1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi cổ phẩn và giải pháp hỗ trợ các công ty cổ phần thuộc sở nông nghiệp và phát triển nông thôn hà nội

119 380 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Hoạt Động Sản Xuất Kinh Doanh Sau Khi Cổ Phần Và Giải Pháp Hỗ Trợ Các Công Ty Cổ Phần Thuộc Sở Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Hà Nội
Tác giả Đào Duy Minh
Người hướng dẫn TS. Quyền Đình Hà
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Kinh Tế Nông Nghiệp
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 430,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi cổ phẩn và giải pháp hỗ trợ các công ty cổ phần thuộc sở nông nghiệp và phát triển nông thôn hà nội

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp I -

đào duy minh

Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi cổ phần và giải pháp hỗ trợ các công ty cổ

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là

trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã

đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đ−ợc chỉ rõ

nguồn gốc

Tác giả luận văn

Đào Duy Minh

Trang 3

Lời cám ơn

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ về mặt chuyên môn của tập thể

Thầy- Cô giáo Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Trường Đại học Nông

nghiệp I

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sỹ Quyền Đình Hà, người

trực tiếp hướng tôi hoàn thành luận văn

Xin được trân trọng cảm ơn đến các Phòng (Ban) chức năng thuộc Sở Nông

nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội; các Đơn vị thành viên thuộc Sở; bạn

bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ cũng như hỗ trợ, tạo điều kiện để tôi

thực hiện luận văn này

Hà nội, ngày tháng năm 2005

Người thực hiện

Đào Duy Minh

Trang 4

Mục lục

Trang

qua

33

2.2.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan 44

3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 46

Trang 5

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội Thành phố Hà Nội 46 3.1.2 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội 47

3.2.1 Phương pháp chọn địa bàn nghiên cứu 50 3.2.2 Phương pháp chọn đối tượng nghiên cứu 51 3.2.3 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 51 3.2.4 Phương pháp tổng hợp xử lý số liệu 52 3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong đề tài 53

4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận

4.1 Tình hình thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước thuộc Sở

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội trong thời gian qua

54

4.1.1 Thực trạng doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hoá 54 4.1.2 Tình hình thực hiện cổ phần hoá 56 4.2 Tình hình sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp sau cổ phần hoá 57 4.2.1 Tình hình sản xuất kinh doanh qua khảo sát một số công ty

cổ phần

57

4.2.2 Những vấn đề nảy sinh sau cổ phần hoá 70 4.3 Một số giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá 80 4.3.1 Sự cần thiết phải có các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhà

Trang 6

Danh mục chữ viết tắt

AFTA Khu vực mậu dịch tự do Đông Nam á- ASEAN Free Trade Area

APEC Diễn đàn hợp tác Châu á- Thái Bình Dương- ASIA Paciffic Economic

UBND Uỷ ban nhân dân

USD Đồng đôla Mỹ- United State Dollar

XHCN Xã hội chủ nghĩa

WTO Tổ chức thương mại thế giới- World Trade Organization

Trang 7

Danh mục bảng sử dụng trong đề tài

2.1 Quy mô doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp lại qua các năm 362.2 Doanh nghiệp nhà nước thuộc diện sắp xếp lại 362.3 Một số chỉ tiêu tài chính công ty cổ phần hoạt động từ 1 năm trở lên 41

4.1 Tình hình sản xuất kinh doanh các đơn vị thuộc Sở Nông nghiệp

4.7 Tình hình sản xuất kinh doanh Xí nghiệp nuôi cá Trúc Bạch 65

4.8 Một số chỉ tiêu sản xuất kinh doanh sau khi cổ phần hoá Công ty

4.9 Một số chỉ tiêu sản xuất kinh doanh sau khi cổ phần hoá Công ty

Trang 8

Danh mục sơ đồ sử dụng trong đề tài

2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần 132.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần 174.1 Tổ chức bộ máy quản lý sản xuất kinh doanh của công ty Phúc

4.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty cổ phần Phúc

Trang 9

1 Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Từ năm 1991, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp tích cực nhằm đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới cũng như trong khu vực đang diễn ra cạnh tranh quyết liệt và nền kinh tế nước ta còn nhiều khó khăn, doanh nghiệp nhà nước đã vượt lên nhiều thử thách, đứng vững và không ngừng phát triển, các doanh nghiệp đã đóng góp đáng kể cho ngân sách nhà nước, bảo đảm việc làm cho nhiều lao động Các doanh nghiệp đã đảm trách những ngành kinh tế xương sống, mũi nhọn, có vốn đầu tư cao như xi măng, dầu khí, hàng không, thông tin, nông nghiệp,… góp phần ổn định tình hình kinh tế xã hội và có vai trò quyết định vào thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới và phát triển chung của đất nước

Công ty cổ phần là một hình thức tổ chức sản xuất tiến bộ trong nền kinh tế thị trường ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, việc sắp xếp chuyển

đổi một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần, tiến lên hình thành các tập đoàn công ty đa quốc gia đủ mạnh, hoạt động có hiệu quả ở thị trường trong nước và vươn ra thị trường quốc tế là con đường hữu hiệu để đổi mới khu vực kinh tế nhà nước

ở nước ta, cổ phần hoá là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, một bộ phận cấu thành quan trọng của quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước

Thực tiễn hơn mười năm thực hiện chủ trương cổ phần hoá ở Việt Nam đã khẳng định rằng, cổ phần hoá là quá trình đa dạng hoá chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước nhằm thu hút các nguồn vốn và kinh nghiệm tổ chức

Trang 10

sản xuất, kinh doanh từ các nhà đầu tư và người lao động, tạo cơ sở cho việc

đổi mới các quan hệ quả lý và phân phối sản phẩm, tạo động lực mới, phát huy quyền tự chủ kinh doanh, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn nhằm hiện đại hoá nền kinh

tế Cổ phần hoá nước ta không phải là tư nhân hoá, không biến các công ty cổ phần thành công ty của số ít các cổ đông hay của một số các cá nhân mà làm cho đông đảo những người lao động đều có cổ phần, trở thành những người chủ thực sự của công ty Cổ phần hoá cũng không phải làm suy yếu nền kinh

tế nhà nước, mà chính là một giải pháp quan trọng để nền kinh tế nhà nước mạnh lên, phát huy vai trò chủ đạo thực sự của nó trong nền kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ nghĩa

Chính vì vậy, Nghị quyết hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung Ương khoá

IX (8-2001) chỉ rõ: “Mục tiêu cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là nhằm tạo

ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người lao

động, để sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của nhà nước và huy động thêm vốn xã hội vào phát triển sản xuất kinh doanh, tạo động lực mạnh mẽ và phát triển năng động, có hiệu quả cho doanh nghiệp nhà nước; phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động, của cổ đông và tăng cường giám sát của xã hội đối với doanh nghiệp, đảm bảo hài hoà lợi ích của nhà nước, doanh nghiệp và người lao động Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước không được biến thành tư nhân hoá doanh nghiệp nhà nước” [28]

Kết quả đạt được trong cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở nước ta về cơ bản là tích cực Qua đó, giảm bớt số doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả; hình thành được nhiều doanh nghiệp có nhiều hình thức sở hữu; huy động thêm nguồn vốn của xã hội vào sản xuất- kinh doanh Đến nay đã có trên 3.400 doanh nghiệp được sắp xếp lại, trong đó có trên 2.500 doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá, chiếm 67% tổng số doanh nghiệp nhà nước [2]

Trang 11

Tuy nhiên, trong thời gian qua, bên cạnh những thành tích đạt được rất khích

lệ, chương trình cổ phần hoá so với yêu cầu và kế hoạch đề ra, diễn ra còn chậm Khu vực doanh nghiệp nhà nước còn những tồn tại, yếu kém như hoạt

động kém hiệu quả, khả năng cạnh tranh thấp, trình độ công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý của cán bộ, trình độ tay nghề của người lao động trong doanh nghiệp nhà nước còn thấp Quá trình triển khai thực hiện đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, nhất là trong cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước Trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, việc sắp xếp lại và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đã trở thành xu hướng tất yếu trong tiến trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước

Những năm qua, thực hiện chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, nhiều Bộ, Ngành, địa phương đã chú trọng đến công tác cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước Một số lớn doanh nghiệp cổ phần đi vào hoạt động mang lại hiệu quả kinh tế cao, tháo gỡ được các vướng mắc trước cổ phần Tuy nhiên, các công ty cổ phần cũng gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với môi trường làm việc mới trong khi những ý thức hệ trong kinh doanh vẫn còn nặng tính bao cấp ỷ lại Đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong ngành nông nghiệp

Nhằm tháo gỡ sự bức xúc đó, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Thực trạng hoạt

động sản xuất kinh doanh sau khi cổ phần và giải pháp hỗ trợ công ty cổ phần thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà nội” làm luận văn

tốt nghiệp Thạc sỹ

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu các giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội

Trang 12

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

(1) Góp phần hệ thống hoá những lý luận và thực tiễn về cổ phần hoá doanh

nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá

(2) Đánh giá thực trạng doanh nghiệp nhà nước thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội sau khi cổ phần hoá, các yếu tố tác động, các nguyên nhân ảnh hưởng phát triển doanh nghiệp sau cổ phần hoá

(4) Đề xuất một số giải pháp góp phần hỗ trợ doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội

1.4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

1.4.1 Phạm vi về nội dung

Nội dung cơ bản của cổ phần hoá được nghiên cứu thông qua phần kinh nghiệm cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở trong nước và một số quốc gia trong khu vực Điều đó cho phép vừa làm rõ được nội dung cổ phần hoá vừa học hỏi kinh nghiệm từ các khu vực và các nước, vừa tránh trùng lặp nội dung trong trình bày đề tài

1.4.2 Phạm vi về không gian

Trang 13

Đề tài tập trung nghiên cứu các doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội trên địa bàn thành phố Hà Nội Tuy nhiên, do thời gian có hạn tôi chỉ tập trung nghiên cứu chọn ba đơn vị mang tính đại diện nhất cho các doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước của Hà Nội đã thực hiện cổ phần hoá

Trang 14

2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về hỗ trợ doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá

2.1 Cơ sở khoa học định hướng cho quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước

2.1.1 Công ty cổ phần và sự cần thiết phải cổ phần hoá DNNN

2.1.1.1 Công ty cổ phần

a Lịch sử hình thành phát triển công ty cổ phần

Để hiểu được lịch sử hình thành và phát triển hình thái Công ty cổ phần, chúng

ta sẽ bắt đầu từ việc xem xét hình thái sơ khai của nó là doanh nghiệp có một chủ sở hữu tư nhân độc lập và theo dõi sự vận động của nó trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường

Dựa trên tiêu thức về sở hữu, chúng ta có thể chia ra ba hình thái phát triển doanh nghiệp chủ yếu, mặc dù biểu hiện trung gian của chúng là hết sức linh hoạt và đa dạng [14]

(1) Hình thái kinh doanh một chủ

Hình thái kinh doanh một chủ dùng để chỉ các loại hình doanh nghiệp, trong đó sở hữu của người chủ tư nhân được duy trì và phát triển bằng lao

động của bản thân hoặc thuê mướn với vốn liếng sẵn có và tự tính toán của doanh nghiệp trên những đòi hỏi của thị trường Đây là hình thái phổ biến thống trị trong nền sản xuất nhỏ và trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do Hình thái kinh doanh này bao gồm hai loại hình chủ yếu: Kinh doanh theo phương thức sản xuất hàng hoá nhỏ và kinh doanh

Trang 15

điểm và mục đích kinh doanh, nhưng lại là sự kế tiếp khách quan, tất yếu của cùng một quá trình phát triển dựa trên sở hữu tư nhân Trong bộ “Tư bản”, Mác đã trình bày và lý giải sự ra đời và phát triển của phương thức kinh doanh tư bản chủ nghĩa, kế thừa hay thay thế phương thức kinh doanh của những người sản xuất nhỏ như thế nào Trong phạm vi nghiên cứu, chúng ta chỉ đề cập hết sức cô đọng sự phát triển hình thái kinh doanh này [14],[31]

Quá trình xã hội hoá sở hữu tư nhân nhờ hai tác nhân chủ yếu là trao đổi và tín dụng thì về mặt lịch sử trong quá trình chuyển hoá ấy phải kể đến hai yếu tố hết sức quan trọng, có tác dụng phân giải nền kinh tế của những người sản xuất nhỏ và thúc đẩy quá trình hình thành nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa,

đó là tư bản thương nghiệp và tư bản cho vay nặng lãi

Trong quá trình phát triển nền kinh tế hàng hoá, với sự trợ giúp của tư bản thương nghiệp và tư bản cho vay nặng lãi, dựa trên chế độ tín dụng đang ngày càng phổ biến, hình thái kinh doanh một chủ đã có sự chuyển biến về chất từ phương thức kinh doanh xé lẻ ruộng đất và phân tán những tư liệu sản xuất của những người tư bản nhỏ sang phương thức kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa bằng quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất và tư liệu sản xuất vào tay một số ít người Chế độ tư hữu có được nhờ lao động của bản thân, gắn chặt người lao động cá thể độc lập với những điều kiện lao động của người đó đã dần dần bị thay thế bằng chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa dựa trên lao động làm thuê

Hình thái kinh doanh một chủ ngày càng phát triển theo những quy luật kinh tế nội tại của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa thì quy mô tích tụ và tập trung tư bản ngày càng lớn Với mục đích kinh doanh là thu được lợi nhuận ngày càng cao và bị chi phối bởi hai cực cạnh tranh và độc quyền,

Trang 16

quá trình trên đã làm cho các tư bản nhỏ lần lượt bị tư bản đánh bại và bị thu hút vào tay những kẻ chiến thắng Mác viết: “ở nơi này, tư bản có thể lớn lên tới quy mô khổng lồ ở trong tay một người là vì ở nơi khác, nó đã rơi khỏi tay của nhiều người riêng biệt”[28]

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hoá, thị trường thế giới ngày càng lớn, các nhà tư bản cá biệt không thể tự mình đáp ứng được nữa

Do đó, để có thể đứng vững trong cạnh tranh và đáp ứng được nhu cầu của thị trường, các hình thức kinh doanh chung vốn lần lượt ra đời và phát triển Hình thái kinh doanh một chủ ngày càng rút khỏi những ngành chủ yếu và lùi dần về những ngành công nghiệp có cấu tạo hữu cơ thấp, các ngành nông nghiệp, dịch vụ buôn bán lẻ, cần ít vốn đầu tư và thu hồi vốn nhanh

(2) Hình thái kinh doanh chung vốn

Việc hình thành các loại hình kinh doanh chung vốn, xét về mặt lịch sử, đó

là bước tiến hoá trong chế độ tín dụng từ phương thức kinh doanh chủ yếu dựa vào vay mượn sang phương thức kinh doanh chủ yếu dựa vào góp vốn Vì vậy, xét về mặt sở hữu, hình thái Công ty chung vốn là điểm xuất phát của hình thái Công ty cổ phần với tư cách là sự chung vốn của nhiều người cùng tham gia kinh doanh, cùng chia sẻ lợi nhuận và rủi ro theo tỷ lệ vốn góp Trên thực tế, có rất nhiều hình thức và mức độ chung vốn để kinh doanh trong thương nghiệp và sản xuất công nghiệp theo công việc hoặc giai đoạn nhất định Chúng ta chỉ xem xét hình thái kinh doanh chung vốn chủ yếu như một giai đoạn quá độ để hình thành Công ty cổ phần Trong lịch sử, hình thái kinh doanh này có hai loại hình, đó là: Hợp tác xã và Công ty chung vốn

Trang 17

Hợp tác xã, hình thái kinh doanh của những người sản xuất hàng hoá nhỏ

nhằm chống lại quá trình tan vỡ và phá sản của họ trước phương thức kinh doanh tư bản chủ nghĩa Sự phát triển của chế độ tín dụng đã thúc đẩy những hình thức tự cấp vốn cho nhau bằng “chơi họ” sơ khai chuyển dần thành các hợp tác xã tín dụng, nhằm chống lại sức ép của tư bản cho vay nặng lãi Tương tự, các hợp tác xã cung tiêu cũng lần lượt ra đời để chống lại sức ép của tư bản thương nghiệp Từ chỗ thống nhất về vốn liếng, về mua và bán sản phẩm, dần dần loại hình hợp tác xã xâm nhập vào trong sản xuất hình thành nên hình thái kinh doanh hợp tác xã như là sự thống nhất của quá trình tái sản xuất: Từ sản xuất đến lưu thông và huy động vốn Trên cơ sở góp chung tư liệu sản xuất, vốn liếng và sức lao động, các hợp tác xã tiến hành kinh doanh theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng

trong việc hưởng lợi và chịu rủi ro

Đứng trên mảnh đất của nền kinh tế thị trường và chịu ảnh hưởng ngày càng lớn của hình thức kinh doanh tư bản chủ nghĩa, hình thái kinh doanh hợp tác xã ngày càng bị chi phối bởi chế độ tín dụng do phương thức đó sinh ra và trở thành vật phụ thuộc vào quan hệ kinh tế tư bản chủ nghĩa Thêm vào đó, quy mô hợp tác xã với một nhóm những người sản xuất hàng hoá nhỏ cùng chung vốn làm ăn nên thường bó hẹp trong một hoạt động kinh doanh nhất định; Hoạt động của hợp tác xã với tính chất tập thể, tự nguyện lỏng lẻo, ít chấp nhận mạo hiểm vì trách nhiệm pháp lý vô hạn của xã viên, nên ít khi kinh doanh quy mô lớn và luôn có nguy cơ tan vỡ mỗi khi công việc kinh doanh gặp khó khăn [14],[31]

Vì vậy, hình thái kinh doanh hợp tác xã ngày càng lùi bước dần khỏi các ngành công nghiệp, và chỉ còn trụ được trong tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, đại lý bán buôn bán lẻ

Trang 18

Công ty chung vốn, ngoài hình thái kinh doanh hợp tác xã của những người

sản xuất nhỏ còn có hình thái kinh doanh Công ty chung vốn của các nhà tư bản với ba loại hình phổ biến: Công ty dân sự, Công ty hợp doanh và Công ty hợp tư đơn giản Đặc điểm chung của các loại hình công ty này là góp vốn thiên về thân nhân (đối nhân), trách nhiệm pháp lý vô hạn và cơ cấu pháp lý gọn nhẹ đơn giản Trong ba loại trên, dạng Công ty hợp doanh là phổ biến hơn cả vì nó hoạt động dưới hình thái Công ty thương mại cả về pháp lý và hình thức; Loại Công ty dân sự thường mang tính chất gia đình cùng quản lý một tài sản (bất động sản hoặc động sản) hay một nhóm những người cùng nghề như nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thầy thuốc, Còn loại Công ty hợp tư đơn giản chủ yếu dành cho các tầng lớp có vốn (nhưng do quy chế chuyên môn không được phép kinh doanh như thầy tu, quan toà, quý tộc, ) hùn lại cho một người hay một số người có chuyên môn và đủ tư cách pháp nhân đứng ra kinh doanh

Trong thời đầu của sự phát triển phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa khi

mà cạnh tranh còn đang thống trị, thì sự ra đời của các loại hình công ty này là một bước tiến của chế độ tín dụng để đứng vững và chiến thắng trong cạnh tranh, cũng như giảm sức ép của tín dụng ngân hàng và các hình thức vay mượn khác Tuy nhiên, càng về sau, những hình thức này càng ít được ưa chuộng và thưa thớt dần, nhường chỗ cho các Công ty vô danh và Công ty trách nhiệm hữu hạn Sở dĩ các hình thức này càng bị thu hẹp vì trách nhiệm pháp lý không hạn chế trong kinh doanh chung vốn làm cho nó mang tính mạo hiểm quá cao, do đó, rất khó khăn trong việc huy

động những số vốn lớn Thêm nữa, sự tồn tại ràng buộc của nó hết sức lỏng lẻo dễ bị giải tán bất kỳ lúc nào nếu một người chung vốn muốn rút lui, trong khi đó, về mặt pháp lý rất khó khăn để đảm bảo duy trì nó Tất cả những hạn chế đó làm cho những hình thức này ngày nay có xu hướng thu

Trang 19

về những kinh doanh nhỏ trong nông nghiệp, dịch vụ bán lẻ, đại lý cho các hãng và thường là các nhóm có tính chất gia đình

Với những bất lợi trên, hình thái kinh doanh chung vốn chỉ tồn tại trong một giai đoạn ngắn của sự phát triển và ngày càng nhường chỗ cho các hình thái Công ty cổ phần dưới hai hình thức: Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty

cổ phần

(3) Hình thái Công ty cổ phần

Sự ra đời và phát triển của chế độ tín dụng đã góp phần đẩy nhanh quá trình tập trung tư bản bằng việc đẩy nhanh quá trình tuần hoàn và chu chuyển các loại vốn, tăng nhanh quy mô sản xuất và thúc đẩy quá trình xã hội hoá sở hữu trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Sự ra đời và phát triển của hệ thống ngân hàng đã làm cho hoạt động tín dụng (bao gồm tín dụng thương nghiệp và tín dụng ngân hàng) chuyển biến một cách cơ bản Cùng với sự phát triển của thương nghiệp thế giới, quy mô tích luỹ và tái sản xuất của tư bản công nghiệp tăng lên, ngoài các loại kỳ phiếu thương nghiệp thông qua ngân hàng đã hình thành và lưu thông các loại chứng khoán có giá khác như cổ phiếu, hối phiếu, trái phiếu, tín phiếu kho bạc, các văn tự cầm cố, giấy tờ sở hữu bất động sản Tín dụng và ngân hàng ngày càng mở rộng và ăn sâu trong các hoạt động kinh doanh thì các loại chứng khoán này ngày càng phát triển và cấu thành một thị trường mà lúc đầu có những kẻ môi giới, đầu cơ tranh thủ kiếm lời, cho đến khi hình thành các cơ sở giao dịch, trong đó các ngân hàng đóng vai trò chính [31]

Như vậy, sự phát triển của chế độ tín dụng đã tạo cơ sở cho việc hình thành thị trường vốn đầu tư và thông qua hoạt động của hệ thống ngân hàng đã góp phần tạo tiền đề cho sự ra đời Công ty cổ phần Sự hình thành và phát triển thị trường chứng khoán đã giúp cho các công ty mở rộng và xâm nhập

Trang 20

ngày càng mạnh mẽ ra hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Có thể nói, thị trường chứng khoán là trung tâm phản ánh trạng thái hoạt động của các công ty trong một nền kinh tế thị trường

Sự ra đời và phát triển loại hình Công ty cổ phần đánh dấu sự chuyển hướng nền kinh tế từ trạng thái vay mượn chủ yếu qua ngân hàng hoặc chung vốn sang huy động vốn trên thị trường tài chính Các Công ty cổ phần là nguồn cung cấp sản phẩm cho sự phồn vinh của thị trường này

Đổi lại, sự thịnh vượng của thị trường tài chính đã tạo điều kiện cho các Công ty cổ phần sinh sôi nảy nở Ngay từ thời kỳ phát triển ban đầu của sở giao dịch và thị trường chứng khoán, Ăng-ghen đã nhận định: “Ngày nay,

sở giao dịch có một tầm quan trọng lớn hơn nhiều và ngày càng tăng; Những sự thay đổi ấy, trong sự phát triển về sau của chúng, có xu thế tích

tụ vào tay những nhà giao dịch chứng khoán toàn bộ nền sản xuất công nghiệp cũng như nông nghiệp và toàn bộ lưu thông- cả những phương tiện giao thông liên lạc cũng như chức năng trao đổi; Như vậy, sở giao dịch trở thành người đại biểu nổi bật nhất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa”[28],[35],[36]

Sự mở rộng của thị trường thế giới bằng việc chinh phục các thuộc địa làm cho khối lượng tín dụng được huy động theo phương thức truyền thống ngày càng không đáp ứng đủ so với yêu cầu tăng nhanh về quy mô thương mại và sản xuất Tình hình đó đã khiến cho các hình thức Công ty cổ phần trong thương mại và ngân hàng lần lượt ra đời như là kết quả của sự phát triển tín dụng thương nghiệp và tín dụng ngân hàng Nhờ đó, nó tạo ra cơ sở tín dụng cần thiết cho sự hình thành Công ty cổ phần trong các ngành công nghiệp mà trước hết là các ngành cần khối lượng vốn đầu tư rất lớn như chế tạo máy, hoá chất, khai khoáng, dầu khí Có thể nói, chế độ tín dụng dựa trên sự phát triển hệ thống ngân hàng cổ phần và có sự tiếp sức của các Công ty thương mại cổ

Trang 21

phần đã duy trì được sự hoạt động hiệu quả của thị trường tài chính và góp phần thúc đẩy các Công ty cổ phần trong các ngành công nghiệp ra đời, hoạt

động và phát triển [dẫn theo 22]

Do những ưu điểm của nó, hình thái Công ty cổ phần vừa mới ra đời đã lần lượt chiếm lĩnh hết ngành này sang ngành khác từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác

Trải qua thời gian, hình thái Công ty cổ phần ngày càng được hoàn thiện, phát triển và đa dạng hoá Có thể nói Công ty cổ phần là một phát minh quan trọng nhất trong lịch sử phát triển các hình thái tổ chức doanh nghiệp

kể từ cuộc cách mạng trong công nghiệp của tư bản chủ nghĩa, chứ không

đơn thuần chỉ là sản phẩm thụ động của sự phát triển nền kinh tế thị trường [dẫn theo 22]

Như vậy, các hình thái công ty cổ phần được tổng hợp trong sơ đồ sau:

Sơ đồ 2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần

Hình thái kinh doanh 1 chủ

Hình thái KD chung vốn

Hình thái công ty cổ phần

Trang 22

b Vai trò và đặc điểm của Công ty cổ phần

(1) Vai trò của Công ty cổ phần

Công ty cổ phần là một loại hình doanh nghiệp phổ biến trong nền kinh tế thị trường, có vai trò to lớn trong nền kinh tế, góp phần hoàn thiện cơ chế thị trường với những vai trò sau:

• Là sản phẩm của quá trình xã hội hoá sở hữu, phản ánh quá trình tích tụ và tập trung tư bản Công ty cổ phần ra đời đã góp phần đẩy nhanh quá trình này về tốc độ và quy mô, tạo nên các công ty, các tập đoàn đầu tư với quy mô lớn mà các tư bản riêng lẻ không thể làm

• Xây dựng hệ thống tư bản xã hội đối lập với tư bản tư nhân, là tiền

đề cho việc xây dựng và phát triển “tư bản nhà nước” để quản lý, phát triển và điều tiết nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường

(2) Đặc điểm của Công ty cổ phần

Về mặt pháp lý, Công ty cổ phần là một tổ chức kinh doanh có tư cách pháp

nhân mà vốn kinh doanh do nhiều người đóng góp dưới hình thức cổ phần Khác với doanh nghiệp chung vốn, các cổ đông- người cấp vốn cho công ty- chỉ có trách nhiệm với các cam kết tài chính của công ty trong giới hạn số tiền

mà họ đóng góp dưới hình thức mua cổ phiếu, nghĩa là các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số tiền mà họ đã bỏ ra Trong trường hợp công ty bị phá sản thì họ cũng chỉ mất số tiền đã đầu tư vào

Trang 23

công ty mà thôi, không chịu trách nhiệm vô hạn như hình thức kinh doanh một

chủ hoặc chung vốn

Xét về mặt huy động vốn, sự có mặt của Công ty cổ phần đã tạo điều kiện

cho mọi tổ chức, cá nhân có cơ hội để đầu tư một cách có lợi và an toàn những khoản vốn nhỏ nhưng gộp lại sẽ trở thành rất lớn Hình thức cổ phần

hoá có sức hấp dẫn riêng mà các hình thức khác không thể thay thế được:

Thứ nhất, việc mua cổ phần không những đem lại cho cổ đông lợi tức cổ phần (bằng hoặc cao hơn lãi suất tiền gửi ngân hàng) mà còn hứa hẹn mang đến cho cổ đông những khoản thu nhập “ngầm” nhờ việc gia tăng trị giá cổ phiếu khi Công ty làm ăn có hiệu quả

Thứ hai, các cổ đông có quyền tham gia quản lý theo điều lệ của công ty

và được pháp luật bảo đảm, điều đó làm cho quyền sở hữu của cổ đông trở nên cụ thể hơn và có sức hấp dẫn hơn

Thứ ba, cổ đông có quyền được ưu đãi trong việc mua các cổ phiếu mới phát hành của công ty trước khi đem bán rộng rãi cho công chúng

Về quản lý, hình thái Công ty cổ phần đã thực hiện được việc tách quan hệ

sở hữu khỏi quá trình kinh doanh, tách quyền sở hữu với quyền quản lý và

sử dụng, tạo nên một hình thái xã hội sở hữu đông đảo công chúng ở một bên, còn bên kia là tầng lớp các nhà quản trị kinh doanh chuyên nghiệp sử dụng tư bản xã hội cho các công cuộc kinh doanh quy mô lớn Thông qua Luật doanh nghiệp và Điều lệ của công ty cổ phần, việc tổ chức quản lý,

điều hành được thực hiện thông qua Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban giám đốc điều hành và Ban kiểm soát Hệ thống tổ chức này vừa

đảm bảo thực hiện được quyền tham gia quản trị của các cổ đông vừa

khẳng định được sự độc lập của các nhà quản trị trong việc điều hành

Hệ thống tổ chức này phản ánh sự tách biệt hợp lý giữa quyền sở hữu và quyền quản lý kinh doanh, do đó, nó đáp ứng được một cách khá lý tưởng

Trang 24

những yêu cầu của kinh doanh quy mô lớn Ngày nay, sự tồn tại và phát triển của một Công ty cổ phần ngày càng ít dựa vào mối quan hệ sở hữu của các cổ đông mà tuỳ thuộc ngày càng nhiều vào nhân tố chủ yếu ở hiệu năng quản trị và điều hành công ty Samuelson kết luận: “các doanh nghiệp ngày nay do thị trường chứ không do các cổ đông kiểm soát” và cho rằng một cuộc cách mạng về quản lý công ty ra đời thay thế “người chỉ huy thời xưa của nền công nghiệp, với tất cả tài năng sáng tạo và khả năng tính toán những rủi ro cần thiết để xây dựng một xí nghiệp lớn, thường có

đôi chút đặc tính của kẻ phiêu lưu và thái độ bất chấp công chúng bằng đội ngũ những người quản lý chuyên nghiệp có tầm quan trọng ngày càng tăng” [31]

Về đảm bảo quyền của người sở hữu, các cổ phiếu và trái phiếu thông

thường của Công ty cổ phần có thể được chuyển nhượng dễ dàng trên thị trường chứng khoán Các cổ đông có thể rút lại vốn của mình để đầu tư vào một công cuộc kinh doanh khác bằng cách bán cổ phiếu, trái phiếu và mua các

cổ phiếu, trái phiếu ở các công ty mà mình muốn Mặc khác, các cổ phiếu của một Công ty cổ phần chỉ được thanh lý khi Công ty cổ phần phá sản, vì thế bất

kể có bao nhiêu cổ đông bán cổ phiếu hoặc chết đi và bất kể cổ phiếu được chuyển chủ bao nhiêu lần do bán hoặc thừa kế, cuộc sống của doanh nghiệp vẫn tiếp tục một cách bình thường mà không bị ảnh hưởng Có thể nói, Công ty

cổ phần và thị trường chứng khoán vừa duy trì được sự ổn định của doanh nghiệp đồng thời vừa tạo nên sự di chuyển linh hoạt của các luồng vốn trong

xã hội

Với những vai trò và đặc điểm nêu trên, các công ty cổ phần đã thực sự đóng vai trò tổ chức trong nền kinh tế theo những yêu cầu của thị trường Ngày nay, hàng ngàn tập đoàn công ty khổng lồ được tổ chức theo dạng công ty cổ phần

có tính chất quốc gia hoặc quốc tế đã và đang góp phần tạo nên sức mạnh kinh

tế của từng quốc gia và của toàn thế giới

Trang 25

Đối với nước ta, để xây dựng, phát triển và hội nhập với nền kinh tế khu vực và quốc tế chúng ta cần từng bước phát triển loại hình công ty cổ phần không những để huy động mọi tiềm năng về vốn là lao động, chất xám của toàn xã hội cho việc phát triển kinh tế mà còn xây dựng được thị trường chứng khoán

và một số doanh nghiệp có tổ chức, hệ thống quản lý, điều hành kinh doanh phù hợp với mô hình của các nước, phục vụ cho quá trình thu hút đầu tư và chuyển giao công nghệ thông qua việc bán cổ phiếu của các công ty này cho nước ngoài Đây cũng sẽ là một trong những điều kiện quan trọng cho tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước

Cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần phản ánh rất rõ đặc điểm về sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý kinh doanh Quyền sở hữu tối cao đối với công ty thuộc về đại hội cổ đông, thường được tổ chức mỗi năm một lần để lựa chọn và bãi miễn hội đồng quản trị, quyết định sửa đổi điều lệ công ty, phân chia lợi nhuận, phát hành cổ phiếu bầu ban kiểm soát, còn toàn bộ hoạt

động quản lý kinh doanh thuộc về Ban giám đốc điều hành, tổng giám đốc (giám đốc) có thể là người của công ty hoặc người được thuê từ bên ngoài, giám đốc không làm việc theo nhiệm kỳ mà làm việc theo hợp đồng ký kết với hội đồng quản trị [dẫn theo 22]

Trang 26

Sơ đồ 2.2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần

2.1.1.2 Tính tất yếu khách quan phải cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước

Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước không phải là một khái niệm mới

được đặt ra ở nước ta Các học giả nước ngoài khi xem xét vấn đề này thường đặt nó trong một quá trình rộng hơn, đó là tư nhân hoá Tư nhân hoá có thể hiểu theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp Liên hợp quốc có đưa

Đại hội cổ đông

Giám đốc(hoặc tổng giám đốc điều hành)

Phó giám đốc

(Giám đốc điều hành)

TV

Phòng ban chuyên môn KHTH

Các Xí nghiệp trực thuộc

Các Xí nghiệp trực thuộc

Trang 27

ra định nghĩa về tư nhân hoá theo nghĩa rộng “Tư nhân hoá là sự biến đổi tương quan giữa nhà nước và thị trường trong đời sống kinh tế của một nước theo hướng ưu tiên thị trường” Theo cách hiểu này thì toàn bộ những chính sách, luật lệ, thể chế nhằm khuyến khích mở rộng và phát triển khu vực kinh tế tư nhân hay thành phần kinh tế khác ngoài quốc doanh, đề cao vai trò điều tiết của nền kinh tế thị trường, giảm bớt sự can thiệp trực tiếp của nhà nước vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế Theo nghĩa hẹp, tư nhân hoá được dùng để chỉ quá trình giảm bớt quyền sở hữu nhà nước hoặc sự kiểm soát của chính phủ trong một doanh nghiệp Quá trình này có thể được tiến hành thông qua nhiều biện pháp và phương thức khác nhau, trong đó cổ phần hoá là một biện pháp quan trọng phổ biến và đem lại hiệu quả [2],[14]

Như vậy cổ phần hoá không phải là chuyển các doanh nghiệp nhà nước thành các Công ty của tư nhân mà là chuyển các doanh nghiệp nhà nước sang hình thức Công ty cổ phần Công ty cổ phần là dạng công ty mà chủ sở hữu vốn không phải của một chủ duy nhất mà là chủ sở hữu hỗn hợp do vốn của nhiều chủ sở hữu góp lại Quá trình cổ phần hoá dẫn đến việc chuyển doanh nghiệp nhà nước hoặc một bộ phận của doanh nghiệp nhà nước thành Công ty cổ phần, trong đó cổ đông là nhà nước, công nhân lao động trong doanh nghiệp, các thể nhân, pháp nhân trong và ngoài doanh nghiệp Nhà nước có thể giữ lại một tỷ lệ vốn nhất định tại doanh nghiệp và cùng với các cổ đông khác là những người mua cổ phần của doanh nghiệp cổ phần hoá hợp thành những người chủ thực sự của doanh nghiệp cổ phần mới được hình thành [31]

Cổ phần hoá là chủ trương nhằm đa dạng hoá hình thức sở hữu, phát huy quyền làm chủ thực sự của doanh nghiệp, thương mại hoá mọi hoạt động của doanh nghiệp Cổ phần hoá giúp xoá bỏ sự chỉ đạo doanh nghiệp bằng

Trang 28

mệnh lệnh hành chính cũng như sự can thiệp sâu của cơ quan quản lý nhà nước vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, xoá bỏ cơ quan chủ quản của doanh nghiệp

Trong khuynh hướng vận động của nền kinh tế thế giới theo xu thế thị trường,

cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là sự tất yếu khách quan Sự tất yếu khách quan này xuất phát từ bản chất của nền kinh tế thị trường với thực tế rằng từ những năm 1970 đến nay, quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đã thành hiện tượng phổ biến ở các nước có nền kinh tế thị trường Một số lý do khiến các nước buộc phải cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước khi chuyển

đổi sang cơ chế thị trường:

Một là, xuất phát từ mục tiêu kinh doanh của các doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường là phải thu được nhiều lợi nhuận

Những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, muốn chiếm ưu thế để tồn tại và phát triển, cạnh tranh trong cơ chế thị trường phải cùng nhau góp vốn tạo ra doanh nghiệp có quy mô lớn hơn Vì với quy mô lớn hơn, doanh nghiệp mới có

ưu thế để tiến hành đổi mới quy trình công nghệ, cải tiến kỹ thuật, ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất và quản lý nhằm nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, bảo đảm kinh doanh có lãi trong cơ chế thị trường và điều kiện cạnh tranh

Đối với những doanh nghiệp có quy mô lớn, muốn hạn chế rủi ro trong kinh doanh cũng phải mua cổ phần của các doanh nghiệp hoặc nhận vốn góp cổ phần của các doanh nghiệp khác Điều này sẽ giúp doanh nghiệp được san sẻ bớt rủi ro trong kinh doanh, nhằm đảm bảo có được lợi nhuận tối thiểu ngang bằng lợi nhuận bình quân trong ngành Do đó hạn chế được những bất lợi trong quá trình cạnh tranh [2]

Trang 29

Hai là, sự phát triển tràn lan các doanh nghiệp nhà nước một cách quá mức, từ

đầu những năm 1930 của trường phái Keynes, các nước có nền kinh tế thị trường đã đề cao vai trò can thiệp của nhà nước vào các quá trình kinh tế nhằm tạo ra một thực lực kinh tế mạnh mẽ làm công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô Các doanh nghiệp nhà nước được chú ý điều tiết phát triển không chỉ ở các lĩnh vực, các ngành then chốt của nền kinh tế mà còn ở các ngành khác mà lẽ

ra nhà nước không cần nắm giữ Sự phát triển tràn lan đó làm cho tình hình thị trường xấu và ảnh hưởng đến năng suất chung của sản xuất xã hội Yêu cầu của việc lợi dụng các yếu tố tăng trưởng theo chiều sâu, của việc tạo lập môi trường cạnh tranh hiệu quả đòi hỏi phải sắp xếp lại cơ cấu hệ thống doanh nghiệp nhà nước

Ba là, trong điều kiện nền kinh tế- xã hội phát triển, chính nền kinh tế thị

trường đã làm bộc lộ sự hoạt động kém hiệu quá của doanh nghiệp nhà nước, làm cho các doanh nghiệp này ngày càng trở thành gánh nặng cho nền kinh tế quốc dân

Bốn là, sự thay đổi quan điểm về vai trò nhà nước trong nền kinh tế thị trường

Từ giữa những năm 1970 trở lại đây, cùng với tư tưởng tự do kinh tế người ta buộc phải xem xét lại vai trò của nhà nước theo phương châm thị trường nhiều hơn, tự do kinh doanh nhiều hơn Nhà nước cần quản lý doanh nghiệp bằng một cơ chế phù hợp hơn Từ đó đòi hỏi phải kiện toàn, sắp xếp lại cơ cấu khu vực kinh tế nhà nước theo xu hướng giảm dần cơ chế “trói buộc” của nhà nước

Năm là, xét từ hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh, nhiều thập kỷ qua

người ta thấy rằng các doanh nghiệp nhà nước nói chung hoạt động kém hiệu quả hơn so với các doanh nghiệp phi nhà nước (tuy nhiên trong những điều kiện và giai đoạn lịch sử nhất định kinh tế quốc doanh vẫn hoạt động có lãi) Chính xuất phát từ sự kém hiệu quả đó nhà nước thường phải tài trợ, bao cấp

Trang 30

thông qua cấp vốn, trợ giá, giảm nộp ngân sách,… để duy trì hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, duy trì sở hữu nhà nước

Sáu là, xuất phát từ những ưu điểm của công ty cổ phần so với doanh nghiệp

nhà nước, những mặt ưu điểm này quyết định đến tính hiệu quả trong quản lý

và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp [14]

Có thể nêu ra một số ưu điểm của công ty cổ phần như sau:

• Trách nhiệm vật chất và quyền hạn của từng thành viên rõ ràng, phân phối công bằng, sòng phẳng trên cơ sở tỷ lệ vốn đóng góp

• Quyền sở hữu và quyền kinh doanh được tách bạch không bị ảnh hưởng của sự can thiệp trực tiếp có tính chất hành chính của chính quyền các cấp váo hoạt động kinh doanh của công ty

• Khắc phục được tính “vô chủ sở hữu” và do đó cũng khắc phục được tính vô trách nhiệm trong quản lý kinh doanh, xoá bỏ được lối phân phối bình quân,… bất hợp lý; đồng thời tăng hiệu quả kinh doanh và thu nhập của người lao động

• Cơ chế quản lý của công ty cổ phần đặc biệt là cơ chế quản lý tài chính vừa thông thoáng, vừa rõ ràng theo luật định Điều này sẽ giảm bớt được nhiều sự trói buộc đối với công ty, quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần được nâng cao so với doanh nghiệp nhà nước

Với những lý do đó, quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở các nước trên thế giới đã được thực hiện như một tất yếu khách quan trong hơn hai thập

kỷ qua

Trang 31

2.1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về cổ phần hoá DNNN

Trong tình hình kinh tế- xã hội có nhiều khó khăn, Đảng, nhà nước và nhân dân ta đã triển khai công cuộc đổi mới trên nhiều mặt đời sống xã hội, nhất là kinh tế Trọng tâm của công cuộc đổi mới kinh tế do Đảng đề ra và tổ chức thực hiện là chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường,

có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là một vấn

đề hết sức quan trọng và mới mẻ, chưa có tiền lệ trong lịch sử phát triển của các nước xã hội chủ nghĩa cũng như ở Việt Nam Công cuộc đổi mới và thách thức đòi hỏi chúng ta phải vừa làm, vừa tìm tòi, thử nghiệm và rút ra những bài học kinh nghiệm [28]

Trong đà phát triển của cả nước, nhiều thành phần kinh tế đang thực hiện những bước chuyển mình Trong đó phải kể đến thành phần kinh tế nhà nước với xu hướng thực hiện cổ phần hoá nhằm sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn

Chủ trương của Đảng về cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp nhà nước ngày càng được cụ thể hoá về mục tiêu và giải pháp

Mục tiêu nhất quán cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp nhà nước là để huy

động vốn, tạo điều kiện để người lao động được làm chủ thực sự trong doanh nghiệp, tạo động lực bên trong, thay đổi phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp Đồng thời làm tăng tài sản nhà nước và thay đổi cơ cấu doanh nghiệp Phương châm chỉ đạo của Đảng là đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước một cách tích cực, vững chắc, phải phân loại doanh nghiệp nhà nước, xác định rõ loại doanh nghiệp nhà nước giữ 100% vốn, loại doanh nghiệp nhà nước không giữ 100% vốn thì tổ chức cổ phần hoá, trong đó phải quy định các lĩnh vực nhà nước cần giữ cổ phần chi

Trang 32

phối Đối tượng bán cổ phần bao gồm mọi cá nhân trong và ngoài doanh nghiệp, các tổ chức pháp nhân khác để huy động vốn cho đầu tư phát triển Nhưng chú trọng tạo điều kiện cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp

có sở hữu cổ phần, nhằm tạo động lực trực tiếp bên trong thúc đẩy doanh nghiệp phát triển

Để thực hiện tốt quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước theo Nghị quyết

Đại hội Đảng IX đề ra, Bộ Chính trị đã yêu cầu cấp uỷ đảng và chính quyền phải quán triệt và tuyên truyền, giải thích trong nhân dân chủ trương, chính sách của Đảng về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trên cơ sở:

(1) Cổ phần hoá phải xuất phát từ yêu cầu phát triển của doanh nghiệp nhà nước, nhằm huy động thêm vốn của cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp để đầu tư mở rộng ngành nghề, hiện đại hoá công nghệ, tạo thêm việc làm, phân công lại lao động, phát triển sản xuất, tăng thêm khả năng cạnh tranh, tích luỹ cho doanh nghiệp, đóng góp cho ngân sách và thu nhập của người lao động

(2) Cổ phần hoá phải làm cho tiềm lực kinh tế của nhà nước ngày càng tăng lên, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ngày càng cao, góp phần

đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

(3) Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước phải gắn liền với đổi mới cơ chế quản lý để tạo động lực, phát huy mạnh hơn vai trò làm chủ và tính năng động, sáng tạo của người lao động trong quản lý doanh nghiệp

(4) Cổ phần hoá phải có chính sách khuyến khích cán bộ và công nhân trong doanh nghiệp mua cổ phần, nhưng không để chênh lệch quá lớn giữa lãnh đạo doanh nghiệp và người lao động Có chính sách hỗ trợ

Trang 33

cho công nhân nghèo mua được một số cổ phần cần thiết nhằm tạo

động lực, góp phần xoá đói, giảm nghèo và thực hiện công bằng xã hội

Có chính sách ưu đãi cho người lao động trong các doanh nghiệp cổ phần hoá, tuỳ theo thời gian cống hiến của mỗi người Có cơ chế để hàng năm gọi thêm cổ phần nhằm tăng thêm vốn cho phát triển sản xuất, đồng thời tạo điều kiện cho người lao động mới vào xí nghiệp

được mua cổ phần Có chính sách khuyến khích các cổ đông dành lợi nhuận, tăng tích luỹ để phát triển sản xuất Khi yêu cầu vốn phát triển, doanh nghiệp có thể bán một số cổ phần cho thị trường chứng khoán mới thành lập, hoặc thông qua các trung tâm giao dịch được thành lập

để giúp các cổ đông mua bán cổ phiếu thuận tiện [28],[35],[36]

2.1.3 Vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá

ở đây “hỗ trợ” không có nghĩa là thực hiện sự giúp đỡ không có tính thương mại mà hỗ trợ doanh nghiệp có nghĩa là giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, thanh toán và đầu tư Và mục đích của hỗ trợ đó là: tạo mối quan hệ giữa nhà nước và doanh nghiệp, từng bước giúp đỡ doanh nghiệp đứng vững khi bắt đầu bước vào hoạt động sản xuất kinh doanh

độc lập thông qua các cơ chế chính sách phù hợp [dẫn theo 32]

Bước đầu đi vào hoạt động theo mô hình của công ty cổ phần, tách khỏi sự quản lý của nhà nước, cần thiết phải có các chế tài, hỗ trợ cho doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh Nhất là đối với công ty cổ phần xuất phát điểm

từ doanh nghiệp nhà nước, vốn sẵn quen “dựa dẫm” vào nhà nước từ vốn đến các cơ chế ưu tiên

Bên cạnh đó, để đảm bảo cho công ty cổ phần hoạt động tốt hơn trong “những ngày đầu”, bắt buộc nhà nước phải xem xét và cân nhắc đến các chính sách đối với công ty cổ phần

Trang 34

Hỗ trợ doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần là việc định ra những chế tài nhằm giúp đỡ doanh nghiệp cổ phần ổn định sản xuất kinh doanh, hoà nhịp vào vòng quay của nền kinh tế thị trường, đảm bảo sự công bằng giữa các thành phần kinh tế [dẫn theo 32]

Một trong những vấn đề gây nhiều tranh luận hiện nay là nhà nước sẽ hỗ trợ doanh nghiệp như thế nào để doanh nghiệp từng bước tách ra khỏi sự nâng đỡ của nhà nước, từng bước đứng vững trên “đôi chân” của mình Hầu hết các doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam từ lâu đã quen với chỗ dựa là nhà nước,

do đấy, sức ỳ lớn, không chủ động trong sản xuất kinh doanh, hoạt động theo cơ chế thị trường những luôn trong trạng thái “xin-cho”, nếu sản xuất kinh doanh lỗ thì xin nhà nước giãn nợ, hoặc xoá nợ Tuy nhiên, trong ngày hai, doanh nghiệp từng bước đi vào hoạt động tự chủ trong kinh doanh không thể ngay một lúc có thể đạt hiệu quả kinh doanh tối đa, đồng thời việc xác định sự công bằng giữa doanh nghiệp nhà nước và công ty cổ phần cũng đang là một vấn đề đáng bàn Điều này thực sự phải có “bàn tay” của nhà nước điều tiết để

hỗ trợ doanh nghiệp sau cổ phần hoá từng bước ổn định sản xuất kinh doanh,

tự chủ về tài chính

2.2 thực trạng về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước

2.2.1 Tình hình cổ phần hoá DNNN trên thế giới

2.2.1.1 Cổ phần hoá DNNN ở một số nước trên thế giới

Chương trình chuyển đổi sở hữu trong tiến trình cải cách DNNN trên thế giới

đã diễn ra mạnh mẽ sôi động ngay từ đầu thập kỷ 80 với xuất phát điểm là nước Anh và sau đó lan rộng sang các nước khác ở các nước Đông Âu, phong trào cổ phần hoá và đa dạng sở hữu DNNN được phát động ngày từ đầu thập niên 90 và hiện vẫn đang tiếp diễn khá sôi động Mỗi quốc gia khi tiến

Trang 35

hành cổ phần hoá đều đặt ra những tham vọng riêng cho mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội Vì vậy, kết quả thu được ở mỗi quốc gia đều có những thành công và vướng mắc khác nhau, nhưng đều có những điểm chung về mục tiêu, hình thức và đều phải có sự trợ giúp của chính phủ đề đẩy mạnh quá trình chuyển đổi chủ sở hữu, đặc biệt là hệ thống chính sách tài chính [dẫn theo 34]

a Về mục tiêu

Hầu hết các nước đều cho rằng, mục tiêu chính của chương trình cổ phần hoá DNNN là nhằm nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Qua đó, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển Đồng thời làm giảm thiểu

số DNNN làm ăn thua lỗ, tối đa hoá các đơn vị làm ăn có lãi và các khoản thu cho ngân sách nhà nước, tạo nguồn để giải quyết các vấn đề xã hội khác Ngoài ra, công tác cổ phần hoá, hầu hết chính phủ các nước đều muốn chuyển một số lĩnh vực ngành nghề mà các khu vực kinh tế khác có thể đảm nhận, giảm bớt gánh nặng và thâm hụt cho ngân sách, cân đối khả năng thanh toán

nợ nước ngoài; phát triển thị trường vốn trong nước [34]

b Tổ chức bộ máy chỉ đạo

Kết quả nghiên cứu, khảo sát cho thấy, chính phủ các nước có chương trình cổ phần hoá thành công thường giao cho Bộ Tài chính hoặc Bộ Ngân khố, thậm chí thành lập riêng một bộ chuyên trách chỉ đạo thực hiện như Hungary Các cơ quan này có nhiệm vụ chỉ đạo thực hiện cổ phần hoá những DNNN có đủ

điều kiện; chịu trách nhiệm nắm giữ cổ phần của nhà nước ở các DNNN chuyển đổi sở hữu thông qua một cơ quan quản lý tài sản hoặc một công ty tài chính của nhà nước Với cách tổ chức như trên, chương trình cổ phần hoá sẽ nhất quán, rõ ràng với sự tham gia của đông đảo nhân dân trong nước, hạn chế tối đa sự lạm dụng hoặc khả năng tổn thất cho nhà nước Nhiều quốc gia còn

Trang 36

ban hành riêng một bộ luật nhằm tạo hành lang pháp lý cao nhất cho quá trình chuyển đổi sở hữu DNNN [34]

c Tiêu chí lựa chọn doanh nghiệp chuyển đổi

Nếu xét về quy mô, bước đầu hầu hết các quốc gia đều tiến hành chuyển đỗi

sở hữu các doanh nghiệp vừa và nhỏ có hiệu quả hoạt động trong các lĩnh vực cạnh tranh Người Mexico cho đây là bài học thành công Vì họ coi việc bán các doanh nghiệp nhỏ là để học tập kinh nghiệm, giảm rủi ro tới mức nhỏ nhất Nếu xét về lĩnh vực thị trường, các quốc gia thường ưu tiên tiến hành cải cách doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực có thị trường đang và sẽ hoạt

động tốt Nhưng các DNNN lại không có lợi thế về quản lý so với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác như: khách sạn, vận tải bằng tàu thuyền loại nhỏ, vận tải ô tô,… Tiếp đó mới đến các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khó khăn hơn về thị trường Những lĩnh vực trước đây nhà nước cần độc quyền hoặc tư nhân chưa có đủ điều kiện để tham gia Nhìn chung, việc cải cách từ đâu phụ thuộc vào mối quan tâm của nhà đầu tư và khả năng của chính phủ mỗi nước Nhưng đều phải có sự đầu tư mới và thay đổi phương thức quản lý để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp chuyển đổi [34]

d Đánh giá và định giá doanh nghiệp

Hầu hết các nước đều cho rằng, phương pháp tốt nhất để thị trường quyết định giá bán thông qua đấu thầu, cạnh tranh, nhất là các doanh nghiệp nhỏ Đối với những doanh nghiệp lớn, việc xác định giá bán doanh nghiệp thường được thự hiện bằng nhiều phương pháp để có thể kiểm tra mức độ hợp lý của giá sàn, trên cơ sở đó tổ chức đấu thầu (kèm theo những điều kiện nhất định để thu hút các cổ đông chiến lược) và đấu giá trên thị trường để có được phương án

Trang 37

khó khăn, nhất là ở các quốc gia phát triển Qua tìm hiểu, có thể thấy những phương pháp thường được các nước sử dụng là:

(1) Phương pháp xác định theo giá thành tài sản (phương pháp chi phí)

(2) Phương pháp giá trị tài sản thuần (NAY)

(3) Phương pháp thu nhập (lợi nhuận)

(4) Phương pháp so sánh trực tiếp (giá thị trường hiện hành)

(5) Phương pháp thặng dư

(6) Phương pháp đấu giá

(7) Phương pháp dòng tiền chiết khấu

e Giải quyết vấn đề tài chính và lao động dôi dư

Trước khi thực hiện chuyển đổi sở hữu, các nước đều tiến hành giải quyết vướng mắc về tài chính đối với những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh không hiệu quả hoặc hiệu quả thấp Kinh nghiệm chỉ ra rằng, các DNNN vừa

và nhỏ có tính cạnh tranh có thể và cần được bán một cách nhanh chóng thông qua đấu thầu cạnh tranh Tuy nhiên, để tăng tính hấp dẫn của doanh nghiệp trước khi bán, các nước thường giải quyết dứt điểm một số vấn đề sau:

(1) Giải quyết các khoản nợ dây dưa, khả năng thanh toán thấp vì người mua không muốn nhận các khoản nợ này, còn chính phủ lại không muốn bỏ thêm tiền để thanh toán hộ doanh nghiệp

(2) Loại bỏ những tài sản, các dự án đầu tư không hiệu quả theo mệnh lệnh hành chính ở các DNNN trong các thời kỳ trước Đây là yêu cầu chính

đáng của các cổ đông tương lai

Trang 38

(3) Loại bỏ các chất thải không thích hợp để bảo vệ môi trường Đây là

điều kiện tiên quyết ở các nước Đông Âu, Trung á

(4) Giải quyết vấn đề lao động dôi dư bằng các biện pháp đồng bộ bảo

đảm về mặt xã hội, chẳng hạn như đào tạo lại, trả trợ cấp thôi việc và bảo hiểm thất nghiệp Bởi người mua không muốn kế thừa và giải quyết vấn đề phức tạp này [34,37,39]

2.2.1.2 Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc

Trung Quốc là quốc gia láng giềng với thể chế chính trị, kinh tế, văn hoá- xã hội có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam Trong quá trình cải cách, mở cửa, các DNNN Trung Quốc cũng phải đối đầu với rất nhiều khó khăn trong hoạt động và khả năng cạnh tranh, tạo thế đứng trên thị trường trong và ngoài nước Để giải quyết thực trạng này, ngay từ đầu thập niên 80, chính phủ Trung Quốc đã đề cập đến giải pháp cổ phần hoá Đặc biệt trong thập niên 90, giải pháp này được thể chế hoá và được coi là biện pháp hữu hiệu trong cải cách DNNN [dẫn theo 27]

a Quan điểm của Chính phủ Trung Quốc

Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, Chính phủ Trung Quốc coi việc cải cách xí nghiệp và cải cách sở hữu trong các DNNN là trọng tâm của chương trình cải cách kinh tế Quá trình cải cách DNNN của Trung Quốc thời gian qua được tiến hành theo 2 nội dung chính: Một là, cải cách cơ chế quản lý DNNN trên cơ sở giữ nguyên sở hữu nhà nước (chế độ hợp đồng cho thuê, hợp đồng kế hoạch); Hai là, thực hiện chuyển đổi

sở hữu (hình thành các công ty cổ phần, khuyến khích phát triển các doanh nghiệp tư nhân và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài)

Trang 39

Như vậy, cổ phần hoá DNNN ở Trung Quốc là một bộ phận của chương trình

đa dạng hoá sở hữu và là một trong các giải pháp cải cách DNNN Việc áp dụng giải pháp này đã được đề cập rất nhiều trong các văn kiện của Đảng và nhà nước đầu những năm 80 Quan điểm của chính phủ Trung Quốc là “tiến hành chuyển đổi sở hữu từ từ, không nhanh, không chậm và luôn tỉnh táo, thận trọng” [27]

b Quá trình thực hiện

Xuất phát từ quan điểm trên, tiến trình cổ phần hoá của Trung Quốc diễn ra chậm, giai đoạn thí điểm kéo dài và hình thức cổ phần hoá đơn nhất

(1) Giai đoạn thí điểm (từ 1978 đến 1997)

Trong các năm từ 1978 đến 1983, công cuộc cải cách DNNN ở Trung Quốc chủ yếu tập trung vào thực hiện nội dung thứ nhất, vấn đề cổ phần hoá mới chỉ trên giấy tờ Các năm tiếp theo (1984-1988), song song với việc thực hiện nội dung thứ nhất, chính phủ Trung Quốc đã bước đầu thực hiện chuyển đổi sở hữu DNNN Tuy nhiên việc thí điểm cổ phần hoá chỉ được tiến hành dưới hình thức thành lập Công ty cổ phần mới (cổ đông là nhà nước, tập thể và một số ít cá nhân) Đồng thời trong thời gian này, nhà nước vẫn nắm giữ cổ phần khống chế trong các doanh nghiệp có quy mô lớn và trung bình Do đó, việc chuyển

đổi các DNNN đang hoạt động sang Công ty cổ phần còn hạn chế Trong khi

đó, các xí nghiệp tập thể, tư nhân nông thôn (xí nghiệp hương trấn) lại phát triển rất nhanh ảnh hưởng không nhỏ đến tiến trình cổ phần hoá Trong các năm 1988-1991, mâu thuẫn mang tính cơ cấu đã bắt đầu xuất hiện do các xí nghi hương trấn phát triển chững lại, nền kinh tế Trung Quốc xuất hiện hiện tượng cung vượt cầu Nhưng công tác cổ phần hoá vẫn chỉ dừng lại ở tình trạng thí điểm

Trang 40

Từ năm 1992 đến 1997, trước tình trạng thua lỗ ngày càng gia tăng của các DNNN, chính phủ Trung Quốc đã ban hành nhiều chính sách nhằm đẩy mạnh việc cổ phần hoá DNNN và xây dựng chế độ doanh nghiệp hiện đại Tuy nhiên giai đoạn thí điểm vẫn tiếp tục kéo dài, tính đến năm 1993, các doanh nghiệp thí điểm cổ phần hoá trong cả nước đạt hơn 3.000 doanh nghiệp Số công ty có cổ phiếu được mua bán trên sở giao dịch chứng khoán Thượng Hải

và Thâm Quyến là 196, trong đó có 33 công ty đã phát hành loại cổ phiếu B, giá trị cổ phiếu trên thị trường đạt khoảng 400 tỷ nhân dân tệ

Nhìn chung, công tác cổ phần hoá ở Trung Quốc trong thời gian thí điểm mới chỉ dựa trên cơ sở tự nguyện của các DNNN mà chưa thực sự mở rộng thành một chủ trương có mục tiêu, chỉ tiêu rõ ràng Nếu so sánh với tổng số khoảng 305.000 doanh nghiệp (số liệu năm 1997) thì con số vài nghìn doanh nghiệp

được cổ phần hoá thực sự là khiêm tốn (chỉ chiếm gần 1%) Tuy nhiên, trong giai đoạn này chương trình cổ phần hoá của Trung Quốc cũng đạt được rất nhiều thành công Các doanh nghiệp đã cổ phần hoá đều hoạt động có hiệu quả, khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước tăng Mặc dù thấy được những ưu điểm của loại hình công ty cổ phần, song do có nhiều ràng buộc liên quan đến sở hữu, lao động, xã hội,… nên vấn đề cổ phần hoá ở Trung Quốc vẫn thường bị né tránh [27]

(2) Giai đoạn triển khai

Trước thực trạng ì ạch của tiến trình cổ phần hoá, cộng thêm sức ép từ việc làm ăn thua lỗ ngày càng lớn của DNNN, Đại hội lần thứ XV của Đảng Cộng sản Trung Quốc (9-1997) đã nhấn mạnh việc đẩy mạnh công tác cổ phần hoá

và xây dựng doanh nghiệp hiện đại theo công thức “củng cố doanh nghiệp lớn

và giải phóng doanh nghiệp nhỏ” với kế hoạch giảm dần theo 3 cấp:

Ngày đăng: 02/08/2013, 16:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chu Hoàng Anh (2003), Hỏi đáp về chính sách đối với lao động dôi d− và người lao động trong sắp xếp và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, Nhà xuất bản Lao động- Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về chính sách đối với lao động dôi d− "và ng−ời lao động trong sắp xếp và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc
Tác giả: Chu Hoàng Anh
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động- Xã hội
Năm: 2003
2. Ban chỉ đạo Đổi mới và Quản lý doanh nghiệp- Công ty Cổ phần thông tin kinh tế đối ngoại (2002), Cổ phần hoá giải pháp quan trọng trong cải cách doanh nghiệp nhà n−ớc, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ phần hoá giải pháp quan trọng trong cải cách doanh nghiệp nhà n−ớc
Tác giả: Ban chỉ đạo Đổi mới và Quản lý doanh nghiệp- Công ty Cổ phần thông tin kinh tế đối ngoại
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2002
3. Ban Đổi mới quản lý doanh nghiệp Thành phố Hà Nội (2001), Đánh giá tình hình thực hiện cổ phần hoá. Những kiến nghị xử lý về cổ phần hoácủa thành phố Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá "tình hình thực hiện cổ phần hoá. Những kiến nghị xử lý về cổ phần hoá "của thành phố Hà Nội
Tác giả: Ban Đổi mới quản lý doanh nghiệp Thành phố Hà Nội
Năm: 2001
4. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (2005), Thông tư số 13/2005/TT- BLĐTBXH ngày 25/2/2005 của Bộ Lao động, Thương Binh và Xã hội hướng dẫn chính sách đối với người lao động theo Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 13/2005/TT-BLĐTBXH ngày 25/2/2005 của Bộ Lao động, Th−ơng Binh và Xã hội h−ớng dẫn chính sách đối với ng−ời lao động theo Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ
Tác giả: Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
Năm: 2005
5. Bộ Tài chính (2005), Quyết định 2592/QĐ-BTC ngày 4/8/2005 của Bộ Tài chính ban hành quy trình kết hợp cổ phần hoá với niêm yết, đăng ký, giao dịch cổ phiếu tại các thị tr−ờng chứng khoán, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 2592/QĐ-BTC ngày 4/8/2005 của Bộ Tài chính ban hành quy trình kết hợp cổ phần hoá với niêm yết, đăng ký, giao dịch cổ phiếu tại các thị tr−ờng chứng khoán
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2005
6. Bộ Tài chính (2005), Công văn số 2499/TC-TCDN ngày 4/3/2005 của Bộ Tài chính về việc thực hiện Thông t− 126/2004/TT-BTC ngày 24/12/2004 của Bộ Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 2499/TC-TCDN ngày 4/3/2005 của Bộ Tài chính về việc thực hiện Thông t− 126/2004/TT-BTC ngày 24/12/2004 của Bộ Tài chính
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2005
7. Chính phủ (2002), Nghị định 41/2002/NĐ-CP ngày 11/4/2002 của Chính phủ về chính sách đối với lao động dôi d− do sắp xếp lại doanh nghiệp nhà n−ớc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 41/2002/NĐ-CP ngày 11/4/2002 của Chính phủ về chính sách đối với lao động dôi d− do sắp xếp lại doanh nghiệp nhà n−ớc
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2002
8. Chính phủ (2002), Nghị định 64/2002/NĐ-CP ngày 19/6/2002 của Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp nhà n−ớc thành công ty cổ phần, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 64/2002/NĐ-CP ngày 19/6/2002 của Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp nhà n−ớc thành công ty cổ phần
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2002
9. Chính phủ (2004), Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về việc chuyển Công ty nhà n−ớc thành công ty cổ phần, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về việc chuyển Công ty nhà n−ớc thành công ty cổ phần
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
10. Chính phủ (2004), Nghị định 180/2004/NĐ-CP ngày 28/10/2004 của Chính phủ về việc thành lập mới, tổ chức lại và giải thể công ty nhà n−ớc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 180/2004/NĐ-CP ngày 28/10/2004 của Chính phủ về việc thành lập mới, tổ chức lại và giải thể công ty nhà n−ớc
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
11. Chính phủ (2005), Chỉ thị 04/2005/CT-TTg ngày 17/3/2005 của Thủ t−ớng chính phủ về đẩy nhanh vững chắc cổ phần hoá Công ty nhà n−ớc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 04/2005/CT-TTg ngày 17/3/2005 của Thủ t−ớng chính phủ về đẩy nhanh vững chắc cổ phần hoá Công ty nhà n−ớc
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
12. Bộ Tài chính (2004), Thông t− 126/2004/TT-BTC ngày 24/12/2004 của Bộ tài chính về việc hướng dân thực hiện Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông t− 126/2004/TT-BTC ngày 24/12/2004 của Bộ tài chính về việc h−ớng dân thực hiện Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2004
13. Christine Stopp (1999), H−ớng dẫn đầu t− vào thị tr−ờng chứng khoán (Minh Đức, Hồ Kim Chung dịch), Nhà xuất bản Trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: H−ớng dẫn đầu t− vào thị tr−ờng chứng khoán
Tác giả: Christine Stopp
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
Năm: 1999
14. Phạm Ngọc Côn (2001), Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc
Tác giả: Phạm Ngọc Côn
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2001
15. Công ty Đầu t− khai thác Hồ Tây (2001), Ph−ơng án cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc Xí nghiệp nuôi cá Trúc Bạch, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph−ơng án cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc Xí nghiệp nuôi cá Trúc Bạch
Tác giả: Công ty Đầu t− khai thác Hồ Tây
Năm: 2001
16. Công ty Đầu t− khai thác Hồ Tây (2001), Ph−ơng án cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc Công ty dịch vụ vui chơi giải trí Hồ Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph−ơng án cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc Công ty dịch vụ vui chơi giải trí Hồ Tây
Tác giả: Công ty Đầu t− khai thác Hồ Tây
Năm: 2001
17. Công ty Phúc Thịnh (1998), Ph−ơng án cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc Công ty Phúc Thịnh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph−ơng án cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc Công ty Phúc Thịnh
Tác giả: Công ty Phúc Thịnh
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1998
18. Lê Duy Đồng (2001), “Chính sách đối với lao động trong doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi sở hữu”, Hội thảo Cổ phần hoá doanh nghiệp trong thời kỳ mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đối với lao động trong doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi sở hữu”, Hội thảo" Cổ phần hoá doanh nghiệp trong thời kỳ mới
Tác giả: Lê Duy Đồng
Năm: 2001
19. Trần Xuân Hà (2001), “Vai trò của thị trường chứng khoán đối với việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc ở Việt nam”, Hội thảo Cổ phần hoádoanh nghiệp trong thời kỳ mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của thị trường chứng khoán đối với việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc ở Việt nam”, Hội thảo" Cổ phần hoá "doanh nghiệp trong thời kỳ mới
Tác giả: Trần Xuân Hà
Năm: 2001
20. Nguyễn Văn Huy (2001), “Cổ phần hoá và đa dạng hoá sở hữu doanh nghiệp nhà nước- Thực trạng và định hướng tiếp tục đẩy mạnh”, Hội thảo Cổ phần hoá doanh nghiệp trong thời kỳ mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ phần hoá và đa dạng hoá sở hữu doanh nghiệp nhà nước- Thực trạng và định hướng tiếp tục đẩy mạnh”, Hội thảo" Cổ phần hoá doanh nghiệp trong thời kỳ mới
Tác giả: Nguyễn Văn Huy
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1.  Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần - Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi cổ phẩn và giải pháp hỗ trợ các công ty cổ phần thuộc sở nông nghiệp và phát triển nông thôn hà nội
Sơ đồ 2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần (Trang 21)
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần - Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi cổ phẩn và giải pháp hỗ trợ các công ty cổ phần thuộc sở nông nghiệp và phát triển nông thôn hà nội
Sơ đồ 2.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần (Trang 26)
Bảng 2.1. Quy mô DNNN đ−ợc sắp xếp lại qua các năm - Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi cổ phẩn và giải pháp hỗ trợ các công ty cổ phần thuộc sở nông nghiệp và phát triển nông thôn hà nội
Bảng 2.1. Quy mô DNNN đ−ợc sắp xếp lại qua các năm (Trang 45)
Bảng 2.2. Doanh nghiệp nhà n−ớc thuộc diện sắp xếp lại - Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi cổ phẩn và giải pháp hỗ trợ các công ty cổ phần thuộc sở nông nghiệp và phát triển nông thôn hà nội
Bảng 2.2. Doanh nghiệp nhà n−ớc thuộc diện sắp xếp lại (Trang 46)
Bảng 2.3. Một số chỉ tiêu tài chính của các công ty cổ phần hoạt động từ 1 - Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi cổ phẩn và giải pháp hỗ trợ các công ty cổ phần thuộc sở nông nghiệp và phát triển nông thôn hà nội
Bảng 2.3. Một số chỉ tiêu tài chính của các công ty cổ phần hoạt động từ 1 (Trang 51)
Bảng 4.1. Tình hình sản xuất, kinh doanh các đơn vị thuộc Sở Nông - Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi cổ phẩn và giải pháp hỗ trợ các công ty cổ phần thuộc sở nông nghiệp và phát triển nông thôn hà nội
Bảng 4.1. Tình hình sản xuất, kinh doanh các đơn vị thuộc Sở Nông (Trang 66)
Bảng 4.2. Tình hình cổ phần hoá các DNNN thuộc Sở Nông nghiệp và - Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi cổ phẩn và giải pháp hỗ trợ các công ty cổ phần thuộc sở nông nghiệp và phát triển nông thôn hà nội
Bảng 4.2. Tình hình cổ phần hoá các DNNN thuộc Sở Nông nghiệp và (Trang 68)
Sơ đồ 4.1. Tổ chức bộ máy quản lý sản xuất kinh doanh của công ty Phúc Thịnh  tr−ớc khi cổ phần hoá - Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi cổ phẩn và giải pháp hỗ trợ các công ty cổ phần thuộc sở nông nghiệp và phát triển nông thôn hà nội
Sơ đồ 4.1. Tổ chức bộ máy quản lý sản xuất kinh doanh của công ty Phúc Thịnh tr−ớc khi cổ phần hoá (Trang 69)
Bảng 4.3. Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty tr−ớc khi cổ phần - Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi cổ phẩn và giải pháp hỗ trợ các công ty cổ phần thuộc sở nông nghiệp và phát triển nông thôn hà nội
Bảng 4.3. Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty tr−ớc khi cổ phần (Trang 70)
Bảng 4.4. Số vòng quay của vốn - Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi cổ phẩn và giải pháp hỗ trợ các công ty cổ phần thuộc sở nông nghiệp và phát triển nông thôn hà nội
Bảng 4.4. Số vòng quay của vốn (Trang 71)
Sơ đồ 4.2. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty cổ phần Phúc Thịnh - Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi cổ phẩn và giải pháp hỗ trợ các công ty cổ phần thuộc sở nông nghiệp và phát triển nông thôn hà nội
Sơ đồ 4.2. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty cổ phần Phúc Thịnh (Trang 74)
Bảng 4.6. Kết qủa sản xuất kinh doanh sau cổ phần hoá tại Công ty cổ - Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi cổ phẩn và giải pháp hỗ trợ các công ty cổ phần thuộc sở nông nghiệp và phát triển nông thôn hà nội
Bảng 4.6. Kết qủa sản xuất kinh doanh sau cổ phần hoá tại Công ty cổ (Trang 75)
Bảng 4.7. Tình hình sản xuất kinh doanh Xí nghiệp nuôi cá Trúc Bạch - Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi cổ phẩn và giải pháp hỗ trợ các công ty cổ phần thuộc sở nông nghiệp và phát triển nông thôn hà nội
Bảng 4.7. Tình hình sản xuất kinh doanh Xí nghiệp nuôi cá Trúc Bạch (Trang 77)
Bảng 4.8. Một số chỉ tiêu sản xuất kinh doanh sau khi cổ phần hoá Công - Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi cổ phẩn và giải pháp hỗ trợ các công ty cổ phần thuộc sở nông nghiệp và phát triển nông thôn hà nội
Bảng 4.8. Một số chỉ tiêu sản xuất kinh doanh sau khi cổ phần hoá Công (Trang 79)
Bảng 4.9. Một số chỉ tiêu sản xuất kinh doanh sau khi cổ phần hoá Công - Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi cổ phẩn và giải pháp hỗ trợ các công ty cổ phần thuộc sở nông nghiệp và phát triển nông thôn hà nội
Bảng 4.9. Một số chỉ tiêu sản xuất kinh doanh sau khi cổ phần hoá Công (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w