ dàng một lượng cây lớn đến nơi trồng

Theo Đỗ Ngọc Quỹ và Nguyễn Văn Niệm (1979) [20] khi nghiên cứu thời vụ giâm cành đối với giống chè PH1 đã xác định rằng: có hai thời vụ chính:

Vụ Đông xuân từ tháng 12 đến tháng 2 và vụ Hè thu từ tháng 6 đến 15 tháng 7 nhưng thời vụ giâm cành tốt nhất với giống chè PH1 là vụ Đông xuân

Theo Nguyễn Thị Ngọc Bình và cộng sự (2003) [2] khi nghiên cứu về kích thước hom cho rằng: hom chè có kích thước từ 4 - 5cm, có một lá nguyên Vết cắt phía trên cành giâm cách nách lá mẹ 0,5cm, nếu khoảng cách này dài quá hay ngắn quá đều không tốt

Theo Nguyễn Văn Thiệp, Nguyễn Văn Tạo (2008) [28] khi nghiên cứu

hệ số nhân giống của giống chè Phúc Vân Tiên và Keo Am Tích đã chỉ rõ: Cành

Trang 26

giống tốt là những cành có số lá thật đồng đều, lá dày, màu xanh, độ dài lóng đạt mức độ trung bình, mầm nách phát triển không dài quá 3cm tốt nhất mầm nách chỉ hình thành ở nách lá thứ 1-3 với độ dài mầm ≤ 1cm

Tác giả Nguyễn Văn Toàn (1995)[32] khi nghiên cứu ảnh hưởng của kích thước lá đến khả năng giâm cành của các giống đã kết luận: Diện tích lá chè ảnh hưởng đến khả năng giâm cành, những giống có lá quá lớn ảnh hưởng xấu đến tỷ lệ sống, hình thành mô sẹo, ra rễ và bật mầm của hom giâm

Theo Trịnh Thị Kim Mỹ (2014) [14] khi nghiên cứu về đặc điểm cành hom kết luận rằng: Ảnh hưởng của điều chỉnh diện tích lá mẹ cho tỷ lệ sống sau 180 ngày cao hơn so với không điều chỉnh

Tác giả Lê Tất Khương (1997)[12] cho rằng: giống chè 1A là một giống khó giâm cành, ra mô sẹo, ra rễ muộn, tỷ lệ sống thấp và đặc biệt bộ rễ phát triển kém

Theo Nguyễn Văn Niệm và cộng sự (1995) [18] bón đầy đủ N, P, K và phân hữu cơ cho cây mẹ giống chè 1A, kết quả giâm cành đạt tỷ lệ xuất vườn cao hơn và cây chè sinh trưởng khoẻ hơn

Theo Vi Văn Cương (2014) [4] cho rằng bón bổ sung 10g ure + 10g Supe lân + 10g Kali sulphat trên nên phân bón theo quy trình làm tăng khả năng sinh trưởng, tỷ lệ xuất vườn giống chè PH11

Đỗ Văn Ngọc và cộng sự (2006) [16] khi nghiên cứu biện pháp giâm cành chè trên nền đất, kết luận: Giâm cành trên nền đất, cây chè phát triển thân

lá tốt hơn giâm trong bầu, tuy nhiên khối lượng rễ trên cây con khi đem trồng

ít hơn so với cây trong bầu Kết quả theo dõi sau trồng tác giả cũng khẳng định không có sự sai khác giữa cây giâm trong bầu hay giâm rễ trần

Theo tác giả Đỗ Văn Ngọc và cộng sự(2005) [15] khi ngiên cứu kỹ thuật giâm cành chè trên nền đất đã đưa ra kết luận: Giâm cành chè rễ trần ở mật độ

Trang 27

250 - 300 hom/m2 cây sinh trưởng tốt tương đương với giâm trong bầu ở tất cả các chỉ tiêu sinh trưởng

Đặng Văn Thư và Nguyễn Văn Toàn (2003) [30] khi nghiên cứu tiêu chuẩn cây chè giống cho 3 giống LDP1, LDP2, 1A, kết luận: Dùng túi bầu chu vi 20 cm, chiều cao 18 cm, túi hàn đáy và đục 6 lỗ Chiều cao cây 22-

25 cm, có 6 -8 lá thật cây có độ hoá nâu trên 50% thời gian trong vườn ươm

8 -10 tháng

Theo Nguyễn Văn Thiệp và cộng sự (2006) [26] khi nghiên cứu hoàn thiện công nghệ nhân giống vô tính bằng giâm cành đối với 2 giống Keo Am Tích và Phúc Vân Tiên đã đưa ra tiêu chuẩn cây chè giống cho 2 giống này như sau: Chiều cao cây trên 25 cm, thân hoá nâu 1/3, đường kính thân 3 - 4 mm, có

6 - 8 lá thật, lá xanh vàng và sạch sâu bệnh

Tác giả Nguyễn Văn Tạo (2005) [25] khi nghiên cứu ảnh hưởng của các dạng phân khoáng bón thúc đến động thái cây chè con LDP1 trong vườn ươm, cho rằng: bón đạm Sunphat cho cây chè con sẽ đạt sinh khối cao nhất, bộ rễ phát triển khoẻ tỷ lệ xuất vườn cao

Tác giả Đặng Văn Thư (2010) [31] khi nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân bón cho vườn ươm đến sinh trưởng của cây chè giống kết luận rằng: với lượng phân bón là 250 g/m2 chia 7 lần (100 g ure + 60 g supe lân + 90 g K

2SO4) tính cho 1m2 vườn ươm thời gian bón bắt đầu từ khi hom giâm 2 tháng kết thúc sau giâm 8 tháng là tốt nhất

Theo Vũ Văn Vụ, Trần Văn Lài (1993)[34] khi đề cập đến phương pháp

xử lý cho rằng: hiện nay có hai phương pháp chính để xử lý Auxin cho cành giâm, cành chiết: Phương pháp xử lý nồng độ cao hay còn gọi là phương pháp

xử lý nhanh Nồng độ Auxin từ 1.000 - 1.200 ppm nhúng cành giâm vào dung dịch 3 - 5 giây rồi cắm vào giá thể Phương pháp nồng độ loãng hay còn gọi

Trang 28

phương pháp xử lý chậm Nồng độ Auxin sử dụng từ 20 - 200ppm tuỳ thuộc vào giống và mức độ khó ra rễ của cành giâm Ngâm cành giâm vào dung dịch

10 - 24 giờ sau đó cắm vào giá thể Phương pháp dùng nồng độ cao thời gian

xử lý nhanh dễ thực hiện hơn

Tác giả Lương Thị Ngọc Vân(2013) [33] khi nghiên cứu ảnh hưởng của một số công thức bón phân cho cành giâm trên giống chè PH10, PH11 tại Phú

Hộ - Phú Thọ cho rằng: Sử dụng lượng phân bón 200g/m2 chia 6 lần bón vào tháng 2,3,4,5,6,7 trên cả hai giống cây sinh trưởng, phát triển tốt nhất, tỉ lệ xuất vườn cao, khi nghiên cứu về giá thể cho rằngtỷ lệ 50% đất + 50% trấu là tốt nhất cho nhân giống chè PH0, PH11

Theo Đặng Văn Đông (2008) [6] khi nghiên cứu nhân giống vô tính Mai vàng Yên Tử trên các giá thể khác nhau (CT1: Giâm cành trên nền giá thể cát sạch, CT2: Giâm cành trên nền giá thể 50% cát sạch + 50% trấu hun, CT3: Giâm cành trên nền giá thể trấu hun) cho thấy: Công thức giâm cành trên cát sạch có tỷ lệ mầm bật của cành giâm cao nhất và chiều dài trung bình mầm bật

là lớn nhất; trong khi đó công thức giâm cành trên nền giá thể trấu hun thì có hiện tượng sùi callus đầu tiên

Theo Nguyễn Mai Thơm, Vũ Văn Liết (2002) [29] khi nghiên cứu một

số biện pháp kỹ thuật nhân giống vô tính cây cảnh Saphia, trong đó nghiên cứu trên 4 giá thể giâm khác nhau (trấu hun + bùn ao; trấu hun + đất; trấu hun + cát, nền cát sông Hồng) kết luận: Hom giâm cho tỷ lệ ra rễ cao và sinh trưởng tốt trên nền giâm có trấu Nền giâm chỉ gồm cát và đất bùn ao phơi khô đập nhỏ không thích hợp để nhân giống Do đó khi nhân giống cây Saphia nên sử dụng hai loại nền giâm là cát vàng + trấu hun, đất phù sa + trấu hun

Khi nghiên cứu giá thể cho giâm cành hoa Hồng, các nhà khoa học nông nghiệp Việt Nam đã xác định yêu cầu giá thể giâm Hồng là phải làm bằng vật liệu vừa tơi xốp, có khả năng thoát nước tốt đồng thời có tính giữ ẩm cao và

Trang 29

đưa ra giá thể thích hợp nhất cho nhân giống hồng ở nước ta là 2/3 trấu hun + 1/3 đất đồi, nếu không có đất đồi có thể thay thể bằng đất phù sa hoặc đất cát, cát vàng Tất cả những giá thể trên cần phải được sàng lọc loại bỏ những tạp chất, phơi khô, khử trùng trước khi đưa vào giâm

Theo Ngô Thị Hạnh [7] đã đưa ra công thức phối trộn giá thể cho gieo hạt cải bao trong khay: Đất + cát + phân chuồng + trấu hun: 3:1:1:1 và lượng NPK là 500g sunphat amon, 500g supe photphat và 170g clorua kali trong 1 tấn giá thể

Theo Ninh Thị Phíp, Nguyễn Tất Cảnh (2009) [19] khi nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể giâm cành đến sinh trưởng phát triển hom giâm của một số loài thuốc tắm, đã rút ra được công thức phối trộn: 50% cát + 50% trấu hun là tốt nhất

Theo tác giả Lê Đình Khả (1996) [9] khi nghiên cứu về giá thể giâm hom bạch đàn trắng Theo ông có thể sử dụng loại giá thể giâm hom là 100% đất, 100% cát, 1/3 cát phía trên + 2/3 đất phía dưới, 1/4 cát + 1/2 đất + 1/4 than trấu, 1/3 cát + 1/3 đất + 1/3 than bùn thì tỉ lệ ra rễ tốt là ở giá thể 100% đất, 1/4 cát + 1/2 đất + 1/4 trấu, 1/3 cát phía trên + 2/3 đất phía dưới

Nếu chọn được một giá thể thích hợp sẽ có lợi cho sinh trưởng và phát triển của cây trồng nói chung và giâm cành nói riêng bởi nó giữ cho cành giâm luôn ở tư thế cố định; là nguồn cung cấp nước và dinh dưỡng cho cành giâm; cho phép không khí xâm nhập vào phần gốc của cành giâm nên ngày nay các nghiên cứu về giá thể thích hợp cho cây trồng ngày càng được quan tâm.Tuy nhiên nghiên cứu về giá thể thích hợp cho giâm cành chè thì còn rất ít Hi vọng trong tương lai sẽ có nhiều công trình nghiên cứư về giá thể cho giâm cành chè

để chọn ra được loại giá thể thích hợp nhất nâng cao năng suất và bảo đảm các

Trang 30

đặc tính sinh học quý giá vốn có của các giống chè, đặc biệt là các giống chè chất lượng cao

*

* * Dựa vào những phân tích trên có thể rút ra những vấn đề chính sau: Giâm cành chè là một tiến bộ kỹ thuật mới, có hiệu quả và dễ áp dụng nhất trong các biện pháp nhân giống chè hiện nay Các kết quả nghiên cứu trong

và ngoài nước đều cho thấy giâm cành đạt kết quả cao phụ thuộc vào các yếu

tố như: Giống, chất lượng hom giâm, kỹ thuật giâm và kỹ thuật chăm sóc (đất đóng bầu, kích thước bầu, tưới nước, bón phân, thuốc kích thích sinh trưởng, phòng trừ sâu bệnh, chế độ ánh sáng và thời vụ giâm cành, v.v…)

Tuy nhiên, các nghiên cứu đều khẳng định ngoài những yếu tố kỹ thuật trong quá trình giâm cành thì có 2 yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng quyết định đến chất lượng và hiệu quả giâm cành đó là:

- Đặc điểm của giống (đặc điểm hình thái, khả năng ra hom và chất lượng hom giống)

- Chế độ bón phân để cho chất lượng cây giống tốt

Đây cũng những vấn đề cần thiết đặt ra nghiên cứu nhằm xác định cơ sở khoa học và hoàn thiện quy trình giâm cành cho giống chè Trung du búp tím

mở rộng vùng sản xuất chè góp phần nâng cao năng suất, chất lượng chè của Việt Nam

Trang 31

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Hom giống giống chè trung du búp tím tại Phú Thọ

* Đặc điểm hình thái

Đặc điểm giống Trung Du búp tím thuộc loại hình thân gỗ nhỡ, có thân chính rõ rệt, chiều cao phân cành thấp Lá nhỏ, mỏng, thuôn dài, lá và búp màu tím, mặt trên của lá tím nhạt sau chuyển thành xanh, mặt dưới tím đậmcó lá to trung bình, chiều dài látừ 12-14 cm, chiều rộng lá 5-7 cm Khối lượng của búp

là 0,7- 0,78 gam/búp Chất lượng của búp thuộc loại khá, thích hợp để chế biến chè xanh, chè đen Hàm lượng tanin của giống Trung Du đạt trên 26,30%, chất hoà tan 51,40% Giống Trung du có khả năng chống chịu sâu bệnh, hạn hán khá tốt, có tính thích ứng cao và khá rộng với các vùng chè

2.2 Vật liệu nghiên cứu

* Giá Thể

- Trấu hun: Vỏ trấu được đốt thành than

- Xơ dừa: Xơ dừa là giá thể trồng cây từ vỏ trái dừa được xé ra

- Đất: Đất đóng bầu cần tơi xốp, có thành phần cơ giới trung bình, màu

đỏ nâu

Trang 32

- Kali sulfat (21% K2O)

2.3 Thời gian địa điểm nghiên cứu

* Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu từ tháng 10/2016 đến hết tháng 7/2017

* Địa điểm nghiên cứu

- Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc - Xã Phú

Hộ - Thị xã Phú Thọ - Tỉnh Phú Thọ

Viện KHKTNLNMN phía Bắc - Xã Phú Hộ - Thị xã Phú Thọ - Tỉnh Phú Thọ, ở tại 21027’vĩ độ Bắc và 105014’kinh Đông, độ cao 25-70m so với mặt nước biển, với địa hình đồi bát úp trung du có độ dốc 80 - 100

2.4 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể giâm đến sinh trưởng và phát triển của cành giâm giống chè Trung du búp tím

Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của cây chè giống trong vườn ươm

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Các thí nghiệm và phương pháp bố trí thí nghiệm

* Thí nghiệm 1: Nghiên cứuảnh hưởng củagiá thể đến sinh trưởng phát triển của cành giâm hom giống chè Trung du búp tím

Trang 33

500 bầu), mỗi nhắc lại gồm 10 bầu, bầu giá thể được đóng bằng túi PE

* Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng phát triển của giống chè Trung du búp tím trong giai đoạn vườn ươm

CT1: Lượng phân bón 100g/m2 (20g Ure + 60g supelân + 20g Kalisunphat), chia làm 4 lần(Đối chứng)

CT2: Lượng phân bón 150g/m2 (30g Ure + 90g supelân + 30g Kalisunphat), chia làm 6 lần

CT3: Lượng phân bón 200g/m2 (40g Ure + 120g supelân + 40g Kalisunphat), chia làm 6 lần

CT4: Lượng phân bón 200g/m2 (40g Ure + 120g supelân + 40g Kalisunphat), chia làm 7 lần

Trang 34

Bảng 2.1 Thời gian và lượng phân cho từng đợt bón

Sau 4 tháng

Sau 5 tháng

Sau 6 tháng

Sau 7 tháng

Sau 8 tháng

CT2 2:5:2 2:10:2 3:15:3 5:15:5 8:20:8 10:25:10

CT3 2:10:2 4:15:4 4:20:4 8:20:8 10:25:10 12:30:12

CT4 2:10:2 2:10:2 4:15:4 4:15:4 8:20:8 10:25:10 10:20:10

Thí nghiệm được chăm sóc theo quy trình giâm cành chè trên nền giá thể

2.5.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

Các chỉ tiêu và phương pháp nghiên cứu theo quy phạm QCVN 01 - 124: 2013/BNNPTNT

Chọn mỗi công thức 10cây theo phương pháp đường chéo, cố định để theo dõi một số chỉ tiêu:

* Tỷ lệ sống

Đếm số hom sống trên toàn ô (tổng số hom trong ô)

Thời điểm lấy mẫu: Sau khi cắm hom 15 ngày (thể hiện ở bảng theo dõi

Tổng số hom ra mô sẹo

Tổng số hom quan sát

Trang 35

* Tỷ lệ ra rễ

Lấy mẫu sau khi cắm hom 30 ngày, theo dõi 10 ngày một lần Tại mỗi ô lấy mẫu theo phương pháp đường chéo 5 điểm, tại mỗi điểm lấy 10 hom để quan sát, theo dõi

Tỷ lệ ra rễ (%) = (Tổng số hom ra rễ/Tổng số hom điều tra)*100

* Tỷ lệ bật mầm

Thời điểm lấy mẫu: 30 ngày sau khi cắm hom, theo dõi 10 ngày một lần đến khi hom được 90 ngày

Cách lấy mẫu: Đếm số hom bật mầm trên toàn ô

Tỷ lệ bật mầm (%) = (Tổng số hom bật mầm/Tổng số hom điều tra) x 100 Vào lần theo dõi cuối cùng theo dõi các chỉ tiêu sau:

* Số lượng rễ cấp 1, số lượng rễ cấp 2, chiều dài rễ cấp 1

Thời điểm lấy mẫu: trước khi mang cây đi trồng Tại mỗi ô lấy mẫu theo phương pháp đường chéo 5 điểm, mỗi điểm lấy 1 cây để quan sát Rửa sạch rễ,

để ráo nước sau đó đếm số rễ cấp 1 cấp 2, đo chiều dài rễ cấp 1 bằng thước chia

* Chiều cao cây

Thời điểm lấy mẫu: Sau khi cắm hom 60 ngày, theo dõi 30 ngày 1 lần đến 240 ngày sau cắm hom

Tại mỗi ô lấy mẫu theo phương pháp đường chéo 5 điểm Tại mỗi điểm chọn 10 cây để theo dõi Đo từ vết cắt hom đến đỉnh sinh trưởng Tính trị số trung bình

Trang 36

* Đường kính gốc

Thời điểm lấy mẫu: trước khi mang trồng ra sản xuất

Tại mỗi ô lấy mẫu theo phương pháp đường chéo 5 điểm Tại mỗi điểm chọn 10 cây để theo dõi Dùng thước kẹp Panme đo cách vết cắt của hom 1cm Tính trị số trung bình

* Khối lượng thân lá

Thời điểm lấy mẫu: trước khi đưa cây mang trồng Tại mỗi ô lấy mẫu theo phương pháp đường chéo 5 điểm Tại mỗi điểm lấy 10 cây để quan sát Rửa sạch, để ráo nước tách riêng thân và lá, mang cân được trọng lượng tươi tiếp tục mang sấy đến khi cân 3 lần trọng lượng không đổi thì lấy kết quả đó được trọng lượng khô (sử dụng cân chính xác đến 0,1 g) Tính trị số trung bình

* Điều tra một số sâu, bệnh hại trong vườn ươm:

Theo quy chuẩn của Cục bảo vệ thực vật (2013), QCNN 01 - 38/2010 [32]

- Cách điều tra một số sâu, loại bệnh theo mức độ xuất hiện có trên diện tích thí nghiệm:

- Chỉ tiêu theo dõi là mức độ hiện diện của những loại bệnh và những loại sâu đã điều tra được

- Mức độ hiện diện: Rất ít (-) < 10% số lần bắt gặp

Ít (+) từ 10% - 20% số lần bắt gặp Trung bình (+ +) từ 20% - 50% số lần bắt gặp Nhiều (+ + +) > 50% số lần bắt gặp

Trang 37

* Phương pháp tưới phân cho vườn chè:

Các loại phân: Đạm: lân: Kali được trộn đều theo tỉ lệ 1: 3: 1 cho vào nước lã hòa tan tưới đều trên diện tích ô bầu thí nghiệm sau đó được rửa lại bằng nước lã Thời điểm tưới sau khi cắm hom 2 tháng

Trang 38

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng cửa giá thể đến sinh trưởng và phát triển cành giâm trên giống chè Trung du búp tím

3.1.1 Ảnh hưởng của giá thể giâm đến tỉ lệ sống của hom chè

Trong quá trình nhân giống bằng giâm cành, đảm bảo tỷ lệ hom sống là một trong những tiêu chí đầu tiên nhằm nâng cao tỷ lệ xuất vườn của cây giống

Tỷ lệ sống của hom là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhằm đánh giá khả năng của giống có thể tiến hành nhân giống bằng phương pháp vô tính được hay không Nếu tỉ lệ sống thấp thì việc nhân giống phục vụ cho sản xuất sẽ gặp khó khăn hơn, hơn thế nữa sẽ làm cho chi phí tăng cao dẫn đến giá thành cây giống tăng Khả năng chết của hom giâm ở giai đoạn đầu sau cắm hom, khi hom chưa hoặc mới hình thành mô sẹo là rất cao, ở giai đoạn này các điều kiện ngoại cảnh như ẩm độ, ánh sáng, nhiệt độ, đều có tác động mạnh đến tỷ lệ sống của hom Kết quả theo dõi đề tài thu được kết quả như sau:

Bảng 3.1 Ảnh hưởng của giá thể giâm đến tỉ lệ sống của hom chè

Trang 39

Qua thực tế theo dõi tôi thấy hom giâm bị chết chủ yếu ở giai đoạn sau giâm 25 ngày đến 75 ngày và tỉ lệ sống của hom được giảm dần theo thời gian

Số liệu bảng 3.1 cho thấy trên các giá thể khác nhau thì tỉ lệ sống khác nhau, tỉ

lệ sống của các giống giảm dần theo thời gian Bắt đầu thời điểm 65 đến 75 ngày sau khi cắm hom thì tỉ lệ sống giữa các công thức chênh lệch nhau không đáng kể Tại thời điểm 75 ngày sau khi cắm hom tỉ lệ sống của giống Trung du búp tím dao động từ 90,3% đến 93,0% Kết quả cho thấy CT3 có tỉ lệ sống thấp nhất, nguyên nhân có thể là do trong giá thể xơ dừa còn chứa hàm lượng tanin làm ảnh hưởng đến tỉ lệ sống của hom, nhưng đây là thời kỳ đầu nên có thể khắc phục được tỉ lệ sống bằng cách cắm bổ sung thay thế những hom đã chết

để đảm bảo được mật độ của hom về sau cũng như tỉ lệ xuất vườn Thí nghiệm cho thấy CT1 (100% đất) có tỉ lệ sống cao hơn nguyên nhân là do trên nền đất ban đầu chưa bị trai cứng nên độ xốp, độ ẩm còn cao, ít bị nhiễm nấm bệnh hơn

so với các giá thể khác Đối với CT2 (50% đất + 50% trấu hun) cũng có tỉ lệ sống cao hơn CT 3 (50% đất + 50% xơ dừa) và CT 4 (đất + xơ dừa + trấu) do giá thể trấu hun là giá thể sạch ít nhiễm bệnh lại không chứa tanin

Như vậy: Qua các phân tích trên ta có thể nhận định rằng bước đầu giá

thể có ảnh hưởng tới tỷ lệ sống của giống chè Trung du búp tím, đến thời điểm

75 ngày sau cắm hom công thức giá thể 100% đất có tỷ lệ sống cao hơn so với các công thức khác Điều này được giải thích do ở thời điểm này hom đã hình thành mô sẹo và bộ rễ của hom giâm đã hình thành và bắt đầu phát triển, khi

đó các tế bào lông hút có khả năng hút chất dinh dưỡng từ giá thể Giá thể đất tạo sự tơi xốp thông thoáng cho bộ rễ hoạt động, hút dinh dưỡng để thúc đẩy các quá trình sinh lý, sinh hóa khác nâng cao tỷ lệ sống cho hom giâm

Trang 40

3.1.2 Ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng, phát triển các bộ phận dưới mặt đất của hom chè trong vườn ươm

3.1.2.1 Ảnh hưởng của giá thể giâm cành đến tỷ lệ ra mô sẹo

Sự hình thành và hoạt động của mô sẹo trong cành giâm là giai đoạn tái sinh đầu tiên của cây, nó có vai trò quyết định tới sự sinh trưởng, phát triển của cành giâm Sau khi hom chè được giâm vào môi trường nuôi dưỡng (đất + giá thể) các quá trình trao đổi chất xảy ra mạnh hơn: Sức hút nước, sự thoát hơi nước diễn ra mạnh, đặc biệt là các tế bào tại vết cắt của hom phân chia mạnh

mẽ phình to ra tạo thành vòng tròn mô gọi là mô sẹo

Tổ chức mô sẹo là phần dưới mặt đất được hình thành đầu tiên đảm bảo cho quá trình hút thẩm thấu nước và dinh dưỡng Cũng chính từ đây rễ được hình thành cho nên mô sẹo hình thành càng sớm thì cành giâm càng sớm có khả năng hình thành rễ Do vậy sự phát triển của mô sẹo không những ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành rễ mà còn ảnh hưởng đến tỷ

lệ sống cũng như các quá trình sinh trưởng phát triển của hom giâm ở giai đoạn sau Sự hình thành mô sẹo phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chất lượng cành giâm, giống, điều kiện môi trường, các biện pháp kỹ thuật tác động Khi chúng ta giâm hom vào các môi trường sống khác nhau thì có sự khác nhau trong quá trình hình thành mô sẹo và quá trình này thường kết thúc sau giâm 70 ngày

Tỉ lệ ra mô sẹo được tăng dần theo thời gian giâm hom và kết thúc sau khi giâm 70 ngày Kết quả bảng 3.2 cho thấy 10 ngày đầu sau khi cắm hom ở các công thức đã bắt đầu hình thành mô sẹo với tỷ lệ còn rất thấp, hom chè bắt đầu hình thành mô sẹo chưa có sự khác nhau cao giữa các công thức Tỷ lệ ra

mô sẹo tăng dần cho đến khi hom chè cắm được 70 ngày quá trình ra mô sẹo

đã kết thúc và chuyển sang giai đoạn hìmh thành và phát triển bộ rễ Trong tất

Ngày đăng: 18/04/2018, 16:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn An (2006), Nghiên cứu khả năng nhân giống một số giống chè mới bằng phương pháp giâm cành và ghép tại Đăk LăK.Luận án tiến sỹ Nông nghiệp, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng nhân giống một số giống chè mới bằng phương pháp giâm cành và ghép tại Đăk LăK
Tác giả: Nguyễn Văn An
Năm: 2006
2. Nguyễn Thị Ngọc Bình, Đỗ Văn Ngọc (2003), Ảnh hưởng của một số đặc điểm hình thái giải phẫu hom chè đến sinh trưởng phát triển của cây chè con trong vườn ươm. Tạp chí nông nhiệp và phát triển nông thôn (5), tr.557 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí nông nhiệp và phát triển nông thôn
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Bình, Đỗ Văn Ngọc
Năm: 2003
3. Võ Văn Chung (2003), Nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần giá thể, lượng NPK phối trộn đến chất lượng cây giống và sinh trưởng, phát triển một số loại cây rau, Luận văn thạc sỹ nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần giá thể, lượng NPK phối trộn đến chất lượng cây giống và sinh trưởng, phát triển một số loại cây rau
Tác giả: Võ Văn Chung
Năm: 2003
5. Phạm Tiến Dũng (2008), Giáo trình thiết kế thí nghiệm và xử lý kết quả bằng phần mềm thống kê IRRISTAT, Trường Đại học Nông nghiệp - Hà Nội 6. Đặng Văn Đông (2008), Nghiên cứu bảo tồn lưu giữ và phát triển giống hoaMai vàng Yên Tử, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Giáo trình thiết kế thí nghiệm và xử lý kết quả bằng phần mềm thống kê IRRISTAT", Trường Đại học Nông nghiệp - Hà Nội 6. Đặng Văn Đông (2008), "Nghiên cứu bảo tồn lưu giữ và phát triển giống hoa "Mai vàng Yên Tử
Tác giả: Phạm Tiến Dũng (2008), Giáo trình thiết kế thí nghiệm và xử lý kết quả bằng phần mềm thống kê IRRISTAT, Trường Đại học Nông nghiệp - Hà Nội 6. Đặng Văn Đông
Năm: 2008
7. Ngô Thị Hạnh, Nghiên cứu tỉ lệ phối trộn giá thể cho rau cải bao trồng khay, Viện rau quả Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tỉ lệ phối trộn giá thể cho rau cải bao trồng khay
8. Võ Ngọc Hoài (1998), “Phát triển chè đến năm 2000 và 2010”. Tuyển tập các công trình nghiên cứu về chè, NXB Nông nghiệp Hà Nội, Tr 7-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển chè đến năm 2000 và 2010”. "Tuyển tập các công trình nghiên cứu về chè
Tác giả: Võ Ngọc Hoài
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1998
10. Nguyễn Khê, Kỹ thuật trồng hoa lily chậu. Báo Nông nghiệp Việt Nam số ra ngày 3/3/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng hoa lily chậu
11. Trịnh Khởi Khôi, Trang Tuyết Phương (1997), 100 năm ngành chè Thế giới. Tài liệu dịch, Tổng công ty Chè Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 100 năm ngành chè Thế giới
Tác giả: Trịnh Khởi Khôi, Trang Tuyết Phương
Năm: 1997
12. Lê Tất Khương (1997), Nghiên cứu đặc điểm của một số giống chè mới trong điều kiện Bắc Thái và những biện pháp kỹ thuật canh tác hợp lý cho những giống chè có triển vọng, Luận án tiến sỹ khoa học nông nghiệp, Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm của một số giống chè mới trong điều kiện Bắc Thái và những biện pháp kỹ thuật canh tác hợp lý cho những giống chè có triển vọng
Tác giả: Lê Tất Khương
Năm: 1997
13. Nguyễn Thị Lan, Phạm Tiến Dũng (2006), Giáo trình phương pháp thí nghiệm, NXB Nông nghiệp - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp thí nghiệm
Tác giả: Nguyễn Thị Lan, Phạm Tiến Dũng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp - Hà Nội
Năm: 2006
14. Trịnh Thị Kim Mỹ (2014), Nghiên cứu đặc điểm cành hom và biện pháp kỹ thuật giâm cành cho 2 giống chè PH12, PH14 tại Phú Hộ - Phú Thọ, Luận văn Thạc sĩ nông nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm cành hom và biện pháp kỹ thuật giâm cành cho 2 giống chè PH12, PH14 tại Phú Hộ - Phú Thọ
Tác giả: Trịnh Thị Kim Mỹ
Năm: 2014
15. Đỗ Văn Ngọc, Đàm Lý Hoa, Đặng Văn Thư (2005), Nghiên cứu kỹ thuật giâm cành chè trên nền đất, Tạp trí Nông nghiệp và phát triển nông thôn số 10/2005, Tr 1337 - 1339 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kỹ thuật giâm cành chè trên nền đất
Tác giả: Đỗ Văn Ngọc, Đàm Lý Hoa, Đặng Văn Thư
Năm: 2005
16. Đỗ Văn Ngọc và cộng sự (2006), Nghiên cứu chọn tạo và nhân giống chè, Kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ giai đoạn 2001- 2005, NXB Nông nghiệp Hà Nội, Tr 30-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chọn tạo và nhân giống chè
Tác giả: Đỗ Văn Ngọc và cộng sự
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2006
17. Lê Thị Nguyên (2009), Mối quan hệ đất - nước - cây trồng, Bài giảng cao học, Đại học thủy lợi, Tr 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Mối quan hệ đất - nước - cây trồng
Tác giả: Lê Thị Nguyên
Năm: 2009
18. Nguyễn Văn Niệm - Chử Quốc Doanh - Lê Sỹ Thức (1995), “Hoàn thiện kỹ thuật nhân giống chè 1A”, Kết quả nghiên cứu và triển khai công nghệ về cây chè 1989 - 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện kỹ thuật nhân giống chè 1A”
Tác giả: Nguyễn Văn Niệm - Chử Quốc Doanh - Lê Sỹ Thức
Năm: 1995
19. Ninh Thị Phíp, Nguyễn Tất Cảnh (2009), Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể giâm cành đến sinh trưởng phát triển hom giâm của một số loài thuốc tắm, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể giâm cành đến sinh trưởng phát triển hom giâm của một số loài thuốc tắm
Tác giả: Ninh Thị Phíp, Nguyễn Tất Cảnh
Năm: 2009
20. Đỗ Ngọc Quỹ - Nguyễn Văn Niệm (1979), Kỹ thuật giâm cành chè. NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật giâm cành chè
Tác giả: Đỗ Ngọc Quỹ - Nguyễn Văn Niệm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1979
22. Đỗ Ngọc Quỹ - Nguyễn Kim Phong (1997), Cây chè Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây chè Việt Nam
Tác giả: Đỗ Ngọc Quỹ - Nguyễn Kim Phong
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
24. Vũ Quang Sáng - Nguyễn Thị Nhẫn - Mai Thị Tân (2007), Giáo trìnhsinh lý thực vật ứng dụng, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trìnhsinh lý thực vật ứng dụng
Tác giả: Vũ Quang Sáng - Nguyễn Thị Nhẫn - Mai Thị Tân
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2007
25. Nguyễn Văn Tạo (2005) “Ảnh hưởng của các dạng phân khoáng bón thúc đến động thái cây chè con LDP1 trong vườn ươm”,Tập san Nông nghiệp &amp;Phát triển nông thôn số 21/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của các dạng phân khoáng bón thúc đến động thái cây chè con LDP1 trong vườn ươm"”,Tập san Nông nghiệp & "Phát triển nông thôn

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm