1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở thị xã tam điệp, ninh bình

100 615 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở thị xã tam điệp, ninh bình
Tác giả Vũ Đức Hạnh
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Nguyên Cự
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Kinh Tế Nông Nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở thị xã tam điệp, ninh bình

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp i

-

Vũ đức hạnh

Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang

trại ở thị xã tam điệp, ninh bình

Luận văn thạc sĩ kinh tế

hà nội 2004

Trang 2

Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp i

Trang 3

lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn

đều đã chỉ rõ nguồn gốc

Vũ Đức Hạnh

Trang 4

Để thực hiện và hoàn thành luận văn này, chúng tôi đã nhận được

sự quan tâm giúp đỡ tận tình về nhiều mặt của các cá nhân và tổ chức Cho phép tôi được bày tỏ lòng cám ơn sâu sắc đến:

- PGS.T.S Nguyễn Nguyên Cự, người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

- Lãnh đạo trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội, Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn, Lãnh đạo bộ môn Quản trị kinh doanh cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo, cán bộ nhân viên trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội

- Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Cục Thống kê Ninh Bình, Uỷ ban nhân dân, phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, phòng Thống kê, Trung tâm khuyến nông cùng toàn thể các trang trại thị xã Tam Điệp

- Công ty thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao

Một lần nữa xin trân trọng cám ơn!

Tác giả luận văn

Vũ Đức Hạnh

Trang 5

Mục lục

2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế trang trại 4

2.1.2 Vai trò và xu hướng phát triển của kinh tế trang trại 9

2.1.3 Điều kiện hình thành và phát triển kinh tế trang trại 12

2.2.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại một số nước trên thế giới 18

2.2.2 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam 23

2.3 Những vấn đề nghiên cứu đã đạt được về trang trại 32

3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 34

Trang 6

3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội ở thị xã Tam Điệp 34

3.2.3 Điều tra nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) 41

4.1 Những vấn đề chung về kinh tế trang trại ở thị xã Tam Điệp 46

4.1.1 Quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại ở thị xã Tam Điệp 46

4.1.2 Xác định loại hình kinh tế trang trại trên địa bàn 47

4.2 Thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở thị xã Tam Điệp 49

4.2.1 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Tam Điệp 49

4.2.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh tế trang trại ở thị xã Tam Điệp 58

4.2.3 Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở thị xã Tam Điệp 68

4.3 Định hướng phát triển kinh tế trang trại ở thị xã Tam Điệp 71

4.3.2 Mục tiêu phát triển kinh tế trang trại ở Tam Điệp (2004 – 2008) 72

4.4 Giải pháp về phát triển kinh tế trang trại ở thị xã Tam Điệp 73

4.4.4 Về thị trường 78 4.4.5 Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực của trang trại 81

4.4.6 Giải pháp cụ thể cho từng loại hình trang trại 82

Trang 7

Ch÷ viÕt t¾t

CP : Chi phÝ HTX : Hîp t¸c x·

NLKH : N«ng l©m kÕt hîp PTTH : Phæ th«ng trung häc

TT : Trung t©m

TN : ThuÇn n«ng THCS : Trung häc c¬ së TTGDTX : Trung t©m gi¸o dôc th−êng xuyªn

SP : S¶n phÈm XDCB : X©y dùng c¬ b¶n

Trang 8

1 đặt vấn đề 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Với thực trạng phát triển sản xuất nông nghiệp của nước ta hiện nay, việc nghiên cứu, tìm kiếm các mô hình sản xuất nông nghiệp tạo thêm động lực mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn có ý nghĩa quan trọng Kinh tế trang trại đang có xu hướng phát triển mạnh trong cả nước

Kinh tế trang trại - Hình thức tổ chức kinh tế cơ sở tất yếu của sản xuất nông nghiệp trong tương lai, đã và đang phát triển mạnh mẽ ở nước ta trong những năm gần đây, gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thị trường theo

định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo Sự phát triển của kinh tế trang trại đã mang lại những thành tựu hết sức quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng tập trung chuyên canh, sản xuất hàng hoá, thúc đẩy xuất khẩu các sản phẩm có giá trị cao Sự chuyển dịch đó không những đem lại hiệu quả về mặt kinh tế mà còn mang lại hiệu quả về xã hội, môi sinh, môi trường góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, giải quyết việc làm ổn định cho một lực lượng lớn lao động

và góp phần vào việc xoá đói giảm nghèo ở khu vực nông nghiệp và nông thôn Điều này đã được Đảng ta khẳng định trong các Hội nghị TW khoá VII

và VIII là phát triển kinh tế trang trại sẽ góp phần thúc đẩy CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn

Tuy nhiên, để kinh tế trang trại thực sự trở thành loại hình kinh tế năng

động, hiệu quả của nền nông nghiệp hàng hoá mang tính cạnh tranh cao trong những thập niên đầu của thế kỷ 21, Nhà nước và nông dân còn phải giải đáp nhiều bài toán, tháo gỡ nhiều khó khăn vướng mắc ở cả tầm vĩ mô và vi mô liên quan đến nhận thức, cơ chế chính sách và các giải pháp cụ thể về đất đai, vốn, lao động, khoa học công nghệ, tổ chức quản lý, thị trường Và, trong tương lai nước ta có những loại hình trang trại nào? Nó sẽ hoạt động ra sao trong cơ chế thị trường? Làm thế nào để trang trại phát huy được tính ưu việt của từng địa

Trang 9

phương và hoạt động có hiệu quả kinh tế cao hơn? Đó là vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải có điều tra nghiên cứu thấu đáo mới có căn cứ cho các cơ quan quản lý Nhà nước có được chính sách phù hợp với loại hình kinh tế này

Nhưng để biết các trang trại ở đây phát triển ra sao? Loại hình nào đã phát huy được lợi thế của vùng và loại trang trại nào phát huy kém hiệu quả hoặc cần phải có những giải pháp nào ở cả tầm vĩ mô lẫn vi mô giúp cho các trang trại phát triển nhất là khi nền kinh tế nước ta đang từng bước hội nhập vào nền kinh tế của khu vực và thế giới? Đây chính là những vấn đề bức xúc

đòi hỏi chúng ta cần phải điều tra, nghiên cứu một cách nghiêm túc để có những lý giải thực sự có cơ sở khoa học nhằm giúp cho Đảng và Chính phủ đề

ra các chủ trương và chính sách phù hợp với mô hình kinh tế này, góp phần thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển nông nghiệp, nông thôn nước nhà

Tam Điệp là một thị xã có nhiều thế mạnh kinh tế trang trại, đặc biệt khi

mà các nông trường quốc doanh trên địa bàn thị xã làm ăn kém hiệu quả và bị giải thể tiến hành giao đất tới từng hộ gia đình quản lý và sử dụng Điều đó dẫn tới trong thời gian qua kinh tế trang trại ở đây phát triển khá nhanh và đạt được những kết quả khả quan, song vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc cần phải

được giải quyết kịp thời Hiệu quả của từng loại hình trang trại ở đây như thế nào thì chưa có một nghiên cứu nào trả lời cụ thể Vì vậy, đánh giá thực chất kết quả kinh tế của từng loại hình trang trại cũng như việc lựa chọn giống cây trồng, vật nuôi và phương án đầu như thế nào để có hiệu quả và giảm bớt rủi ro là việc

làm cần thiết Chính từ lý do đó, tôi chọn đề tài: "Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở thị xã Tam Điệp, Ninh Bình"

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng phát triển các loại hình kinh tế trang trại ở thị xã Tam Điệp nhằm phát hiện những khó khăn, vướng mắc và đề xuất

Trang 10

những giải pháp cho sự phát triển kinh tế trang trại trong thời gian tới của địa bàn thị xã Tam Điệp

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Góp phần hệ thống hoá những cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế trang trại và phát triển kinh tế trang trại

- Phản ánh thực trạng tình hình phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn nghiên cứu và phát hiện những yếu tố làm hạn chế đến quá trình phát triển của các loại hình kinh tế trang trại

- Đề xuất những định hướng, giải pháp khả thi nhằm phát triển kinh tế của các trang trại ở thị xã Tam Điệp trong thời gian tới

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các trang trại trên địa bàn thị xã Tam Điệp

1.3.1 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung

Tập trung nghiên cứu các khía cạnh kinh tế xã hội bao gồm các yếu tố sản xuất như đất đai, lao động, vốn, chi phí, kết quả và hiệu quả kinh tế của các loại hình trang trại vùng đồi Từ đó, phát hiện những nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của các loại hình trang trại vùng nghiên cứu

- Về địa điểm nghiên cứu. Thị xã Tam điệp - Ninh Bình

- Về thời gian

+ Số liệu phục vụ nghiên cứu đề tài đối với số liệu thứ cấp là 3 năm: 2000 - 2002

+ Số liệu điều tra trang trại tập trung vào năm 2003

+ Đề xuất những định hướng và giải phát triển kinh tế trang trại ở thị xã Tam Điệp giai đoạn từ năm 2004 - 2008

Trang 11

2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển

kinh tế trang trại 2.1 Cơ sở lý luận về kinh tế trang trại

2.1.1 Những khái niệm cơ bản

Trên thế giới, kinh tế trang trại đã tồn tại và phát triển ở hầu hết các nước có sản xuất nông nghiệp (gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp) So với kinh

tế hộ nông dân thì kinh tế trang trại là loại hình sản xuất kinh doanh tiến bộ,

có qui mô và hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn Qua nghiên cứu và thực tế cho thấy cơ sở để hình thành và phát triển kinh tế trang trại được bắt đầu từ kinh tế

hộ nông dân

2.1.1.1 Khái niệm kinh tế hộ nông dân

Kinh tế hộ nông dân có lịch sử phát triển lâu đời trên thế giới Cho đến nay, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về kinh tế hộ nông dân và đưa ra những kết luận quan trọng về vấn đề này

Chayanov: “Hình thức kinh tế hộ có khả năng thích ứng và tồn tại trong mọi phương thức sản xuất, có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội” ( Đỗ Văn Viện,1999) [20]

Frank Ellis: “Kinh tế hộ nông dân là một hình thức tổ chức kinh tế cơ

sở của nền kinh tế xã hội Các nguồn lực đất đai, tư liệu sản xuất, vốn, lao

động được góp chung, một nguồn ngân sách, ngủ chung một mái nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống đều do chủ hộ

phát ra (Frank Eliis 1993) [11]

Đối với Việt Nam, kinh tế hộ nông dân được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm, chú trọng phát triển do vị trí và vai trò to lớn của nó đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước Hiện nay, cả nước có 10331 xã, phường, thị trấn ( trong đó có khoảng 8850 xã) với khoảng 12 triệu hộ

Trang 12

Bộ Chính trị, Ban Chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam ban hành Nghị quyết số 06/NQ, ngày 10/11/98 về một số vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn, trong đó có việc phát triển kinh tế hộ Nghị quyết chỉ rõ:

“Kinh tế hộ nông dân (làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, dịch vụ tiểu thủ công nghiệp hoặc kết hợp làm nhiều ngành nghề) là loại hình tổ chức sản xuất có hiệu quả về kinh tế xã hội, tồn tại, phát triển lâu dài, có vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và quá trình hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Tiếp tục khuyến khích kinh tế hộ phát triển mạnh mẽ để tạo ra sản lượng hàng hoá đa dạng, có chất lượng, giá trị ngày càng cao, tăng thu nhập cho mỗi

hộ gia đình nông dân, cải thiện mọi mặt ở nông thôn, cung cấp sản phẩm cho

đô thị, công nghiệp và xuất khẩu, đồng thời việc thực hiện việc chuyển dịch cơ

cấu kinh tế ngay từ kinh tế hộ” (Lê Trọng, 1996) [18]

Từ những quan điểm trên và qua thực tế cho thấy kinh tế hộ nông dân là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở, là một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh phổ biến trong nông nghiệp, tồn tại khách quan và có vai trò quan trọng trong mọi chế độ xã hội Để nghiên cứu và đánh giá sự phát triển của kinh tế

hộ gia đình, căn cứ như mục đích sản xuất, công cụ, phương thức sản xuất, mối quan hệ thị trường, người ta thường chia kinh tế hộ nông dân thành hai loại hình chủ yếu sau:

- Hộ nông dân sản xuất tự túc, tự cấp Loại hình này có qui mô sản xuất nhỏ, trình độ thấp với công cụ sản xuất thủ công, thô sơ, kỹ thuật lạc hậu, ít

đầu tư và sản xuất mang tính quảng canh nên năng suất lao động thấp, hiệu quả kinh tế không cao Mục tiêu chính là sản xuất ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của gia đình Đây là loại hình ít có quan hệ với thị trường và thường có mức sống thấp

- Hộ nông dân sản xuất hàng hoá Là những hộ nông dân có trình độ sản xuất cao hơn, công cụ và kỹ thuật sản xuất tiên tiến, sản xuất có sự đầu tư thâm canh, qui mô sản xuất lớn hơn, đạt năng suất, hiệu quả kinh tế cao Mục tiêu

Trang 13

chủ yếu là sản xuất sản phẩm hàng hoá đáp ứng yêu cầu của thị trường để sinh lời và đối với loại hình này luôn có xu hướng tích luỹ để tái sản xuất mở rộng qui mô sản xuất đây chính là những tiền đề quan trọng để kinh tế hộ nông dân phát triển thành kinh tế trang trại

Như vậy, kinh tế hộ nông dân đóng góp vai trò hết sức quan trọng và là một tế bào cơ bản để tiến hành sản xuất nông nghiệp nói riêng và nguồn lực to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước

2.1.1.2 Khái niệm kinh tế trang trại

Ngày nay trong điều kiện kinh tế thị trường, ngôn ngữ các nước đều có các thuật ngữ để chỉ hình thức sản xuất nông nghiệp Để làm rõ khái niệm kinh tế trang trại trước hết cần phân biệt các thuật ngữ “Trang trại”, “Kinh tế trang trại”

Theo tác giả Phạm Đức Minh [12]: “Trang trại là loại hình sản xuất nông nghiệp hàng hoá của hộ, do một người chủ hộ có khả năng đón nhận những cơ hội thuận lợi, từ đó huy động thêm vốn và lao động, trang bị tư liệu sản xuất, lựa chọn công nghệ sản xuất thích hợp, tiến hành tổ chức sản xuất và dịch vụ những sản phẩm theo yêu cầu thị trường nhằm thu lợi nhuận cao’’

Nguyễn Thế Nhã [16] cho rằng: “Kinh tế trang trại (hay kinh tế nông trại, lâm trại, ngư trại ) là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, bao gồm một số người lao động nhất định để tiến hành sản xuất kinh doanh phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường và được Nhà nước bảo hộ”

Các quan điểm trên đều cho rằng bản chất kinh tế trang trại được bắt

đầu từ kinh tế hộ nông dân nhưng có qui mô, trình độ và các yếu tố sản xuất cao hơn hẳn với mục đích chủ yếu là sản xuất nông sản hàng hoá gắn vớ thị trường Tuy nhiên, chúng tôi cần phải khẳng định rằng hai khái niệm “Trang trại” và “Kinh tế trang trại” là hai khái niệm không đồng nhất Kinh tế trang trại là tổng thể các yếu tố vật chất của các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tồn tại và hoạt động của trang trại Còn trang trại là nơi kết hợp các yếu

Trang 14

tố vật chất của sản xuất là chủ thể của các quan hệ kinh tế đó Như vậy, nói kinh tế trang trại là xem xét trang trại thì ngoài mặt kinh tế thì còn có thể nhìn nhận xem xét từ mặt xã hội, môi trường

Về mặt xã hội, trang trại là một tổ chức cơ sở của xã hội, trong đó các quan hệ xã hội đan xen nhau; quan hệ giữa các thành viên của hộ trang trại, quan hệ giữa chủ trang trại và những người lao động làm thuê, quan hệ giữa những người làm thuê cho chủ với nhau

Xét về mặt môi trường, trang trại là một không gian sinh thái, trong đó diễn ra các quan hệ sinh thái đa dạng Không gian sinh thái trang trại có quan

hệ chặt chẽ và ảnh hưởng qua lại trực tiếp với hệ sinh thái trong vùng

Qua phân tích ở trên chúng ta nhận thấy khái niệm trang trại rộng hơn khái niệm kinh tế trang trại, song giữa các mặt kinh tế, xã hội, môi trường của trang trại thì mặt kinh tế vẫn là cơ bản chứa đựng những nội dung cốt lõi của trang trại Vì thế khi đề cập đến kinh tế trang trại, tức là nói tới mặt kinh tế của trang trại, người ta thường gọi tắt là trang trại

Qua nghiên cứu, tổng hợp ý kiến và các quan điểm, chúng tôi thống nhất: Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông nghiệp (lâm nghiệp, ngư nghiệp), trong đó tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập (thường là chủ hộ) hoạt động sản xuất kinh doanh tự chủ trên qui mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tập trung đủ lớn với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao nhằm mục đích chủ yếu là sản xuất nông sản hàng hoá, gắn liền với thị trường dưới sự bảo hộ của pháp luật

2.1.1.3 Khái niệm phát triển

- Tăng trưởng là sự gia tăng hay sự gia tăng thêm về qui mô số lượng

- Phát triển là quá trình lớn lên hay tăng tiến về mọi mặt không những gia tăng về qui mô số lượng mà còn là những tiến bộ về cơ cấu cũng như chất lượng

Trang 15

Tăng trưởng và phát triển đôi khi dược coi là đồng nghĩa, nhưng thực ra chúng có liên quan với nhau và có những nội dung khác nhau Theo nghĩa chung nhất, tăng trưởng là nhiều sản phẩm hơn, còn phát triển không những nhiều sản phẩm hơn mà còn phong phú hơn về chủng loại và chất lượng, phù hợp hơn về cơ cấu và phân bố của cải

Theo cách tiếp cận của khoa học kinh tế phát triển thì phát triển là nhiều hơn về số lượng, chất lượng sản phẩm, sự thay đổi về cơ cấu các loại sản phẩm, các ngành của nông nghiệp, thay đổi về tổ chức xã hội và thị trường trong đó nông nghiệp được tiến hành, đảm bảo sự công bằng giữa các vùng, các dân tộc

và giữa thế hệ hôm nay và mai sau Qua đó, chúng ta thấy việc phát triển kinh tế trang trại được thể hiện theo những theo những xu hướng sau

- Là đơn vị kinh tế ở qui mô hàng hoá tương ứng và thích hợp với sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp , trong mối liên kết với công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các hoạt động dịch vụ Qui mô hàng hoá thể hiện ở tỷ suất hàng hoá sản xuất của trang trại

- Ruộng đất tích tụ và tập trung ở qui mô nhất định

- Vốn của chủ trang trại chiếm tỷ trọng chủ yếu trong cơ cấu vốn đầu tư

2.1.1.4 Sự giống và khác nhau giữa kinh tế trang trại và kinh tế hộ nông dân

Trang 16

* Khác nhau

Mục đích sản xuất Sản xuất hàng hoá là chủ

yếu

Sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng

Qui mô sản xuất - Lớn, tập trung

- Đầu tư cao

- Hiệu quả kinh tế cao

- Sử dụng lao động gia

đình và lao động làm thuê

- Nhỏ, phân tán

- Đầu tư thấp

- Hiệu quả kinh tế thấp

- Sử dụng lao động gia

đình là chính Trình độ sản xuất Tiên tiến, tính chuyên

môn hoá cao

Thấp chủ yếu dựa vào kinh nghiệm

Mối quan hệ với thị

trường

Nhiều ít

2.1.2 Vai trò và xu hướng phát triển của kinh tế trang trại

2.1.2.1 Vai trò của kinh tế trang trại

* Sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai

Việc hình thành và phát triển trang trại chủ yếu dựa vào đường lối đổi mới của Đảng, chủ trương phủ xanh đất trống, đồi núi trọc của Nhà nước và dựa vào hai nguồn cơ bản khác nữa để tạo nên vóc dáng trang trại là đất đai hoang hoá và lao động rẻ mạt [4,214]

* Vai trò khai thác vốn trong dân

Về cơ cấu vốn chủ yếu là vốn tự có của chủ trang trại chiếm 85%, phần còn lại là vay ngân hàng 8%, vay thân nhân 6% và 1 % do liên kết Chung qui lại vốn chủ yếu để hình thành nên các trang trại đều có nguồn từ chính bản thân gia đình chủ trang trại [4,215]

* Vai trò giải quyết lao động xã hội

Trang 17

Chủ trang trại tận dụng lao động trong gia đình là chính Song trang trại nào cũng phải thuê từ 3-5 lao động thường xuyên và một đến vài ngàn ngày công lao động thời vụ Do việc sử dụng hợp lý lao động của gia đình và của xã hội nên hiệu quả kinh tế mang lại cho chủ trang trại là đương nhiên [4,215]

* Vai trò chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hình thành quan hệ sản xuất mới trong nông nghiệp và nông thôn chủ trang trại đầu tư hoặc hợp tác lại với nhau để đầu tư mua sắm máy móc thiết bị công nghiệp để chế biến sản phẩm, tạo ra những sản phẩm nông sản hàng hoá cung cấp đầu vào cho các cơ sở chế biến hàng xuất khẩu lớn hơn [4,216]

Một số khác có xu hướng chuyển hẳn sang ngành chế biến nông sản hàng hoá cho các chủ trang trại quanh vùng, tạo ra sự phân công hợp tác mới Việc này đã làm tăng giá trị nông sản hàng hoá do chủ trang trại tạo ra, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH – HĐH

2.1.2.2 Xu hướng phát triển của kinh tế trang trại

* Tích tụ và tập trung sản xuất

Sau khi hình thành, các trang trại vẫn tiếp tục diễn ra quá trình tập trung

và tích tụ sản xuất Tuy nhiên, tính chất và mức độ tích tụ và tập trung lúc này không hoàn toàn giống như tích tụ và tập trung các yếu tố sản xuất của nông

hộ để hình thành trang trại Tích tụ và tập trung trong trang trại lúc này là mở rộng qui mô sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh để đứng vững và phát triển trong cơ chế thị trường Tích tụ và tập trung trong các trang trại chủ yếu là tích tụ vốn và ở những nơi có điều kiện bao gồm cả tích tụ ruộng đất Tích tụ vốn thực chất làm tăng vốn tự có của trang trại để đầu tư mở rộng sản xuất, chủ yếu đầu tư theo chiều sâu, tức là đầu tư cho thâm canh, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất

* Chuyên môn hoá sản xuất

Sản xuất ngày càng đi sâu vào chuyên môn hoá là xu hướng tất yếu trong sản xuất kinh doanh của trang trại vì muốn sản xuất hàng hoá phải đi

Trang 18

sâu vào chuyên môn hoá sản xuất Nhưng do đặc điểm sản xuất nông nghiệp nên chuyên môn hoá phải kết hợp sản xuất đa dạng một cách hợp lý để khai thác có hiệu quả các nguồn lực đất đai, cơ sở vật chất kỹ thuật, lao động, đồng thời hạn chế rủi ro về thiên tai và biến động của thị trường Xu hướng chuyên môn hoá của trang trại thể hiện ở chỗ

- Trên cơ sở phân vùng qui hoạch cho cả nước, của từng vùng, từng địa phương, các trang trại bố trí sản xuất một số sản phẩm hàng hoá chính có giá trị phù hợp với yêu cầu của thị trường và với điều kiện sản xuất của mình

- Dựa vào một số sản phẩm hàng hoá chính mà kết hợp sản xuất một số loại sản phẩm bổ sung để hỗ trợ sản phẩm chính, đồng thời để sử dụng đầy đủ các nguồn lực đất đai, lao động và tư liệu sản xuất của trang trại

Phát triển theo hướng trên sẽ xuất hiện nhiều trang trại chuyên môn hoá, sản xuất có hiệu quả cao như các trang trại chuyên môn hoá cà phê, mía, cao su, thuỷ sản, chăn nuôi gia súc, gia cầm

* Nâng cao trình độ kỹ thuật và thâm canh hoá sản xuất

Xu hướng nâng cao trình độ kỹ thuật và thâm canh sản xuất trong các trang trại là xu hướng tất yếu gắn liền với việc nâng cao năng suất lao động, năng suất cây trồng, vật nuôi Để làm được điều đó, các trang trại phải đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở kỹ thuật cho sản xuất, tăng cường áp dụng kỹ thuật đặc biệt là công nghệ sinh học Mặt khác, phải xây dựng cơ sở vật chất cho từng trang trại phù hợp với sự phát triển khoa học của vùng, có sự phát triển nhất định của Nhà nước trong vấn đề xây dựng công trình nông thôn, nghiên cứu và phổ biến kỹ thuật thâm canh

Trang 19

sản xuất Đi đôi với việc hợp tác, các trang trại phải cạnh tranh với các tổ chức và

đơn vị khác nhau để tiêu thụ sản phẩm, tái sản xuất mở rộng

2.1.3 Điều kiện hình thành và phát triển kinh tế trang trại

2.1.3.1 Điều kiện về môi trường kinh tế và pháp lý

tế cao Quá trình này diễn ra một mặt do chính sự vận động của kinh tế hộ, mặt khác do sự tác động tích cực của Nhà nước sẽ thúc đẩy kinh tế trang trại

ra đời và phát triển Ngược lại, nếu tác động tiêu cực hoặc ngăn cản sẽ làm cho kinh tế trang trại chậm ra đời hoặc không thể hình thành được

Như vậy, có thể thấy rằng sự tác động của Nhà nước có vai trò hết sức

to lớn cho sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại Sự tác động của Nhà nước thường thực hiện thông qua các nội dung sau:

- Định hướng cho sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại thông qua qui hoạch, kế hoạch phát triển, đồng thời ban hành chính sách kinh tế xã hội nhằm khuyến khích kinh tế trang trại như; chính sách đất đai, chính sách

đầu tư, thị trường, khoa học công nghệ

- Thực hiện các đòn bẩy kinh tế nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tế trang trại, khuyến khích các hình thức hợp tác, liên kết kinh tế phục vụ cho kinh tế trang trại

- Hỗ trợ nguồn lực để hình thành, phát triên kinh tế trang trại như ; đào tạo chủ trang trại, xây dựng cơ sở hạ tầng, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật

Trang 20

- Có quĩ ruộng đất cần thiết và chính sách tập trung hoá ruộng đất trong sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt là nguồn gốc tạo nên các nông sản phẩm Giữa đất đai và trang trại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó đất đai là một trong những nhân tố hình thành trang trại

và ngược lại trang trại là một trong những hình thức sử dụng đất đai có hiệu quả nhất trong sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, để tạo ra một khối lượng sản phẩm hàng hoá cao cũng như thu hút được sự tập trung của các yếu tố sản xuất khác (lao động, vốn ) thì qui mô của đất đai trong các trang trại đóng vai trò rất quan trọng Thực tế nước ta cho thấy ở những vùng có quỹ đất đai dồi dào như miền núi phía Bắc, Tây Nguyên thì kinh tế trang trại phát triển tương

đối mạnh, còn những nơi có quỹ đất hạn hẹp (đồng bằng sông Hồng) thì kinh

tế trang trại phát triển chậm

Để hình thành và phát triển kinh tế trang trại, việc tập trung ruộng đất nhằm đạt được qui mô ruộng đất cần thiết có ý nghĩa quan trọng Điều đó đòi hỏi Nhà nước cần phải có chính sách đất đai hợp lý nhằm tạo điều kiện cho những người có khả năng sử dụng đất có hiệu quả được tập trung ruộng đất với qui mô hợp lý để phát triển kinh tế trang trại

- Có sự hỗ trợ của công nghệ chế biến

Đặc điểm của sản phẩm nông nghiệp là rễ hư hỏng, khó bảo quản và phụ thuộc vào thời vụ Khi thời vụ thu hoạch tập trung, sản phẩm nhiều sẽ làm cho giá cả giảm xuống gây bất lợi cho người sản xuất Do mục đích chủ yếu của kinh tế trang trại là sản xuất nông sản hàng hoá nên khi số lượng và chất lượng kinh tế trang trại được tăng lên thì mối quan hệ trên càng thể hiện đậm nét Vì công nghiệp chế biến có vai trò rất quan trọng đối với nông nghiệp nói chung và kinh tế trang trại nói riêng Sự phát triển của công nghiệp chế biến sẽ góp phần làm cho sản phẩm nông nghiệp vừa được bảo quản tốt hơn, vừa nâng cao được chất lượng cũng như tạo ra được nhiều sản phẩm chế biến mới, nâng

Trang 21

cao giá trị nông sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ, mang lại hiệu quả kinh

tế cao với sản xuất kinh doanh của các trang trại

- Sự phát triển của kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông và thuỷ lợi

Kết cấu hạ tầng của sản xuất nông nghiệp bao gồm: đường giao thông, thuỷ lợi, điện Đây là những điều kiện vật chất kỹ thuật rất cần thiết đối với hoạt động nông nghiệp và nó ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm hàng hoá trong nền kinh tế thị trường Kinh tế trang trại chỉ được hình thành và phát triển khi sản xuất diễn ra với qui mô tương đối lớn, với trình độ kỹ thuật và tổ chức sản xuất tiến bộ và nông sản phẩm được tạo ra đáp ứng được yêu cầu của xã hội về số lượng, chất lượng, giá cả và thời

điểm cung cấp Vì thế cần phải xây dựng một hệ thống cơ sở hạ tầng phù hợp trên địa bàn hoạt động của các trang trại cũng như cơ sở vật chất kỹ thuật trong phạm vi từng trang trại Để đạt được yêu cầu trên, bên cạnh sự cố gắng của các trang trại cần phải có sự giúp đỡ tích cực của Nhà nước

- Từng bước hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp chuyên môn hoá

Sự hình thành và phát triển các vùng chuyên môn hoá trong sản xuất nông nghiệp có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển của trang trại vì các vùng chuyên canh tập trung không những khai thác triệt để được các lợi thế so sánh của vùng mà còn gắn liền với công nghiệp chế biến và tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh doanh của các trang trại

- Sự phát triển nhất định của các hình thức liên kết kinh tế trong nông nghiệp Khi trình độ chuyên môn hoá càng cao thì yêu cầu liên kết kinh tế càng lớn, bởi vì chuyên môn hoá là hình thức biểu hiện cụ thể của sự phân công lao

động xã hội và liên kết kinh tế, là biểu hiện của hợp tác lao động sản xuất Sự hình thành kinh tế trang trại là quá trình phát triển sản xuất theo hướng chuyên môn hoá của các trang trại Khi qui mô sản xuất tăng lên thì các mối

Trang 22

quan hệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh giữa trang trại và các cơ sở sản xuất khác càng cần được mở rộng Vì vậy sự liên kết kinh tế trong nông nghiệp giữa các trang trại với các đơn vị sản xuất của các thành phần kinh tế

sẽ tạo điền kiện để phát huy được các ưu thế của nhau, góp phần cho sự phát triển của kinh tế trang trại

- Có môi trường pháp lý thuận lợi cho trang trại ra đời và phát triển Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp gắn với kinh tế thị trường, vì vậy nó chỉ được hình thành và phát triển khi có một môi trường pháp lý phù hợp Đó chính là sự thừa nhận địa vị pháp

lý của kinh tế trang trại ở nước ta Cơ sở pháp lý quan trọng cho những người

có nguồn lực yên tâm đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh theo mô hình kinh

tế trang trại Mặt khác khi đã công nhận sự tồn tại khách quan và vai trò tích cực của kinh tế trang trại, Nhà nước sẽ có những chính sách phù hợp, khuyến khích cho mô hình kinh tế này phát triển thuận lợi

2.1.3.2 Điều kiện đối với trang trại và chủ trang trại

* Chủ trang trại phải là người có ý chí quyết tâm làm giàu từ nghề nông Nông nghiệp là ngành sản xuất vất vả, phức tạp, khả năng sinh lời thấp nhưng tính rủi ro cao Do đó thu hút đầu tư của sản xuất nông nghiệp kém hơn các ngành kinh tế khác Phát triển nông nghiệp theo mô hình kinh tế trang trại cần

có sự đầu tư về vốn, tri thức và sức lao động lớn hơn nhiều so với kinh tế nông

hộ Vì vậy các chủ trang trại cần phải có ý chí quyết tâm làm giàu từ nghề nông mới đảm bảo cho sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại Thực tế cho thấy, chỉ những người có ý chí quyết tâm cao, dám nghĩ, dám làm mới

đầu tư tiền của, tri thức và công sức để làm giàu từ nghề nông, một nghề sản xuất nặng nhọc, lời ít nhưng rủi ro nhiều

Chủ trang trại phải có sự tích luỹ nhất định về kinh nghiệm sản xuất, có tri thức và năng lực tổ chức kinh doanh

Trang 23

Sự hình thành và phát triển của đa số các trang trại thực chất là quá trình chuyển biến về chất của kinh tế nông hộ, đó không những là quá trình tích luỹ các yếu tố vật chất mà còn là quá trình tích luỹ và nâng cao kinh nghiệm sản xuất, trình độ hiểu biết cũng như năng lực tổ chức kinh doanh của chủ trang trại, đây là điều kiện cần thiết để chủ trang trại xác định lựa chọn

đúng đắn phương hướng sản xuất kinh doanh, đầu tư tiền của, công sức đúng mục đích, tổ chức tốt quá trình kinh doanh nhằm thu được lợi nhuận cao đảm bảo cho trang trại đứng vững và phát triển dưới tác động khắc nghiệt của cơ chế thị trường

* Sự tập trung tới qui mô nhất định các yếu tố sản xuất, trước hết là ruộng đất và vốn

Mục đích chủ yếu của trang trại là sản xuất nông sản hàng hoá, điều này không thể có được kinh tế nông hộ vì bản chất kinh tế nông hộ là sản xuất

tự cấp, tự túc trên cơ sở phân tán manh mún, qui mô nhỏ thiếu tập trung của các yếu tố sản xuất mà trước tiên là ruộng đất và tiền vốn Vậy có thể khẳng

định rằng, chỉ khi nào các yếu tố sản xuất trong nông nghiệp được tập trung tới một qui mô nhất định thì khi đó mới có sản xuất trang trại

Sự tập trung các yếu tố sản xuất trong trang trại được thể hiện dưới những hình thức khác nhau Các yếu tố đó có thể thuộc sở hữu của trang trại hoặc do chủ trang trại đi vay mượn, thuê mướn từ bên ngoài Quá trình tích tụ

và tập trung các yếu tố sản xuất được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau; nguồn nội lực trong nông nghiệp và các nguồn từ ngoài lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Bởi vậy, cần phải khai thác các nguồn lực này để đầu tư phát triển nông nghiệp nói chung với phát triển kinh tế trang trại nói riêng

* Quản lý sản xuất kinh doanh của trang trại phải dựa trên cơ sở hạch toán và phân tích kinh doanh

Các trang trại hình thành và phát triển nhằm mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá đáp ứng nhu cầu thị trường để thu lợi nhuận cao Trong cơ chế

Trang 24

thị trường, mục đích này chỉ được thực hiện khi tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao với giá thành thấp hơn giá bán trung bình xã hội Muốn có giá thành hạ, các trang trại phải không ngừng biết phát huy các lợi thế so sánh của mình để lựa chọn cây trồng, vật nuôi có ưu thế nhất định mà còn phải tiến hành tốt công tác hạch toán và phân tích kinh doanh Thông qua hoạt động hạch toán và phân tích kinh doanh, trang trại mới phát hiện ra những mặt mạnh, mặt yếu trong kinh doanh, các tiềm năng chưa được khai thác để có giải pháp khắc phục nhằm hạ giá thành sản phẩm, tăng năng suất và nâng cao hiệu quả kinh doanh Như vậy có thể nói thực hiện hạch toán và phân tích kinh doanh là điều kiện hết sức cần thiết để trang trại hình thành và phát triển một cách ổn định vững chắc trong cơ chế thị trường

2.1.4 Phân loại kinh tế trang trại

ở nước ta cũng như các nước trên thế giới, trang trại nông, lâm, ngư nghiệp bao gồm nhiều loại hình khác nhau Việc phân loại trang trại có thể

được thực hiện theo những tiêu chí phân loại nhất định và việc phân loại theo tiêu thức nào là tuỳ thuộc vào mục đích của việc phân loại ở nước ta để phục

vụ cho cho việc xây dựng và thực hiện các chính sách kinh tế – xã hội đối với các trang trại, cần chú ý tới việc phân loại trang trại theo tính chất và qui mô

sở hữu Với tính chất và qui mô sở hữu, trang trại ở nước ta có thể phân thành các loại hình:

* Kinh tế trang trại cá thể

Nông nghiệp cá thể ở nước ta hiện nay là loại hình nông nghiệp gia đình phổ biến rộng rãi nhất ở tất cả các ngành, các vùng sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp bao gồm các hộ nông dân (tiểu nông) sản xuất tự cấp, tự túc và các hộ nông dân bắt đầu đi vào sản xuất hàng hoá Chủ thể của kinh tế trang trại cá thể trực tiếp quản lý và trực tiếp sản xuất, không thuê hoặc thuê ít lao động khi thời vụ khẩn trương

* Kinh tế trang trại tiểu chủ

Trang 25

Kinh tế trang trại tiểu chủ ở nước ta đã hình thành và đang phát triển theo mô hình nhỏ, vừa, lớn Là trang trại sản xuất nông sản hàng hoá là chủ yếu, có thuê lao động thời vụ hoặc thường xuyên nhưng chủ trang trại vẫn là lao động chính, sản xuất nông sản hàng hoá với tỷ suất 65-70% trở lên

* Kinh tế trang trại tư bản tư nhân

ở nước ta chưa phát triển, số lượng còn ít Là loại hình trang trại hoàn toàn thuê lao động thường xuyên, có khi thuê cả lao động để quản lý Qui mô sản xuất (đất đai, lao động, vốn, sản lượng, thu nhập) đều lớn hơn kinh tế trang trại tiểu chủ, sản xuất ra nông sản hàng hoá nhiều với tỷ suất 80 - 90% trở lên

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại một số nước trên thế giới

2.2.1.1 Quá trình phát triển kinh tế trang trại trên thế giới

Khi chế độ tư bản chủ nghĩa xuất hiện thay thế cho chế độ phong kiến thì một phương thức sản xuất mới xuất hiện ở châu âu đã xuất hiện hình thức

tổ chức trang trại trong nông nghiệp sản xuất nông sản hàng hoá thay thế cho hình thức sản xuất tiểu nông của những người nông dân tự canh và hình thức

điền trang của các thế lực phong kiến quý tộc

ở nước Anh từ thế kỷ XVI, sự tập trung ruộng đất đã hình thành nên những xí nghiệp nông nghiệp tư bản tập trung trên qui mô rộng lớn cùng với việc sử dụng lao động làm thuê Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp ở đây giống như mô hình hoạt động của các công xưởng công nghiệp Thực tế cho thấy, sản xuất nông nghiệp tập trung, qui mô lớn và sử dụng nhiều lao động làm thuê không dễ dàng đem lại hiệu quả mong muốn

Sang đầu thế kỷ XX, lao động nông nghiệp bắt đầu giảm, nhiều nông trại cùng giảm lao động làm thuê Khi ấy, từ 75-80% nông trại gia đình không thuê lao động Đây là thời kỳ thịnh vượng của nông trại gia đình Vì khi lao

động nông nghiệp giảm thì sự phát triển của công nghiệp và dịch vụ đủ sức thu hút lao động nhanh hơn tốc độ tăng lao động nông nghiệp Tiếp nối nước

Trang 26

Anh, Pháp, ý, Hà Lan, Đan Mạch, Thuỵ Điển sự hiện diện và phát triển của kinh tế trang trại gia đình ngày càng tạo ra nhiều nông sản hàng hoá đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá

ở châu á, chế độ phong kiến kéo dài nên kinh tế trang trại theo hướng sản xuất hàng hoá ra đời chậm hơn Tuy vậy, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

sự sâm nhập của tư bản phương Tây vào các nước châu á cùng với việc du nhập phương thức sản xuất kinh doanh tư bản chủ nghĩa đã làm nảy sinh những hình thức kinh tế trang trại trong nông nghiệp

Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, nhiều nước châu á đã tiến hành cải cách ruộng đất với nội dung, mức độ khác nhau nhằm chuyển giao ruộng đất

đẵ có tác động trực tiếp đến quá trình hình thành và phát triển của các trang trại gia đình theo hướng sản xuất nông nghiệp hàng hoá

2.2.1.2 Thực trạng kinh tế trang trại ở một số nước trên thế giới

Trên thế giới có hai loại trang trại là trang trại gia đình và trang trại tư bản chủ nghĩa Trang trại gia đình là loại hình phổ biến nhất Trang trại tư bản chủ nghĩa chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ về đất đai cũng như sản lượng nông sản làm ra

* Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Mỹ

Hiện nay nước Mỹ có khoảng 2,2 triệu trang trại, trong đó có 1,54 triệu trang trại gia đình, chiếm 87%, lực lượng này đã sản xuất ra hơn 50% sản lượng đậu tương và ngô trên thế giới, xuất khẩu 40-50 triệu tấn lúa mỳ, 50 triệu tấn ngô, đậu tương Diện tích đất đai bình quân ở Mỹ hiện nay là 10 ha/ trang trại Lao động làm thuê trong các trang trại của Mỹ rất ít Loại trang trại thu nhập nhỏ thu nhập dưới 100.000USD/năm không thuê lao động Các trang trại có thu nhập từ 100.000–500.000USD/năm cũng chỉ thuê 1–2,5 lao

động Các trang trại gia đình ở Mỹ nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nên sản lượng nông sản làm ra của một lao động nông nghiệp năm 1990 đủ nuôi 80 người [7, 98]

Trang 27

* Tình hình phát triển kinh tế trang trại tại Pháp

Khối lượng nông sản hàng năm gấp 2,2 lần nhu cầu nội địa đã được cung cấp bởi 980.000 trang trại ở Pháp hiện nay Tỷ suất hàng hoá về hạt ngũ cốc là 95%, thịt sữa từ 70–80% Qui mô diện tích bình quân của các trang trại ở Pháp là 29,2 ha, 42% thu nhập của trang trại là từ ngoài nông nghiệp Năm 1990 có 70% trang trại gia đình có ruộng đất, 30% trang trại phải lĩnh canh một phần hay toàn bộ [7, 99]

*Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Hà Lan

Hà Lan có 128.000 trang trại trong đó có 1.500 trang trại chuyên trồng hoa và sản lượng sản hàng năm khoảng 7 tỷ bông hoa và 600 triệu chậu hoa, trong đó 70% dành cho xuất khẩu Bình quân một lao động nông nghiệp của trang trại làm ra đủ số lượng nông sản nuôi 60 người Do mức độ cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp đạt mức độ cao nên số lượng và tỷ lệ lao động làm việc trong các trang trại nước này giảm nhiều và chỉ còn 4,7% so với tổng xã hội Tính bình quân một trang trại ở Hà Lan năm 1987 có qui mô khoảng 15,7 ha với 2,2 lao động Năm 1987 số trang trại dưới 5 ha chiếm 31,5%, từ 5 – 20 ha chiếm 39,6% và trên 20 ha là 28% [7, 102]

*Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở một số nước châu á

Các nước châu á có diện tích trên đầu người thuộc loại thấp (0,15 ha)

đặc biệt các vùng đông á, chỉ tiêu này thấp nhất thế giới (Đài Loan 0,0047

ha, Hàn Quốc 0,053 ha) Đặc điểm này cũng ảnh hưởng đến qui mô các trang trại trong khu vực Loại trang trại nhỏ nhất châu á là 0,5 ha, lớn nhất chỉ gần

20 ha (các nước Âu, Mỹ lên tới hàng nghìn ha) Qui mô bình quân của một trang trại châu á là 1-3 ha trong khi tây âu là 25–30 ha, đặc biệt là ở mỹ là

180 ha Trong giai đoạn 1961-1965 loại trang trại có qui mô từ 3–5 ha chiếm 12,9% tổng số lượng và 18,4% diện tích đất đai và qui mô 10 ha chiếm 3,8%

số lượng và 29,5% đất đai [7, 97]

Trang 28

- Nhật Bản: Năm 1945 có 5,7 triệu trang trại, đến năm 1950 tăng lên 6.173 triệu cơ sở và từ đó đến nay số lượng trang trại có xu hướng giảm mạnh Hiện nay, số lượng chỉ còn 4,2 triệu trang trại

Qui mô ruộng đất bình quân của một trang trại ở Nhật năm 1990 là 1,2

ha Số lượng chuyên nông nghiệp trong giai đoạn 1960 – 1988 giảm 3 lần từ

2 triệu xuống còn 620.000 trang trại Thu nhập bình quân của một trang trại tăng từ 207.000 yên năm 1950 lên 6 triệu năm 1988 Đến nay, 99,2% số nông trại gia đình ở Nhật Bản tham gia hoạt động của hơn 4.000 HTX nông nghiệp

và HTX dịch vụ kỹ thuật [10, 98]

- Đài Loan, năm 1952 có 697.000 trang trại, đến năm 1988 có khoảng 739.000 trang trại Qui mô bình quân trang trại chỉ dưới 1 ha Phần lớn các trang trại ở Đài Loan kiêm ngành nghề (chiếm 90%) Số trang trại thuần nông chỉ chiếm 10% Vì vậy thu nhập chủ yếu từ hoạt động phi nông nghiệp chiếm tới 62% Điều này phù hợp với đặc điểm dân số và diện tích đất đai ở Đài Loan [7, 97]

- Thái Lan: hiện nay có khoảng 4,5 triệu trang trại với qui mô bình quân

là 5,6 ha Trang trại có qui mô dưới 2,5 ha(chiếm 58%), loại trang trại trên 10

ha chiếm 14 % Trong những năm 80, hàng ngàn các trang trại Thái Lan đã sản xuất ra 20 triệu tấn thóc gạo, 5 triệu tấn ngô, 25 triệu tấn mía đường giá trị nông sản xuất khẩu của các trang trại ở Thái Lan năm 1998, gạo 22,2 tỷ bạt, sắn

20 tỷ bạt, gà đông lạnh 45 tỷ bạt Hiện nay Thái Lan đang đứng đầu thế giới về xuất khẩu dứa hộp (chiếm 1/3 sản lượng dứa của thế giới) [7, 99]

*Một số bài học kinh nghiệm về phát triên kinh tế trang trại trên thế giới

- Quy luật phát triển trang trại trên thế giới

+ Thời kỳ bắt đầu công nghiệp hoá, số lượng trang trại nhiều, qui mô nhỏ, khi công nghiệp phát triển đạt trình độ cao thì số lượng trang trại giảm, qui mô trang trại tăng

Trang 29

+ Kinh tế trang trại là loại hình sản xuất nông nghiệp gắn với quá trình công nghiệp hoá từ thấp tới cao Kinh tế trang trại có thể có điều kiện phát triển ở tất cả các lĩnh vực sản xất kinh doanh trong nông ngiệp (nông–lâm– ngư nghiệp) và tất cả các vùng khác nhau (đồi núi, đồng bằng, ven biển )

+ ở hầu hết các nước, trang trại là hình thức tổ chức sản xuất giữ vị trí xung kích trong quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn và trở thành lực lượng chủ lực khi nền kinh tế phát triển đến giai đoạn cao

+ Trong giai đoạn đầu công nghiệp hoá, kinh tế trang trại phát triển theo hướng kinh doanh tổng hợp, sau đó từng bước đi vào sản xuất tập trung chuyên canh lớn

- Kinh tế trang trại ở các nước có thể phát triển với nhiều hình thái đa dạng khác nhau (như tư bản tư nhân, cổ phần, liên doanh, uỷ thác ) nhưng trang trại gia đình là loại hình thích hợp và phổ biến nhất

- Hiệu quả sản xuất kinh doanh của trang trại không hoàn toàn phụ thuộc vào qui mô đất đai, lao động ở nhiều nước và lãnh thổ châu á, qui mô trung bình của các trang trại rất nhỏ như Nhật Bản 1,38 ha, Đài Loan 1,21 ha, Hàn Quốc 1,2 ha, Indonesia 0,95 ha nhưng hiệu quả sản xuất kinh doanh lại rất cao

- Bồi dưỡng và đào tạo chủ trang trại là một trong những nhân tố quan trọng nhất đối với sự thành công của kinh tế trang trại ở các nước trên thế giới

- Gắn trang trại với công nghiệp chế biến và dịch vụ ngay tại nông thôn cũng như phát triển thị trường nông thôn đây là những yếu tố cực kỳ quan trọng để thúc đẩy trang trại phát triển hiệu quả

- phát triển các hình thức hợp tác xã trang trại là một yêu cầu tất yếu để

hỗ trợ, thúc đẩy kinh tế trang trại

- Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng quyết định sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại, nhất là trong giai đoạn đầu của công nghiệp hoá bằng các chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước

2.2.2 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam

Trang 30

Các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả đều khẳng định kinh tế trang trại ở nước ta đã xuất hiện cách đây nhiều thế kỷ, trong từng thời kỳ lịch sử của

đất nước sự hình thành và phát triển của trang trại cũng có sự khác nhau

- Thái ấp

Thái ấp là kiểu trại ấp thuộc sở hữu riêng của quí tộc, thân vương nhà Trần Diện tích thái ấp khá rộng có thể lên tới hàng ngìn mẫu Chẳng hạn như thái ấp của Trần Nhật Duật ở Văn Trinh rộng tới hàng nghìn mẫu Một số thái

ấp của Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn có thể giống như một trung tâm kinh tế quân sự, chính trị Sản xuất của thái ấp là trồng lúa nước và một số nghề thủ công

- Đồn điền

Tổ chức khai hoang thời Lý – Trần phổ biến theo hình thức đồn điền Lực lượng lao động chủ yếu của đồn điền là tù binh và những người phạm tội Nhà sử học Ngô Sỹ Liên đã viết “Thái Tông, Thánh Tông nhà Lý đánh Chiêm,

Trang 31

bắt được người Chiêm đem về chia cho các châu ấp, các ấp ấy đều phỏng theo tên cũ là trại, sở bây giờ”[ dựa theo 7,68]

Tư liệu trên cho thấy đồn điền có từ thời Lý (1010 – 1225) và sang

đến đời Trần thì việc phát triển đồn điền ở ty khuyến nồng mỗi đồn điền có

đồn điền chánh sứ và phó Chánh Sứ Đồn điền thời Lý Trần đóng vai trò tích cực trong việc mở rộng canh tác lúc bấy giờ

2.2.2.2 Thời Lê - Nguyễn

* Các trại ấp của các công thần, quan lại thời hậu Lê

Bao gồm các trại ấp ban cấp và trại ấp khai hoang Trại ấp ban cấp do triều đình ban cấp lộc điền cho quan lại và tầng lớp quý tộc Loại trại ấp ban cấp này thường không bền vững vì Nhà nước phong kiến qui định các công thần chỉ được sử dụng trong thời gian một đời người, sau khi người chủ qua

đời nhà nước sẽ thu hồi lại

Trại ấp khai hoang do triều đình nhà Lê (1428-1447) có những chính sách tích cực nhằm khuyến khích khai hoang ở vùng châu thổ sông Hồng và vùng Thanh Nghệ Điển hình là Công thần Tuy Quốc Công Vũ Uy ở Lam Sơn–Thanh Hoá đã chiêu mộ dân nghèo lập 38 trại ấp và giao cho con cháu cai quản các trại này (Theo gia phả họ Vũ ở Nông Cống–Thanh Hoá) [dựa theo 7, 71]

Những trại ấp thời Lê đã có vai trò tích cực trong sản xuất nông nghiệp,

mở rộng diện tích canh tác, sử dụng nguồn nhân lực của địa phương và tù binh

Trại ấp đằng trong: ở đăng trong việc khai khẩn ruộng đất được tiến hành ở Thuận Hoá - Quảng Nam từ thế kỷ 16–18 và vùng gia định từ cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 19

Theo nhà bác học Lê Quý Đôn: “ Những người giàu có ở các địa phương nơi thì bốn năm mươi nhà, nơi thì ba bốn mươi nhà Mỗi nhà có hạng

đầy tớ làm ruộng còn gọi là điền nô hoặc đến năm sáu mươi nhà, mỗi gia đình

Trang 32

có thể nuôi đến hơn ba bốn trăm con bò cầy bừa, cấy dậm, gặt hái bận rộn suốt cả ngày, không lúc nào nghỉ ngơi” [dựa theo 7, 72]

2.2.2.3 Kinh tế đồn điền Việt Nam thời Pháp thuộc

Trong thời kỳ Pháp đô hộ nước ta, quá trình hình thành và phát triển

đồn điền đi liền với mục tiêu bình định và khai thác thuộc địa ở Việt Nam

- Số lượng đồn điền: Theo số lượng thống kê của Pháp đến ngày 31/12/1943 người Pháp chiếm trên 1 triệu ha đất trồng trọt trên cả nước và

được tổ chức thành 3928 đồn điền [7, 75]

- Qui mô và hình thức sở hữu Qui mô đồn điền có rất nhiều loại, ở Bắc kỳ loại dưới 50 ha được coi là nhỏ chiếm 31,5% số lượng đồn điền và 0,68% diện tích, loại trên 200 ha chiếm 9% tổng số đồn điền nhưng chiếm 68,7% diện tích

Các đồn điền được sở hữu dưới nhiều hình thức như sở hữu tư nhân của một người chủ độc lập, liên doanh giữa các điền chủ và đồn điền của các công

ty Năm 1940 cả nước có 74 công ty trong đó miền Bắc có 9 công ty, còn lại miền trung và Nam kỳ [7, 78]

1937 và góp phần vào việc xuất khẩu gạo của cả nước (Năm 1921 xuất khẩu 1,7 triệu tấn gạo) [7, 79]

+ Đồn điền trồng cây công nghiệp

Loại đồn điền này tập trung vào sản xuất một số loại cây công nghiệp như cao su, cà phê, chè Trên qui mô lớn theo kiểu đồn điền tư bản chủ nghĩa

Trang 33

Diện tích trồng cao su tăng nhanh từ 15.000 ha vào những năn 1897–

1919 lên 99.678 ha vào năm 1930 và tập trung chủ chủ yếu ở Nam kỳ Sản lượng cao su không ngừng tăng nhanh, năm 1915 là 298 tấn đến năm 1938 đạt 60.000 tấn cao su trở thành mặt hàng xuất khẩu quan trọng của Việt Nam trong những năm đó

Diện tích trồng cà phê và chè cũng phát triển nhanh Đến năm 1930 diện tích cà phê đạt 10.700 ha và đạt sản lượng 3.500 tấn vào năm 1939 Diện tích trồng chè năm 1930 đạt 3710 ha và tập trung ở các tỉnh KonTum, đắc Lắc, Thái Nguyên, Ninh Bình Theo niên giám thống kê Đông dương, sản lượng chè xuất khẩu ở đây đã tăng từ 32,8 tấn năm 1898 lên 1.039 tấn vào năm 1918 [11]

Đồn điền chuyên trăn nuôi

Số lượng đồn điền chuyên chăn nuôi không nhiều mà chủ yếu các đồn

điền chăn nụôi kết hợp trồng trọt ở Bắc Kỳ giai đoạn 1884–1918 có 121

đồn điền kết hợp chăn nuôi và trồng trọt với diện tích 96506,1 ha Số đồn điền chuyên chăn nuôi chỉ có 16 đồn điền, chiếm 3306,8 ha bằng 2,01% tổng diện tích đồn điền được khai thác [7, 86]

Như vậy, việc xuất hiện đồn điền thời Pháp thuộc đã hình thành nên các vùng tập trung chuyên canh làm xuất hiện một nền kinh tế nông nghiệp hàng hoá vì lợi nhuận khác với nền nông nghiệp tự túc, tự cấp cổ truyền của Việt Nam trước đây

2.2.2.4 Thời kỳ 1954 1975

- Miền Bắc

Thời kỳ 1954 –1975 miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội và chi viện cho chiến trường miền Nam đánh giặc Mỹ xâm lược Thời kỳ này, nền nông nghiệp miền Bắc mang nặng tính kế hoạch hoá tập trung và có các hình thức chủ yếu như nông, lâm trường quốc doanh và các hợp tác xã nông nghiệp

Trang 34

Các nông, lâm trường quốc doanh được xây dựng chủ yếu ở các vùng trung du miền núi và cho đến trước năm 1975, miền Bắc đã có 365 nông, lâm trường và 250 xí nghiệp, trạm trại Hợp tác xã nông nghiệp được thành lập nhanh chóng, đến năm 1975 có 97% số hộ nông dân vào hợp tác xã bậc cao với qui mô liên thôn, toàn xã

Tuy nhiên, do những yếu kém trong sản xuất nên hiệu quả kinh tế sản xuất nông nghiệp ở thời kỳ này rất thấp kém, đặc biệt khu vực HTX Chi phí sản xuất tăng, thu nhập thấp, bình quân mức lương thực tính trên đầu người giảm từ 304,9 kg (1961–1965) xuống 252,8 kg (1966–1975) và Nhà nước phải hỗ trợ cho nông dân bằng ngân sách của mình [7,89]

- Miền Nam Thời kỳ 1954–1975 các hình thức tổ chức nông nghiệp ở vùng tạm chiếm chủ yếu là đồn điền, dinh điền và hộ nông dân sản xuất hàng hoá

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp Nguỵ quyền Sài Gòn thì cuối năm

1962 ở miền Nam có 755 đồn điền cà phê, cao su, chè do một số tư bản Việt Nam và tướng tá Nguỵ quản lý với trình độ quản lý khá cao và công nhân có kinh nghiệm lành nghề

Trong thời kỳ này ở mìên Nam đã xuất hiện các hộ gia đình nông dân sản xuất hàng hoá ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, số hộ này chiếm vài chục phần trăm [7, 90]

2.2.2.5 Thời kỳ 1975 1980

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, cả nước được thống nhất và bắt đầu tập trung xây dựng chủ nghĩa xã hội Các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp gồm có: các nông, lâm trường quốc doanh, các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất

- Miền Nam: Bắt đầu xây dựng các nông, lâm trường quốc doanh và tập

đoàn sản xuất Cho đến năm 1982 đã xây dựng được 250 nông trường quốc doanh với 180.000 ha đất đai Nhìn chung các nông trường quốc doanh hoạt

động kém hiệu quả

Trang 35

Cùng với sự thành lập các nông, lâm trường quốc doanh ở miền Nam là phong trào xây dựng các tập đoàn sản xuất trong nông nghiệp Do việc tập thể hoá nhanh chóng cùng với sự yếu kém trong quản lý đã làm cho phong trào hợp tác hoá ngày càng giảm sút Đến cuối những năm 1974 hàng loạt tập đoàn sản xuất bắt đầu tan rã vào cuối năm 1980 toàn miền Nam chỉ còn lại 3.739 tập đoàn

- Miền Bắc

Qui mô HTX được nhanh chóng mở rộng Năm 1975 bình quân 1 HTX

có 199 hộ và 113 ha đất canh tác, đến năm 1980 tăng lên 368 hộ với 201 ha

Tuy vậy, sản xuất nông nghiệp ở miền Bắc nói riêng và cả nước nói chung vẫn không tăng mà trái lại càng bị giảm sút Sản lượng lương thực ở miền Nam năm 1976 đạt 6407 nghìn tấn với bình quân đầu người là 247 kg /năm đến năm 1980 giảm xuống còn 5.997 nghìn tấn với bình quân đầu người

là 214kg/ năm Tình trạng này dẫn đến người nông dân không thiết tha với tập thể và họ trở về làm kinh tế phụ gia đình trên đất 5% cùng với một số ngành nghề khác mà HTX không quản lý Thu nhập của người nông dân từ kinh tế gia đình chiếm 2/ 3 ngân sách gia đình, thu nhập từ kinh tế tập thể chỉ có 1/ 3

và có nơi còn thấp hơn nữa [7, 91]

2.2.2.6 Thời kỳ 1981 đến Nay

Trước sự yếu kém của sản xuất nông nghiệp, đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương chính sách quan trọng có tác động mạnh mẽ đến sự nghiệp phát triển nông nghiệp nước nhà Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung

ương (Khoá IV) về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động Nghị quyết

10 của Bộ chính trị (Khoá IV) về phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân, luật đất đai năm 1993 đã làm cho nông nghiệp nước ta có sự phát triển vượt bậc Những thành tựu đạt được trong quá trình đổi mới cùng với sự thay

đổi cơ chế quản lý là động lực thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển kinh

tế trang trại và đang phát triển nhanh chóng cả về số lượng cũng như chất lượng trên khắp các địa phương trong cả nước

Trang 36

Đúng sau hai năm sau ngày tổ chức tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn và thuỷ sản lần thứ hai (Bắt đầu từ ngày 1/10/2001) ngày 1/10/2003 Tổng cục Thống kê công bố kết quả chính thức của cuộc tổng điều tra này

Riêng về kinh tế trang trại một nội dung quan trong của tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn lần thứ hai đã phát triển nhanh, đa ngành, đa nghề nhất là sau khi có Nghị quyết 03/2000/NQ-CP của chính phủ về kinh tế trang trại đến ngày 1/10/2001 cả nước có 61.017 trang trại tăng 15.209 trang trại

so với năm 1999 và tăng 3,54 lần số trang trại có đến cuối năm 1995 Trong

đó có 21.754 trang trại trồng cây hàng năm (bằng 2,55 lần số trang trại có đến cuối năm 1995, 16.578 trang trại trồng cây lâu năm (bằng 4,48 lần), 1.761 trang trại chăn nuôi (bằng 3,43 lần), 1668 trang trại lâm nghiệp (bằng 2,87 lần) 17.016 trang trại nuôi trồng thuỷ sản (bằng 5,05 lần) và 2.240 trang trại kinh doanh tổng hợp (bằng 3,95 lần)

Những nơi có điều kiện đất đai nhiều, mặt nước thuận lợi là những nơi

có nhiều điều kiện để mở rộng qui mô trồng trọt, chăn nuôi và thuỷ sản Chính vì vậy đồng bằng sông Cửu Long, Đông nam bộ và Tây Nguyên chiếm 81,8%

số trang trại cả nước, riêng trang trại cây hàng năm chiếm 91,7 %, trang trại chăn nuôi chiếm 78,6%, trang trại nuôi trồng thuỷ sản chiếm 78,6%, còn vùng

Đông bắc, Bắc trung bộ chiếm 68,5% trong tổng số trang trại lâm nghiệp trong cả nước Nhiều thành phần tham gia mô hình kinh tế trang trại, nhưng chủ yếu vẫn là nông dân: 91,3% số chủ trang trại là nông dân, 5,03% là cán

bộ, công nhân viên chức còn lại 3,68% là các thành phần khác Các trang trại nói chung có qui mô không lớn và có sự khác biệt giữa các vùng, các tỉnh và các loại hình trang trại

Về qui mô diện tích đất đai và mặt nước; truớc hết qui mô lớn hay nhỏ phụ thuộc vào loại hình sản xuất của trang trại; trang trại lâm nghiệp, trồng trọt có qui mô diện tích lớn hơn trang trại chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản Bình quân một trang trại trồng cây hàng năm là 5,3 ha đất, trong đó 60,58 %

Trang 37

số trang trại có qui mô dưới 5 ha, 32,89% trang trại có qui mô từ 5–10 ha và 6,53 % số trang trại có qui mô trên 10 ha Vùng Tây bắc qui mô bình quân trang trại trồng trọt là 6,2 ha, Đông nam bộ là 6,8 ha, còn đồng bằng sông Hồng, đông bắc chỉ có 4,3 ha Không nhất thiết ở các địa phương “đất rộng, người thưa” thì qui mô trang trại lớn, mà chính các địa phương đất ít, người

đông qui mô trang trại lại lớn như thành phố Hồ Chí Minh, qui mô trang trại lớn nhất (13,7 ha), tiếp theo là Bình Dương (10,5 ha) Điều này cho thấy đất rộng chỉ là điều kiện cần nhưng còn thiếu các điều kiện khác như vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm tổ chức và quản lý Trong khi đó, trang trại chăn nuôi chỉ

có 0,77 ha đất nông nghiệp nhưng bình quân chung cho các trang trại chăn nuôi, mỗi trang trại có 70 con lợn và 1.883 con gia cầm, 15 con trâu bò Một

số địa phương trang trại chăn nuôi có tính chuyên doanh, như Nam Định chủ yếu nuôi gia cầm, cho nên bình quân mỗi trang trại ở Nam Định nuôi 4.000 con gia cầm Điều này đáng quan tâm là còn nhiều trang trại chưa được giao

đất ổn định

Xét về qui mô lao động (gồm lao động gia đình của chủ trang trại và lao

động làm thuê) phụ thuộc vào không chỉ qui mô trang trại mà còn phụ thuộc vào loại hình trang trại và cả đầu tư trang thiết bị máy móc, thiết bị ứng dụng công nghệ cũng như cách thức quản lý Số lao động bình quân một trang trại

là 6,04 người, riêng trang trại trồng cây hàng năm 6,55 người, trang trại lâm nghiệp 6,1 người, trang trại thuỷ sản 5,15 người, trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp 7,16 người, tỷ lệ lao động của hộ, của chủ trang trại trong tất cả các loại trang trại chiếm 45,7% lao động, tỷ lệ này thấp nhất là các trang trại trồng cây lâu năm chỉ có 38,4%, ngược lại các trang trại đầu tư vốn, kỹ thuật nhiều, sản phẩm hàng hoá cao thì tỷ lệ này lại cao như trang trại chăn nuôi 54,9%, trang trại nuôi trồng thuỷ sản 53,8% Cơ cấu lao động phân theo trình độ chuyên môn, nhìn chung lao động chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ rất lớn 92,51% còn lao động có trình độ từ trung cấp trở lên rất ít 2,48%

Trang 38

Vốn đầu tư bình quân một trang trại 135,14 triệu đồng, ít nhất là các trang trại trồng cây hàng năm, chỉ có 69,7 triệu đồng, nhiều nhất là trang trại chăn nuôi 236 triệu đồng và trang trại trồng cây lâu năm 207 triệu đồng Vốn

đầu tư chủ yếu là của chủ trang trại chiếm 84,25% tổng vốn đầu tư, còn lại là vay ngân hàng và các thành phần khác Vốn đầu tư tuy cùng một loại hình sản xuất, nhưng khá cách biệt giữa các vùng, các tỉnh thí dụ, bình quân vốn đầu tư ở thành phố Hồ Chí Minh 455,3 triệu đồng, Bình Dương 348,6 triệu đồng Ngược lại có tới bảy tỉnh vốn đầu tư dưới 50 triệu đồng một trang trại như; Quảng Ngãi 25,9 triệu đồng, Cà Mau 33,5 triệu đồng, Lai Châu 24,6 triệu

đồng, Cao Bằng 39,8 triệu đồng Với trang trại chăn nuôi, trong khi có 5 tỉnh thành có vốn đầu tư một trang trại hơn 400 triệu đồng (nhiều nhất là Bắc Ninh

710 triệu đồng, Bắc Giang 475 triệu đồng thì có 8 tỉnh có vốn đầu tư dưới 80 triệu đồng cho một trang trại (thấp nhất là Lai Châu 48,9 triệu đồng, Ninh Bình 55,1 triệu đồng)

* Một số nhận xét về tình hình phát triển trang trại hiện nay

Kinh tế trang trại phát triển khá nhanh, đa dạng về loại hình trang trại,

sự phát triển trang trại còn mang tínnh tự phát do việc qui hoạch phát triển kinh tế trang trại còn chậm, chất lượng chưa cao

- một số chính sách phát triển kinh tế trang trại đã ban hành nhưng tiêu chí xác định trang trại còn những bất cập Việc hướng dẫn về trình tự, thủ tục cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận kinh tế trang trại chưa có nên chủ trang trại khó khăn trong việc hưởng các ưu đãi mà chính sách Nhà nước qui định

- Nhu cầu sử dụng và tích tụ đất của các trang trại ngày càng tăng nhưng việc giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các trang trại tiến hành chậm; một số vấn đề sử dụng đất của trang trại còn những vướng mắc chưa được xử lý kịp thời

- Số lao động trong mỗi trang trại chưa nhiều, nhưng trang trại có xu hướng sử dụng ngày càng nhiều lao động làm thuê, chủ yếu là lao động thời

Trang 39

vụ, chủ lao động phần lớn là nông dân Đa số chủ trang trại và lao động làm việc trong các trang trại chưa qua đào tạo, bộ phận lao động có chuyên môn làm việc trong các trang trại tuy nhỏ bé nhưng bước đầu đã hình thành

Vốn đầu tư của chủ trang trại chưa nhiều Hàng năm, vốn đầu tư được tăng lên tương đối khá và không chỉ tăng về tổng số vốn đầu tư mà còn tăng ở mức đầu tư cho 1 ha hoặc cho 1 trang trại Trong tổng số vốn đầu tư của trang trại thì vốn tự có của chủ trang trại là chủ yếu, vốn vay của các ngân hàng chiếm tỷ lệ thấp, phần lớn các trang trại thiếu vốn, thu nhập của trang trại chưa cao và việc xác định thu nhập của trang trại để tính thuế còn khó khăn

- Phần lớn các trang trại sản xuất hàng hoá theo hướng lấy ngắn nuôi dài, khai thác tổng hợp các tiềm năng sẵn có để phát triển kinh tế

Phần lớn các chủ trang trại tập trung chủ yếu mở rộng diện tích, áp dụng kinh nghiệm truyền thống mà chưa quan tâm việc áp dụng công nghệ mới và tiến bộ kỹ thuật như; giống mới, kỹ thuật tưới tiêu, bảo quản, chế biến nông sản nên năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm làm ra chưa cao

Sản phẩm hàng hoá của trang trại đa dạng, phong phú, nhưng chưa có thị trường ổn định Sản phẩm tiêu thụ chủ yếu dưới dạng thô chưa qua chế biến, giá bán thấp ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất kinh doanh của trang trại

- Xu hướng phát triển sự hợp tác giữa chủ trang trại với người lao động làm thuê ngay trong từng trang trại và giữa các trang trại với nhau, giữa các trang trại với các thành phần kinh tế khác ngày càng tăng Một số trang trại có nhu cầu đã tự nguyện hình thành hợp tác xã

2.3 Những vấn đề nghiên cứu đã đạt được về trang trại

2.3.1 Kết quả đạt được về kinh tế trang trại

- Trần Đức nghiên cứu kinh tế trang trại gia đình ở Việt Nam và trên thế giới đã đưa ra một số khái niệm về kinh tế trang trại Tác giả đi sâu tìm hiểu kinh tế trang trại vùng đồi núi và đề cập đến tình hình phát triển trang trại ở

Trang 40

Yên Bái với những yếu tố tác động đến sản xuất kinh doanh như đất đai, lao

động, vốn [9]

- Đỗ Kim Chung đã nghiên cứu về thực trạng và xu hướng phát triển tất yếu của thị trường đất đai trong nông nghiệp và các nhân tố tác động đến quá trình hình thành kinh tế trang trại [10]

- Tập thể tác giả trường Đại học Kinh tế quốc dân nghiên cứu thực trạng

và những giải pháp phát triển kinh tế trang trại thời kỳ công nghiệp hoá, hiện

đại hoá [7]

- Lê Trọng đã đề cập đến các vấn đề cơ bản trong việc quản lý phát triển kinh tế trang trại trong nền kinh tế thị trường [18]

2.3.3 Nghiên cứu trong vùng

Tam điệp là nơi có nhiều lợi thế phát triển kinh tế trang trại Cho tới nay chưa có một công trình nào thật cụ thể về thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại của thị xã Tuy nhiên, đã có một số ban ngành như Ban kinh tế thị uỷ, phòng Nông nghiệp điều tra tìm hiểu kinh tế trang trại ở địa phương Qua tìm hiểu chúng tôi thấy, kết quả tìm hiểu của các cơ quan trên mới chỉ mang tính thống kê, khảo sát về số lượng, diện tích trang trại và nhằm mục đích để báo cáo, chưa có sự thống nhất cao về tiêu chí xác định trang trại

Ngày đăng: 02/08/2013, 16:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Phân loại trang trại ở thị xã Tam Điệp 2003 - Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở thị xã tam điệp, ninh bình
Bảng 4.1. Phân loại trang trại ở thị xã Tam Điệp 2003 (Trang 55)
Bảng 4.2. Thông tin chung về nhân khẩu   và lao động trong các  trang trại điều tra năm 2003 - Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở thị xã tam điệp, ninh bình
Bảng 4.2. Thông tin chung về nhân khẩu và lao động trong các trang trại điều tra năm 2003 (Trang 56)
Bảng 4.3.  Bình quân diện tích đất, bố trí cây trồng  các loại hình trang trại - Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở thị xã tam điệp, ninh bình
Bảng 4.3. Bình quân diện tích đất, bố trí cây trồng các loại hình trang trại (Trang 58)
Bảng 4.4. Tình hình lao động bình quân 1 trang trại - Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở thị xã tam điệp, ninh bình
Bảng 4.4. Tình hình lao động bình quân 1 trang trại (Trang 60)
Bảng 4.5. Vốn đầu t− sản xuất kinh doanh bình quân 1 trang trại năm 2003 - Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở thị xã tam điệp, ninh bình
Bảng 4.5. Vốn đầu t− sản xuất kinh doanh bình quân 1 trang trại năm 2003 (Trang 61)
Bảng 4.7. Hiệu quả sản xuất dứa nguyên liệu (bình quân 1ha) - Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở thị xã tam điệp, ninh bình
Bảng 4.7. Hiệu quả sản xuất dứa nguyên liệu (bình quân 1ha) (Trang 64)
Bảng 4.6. Tình hình tiêu thụ Dứa của các trang trại năm 2003                                                                         Đơn vị tính: Tấn - Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở thị xã tam điệp, ninh bình
Bảng 4.6. Tình hình tiêu thụ Dứa của các trang trại năm 2003 Đơn vị tính: Tấn (Trang 64)
Bảng 4.8. Giá trị sản xuất bình quân các ngành trong trang trại năm 2003 - Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở thị xã tam điệp, ninh bình
Bảng 4.8. Giá trị sản xuất bình quân các ngành trong trang trại năm 2003 (Trang 65)
Bảng 4.9. Giá trị sản xuất các ngành trong trang trại khối NLT năm 2003                                           (Tính bình quân cho một trang trại) - Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở thị xã tam điệp, ninh bình
Bảng 4.9. Giá trị sản xuất các ngành trong trang trại khối NLT năm 2003 (Tính bình quân cho một trang trại) (Trang 66)
Bảng 4.10. Giá trị sản xuất các ngành trong    trang trại khối ph−ờng xã năm 2003 - Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở thị xã tam điệp, ninh bình
Bảng 4.10. Giá trị sản xuất các ngành trong trang trại khối ph−ờng xã năm 2003 (Trang 67)
Bảng 4.11. So sánh giá trị sản xuất của hai khối NLT và ph−ờng xã - Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở thị xã tam điệp, ninh bình
Bảng 4.11. So sánh giá trị sản xuất của hai khối NLT và ph−ờng xã (Trang 68)
Bảng 4.12. Chi phí trung gian (IC) bình quân các loại hình trang trại năm 2003  (Tính bình quân cho một trang trại) - Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở thị xã tam điệp, ninh bình
Bảng 4.12. Chi phí trung gian (IC) bình quân các loại hình trang trại năm 2003 (Tính bình quân cho một trang trại) (Trang 70)
Bảng 4.13. Chi phí trung gian các loại hình trang trại khối nông lâm tr −ờng năm 2003                                 (Tính bình quân cho một trang trại) - Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở thị xã tam điệp, ninh bình
Bảng 4.13. Chi phí trung gian các loại hình trang trại khối nông lâm tr −ờng năm 2003 (Tính bình quân cho một trang trại) (Trang 71)
Bảng 4.14: Chi phí trung gian các trang trại khối ph − ờng xã năm 2003  (Tính bình quân cho một trang trại) - Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở thị xã tam điệp, ninh bình
Bảng 4.14 Chi phí trung gian các trang trại khối ph − ờng xã năm 2003 (Tính bình quân cho một trang trại) (Trang 72)
Bảng 4.16. Kế hoạch thu hồi đất khai hoang đến 2005 - Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở thị xã tam điệp, ninh bình
Bảng 4.16. Kế hoạch thu hồi đất khai hoang đến 2005 (Trang 82)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w