1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thành phần sâu, nhện hại; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài sâu hại chính trên các giống chè nhập nội vụ xuân

85 764 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận Văn Thành Phần Sâu, Nhện Hại; Đặc Điểm Sinh Vật Học, Sinh Thái Học Của Loài Sâu Hại Chính Trên Các Giống Chè Nhập Nội Vụ Xuân
Người hướng dẫn GS- TS Nguyễn Viết Tùng
Trường học Đại Học Nông Nghiệp I
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 806,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn thành phần sâu, nhện hại; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài sâu hại chính trên các giống chè nhập nội vụ xuân

Trang 1

Lêi cam ®oan

Trang 2

Lời cảm ơn

Để hoàn thành luận văn này tác giả bày tỏ lòng biết ơn tới:

- GS- TS Nguyễn Viết Tùng là nguời hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo trong suốt quá trình làm đề tài

- Khoa Sau Đại Học trường Đại Học Nông Nghiệp I

- Tất cả các giáo viên Bộ môn Côn Trùng, Ban chủ nhiệm khoa Nông Học trường Đại Học Nông Nghiệp I đã góp ý để việc làm đề tài thuận lợi

- Ban lãnh đạo Viện nghiên cứu Chè đã tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập, làm đề tài

- Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật Viện nghiên cứu Chè đã tạo điều kiện về thời gian, nhân lực giúp đỡ tôi trong xuất thời gian qua

- Tất cả bạn bè và gia đình đã động viên giúp đỡ

Một lần nữa tôi bày tỏ lòng biết ơn tới mọi sự giúp đỡ đó

Xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, tháng 10 năm 2004 Tác giả

Trang 3

Phần 1: Mở đầu 1

Phần 2: tổng quan tài kiệu 3

2.1.1 Kết quả nghiên cứu thành phần sâu hại chè và xác định loài sâu hại

chính

3

2.1.4 Những nghiên cứu phòng chống sâu hại chè 10

2.2.1 Kết quả nghiên cứu thành phần sâu hại chè và xác định loài sâu hại

chính

14

2.2.2 Nghiên cứu đặc điểm của nhện đỏ hại chè 17

2.2.3 Nghiên cứu kẻ thù tự nhiên sâu hại chè 18

Phần 3: Vật liệu, địa điểm, nôi dung

3.1 Địa điểm nghiên cứu và thời gian nghiên cứu 23

Trang 4

Phần 4: kết quả nghiên cứu

4.1 Kết quả nghiên cứu thành phần sâu hại trên tập đoàn giống nhập

nội vụ xuân 2004 tại Phú Hộ và xác định loài gây hại chính

29

4.2 Kết quả nghiên cứu đặc tính sinh vật học của nhện đỏ nâu 37

4.2.1 ảnh hưởng của nhiệt độ đến phát triển cá thể của nhện đỏ 37

4.2.2 ảnh hưởng của giống chè đến phát triển cá thể của nhện đỏ 38

4.2.3 Tìm hiểu thời gian nở của nhện non trong ngày 39

4.2.4 Tìm hiểu đặc tính sinh vật học của loài Oligonycgus coffeae 40

4.2.4.2 Một số đặc điểm của nhện trưởng thành cái 44

4.3 Biến động mật độ nhện đỏ và rầy xanh trên đồng ruộng 47

4.3.1 Biến động mật độ của nhện đỏ trên đồng ruộng 47

4.3.1.1 Diễn biến mật độ nhện đỏ tại Phú Hộ 6 tháng đầu năm 2004 47

4.3.1.2 ảnh hưởng của lượng mưa đến quần thẻ nhện đỏ 48

4.3.1.3 Các yếu tố khí tượng nhiệt độ và lượng mưa ảnh hưởng tới nhện 49

4.3.1.4 ảnh hưởng của tuổi chè đến mật độ loài nhện trên đồng ruộng 51

4.3.1.5 ảnh hưởng giống chè tới mật độ nhện đỏ 52

4.3.1.6 ảnh hưởng của điều kiện canh tác đến diễn biến … 53

4.3.2 Biến động mật độ của loài rầy xanh trên đồng ruộng 55

4.3.2.1 Diễn biến mật độ rầy xanh trên đồng ruộng vụ xuân 2004… 55

4.3.2.2 ảnh hưởng tuổi chè đến diễn biến mật độ rầy xanh 56

4.3.2.3 ảnh hưởng giống chè đến diễn biến mật độ rầy xanh 57

4.3.2.4 ảnh hưởng của chế độ canh tác đến diễn biến mật độ rầy xanh 59

4.4 Kết quả nghiên cứu thành phần thiên địch sâu hại chè vùng Phú Hộ

năm 2004

61

4.4.1 Thành phần thiên địch sâu hại chè tại Phú Hộ vụ xuân 2004 61

4.4.2 Mối quan hệ giữa mật độ rầy xanh với mật độ nhện BMTS… 65

4.5 Kết quả thí nghiệm phòng chống rầy xanh và nhện đỏ bằng một số

thuốc hoá học, thảo mộc và sinh học

Trang 5

Danh môc c¸c tõ viÖt t¾t

NBMTS: NhÖn b¾t måi tæng sè

T: Th¸ng

Trang 6

Danh mục các bảng

Bảng 4.1 Thành phần sâu hại chè trên 2 khu giống nhập nội vụ

xuân 2004 tại Viện nghiên cứu Chè Phú Hộ

30

Bảng 4.2 Thực trạng tiến hành phòng chống các đối tượng dịch hại

trên 2 khu tập đoàn giống nhập nội

Bảng 4.5 ảnh hưởng của giống chè đến phát triển cá thể nhện đỏ 38

Bảng 4.6 Thời gian nở của nhện non tại điều kiện phòng 39

Bảng 4.11 Nhịp điệu đẻ trứng trong ngày của nhện đỏ 45

Bảng 4.12 Nghiên cứu ảnh hưởng của mưa đến quần thể nhện đỏ

Bảng 4.17 Thành phần thiên địch sâu hại chè vụ xuân 2004 62

Bảng 4.18 Hiệu lực trừ nhện đỏ cuả một số thuốc sinh học, thảo mộc

và hoá học

67 Bảng 4.19 Hiệu lực một số thuốc thảo mộc và sinh học đối với rầy xanh 69

Trang 7

Danh mục hình

Trang

Hình 4.1 Diễn biến mật độ nhện đỏ tại Phú Hộ vụ xuân 2004 47 Hình 4.2 Biến động mật độ nhện đỏ trên tuổi chè khác nhau 51 Hình 4.3 Diễn biến mật độ nhện đỏ trên các giống chè khác nhau 52 Hình 4.4 Diễn biến mật độ rầy xanh vụ xuân 2004 tại Phú Hộ 56 Hình 4.5 Diễn biến mật độ rầy xanh trên các tuổi chè khác nhau 57 Hình 4.6 Diễn biến mật độ rầy xanh trên các tuổi giống chè khác nhau 58 Hình 4.7 Mối quan hệ mật độ nhện lớn BMăT với mật độ rầy xanh 65 Hình A Triệu chứng gây hại của nhện đỏ nâu Phụ lụcHình B Hình thái trưởng thành loài nhện đỏ nâu -nt- Hình C Triệu chứnh gây hại của rệp sáp 3 sống nổi - nt- Hình D Hình thái và triệu chứng gây hại của bọ xít muỗi -nt-

Trang 8

Phần 1: mở đầu

1.1 Đặt vấn đề

Cây chè, Camellia sinensis (L.) O Kuntze, được trồng ở nước ta từ lâu đời chủ

yếu trồng ở các tỉnh trung du và miền núi, là loài cây trồng chiếm vị trí khá quan trọng cả mặt kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường Sản phẩm chè là đồ uống thông dụng và

có nhiều tác dụng tốt cho sức khoẻ [52]

Hiện nay, cây chè được coi là loại cây trồng xoá đói, giảm nghèo, phủ xanh đất chống đồi núi chọc bảo vệ môi trường sinh thái và góp phần phân bố dân cư giữa vùng đồng bằng và miền núi

Trong những năm gần đây, ngành chè Việt Nam thu được nhiều thành tựu và giống, kỹ thuật canh tác và mở rộng diện tích tới 116 800 ha ( tính hết năm 2003 [10]) Sản phẩm chè vừa tiêu thụ trong nước vừa xuất khẩu, giá trị xuất khẩu chè của nước ta khoảng 60 – 80 triệu USD Tuy nhiên, ngành chè nước ta phát triển còn thấp

so với tiềm năng cả về năng xuất, chất lượng và giá trị xuất khẩu Năng suất chè nước

ta chỉ đạt 5 tấn búp tươi/ha/năm thấp hơn nhiều so với các nước trồng chè khác như ấn

Độ, Srilanka, Indonesia, Malaixia … Nguyên nhân năng suất thấp do giống chè cho năng suất thấp, do kỹ thuật canh tác và do sâu bệnh phá hại nặng nề, trong đó sâu bệnh hại là một trong những nguyên nhân cơ bản giảm năng suất và sản lượng Theo thống kê hàng năm chúng ta có thể mất 15 – 30% sản lượng là so sâu, bệnh phá hại [26,27]

Để cải thiện chất lượng giống chè ngoài công tác chọn tạo, chúng ta còn có thể nhập nội đưa vào sản xuất hoặc làm nguồn vật liệu chọn tạo giống [9] Từ đặc điểm này,

Bộ NN& PTNN cho phép khu vực hoá trên diện rộng tại các vùng chè chủ lực đối với các giống nhập nội chất lượng cao: Bát Tiên, Thuý Ngọc, Kim Huyên, Keo Am Tích, Hùng Đỉnh Bạch, PT 95, Phú Thọ 10 và Long Vân 2000

Để cho công tác nhập nội giống thành công, chúng ta phải đánh giá được tình hình

sâu, bệnh hại Chính vì lẽ đó chúng tôi thực hiện đề tài “ Thành phần sâu, nhện hại;

Trang 9

đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài sâu hại chính trên các giống chè nhập nội vụ xuân 2004 tại Viện Nghiên cứu Chè Phú Hộ

1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích của đề tài

Trên cơ sở đánh giá tình hình sâu, nhện hại trên một số giống chè nhập nội, nhằm bình tuyển bộ giống chè có năng suất, phẩm chất phù hợp với điều kiện khu vực và ứng dụng vào sản xuất

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

* Nắm đ−ợc thành phần sâu, nhện hại trên các giống chè nhập nội và xác định loài hại chính

* Nắm đ−ợc diễn biến mật độ của loài nhện đỏ nâu, và rầy xanh trên đồng ruộng chủ yếu trên giống chè Trung Quốc lá to: PT95, Keo Am Tich và Phú Thọ 10 và giống Trung Quốc lá nhỏ LV2000

* Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài nhện đỏ nâu trên giống Trung Quốc lá nhỏ LV2000 và giống Trung Quốc lá to PT95

Trang 10

Phần 2: tổng quan tài liệu

2.1 Các kết quả nghiên cứu ngoài nước

2.1.1 Kết quả nghiên cứu thành phần sâu hại chè và xác định loài sâu hại chính

Qua nghiên cứu và thu thập về thành phần sâu nhện hại chè tác giả Hill và Cs (1988) [64] cho biết trên chè có 500 loài sâu và nhện hại chè, trong số đó phần lớn số loài có tính đặc trưng cho vùng sinh thái, chỉ khoảng 3% số loài có tính phân bố rộng giữa các vùng trồng chè Số loài hại tập chung nhiều nhất trên cây chè từ tuổi 35 trở đi

Số loài thu thập ở các vùng có sự khác nhau như ở ấn Độ đã thu thập được 250 loài, ở Malawi chỉ 10 -13 loài, còn ở Papua New có 13 loài ở khu vực nhiệt đới và á nhiệt

đới các loài gây hại nghiêm trọng là bọ xít muỗi (Helopeltis sp), bọ trĩ (Heliothrips haemorrhoidalis ), nhện đỏ son (Brevipalpus phoenicis) nhện đỏ (Oligonychus coffeae ) và nhện vàng (Polyphagotarsonemus latus)

Cho đến nay trên thế giới đã xác định được hơn 1000 loài dịch hại trên chè [74]

Từ năm 1959 tác giả Eden [60] đã xác định các loài hại quan trọng trên chè là:

- Sâu cuốn búp (Homona cofffearia) hại nặng ở Srilanka

- Bọ xít muỗi (Helopeltis sp) hại nặng ấn Độ, Srilanka

- Nhện đỏ (Oligonychus coffeae) hại tất cả các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới

- Rầy xanh (Empoasaca flavescens) hại nặng trên các giống chè Assam

- Bọ trĩ (Physothrips setiventris và Dendothrips bispinosus) hại ở vùng

Darjeeling

- Mọt đục cành (Xyleborus fornicatus) hại nghiêm trọng ở Srilanka

Nghiên cứu về mối hại chè thuộc họ Kalbtermitidae tại Srilanka Danthanarayana

và Cs (1970) xác định các loài quan trọng đó là:

i Loài Postelectrotermes militaris là loài gây hại mang tính cục bộ

ii Loài Neotermes greeni

Trang 11

iii Loài Glyptotermes dilatatus là loài gây hại rất quan trọng đối với chè con

có trường hợp chúng gây hại, chúng ta phải trồng lại toàn bộ [58]

Năm 1980 tại Malaixia cho biết đã xác định được 117 loài sâu hại chè trong đó

có 9 loài nhện [83]

Qua thu thập về thành phần sâu hại chè cho thấy ở Trung Quốc đã xác định được

200 loài sâu hại và 5 loài nhện, ở vùng Grosusin (thuộc Liên Xô cũ) thu được 66 loài, vùng Azecbaidan có 44 loài, vùng Kraxnoda có 25 loài, các nước trồng chè ở Châu Phi xác định 155 loài sâu hại và 4 loài nhện Loài gây hại chính ở ấn Độ và Indonesia là

bọ xít muỗi, còn ở Srilanka thì sâu cuốn búp hại nặng (Dẫn theo Hồ Khắc Tín, 1982) [39]

Các tác giả Koch (1978), Dharmadi (1979) đã khẳng định các loài gây hại chính

trên chè ở Indonesia là bọ xít muỗi (Helopeltis theivora và H antonii), sâu cuốn lá (Homona cofffearia) và các loài sâu đo ăn lá Đây là các loài thường xuyên phải phòng

chống bằng thuốc hoá học (dẫn theo Oomen, 1982)[77] Cũng theo tác giả Oomen cho

biết trên chè tại Indonesia có 5 loài nhện hại đó là nhện đỏ son (Brevipalpus pheonicis) nhện sọc trắng (Calcarus carinatus), nhện hồng (Acaphylla theae), nhện vàng (Tarsonemidae) và nhện đỏ nâu (Oligonychus cofffeae), trong đó loài nhện đỏ son (Brevipalpus phoenicis) là loài hại nghiêm trọng và phân bố rất rộng thường

xuyên phải tiến hành biện pháp phòng chống

Cùng nghiên cứu về nhện hại chè B Banerjee và Cranham (1985) [48] cho biết trên chè có 4 họ nhện nhỏ hại đáng kể, các loài như nhện đỏ nâu (O coffeae) hại nặng ở Phía bắc ấn Độ, Bangladesh, nhện đỏ son (B phoenicis) hại nặng phía nam ấn Độ, Srilanka và Indonesia, loài nhện sọc trắng (C carinatus) hại nặng phía nam ấn Độ, đây là loài hại lá Loài nhện hại búp (P latus) ghi nhận là dịch hại quan trọng trên chè từ trước năm 1900 Còn ở Nhật Bản cho biết loài nhện

kanzawai (Tetranychus kanzawai) là loài hại quan trọng nhất trên chè

Trang 12

Cho đến năm 1987 tại ấn Độ cho biết trên chè có 200 loài sâu hại chè Chúng hại tất cả các bộ phận trên cây chè, nhóm sâu quan trọng nhất là hại rễ, sâu chích hút và sâu ăn lá [82]

Tại Nhật Bản (1987) cho biết đã xác định được trên chè có 117 loài sâu hại trong

đó 9 loài nhện hại [87]

Kết quả nghiên cứu nhện hại chè tại Đài Loan thấy 4 loài nhện thuộc nhóm Tenuipalpids và 2 loài thuộc nhóm Tetranychus được xác định là những loài nhện hại chè ( Hu, 1966; Lo, 1968) cho đến nay tại khu vực này loài nhện kanzawai

(Tetranychus kanzawai) được coi là nhện hại chính (Lo, K.C và Cs, 1989) [69]

Tác giả Muraleedharan (1992) [73] cho biết có 300 loài côn trùng và nhện hại chè khắp các vùng Châu á Tác giả đã xếp các bộ hại quan trọng theo thứ tự là Acaria, Isoptera, Hemiptera, Thysanoptera, Lepidoptera, Coleoptera, và tuyến trùng Nematod Nghiên cứu diễn biến thành phần loài sâu hại trên chè trong điều kiện không phun thuốc tại Quảng Châu tác giả Zie Z L (1991)[92] cho biết:

Giai đoạn 1: Từ khi trồng đến khi cho thu hoạch côn trùng cư trú ở lá và búp non,

loài sâu hại chủ yếu là Caloptilia theivora, Petaphora sp, Clania missnuscula

Giai đoạn 2: Khi cây chè ở đỉnh cao về sản lượng và có chiều hướng suy thoái: Sâu hại chỉ gây thiệt hại nhẹ vì chúng bị thiên địch khống chế, các loài chủ yếu

Casmara patrona và Xyleborus fornicatus

Và tác giả cho biết chỉ số cân bằng quần thể và chỉ số đa dạng quần thể đạt tối đa vào thời kỳ cây chè ở đỉnh cao sản lượng

Theo Rattan (1992) [79] cho biết ở Châu Phi có tới 200 loài côn trùng và nhện hại chè nhưng các loài hại chính chỉ chiếm số ít, Các loài quan trọng gồm bọ xít muỗi

(Helopeltis schoutedeni và H orophila), bọ trĩ (Thrips spp.) rệp muội (Aphidae), một

số sâu ăn lá thuộc Lepidoptera và nhện hại

Năm 1993 tác giả Waterhouse [89] cho biết chè ở vùng Đông nam Châu á có 28 loài hại chủ yếu ở các vùng có số lượng sâu hại chính khác nhau như ở Thái Lan 7 loài,

Trang 13

Malaixia 16 loài, Indonesia 6 loài, Philippin 5 loài, Singapo 5 loài, Đài Loan 13 loài Các loài chủ yếu là bọ trĩ, bọ xít muỗi, rầy xanh và nhện đỏ Tác giả cũng cho biết loài

rầy xanh (E vitis) cũng tìm thấy ở các nước Indonesia, Myanmar, Thái Lan và Việt

Nam

Nghiên cứu thành phần sâu hại chè vùng Đông bắc ấn Độ tác giả Barboka (1994) [49] cho biết có 400 loài sâu dịch hại Còn tác giả Murleedharan và Cs (1991) [72] cho biết ở ấn độ có hơn 300 loài sâu, nhện hại chè, các loài quan trọng là Bọ xít muỗi

(Helipeltis theivora) bọ trĩ (Scirtothrips spp) và nhện đỏ (Oligonychus coffeae), tuy

nhiên ở các vùng sinh thái đặc trưng thì có các loài sâu hại quan trọng khác nhau Bằng phương pháp điều tra biện pháp phòng chống dịch hại chè ở Nhật Bản,

Takafuji và Cs (2001) [86] cho biết dịch hại chính là sâu cuốn lá (Homona magnanima) và nhện kanzawai (Tetranychus kanzawai) tiếp đến là rầy xanh (Empoasaca onukii) và bọ trĩ (Scirtothrips dorsalis)

Tại Bangladesh qua nghiên cứu đã thu thập được 29 loài dịch hại chân đốt trong

đó 25 loài sâu hại, 4 loài nhện Các tác giả cho biết ở mỗi vùng sinh thái, khí hậu khác nhau thì có loài sâu hại chủ yếu và thứ yếu mang tính đặc trưng và các loài sâu hại trở thành chủ yếu hay trở thành thứ yếu phụ thuộc theo năm, theo mùa và theo từng khu vườn trồng chè [47]

2.1.2 Những nghiên cứu về nhện đỏ hại chè

Năm 1970 Danthanarayana và Cs [57] cho biết nhện đỏ được coi là dịch hại quan trọng nhất trong mùa khô, mật độ đạt đỉnh cao giữa 2 mùa khô, quần thể nhện đỏ có mối quan hệ chặt với lượng mưa

Theo Jeppson và Cs (1975) [66] Nhện đỏ, Oligonychus coffeae, được xác định

tại ấn Độ từ 1868 sau đó được tìm thấy ở Srilanka, phía Đông và Nam châu Phi, Châu

á, Châu Đại Dương, Châu Mỹ và Trung Đông, được coi là loài sâu hại quan trọng trên chè ngoài ra còn tìm thấy trên cà phê, cao su, đay, cam, xoài… rất nhiều cây trồng nhiệt đới Nhện phân bố chủ yếu trên mặt lá, nhưng có thể phân bố ở 2 mặt lá và lá

Trang 14

non trong điều kiện khô hạn mật độ nhện cao nhất vào cuối tháng 3 đầu tháng 4, thiệt hại năng xuất chủ yếu T5 –T6 cho đến khi có mưa Mưa có tác dụng rửa trôi

ảnh hưởng điều kiện ngoại cảnh: Trứng không thể nở được ở điều kiện >34 0C

và 17%RH, ở 33 0C, < 72%RH trứng không nở, khi RH >72% có ít trứng nở, nhiệt độ thích hợp phát triển 20 -300C, ẩm độ 49 -94%, trong điều kiện này có thể có 22 thế hệ/ năm, ở điều kiện 220C vòng đời 14- 15 ngày, con cái có thể đẻ 10 – 50 trứng Mùa

đông nhện tập chung chủ yếu ở lá già, lá cây con do vậy đốn loại bỏ càng nhiều càng lá thì nhện càng ít hại, chè đốn sớm hại nhiều hơn chè đốn muộn, chè trồng hạt ít hại hơn chè trồng cành

Tác giả Banerjee B và Cs (1985) [48] nhện đỏ là, O coffeae, là loài bùng phát số

lượng một cách thường xuyên ở vùng phía Bắc ấn Độ hơn là vùng phía nam ấn Độ và Srilanka, chúng hại trên rất nhiều cây trồng tại các nước Đông Nam Châu á, Châu Phi, vùng Trung Đông ở trên chè, nhện đỏ xuất hiện ở mặt trên lá trưởng thành, sinh trưởng phát triển quanh năm không có giai đoạn diapause, mặc dù mùa đông cây chè ở

trạng thái ngủ nghỉ (ở vùng Đông Bắc ấn Độ) Das 1959 cho biết O cofffeae thích hợp

cho sự phát triển 25 - 300C, ẩm độ không khí 50 - 94%, vòng đời 9 – 12 ngày mùa hè, khoảng 30 ngày ở mùa đông, 1 con cái có thể đẻ 40 – 50 trứng, chúng đẻ suốt trong ngày (dẫn theo Banerjee 1985) Mật độ bùng phát T2-3 đến T5 trước khi có mưa lớn ở T7 –T8, cũng như ở phía Nam ấn Độ mật độ nhện cao ở giữa 2 mùa mưa, mưa lớn có tính rửa trôi Tác giả cũng cho biết trên giống chè Trung Quốc nhện hại hơn giống Assam Đối với chè sinh trưởng kém, đất dinh dưỡng kém, khô hạn, không có hoặc ít cây che bóng thì bị hại nặng đến rất nặng, bón phân amoni sunfat thì thiệt hại do nhện giảm Đốn đau và càng loại bỏ nhiều lá còn lại trên bụi chè thì thiệt hại của nhện càng giảm Khi tiến hành biện pháp phòng chống tác giả cho biết ở ngưỡng 3 – 4 con/ cm2lá thì thiệt hại về năng xuất 5 – 10%, nếu chè bị nhện hại nặng thì có thể bị chết Tác

giả còn cho biết trên chè còn có loài nhện đỏ kanzawai (Tetranychus kanzawai) hại

chè phân bố ở Nhật, Philippine, ngoài chè loài này còn hại cây trồng thuộc họ hoa

Trang 15

thập tự và họ hoa hồng Khác với loài O coffeae, loài T kanzawai có các đặc

điểm:

1 Hại búp chè làm giảm trực tiếp về năng suất

2 Có cả 2 trạng thái diapause và không diapause (tác giả Osakabe 1962 tìm thấy nhện kanzawai có diapause ở Kanaya)

3 Nó có thể phát triển tính chống chịu thuốc hoá học (Osakabe 1974)

Khi nghiên cứu đặc tính sinh học của loài O cofeae tác giả Banerjee 1976 cho

biết tỷ lệ tăng trưởng tự nhiên rm = 0,356 (dẫn theo Lê Thị Nhung 2001 [24])

Kết quả nghiên cứu cho thấy loài O coffeae có thể đẻ 80 trứng, tỷ lệ đực: cái

trong quần thể 1: 1,2 [46]

2.1.3 Nghiên cứu kẻ thù tự nhiên sâu hại chè

Rất nhiều tác giả đã và đang nghiên cứu thành phần và vai trò của thiên địch trong việc hạn chế số lượng sâu hại chè

Năm 1982 tác giả Oomen [77] sau khi nghiên cứu nhện hại chè tại Indonesia đã thu được 24 loài thiên địch, trong đó lớp nhện chiếm số lượng chủ yếu (22/ 24 loài) và bọn này có ý nghĩa lớn trong hạn chế số lượng nhện hại chè, 2 loài còn lại thuộc lớp côn trùng ở lớp nhện các loài quan trọng thuộc nhóm phytoseiid đặc biệt là

Amblyseius spp

Trong nỗ lực tìm ra phương hướng phòng chống nhện hại cây trồng có hiệu quả, các tác giả Sabelis [80], Santos and Laing [81], Chazeau [53] và Van de Geest [88] cho biết thu được rất nhiều thiên địch của nhện, chúng thuộc lớp nhện, côn trùng và bệnh

Nghiên cứu thiên địch của nhện đỏ, Oligonychus coffeae, tác giả Banerjee (1985)

[48] cho biết có rất nhiều loài nhện thuộc họ Phytoseiidae, Stigmaeidae, các loài côn trùng thuộc họ bọ rùa như Stethorus gilvifron, các loài thuộc họ Chyrysopidae, họ Staphylinidae là thiên địch của nhện đỏ và các loài nhện hại chè khác tuy nhiên các loài này không hạn chế được sự bùng phát thành dịch của nhện đỏ ở thời kỳ đầu mùa xuân

Trang 16

Kết quả điều tra thành phần thiên địch của nhện kanzawai trên chè tại Đài Loan

tác giả Lo (1989) [69] thấy 2 loài quan trọng là Stethorus loi và Amblysius womersleyi Loài S loi có sức ăn lớn có thể hạn chế được mật độ của nhện tuy nhiên

loài này thường xuất hiện muộn so với nhện nên không có vai trò hạn chế được nhện,

còn loài A womersleyi có hiệu quả tốt điều chỉnh mật độ nhện vì chúng xuất hiện sớm

kể cả lúc mật độ nhện thấp Tuy nhiên, loài này lại bị các hợp chất Carbaryl, Dursban, Carbofuran, Pyrethroid, Permethrin tiêu diệt

Theo Borthakur và Sarmah (1992) cho biết đã xác định được 13 loài thiên địch sâu hại chè đó là các loài nhện, bọ rùa, bọ xít và ong ký sinh [41]

Trong 10 năm nghiên cứu về thành phần nhện lớn trên chè (1981 – 1990) ở tỉnh Triết Giang – Trung Quốc tác giả Chen Y.F, 1992 [54] đã thu thập 110 loài nhện thuộc 21 họ trong số đó có tới 94% số loài là thiên địch sâu hại chè, 6 loài chiếm ưu

thế là Phintella bifurcilinea, Clubiona deletrix, Tetragnatha praedonia, Conopistha

sp, Neriene oidedicata, và Neriene sp Sau khi nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

tác giả cho biết các loài này là thiên địch chính của rầy xanh (Empoasaca pirisuga),

bọ phấn (Aleurocanthus spiniferus), rệp muội (T aurantii) Còn ở ngoài đồng mật

độ nhện lớn phụ thuộc vào quần thể sâu hại, thuốc hoá học, kỹ thuật chăm sóc và thời tiết khí hậu

Kết quả nghiên cứu về các loài nhện BMĂT của rầy xanh tác giả Zhang J W 1993

[91] cho biết tại Hồ Nam có 2 họ Saltidae và Liocranidae phổ biến hơn các họ khác Các loài hay bắt gặp của họ Saltidae là Evarcha albaria, Talamonia bifurcilinea, Phintella bifurcilinea và Jotus minutus (Lycidas minutus) Trong họ Clubionidae có các loài phổ biến Clubiona corrugata và Clubiona japonicola chúng xuất hiện cao điểm ở tháng 6 Qua điều tra và nghiên cứu phòng trừ nhện đỏ , O coffeae, ở vùng đông bắc ấn

Độ và vùng Bengal trong giai đoạn T 7/1993 – T 6/1995 tác giả Somchoudhurg et al

1995 [84] đã thu thập được 39 loài thiên địch thuộc các họ Phytoseiidae, Stigmaeidae, Canaxidae, Erythiadae, Bdeliidae, Tydeidae, Ascidae và Anystidae

Trang 17

Tại tỉnh Quý Châu – Trung Quốc năm 1996, Dai Xuan [56] đã thu thập và mô tả

được 72 loài nhện lớn BMĂT thuộc 16 họ của bộ Araneidae Tác giả kết luận tất cả các loài này đều là thiên địch quan trọng của rầy xanh

2.1.4 Những nghiên cứu phòng chống sâu hại chè

Ngay từ 1958 Eden [60] đã đề xuất các biện pháp phòng trừ sâu hại chè trong đó biện pháp đầu tiên là tác động vào nguồn thức ăn của sâu hại theo 3 hướng:

i Tăng cường sử dụng các giống không hấp dẫn với sâu hại

ii Tác động cho cây sản sinh ra các mô độc bằng cách thấm nước thuốc

iii Dùng biện pháp trồng trọt tránh giai đoạn mẫn cảm của cây trồng trùng với

đỉnh cao của dịch hại

Trong 3 hướng trên tác giả cho biết ở hướng thứ 3 có nhiều khả năng tiến hành và

dễ thành công nhất

Năm 1991 tác giả Das S.C và Cs [59] cho biết để phòng chống 12 loài sâu hại chủ yếu dựa vào biện pháp kỹ thuật canh tác dưới điều kiện thời tiết lạnh đó là: Xới xốp đất quanh gốc chè, thu nhặt nhộng và sâu non bộ cánh vẩy, đốn bề mặt chè, phủ

đất giữa hai hàng chè, phun thuốc 1 -2 lần cho vật liệu phủ đất để trừ bọ hung, bọ trĩ các biện pháp này làm giảm sâu non ở vụ thu hái

Tuy nhiên biện pháp phòng chống sâu hại chè chủ yếu dựa vào biện pháp hoá học

mà các tác giả nghiên cứu vào các đối tượng riêng rẽ như là rầy xanh, bọ trĩ và nhện

đỏ

* Phòng chống đối với rầy xanh

Kết quả thí nghiệm khảo sát một số thuốc trừ sâu đối với rầy xanh, Haas (1987) [63] cho biết một số thuốc có hiệu lực trừ rầy là: Dimethoat, Acephate, Phosphalon và hỗn hợp Trichlofon + Femitrothion

Tại Đài Loan, năm 1988 tác giả Chen và Tseng [55] sau khi tiến hành thí nghiệm phòng chống sâu hại chè cho biết thuốc Karate có hiệu quả phòng trừ cao đối với loài

Empoasca formosana

Trang 18

Phòng chống rầy xanh tác giả Muraleedharan, N (1991) đã khuyến cáo biện pháp kết hợp biện pháp hái (làm giảm số lượng lớn trứng rầy và rầy non) với phun 2 loại thuốc có hiệu lực cao đó là Endosufat và Phosalone [72]

Kết quả thí nghiệm phòng chống rầy xanh tại Quảng Châu tác giả Lai (1993) [67] thấy thuốc Buprofezin có hiệu lực trừ rầy xanh cao và kéo dài tới 30 ngày, hiệu lực trừ rầy đạt 91,2 – 96,9% sau 14 ngày

Để giải quyết sự thất bại trong phòng chống bọ trĩ bằng phương pháp hoá học mà chúng vẫn gây thiệt hại hàng năm khoảng 20 triệu USD trên tất cả các cây trồng, các tác giả Parrella và Cs (1997) [78] đề xuất biện pháp quản lý bọ trĩ tổng hợp (IPM) trên cơ sở:

i Tìm hiểu đặc tính sinh học của bọ trĩ trên đồng ruộng, mức độ gây hại và ngưỡng gây hại kinh tế

ii Sự phân bố trên cây và sự xâm nhiễm để có phương pháp điều tra, dự tính dự báo

iii Sử dụng giống kháng

iv Sử dụng thiên địch quan trọng trong điều hoà số lượng quần thể bọ trĩ

v Sử dụng biện pháp canh tác vật lý

vi Sử dụng chiến lược phòng chống bằng biện pháp hoá học hợp lý

Qua thực tế các tác giả trên cho thấy biện pháp IPM có hiệu quả rất tốt và đang

áp dụng thành công trên cây cải bắp, cây lạc còn các cây trồng khác đang thử nghiệm Mặc dù biện pháp này có hiệu quả nhưng các tác giả cũng khẳng định biện pháp sử

Trang 19

dụng thiên địch không có vai trò ý nghĩa quan trọng trong việc hạn chế số lượng bọ trĩ trên đồng ruộng

* Phòng chống đối với nhện đỏ

Năm 1985 Banerjee [48] cho biết thuốc trừ nhện hại trên chè đó là Dicofol, Ethion, lưu huỳnh vôi, Thiometon và Dimethoat sau một thời gian dài chưa thấy loài

O cofffeae có tính kháng thuốc Tuy nhiên đối với nhện T kanzawai ghi

nhận thấy tính kháng thuốc đối với Organophophates, Docofol và các hợp chất tương

tự Dicofol

Ngoài những thuốc trừ nhện kể trên chúng ta còn có thể dùng Endosufat kết hợp với dầu khoáng cho hiệu lực trừ nhện tốt Các tác giả còn cho biết thuốc trừ nấm Binapacryl cũng có thể trừ nhện (thuốc này chỉ tiêu diệt được giai đoạn nhện non và trưởng thành, không trừ được giai đoạn trứng) [64] [85]

Tác giả Mkwaila (1990) [70] thí nghiệm cho biết 2 loại thuốc Tedion và Karate

đều có hiệu quả phòng trừ nhện đỏ tốt

Biện pháp sinh học cũng được áp dụng phòng chống nhện đỏ hại chè, tại Đài

Loan cho biết khi thả 2 loài A fallacis và P permisilis để phòng chống nhện

kanzaiwai với diện tích nhỏ kết quả bước đầu có hiệu quả tốt và đang áp dụng ở diện rộng (Lo và Cs (1989) [69])

Tuy nhiên biện pháp sinh học nhiều lúc lại không được như ý vì các loài thiên

địch rất dễ bị tiêu diệt với các hợp chất hoá học khi tiến hành phòng chống dịch hại (Lo (1989) [69], Takashi Noda 2002 [75]) Trong khi đó biện pháp hoá học trong giai

đoạn hiện nay vẫn chưa thể thay thế Do vậy, D J Greathead [61] đưa ra biện pháp kết hợp giữa thuốc trừ dịch hại và thiên địch, phương pháp này dựa trên 3 lựa chọn

i Tuyển chọn bộ thuốc trừ dịch hại có phổ tác dụng rộng

ii Sử dụng thuốc có tính chọn lọc

iii Thả thêm vào các loài thiên địch có tính kháng thuốc

Trang 20

ở hướng thứ 3 này được các nhà sinh thái và côn trùng học quan tâm, tuy nhiên

để phương pháp này phối hợp có hiệu quả cần thiết chúng ta phải hiểu được rõ về hệ thống – hệ sinh thái, mối quan hệ dịch hại và thiên địch hơn là kỹ thuật tiến hành

Năm 1986 Hamainura đã sử dụng loài A longspinosus có tính kháng thuốc để trừ nhện đỏ Tetranychus kanzawai ở Nhật Bản có kết quả tốt (dẫn theo Mori et al

1989)[71]

2.2 Các kết quả nghiên cứu trong nước

2.2.1 Kết quả nghiên cứu thành phần sâu hại chè và xác định loài sâu hại chính

Nghiên cứu điều tra thành phần sâu hại chè được rất nhiều tác giả quan tâm, ngay

từ đầu thế ký 20, sau 10 năm quan trắc trên chè Du Pasquer R đã thu được 35 loài sâu, bệnh hại trên chè trong đó có 24 loài sâu, nhện hại, trong đó các loài thường xuyên gây hại là rầy xanh, nhện đỏ, nhện tím, nhện trắng, bọ xít hoa, sâu chùm và dế, đồng thời tác giả còn đưa ra lịch phát sinh sâu, bệnh hại và khẳng định quần thể sâu, bệnh hại khác nhau rất lớn giữa các vùng Đông Dương, ấn Độ, Srilanka, Indonesia (dẫn theo Đỗ Ngọc Quỹ, 1997, [26])

Kết quả điều tra côn trùng miền Bắc Việt Nam (1967 – 1968), Viện BVTV đã xác định 34 loài sâu, nhện hại chè thuộc 6 bộ, có 7 loài thường xuyên xuất hiện đó là:

sâu chùm (Andraca bipuntata), sâu cuốn lá (Cacoecia micaceana), rệp sáp xanh (Coccus viridis), rầy xanh (Empoasca flavescens), bọ xít muỗi (Helopeltis sp.), bọ xít hoa (Poecilocoris latus) và mối (Odontotermes sp.)[41]

Trong cuộc điều tra côn trùng và bệnh cây ở các tỉnh phía Nam 1977- 1978, Viện BVTV [43] thu thập được 41 loài sâu và nhện hại chè trong đó các loài gây hại

Trang 21

chính là: Bọ trĩ (Anophothrips theivorus), sâu tiện vỏ (Arbela dea), rầy xanh (Empoasca flavescens và Empoasca onukii), loài Eterusia aedae, bọ xít muỗi (Helopeltis antonii và H theivora), sâu cuốn lá (Homona cofearia) và bọ xít hoa (Poecilocoris latus)

Năm 1982 Hồ Khắc Tín [39] có nhận xét sâu hại chè vùng Bắc Bộ thường có rầy xanh, bọ cánh tơ, bọ xít muỗi, một số sâu ăn lá và nhện đỏ Bọ xít muỗi trở thành dịch hại nguy hiểm đối với vùng chè ở Trung Du

Trong giai đoạn 1986 – 1987, Trạm nghiên cứu Phú Hộ – Viện Cây công nghiệp [44] tiếp tục nghiên cứu và xác định sâu hại quan trọng đó là: rầy xanh, nhện đỏ, bọ trĩ, còn bọ xít muỗi chỉ hại cục bộ một số vùng và trên một số giống

Ngiên cứu thành phần sâu hại tại Nông trường Sông Cầu – Bắc Thái năm 1990 tác giả Phạm Thị Vượng và Nguyễn Văn Hành [45] đã thu được 21 loài sâu, nhện hại, trong đó các loài sâu hại chính đó là: rầy xanh, bọ trĩ, nhện đỏ và mối

Kết quả nghiên cứu giai đoạn từ 1986 – 1993 tại Phú Hộ, Nguyễn Văn Thiệp [32] xác định 35 loài sâu, nhện hại chè thuộc 7 bộ, tác giả không bắt gặp sâu

chùm (Andraca bipuntata) mà loài này phổ biến trước những năm 1980 Tác giả

xác định 4 loài gây hại chủ yếu: rầy xanh, nhện đỏ, bọ trĩ và rệp phẩy

Kết nghiên cứu mối hại chè ở thời kỳ kiến thiết cơ bản các tác giả Lê Thị Nhung

và Nguyễn Thị Vân 1994 [21] thấy có 3 loại mối hại chè đó là Odontotermes formosanus, Microtermes sp và Macrrotermes sp. hại với tỷ lệ 10,7 – 62,6% số cây Các tác giả Đỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Kim Phong (1997)[26] và Nguyễn Khắc Tiến (1988)[37] cho biết ở Việt Nam đã thu được 45 loài sâu và 4 loài nhện hại chè, trong

đó các loài hại chính là: Bọ xít muỗi, rầy xanh, bọ cánh tơ và nhện

Kết quả nghiên cứu thành phần nhện hại chè tác giả Nguyễn Khắc Tiến và CTV (1994) [38] cho biết đã xác định có 5 loài nhện nhỏ hại chè đó là: nhện đỏ nâu

(Olygonychus coffeae), nhện đỏ tươi (Brevipalpus californicus), nhện sọc trắng (Calacarus carinatus), nhện hồng (Eryophyes theae) và nhện vàng (Hemitarsonemus latus) trong đó hai loại nhện đỏ nâu và nhện đỏ tươi là đối tượng hại quan trọng

Trang 22

Điều tra nghiên cứu thành phần sâu hại chè vùng Bắc Thái giai đoạn 1990 –

1995 tác giả Hoàng Thị Hợi (1996) [11] đã xác định được 26 loài sâu và 2 loài nhện hại trong đó có 4 loài hại quan trọng là: rầy xanh, bọ cánh tơ, bọ xít muỗi và nhện đỏ

đây cũng là các loài gây hại chính mà tác giả Đỗ Ngọc Quỹ và CTV (2000) [27] xác

định

Năm 1998 tác giả Lê Thị Nhung [24] điều tra thu thập được 23 loài sâu nhện hại chè trong đó các loài hại chính được tác giả khẳng định: rầy xanh, bọ cánh tơ, ngoài ra còn thấy bọ xít muỗi, nhện hồng và nhện đỏ tươi cũng hại đáng kể

Theo kết quả điều tra năm 1999 tác giả Hoàng Ngọc Đường và CS [8] đã thu

được 24 loài côn trùng và nhện hại chè

Trong giai đoạn nghiên cứu từ 1995 - 2000 tại vùng Phú Thọ tác giả Lê Thị Nhung, 2001 [24] nghiên cứu nhóm sâu hại chích hút đã thu được 17 loài sâu, nhện hại búp chè Tác giả thấy 2 loài là rầy xanh, bọ cánh tơ có phổ gây hại và mức độ gây hại rộng sau đó đến bọ xít muỗi

Các kết quả nghiên cứu thành phần sâu hại chè các tác giả Nguyễn Văn Hùng và CTV ( 1998, 2000, 2001) [14] [15] [16] khẳng định có 46 loài sâu hại, 5 loài nhện Các tác giả trên cùng với tác giả Đỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Kim Phong (1997) [26] chia

ra các nhóm hại theo bộ phận là:

* Nhóm hại búp: Rầy xanh, bọ xít muỗi, bọ cánh tơ, sâu cuốn lá non, rệp muội hại búp, nhện vàng hại búp non … Trong nhóm này chú ý nhất là rầy xanh, bọ xít muỗi, bọ cánh tơ và sâu cuốn búp

* Nhóm hại lá: Có rất nhiều loài thuộc bộ cánh vẩy (Lepidoptera) như sâu róm,

bọ nẹt, sâu kèn cùng với nhóm nhện thuộc Acarina thường tích luỹ số lượng bùng phát gây hại nghiêm trọng

* Nhóm hại hoa quả: Có bọ xít hoa hại quả làm mất sức nảy mầm có ý nghĩa trong chọn giống chè theo phương pháp lai hữu tính

* Nhóm hại cành, thân, rễ: Có rất nhiều loài gây hại trong đó quan trọng nhất là mối, dế cắn chè con tuổi 1

Trang 23

Các tác giả này còn khẳng định thành phần sâu hại chè ở Việt Nam gần giống với một số nước vùng cận nhiệt đới như Gruzia, Srilanka, Indonesia tuy nhiên ở các nước này có một số loài sâu hại mà ở Việt Nam không thấy có

2.2.2 Nghiên cứu đặc điểm của nhện đỏ hại chè

Nhện đỏ nâu, Oligonychus coffeae, được Du Pasquer xác định là một trong những

loài gây hại chủ yếu ở nước ta từ những năm 1930, còn nghiên cứu về sinh học của nó chỉ được tiến hành từ những năm 1990

Tác giả Nguyễn Văn Đĩnh (1994) [6] cho biết loài O coffeae sống ở trên mặt lá

già, lá bánh tẻ, các vết châm có màu thâm nâu hoặc đồng xám trên mặt lá, khi bị hại nặng kèm theo nóng và hạn thì 2 – 3 tháng chè không cho thu hoạch búp Thời gian phát dục của nhện ở giai đoạn trứng là 4,29 ngày, tuổi 1 là 1,82 ngày, tuổi 2 là 1,73 ngày, tuổi 3 là 2,36 ngày, vòng đ ời 11,53 ngày, đời 20,54 ngày, nhện có thể giữ tỷ lệ sống tự nhiên 100% cho tới 18 ngày, tỷ lệ tăng trưởng tự nhiên rm= 0,213 – 0,232, tuỳ từng giống cao nhất là giống PH1, Trung Du Mật độ trên các giống cũng có sự khác nhau cao nhất trên giống PH1 rồi đến giống 1A, Trung Du, Shan tham Vè… Về kỹ thuật đốn cho thấy ở đốn phớt và không đốn cây chè có mật độ nhện cao hơn ở chè

đốn đau, mưa mùa hè có tác động rõ rệt đến quần thể nhện

Theo tác giả Nguyễn Khắc Tiến (1994) [38] thấy loài O coffeae trải qua các giai

đoạn phát triển: Trứng, nhện non, tiền trưởng thành I, tiền trưởng thành II và giai đoạn trưởng thành, nhện có khả năng chăng tơ có thời gian phát dục tương ứng từng pha là 4,2 – 5,2 ngày, 1,5 – 2,5 ngày, 2,5 – 3 ngày, 2,5 – 3 ngày, trưởng thành đẻ trứng 3 – 4 ngày, vòng đời 14 – 17 ngày, đời 19 – 24 ngày Tác giả cho biết trên chè thâm canh và chè có cây che bóng có số nhện hại giảm 29 – 45,5%, lô chè sản xuất kinh doanh mật

độ nhện cao hơn chè vườn

Các kết quả nghiên cứu về loài O coffeae, Nguyễn Văn Hùng và CTV (1998,

2000, 2001) [14][15][16], Nguyễn Văn Đĩnh (2001) [6] và Nguyễn Thái Thắng (2000) [31] cho biết nhện đỏ nâu phát triển qua các giai đoạn trứng, nhện non, tiền trưởng thành I, tiền trưởng thành II và trưởng thành, vòng đời 19 – 24 ngày thời gian phát

Trang 24

sinh mạnh vào T2 – T5 và T9 – T11, nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển 25 – 300C Qua điều tra thấy, các giống nhiễm nặng là PH1, Trung Du, giống nhiễm trung bình TRI 777, TH3, Giống nhiễm nhẹ 1A, LDP1 Biện pháp kỹ thuật canh tác có tác động

đến nhện đỏ, đối với chè đốn phớt, chè để lưu, chè không có cây che bóng thì mật độ nhện hại cao hơn chè đốn đau, chè có cây che bóng, còn biện pháp hái san chật và hái theo lứa không có sự khác nhau mật độ nhện hại Tác giả Nguyễn Thái Thắng [31] còn cho biết khi nuôi ở điều kiện 25 – 300C thì thời gian sống của trưởng thành 19, 2 – 21,5 ngày, số trứng đẻ 79 – 88 quả/ con cái

2.2.3 Nghiên cứu kẻ thù tự nhiên sâu hại chè

Trong chiến lược phòng chống sâu hại ngày nay chúng ta không phải chỉ chú ý

đến lợi ích kinh tế và cần phải chú ý đến sự an toàn sinh thái, môi trường và sức khoẻ

đó là mối quan hệ khăng khít 3 vấn đề kinh tế – xã hội – môi trường do đó biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) ra đời Để cho biện pháp hiệu quả và phù hợp với hệ thống nông nghiệp địa phương chúng ta phải biết mối quan hệ cây trồng, dịch hại và

kẻ thù tự nhiên (thiên địch) của chúng trong hệ sinh thái (Nguyễn Công Thuật (1996) [40], Hà Quang Hùng (1998) [13]) Do vậy, tác giả Vũ Quang Côn (1990) [2] đã

khẳng định “ Lợi dụng các sinh vật để hạn chế số l ượng sâu hại – một phương pháp quan trọng của phòng trừ tổng hợp sâu hại” Cùng với sự phát triển của phương pháp IPM và phòng trừ hiệu quả các loài lạ xâm nhập vào hệ sinh thái đòi hỏi chúng ta phải tăng cường sử dụng đấu tranh sinh học (Waage, 2001) (dẫn theo Trond Hofsvang (2001) [65])

Kết quả nghiên cứu về thiên địch của nhện hại cây trồng, trong đó có nhện hại chè tác giả Nguyễn Văn Đĩnh 1994 [6] thu được 6 loài thiên địch là bọ rùa đen nhỏ

(Stethorus sp), bọ cánh cộc (Oligota sp), bọ trĩ (Scolothrips sp), nhện (Phytoseius sp và Amblyseius sp)

Năm 1998 tác giả Nguyễn Văn Thiệp và CTV [32] đã thu thập được 6 loài thiên

địch sâu hại chè, trong đó có 3 loại phổ biến: Nhện nâu vằn trắng (Oxyopes javarus), nhện xám (Clubiona japonica) và nhện đỏ đen (chưa xác định) và tác giả cho biết mật

Trang 25

độ rầy xanh, nhện đỏ có mối quan hệ chặt chẽ với sự biến động số lượng cùng với nhóm nhện ăn thịt, còn bọ trĩ thì không Cùng năm đó tác giả tiếp tục cho biết thu thập được 13 loài thiên địch có 3 loài phổ biến là Oxyopes javanus, Phydippus sp và

Clubiona javanus [33] Cho đến năm 2000 tác giả thu được 22 loài thiên địch đã định danh được 13 loài Tác giả cho biết nhóm nhện BMĂT có vai trò quan trọng trong

điều hoà số lượng rầy xanh [34]

Trong kết quả nghiên cứu của mình tác giả Hoàng Thị Hợi (1996) [11] đã thu

được 14 loài thiên địch sâu hại chè, đã định danh được 8 loại Trong số các loài thu

được có 9 loài nhện, 5 loài côn trùng, các loài có vai trò quan trọng là nhện BMĂT và kiến xám đen nhỏ, loài có số lượng lớn là nhện linh miêu, nhện vàng rơm

Năm 1999 tác giả Hoàng Ngọc Đường và CS [8] đã thu được 46 loài thiên địch sâu hại chè trong đó 30 loài thuộc nhóm nhện, 13 loài thuộc nhóm côn trùng các loài chủ yếu là nhện linh miêu, nhện trắng, nhện tím, nhện nhỏ đen, nhện nhỏ nâu Tác giả còn cho biết thành phần số loài thiên địch ở vùng có phun thuốc giảm đáng kể so với vùng không phun thuốc

Trong giai đoạn nghiên cứu 1995 -1997 tác giả Lê Thị Nhung, 1998 [22] đã thu thập được 63 loài thiên địch sâu hại chè, trong đó 19 loài côn trùng, 25 loài nhện, 12 loài nấm ký sinh Tác giả thấy loài nhện ăn thịt có vai trò quan trọng nhất Tiếp tục nghiên cứu năm 2001 tác giả thu thập được 99 loài thiên địch trong đó có 34 loài thiên

địch của rầy xanh, 21 loài thiên địch của nhện đỏ nâu, 16 loài thiên địch bọ xít muỗi,

10 loài thiên địch của bọ cánh tơ, 18 loài thiên địch của rệp muội đen Các loài tập chung nhất ở nhóm nhện lớn bắt mồi (38 loài), tiếp đến là bộ cánh cứng, bộ cánh màng [23]

Qua nghiên cứu cho thấy thiên địch của rầy xanh có các loài nhện BMĂT, các loài thuộc họ Carabidae, bọ rùa và chuồn chuồn, đây cũng là thiên địch chính của bọ

xít muỗi Còn các loài thiên địch chính của nhện đỏ là loài nhện Phytoseius, Amblyseius, Tuphlodromus và Mexecheles, loài côn trùng có bọ rùa Sticholotis

Trang 26

punctata, Stethorus cantonensis và loài Chrysopa sp (Tran Thanh Nam dịch

[90])

Kết quả nghiên cứu thành phần nhóm bọ xít BMĂT trong giai đoạn 1997 -2001 tác giả Trương Xuân Lam, 2002 [19] đã thu thập được 89 loài bọ xít ăn thịt trong đó trên chè thu được 2 loài đó là: Cyrtorrhinus lividipennis là thiên địch của rệp, rầy và

trứng rầy và loài Valentia hoffmanni là thiên địch sâu đo xanh

Thực hiện chương trình quản lý tổng hợp sâu hại chè năm 2003, Nguyễn Văn Hùng và CTV [17] đã điều tra thu thập và định danh được 31 loài thiên địch thuộc 8

bộ côn trùng và nhện BMĂT Tác giả cho biết thành phần ong ký sinh quá ngèo nàn (2/31 loài) trong đó nhóm bọ rùa có số loài khá phong phú (10 loài) Trong nhóm này

có các loài Scolothrips sexmaculata, Oligota sp, Stethorus sp và Amblyseius sp là

thiên địch quan trọng của nhện đỏ

2.2.4 Biện pháp phòng chống sâu hại chè

* Đối với nhện đỏ

Các nghiên cứu chủ yếu tập chung vào biện pháp hoá học Từ năm 1994 tác giả Nguyễn Khắc Tiến các thuốc trừ nhện là Kelthan, Rufast, Sumucombi [38] Khi nghiên cứu về thuốc trừ nhện cho thấy nhóm thuốc khuyến cáo để trừ nhện là Nisssorun, Rufast, Ortus, Danitol phun với liều lượng 500 lít/ ha có hiệu quả trừ nhện

đỏ tốt [14][15[16][31]

Tiến hành nghiên cứu biện pháp phòng trừ tổng hợp nhện hại chè các tác giả Lê Thị Nhung và CTV [22], Nguyễn Thái Thắng [31], Nguyễn Văn Hùng [16] khuyến cáo chỉ áp dụng biện pháp hoá học khi mật độ nhện đỏ 4 – 6 con/lá, khi phát hiện thiên địch của nhện đỏ là bọ rùa nâu đạt 1 – 2/ lá thì không tiến hành phun thuốc Còn tác giả Nguyễn Văn Đĩnh (2001) [ 7] cho biết cần thiết trồng chè đúng kỹ thuật, bón phân cân đối, trồng cây che bóng hợp lý, tưới nước đầy đủ (đặc biệt là tưới phun), chỉ

dùng thuốc khi mật độ đạt 4 – 6 con/lá

* Đối với rầy xanh

Trang 27

Từ 1973 Vũ Khắc Nhượng [25] cho rằng rầy xanh cũng như các loài sâu hại chè khác phòng trừ trong giai đoạn mùa đông thì sẽ có hiệu quả, vì giai đoạn mùa đông là giai đoạn xung yếu của các loài sâu hại Do vậy tiến hành phòng trừ rầy xanh kết hợp các biện pháp vệ sinh nương đồi, chăm sóc giữ ẩm, phun thuốc sâu khi đốn thì mật độ rầy xanh năm sau giảm

Còn tác giả Nguyễn Khắc Tiến (1986) [36] thì đề nghị dùng phương pháp dẫn dụ bằng cách để chè lưu hoặc đốn phớt để trừ rầy sớm tại địa điểm đó, sau đó cắt nhẹ lại

để trừ rầy trong vụ hè Phối hợp thuốc trừ rầy Bassa, Mipcin, Bi58 với 2% urê và axit boric 0,05% có tác dụng nâng cao hiệu quả thuốc

Kết quả thí nghiệm cho thấy Filitox có hiệu quả cao và kéo dài đối với rầy xanh (Phạm Thị Vượng và CTV (1990) [47])

Trong sản xuất chè chúng ta phải chú ý phòng trừ rầy xanh ở chè để lưu, đốn phớt, sửa bằng, vào các tháng 3-5, 9-11 đây là đỉnh cao mật độ của rầy xanh và kết hợp tăng cường biện pháp hái Đỗ Văn Ngọc (1991) [20], Nguyễn Văn Hùng và CTV (1998, 2000, 2001) [14] [15][16]

Tác giả Nguyễn Văn Thiệp 2000 [34] cho biết để phòng trừ rầy xanh có hiệu quả cần chăm sóc chè tốt, hái kỹ, đốn sớm (tháng 12) kết hợp với thuốc trừ rầy Sherpa, Selecron, Kyazion và Sumicidin

hái

Trang 28

2.3 Nhận xét chung

Các kết quả nghiên cứu trong nước đều khẳng định có 4 loài sâu hại chính trên chè đó là: rầy xanh, nhện đỏ, bọ trĩ, bọ xít muỗi Biện pháp phòng chống chủ yếu dựa vào phương pháp hoá học, gần đây một số tác giả đã và đang nghiên cứu biện pháp quản lý dịch hại trên chè

Về nghiên cứu thiên địch trên chè cũng đã được nghiên cứu và đều khẳng định nhóm nhện BMĂT có vai trò và mật độ chiếm ưu thế hơn các loài khác Tuy nhiên, việc nghiên cứu chúng và ứng dụng chúng trong nghiên cứu trong phòng chống sâu hại chè hầu như chưa có

Trang 29

Phần 3: vật liệu, địa điểm, nội dung

và phương pháp nghiên cứu

3.1 Địa điểm nghiên cứu và thời gian nghiên cứu

Tiến hành nghiên cứu trên các khu tập đoàn giống chè nhập nội tại khu vực Viện

nghiên cứu Chè Phú Hộ – thị xã Phú Thọ

Thời gian nghiên cứu: Từ 1/1 – 30/6/ 2004

3.2 Vật liệu nghiên cứu

* Các giống chè nhập nội trong khu tập đoàn tại Viện nghiên cứu Chè được trồng

từ 1990- 2000, có nguồn gốc từ Trung Quốc, Đài Loan, ấn Độ, Gruizia, Indonesia, Nhật Bản và trên một số giống mới chọn tạo như PH1, LDP1

Chúng tôi chủ yếu theo dõi diễn biến mật độ sâu hại trên đồng ruộng và nghiên cứu đặc tính sinh học của loài sâu hại chính trên các giống Trung Quốc lá to: PT95, Keo Am Tich và Phú Thọ 10 và trên giống Trung Quốc lá nhỏ: LV2000

* Dụng cụ nghiên cứu

+ Dụng cụ thu bắt điều tra: Vợt bắt côn trùng, khay điều tra, dầu hoả, túi nilon, hộp nhựa, hoá chất

+ Dụng cụ nghiên cứu trong phòng: Hộp petri có Φ = 7 - 10cm, ống nghiệm, lồng nuôi sâu 40 x40 x60 cm, kính lúp cầm tay và kính 2 mắt có độ phóng đại 8 -20 lần, tủ lạnh, nhiệt độ kế

+ Các loại thuốc thí nghiệm dùng liều lượng thương phẩm [1]:

- Thuốc Lục sơn 0.26 DD: Là dịch triết từ cây khổ sâm dùng nồng độ 0,2%

- Thuốc Tập kì 1.8EC: Hợp chất Abamectin dùng ở nồng độ 0,125%

- Thuốc Song mã 24.5 EC: Hợp chất gồm Abamectin 0,2% + 24,3% (dầu khoáng

và dầu hoa tiêu) dùng ở nồng độ 0,20%

- Thuốc TP- Thần tốc 16.000 IU: Bacillus thuringiensis var T36 dùng ở nồng độ

0,2%

Trang 30

- Thuốc Nissorun: Hợp chất Hexythiazox dùng nồng độ 0,1%

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu thành phần sâu, nhện hại và thiên địch của chúng trên giống nhập nội tại khu vực Viện nghiên cứu Chè vụ xuân 2004, xác định loài gây hại chính

- Nghiên cứu đặc tính sinh vật học, sinh thái học của nhện đỏ nâu

- Nghiên cứu biến động số lượng của nhện đỏ nâu và rầy xanh trên đồng ruộng qua các điều kiện canh tác, trên các giống chè và ảnh hưởng các điều kiện sinh thái như nhiệt độ và lượng mưa

3.4 Phương pháp nghiên cứu

Tiến hành dựa vào các phương pháp của các tác giả Phạm Trí Thành (1976) [30], Gomez (1984)[62], Cục BVTV (1987,1995)[3][4], Viện BVTV (1997) [42] 3.4.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài đồng

* Điều tra diễn biến của nhện đỏ: Hái ngẫu nhiên 25 lá già, lá bánh tẻ trên mỗi giống hay trên 1 ô cho vào túi nilon hoặc hộp nhựa mang về phòng cho vào tủ lạnh để

5 – 10 phút rồi đếm dưới kính và tính mật độ con/lá

* Điều tra rầy xanh: Điều tra bằng khay nhôm 30 x 20 x 5cm tráng dầu hoả, để nghiêng so với tán chè 450 đập mạnh 3 - 4 đập, mỗi ô thí nghiệm (giống) điều tra 5

điểm, mỗi diểm 2 khay và tính mật độ con/kay

3.4.1.1 Điều tra thành phần, mức độ phổ biến của thiên địch và sâu hại tiến hành

điều tra cố định và điều tra bổ sung

- Điều tra cố định: Tiến hành điều tra định kì 10 ngày/lần trên 2 khu giống nhập nội, mỗi khu tiến hành điều tra ngẫu nhiên 5 điểm theo đường chéo, mỗi điểm lấy 2

điểm nhỏ, mỗi điểm nhỏ trên 1 hàng chè dài 0,5m dùng túi nilon to bao phủ tán chè

đập và dung cho tất cả các cá thể rơi vào rồi tiến hành đếm và phân loại Ngoài ra còn thu các cá thể sâu non, trứng đem về phòng theo dõi ký sinh

- Điều tra bổ sung xác định sâu hại chính:

Trang 31

Đối với xác định sâu hại chính tiến hành điều tra hiện thực sử dụng thuốc mà người làm chè tiến hành với mục đích phòng chống đối tượng cụ thể

Đối với thiên địch sâu hại chè tiến hành điều tra thêm 3 – 4 giống khác

3.4.1.2 Theo dõi diễn biến mật độ:

i Nhện đỏ và rầy xanh Tuổi chè 13 – 15 tuổi với 4 giống Thuý Ngọc, Kim Huyên, Manipur messai và Monochai

ii Nhện đỏ và rầy xanh Tuổi chè 3 – 5 tuổi với các giống Keo am Tích, PT10, Long Vân 2000 (LV2000) và giống PT95

iii Theo dõi mật độ nhện đỏ trên các dạng chè kinh doanh khác nhau: Chè đốn phớt (đốn kinh doanh), chè để lưu (không đốn) và chè vườn (chè chăm sóc kém thu hoạch ít)

3.4.1.3 Theo dõi diễn biến mật độ nhện đỏ, rầy xanh trên 3 mô hình thí nghiệm:

i Mô hình 1: Đốn bằng máy tán hình mâm xôi, bón 35 tấn phân hữu cơ/ha (bón 1 lần), bón phân vô cơ N:P:K tỷ lệ 3:1:2 + 75kg MgS04 (với 35N/ 1 tấn sản phẩm) với bón trong 6 tháng đầu năm là 60% (tháng 2: 30%, tháng 5 :30%) có sửa tán bằng máy

3.4.1.4 Thí nghiệm theo dõi mưa ảnh hưởng đến quần thể nhện đỏ với ba mức:

i Mưa phùn (mưa xuân) 5 ngày

ii Lượng mưa 35mm/ ngày

iii Lượng mưa 126 mm/ ngày

3.4.1.5 Thí nghiệm hiệu lực thuốc

Trang 32

* Đối với nhện đỏ: Bố trí theo khối ngẫu nhiên đối với các loại thuốc Lục Sơn 0.26 DD (0,2%), Tập kỳ 1.8EC (0,125%), Song Mã 24.5EC (0.25%), TP- Thần tốc 16.000 IU (0,2%) và Nissorun 5EC (0,1%) với mỗi ô thí nghiệm là 30m2 và 3 lần nhắc lại

* Đối với rầy xanh: Bố trí theo khối ngẫu nhiên đối với các loại thuốc Lục Sơn 0.26 DD (0,2%), Tập kỳ 1.8EC (0,125%), Song Mã 24.5EC (0.25%) và TP- Thần tốc 16.000 IU (0,2%) với mỗi ô thí nghiệm là 30m2 và 3 lần nhắc lại

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng

Nuôi nhện đỏ theo phương pháp của Hà Hùng (1985)[12], Ooen (1982) [77] để tìm hiểu các đặc tính sinh vật học của nó

Σ rầy xanh điều tra

2 Mật độ trung bình rầy xanh (con /khay) = -

Σ khay điều tra

3 Thời gian phát dục (ngày)

Xi = Xi + Sx

Trong đó: Xi là thời gian phát dục tuổi thứ i

Trang 33

Xi: Là thời gian phát dục trung bình tuổi thứ i

Sx: Độ lệch chuẩn

4 Hệ số nhân của một thế hệ (hay tỷ lệ nhân của một thế hệ)

R0 = ∑lx mx

Trong đó: lx: Mức sống sót riêng của tuổi x

mx : Mức sinh sản riêng ở tuổi x

5 Thời gian trung bình của một thế hệ (Tc) tính theo tuổi của mẹ (ngày):

Tc =

Ro

mx lx x

Trong đó: N0: là số lượng chủng quần tại thời điểm t0

Nt: là số lượng chủng quần tại thời điểm t

e: là cơ số logarith tự nhiên

hay ∫∞ e

0

-r.xlx.mx dx =1 → ∑ e-r.x lx.mx = 1

Ta nhân cả 2 vế với e7 nên ta có: ∑ e7-r.x lx.mx = e7 ≈ 1097

Và dựa vào đây và dựa vào đồ thị ta tính hệ số r

8 Giới hạn tăng quần thể (G), là logarith nghịch cơ số tự nhiên:

G = Antiln e

9 Tính hệ số tương quan (r):

r =

y x

Y X

Yi Xi

δ

δ .

ư

kiểm định hệ số tương quan (r)

Trang 34

t =

2 1

2

r

n r

Cb Ta

Trong đó: Ta: Số sâu sống trên ô thí nghiệm sau khi phun thuốc

Cb: Số sâu sống ở ô đối chứng trước khi phun thuốc

Tb: Số sâu sống ô thí nghiệm trước khi phun thuốc

Ca: Số sâu sống ô đối chứng sau khi phun thuốc

Trang 35

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

4.1 Kết quả nghiên cứu thành phần sâu hại trên các giống chè nhập nội vụ xuân 2004 tại Phú Hộ và xác định loài gây hại chính

Trong vụ xuân năm 2004 tại Viện nghiên cứu Chè Phú Hộ, qua kết quả điều tra trên 2 khu tập đoàn giống nhập nội đã thu đ−ợc 30 loài sâu, nhện hại (bảng 4.1) chúng thuộc 8 bộ côn trùng và nhện hại trong đó:

- Bộ Hemiptera tập chung 3 họ là Miridae, Scutelleridae và Coreidae có 4 loài

chiếm 13,33% số loài thu thập đ−ợc

- Bộ Homoptera thu đ−ợc 7 loài thuộc 7 họ là Cicadellidae, Aphididae, Coccidae, Diaspididae, Pseudococcidae và Aleyroididae chiếm 21,00% số loài, đây là bộ thu

đ−ợc số loài gây hại chính nhiều nhất chiếm 2/3 số loài chính vụ xuân 2004

- Bộ Lepidoptera đ−ợc số loài lớn nhất 9 loài thuộc 8 họ là Tortricidae, Gracillariidae, Lymantridae, Cossidae, Eucleidae, Psychidae, Noctuidae và Geometridae chiếm 30,00% số loài

- Bộ Coleoptera thu đ−ợc 2 loài thuộc 2 họ là Curculionidae và Scarabaeidae chiếm 6,67% số loài

- Bộ Diptera chỉ thu đ−ợc 1 loài thuộc họ Agromyzidae chiếm 3.33% số loài

- Bộ Orthoptera cũng chỉ thu đ−ợc 1 loài thuộc họ Gryllidae chiếm 3,33% số loài

- Bộ Thysanoptera thu đ−ợc 2 loài thuộc họ Thripidae chiếm 6,66% số loài

- Bộ Acarina thu đ−ợc 4 loài thuộc 4 họ là Tetranychidae, Tenuipalpidae, Eriophyidae và Tarsonemidae chiếm 13,33% số loài, trong bộ này thu đ−ợc 1/3 số loài gây hại chính tại vụ xuân 2004

Trang 36

B¶ng 4.1: Thµnh phÇn s©u h¹i chÌ trªn 2 khu gièng nhËp néi vô xu©n n¨m 2004- t¹i Phó Hé

Tªn loµi

TT

Tªn ViÖt Nam Tªn khoa häc Hä

Bé phËn g©y h¹i

TÇn xuÊt

Bé Hemiptera

1 Bä xÝt muçi Helopeltis theivora Waterhouse Miridae Bóp, l¸ non +

2 Bä xÝt hoa Poecilocoris latus Dallas Scutelleridae Qu¶ +

3 Bä xÝt 2 vai nhän Cletus punctiger Dallas Coreidae Bóp, l¸ nom +

Bé Homoptera

5 RÇy xanh Empoasca flavescens Fabr Cicadellidae Bóp, l¸ non +++

6 RÖp muéi Toxoptera aurantii Boyer de

8 RÖp s¸p h×nh nãn Lecanium hemisphaticum Targ Coccidae L¸ ++

9 RÖp s¸p 3 sèng næi Unaspic citri (Comstock) Diaspididae L¸, th©n, cµnh +++

Trang 37

Lepidoptera

12 Sâu cuốn búp Homona coffearia Neit Tortricidae Búp, lá ++

13 Sâu cuốn lá non Gracillaria theivora Wals Gracillariidae Lá +

14 Sâu róm u vàng Euprotis pseudoconspersa Stal. Lymantridae Lá +

15 Đục thân mình đỏ Zeuzera coffeae Neit Cossidae Thân, cành +

18 Sâu kèn mái chùa Pagadia hekmeyeri Heyl Psychidae Lá +

20 Sâu đo Biston suppressaria Guence Geometridae Lá ++

Coleoptera

21 Câu cấu xanh lớn Hypomeces squamonus Fabr Curculionidae Lá +

Diptera

Orthoptera

Trang 38

Thysanoptera

26 Bọ trĩ Physothrips setiventris Bagn Thripidae Búp +++

Acarina

27 Nhện đỏ nâu Oligonychus coffeae Neit Tetranychidae Lá, búp +++

28 Nhện đỏ son Brevipalpus californicus Bank Tenuipalpidae Lá +

Ghi chú: + ; Tần xuất nhỏ hơn 30% (ít phổ biến)

++; Tần xuất 30 – 60% (t −ơng đối phổ biến)

+++ : Tần xuất > 60% (phổ biến)

Trang 39

Để có thêm cơ sở đúng xác định loài sâu hại chính ở vụ xuân chúng tôi tiến hành

điều tra bổ sung thực trạng sử dụng thuốc trên 2 khu tập đoàn giống nhập nội tại Phú

Ghi chú: Nếu 1 lần phun thuốc đ ược đấu trộn 2 loại thuốc thì được tính là 2 lần phun

thuốc

Qua bảng số liệu cho thấy trong 6 tháng đầu năm 2004 số lần phun thuốc thực tế trong sản xuất là 10,5 lần, nhưng theo quy đổi thì số lần phun thuốc lên tới 15 lần, thực tế cho thấy trên sản xuất người nông dân thường xuyên có sự đấu trộn hỗn hợp thuốc, có khi đấu trộn 2 – 3 loại thuốc trong 1 lần phun, điều đó cho thấy có những giai đoạn nhất định có sự xuất hiện đồng thời nhiều hơn một loại dịch hại quan trọng

Trang 40

như trong tháng 4 – 6 thường xuất hiện 2 loài dịch hại chính trên chè là rầy xanh và nhện đỏ, thêm vào đó nông dân đấu trộn thuốc với mục đích nâng cao hiệu quả phòng chống dịch hại

Cũng qua bảng trên cho thấy rầy xanh, nhện đỏ, rệp sáp 3 sống nổi (đây đều là các loài sâu chích hút) là đối tượng dịch hại chủ yếu trên các giống chè nhập nội tại Phú Hộ mà người làm chè có tới 43,33% số lần quyết định tiến hành phòng chống rầy xanh, 20,00% số lần ra quyết định phòng chống nhện đỏ và 13,33% số lần quyết định phòng chống rệp sáp 3 sống nổi Tổng số lần ra quyết định của người làm chè phòng chống 3 loại chính này chiến tới 76,66% còn lại 23,34% số lần ra quyết định phòng chống các loại dịch hại khác trong đó có cả nhóm bệnh hại Tuy nhiên, chúng ta cũng phải chú ý tới các đối tượng khác như bọ trĩ, bọ xít muỗi và nhóm sâu kèn đây là nhóm khi gặp điều kiện thích hợp thì chúng bùng phát số lượng, còn đối với bọ trĩ và

bọ xít muỗi đây cũng là đối tượng hại quan trọng nhưng chúng chỉ hại vào giai đoạn tháng 7-10 (Nguyễn Văn Hùng và CTV (1998, 2000) [14] [15])

Qua điều tra thành phần sâu hại vụ xuân 2004 và tình hình sử dụng thuốc phòng chống các đối tượng trên 2 khu tập đoàn giống nhập nội, chúng tôi đã xác định được 3

loài sâu hại chính đó là rầy xanh (Empoasca flavescens Fabr.), nhện đỏ (Oligonychus coffeae Neit.) và rệp sáp 3 sống nổi (Unaspic citri (Comstock)) Trong 3 loài sâu

hại chính trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đặc tính sinh vật học, sinh thái học của loài nhện đỏ nâu trên 2 giống Trung Quốc lá nhỏ (LV2000) và giống Trung Quốc lá to ( PT95), điều tra diễn biến mật độ 2 loài sâu hại chính là nhện đỏ và rầy xanh trên 2 nhóm giống Trung Quốc lá nhỏ LV2000 và Trung Quốc lá to là PT95, Keo Am Tich

Ngày đăng: 02/08/2013, 16:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Vũ Quang Côn (1990), “Lợi dụng tác nhân sinh vật để hạn chế số l−ợng sâu hại – một trong những biện pháp quan trọng của phòng trừ tổng hợp”, Thông tin BVTV, sè 6, tr.19 -21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợi dụng tác nhân sinh vật để hạn chế số l−ợng sâu hại – một trong những biện pháp quan trọng của phòng trừ tổng hợp”, "Thông tin BVTV, sè 6
Tác giả: Vũ Quang Côn
Năm: 1990
3. Cục BVTV (1987), Ph−ơng pháp điều tra và phát hiện sâu bệnh hại cây trồng, NXB NN- HN, 139tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph−ơng pháp điều tra và phát hiện sâu bệnh hại cây trồng
Tác giả: Cục BVTV
Nhà XB: NXB NN- HN
Năm: 1987
4. Cục BVTV (1995), Ph−ơng pháp điều tra và phát hiện sâu bệnh hại cây trồng, NXB NN- HN, 150tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph−ơng pháp điều tra và phát hiện sâu bệnh hại cây trồng
Tác giả: Cục BVTV
Nhà XB: NXB NN- HN
Năm: 1995
5. Nguyễn Văn Đĩnh (1992), “Sức tăng quần thể của nhện đỏ hại cam chanh”, T/c BVTV, sè 4, tr.11-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức tăng quần thể của nhện đỏ hại cam chanh”, "T/c BVTV, sè 4
Tác giả: Nguyễn Văn Đĩnh
Năm: 1992
6. Nguyễn Văn Đĩnh (1994), Nghiên cứu đặc điểm sinh học và khả năng phòng chống một số loài nhện hại cây trồng ở Hà Nội và phụ cận, Luận án PTS KHNN Trường đại học Nông Nghiệp I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm sinh học và khả năng phòng chống một số loài nhện hại cây trồng ở Hà Nội và phụ cận
Tác giả: Nguyễn Văn Đĩnh
Năm: 1994
7. Nguyễn Văn Đĩnh (2001), Nhện hại cây trồng và biện pháp phòng chống chúng, NXB NN- Hà Nội, tr.32 – 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhện hại cây trồng và biện pháp phòng chống chúng
Tác giả: Nguyễn Văn Đĩnh
Nhà XB: NXB NN- Hà Nội
Năm: 2001
8. Hoàng Ngọc Đường và Cs (1999), “Thiên địch sâu hại chè”, Thông báo khoa học của các Trường Đại học- Bộ giáo dục và đào tạo – Sinh học Nông Nghiệp – Hà Nội, tr.54 - 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiên địch sâu hại chè”, "Thông báo khoa học của các Tr−ờng Đại học- Bộ giáo dục và đào tạo – Sinh học Nông Nghiệp – Hà Nội
Tác giả: Hoàng Ngọc Đường và Cs
Năm: 1999
9. Nguyễn Văn Hiển (2000), Chọn giống cây trồng, NXB Giáo dục- Hà Nội, tr. 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn giống cây trồng
Tác giả: Nguyễn Văn Hiển
Nhà XB: NXB Giáo dục- Hà Nội
Năm: 2000
10. Hiệp hôi chè Vệt Nam (2004), “Ngành chè Việt Nam năm 2003”, Tạp chí ng−ời làm chè, số 26, tháng 3, tr1-3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành chè Việt Nam năm 2003”, "Tạp chí ng−ời làm chè, số 26, tháng 3
Tác giả: Hiệp hôi chè Vệt Nam
Năm: 2004
11. Hoàng Thị Hợi (1996), Điều tra nghiên cứu một số sâu bệnh chính hại chè ở vùng Bắc Thái và biện pháp phòng trừ, Tóm tắt luận án PTS khoa học Nông Nghiệp – Viện KHKTNN Việt Nam, 24tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra nghiên cứu một số sâu bệnh chính hại chè ở vùng Bắc Thái và biện pháp phòng trừ
Tác giả: Hoàng Thị Hợi
Năm: 1996
12. Hà Hùng (1985), “Ph−ơng pháp nuôi những loài côn trùng thí nghiệm”, Thông tin BVTV, sè 2, tr.66-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph−ơng pháp nuôi những loài côn trùng thí nghiệm”, "Thông tin BVTV, sè 2
Tác giả: Hà Hùng
Năm: 1985
13. Hà Quang Hùng (1998), Phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng (Quản lý dịnh hại tổng hợp – IPM). Giáo trình giảng dạy SĐH, NXBNN- Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng (Quản lý dịnh hại tổng hợp – IPM)
Tác giả: Hà Quang Hùng
Nhà XB: NXBNN- Hà Nội
Năm: 1998
14. Nguyễn Văn Hùng, Đoàn Hùng Tiến, Nguyễn Khắc Tiến (1998), Sâu, bệnh, cỏ dại hại chè và biện pháp phòng trừ, NXB NN Hà Nội, 140 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sâu, bệnh, cỏ dại hại chè và biện pháp phòng trừ
Tác giả: Nguyễn Văn Hùng, Đoàn Hùng Tiến, Nguyễn Khắc Tiến
Nhà XB: NXB NN Hà Nội
Năm: 1998
15. Nguyễn Văn Hùng, Đoàn Hùng Tiến (2000), Sử dụng hợp lý thuốc bảo vệ thực vật trên chè, NXBNN- Hà Nội, 162tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng hợp lý thuốc bảo vệ thực vật trên chè
Tác giả: Nguyễn Văn Hùng, Đoàn Hùng Tiến
Nhà XB: NXBNN- Hà Nội
Năm: 2000
16. Nguyễn Văn Hùng (2001), Phòng trừ tổng hợp rầy xanh, bọ cánh tơ, nhện đỏ, bọ xít muỗi hại chè, NXBNN – Hà Nội, 199tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trừ tổng hợp rầy xanh, bọ cánh tơ, nhện đỏ, bọ xít muỗi hại chè
Tác giả: Nguyễn Văn Hùng
Nhà XB: NXBNN – Hà Nội
Năm: 2001
17. Nguyễn Văn Hùng và CTV (2003), “Nghiên cứu biện pháp quản lý tổng hợp dịch hại chè:. Báo cáo khoa học – Viện nghiện cứu Chè (tài liệu lưu hành nội bé), 21 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu biện pháp quản lý tổng hợp dịch hại chè:. "Báo cáo khoa học – Viện nghiện cứu Chè
Tác giả: Nguyễn Văn Hùng và CTV
Năm: 2003
18. Nguyễn Ngọc Kiểng (1996), Thống kê học trong nghiên cứu khoa học. NXB GD, 280 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê học trong nghiên cứu khoa học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Kiểng
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1996
20. Đỗ Văn Ngọc (1991), Nghiên cứu ảnh hưởng dạng đốn đến sinh trưởng, phát triển, năng xuất, chất l−ợng của cây chè Trung Du tuổi lớn ở Phú Hộ, Tóm tắt luận án PTS KHNN- Viện NC KHKTNN VN, 26tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh h−ởng dạng đốn đến sinh tr−ởng, phát triển, năng xuất, chất l−ợng của cây chè Trung Du tuổi lớn ở Phú Hộ
Tác giả: Đỗ Văn Ngọc
Năm: 1991
21. Lê Thị Nhung, Nguyễn Thị Vân (1994), “Một số kết quả nghiên cứu b−ớc đầu mối hại chè kiến thiết cơ bản”, Kết quả nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ về cây chè, NXBNN – Hà Nội, tr.151-154 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả nghiên cứu b−ớc đầu mối hại chè kiến thiết cơ bản”, "Kết quả nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ về cây chè
Tác giả: Lê Thị Nhung, Nguyễn Thị Vân
Nhà XB: NXBNN – Hà Nội
Năm: 1994
22. Lê Thị Nhung, Nguyễn Thái Thắng (1996), “Một số kết quả nghiên cứu phòng trừ tổng hợp sâu hại chè”, T/c hoạt động khoa học công nghệ, Số 8, tr. 33 - 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả nghiên cứu phòng trừ tổng hợp sâu hại chè”, "T/c hoạt động khoa học công nghệ, Số 8
Tác giả: Lê Thị Nhung, Nguyễn Thái Thắng
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1: Thành phần sâu hại chè trên 2 khu giống nhập nội vụ xuân năm 2004- tại Phú Hộ - Luận văn thành phần sâu, nhện hại; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài sâu hại chính trên các giống chè nhập nội vụ xuân
Bảng 4.1 Thành phần sâu hại chè trên 2 khu giống nhập nội vụ xuân năm 2004- tại Phú Hộ (Trang 36)
Bảng 4.5:  ả nh hưởng của giống chè đến phát triển cá thể của nhện đỏ     ở điều  kiện 27 ± 0,5 0 C - Luận văn thành phần sâu, nhện hại; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài sâu hại chính trên các giống chè nhập nội vụ xuân
Bảng 4.5 ả nh hưởng của giống chè đến phát triển cá thể của nhện đỏ ở điều kiện 27 ± 0,5 0 C (Trang 43)
Bảng 4.7: Bảng sống của nhện đỏ trên 2 giống là PT95 và LV2000          ở  điều  kiện 27  ±  0,5 0 C - Luận văn thành phần sâu, nhện hại; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài sâu hại chính trên các giống chè nhập nội vụ xuân
Bảng 4.7 Bảng sống của nhện đỏ trên 2 giống là PT95 và LV2000 ở điều kiện 27 ± 0,5 0 C (Trang 45)
Bảng 4.8 :  Một số đặc điểm sinh học cơ bản của nhện đỏ nâu trên 2 giống  LV2000, và PT95 ở điều kiện 27  ±  0,5 0 C - Luận văn thành phần sâu, nhện hại; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài sâu hại chính trên các giống chè nhập nội vụ xuân
Bảng 4.8 Một số đặc điểm sinh học cơ bản của nhện đỏ nâu trên 2 giống LV2000, và PT95 ở điều kiện 27 ± 0,5 0 C (Trang 46)
Bảng 4.9: Nhịp điệu sinh sản của nhện đỏ trên 2 giống chè LV2000 và PT95 tại - Luận văn thành phần sâu, nhện hại; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài sâu hại chính trên các giống chè nhập nội vụ xuân
Bảng 4.9 Nhịp điệu sinh sản của nhện đỏ trên 2 giống chè LV2000 và PT95 tại (Trang 47)
Bảng 4.10: Một số đặc tính của trưởng thành cái loài Oligonychus coffeae được nuôi  trên 2 giống chè LV2000 và Giống PT95 tại điều kiện 27,05 0 C - Luận văn thành phần sâu, nhện hại; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài sâu hại chính trên các giống chè nhập nội vụ xuân
Bảng 4.10 Một số đặc tính của trưởng thành cái loài Oligonychus coffeae được nuôi trên 2 giống chè LV2000 và Giống PT95 tại điều kiện 27,05 0 C (Trang 49)
Bảng 4.11 Nhịp điệu đẻ trứng trong ngày của nhện đỏ,      Oligonychus  coffea, tại nhiệt độ trung bình 26,9C - Luận văn thành phần sâu, nhện hại; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài sâu hại chính trên các giống chè nhập nội vụ xuân
Bảng 4.11 Nhịp điệu đẻ trứng trong ngày của nhện đỏ, Oligonychus coffea, tại nhiệt độ trung bình 26,9C (Trang 50)
Hình 4.1:  Diễn biến mật độ nhện đỏ tại Phú Hộ vụ xuân 2004. - Luận văn thành phần sâu, nhện hại; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài sâu hại chính trên các giống chè nhập nội vụ xuân
Hình 4.1 Diễn biến mật độ nhện đỏ tại Phú Hộ vụ xuân 2004 (Trang 52)
Bảng 4.12: Nghiên cứu ảnh hưởng của mưa đến quần thể nhện đỏ trên chè tuổi  14. - Luận văn thành phần sâu, nhện hại; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài sâu hại chính trên các giống chè nhập nội vụ xuân
Bảng 4.12 Nghiên cứu ảnh hưởng của mưa đến quần thể nhện đỏ trên chè tuổi 14 (Trang 53)
Bảng 4.13: Mối tương quan các yếu tố khí tượng  ảnh hưởng tới mật độ nhện đỏ  trên đồng ruộng  vụ xuân năm 2004 tại Phú Hộ - Luận văn thành phần sâu, nhện hại; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài sâu hại chính trên các giống chè nhập nội vụ xuân
Bảng 4.13 Mối tương quan các yếu tố khí tượng ảnh hưởng tới mật độ nhện đỏ trên đồng ruộng vụ xuân năm 2004 tại Phú Hộ (Trang 54)
Hình 4.3: Diễn biến mật độ nhện đỏ trên các giống chè khác nhau - Luận văn thành phần sâu, nhện hại; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài sâu hại chính trên các giống chè nhập nội vụ xuân
Hình 4.3 Diễn biến mật độ nhện đỏ trên các giống chè khác nhau (Trang 57)
Bảng 4.14 : ả nh hưởng của điều kiện canh tác đến diễn biến mật độ của nhện đỏ  tại Viện nghiên cứu Chè-vụ xuân 2004 - Luận văn thành phần sâu, nhện hại; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài sâu hại chính trên các giống chè nhập nội vụ xuân
Bảng 4.14 ả nh hưởng của điều kiện canh tác đến diễn biến mật độ của nhện đỏ tại Viện nghiên cứu Chè-vụ xuân 2004 (Trang 58)
Bảng 4.15: Diễn biến mật độ nhện đỏ trên các dạng chè sản xuất khác nhau - Luận văn thành phần sâu, nhện hại; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài sâu hại chính trên các giống chè nhập nội vụ xuân
Bảng 4.15 Diễn biến mật độ nhện đỏ trên các dạng chè sản xuất khác nhau (Trang 59)
Hình 4.4: Diễn biến mật độ rầy xanh vụ xuân 2004 tại Phú Hộ - Luận văn thành phần sâu, nhện hại; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài sâu hại chính trên các giống chè nhập nội vụ xuân
Hình 4.4 Diễn biến mật độ rầy xanh vụ xuân 2004 tại Phú Hộ (Trang 61)
Hình 4.5: Diễn biến mật độ rầy xanh trên các tuổi chè khác nhau năm 2004. - Luận văn thành phần sâu, nhện hại; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài sâu hại chính trên các giống chè nhập nội vụ xuân
Hình 4.5 Diễn biến mật độ rầy xanh trên các tuổi chè khác nhau năm 2004 (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w