Thực trạng và giải pháp chủ yếu phát triển vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ đông bắc bắc bộ
Trang 1Phạm Xuân Phương
Thực trạng và giải pháp chủ yếu phát triển
vùng nguyên liệu cỗ trụ mỏ đông bắc bắc bộ
Luận án tiến sĩ kinh tế
Hà Nội - 2004
Trang 2Phạm Xuân Phương
Thực trạng và giải pháp chủ yếu phát triển
vùng nguyên liệu cỗ trụ mỏ đông bắc bắc bộ
Chuyên ngành : Kinh tế và tổ chức lao động
Luận án tiến sĩ kinh tế
Người hướng dẫn khoa học
GS.TS Bùi Minh Vũ T.S Đặng Kim Sơn
Hà Nội - 2004
Trang 3lêi cam ®oan
T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c sè liÖu, kÕt qu¶ nªu trong luËn ¸n lµ trung thùc vµ ch−a tõng ®−îc ai c«ng bè trong bÊt kú c«ng tr×nh nµo kh¸c
T¸c gi¶ luËn ¸n
Ph¹m Xu©n Ph−¬ng
Trang 4Lời cám ơn
Tôi xin trân trọng cám ơn Khoa Kinh tế Nông nghiệp và PTNT, Khoa Sau đại học, Trường Đại học Nông nghiệp I đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện công trình nghiên cứu, hoàn thành và bảo vệ luận án
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới GS TS Bùi Minh Vũ và
TS Đặng Kim Sơn về những hướng dẫn tận tình và động viên giúp tôi hoàn thành chương trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành bản luận án này
Tôi cũng chân thành cám ơn Sở Nông nghiệp và PTNT, Chi cục Kiểm lâm các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, Thái Nguyên và Quảng Ninh; các LTQD kinh doanh gỗ trụ mỏ vùng Đông Bắc Bắc bộ, Tổng Công ty lâm nghiệp Việt Nam, Tổng Công ty than Việt Nam và một số cơ quan hữu quan khác về những ý kiến quý báu, cũng như tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu, khảo sát, thu thập số liệu, sử dụng tài liệu có liên quan đến luận án
Sau cùng xin cám ơn sự giúp đỡ động viên của các nhà khoa học, bạn
bè đồng nghiệp đã giúp tôi trong thời gian nghiên cứu và xây dựng luận án
Tác giả luận án
Trang 5Mục lục Trang
Lời cam đoan i
Lời cám ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các đồ thị, sơ đồ, bản đồ vii
Mở đầu ………….……… 1
Chương 1 Cơ sở khoa học để hình thành và phát triển vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ … 5
1.1 Phát triển và lý thuyết phát triển 5
1.1.1 Khái niệm về phát triển 5
1.1.2 Tăng trưởng và phát triển kinh tế …… 6
1.1.3 Một số lý thuyết về tăng trưởng và phát triển kinh tế 6
1.2 Vùng kinh tế và lý thuyết phát triển vùng kinh tế 8
1.2.1 Khái niệm vùng kinh tế 8
1.2.2 Các loại vùng kinh tế 9
1.2.3 Nội dung của vùng kinh tế .11
1.2.4 Lý thuyết phát triển vùng kinh tế 14
1.3 Gỗ trụ mỏ và vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ … 17
1 3.1 Gỗ trụ mỏ 17
1.3.2 Vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ 20
1.4 Tình hình sản xuất gỗ trụ mỏ trên thế giới và ở Việt Nam 38
1.5 Các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án 43
Chương II Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 2.1 Đặc điểm vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ Đông Bắc Bắc bộ 47
2.2 Phương pháp nghiên cứu 62
Chương III Thực trạng phát triển vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ đông bắc bắc bộ 69
3.1 Thực trạng vốn rừng kinh doanh gỗ trụ mỏ 69
Trang 63.2 Thực trạng hệ thống tổ chức sản xuất vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ 82
3.3 Thực trạng thị trường gỗ trụ mỏ vùng Đông Bắc Bắc bộ .93
3.4 Hiệu quả sản xuất kinh doanh gỗ trụ mỏ .105
3.5 Tác động của chính sách tới lợi ích người tạo rừng nguyên liệu gỗ trụ mỏ 114
3.6 Đánh giá chung 115
Chương IV Định hướng và các giải pháp chủ yếu phát triển vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ Đông Bắc ….118
4.1 Quan điểm phát triển vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ 118
4.2 Định hướng và mục tiêu phát triển vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ Đông Bắc 120
4.3 Các giải pháp chủ yếu phát triển vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ 121 4.3.1 Giải pháp về đất đai 122
4.3.2 Giải pháp về vốn .133
4.3.3 Giải pháp về khoa học và công nghệ 137
4.3.4 Giải pháp về tổ chức 142
4.3.5 Giải pháp về thị trường .153
4.3.6 Một số giải pháp khác 161
Kết luận và đề xuất 168
Danh mục công trình của tác giả 171
Tài liệu tham khảo 172
Phụ lục 181
Trang 7Danh mục các chữ viết tắt
BCR (Benefit Cost Ratio): tỷ lệ lợi ích - chi phí
LTQD: lâm trường quốc doanh
NPCI: hệ số bảo hộ danh nghĩa cho đầu vào (Nominal Protection
Coefficient Input)
NPCO: hệ số bảo hộ danh nghĩa cho đầu ra (Nominal Protection
Coefficient Output)
NPV (Net Present Value): giá trị hiện tại ròng
PAM ( Policy Analysis Matrix) : ma trận phân tích chính sách
PTNT: phát triển nông thôn
PRA (Participatory Rural Appraisal): phương pháp đánh giá có sự tham gia
SXKD: sản xuất kinh doanh
SXLN: sản xuất lâm nghiệp
TT: thứ tự
VAT: giá trị gia tăng
FOB (Free on Board): giá biên giới tại cầu cảng cho sản phẩm xuất khẩu
Trang 8Danh mục các bảng Trang
Bảng 1.1 Điều kiện lập địa gây trồng các loại cây nguyên liệu
gỗ trụ mỏ 21 Bảng 2.1 Quỹ đất đai vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ phân theo tỉnh (2000) 49 Bảng 2.2 Quỹ đất đai vùng nguyên liệu phân theo các tiểu vùng (2000) 50 Bảng 2.3 Hiện trạng tài nguyên rừng vùng nguyên liệu (2000) 51 Bảng 2.4 Dân số và lao động vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ (1999) 52 Bảng 2.5 Cơ cấu giá trị sản xuất nông, lâm và thuỷ sản vùng Đông Bắc 55 Bảng 2.6 Ma trận phân tích chính sách 66 Bảng 3.1 Diện tích đất lâm nghiệp các lâm trường kinh doanh
gỗ trụ mỏ (tính đến năm 2001) 70 Bảng 3.2 Diện tích đất rừng sản xuất các LTQD kinh doanh gỗ trụ mỏ 71 Bảng 3.3 Tình hình phát triển rừng sản xuất các LTQD 73 Bảng 3.4 Tình hình phát triển rừng trồng sản xuất các LTQD 75 Bảng 3.5 Diện tích rừng trồng các lâm trường kinh doanh gỗ trụ mỏ
phân theo độ tuổi và loại cây (2001) 77 Bảng 3.6 Diện tích rừng trồng nguyên liệu gỗ trụ mỏ khu vực dân doanh 79 Bảng 3.7 Thực trạng vốn các LTQD kinh doanh gỗ trụ mỏ (2001) 84 Bảng 3.8 Lao động trong danh sách các LTQD kinh doanh gỗ trụ mỏ 87 Bảng 3.9 Khái quát các mô hình khoán kinh doanh rừng lâu dài 89 Bảng 3.10 Diện tích khoán đất rừng sản xuất của các LTQD (2001) 91
Bảng 3.11 Tình hình cung ứng gỗ trụ mỏ vùng Đông Bắc
Bảng 3.12 Thực trạng cung cầu gỗ trụ mỏ vùng Đông Bắc
Bảng 3.13 Hiệu quả sản xuất đối với người tạo rừng bán gỗ tại bãi giao
Bảng 3.14 Hiệu quả sản xuất đối với người tạo rừng bán gỗ cho các
Trang 9Đông Bắc
Bảng 3.16 Kết quả sản xuất các LTQD kinh doanh gỗ trụ mỏ
Bảng 3.17 Hiệu quả SXKD các LTQD kinh doanh gỗ trụ mỏ
Bảng 3.18 Ma trận phân tích chính sách cho cây Keo tai t−ợng và cây
Bạch đàn
Bảng 4.1 Diện tích vùng kinh doanh gỗ trụ mỏ đến năm 2010
Bảng 4.2 Kế hoạch sử dụng đất kinh doanh gỗ trụ mỏ đến năm 2010
Bảng 4.3 Kế hoạch sử dụng đất kinh doanh gỗ trụ mỏ các LTQD
Bảng 4.4 Kế hoạch sử dụng đất kinh doanh gỗ trụ mỏ khu vực dân
doanh
Bảng 4.5 Đề xuất tiến độ trồng rừng nguyên liệu gỗ trụ mỏ
Bảng 4.6 Dự kiến sản l−ợng khai thác gỗ trụ mỏ vùng Đông Bắc
Bảng 4.7 Dự đoán cung cầu gỗ trụ mỏ vùng Đông Băc
Bảng 4.8 Nhu cầu vốn đầu t− vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ
Danh mục các đồ thị
Đồ thị 3.1 Nguồn hình thành vốn sản xuất các LTQD vùng nguyên liệu
Đồ thị 3.2 Nguồn hình thành vốn XDCB các LTQD vùng nguyên liệu
Đồ thị 3.3 Biến động cung gỗ trụ mỏ vùng Đông Bắc
Đồ thị 3.4 Biến động giá gỗ trụ mỏ
Đồ thị 4.1 Mô tả chính sách giá sàn đối với gỗ trụ mỏ
Danh mục các sơ đồ
Sơ đồ 1.1 Phân loại vùng kinh tế
Sơ đồ 1.2 Mô phỏng lý thuyết của Christaller
Sơ đồ 1.3 Mô phỏng lý thuyết của Francoi Poeroux
Sơ đồ 1.4 Mô tả sử dụng gỗ trụ mỏ trong khai thác than hầm lò
Sơ đồ 1.5 Mô tả vùng tiêu thụ hợp lý
109
111
Trang 10Sơ đồ 2.1 Khung nghiên cứu đề tài luận án
Sơ đồ 3.1 Thực trạng hệ thống tổ chức sản xuất kinh doanh gỗ trụ mỏ
vùng Đông Bắc khu vực Nhà nước
Sơ đồ 3.2 Các kênh lưu thông gỗ trụ mỏ vùng Đông Bắc Bắc Bộ
Sơ đồ 3.3 Mô tả các điểm bán gỗ trụ mỏ vùng Đông Bắc
Sơ đồ 4.1 Mô tả các giải pháp phát triển vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ
Sơ đồ 4.2 Nguồn hình thành vốn đầu tư tạo rừng nguyên liệu
Sơ đồ 4.3 Đề xuất mô hình tổ chức hệ thống sản xuất gỗ trụ mỏ vùng
Trang 11Mở đầu
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Đông Bắc Bắc bộ là vùng rộng lớn nằm kề địa bàn trọng điểm Bắc bộ và tuyến hành lang phát triển kinh tế quan trọng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ Đông Bắc Bắc bộ nằm chủ yếu trong phạm
vi hành chính của bốn tỉnh: Lạng Sơn, Bắc Giang, Thái Nguyên và Quảng Ninh, được hình thành và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của ngành khai thác than hầm lò ở tỉnh Quảng Ninh Theo số liệu của ngành than, sản lượng than khai thác hàng năm ở tỉnh Quảng Ninh chiếm tới 80% tổng sản lượng than khai thác của toàn quốc, trong đó sản lượng than hầm lò khai thác chiếm từ 30% đến 40% tổng sản lượng than nguyên khai [78]
Hiện nay, do tiến bộ khoa học kỹ thuật, khả năng dùng vật liệu thay thế
gỗ trụ mỏ, như: thép, cột chống thuỷ lực, giàn chống thuỷ lực, bê tông cốt thép ngày càng được sử dụng rộng rãi trong công nghệ khai thác than hầm
lò Tuy nhiên, trong quá trình phát triển ngành than, tỷ trọng than hầm lò chiếm trong than nguyên khai ngày càng cao, từ 30% hiện nay sẽ tăng dần lên tới 50% vào năm 2010 [61],[78] Hơn nữa, việc sử dụng vật liệu thay thế gỗ trụ mỏ còn phụ thuộc vào điều kiện địa chất, trữ lượng than khai thác, hiệu quả sử dụng vật liệu thay thế Do vậy, cho đến nay, gỗ trụ mỏ vẫn là vật tư cơ bản không thể thay thế được Đây là cơ hội đối với phát triển vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ
Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường và thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, việc phát triển vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ đang phải đối mặt với những thách thức và mâu thuẫn:
Thứ nhất: trong những năm tới khả năng cung cấp gỗ trụ mỏ không đáp
ứng nhu cầu của ngành khai thác than hầm lò
Trang 12Theo dự báo của ngành than, giai đoạn 2001- 2005, mỗi năm cần từ 160.000m3- 220.000m3 gỗ trụ mỏ; giai đoạn 2006 - 2010, mỗi năm cần từ 180.000m3- 210.000m3; trong khi đó vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ Đông Bắc chỉ đáp ứng từ 60% - 70% nhu cầu hiện nay [61],[78],[94] Hơn nữa, thực hiện
chủ trương của Nhà nước “Phát triển mạnh trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi
núi trọc hướng tới đóng cửa rừng tự nhiên”, nguồn cung ứng gỗ trụ mỏ trong
những năm tới phải dựa vào rừng trồng, nên năng lực cung cấp gỗ trụ mỏ của vùng Đông Bắc càng bị hạn chế
Thứ hai: các cơ sở SXKD nguyên liệu gỗ trụ mỏ hầu như thiếu vốn đầu
tư đã ảnh hưởng tới tiến độ tạo vùng nguyên liệu, trong khi khả năng tự huy
động vốn của các đơn vị này rất hạn chế
Thứ ba: hệ thống tổ chức sản xuất và cung ứng gỗ trụ mỏ trong vùng
chưa được tổ chức lại để tập trung thống nhất vào một đầu mối, gây khó khăn cho việc lập kế hoạch, quản lý vốn và cung cấp gỗ trụ mỏ trong phạm vi toàn vùng, đồng thời, chưa tạo được sự liên kết chặt chẽ giữa người tham gia sản xuất, cung ứng và tiêu dùng gỗ trụ mỏ
Thứ tư: giá gỗ trụ mỏ trên thị trường thấp không hấp dẫn người dân và
các tổ chức trồng rừng nguyên liệu, đang có nguy cơ làm chậm lại quá trình tạo vùng nguyên liệu
Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế nước ta, thị trường gỗ trụ mỏ có lúc bị thả nổi, thiếu sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước và do một số nguyên nhân khác, đã dẫn đến giá gỗ trụ mỏ trên thị trường vừa thấp vừa không ổn định, tác
động tới lợi ích của người trực tiếp xây dựng vốn rừng, chưa tạo động lực khuyến khích người dân tham gia phát triển vùng nguyên liệu
Thứ năm: nền kinh tế toàn vùng còn mang nặng dấu ấn của nền sản xuất
nhỏ tự cấp, tự túc, cơ sở hạ tầng thấp kém, nhiều diện tích đất trống đồi trọc quy hoạch để trồng rừng nằm phân tán, đất đai đã bắt đầu thoái hoá
Đứng trước những cơ hội và thách thức trên, có hàng loạt câu hỏi đang
Trang 13đặt ra, như: thực trạng phát triển vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ hiện nay như thế nào? Làm thế nào để tạo lập và ổn định lâu dài vùng nguyên liệu đáp ứng nhu cầu gỗ trụ mỏ cho ngành khai thác than hầm lò trong quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước và thực hiện chủ trương của Nhà nước về “Phát
triển mạnh trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc hướng tới đóng cửa rừng tự nhiên”? Nhà nước cần áp dụng các giải pháp và cơ chế chính sách nào
để tạo động lực mạnh thu hút mọi lực lượng xã hội và các thành phần kinh tế tham gia xây dựng vùng nguyên liệu?
Để góp phần làm sáng tỏ vấn đề trên, nghiên cứu sinh đã lựa chọn và đi
sâu nghiên cứu đề tài “Thực trạng và giải pháp chủ yếu phát triển vùng
nguyên liệu gỗ trụ mỏ Đông Bắc Bắc bộ” cho luận án của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài được đặt ra nhằm đạt được các mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể sau:
2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp chủ yếu phát triển vùng kinh doanh nguyên liệu ổn định, lâu dài, đáp ứng nhu cầu gỗ trụ mỏ của ngành than trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá và chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta
2.2 Mục tiêu cụ thể
Trên cơ sở mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể của đề tài tập trung vào những vấn đề chính sau đây:
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về luận giải sự hình thành
và phát triển vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ
- Đánh giá thực trạng phát triển vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ Đông Bắc Bắc bộ; trên cơ sở đó làm rõ kết quả, tồn tại, tiềm năng và những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển vùng nguyên liệu
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu phát triển vùng kinh doanh nguyên liệu
Trang 14gỗ trụ mỏ Đông Bắc ổn định, lâu dài, đáp ứng nhu cầu gỗ của ngành khai thác than hầm lò trong những năm tới
3 Đối t−ợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối t−ợng nghiên cứu
Đối t−ợng nghiên cứu của đề tài luận án là tập trung nghiên cứu điều kiện tự nhiên; các vấn đề kinh tế, thể chế, tổ chức, cơ chế quản lý, chính sách
và một số vấn đề xã hội liên quan đến phát triển vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ
Đối t−ợng nghiên cứu còn bao gồm các doanh nghiệp, các hộ gia đình tham gia sản xuất và cung ứng gỗ trụ mỏ vùng Đông Bắc Bắc bộ
1990 Các giải pháp đề xuất phát triển vùng kinh doanh nguyên liệu gỗ trụ mỏ
Đông Bắc chủ yếu áp dụng trong giai đoạn từ nay đến năm 2010
Trang 15Chương I Cơ sở khoa học để hình thành và phát triển vùng nguyên
liệu gỗ trụ mỏ
Vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ là một trong những vùng SXLN chuyên môn hoá Vì vậy, vấn đề đặt ra ở đây là cần thiết phải nghiên cứu lý thuyết phát triển kinh tế và lý thuyết phát triển vùng kinh tế nói chung, đồng thời luận giải sự hình thành và phát triển vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ nói riêng
1.1 Phát triển và lý thuyết phát triển
1.1.1 Khái niệm về phát triển
Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về sự phát triển Tác giả
Raaman Weitz cho rằng: “Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm
tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội’’[117] Ngân hàng Thế giới đã đưa ra khái niệm phát
triển với ý nghĩa rộng hơn bao gồm cả những thuộc tính quan trọng có liên
quan đến hệ thống giá trị của con người, đó là “Sự bình đẳng hơn về cơ hội,
sự tự do về chính trị và các quyền tự do công dân để củng cố niềm tin trong cuộc sống của con người trong các mối quan hệ với Nhà nước, với cộng
đồng ”[110],[118]
Tuy có quan niệm khác nhau về phát triển, nhưng nhìn chung, các ý kiến
đều nhất trí cho rằng, mục tiêu chung của phát triển là nâng cao các quyền lợi
về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và quyền tự do công dân của mọi người dân [85],[108],[112]
Trong thập kỷ gần đây, nhiều quốc gia đã đưa ra khái niệm về phát triển
bền vững, đó là “Phát triển đáp ứng các nhu cầu của hiện tại mà không làm
thương tổn đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai”[117]
Phát triển bền vững lồng ghép các quá trình hoạt động kinh tế, hoạt động xã
Trang 16hội với việc bảo tồn tài nguyên và làm giàu môi trường sinh thái Nó làm thoả mãn nhu cầu phát triển hiện tại mà không làm phương hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển trong tương lai [65],[75],[105],[119]
1.1.2 Tăng trưởng và phát triển kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi nhất của lý luận kinh tế Các nhà khoa học đều thống nhất cho rằng, tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm hay gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định [7],[17]
Phát triển kinh tế, hiểu một cách chung nhất là một quá trình lớn lên hay tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội [29],[52],[58],[88] Từ quan niệm trên ta thấy những vấn đề cơ bản nhất của phát triển kinh tế là:
Sự tăng thêm về khối lượng sản phẩm, dịch vụ và sự biến đổi tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội
Sự tăng thêm quy mô sản lượng và tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội là hai mặt có mối quan hệ vừa phụ thuộc vừa độc lập tương đối của lượng và chất
Sự phát triển là một quá trình tiến hoá theo thời gian do những nhân tố nội tại của bản thân nền kinh tế quyết định [58],[80]
1.1.3 Một số lý thuyết về tăng trưởng và phát triển kinh tế
Smith (1723 - 1790) là nhà kinh tế học người Anh, đầu tiên nghiên cứu
lý luận tăng trưởng kinh tế một cách tương đối có hệ thống [19],[48] Ông cho rằng tăng trưởng kinh tế là tăng đầu ra tính theo bình quân đầu người Ông mô tả các nhân tố tăng trưởng kinh tế thông qua phương trình sản xuất ở dạng chung nhất như sau:
Y= F (K, L, N, T) (1.1)
Trang 17- A : hệ số tỷ lệ giá
- α và β : hệ số của tư bản và lao động
Các trường phái Keynes thay thế phái cổ điển đã bổ sung thêm nhiều vấn
đề lý thuyết kinh tế quan trọng Mô hình đầu tiên và nổi tiếng hơn cả của họ là mô hình Harrod - Domar - hai nhà kinh tế Anh Hai ông cho rằng, khi nghiên cứu nền kinh tế đang mở rộng cần xem xét mối tương quan giữa ba nhân tố cơ bản là sức lao động, quy mô tư bản và lượng sản phẩm được sản xuất ra [19],[102]
Tiếp theo, nhà kinh tế Mỹ Rostow đã đưa ra lý thuyết cất cánh nhằm nhấn mạnh những giai đoạn của tăng trưởng kinh tế [19],[102]
Lý thuyết về “Cái vòng luẩn quẩn" và “Cú huých từ bên ngoài” do nhiều
nhà kinh tế học, trong đó có Paul Samuelson - nhà kinh tế Mỹ đưa ra Theo
lý thuyết này, để tăng trưởng kinh tế phải bảo đảm bốn nhân tố là nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, cơ cấu tư bản và kỹ thuật Nhìn chung, ở các nước đang phát triển, bốn nhân tố trên đây là khan hiếm Vì vậy, để phát triển phải có
Trang 18“Cú huých từ bên ngoài” nhằm phá “Cái vòng luẩn quẩn” Điều này có nghĩa
là, phải có đầu tư của nước ngoài vào các nước đang phát triển [93]
1.2.Vùng kinh tế và lý thuyết phát triển vùng kinh tế
1.2.1 Khái niệm vùng kinh tế
Trong lịch sử nghiên cứu vùng kinh tế đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm vùng kinh tế
Trong cuốn sách “Việt Nam - lãnh thổ và các vùng địa lý”, tác giả Lê Bá Thảo cho rằng "Vùng là một bộ phận thuộc cấp phân vị cao của lãnh thổ quốc
gia có những đặc điểm về mặt tự nhiên và kinh tế - xã hội làm cho nó có thể phân biệt với các vùng khác"hoặc "Vùng là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia có một sắc thái đặc thù nhất định, hoạt động như một hệ thống do có những mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa các thành phần cấu tạo nên nó cũng như những mối quan hệ có chọn lọc với các không gian các cấp bên ngoài" [67, tr 272, tr 282] Theo quan niệm này, vùng kinh tế trước hết là
một không gian kinh tế có những đặc thù riêng và có mối quan hệ kinh tế - xã hội đặc biệt trong nội bộ vùng, tính đồng nhất tương đối về mặt tự nhiên, kinh
tế - xã hội là cơ sở để nhận biết vùng kinh tế, vùng là một cái khung cho hoạt
động kinh tế và tổ chức lãnh thổ [66]
Một quan niệm khác định nghĩa vùng kinh tế theo cách tiếp cận từ nội
dung của vùng kinh tế, như: "Vùng kinh tế là một tổng hợp thể sản xuất - lãnh
thổ có các ngành chuyên môn hoá có ý nghĩa trong phạm vi toàn quốc" [87, tr
160] Tuy nhiên, quan niệm này áp dụng vào thực tế thật không dễ dàng, vì sẽ
có tình trạng tạo ra những vùng có diện tích quá lớn và những vùng diện tích quá nhỏ không phù hợp với số dân, các hoạt động kinh tế và ngay cả phương hướng phát triển nữa
Tác giả Đặng Như Trân cho rằng "Các vùng kinh tế là những bộ phận
lãnh thổ của nền kinh tế quốc dân đã được chuyên môn hoá ở mức độ nhất
định, có những quan hệ qua lại với nhau bởi các hoạt động sản xuất kinh
Trang 19doanh thường xuyên diễn ra trên lãnh thổ đó và bởi những quan hệ kinh tế - xã hội khác” [79, tr 104] Có ý kiến khác cho rằng "Các vùng kinh tế là những
bộ phận lãnh thổ của nền kinh tế quốc dân của đất nước đã được tổ chức chuyên môn hoá sản xuất theo lãnh thổ, có những quan hệ qua lại với nhau bởi khối lượng hàng hoá thường xuyên sản xuất ra ở đó và bởi những quan hệ kinh
tế - xã hội khác” [69, tr 79] Các quan niệm này đã coi vùng kinh tế là một thực tại khách quan của xã hội đã có nền sản xuất hàng hoá, dấu hiệu nhận biết vùng kinh tế là chuyên môn hoá sản xuất kết hợp với phát triển tổng hợp, quan niệm này không coi yếu tố tự nhiên là một trong những tiêu thức cơ bản
để hình thành vùng kinh tế [1],[21],[51],[70]
Từ những quan niệm khác nhau về vùng kinh tế có thể rút ra nhận định sau: vùng kinh tế là một bộ phận lãnh thổ của nền KTQD đã được tổ chức chuyên môn hoá sản xuất theo lãnh thổ, có cơ cấu kinh tế phức tạp nhưng thống nhất trên một lãnh thổ nhất định Mỗi vùng kinh tế có những điều kiện phát triển và phân bố sức sản xuất đặc thù, có một cơ cấu sản xuất riêng, có một vị trí địa lý và một nguồn tài nguyên tự nhiên nhất định
1.2.2 Các loại vùng kinh tế
Tuỳ theo nhận thức vùng, quan điểm và mục đích phân vùng, người ta thường phân vùng kinh tế theo 3 loại tiêu thức:
- Chia theo cấp bậc: gồm có 3 cấp loại vùng kinh tế:
Vùng kinh tế lớn: đó là vùng kinh tế tổng hợp cấp cao nhất của một nước; quy mô lãnh thổ của mỗi vùng bao trùm trên nhiều tỉnh và thành phố liền giải; các lãnh thổ trong vùng có chung những định hướng cơ bản về chuyên môn hoá sản xuất vùng với những ngành chuyên môn hoá lớn Các vùng kinh tế lớn không có cấp chính quyền tương ứng và vì vậy không có chức năng hành chính, chỉ có chức năng kinh tế [28]
Vùng kinh tế - hành chính cấp 2: đó là vùng kinh tế - hành chính tỉnh và
thành phố, vì mỗi vùng đều có một tổ chức chính quyền tương ứng để điều
Trang 20hành và giải quyết mọi vấn đề kinh tế - xã hội trong phạm vi lãnh thổ vùng Quy mô mỗi vùng tương đương với quy mô của các tỉnh và thành phố lớn, tức
là đồng nhất với các đơn vị hành chính đó về ranh giới lãnh thổ Các lãnh thổ trong vùng có quan hệ gắn bó và thống nhất với nhau cả về quản lý kinh doanh lẫn hành chính
Vùng kinh tế - hành chính cấp 3: đó là cấp loại vùng có quy mô lãnh thổ
nhỏ nhất trong hệ thống vùng kinh tế của một quốc gia, ranh giới vùng đồng nhất với ranh giới các quận, huyện, thị xã; vùng này còn gọi là cấp thấp, cấp cơ sở
- Chia theo đơn vị hành chính: các đơn vị hành chính đồng thời có tính chất và nội dung của một cấp loại vùng kinh tế, đó là các tỉnh, thành phố lớn; các quận, huyện, thị xã, thành phố nhỏ trực thuộc tỉnh
- Chia theo nội dung kinh tế : gồm có vùng kinh tế ngành và vùng kinh tế tổng hợp
Vùng kinh tế ngành: là một vùng ở đó phân bố tập trung một ngành sản xuất nhất định, như: vùng nông nghiệp, vùng lâm nghiệp Vùng kinh tế ngành cũng có tính chất tổng hợp của nó Trong vùng kinh tế ngành không chỉ
có các ngành sản xuất chuyên môn hoá, mà có cả một cơ cấu phát triển tổng hợp của vùng ngành, trong đó các ngành sản xuất chuyên môn hoá là cốt lõi của vùng Lực lượng sản xuất càng phát triển, cơ cấu kinh tế càng phức tạp thì vùng kinh tế ngành sẽ đan xen lẫn nhau và đến một lúc nào đó, hầu như không tồn tại các vùng kinh tế của một ngành mà chỉ có vùng kinh tế đa ngành với các sản phẩm đa dạng [74],[91]
Vùng kinh tế tổng hợp là một vùng kinh tế đa ngành Sự chuyên môn hoá của vùng kinh tế tổng hợp được quy định bởi các vùng kinh tế ngành tồn tại trong vùng kinh tế tổng hợp, mà sự chuyên môn hoá của chúng có ý nghĩa đối với các vùng kinh tế tổng hợp khác Lực lượng sản xuất càng phát triển, phân công lao động xã hội càng tỉ mỉ, khi đó, sự chuyên môn hoá của các vùng
Trang 21kinh tế tổng hợp trở thành sự chuyên môn hoá của nhiều ngành kinh tế trong vùng [74],[91]
Các loại vùng kinh tế được thể hiện ở sơ đồ 1.1
Vùng kinh tế
tổng hợp
Vùng kinh
tế - hành chính cấp 2
Vùng kinh
tế - hành chính cấp 3
Tỉnh, thành phố
Quận, huyện, thị xã
Vùng kinh
tế ngành (vùng sản xuất chuyên môn hoá)
Vùng kinh tế
Phân theo
đơn vị hành chính
Sơ đồ 1.1 Phân loại vùng kinh tế
1.2.3 Nội dung của vùng kinh tế
Vùng kinh tế dù phân chia theo cách nào cũng đều có 2 nội dung, đó là: chuyên môn hoá sản xuất và phát triển tổng hợp vùng kinh tế
1.2.3.1 Chuyên môn hoá sản xuất của vùng kinh tế
C Mác đã cho rằng, chuyên môn hoá sản xuất của các vùng kinh tế biểu hiện tính đặc thù của quá trình phân công lao động theo lãnh thổ Đặc điểm của phân công lao động theo lãnh thổ đã được C Mác nói đến khi Người định
nghĩa “Phân công lao động theo lãnh thổ là sự gắn chặt các ngành sản xuất
nhất định vào các vùng nhất định của một nước" [15, tr 386], tức là ở những
Trang 22nơi mà các ngành sản xuất đó có ưu thế Đặc điểm đó của phân công lao động
theo lãnh thổ cũng được Lê Nin bàn đến Người viết rằng "Liên hệ trực tiếp
với phân công lao động nói chung là phân công lao động theo lãnh thổ, chuyên môn hoá sản xuất của mỗi một vùng kinh tế về một sản phẩm, có khi một loại sản phẩm" [47, tr 451] Lê Nin cũng đã đặt cơ sở lý luận cho việc
chuyên môn hoá sản xuất nông nghiệp Người đã viết “Công nghiệp chế biến
chia thành những ngành riêng biệt, tuyệt đối độc lập với nhau và chỉ chuyên chế tạo ra một thứ sản phẩm hay một bộ phận của sản phẩm Trái lại, ngành nông nghiệp thì không chia thành những ngành tách biệt hẳn nhau mà chỉ chuyên sản xuất một thứ hàng hoá nào đó ”[46, tr 389 - 390]
Adam Smith đã có tư tưởng chuyên môn hoá theo điều kiện tự nhiên khá
rõ nét Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của ông được nhìn nhận như một học thuyết về trao đổi giữa các vùng trên cơ sở chuyên môn hoá làm tăng sức sản xuất chung của xã hội và các bên tham gia trao đổi đều có lợi [19]
David Ricardo cho rằng, khi nào các vùng có được lợi thế so sánh tương
đối sẽ trở thành vùng chuyên môn hoá Sản phẩm sẽ được chuyên môn hoá nếu như chi phí sản xuất ra nó ở vùng đó nhỏ hơn chi phí sản xuất ở các vùng khác [19]
John Stunart Mill [19] đã đưa ra lý thuyết “Giá trị quốc tế” Lý thuyết
của John Stunart Mill không dựa trên chi phí sản xuất tuyệt đối hay chi phí sản xuất tương đối mà dựa trên cơ sở giá trị trao đổi Trên cơ sở nguyên lý lợi thế tương đối của Ricardo, John Stunart Mill đã chỉ ra rằng, nếu một quốc gia
có sản phẩm được ưa chuộng hơn ở nước đối tác so với sản phẩm của đối tác ở nước mình thì quốc gia đó sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn đối tác
Nguyên lý lợi thế về tỷ số vốn - lao động của Eli Hecuscher và Batil Ohlin [106] đã chú trọng chỉ tiêu tỷ số vốn/lao động để phân tích chuyên môn hoá Thông qua tỷ số vốn/ lao động, các vùng lợi thế về vốn hay lao động sẽ khai thác dựa trên mức chi phí để có được hai yếu tố đó
Trang 23Các nhà kinh tế học hiện đại như: Samnelson; David Begg; Stanley; Fisher; Rudiger Dornbusch đã nhìn nhận lợi thế tương đối không phải trên cơ sở chi phí sản xuất hay giá trị trao đổi mà trên cơ sở chi phí cơ hội và tỷ giá hối đoái Sự phát triển những khía cạnh này một lần nữa nhấn mạnh tính đầy
đủ của sản phẩm chuyên môn hoá thông qua đánh giá mức độ lợi thế bằng giá trị chứ không phải bằng hiện vật như các lý thuyết cổ điển [55],[92]
1.2.3.2 Phát triển tổng hợp các ngành kinh tế của vùng
Phát triển tổng hợp các ngành kinh tế của vùng là sự kết hợp hợp lý và cân đối các ngành kinh tế trong nội bộ vùng, nhằm xác định cơ cấu kinh tế và khai thác hợp lý mọi nguồn lực của vùng Nhưng sự phát triển tổng hợp của vùng kinh tế không phải là sự phát triển có tính cô lập, cục bộ, khép kín mà là
sự phát triển cân đối, tối ưu của các ngành kinh tế tồn tại trong vùng không chỉ nhằm khai thác cao nhất lợi thế so sánh của vùng mà còn tạo ra sự liên hệ hợp lý giữa trong vùng với ngoài vùng Trong mỗi một vùng kinh tế, bên cạnh ngành sản xuất chuyên môn hoá, cần phát triển hợp lý các ngành kinh tế khác nhau để tạo ra sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu của ngành chuyên môn hoá
và nhu cầu của nhân dân trong vùng với hao phí thấp nhất
Chuyên môn hoá sản xuất kết hợp với phát triển tổng hợp các ngành kinh
tế của vùng tạo thành tổng thể kinh tế của vùng Tổng thể kinh tế vùng bao gồm 3 nhóm ngành chủ yếu:
Các ngành sản xuất chuyên môn hoá: bao gồm những ngành sản xuất
đóng vai trò chủ yếu và quyết định phương hướng sản xuất chủ yếu của vùng Những ngành này hình thành và phát triển trên cơ sở các lợi thế của vùng và tạo ra sản phẩm hàng hoá của vùng Sản phẩm hàng hoá của vùng là sản phẩm
có chất lượng cao, giá thành hạ, đủ sức cạnh tranh
Các ngành sản xuất bổ trợ: bao gồm những ngành trực tiếp phục vụ cho các ngành sản xuất chuyên môn hoá của vùng Có thể nói, không có các ngành sản xuất bổ trợ thì các ngành sản xuất chuyên môn hoá không thể phát
Trang 24triển được Nhưng sự phát triển của các ngành bổ trợ lại do yêu cầu phát triển của các ngành sản xuất chuyên môn hoá của vùng quy định Do đó, tuỳ theo từng vùng, các ngành này phát sinh, tồn tại và phát triển theo hướng sản xuất chuyên môn hoá của vùng
Các ngành sản xuất phụ: bao gồm những ngành không có liên quan trực tiếp với các ngành sản xuất chuyên môn hoá của vùng, nhưng rất cần thiết cho
sự phát triển vùng, vì những ngành này có thể đáp ứng được một phần quan trọng nhu cầu sản xuất của địa phương Những ngành sản xuất phụ phát triển dựa trên cơ sở các nguồn nguyên liệu nhỏ chỉ có ý nghĩa địa phương
Từ phân tích trên cho thấy, chuyên môn hoá sản xuất và phát triển tổng hợp là hai mặt đối lập nhưng thống nhất với nhau trên một lãnh thổ nhất định, gọi là vùng kinh tế Chuyên môn hoá là hạt nhân trong cơ cấu phát triển ngành kinh tế của vùng, còn phát triển tổng hợp chính là những vệ tinh quay quanh
nó Kết hợp chuyên môn hoá và phát triển tổng hợp vùng kinh tế sẽ sử dụng
được những lợi thế riêng của từng vùng để phát triển mạnh một số ngành chuyên môn hoá lớn, đồng thời tận dụng mọi nguồn lực nhỏ phân tán trong vùng để phát triển tổng hợp nhiều ngành sản xuất kinh doanh, trên cơ sở đó hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý cho từng vùng
1.2.4 Lý thuyết phát triển vùng kinh tế
1.2.4.1 Lý thuyết phát triển các vành đai nông nghiệp
Vào năm 1883, V Thunen [111] sáng lập ra lý thuyết phát triển các vành
đai nông nghiệp Ông cho rằng, bất kỳ thành phố nào cũng có sức hút từ nông nghiệp - nông thôn, vì thế để phát triển vùng cần phân biệt rõ địa tô chênh lệch hay chi phí tối thiểu trong sản xuất, đạt được kết quả tối đa nhờ phát triển ranh giới của vùng Lý thuyết này có thể mô hình hoá như sau:
Có 2 vùng i và j Ci là chi phí sản xuất sản phẩm ở vùng i ; Cj là toàn bộ chi phí sản xuất sản phẩm (cùng loại, cùng chất lượng) ở vùng j; Vij là chi phí vận chuyển sản phẩm từ i đến j
Trang 25Lý thuyết này có ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn các vùng sản xuất chuyên môn hoá và xem địa tô chênh lệch như là một nhân tố then chốt dẫn đến sự phân chia lãnh thổ
1.2.4.2 Lý thuyết về “Điểm trung tâm”
Nhà kinh tế Mỹ, Christaller, năm 1933 [98], đã đưa ra lý thuyết về
“Điểm trung tâm” Ông cho rằng, không có nông thôn nào lại không chịu ảnh
hưởng của một cực hút, đó là thành phố Thành phố như những cực hút, hạt nhân của sự phát triển Chúng là các đối tượng để đầu tư có trọng điểm trên cơ
sở nghiên cứu mức độ thu hút và mức độ ảnh hưởng của một trung tâm; để xác
định bán kính vùng tiêu thụ các sản phẩm của trung tâm Trong giới hạn bán kính vùng tiêu thụ, xác định giới hạn thị trường, ngoài ngưỡng giới hạn sẽ không có lợi cho việc cung cấp hàng hoá của trung tâm Về mặt thực tiễn, lý thuyết này là cơ sở để bố trí các điểm đô thị mới cho những vùng còn trống vắng Mô phỏng lý thuyết của Christaller được thể hiện ở sơ đồ 1.2
Nếu Ci + Vịj < Cj thì đầu tư ở vùng i sẽ hiệu quả hơn ở vùng j (1.3)
R X r
A B • •
Sơ đồ 1.2 Mô phỏng lý thuyết của Christaller
Từ sơ đồ 1.2 cho thấy: A và B là 2 điểm đô thị; R và r là bán kính chi phối tiêu thụ hàng hoá của đô thị A và B; X là điểm đô thị mới cần phát triển 1.2.4.3 Lý thuyết các cực phát triển
Nhà kinh tế học người Pháp Francoi Poeroux [50],[56] đưa ra lý thuyết các cực phát triển vào đầu những năm 1950 của thế kỷ XX Lý thuyết này cho rằng, một vùng không thể phát triển kinh tế đều đặn ở tất cả các nơi trên lãnh thổ của nó theo cùng một thời gian, mà có xu hướng phát triển nhất ở một
Trang 26hoặc vài nơi Kèm theo quá trình này là việc đầu tư và hình thành các ngành mũi nhọn, mà theo tác giả gọi là các ngành thúc đẩy; chúng hợp thành các cực phát triển mang tính khu vực, tạo sức hút quan trọng đối với các khu vực xung quanh, các cực vệ tinh và toàn bộ kinh tế vùng Các cực đóng vai trò hạt nhân thường là những trung tâm, đầu mối công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, giao thông vận tải lớn Mỗi hạt nhân đều toả ra xung quanh nó những sức hút kinh tế Điều quan trọng là Francoi Poeroux đưa ra khái niệm hai loại cực: cực phát triển và cực tăng trưởng
Cực phát triển là một hệ thống hay phức hợp trong đó có một hoạt động
động lực và các hoạt động khác xoay quanh nó, có tác dụng lôi cuốn đối với các khu vực xung quanh
Cực tăng trưởng là một hệ thống hay một phức hợp những hoạt động thụ
động, chịu ảnh hưởng thúc đẩy từ bên ngoài của một cực phát triển Các cực tăng trưởng là các cực vệ tinh của cực phát triển, nhịp độ phát triển của các cực tăng trưởng thường là mạnh bởi chúng phản ứng mạnh với những lực đẩy
và lực hút từ các cực phát triển Trên cơ sở lực hút và lực đẩy của mỗi trung tâm mà hình thành vùng ảnh hưởng của nó tới xung quanh Từ phạm vi ảnh hưởng của mỗi trung tâm mà người ta có thể xác định được khu vực lãnh thổ
để xây dựng điểm đô thị mới
Như vậy, lý thuyết phân cực chú ý đặc biệt đến việc lý giải sự khác biệt
về vùng kinh tế, theo đó, trong một vùng kinh tế không thể phát triển đồng
đều ở mọi nơi mà có xu hướng phát triển mạnh ở một số điểm do những lý do chủ quan và khách quan, còn ở một số điểm khác phát triển chậm, những vùng
có lợi thế cần được ưu tiên đầu tư Đây cũng là lý thuyết giải thích sự cần thiết của phát triển kinh tế lãnh thổ theo hướng phát triển có trọng điểm
ưu điểm của lý thuyết này là khắc phục được tình trạng dàn trải trong
đầu tư và tiết kiệm được chi phí, các công trình có quy mô nhỏ được chuyển
về vùng chậm phát triển, vì như vậy sẽ phù hợp với khả năng quản lý, trình độ
Trang 27kế hoạch hoá, áp dụng khoa học và công nghệ Tuy nhiên, hạn chế của lý thuyết này là làm cho vùng chậm phát triển lại càng chậm phát triển hơn và sẽ
có sự di chuyển nguồn lực từ các vùng khác tới vùng phát triển Mô phỏng lý
thuyết của Francoi Poeroux được thể hiện ở sơ đồ 1.3
Sơ đồ 1.3 Mô phỏng lý thuyết của Francoi Poeroux
Từ sơ đồ 1.3 cho thấy, PT là cực phát triển; TT là cực tăng trưởng; R và r
là bán kính ảnh hưởng của 2 đô thị; X là địa điểm xây dựng đô thị mới
1.2.4.4 Lý thuyết tăng trưởng nội sinh
Clark (1940) và Fisher (1939) [99] đã hình thành lý thuyết này Các ông cho rằng, sự tăng thu nhập bình quân đầu người trong các vùng kinh tế khác nhau theo thời gian gắn liền với sự điều chỉnh phân bố các nguồn tài nguyên, với sự giảm tỷ lệ lực lượng lao động được sử dụng trong các hoạt động sơ cấp, khai thác các hoạt động thứ cấp (chế biến) và các hoạt động tam cấp (dịch vụ) Tốc độ của sự dịch chuyển và sự tiến triển bên trong của chuyên môn hoá vùng và phân công lao động xã hội được xem như là các nguồn cung cấp
động lực chủ yếu cho sự tăng trưởng của vùng Lý thuyết tăng trưởng nội sinh nhấn mạnh đến khả năng cung của các yếu tố đầu vào, như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động, công nghệ để xác định năng lực sản xuất của vùng
1.3 Gỗ trụ mỏ và vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ
1.3.1 Gỗ trụ mỏ
- Khái niệm: thuật ngữ “gỗ trụ mỏ” dùng để chỉ gỗ được sử dụng chống chèn lò trong khai thác than hầm lò Khi khai thác than, trước tiên phải mở
đường lò chính hay còn gọi là đường lò cái đi sâu vào lòng đất Để chống sập
đường lò người ta phải dùng gỗ chống chèn lò Gỗ dùng để chống lò ở đường
Trang 28lò chính gọi là cột lò chính Từ đường lò chính mở các đường nhánh nhỏ để khai thác than gọi là đường lò chợ Gỗ dùng để chống chèn ở đường lò chợ gọi
là cột lò chợ hay còn gọi là gỗ cũi lợn, gỗ dùng để làm dầm ngang ở nóc lò gọi là gỗ thìu
- Đặc điểm gỗ trụ mỏ: do đặc điểm khai thác than hầm lò, gỗ trụ mỏ
Gỗ chèn lò: chiều dài 1,2 m, đường kính từ 14 cm đến 18 cm
Nhìn chung, yêu cầu đối với gỗ chống lò là chịu lực nén tốt, ít bị mối mọt và nấm mục, ít nhựa, ít mấu, thân tròn thẳng, ít bạnh vè, có tính cơ lý, sức bền cao để tiện mang vác và có thể giữ được lâu trong hầm lò [26], [57],[76]
- Vai trò gỗ trụ mỏ: trong khai thác than hầm lò, các công việc về chống các đường lò chuẩn bị, lò kiến thiết cơ bản, lò khấu than và điều khiển đá vách là những quá trình sản xuất tốn nhiều công sức nhất Hoạt động có hiệu
quả và an toàn của các gương lò chuẩn bị và lò khấu than, hoạt động bình thường của vận tải trong mỏ, thông gió trước hết phụ thuộc vào tình trạng
Trang 29than tập trung chủ yếu ở tỉnh Quảng Ninh Sản lượng than khai thác hàng năm
ở tỉnh Quảng Ninh chiếm tới 80% tổng sản lượng than khai thác của toàn quốc Hiện nay, sản lượng than hầm lò khai thác chiếm từ 30 % đến 40 % tổng sản lượng than của toàn quốc Trong tương lai, sản lượng than hầm lò khai thác sẽ tăng lên tới 50% sản lượng than khai thác của toàn quốc vào năm
2010, nên nhu cầu gỗ trụ mỏ cũng tăng theo [76],[94],[95]
Sử dụng gỗ trụ mỏ trong khai thác than hầm lò được mô tả ở sơ đồ 1.4
Gỗ chống lò Gỗ thìu Than Gỗ cũi lợn Sơ đồ 1.4 Mô tả sử dụng gỗ trụ mỏ trong khai thác than hầm lò
- Đặc điểm gây trồng cây nguyên liệu gỗ trụ mỏ: theo kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học lâm nghiệp, cây nguyên liệu gỗ trụ mỏ là loài cây thích hợp với vùng khí hậu á nhiệt đới, nhiệt độ bình quân từ 150C - 220C, lượng mưa từ 80 mm trở lên; lập địa thích hợp với cây nguyên liệu là đất sa thạch, thoát nước, độ cao từ 300 m - 400 m trở lên Với đặc điểm trên, một số tỉnh vùng Đông Bắc phù hợp trồng cây nguyên liệu gỗ trụ mỏ [31],[32],[37],[44]
ở vùng Đông Bắc Bắc bộ, cây nguyên liệu gỗ trụ mỏ được trồng trên diện tích đất trống đồi núi trọc và diện tích đất sau khi đã khai thác Cây trồng nguyên liệu gỗ trụ mỏ phải đảm bảo những tiêu chuẩn, như: cây mọc nhanh,
có khả năng tái sinh chồi nhanh, thân tròn thẳng, ít bạnh vè và mấu để có thể cắt được nhiều đoạn và đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng, dễ bóc vỏ, sinh
Trang 30trưởng và phát triển trong điều kiện lập địa của khu vực; đảm bảo cho năng suất và sản lượng cao, đáp ứng được mục đích kinh doanh Căn cứ vào điều kiện lập địa khu vực và những loài cây truyền thống đã được gây trồng, tập
đoàn cây trồng gỗ trụ mỏ trong vùng chủ yếu là bạch đàn (Eucalyptus
camaldulensis), mỡ (Manglietia glausa), keo tai tượng (Acasia mangium),
thông (Pinus massoniama), keo lai (Acasia hybrid) [13],[14],[34]
Điều kiện lập địa trồng các loại cây nguyên liệu được mô tả ở bảng 1.1
Bảng 1.1 Điều kiện lập địa gây trồng các loại cây nguyên liệu gỗ trụ mỏ
TT Loại cây Độ dốc Tầng đất dày Các điều kiện khác
1 Bạch đàn < 20o 40cm - 100cm Độ ẩm cao
2 Mỡ < 20o >100cm Nơi còn tính chất đất rừng
4 Keo tai tượng Có thể trồng nơi đất xấu
Phương thức chủ yếu trồng rừng nguyên liệu là trồng rừng thâm canh
Đối với vùng kinh doanh gỗ trụ mỏ, việc áp dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt là thâm canh cây rừng lâu dài trên
đất dốc Theo kết quả nghiên cứu, tuổi thành thục công nghệ đối với loài cây trồng trong vùng nguyên liệu, bạch đàn từ 8 - 9 năm, thông 10 - 12 năm, mỡ
9 - 10 năm, keo tai tượng 7- 8 năm, keo lai 7- 8 năm [95],[97]
1.3.2 Vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ
1.3.2.1 Cơ sở hình thành vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ
Vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ là vùng SXLN chuyên môn hoá, là vùng nguyên liệu gỗ công nghiệp tập trung nhằm cung cấp gỗ trụ mỏ cho ngành khai thác than hầm lò Ngoài gỗ trụ mỏ là sản phẩm chuyên môn hoá của vùng, vùng nguyên liệu này có thể sản xuất một số sản phẩm lâm nghiệp khác trên cơ sở khai thác tiềm năng về đất đai, khí hậu của vùng Hình thành vùng nguyên liệu dựa vào các yếu tố sau:
Trang 31- Phân công lao động xã hội theo lãnh thổ
Phân công lao động theo lãnh thổ được biểu hiện bằng sự tập trung các loại sản xuất riêng biệt trên một lãnh thổ nhất định, bằng sự chuyên môn hoá sản xuất của dân cư dựa vào những điều kiện và đặc điểm phát triển sản xuất
đặc thù của lãnh thổ đó Như vậy, phân công lao động theo lãnh thổ là nền tảng để phân bố sản xuất và chuyên môn hoá sản xuất theo vùng, dẫn đến sự hình thành các không gian kinh tế đặc thù - đó là các vùng kinh tế, trong đó có vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ Phân công lao động càng cao thì chuyên môn hoá sản xuất trong vùng nguyên liệu càng rõ nét
- Nhóm các yếu tố tự nhiên, gồm:
Đất đai: là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt không thể thay thế được Tác dụng tạo vùng của yếu tố đất đai chính là ở thổ nhưỡng Sự cố định về vị trí và không đồng nhất trong các vùng nguyên liệu tạo ra những yêu cầu riêng
đối với quy hoạch và tổ chức sản xuất Do đó, cần đánh giá kinh tế thổ nhưỡng của các vùng để tạo ra các vùng chuyên môn hoá phù hợp Tuy nhiên, tác dụng tạo vùng của thổ nhưỡng không chỉ ở chất đất, mà còn ở tính liền dải đối với việc phát triển một loại cây trồng nào đó; sự giới hạn về diện tích luôn yêu cầu sử dụng có hiệu quả, có ý thức bồi dưỡng và bảo vệ đất trong khai thác sử dụng Cho nên, khi nghiên cứu ảnh hưởng tạo vùng của yếu tố đất đai, cần phải xét cả về mặt thổ nhưỡng lẫn diện tích Đất đai luôn luôn gắn liền với
điều kiện vật lý, khí hậu, thời tiết tạo ra các vùng lập địa rất khác nhau Sự dị biệt về yếu tố địa lý tạo ra sự khác nhau giữa các vùng nguyên liệu Yếu tố địa
lý trong vùng có liên quan trực tiếp đến quan hệ giữa các trung tâm và các vùng phụ cận, do đó ảnh hưởng đến đặc điểm vùng nguyên liệu
Tài nguyên rừng: là một bộ phận của tài nguyên thiên nhiên hữu hạn có khả năng tái tạo ảnh hưởng của tài nguyên rừng đối với sự hình thành vùng nguyên liệu được thể hiện ở các mặt: trữ lượng, sản lượng, chất lượng, sự phân
bố tài nguyên rừng, điều kiện khai thác, mức độ sử dụng tài nguyên rừng
Trang 32[12],[16],[71] Khi xác định ảnh hưởng của tài nguyên rừng đối với cơ cấu sản xuất vùng nguyên liệu, cần phải xác định một cách tổng hợp, tìm ra ảnh hưởng trội để từ đó xác định khả năng chuyên môn hoá sản xuất, như: các vùng rừng
có trữ lượng gỗ lớn có khả năng hình thành và phát triển các ngành chuyên môn hoá về khai thác, chế biến gỗ và lâm sản; hoặc khi đánh giá vai trò của tài nguyên rừng đối với sự phát triển của vùng, cần phải thấy rằng bản thân tài nguyên rừng có thể đóng nhiều vai trò khác nhau, tài nguyên rừng không những là cơ sở nguyên liệu để phát triển nhiều ngành công nghiệp gỗ mà còn
đóng vai trò chống xói mòn, lũ lụt, cung cấp liên tục nguồn nước trong sạch, làm giảm sức phá huỷ của gió, chống cát bay Tuy nhiên, vai trò của rừng thay đổi căn bản theo thời gian, điều đó đã ảnh hưởng đến sự chuyên nôn hoá
và phát triển tổng hợp của vùng nguyên liệu Như vậy, tài nguyên rừng là cơ
sở vật chất - kỹ thuật, là nguồn vốn, là yếu tố quan trọng quyết định đến cơ cấu sản xuất, phân bố lực lượng sản xuất, mức độ chuyên môn hoá và tổ chức kinh doanh trong quá trình phát triển vùng nguyên liệu Quy mô và tốc độ tái sản xuất tài nguyên rừng có quan hệ tới sự phát triển của các ngành công nghiệp dựa vào rừng [36],[38]
- Nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội, gồm:
Thị trường: được coi là một trong những yếu tố quyết định sự hình thành
và tập trung của chuyên môn hoá sản xuất vì chuyên môn hoá sản xuất sẽ tạo
ra sản phẩm hàng hoá Thị trường phản ánh nhu cầu của tiêu dùng Nếu không
có cầu trên thị trường, nghĩa là không có nhu cầu xã hội đối với sản xuất và tất nhiên sẽ không thể có sản xuất chứ chưa nói tới chuyên môn hoá Thông qua thị trường, hoạt động trao đổi tác động mạnh đến sự phát triển vùng Trao đổi làm cho sản phẩm được vận động từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng cuối cùng,
đồng thời tạo ra dòng vận động của các yếu tố sản xuất trên thị trường vào vùng sản xuất chuyên môn hoá Khi nghiên cứu hình thành vùng nguyên liệu phải xuất phát từ những thành phố, trung tâm công nghiệp lớn, cơ sở sản xuất
Trang 33nông, lâm nghiệp để xác định phạm vi ảnh hưởng không gian của chúng Bởi vì, trung tâm công nghiệp có sức thu hút kinh tế rất lớn đối với khu vực xung quanh, tạo sự ảnh hưởng tới vùng phụ cận từ các trung tâm đó Hơn nữa, ngay tại các trung tâm công nghiệp cũng là các điểm dân cư lớn có nhu cầu tiêu thụ lâm sản thường xuyên
Dân cư và lao động: được xem xét như là yếu tố tạo vùng nguyên liệu Yếu tố dân cư và lao động được xem xét ở khía cạnh tiêu dùng sản phẩm trong vùng nguyên liệu Mật độ càng cao, thành phần dân tộc càng phòng phú, các phong tục tập quán càng đa dạng thì yêu cầu tiêu dùng cũng càng khác biệt Tập quán tiêu dùng sẽ kích thích sự phát triển các ngành nghề sản xuất các sản phẩm phù hợp với yêu cầu tiêu dùng của nhân dân, làm cho cơ cấu sản xuất của vùng trở lên phong phú, đa dạng, tận dụng hợp lý tiềm năng mọi mặt của vùng Đối với những vùng sâu, vùng xa, khi lao động gắn liền với đặc
điểm về gia đình, dòng họ và các lễ giáo truyền thống khác thì khó thực hiện
được chuyên môn hoá sâu sắc, nếu như không tổ chức di dân và định canh,
định cư Nguồn lao động càng lớn thì chuyên môn hoá càng thuận lợi
1.3.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển vùng nguyên liệu gỗ trụ
mỏ
Phát triển vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ chịu tác động của nhiều nhân tố,
có thể phân theo 4 nhóm sau đây:
- Nhóm nhân tố tự nhiên
Nhóm nhân tố tự nhiên vừa là yếu tố tạo vùng vừa là yếu tố tác động đến phát triển vùng nguyên liệu Vùng nguyên liệu trải rộng trên một phạm vi không gian rộng lớn, cho nên chúng gắn bó chặt chẽ và phụ thuộc nhiều vào
điều kiện tự nhiên Cây nguyên liệu có quan hệ chặt chẽ với điều kiện đất đai, khí hậu, thời tiết, thuỷ văn, sinh trưởng phát triển tuân theo những quy luật nhất định Quá trình gieo ươm, trồng cây, ra hoa, kết quả là những quá trình sinh học phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết, khí hậu ở những vùng có điều kiện
Trang 34thời tiết và khí hậu thuận lợi, lượng tăng trưởng của cây rừng sẽ cao và tăng nhanh Ngược lại, ở những vùng điều kiện khí hậu, thời tiết khắc nghiệt, tạo rừng nguyên liệu gặp khó khăn, chi phí đầu tư cho tạo rừng sẽ lớn hơn ở những vùng khác, nhưng năng suất cây trồng vẫn thấp Do ảnh hưởng của khí hậu mà mỗi vùng có tính đặc thù về chủng loại cây trồng Giới hạn khí hậu
được quy định bởi các vùng lãnh thổ khác nhau, tạo nên sự đa dạng về đối tượng chuyên môn hoá ở các vùng Điều kiện khí hậu kết hợp với điều kiện thổ nhưỡng là yếu tố tự nhiên trội, tác động rất mạnh mẽ đến phát triển vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ Yếu tố đất đai còn được xem xét dưới giác độ phân bố
và sử dụng, chế độ sở hữu và giao quyền sử dụng đất nhằm gắn người lao
động với tư liệu sản xuất của họ, tạo điều kiện cho người lao động an tâm đầu tư phát triển rừng
- Nhóm nhân tố kinh tế - xã hội
Thị trường tiêu thụ gỗ trụ mỏ vừa là yếu tố tạo vùng vừa là nhân tố tác
động đến phát triển vùng nguyên liệu Gỗ trụ mỏ là gỗ chuyên dùng của ngành khai thác than hầm lò, hay gỗ trụ mỏ không có người tiêu dùng trung gian và không qua giai đoạn chế biến Sự biến động của ngành khai thác than hầm lò có ảnh hưởng trực tiếp tới sự mở rộng hay thu hẹp và thậm chí liên quan đến sự tồn tại của vùng nguyên liệu Điều đó cho thấy phát triển vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ gắn liền với phát triển của ngành khai thác than hầm lò Lao động với tư cách là con người lao động sản xuất ra của cải vật chất bao gồm cả số lượng và chất lượng lao động, trình độ phân công và hợp tác lao
động Số lượng lao động càng đông, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật cùng với ý thức trách nhiệm của người lao động càng cao, con người càng sử dụng
tài nguyên và đẩy mạnh sản xuất một cách có hiệu quả hơn Truyền thống và
trình độ lành nghề ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất Chênh lệch về sự lành nghề, kinh nghiệm và dân trí trong các vùng tạo ra khả năng tiếp thu kỹ thuật khác nhau và tạo nên các mức độ của chuyên môn hoá Ngoài ra, các
Trang 35vấn đề như: mật độ dân số, cơ cấu dân tộc, di dân, du canh du cư, tôn giáo, phong tục tập quán cũng ảnh hưởng lớn đến sự phát triển vùng nguyên liệu
Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội vừa thể hiện trình độ kỹ thuật của sản xuất,
vừa thể hiện tiềm lực của vùng nguyên liệu Cơ sở hạ tầng là chỗ dựa để tăng trưởng kinh tế và phát triển chuyên môn hoá Khi kinh tế tăng trưởng mạnh và chuyên môn hoá phát triển cao sẽ tạo điều kiện nâng cao chất lượng của cơ sở hạ tầng Cả hai thúc đẩy nhau trong mối quan hệ nhân quả để phát triển vùng nguyên liệu
Một trong những yếu tố quan trọng của cơ sở hạ tầng là hệ thống giao thông Giao thông được coi là yếu tố đầu tiên trong cải thiện quan hệ trao đổi
và xúc tiến chuyên môn hoá Chuyên môn hoá sản xuất gắn liền với sự thuận tiện về giao thông, ở đâu thuận lợi giao thông thì ở đó có thị trường phát triển Theo tác giả Probxt [87], chuyên môn hoá sản xuất của vùng nguyên liệu chỉ có thể hợp lý về mặt kinh tế, nếu giá thành và chi phí vận chuyển sản phẩm từ vùng sản xuất tới vùng tiêu thụ thấp hơn giá thành toàn bộ sản phẩm
đó cùng một loại, cùng một chất lượng ở các vùng tiêu thụ và được thể hiện ở mô hình tổng quát sau:
P1 + ΣT < P2 (1.4)
Trong đó:
P1: giá thành đơn vị sản phẩm ở vùng SXLN chuyên môn hóa ΣT: chi phí vận chuyển 1 đơn vị sản phẩm từ vùng SXLN chuyên môn hoá tới vùng tiêu thụ
P2 : giá thành toàn bộ đơn vị sản phẩm đó ở vùng tiêu thụ
Từ công thức (1.4) cho thấy, hiệu quả kinh tế sản xuất chuyên môn hoá của một vùng về một loại sản phẩm nào đó phụ thuộc vào giá thành của nó tại vùng tiêu thụ và phụ thuộc vào chi phí vận chuyển loại sản phẩm này từ vùng
Trang 36sản xuất tới vùng tiêu thụ Để giải quyết vấn đề này cần xác định khoảng cách tối đa, kinh tế nhất, đối với việc vận chuyển sản phẩm từ vùng sản xuất chuyên môn hoá đến nơi tiêu thụ hay xác định bán kính tiêu thụ sản phẩm của vùng sản xuất chuyên môn hoá Cũng theo tác giả Probxt [87], xác định các vùng tiêu thụ hợp lý một loại sản phẩm nào đó có thể dựa vào phương trình sau:
Trang 37- Nhóm các yếu tố thuộc về khoa học và công nghệ
Công nghệ tiến bộ tạo ra các phương pháp, quy trình mới nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất, gồm:
Tiến bộ kỹ thuật lâm sinh học: công nghệ sinh học lai tạo giống cây trồng có năng suất cao, kỹ thuật thâm canh rừng, điều chế rừng, hệ thống quy trình quy phạm
Công nghệ phòng trừ sâu bệnh rừng, phòng chống cháy rừng
Công nghệ sử dụng tổng hợp nguyên liệu lâm sản không chỉ nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo khả năng cạnh tranh trên thị trường mà còn cải thiện
điều kiện lao động, nâng cao giá trị kinh tế của rừng
Những vấn đề đó tạo ra những ưu thế và có tác động thúc đẩy trình độ chuyên môn hoá Tiến bộ khoa học và công nghệ cũng cho phép cải tạo các vùng đất trống, đồi núi trọc thành những vùng nguyên liệu gỗ công nghiệp
- Nhóm các yếu tố về thể chế, chính sách
Thể chế, chính sách là một trong những căn cứ quan trọng, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho quá trình sử dụng các nguồn lực phát triển vùng nguyên liệu Chính sách lâm nghiệp tác động trực tiếp đến sản xuất, điều tiết sản xuất
Nó điều chỉnh mối quan hệ kinh tế hữu hiệu giữa lâm nghiệp với các ngành sản xuất khác, cũng như giữa các phân ngành trong nội bộ lâm nghiệp, tạo ra những điều kiện và môi trường thuận lợi để các tác nhân kinh tế yên tâm, đầu tư phát triển sản xuất, sử dụng và khai thác thế mạnh của các thành phần kinh
Trang 38tế, góp phần đẩy nhanh quá trình tạo vùng nguyên liệu cũng như khai thác, tiêu thụ sản phẩm rừng Thể chế được thể hiện thông qua các mục tiêu phát triển, các nguyên tắc tổ chức và cơ chế quản lý kinh tế - xã hội, các luật pháp, quy chế Một thể chế chính trị - xã hội ổn định và mềm dẻo sẽ tạo điều kiện tăng trưởng và phát triển kinh tế ngược lại một thể chế không phù hợp sẽ gây
ra những cản trở, mất ổn định Trong vài năm gần đây, một số chuyên gia lâm nghiệp coi thể chế là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến phát triển vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ [60],[104]
Ngoài các yếu tố chính trên đây, các yếu tố về đặc điểm xã hội cũng tác
động đến phát triển vùng nguyên liệu, như: phong tục tập quán, truyền thống sản xuất, quan hệ kinh tế đối ngoại, các quan hệ liên vùng
Trong các nhóm nhân tố tác động đến phát triển vùng nguyên liệu, mỗi một nhóm tác động ở mỗi khía cạnh khác nhau và trên các mức độ khác nhau Kết quả phát triển vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ là kết quả tác động tổng hợp và
đồng bộ của các nhân tố đó
1.3.2.2 Đặc điểm vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ
Vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ thường nằm ở vùng trung du và miền núi, nơi có trình độ kinh tế - xã hội thấp kém, xa nơi tiêu thụ, nên ảnh hưởng đến chi phí sản xuất gỗ trụ mỏ Sự phân bố đó gắn liền với những quan hệ liên vùng, đồng thời, sự vận động của sản phẩm ra ngoài vùng và của nguyên vật liệu từ ngoài vùng vào có tác dụng thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hoá vùng trung du và miền núi
Gỗ trụ mỏ là sản phẩm chuyên môn hoá chính của vùng Sản xuất gỗ trụ
mỏ tạo ra những vùng chuyên môn hoá cao, tỷ suất hàng hoá của gỗ trụ mỏ lớn Doanh thu từ việc bán gỗ trụ mỏ là một trong những nguồn thu nhập chính của các doanh nghiệp lâm nghiệp và các hộ gia đình làm nghề rừng
Đồng thời, việc gây trồng rừng gỗ trụ mỏ đã tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động, tăng độ che phủ của rừng, góp phần làm thay đổi điều kiện
Trang 39sinh thái môi trường của khu vực theo chiều hướng có lợi, như: góp phần khắc phục hiện tượng hạn hán, lũ lụt, cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt trong vùng, hạn chế sự ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp, các khu khai thác khoáng sản
Phát triển vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ có quan hệ chặt chẽ với phát triển ngành khai thác than hầm lò vì gỗ trụ mỏ là gỗ chuyên dùng của ngành khai thác than hầm lò
Trong quá trình phát triển vùng nguyên liệu, hàng năm chỉ có một bộ phận trong tổng số sản phẩm mà lâm nghiệp tạo ra tham gia vào tổng sản phẩm xã hội Những sản phẩm đó được thể hiện dưới dạng sản phẩm hàng hoá như: gỗ thu được trong khai thác chính và trong quá trình chăm sóc, tỉa thưa, chặt vệ sinh rừng Một bộ phận khác về lợi ích vật chất do lâm nghiệp tạo ra như, rừng non, rừng chưa khép tán, rừng chưa đến tuổi thành thục công nghệ không được tính vào tổng sản phẩm xã hội Ngoài ra còn có nhiều chức năng quan trọng nữa của rừng không thể tính được bằng tiền như: rừng có khả năng bảo vệ đất, chống xói mòn, điều hoà nguồn nước Đặc điểm này liên quan
đến việc đánh giá thành quả lao động của hoạt động lâm nghiệp trong vùng nguyên liệu
Tái sản xuất tài nguyên rừng vùng nguyên liệu bao gồm 2 giai đoạn: xây dựng rừng và sử dụng rừng Sử dụng rừng là sản xuất ra sản phẩm cho tiêu dùng hiện tại, còn xây dựng rừng là tạo ra trữ lượng cây đứng để có thể khai thác nó trong tương lai Khai thác và tái sinh rừng được coi là hai giai đoạn, hai mặt đối lập biện chứng của quá trình tái sản xuất tài nguyên rừng vùng nguyên liệu Đặc điểm này liên quan đến việc tổ chức sản xuất nhằm tạo điều kiện cho rừng luôn tồn tại và phát triển
Chuyên môn hoá sản xuất kết hợp với phát triển tổng hợp vùng nguyên liệu thể hiện ở 3 điểm chính sau:
Thứ nhất, bên cạnh gỗ trụ mỏ là sản phẩm chuyên môn hoá của vùng, có
Trang 40thể phát triển một số sản phẩm khác để tận dụng hợp lý mọi nguồn lực mà việc sản xuất sản phẩm chuyên môn hoá chưa sử dụng hết thông qua trồng xen những loại cây khác Tuy nhiên, trồng xen này phải tuân thủ nguyên tắc cây trồng xen không được cản trở, cạnh tranh về dinh dưỡng với cây trồng chính Thứ hai, mở rộng hoạt động CBLS để nâng cao giá trị kinh tế của rừng nguyên liệu
Thứ ba, tham gia các hoạt động mang tính công ích, như: quản lý bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, xây dựng đường trục trong vùng nguyên liệu 1.3.2.3 Tổ chức vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ
Nội dung tổ chức vùng nguyên liệu tập trung vào 2 vấn đề chính: tổ chức không gian rừng và tổ chức sản xuất kinh doanh trong vùng
- Tổ chức không gian rừng
Trong lâm nghiệp, trước đây, khi nói đến không gian rừng người ta thường hiểu theo nghĩa không gian 2 chiều như trong sản xuất nông nghiệp và vì vậy tổ chức không gian rừng thực chất là phân chia đối tượng rộng lớn thành những đơn vị nhỏ để tiện cho việc lập kế hoạch và tổ chức quản lý Dần dần, cùng với sự ra đời của những quan điểm lâm sinh hiện đại cho thấy không gian dinh dưỡng của cây rừng bao hàm cả chiều thẳng đứng (chiều cao), không gian nằm ngang (chiều rộng) Từ đó cũng xuất hiện khái niệm về không gian tuyến tính và không gian động
Tổ chức không gian tuyến tính là việc phân chia rừng và đất trồng rừng trên phạm vi rộng lớn thành những đơn vị nhỏ thuần nhất về điều kiện tự nhiên thống nhất về mục đích kinh doanh, thường bao gồm các nội dung, như: phân chia rừng theo lãnh thổ; phân chia rừng theo mục đích sử dụng; phân chia rừng theo hình thức sở hữu
Phân chia rừng theo lãnh thổ thực chất là việc quy hoạch về mặt địa lý cho toàn bộ tài nguyên rừng phục vụ việc tổ chức và quản lý kinh doanh rừng Phân chia rừng theo mục đích sử dụng là toàn bộ diện tích rừng được