1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thành phần sâu, nhện hại ớt; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và biện pháp phòng trừ loài rệp bông aphis gossypii glov

109 918 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thành phần sâu, nhện hại ớt; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và biện pháp phòng trừ loài rệp bông Aphis gossypii Glover
Tác giả Nguyễn Thị Thuý Linh
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Oanh
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Bảo Vệ Thực Vật
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 4,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn thành phần sâu, nhện hại ớt; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và biện pháp phòng trừ loài rệp bông aphis gossypii glov

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

-NGUYỄN THỊ THUÝ LINH

THÀNH PHẦN SÂU, NHỆN HẠI ỚT, ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC, SINH THÁI HỌC VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ LOÀI RỆP BÔNG

Aphis gossypii Glover HẠI ỚT VỤ XUÂN HÈ NĂM 2008 TẠI MAI

LÂM – ĐÔNG ANH – HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT

Mã số: 60.62.10 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ KIM OANH

HÀ NỘI- 2008

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này

là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thuý Linh

Trang 3

Đặc biệt trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp chúng tôi đã nhận được sự chỉ dẫn sâu sắc, tận tình của PGS.TS Nguyễn Thị Kim Oanh, Bộ môn Côn trùng - Khoa Nông học - Trường đại học Nông nghiệp I Hà Nội

Nhân dịp này tôi xin cảm ơn tất cả bạn bè, người thân đã luôn động viên và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, thực hiện và hoàn thành luận văn

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn và ghi nhận những giúp đỡ quý báu đó

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thuý Linh

Trang 4

4.1 Kết quả điều tra tình hình sản xuất ớt tại Mai Lâm, Đông Anh,

Trang 5

4.2 Xác định thành phần, mức độ phổ biến của sâu, nhện hại và thiên

4.2.1 Thành phần sâu, nhện hại trên cây ớt tại Mai Lâm – Đông Anh - Hà

4.2.2 Thành phần thiên địch của sâu, nhện hại trên cây ớt tại Mai Lâm –

4.3 Diễn biến mật độ rệp bông A.gossypii và rệp đào M persicae hại

4.4 Diễn biến mật độ rệp bông A gossypii hại trên các giống ớt

4.5 Diễn biến mật độ rệp bông A gossypii hại ớt trồng trong đồng và

ngoài bãi tại Mai Lâm, Đông Anh, Hà Nội vụ xuân hè năm

4.6 Diễn biến mật độ rệp bông A gossypii hại trên ớt trồng ở vụ Hè

thu năm 2007 và vụ Đông Xuân năm 2008 tại Mai Lâm, Đông

4.7.2 Xác định thời gian các pha phát dục của rệp bông không cánh

4.7.3 Xác định sức sinh sản và thời gian sinh sản của rệp bông không

cánh A gossypii nuôi bằng lá ớt ở điều kiện nhiệt độ phòng thí

4.7.6 Xác định tỉ lệ rệp bông A gossypii có cánh và không cánh trên đồng

Trang 6

4.8 Kết quả nghiên cứu một số biện pháp phòng chống rệp bông

4.8.2 Xác đinh khả năng ăn rệp A gossypii của bọ rùa đỏ Micraspis

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

4.1 Tình hình sản xuất và bảo vệ thực vật cây ớt trồng tại Mai Lâm,

4.2 Thành phần và mức độ phổ biến của sâu, nhện hạí ớt tại Mai Lâm,

4.3 Thành phần thiên địch của sâu hại trên cây ớt tại Mai Lâm, Đông

4.4 Diễn biến mật độ rệp bông A gossypii và rệp đào M persicae hại ớt

4.5 Diễn biến mật độ rệp bông A gossypii hại trên các giống ớt tại Mai

4.6 Diễn biến mật độ rệp bông A gossypii hại ớt trồng trong đồng và

4.7 Diễn biến mật độ rệp bông A gossypii hại trên ớt trồng ở vụ Hè thu

năm 2007 và Đông xuân năm 2008 tại Mai Lâm, Đông Anh, Hà Nội 48

4.8 Thời gian các pha phát dục của rệp bông A gossypii nuôi bằng lá ớt

4.9 Sức sinh sản và thời gian đẻ của rệp bông A gossypii nuôi bằng lá ớt

4.10 Vị trí sống của rệp bông A gossypii theo các giai đoạn sinh trưởng

4.11 Tỉ lệ rệp bông A gossypii có cánh và không cánh theo các giai đoạn

sinh trưởng phát triển của cây ớt tại Mai Lâm, Đông Anh, Hà Nội vụ

4.12 Số lượng rệp bông trên bẫy và mật độ rệp bông A gossypii trên cây

Trang 9

4.13 Khả năng ăn rệp A gossypii của bọ rùa đỏ Micraspis discolor F 62

4.14 Tỉ lệ ong Aphidius sp kí sinh rệp bông hại ớt tại Mai Lâm, Đông

4.16 Hiệu lực của 4 loại thuốc BVTV phòng chống rệp bông A gossypii

4.17 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến mật độ bọ rùa đỏ M discolor F

trên đồng ruộng tại Mai Lâm, Đông Anh, Hà Nội vụ xuân hè năm

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

4.4 Một số loài thiên địch của sâu, nhện hại ớt tại Mai Lâm, Đông

4.5 Diễn biến mật độ rệp bông A gossypii và rệp đào M persicae

4.6 Diễn biến mật độ rệp bông A gossypii hại các giống ớt tại Mai

4.7 Diễn biến mật độ rệp bông A gossypii hại ớt trồng trong đồng và

4.8 Diễn biến mật độ rệp bông A gossypii hại trên ớt trồng ở 2 vụ tại

4.9 Điều tra thành phần sâu nhện hại ớt và thiên địch của chúng tại

4.12 Một số hình ảnh các pha phát triển của rệp bông A gossypii hại ớt 53

4.13 Vị trí sống của rệp bông A gossypii hại ớt tại Mai Lâm, Đông

4.15 Rệp bông A gossypii Glove sống ở mặt dưới lá bánh tẻ của ớt 57

4.16 Tỉ lệ rệp bông A gossypii có cánh và không cánh qua các giai

Trang 11

4.19 Tỉ lệ rệp A gossypii bị ong Aphidius sp kí sinh tại Mai Lâm,

4.21 Hiệu lực phòng trừ A gossypii bằng thuốc BVTV trong phòng thí

4.22 Thử hiệu lực phòng chống rệp bông A gossypii bằng các loại

4.23 Hiệu lực của 4 loại thuốcBVTV phòng trừ rệp bông A gossypii

Trang 12

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lời nói đầu

Rau là một loại thực phẩm thiết yếu trong mỗi bữa ăn hàng ngày Rau cung cấp vitamin, khoáng chất và nâng cao tính đề kháng cho cơ thể con người Trong các loại rau thì chủng loại rau gia vị phong phú và có giá trị dinh dưỡng cao, Một trong những loại rau gia vị được trồng phổ biến với diện tích lớn ở Việt Nam hiện

nay là cây ớt Capsium annum L Đây là một loại rau gia vị rất được ưa chuộng ở

Việt Nam và trên thế giới Ớt có thể trồng ở trên nhiều chân đất khác nhau (trừ đất ngập nước) Đây là cây yêu cầu chế độ dinh dưỡng và chăm sóc không không mấy khắt khe vì vậy có thể trồng ớt ở khắp mọi nơi, mọi thời vụ và cho thu hoạch trong thời gian dài Ớt quả chín có thể sử dụng ăn tươi ngay hoặc làm tương ớt, ớt bột Sản phẩm từ cây ớt có thể tiêu thụ trong nước hoặc xuất khẩu Có thể nói cây ớt cho giá trị kinh tế cao hơn nhiều so với các cây trồng thông thường khác

Ớt còn là vị thuốc quý, quả ớt có nhiều chất dinh dưỡng , nhiều vitamin C, B1, B2, acid citric, acid malic, beta caroten, đặc biệt trong thành phần quả ớt chín

có chứa hoạt chất capsaicin có tác dụng kích thích não bộ sản xuất ra chất endorphin, một chất morphin nội sinh Ớt rất có lợi cho sức khoẻ có thể chữa được một số bệnh mãn tính

Cây ớt dễ trồng và thích hợp với nhiều điều kiện tự nhiên nhưng cũng bị nhiều sâu bệnh hại, nhất là mùa xuân khi thời tiết ấm lên cộng với mưa phùn là điều kiện thích hợp để sâu, bệnh phát triển Một trong những đối tượng côn trùng hại ớt làm giảm năng xuất, chất lượng ớt quả là rệp muội tên chung chỉ nhóm côn trùng thuộc họ Aphididae bộ cánh đều Homoptera là gây hại phổ biến (Nguyễn Thị Kim Oanh, 1996 [16]) Khi phát sinh phát triển mạnh chúng có thể làm cây ít quả, ảnh hưởng đến mĩ quan cây ớt cũng như quả thậm trí nếu mật độ rệp muội nhiều có thể làm cây chết Rệp muội cũng là nhóm sâu hại nguy hiểm vì chúng không chỉ trích hút làm cây khô héo, giảm phẩm chất và năng xuất mà còn là môi giới truyền bệnh cho cây (Kennedy và CTV, 1962 [47]) Rệp muôi là nhóm côn trùng đa thực có chu

Trang 13

kì sống ngắn, đặc điểm sinh học đa dạng với sức tăng quần thể cao và có thể phát sinh phát triển trong mọi điều kiện thời tiết, nhiều loài trong nhóm rệp muội đã trở lên kháng thuốc BVTV (Choi, 1986 [38]) do vậy đã làm cho việc phòng trừ rệp muội trở lên khó khăn

Trong điều kiện sản xuất hàng hoá hiện nay, việc mở rộng diện tích trồng ớt

là một trong những điều tất yếu, kéo theo sự gây hại của rệp muội cũng lớn hơn nếu như công tác BVTV không được quan tâm đúng mức

Xuất phát từ tình hình trên, được sự đồng ý của bộ môn Côn trùng, khoa Nông học trường Đại học nông nghiệp Hà Nội, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Thành phần sâu, nhện hại ớt, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và biện pháp phòng trừ loài rệp bông Aphis gossypii Glover hại ớt vụ xuân hè năm

2008 tại Mai Lâm – Đông Anh – Hà Nội”

1.3 Yêu cầu của đề tài

- Xác định thành phần sâu, nhện hại ớt và thiên địch của chúng tại vùng nghiên cứu từ đó xác định loài sâu, nhện hại ớt chủ yếu

- Điều tra diễn biến mật độ rệp muội hại ớt trên các giống ớt; địa điểm trồng ớt khác nhau Xác định thành phần loài rệp theo các giai đoạn sinh trưởng của cây

- Nuôi sinh học để xác định vòng đời, khả năng sinh sản, vị trí sống của loài

rệp bông Aphis gossypii hại ớt

- Xác định thành phần loài rệp muội theo các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây, vị trí sống của loài rệp hại chủ yếu trên cây ớt

- Tìm hiểu khả năng phòng trừ rệp hại chủ yếu bằng một số phương pháp (bẫy màu sắc, thiên địch, thuốc BVTV ) trong phòng và ngoài đồng ruộng

Trang 14

1.4 Cơ sở khoa học của đề tài

Qua kết quả điều tra trên các loại cây trồng nông lâm nghiệp các nhà khoa học

đã phát hiện thấy có 500 loài sâu, nhện hại có tính kháng thuốc Điều này xảy ra do tình trạng sử dụng thuốc BVTV hoá học với nồng độ cao và thời gian dài làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái gây hậu quả nghiêm trọng đến môi trường sống, chất lượng nông sản và giảm số lượng vi sinh vật có ích trên đồng ruộng

Trong hệ sinh thái đồng ruộng luôn có nhiều loại sinh vật với mối quan hệ chặt chẽ Số lượng quần thể của mỗi loài được điều hoà bởi các yếu tố vô sinh như nhiệt độ,

ẩm độ, ánh sáng, lượng mưa…, các yếu tố hữu sinh như cây trồng, thiên địch… cũng như tác động của con người (Phạm Văn Lầm, 1995 [11], Vũ Quang Côn, 1998 [4], Phạm Bình Quyền, 1994 [26])

Quần thể sâu hại ớt cũng không nằm ngoài quy luật trên, trong đó tác động của con người có ảnh hưởng lớn đến chúng thông qua việc bố trí thời vụ gieo trồng, kĩ thuật canh tác và đặc biệt là việc sử dụng thuốc BVTV Việc điều khiển quần thể sinh vật theo hướng có lợi cho con người dựa vào sự hiểu biết đầy đủ về đặc tính sinh học của đối tượng cũng như các quy luật tương tác trong quan hệ của chúng với các nhân tố môi trường xung quanh số lượng cá thể của nhiều loài côn trùng thường có sự giao động lớn từ thế hệ này sang thế hệ khác (Phạm Bình Quyền, 1994 [26])

Với sự phát triển nhanh chóng của nông nghiệp nói chung, nghề trồng rau nói riêng đã tạo điều kiện cho nhiều loài sinh vật gây hại cây trồng phát triển Để bảo vệ cây trồng trước sự phá hoại của các loài dịch hại, con người đã sử dụng nhiều biện pháp tác động, trong đó biên pháp hoá học được coi là biện pháp chủ lực Việc sử dụng quá nhiều thuốc BVTV hoá học đã tạo điều kiện cho dịch hại nói chung, sâu hại nói riêng hình thành tính kháng thuốc, điều này buộc người nông dân phải sử dụng hỗn hợp nhiều loại thuốc BVTV với nhau hoặc tăng nồng độ thuốc khiến cho việc phòng chống sâu hại trên đồng ruộng ngày càng trở lên khó khăn hơn

Mặt khác việc sử dụng thuốc BVTV phòng chống sâu hại thường xuyên và liên tục dẫn đến việc tiêu diệt phần lớn các loài thiên địch khiến cho chúng không

Trang 15

còn khả năng khống chế sự phát triển của sâu hại nên sâu hại ngày càng phát sinh với mật độ cao hơn trước đồng thời tại điều kiện cho nhiều loại sâu hại thứ yếu phát triển trở thành dịch hại gây hại chủ yếu

Sử dụng thuốc BVTV hoá học còn gây hại nghiêm trọng đến sức khoẻ con người kể cả người sản xuất và người sử dụng sản phẩm thu hoạch Trong quá trình

sử dụng vì chạy theo lợi nhuận kinh tế nhiều người dân đã không quan tâm tới thời gian cách ly của thuốc, phun thuốc trước khi thu hái sản phẩm 1 - 2 ngày, đây là nguyên nhân dẫn đến các vụ ngộ độc thực phẩm do ăn phải rau có dư lượng thuốc BVTV vượt quá quy định cho phép và nguy hại hơn đối với các loại rai gia vị sử dụng để ăn trực tiếp không qua chế biến

Như vây, chúng tôi thấy rằng cần phải có những nghiên cứu cụ thể về tình hình phát sinh, gây hại của các loài dịch hại, các loài thiên địch của chúng trên rau đặc biệt là rau gia vị từ đó tìm ra biện pháp phòng chống hữu hiệu mà vẫn đảm bảo hiệu quả kinh tế và năng xuất cũng như đảm bảo môi trường sinh thái, đảm bảo an toàn cho người sản xuất cũng như người sử dụng sản phẩm

Trang 16

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 Những nghiên cứu về cây ớt

2.1.1 Nguồn gốc, đặc điểm, phân loại, công dụng của cây ớt

Cây ớt có tên khoa học Capsium frutescens L; Capsium annuum L thuộc họ

Cà Solanaceae Cây ớt là cây gia vị, thân thảo, thân dưới hóa gỗ, có thể sống vài năm, có nhiều cành, nhẵn; lá mọc so le, hình thuôn dài, đầu nhọn; hoa mọc đơn độc

ở kẽ lá Quả ớt có nhiều tên gọi khác nhau như Lạt tiêu, Lạt tử, Ngưu giác tiêu, Hải tiêu Quả ớt mọc rủ xuống đất, chỉ riêng ở cây ớt chỉ thiên thì quả lại quay lên trời Các bộ phận của cây ớt như quả, rễ và lá còn được dùng làm thuốc chữa nhiều bệnh (Đường Hồng Dật, 2002 [7], Trần Khắc Thi, Nguyễn Công Hoan, 2005 [19], Wikipedia Tiếng việt [32])

Nguồn gốc cây ớt

Ớt đã là một phần trong ẩm thực của loài người ít nhất là 7500 năm trước Công nguyên và có lẽ sớm hơn Có những bằng chứng khảo cổ ở các khu vực ở tây nam Ecuador cho thấy ớt đã được thuần hóa hơn 6000 năm về trước (BBC News online, 2007 [34]), và là một trong những loại cây trồng đầu tiên ở châu Mỹ

Trong một nơi khai quật khảo cổ của St Botulf ở Lund, các nhà khảo cổ đã

tuyên bố tìm thấy một Capsicum frutescens trong một lớp có niên đại thế kỷ 13 Giáo

sư Hakon Hjelmqvist (năm 1995) cũng tuyên bố rằng Capsicum đó đã được miêu tả

bởi Therophrasteus người Hy Lạp (370-286 BC) Ông cũng đề cập đến các nguôn cổ khác Nhà thơ La Mã Martialis (khoảng thế kỷ 1) đã mô tả "Pipervee crudum" (ớt tươi)

có hình dài và có nhiều hạt

Christopher Columbus đã là một trong những người châu Âu đầu tiên thấy

ớt (ở Caribbean), và gọi chúng là "tiêu" vì chúng có vị cay tương tự tiêu Ớt đã được trồng khắp nơi trên thế giới sau thời Columbus (George S., 1983 [42]) Diego Álvarez Chanca, một thầy thuốc trong chuyến đi thứ hai của Columbu đến West Indies năm 1493, đã mang những hạt ớt đầu tiên về Tây Ban Nha, và đã lần đầu

Trang 17

viết về các tác dụng dược lý của chúng vào năm 1494

Từ Mexico, Tây Ban Nha các thương lái đã nhanh chóng chuyển ớt qua Ấn

Độ, Philippines và sau đó là Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản với sự trợ giúp của các thủy thủ châu Âu Gia vị mới này đã nhanh chóng được sử dụng trong chế biến thức ăn của các quốc gia này

Hiện nay, Ấn Độ là nước sản xuất ớt lớn nhất thế giới với khoảng 1 triệu tấn mỗi năm, nơi chỉ riêng Chợ Guntur (lớn nhất châu Á) có 1 triệu bao ớt (100lb mỗi bao) [52]

Ở Việt Nam cây ớt được trồng chủ yếu tại các tỉnh miền Trung và Nam Bộ Những năm gần đây, một số tỉnh vùng Đồng bằng Sông Hồng cũng đã bắt đầu trồng

ớt với diện tích lớn, nhằm cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy, các công ty sản

xuất các mặt hàng thực phẩm để tiêu thụ và xuất khẩu, đem lại lợi nhuận cao

Công dụng của ớt

Theo 24h.com [33], Tạ Thu Cúc, 2006 [6], Cây ớt trồng trong chậu có thể làm một loại cây cảnh vì quả ớt có nhiều màu sắc: trắng, đỏ, vàng, cam, xanh, tím…tùy theo giống cây Quả ớt dùng làm gia vị, thực phẩm vì chứa nhiều Vitamin A, Vitamin C gấp 5-10 so với hai loại sinh tố này có trong cà chua và cà rốt ngoai ra trong quả ớt còn chứa nhiều loại vitamin khác như B1, B2, acid citric, acid malic, betacaroten Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc cho thấy quả ớt có rất nhiều ích lợi cho sức khỏe Trong ớt có chứa hoạt chất Capsicain là một Alkaloid chiếm tỷ lệ khoảng 0,05-2% (acid isodexenic vanilylamit (C9H14O2) Chất capsicain còn gọi là chất cay có tác dụng kích thích não bộ sản xuất ra chất endorphin, một morphin nội sinh Ớt cũng giúp ngăn ngừa bệnh tim nhờ một số hoạt chất giúp máu lưu thông tốt, tránh tình trạng đông vón tiểu cầu Ngoài ra, loại quả này còn giúp ngăn ngừa tình trạng huyết áp tăng cao Theo y học cổ truyền, vị cay, nóng trong quả ớt có tác dụng khoan trung, tán hàn, kiện tì, tiêu thực, giảm đạu chống ung thư, Ớt ngâm rượu bôi ngoài da trị nhức mỏi, sưng chật gân Ớt bột trị được chứng say sóng, bệnh mê sảng, các bệnh đau

Trang 18

bụng, đau răng, nhức đầu, sưng cổ họng, tê thấp, thần kinh cũng được điều trị bằng ớt Lá ớt giã nhỏ đắp vào vết thương bị rắn cắn hay các vết lở ngứa ngoài da

Rể ớt, nhất là ớt hiểm, sắc uống để trị bệnh sốt rét Ngoài dùng làm thuốc, nhân dân ta còn thường dùng lá ớt nấu canh ăn

Phân loại giống ớt

Theo Wikipedia Tiếng Việt [32] trên thế giới có rất nhiều giống ớt, hiện nay

có các loài phổ biến nhất của ớt là:

Capsicum annuum, bao gồm nhiều loại khác nhau như bell pepper, paprika, cayenne, jalapeños, và chiltepin

Capsicum frutescens, bao gồm cả ớt tabasco

Capsicum chinense, bao gồm cả loài ớt cay nhất như naga, habanero và Scotch bonnet

Capsicum pubescens, bao gồm cả ớt rocoto Nam Mỹ

Capsicum baccatum, bao gồm cả ớt aji Nam Mỹ

Ở Việt Nam các nhà khoa học đã công bố 117 loại giống nội địa và nhiều giống F1 nongthon.net [30] Một số giống ớt tiêu biểu được trồng rộng rãi tại Việt Nam (nongthon.net [30]) :

- Ơt sừng bò: được trồng rộng rãi ở vùng đồng bằng trung du Bắc bộ như Hà Nội, Thái Bình, Hưng Yên…

- Ớt chìa vôi, ớt chỉ thiên: được trồng phổ biến ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, các tỉnh ven biển miền Trung

- Hiện nay phân viện khoa học miền Nam và một số công ty đã tạo ra được một số giống F1 như Chilli, số 20, TN16, hiểm lai 207…

2.1.2 Kĩ thuật trồng và chăm sóc cây ớt

Cây ớt phát triển tốt ở đất thịt nhẹ, đất pha cát dễ thoát nước Hạt ớt nảy mầm ở 25-30 độ C, dưới 10 độ C hạt không mọc Thời kỳ ra hoa cần nhiệt độ 15-

20 độ C, và nhiều ánh sáng Cây ớt có khả năng chịu hạn cao, lúc ra hoa chỉ cần độ

Trang 19

ẩm trên 70% song không chịu được úng, độ ẩm trên 80%, bộ rễ kém phát triển, cây còi cọc Thời vụ trồng ớt được chia vụ đông - xuân gieo hạt từ tháng 10 đến tháng

12, trồng vào tháng 1-2, thu hoạch từ tháng 4 - 5 đến tháng 6 - 7 năm sau Vụ hè thu gieo hạt từ tháng 6 - 7, trồng vào tháng 8 - 9, thu hoạch vào tháng 1 - 2 năm sau Ngoài ra, ở các bãi ven sông hoặc các vùng đất trống không trồng được lương thực, người ta có thể trồng ớt xuân - hè, gieo hạt từ tháng 2 - 3, trồng tháng 3 - 4, thu hoạch tháng 7-8 (Tạ Thu Cúc, 2006 [6], nongthon.net [30], Hồ Hữu An, 2000 [1], Đường Hồng Dật, 2002 [7])

Đất để trồng ớt phải chọn nơi quang đãng và nhiều ánh sáng Sau khi dọn đất sạch, cuốc lên một lớp sâu khoảng 2-3 tấc (càng sâu càng tốt vì rễ ớt ăn sâu 70-

80 cm), đập đất nhỏ, nhặt sạch đá sỏi, cỏ dại và làm thành liếp để trồng Mỗi liếp rộng khoảng 1-1,2 m, dài tùy ý, cao 15-20cm (về mùa mưa hoặc ở những vùng đất thấp có thể làm liếp cao 50-60cm để tránh úng) Giữa hai liếp có rãnh rộng 30cm Các loại phân hữu cơ như: phân xanh, cỏ rác mục, tro bếp, phân gia súc, bùn cống, tro bếp trộn vào đất và san liếp để gieo trồng Có thể bón thêm 0,8 đến 1 kg vôi cho mỗi 10 m2 để ớt có nhiều quả Nếu trồng ớt trong chậu thì nên đập đất vụn trộn với tro bếp, phân chuồng vào để trồng

Sau khi gieo hạt khoảng 4 tháng (tức là 3 tháng sau khi trồng cây con) thì có thể thu hái quả được Cây ớt cho quả quanh năm và được hái nhiều đợt Quả ớt có thể hải khi quả còn xanh hay đã chín đỏ Sau mỗi đợt hái thì lại bón phân và vun gốc, 1 tháng sau sẽ hái lứa tiếp theo Mỗi tháng 1 cây có thể cho 150-300 gram ớt tươi để ăn tươi, ngâm giấm, làm ớt bột, tương ớt Sau nhiều lần thu hoạch thì cây cằn cỗi phải nhổ bỏ để trồng cây non mới Tuy nhiên không nên trồng hai mùa ớt liên tục trên một liếp đất vì cây sẽ bị bệnh và năng suất thấp, nên luân canh các loại cây khác (nongthon.net [30])

Trong chăm sóc cât ớt cần quan tâm đến các công việc sau: chế độ nước tưới, tỉa nhánh, phòng chống sâu bệnh Ớt thường bị: ruồi đục lá, sâu xanh đục quả, sâu

khoang (Spodoptera litura), Bọ phấn (Bemisia sp), rầy xanh, rệp, bệnh lỡ cổ rễ (Rhizoctonia solani sp), bệnh thán thư, bệnh mốc sương (Phytophthora infestans),

Trang 20

bệnh héo rũ vi khuẩn, bệnh héo rũ do nấm Fusarium oxysporum hại nên cần chú ý

và sử dụng tổng hợp các biện pháp bảo vệ thực vật để phòng chống hiệu quả

Thu hoạch: Thu hoạch ớt khi trái bắt đầu chuyển màu Ớt cho thu hoạch

35-40 ngày sau khi trổ hoa, ở các lứa rộ thu hoạch ớt mỗi ngày, bình thường cách 1-2 ngày thu 1 lần

2.2 Những nghiên cứu về sâu, nhện hạí ớt

Cây ớt là cây trồng có thời gian dài trong năm do vậy nó thường bị nhiều loài sâu, nhện hại tấn công và gây hại Nghiên cứu về tình hình sâu hại rau nói chung sâu nhện hại ớt nói riêng đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm

từ nhiều năn nay Số lượng và mức độ gây hại của các loài sâu hại đối với cây ớt tuỳ thuộc và điều kiện ngoại cảnh và chế độ canh tác

Các nhà khoa học đã nghiên cứu và đưa ra thành phần các loài sâu nhện hại

ớt gồm nhiều loài sâu chích hút, sâu ăn lá, sâu đục quả, sâu đục thân, gốc… tuy nhiên hiện nay có một số loài sâu, nhện hại chủ yếu sau:

2.2.1 Những nghiên cứu về bọ phấn

Bọ phấn (Bemisia sp.), họ bọ phấn (Aleyrodidae), bộ cánh đều (Homoptera)

Là loài có phổ kí chủ rất rộng gây hại trên nhiều loại cây trồng, hại nhiều trên ớt, cà chua, dưa chột, thuốc lá, khoai tây… và nhiều loại cây trồng khác (Côn trùng chuyên khoa, 2004 [2], [29])

Bọ trưởng thành thân dài 0,75 - 1,4 mm, sải cánh rộng 1,2 - 2 mm Hai đôi cánh trước và sau dài bằng nhau, toàn thân và cánh phủ một lớp phấn trắng Mắt kép có một rãnh ngang chia thành hai phần gần giống hình số tám Râu đầu có sáu đốt, chân dài và mảnh, bụng có chín đốt Trưởng thành bay chậm, hình dáng giống như bướm Sâu non rất giống rệp sáp, màu trắng trong, được phủ một lớp sáp, ít

bò, thường cố định một chỗ chích hút mô cây Trứng, sâu non và trưởng thành luôn luôn hiện diện ở mặt dưới lá trên các loại cây ăn trái, bầu bí, dưa, cà, ớt, bông vải, thuốc lá Sâu non màu vàng nhạt khi mới nở có chân, bò dưới mặt lá, rồi ở cố định một chỗ dưới mặt lá Sau khi lột xác chuyển sang tuổi 2 thì sâu non không

Trang 21

còn chân, có thể nhìn rõ mắt kép và râu đầu Nhộng giả, hình bầu dục, màu sáng Trứng hình bầu dục có cuống, dài 0,18 - 0,2 mm Bọ trưởng thành rất linh hoạt, thường ở mặt dưới lá, khi bị động nhẹ lập tức bay vút lên Trưởng thành hoạt động giao phối mạnh vào khoảng 5 - 6 giờ sáng và 4 - 5 giờ chiều Một cá thể cái đẻ 49

- 85 trứng thành từng ổ 4 - 6 quả, hoặc rải rác trong mô lá Bọ phấn phát triển quanh năm nhưng gây hại nặng vào tháng 3 – 5, chích hút dịch ở lá, ngọn và phần thân non làm chết mô thực vật làm lá biến vàng cây suy yếu, những chỗ bị gây hại thường phủ một lớp bụi màu trắng Bọ phấn tiết nước bọt làm lan truyền mầm bệnh đặc biệt là virus gây bệnh xoăn lá và một số loại bệnh cây khác

Bọ trưởng thành và bọ non đều sống tập trung ở đọt non hay mặt dưới lá non hút nhựa làm đọt và lá non xoăn lại, có nhiều đốm nhỏ màu vàng nhạt Mật độ cao làm cây cằn cỗi không phát triển được, đọt chùn lại, lá vàng, khô, hoa rụng không đậu trái hoặc trái không lớn Bọ trĩ phát triển mạnh khi thời tiết nóng và khô, sức kháng thuốc cao và mau quen thuốc Gặp điều kiện thích hợp bọ trĩ phát triển rất nhanh, dễ gây thành dịch, ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và năng suất , Vòng đời tương đối ngắn, trung bình 15 – 18 ngày

2.2.3 Những nghiên cứu về sâu khoang

Sâu khoang Spodoptera litura hay còn gọi là sâu ăn tạp thuộc họ Ngài đêm

(Noctuidae), Bộ cánh vảy (Lepidoptera), phân bố rộng khắp thế giới ở các nước

Trang 22

châu Âu, châu Mỹ, châu Á, Bắc Phi Ở Việt Nam sâu khoang có ở khắp nơi Đây là loài đa thực, ước tính phá hại 290 loại cây trồng thuộc 99 họ thực vật hại quan trọng trên cây rau họ thập tự, rau họ cà, rau họ đậu, khoai tây, khoai lang, Côn trùng chuyên khoa, 2004 [2])

Theo Nguyễn Duy Nhất (1970) [13] ở Việt Nam nhiệt độ không khí là 20oC thì thời gian phát dục của sâu khoang bị kéo dài, còn ẩm độ dưới 78% thì quá trình phát dục của sâu bị ảnh hưởng nhất là sâu tuổi 1 - 2 Điều kiện thích hợp cho phát dục của sâu khoang là 28 - 30oC và ẩm độ không khí là 85 - 92% Độ ẩm thích hợp cho sâu hoá nhộng là 20% Theo Lê Văn Trịnh (1997) [21], vòng đời của sâu khoang từ 22 - 30 ngày, trong đó giai đoạn trứng từ 1 - 3 ngày Lượng trứng đẻ của một trưởng thành cái là 125 – 1524 trứng tuỳ thuộc vào điều kiện thời tiết và lượng thức ăn Sâu non tuổi nhỏ thường tập chung thành đám gặm ăn lá, chừa lại biểu bì trên và gân lá Khi sâu lớn thì phân tán, ăn thủng lá chỉ để lại gân lá, có thể cắn trụi hết lá Nếu bị khua động sâu có thể bò phân tán hoặc nhả tơ dong mình rơi xuống Tuổi nhỏ sâu không lẩn tránh ánh sáng, nhưng ở tuổi lớn (tuổi 4) có hiện tượng trốn ánh sáng nên ban ngày thường chui vào chỗ kín hoặc chui vào khe nẻ ở mặt đất, ban đêm mới chui ra hoạt động Sâu có 6 tuổi Sâu non đẫy sức dài 38 - 51mm, phần lớn có màu nâu đen hoặc nâu tối, một số ít có màu xanh lục Vạch lưng và vạch phụ lưng màu vàng Trên mỗi đốt dọc theo vạch phụ lưng có một vệt đen hình bán nguyệt, trong đó vệt ở đốt bụng thứ 1 và đốt bụng thứ 8 là lớn nhất Sâu non đấy sức chui xuống đất làm 1 kén bằng đất hình bầu dục để hoá nhộng bên trong Khi sâu khoang phát sinh thành dịch, chúng gây thiệt hại đáng kể cho cây trồng về sản lượng

và giá trị thương phẩm Ngài sâu khoang dài 16 - 21 mm, sải cánh 37 - 42 mm Cánh trước màu nâu vàng Phần giữa từ mép trước cánh tới mép sau cánh có một vân ngang rộng màu trắng Trong đường vân này có 2 đường vân màu nâu (ở con đực không rõ), cánh sau màu trắng loáng phản quang màu tím Trứng hình bán cầu, đường kính 0,5mm Bề mặt trứng có những đường khía dọc từ đỉnh xuống đáy trứng (36 - 39 đường) cắt ngang bởi những đường khía ngang tạo nên những ô nhỏ Trứng mới đẻ có màu trắng vàng, sau chuyển thành màu vàng xám, khi xắp nở có màu xám

Trang 23

Trứng xếp với nhau thành ổ có lông màu nâu vàng phủ bên ngoài Nhộng dài 18 - 20

mm, màu nâu tươi hoặc nâu tối, hình ống tròn Mép trước đốt bụng thứ 4 và vòng quanh các đốt bụng thứ 5, 6, 7 có nhiều chấm lõm Cuối bụng có một đôi gai ngắn

Tập tính và quy luật phát sinh: Ngài sâu khoang thường vũ hoá vào buổi chiều và bay ra hoạt động lúc chập choạng tối đến nửa đêm Ban ngày ngài đậu ở dưới lá và những nơi kín trong bụi cây, bụi cỏ Sức bay khoẻ, bị khua động bay vài chục mét và có thể bay cao 6 - 7 m Ngài có xu tính mạnh với mùi vị chua ngọt và với ánh sáng đèn đặc biệt là đèn có bước sóng ngắn (3650Ao) Sau khi vũ hoá vài giờ, ngài có thể giao phối và đẻ trứng ngay trong đêm đó hoặc là đêm hôm sau Ngài cái giao phối một lần trong 1 đêm và tinh trùng được dự trữ để thụ tinh trong 1 tuần (Côn trùng chuyên khoa, 2004 [2]) Ngài đực trong 1 - 2 đêm có thể giao phối với 8 con cái

Ở Việt Nam điều kiện thời tiết khí hậu và cây trồng thuận lợi cho sâu khoang phát sinh phát triển và thường gây hại nặng cho cây trồng vào các tháng nóng ẩm của mùa hè và mùa thu (từ tháng 4 - 10) Dịch sâu thường phát sinh vào tháng 5 - 6, còn các tháng khác có thể gây hại nặng hay nhẹ tuỳ thuộc vào địa điểm, cây trồng (Côn trùng chuyên khoa, 2004 [2]) Trong vụ đông xuân sâu khoang phá hại trên khoai tây, cà chua, bắp cải, đậu rau và đậu đỗ khác, khoai lang Trong vụ hè thu sâu hại nặng trên rau muống, bầu, bí, ớt, cà

2.2.4 Những nghiên cứu về sâu xanh đục quả

Sau xanh đục quả Heliothis armigera H thuộc họ ngài đêm (Noctuidae), bộ

cánh vẩy (Lepidoptera) có phân bố rộng khắp từ biên giới phía Bắc đến đồng bằng Nam bộ Việt nam Theo Côn trùng chuyên khoa, 2004 [2] và Từ điển bách khoa

BVTV 1996 [25], Sâu xanh Heliothis armigera phát sinh phát triển quanh năm, hại

nặng nhất trong các tháng mùa xuân và đầu hè và hại nhiều trên cà chua, ớt, thuốc

lá, bông, ngô, đậu đỗ, cà pháo…

Trưởng thành là bướm ngài đêm màu trắng bóng thân mập, nhiều lông, giữa cánh có một chấm đen to và một chấm trắng nằm cạnh nhau Ngài đẻ trứng phân

Trang 24

tán trên cắc búp non, nụ hoa và trên mặt lá Thời gian phát dục thay đổi theo nhiệt

độ và độ ẩm Ở nhiệt độ 19,90C ngài sống 7 – 12 ngày, nhiệt độ 26,60C là 8 – 10 ngày Trứng hình bán cầu có màu ngọc trai đường kính 0,5mm Ở nhiệt độ 23 –

290C và độ ẩm từ 70,1 – 85,1% thời gian trứng từ 4 – 5 ngày Sâu non có 6 tuổi, mới nở thích ăn lá búp non, tuổi lớn dần phá nụ, quả đặc biệt là quả xanh, thời gian phát dục của sâu non cũng thay đổi theo nhiệt, ẩm độ Ở nhiệt độ 20,30C, ẩm

độ 86,7% là 31 ngày, nhiệt độ 25,70C, ẩm độ 82,7% là 28,5 ngày, ở nhiệt độ 26,30C, ẩm độ 80,1% là 23,5 ngày Sâu non đẫy sức dài 36 – 45 mm màu sắc thay đổi từ xanh nhạt đến nâu vàng, hồng hoặc nâu xám tuỳ tuổi và điều kiện thức ăn, thân mình có nhiều lông Thời gian sâu non từ 15 – 22 ngày Sâu non hoá nhộng ở trong đất độ sâu 2,5 – 3 cm Nhộng màu cánh gián dài 15 – 17 mm Thời gian phát dục của nhộng ở nhiệt độ 20,30C ẩm độ 90,5% là 24 ngày, nhiệt độ 20,80C ẩm độ 92% là 21 ngày, nhiệt độ 29,30C ẩm độ 81,5% là 11,5 ngày Vòng đời từ 35 – 70 ngày theo nhiệt độ

Triệu chứng gây hại: Sâu xanh phá hại búp non, nụ, hoa, quả, đục vào thân, cắn điểm sinh trưởng làm rỗng thân, đứt núm, rụng quả Khi quả xanh sâu đục từ giữa quả vào, vết lỗ đục gọn ít nham nhở, sâu đục đến đâu đùn phân ra đến đó Một nửa thân sâu thường ở ngoài quả một nửa nằm trong quả Khi quả già, chín sâu thường đục từ núm xuống sau đó nằm gọn trong quả và phá hại Những quả bị hại

có thể bị rụng hoặc thối nhũn nếu gặp trời mưa

2.2.5 Những nghiên cứu về nhện trắng

Nhện trắng Polyphagotarsonemus latus Bank họ nhện chăn tơ (Tetranychidae), bộ ve bét (Acarina) theo Nguyễn Văn Đĩnh, 2004 [8] nhện trắng

là loài dịch hại có mặt trên 55 nước, phân bố toàn cầu nhất là trong vùng nhiệt đới

ẩm Nhện trắng là loại nhện đa thực có thể phá hại hầu hết các họ thực vật vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Khi bị hại cây trồng có thể giảm 50 – 60% năng xuất Nhện gây hại nhiều trên cây đậu tương, cam, chanh, chè, ớt và cà tím

Ở Việt Nam nhện trắng lần đầu tiên được ghi nhận hại khoai tây năm 1990 với mức gây hại trung bình Năm 1992 Nguyễn Văn Đĩnh ghi nhận nhện trắng tấn

Trang 25

công gây hại 59 loài thực vật tại vùng Hà Nội, trong đó những loại cây bị hại nặng gồm có khoai tây, ớt, cà đậu tương, chè, cam chanh…

Nhện cái trưởng thành có hình ô van, màu trắng trong Trên lưng có 3 ngấn chạy ngang Ở giữa lưng có 1 vệt màu xanh chạy dọc Có 4 đôi chân, đôi chân thứ 4 không linh hoạt và 2 lông bàn chân rất dài Con đực cơ thể nhỏ hơn màu trắng vàng

Cơ thể hình ô van nhọn hai đầu, đôi chân thứ 4 có đốt đùi to, các đốt tiếp theo nhỏ dần Gần cuối đốt bàn có lông dài bằng chiều dài thân Trứng hình nửa quả dứa bổ dọc có màu trong, trên có các u lồi màu trắng như bụi phấn xếp thành 5 – 6 dãy Nhện non màu trắng sữa có 3 đôi chân

Nhện trắng phát sinh phát triển quanh năm, mật độ cao nhất trong các tháng nóng ẩm Tháng 4, 5 và 9, 10 Những tháng mùa đông hanh khô nhện bị chết nhiều, những tháng có mưa rào nhện bị rửa trôi nên mức độ gây hại không đáng kể cây có thể phục hồi

2.2.6 Nhưng nghiên cứu về rệp muội

Nguồn gốc rệp muội:

Rệp muội thuộc tổng họ Aphidoidae (tổng họ rệp muội), bộ cánh đều Homoptera, là nhóm côn trùng chích hút nhựa cây Rệp muội được phát hiện từ kỉ Cacbon cách đây 280 triệu năm qua các hoá thạch (Triassoaphis cubitus), từ đó rệp muội ngày càng phát triển và trở thành các loài rệp muội hiện đại ngày nay Rệp muội được phát hiện có hai hình thức sinh sản là sinh sản đơn tính xen kẽ với sinh sản hữu tính và một số đặc điểm hình dạng của rệp như: cấu trúc gân cánh, vòi, chân, lông đuôi, ống bụng của rệp cũng được phát hiện trong các kỉ sau đó (Shaposhnikov, 1977 [59]) Heie, 1967 [44] cho rằng rệp muội có kích thước cơ thể nhỏ bé nên có thể phát tán nhờ gió

Trong tổng họ rệp muội (Aphidoidae) thì họ rệp muội Aphididae là họ lớn nhất Chúng thường xuất hiện cùng với sự xuất hiện của họ hoa hồng (Heie, 1967 [44]) Sự xuất hiện của rệp muội đã có từ rất lâu nhưng chưa thực sự được quan tâm Mãi cho đến năm 1568 các nhà khoa học mới bắt đầu nghiên cứu và đã xây dựng được

Trang 26

bảng thành phần rệp theo cây kí chủ, sự liên quan của rệp và cây kí chủ là cơ sở cho việc phân loại rệp muội ngày nay

Phân loại rệp muội:

Rệp muội là loài đa hình với tính phổ biến rộng vì vậy sự phân loại phải dựa vào mẫu tiêu bản từ các nơi phân bố và được xem dưới kính lúp có độ phóng đại lớn để phân loại dựa vào ống bụng, râu đầu, hình dạng trán, lông đuôi mới đảm bảo

sự chính xác của phân loại (Blackman và Eastop, 1984 [36]) Hiện nay đã xây dựng được nhiều khoá phân loại rệp muội hiện đại ở nhiều vùng trên thế giới đặc biệt những công trình của Linne, 1758 [48]; Blackman và Eastop, 1984 [36] đã cho ra đời một khoá phân loại rệp muội theo cây kí chủ trên toàn thế giới Người ta đã phát hiện và mô tả được gần 4000 loài rệp muội khác nhau và đã có kết luận quan trọng: Rệp muội tuy có nguồn gốc ở vùng ôn đới nhưng cho tới nay chúng phân bố ở tất cả các nước trên thế giới (Eastop, 1971 [41])

Theo các nhà phân loại thì họ rệp muội (Aphididae) thuộc tổng họ rệp muội (Aphidoidea) có 8 họ phụ là Aphidinae, Drepanosiphinae Greenideinae, Hormaphidinae, Lachninae, Chaitophorinae, Anoeciinae và Pemphiginae Họ phụ Aphidinae là họ phụ có số loài nhiều nhất Các loài trong họ phụ này là những loài rệp muội gây hại quan trọng trong sản xuất bao gồm một số tộc Macrosiphini (có khoảng 1000 loài), tộc Aphidini (có khoảng 400 loài) (Blackman và Eastop, 1984 [36]) Trong các tộc đó, tộc Aphidini xuất hiện ở nhiều nước trên thế giới và gây hại trên nhiều loại cây trồng quan trọng như: họ bầu bí, họ cà, họ cúc, bông, bìm bìm và

một số cây thân gỗ trong đó nổi bật là loài Aphis gossypii Glover phát sinh quanh

năm có phổ kí chủ rất rộng Tộc Macrosiphini hại nặng trên khoai tây, thuốc lá, cây

họ cà và một số họ khác nổi bật là loài rệp đào Myzus persicae (Sulzer), Các loài rệp

này có thể truyền khoảng 100 loài virus khác nhau cho cây kí chủ (Blackman và Eastop, 1984 [36])

Một số tác giả đã công bố thành phần loài rệp muội trên một số cây trồng quan trọng ở các nước trên thế giới, trong đó năm 1968 Szelgiewicz [61] đã thu thập được 22 loài rệp muội gây hại ở Việt Nam

Trang 27

Kết quả nghiên cứu loài rệp bông: Aphis gossypii (Glover)

Theo Paik, 1972 [54] cho biết rệp bông được Glover phát hiện vào năm 1876

và đặt tên là A gossypii Rệp gây hại phổ biến trên nhiều loại cây trồng các cây họ

cà, cây bầu bí, dưa hấu, vừng, hành, dưa chuột, bí ngô, rau họ hoa thập tự; hại trên một số cây ăn quả như: nho, cam, chanh, táo, ổi và gây hại chủ yếu trên cây bông

(Maimi và CTV, 1982 [51]) Rệp bông A gossypii là một trong những loài rệp môi

giới truyền nhiều bệnh virus cho cây trồng như bệnh cuốn lá (PLRV), virus Y khoai tây, khảm lá ớt (Singh và CTV, 1982 [60]), truyền virus gây bệnh hoa lá chuối

(Banana mosaic Discase) (Pandey và CTV, 1981 [55]) Theo Roy và CTV, 1983

[57] ban đầu rệp xuất hiện trên lá già sau đó khi mật độ cao hơn chúng lan dần lên

lá non và ngọn Nhiệt độ và độ ẩm có ảnh hưởng nhiều đến sức sống và sinh sản của rệp bông Thời tiết nóng trên 400C và độ ẩm quá cao hoặc quá thấp sẽ làm cho rệp chết nhiều Nhiệt độ tối thấp cho sự phát triển của rệp là 50C, nhiệt độ tối thích là

250C (Liu và CTV, 1987 [49])

Trong nghiên cứu đặc tính sinh vật học của rệp bông Jawal và CTV, 1988 [46] đã nghiên cứu khá sâu và cho rằng ở nhiệt độ 240C và ẩm độ 70%, thức ăn là

cây ớt Capsicum annuum thì thời gian phát triển của giai đoạn rệp non là 9,42 ±

1,01 ngày, sau khi hoá trưởng thành 01 ngày rệp bắt đầu đẻ con, thời gian đẻ có thể kéo dài từ 9 - 12 ngày, trung bình một con cái đẻ 36,3 con, trung bình một năm rệp

có 31 lứa

Ngoài ra một số nhà khoa học đã nghiên cứu về diễn biến mật độ rệp bông

Aphis gossypii trên một số cây trồng cho rằng rệp thường xuất hiện trên cây khoai tây và cây ớt tại Ấn Độ vào tháng 8, 9, 10 và tiếp tục phát triển cho tới tháng 4, 5, 6 Trong thời kì này chúng hình thành 2 đỉnh cao về số lượng Đỉnh cao lần 1 có mật

độ thấp hơn vào khoảng cuối tháng 11, lần 2 vào tháng 2 với mật độ rất cao sau đó mật độ giảm dần (Verma và Parihar, 1990 [64]) George, 1983 [42] trong quá trình nghiên cứu về rệp bông đã phát hiện mức độ thích nghi của rệp với môi trường và nguồn thức ăn có liên quan chặt chẽ đến đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của rệp Sau khi rệp gây hại trên một số cây trồng chúng thường có hiện tượng phát tán

Trang 28

tìm kí chủ mới bằng cách mọc cánh xuất hiện những cá thể có cánh trong quần thể bay đi hoặc nhờ gió để phát tán Hoạt động phát tán của rệp cao nhất vào đầu tháng

3, số lượng rệp bay vào buổi sáng thường cao hơn rất nhiều so với buổi chiều

Với tốc độ sinh sản nhanh, số lượng rệp con được đẻ ra của một con cái nhiều và vòng đời ngắn cộng với sự đa thực của chúng, có thể khẳng định rệp bông

có sức gây hại rất lớn, chính vì thế các nhà nghiên cứu đã tìm mọi biện pháp để phòng trừ rệp Dhandapani và CTV, 1983 [39] cho rằng phun Pirimicab 0,1% hoặc

Monocrofos có hiệu lực cao với rệp bông A gossypii trong thời gian 21 ngày sau

phun Năm 1992 Ghany và CTV [43] thử nghiệm hiệu lực của 5 loại thuốc trừ rệp bông đã rút ra kết luận Priothiofos và Chlorpyrophis methyl với lượng 166 g.a.i/

100 lít nước thuốc đã giữ mật độ rệp thấp hơn đối chứng nhiều và những loại thuốc này gây ảnh hưởng ít tới nhóm côn trùng bắt mồi Ngoài ra nhiều tác giả đã có những kết luận về thuốc hoá học phòng trừ rệp bông, nhưng sau khi sử dụng thuốc BVTV trong một thời gian dài trên cây bông tại Sudan người ta nhận thấy có hiện tượng rệp bông lại trở lên gây hại trầm trọng hơn (Tigani và CTV, 1991 [62]) Cho tới nay người ta đã phát hiện ra rệp bông có tính chống chịu rất cao với các loại thuốc Carboxylesterases (Brien và CTV, 1992 [37]); Bi58 và Phosalone (Rhodzhaev và CTV, 1985 [56]); Pyrethroids (Liu, 1987 [50]); Bifenthrin (Ishaaya

và CTV, 1987 [45]); Fenvalerate, Omethoate (Mu Ly và CTV, 1988 [53]) Để khắc phục tình trạng chống thuốc của rệp bông và có thể hạn chế sự gây hại của chúng, một số nhà nghiên cứu đã tìm ra các giống cây trồng kháng rệp bông như giống ớt

cayenne longslim (Samhan, 1990 [58]) Biên pháp phòng trừ rệp bông bằng sinh học ngày nay đang được sử dụng nhiều trong nghiên cứu và thực địa để phòng chống rệp bông Ở Trung Quốc, năm 1992 Zhang [66] đã phát hiện thấy 48 loài thuộc 19 họ kẻ thù tự nhiên của rệp bông, trong đó nhóm bọ rùa, nhện, ong kí sinh

và ruồi ăn rệp đóng vai trò quan trọng trong điều hoà số lượng rệp bông trên đồng

ruộng Trung bình 1 con bọ rùa Scymus hoffmanni có khả năng ăn 25 con rệp bông/ ngày Nhện Erigonidium graminicolum có khả năng ăn hết 20 rệp bông/ ngày

Chrysoperla sinica ăn 30 rệp bông/ ngày Zhang, 1985 [65] cho rằng ngoài tự nhiên

Trang 29

trên cánh đồng bông nếu tỷ lệ rệp bông/ thiên địch nhỏ hơn 80/1 sẽ không cần phun

thuốc BVTV, ông nhận thấy ngoài các loài bọ rùa Coccinella septempuctata và

Propylea japonica khống chế mật độ rệp bông thì trong thời gian tháng 6 của năm

rệp bông còn bị các loài ong kí sinh như ong mắt đỏ Trioxys spp và Aphelinus sp kí sinh từ 16 - 47,9% Việc sử dụng vi khuẩn BT (Baccillus thurigensis) trong phòng

trừ rệp bông gây hại trên dưa chuột tại Liên Xô được Begunov và CTV [35] tiến hành thử nghiệm năm 1986 và đã cho kết quả tốt làm tăng năng suất cây trồng 0,3 kg/m2 so với đối chứng Tại Ấn Độ, Venkatetan và CTV, 1987 [63] đã sử dụng nước chiết từ lá, quả xoan, hoặc dầu vừng để phòng trừ rệp bông hại trên rau họ cà cũng mang lại kết quả cao

Dincer, 1984 [40] đã xây dựng hệ thống phòng trừ tổng hợp cho rệp bông tại Thổ Nhĩ Kỹ, hệ thống bao gồm các biện pháp như thời vụ trồng, mật độ cây/m2, sử dụng thuốc BTVT hợp lý Hiện nay ở hầu khắp các nước trên thế giới đã áp dụng

và sử dụng phương pháp phòng trừ tổng hợp để phòng trừ rệp bông cũng như các loài rệp muội khác ngày càng có hiệu quả

Những nghiên cứu trong nước về rệp muội

Rệp muội hại cây trồng ở Việt Nam đã được nhiều nhà nghiên cứu nhắc tới Theo Nguyễn Viết Tùng, 1993 [24] thì rệp muội Aphididae là nhóm côn trùng chích hút có tác hại rất lớn đến năng suất và phẩm chất cây trồng, ngoài ra chúng còn là môi giới truyền bệnh virus cho cây Ở vùng Châu thổ sông Hồng, nhóm côn trùng này khá phổ biến Hầu hết các loại cây trồng đều bị rệp muội gây hại Một

số loài rệp muội như rệp bông, rệp đào, rệp xám hại cải, rệp đen hại lạc, đậu, rệp gốc khoai tây đã được ghi nhận là những dịch hại nguy hiểm cho mùa màng ở nước ta Theo kết quả điều tra côn trùng của Viện Bảo vệ thực vật từ năm 1967 -

1967 [27] đã phát hiện được 9 loài rệp muội gây hại cây trồng ở Việt Nam, Nguyễn Thị Kim Oanh, 1996 [16] đã điều tra, nghiên cứu và đưa ra kết luận tại vùng Hà Nội có 14 loài rệp muội chủ yếu thuộc 2 họ phụ là Aphidinae (có 13 loài)

và họ phụ Lachninae (có 1 loài) trong đó có 6 loài thường xuyên có mặt trên các

loại cây trồng là rệp bông A gossypii, rệp đen A craccivora; rệp ngô

Trang 30

Rhopalosiphum maidis ; rệp xám hại cải Brevicoryne brasicae; rệp đào Myzus

persicae ; rệp rễ khoai tây Rhopalosiphum rufiabdominalis Chúng là những đối

tượng sâu hại quan trọng trên các cây trồng như bông, đậu, ngô, cây họ hoa thập

tự, khoai tây, ớt và nhiều loại cây trồng khác Hầu hết các loài rệp muội được phát hiện tại Việt Nam là loài có tính đa thực do vậy công tác phòng chống rệp muội luôn được được coi là vấn đề cần đặt ra Tuy nhiên trước đây người ta chỉ chú trọng đến biện pháp sử dụng thuốc BVTV hoá học (Nguyễn Viết Tùng, 1992 [23],

1993 [24]) chính điều này đã làm ảnh hưởng xấu đến hệ sinh thái đồng ruộng và làm tăng tính kháng thuốc của rệp muội Những nghiên cứu gần đây đã chú ý hơn đến biện pháp sử dụng thiên địch Đây là một trong những loài công trùng có ích

có thành phần tương đối phong phú bao gồm các loài ong kí sinh, côn trùng, nhện lớn bắt mồi, nấm, vi khuẩn, vi rus Việc xác định thành phần thiên địch, đánh giá vai trò của chúng trong phòng chống sâu hại nói chung, rệp hại nói riêng đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và khuyến cáo đưa vào sử dụng trong đồng ruộng Trong các loài côn trùng có ích thì nhóm Bắt mồi ăn thịt rất phổ biến với số lượng nhiều, chúng có thể ăn thịt sâu hại từ pha sâu non đến pha trưởng thành do vậy mỗi cá thể của loài bắt mồi có thể tiêu diệt được một lượng lớn côn trùng trong cả đời chúng Loài kí sinh cũng rất đa dạng có sức khống chế mật độ sâu hại trên đồng ruộng tương đối lớn nhất là đối với rệp muội Cơ chế kí sinh của các loài kí sinh rất đơn giản sau khi giao phối, con cái tấn công một con rệp muội ,và đẻ trứng vào khoang bụng của con rệp Khi ở trong cơ thể rệp các trứng tăng kích thước nhiều lần so với kích thước ban đầu của nó và trở thành dạng ấu trùng Nó tăng trưởng trong cơ thể rệp mà không ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển và tập tính của ký chủ Khi ấu trùng ký sinh đã lớn và rệp muội trở thành dạng trưởng thành thì nó đã ăn hầu hết các mô bên trong của rệp, hoàn toàn lấp đầy lớp biểu bì của rệp, Rệp muội biến thành “mummy - xác ướp” có dạng bị căng phồng, mỏng,

có màu vàng và nâu Khi trưởng thành, ong kí sinh sẽ cắt một lỗ tròn ở phần đuôi phía trên của rệp để chui ra ngoài Hiện nay người ta đã quan tâm hơn đến biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM) (Nguyễn Thị Kim Oanh, 1996 [16]; Bùi Minh Hồng, Hà Quang Hùng, Hồ Thu Giang, 2006 [10], Nguyễn Viết Tùng, 1992

Trang 31

[23]) đã nghiên cứu và chứng minh rằng việc sử dụng tổng hợp các biên pháp trong phòng chống rệp muội sẽ đem lại kết quả cao Các tác giả đã đưa ra các biện phòng chống tổng hợp như vệ sinh đồng ruộng, điều chỉnh thời vụ trồng, điều tra thường xuyên trên đồng ruộng xác định mật độ rệp muội và thiên địch để có biện pháp thích hợp, sử dụng biện pháp BVTV với các loại thuốc có nguồn gốc sinh học Chính những biện pháp đồng thời này đã góp phần đáng kể vào công tác phòng chống rệp muội gây hại cây trồng

Những nghiên cứu về rệp bông A gossypii

Trên cây bông Nguyễn Thơ và CTV, 1991 [20] cho rằng sâu hại bông ở nước ta có nhiều loài, nhưng quan trọng nhất là các loài sâu chích hút như rầy

xanh, rệp A gossypii Vũ Khắc Nhượng, 1991 [14] khi nói về sâu bệnh hại bông

và các loài rau đậu có nhận xét: Khi cây trồng vượt qua giai đoạn cây con, bắt đầu

phân cành lúc này xuất hiện các loại sâu hại như rầy xanh, rệp muội A gossypii

Rệp tập trung sinh sống ở ngọn cây và lá non, chúng làm cành lá cong queo, hình dạng thay đổi, không phát triển Điều này cần chú ý là rệp muội bị loài bọ rùa tiêu diệt khá nhanh do vậy cần hết sức bảo vệ và tạo điều kiện để bọ rùa khống chế sự phát triển của rệp, Nguyễn Viết Tùng, 1990 [22], 1992 [23]

Nguyễn Viết Tùng, 1993 [24] khi nói về sự chu chuyển qua các kí chủ của

rệp bông có viết: Rệp bông A gossypii G Là loài rệp điển hình ở Việt Nam, chúng

có thể phát sinh phát triển quanh năm trên một phạm vi kí chủ rất rộng gồm các cây trong họ bầu bí, bông, cà, cúc, bìm bìm và hàng loạt cây thân gỗ, thâm thảo khác, trong đó phổ biến nhất là các loại dưa, bầu bí, bông, cà, ớt và khoai sọ

Nguyễn Kim Oanh, 1991 [15] khi đề cập đến thời gian xuất hiện và mức độ gây hại của các loài rệp quan trọng có nhận xét: Rệp bông có mật độ không cao nhưng xuất hiện thường xuyên trên đồng ruộng

Trang 32

3 ĐỊA ĐIỂM, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Địa điểm nghiên cứu

- Bộ môn Côn trùng – Trường Đại học Nông nghiệp – Hà Nội

- Phòng thí nghiệm Chi cục BVTV Hà Nội

- Điều tra sâu, nhện hại tại vùng trồng ớt Mai Lâm, Đông Anh, Hà Nội

3.2 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2008

3.3 Đối tượng, vật liệu và dụng cụ nghiên cứu

Vật liệu

- Các giống ớt chỉ thiên, sừng bò được trồng tại Mai Lâm - Đông Anh - Hà Nội

- Các loại thuốc BVTV Ofatox 400EC, Tango 800WG, Actara 25EC, Bitadin WP

Đối tượng nghiên cứu

- Sâu, nhện hại trên cây ớt

- Thiên địch chính của sâu, nhện hại ớt (nhóm côn trùng)

Dụng cụ nghiên cứu

Vợt, kính lúp, panh, kéo, ống nghiệm, túi nilon, cồn 700…

+ Các dụng cụ pha thuốc trừ sâu, bình phun thuốc (loại 1 lít dùng trong phòng thí nghiệm, 10 lít phun thuốc ngoài đồng), cọc thí nghiệm và bảng biểu, máy ảnh ,…

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp điều tra tình hình sản xuất và bảo vệ thực vật trên cây ớt

Điều tra bằng phiếu 30 hộ nông dân trồng ớt về tình hình sản xuất cũng như bảo vệ thực vật trên cây ớt

3.4.2 Phương pháp điều tra thành phần sâu, nhện hại và thiên địch của chúng

trên cây ớt

Điều tra 7 ngày/lần, điều tra ngẫu nhiên, số điểm càng nhiều càng tốt trong

Trang 33

khu đồng nghiên cứu Từ kết quả điều tra xác định được tần suất xuất hiện, mức độ phổ biến của sâu, nhện hại ớt và thiên địch của chúng Toàn bộ mẫu thu bắt được ngâm trong cồn 700 hoặc ép trong nệm bông (đối với trưởng thành) để mang về phòng nghiên cứu Côn trùng – Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội định loại dưới

sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo bộ môn Côn trùng – Khoa Nông học – Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

- Điều tra bổ sung: trong thời gian nghiên cứu, ngoài việc tiến hành điều tra tại các điểm cố định chúng tôi còn tiến hành điều tra bổ sung từ 2 - 3 đợt trong một

vụ số vùng sản trồng ớt lân cận để nắm thêm tình hình gây hại của sâu, nhện hại ớt

Chỉ tiêu theo dõi: Tần xuất xuất hiện (%)

3.4.3 Phương pháp điều tra diễn biến mật độ rệp hại trên cây ớt

- Chọn ruộng ớt đại diện cho các yếu tố:

+ Giống ớt khác nhau (Giống ớt chỉ thiên Capsicum fasciculatum và ớt sừng

bò Capsicum acuminatum)

+ Ruộng ớt trồng trong đồng và trồng ngoài bãi sông Hồng

+ Vụ trồng ớt khác nhau: vụ Hè thu và Đông xuân

- Tại mỗi ruộng điều tra theo 5 điểm chéo góc, mỗi điểm điều tra 10 lá phân đều trên 3 tầng cây Đếm số lượng rệp muội trên lá và tiến hành bắt rệp Dụng cụ thu bắt chủ yếu bằng bút lông có thấm nước trước khi bắt rệp Thao tác bắt rệp được tiến hành từ từ và nhẹ nhàng để rệp kịp rút ngòi ra khỏi cây đồng thời không làm nát mẫu Toàn bộ mẫu rệp được phân loại dưới kính lúp cầm tay hoặc kính lúp điện Khi thu mẫu mô tả tình trạng sống của rệp trước khi thu bắt, mầu sắc của rệp, vị trí sống, tác hại của rệp Toàn bộ số liệu được ghi vào biểu điều tra

Chỉ tiêu theo dõi: Mật độ rệp con/lá

- Trong quá trình điều tra tiến hành theo dõi và thu bắt rệp các loại rệp có cánh và rệp không có cánh theo các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây để xác định đặc tính sinh vật học của rệp

Trang 34

3.4.4 Phương pháp nghiên cứu đặc tính sinh học của loài rệp bông Aphis

Theo dõi khả năng rệp đẻ từng ngày Đếm toàn bộ số lượng rệp con được đẻ ra/ trưởng thành trong từng ngày và trong toàn bộ thời gian đẻ của rệp mẹ Theo dõi ngày rệp bắt đầu đẻ và ngày rệp chết sinh lí để xác định thời gian phát triển các pha, vòng đời, đời, khả năng sinh sản

3.4.4.3 Phương pháp xác định vị trí gây hại của rệp trên cây kí chủ

Điều tra theo các giai đoạn sinh trưởng của cây Mỗi lần điều tra số lượng rệp trên 300 lá cây kí chủ ở 3 vị trí (3 tầng cây: tầng trên, tầng giữa, tầng dưới) Xác định tỷ lệ rệp phân bố trên 3 tầng cây

Chỉ tiêu theo dõi: Tỷ lệ rệp ở 3 tầng lá (%)

Trang 35

3.4.5 Phương pháp xác định biện pháp quản lí rệp hại;

3.4.5.1 Phương pháp dùng bẫy dính (bẫy màu vàng) để bắt rệp

Dùng giấy bìa màu vàng mà rệp ưa thích kích thước 15 x 20 cm được bọc trong lúi nilon trắng trong, bên ngoài phết một lớp mỏng mỡ bò sao cho màu vàng thể hiện rõ nhất Tiến hành đồng thời trên 3 ruộng, mỗi ruộng tiến hành treo 3 bẫy: 1 bẫy treo đầu ruộng, 1 bẫy treo giữa ruộng, 1 bẫy treo cuối ruộng Treo bẫy màu vàng lên cọc tre cao bằng chiều cao cây ớt Định kì 7 ngày/ lần đếm số lượng rệp vào bẫy và tiến hành thay túi nilon kết hợp với các đợt điều tra diễn biến mật độ rệp trên đồng ruộng, Theo dõi khả năng vào bẫy của rệp đến hết thời gian nghiên cứu Xác định số lượng rệp dính vào bẫy và xác định số lượng rệp có trên ruộng

Chỉ tiêu theo dõi: Số rệp/ bẫy/ 7 ngày điều tra và mật độ rệp/lá

3.4.5.2 Nghiên cứu thiên địch

3.4.5.2.1 Xác định khả năng ăn rệp của bọ rùa đỏ trưởng thành

Thu bắt bọ rùa đỏ trưởng thành cho vào hộp nuôi rệp theo thứ tự 1 - 10 (Sử dụng 10 hộp, Mỗi hộp 1 con) cho nhịn đói 24 giờ Sau đó cho vào hộp nuôi rệp có

lá ớt được lót dưới bằng giấy ẩm với thức ăn là rệp bông với số lượng 50 con rệp tuổi 2 – 3/ hộp Đếm số lượng rệp bông hại ớt bị ăn sau 1 ngày, 2 ngày, 3 ngày

3.4.5.2.2 Xác định tỷ lệ rệp bông bị kí sinh

Thu thập 50 mẫu rệp sống ở ruộng ớt trong mỗi kì điều tra đem về phòng nghiên cứu, nuôi trong hộp petry dưới có giấy thấm giữ ẩm cho lá và theo dõi hàng ngày thấy có những cá thể rệp phồng to hơn và chuyển màu trắng đục hoặc nâu đục Đếm số lượng rệp bị kí sinh trong tổng số rệp bắt về nuôi để xác định tỉ

lệ rệp bị kí sinh Sau đó dùng bút lông chuyển những cá thể bị kí sinh sang ống tuýp có lá ớt để xác định thành phần loài kí sinh nở ra

Thời gian thu mẫu được tiến hành 7 ngày/lần vào ngày điều tra diễn biến mật độ rệp trên đồng ruộng Mỗi lần thu mẫu tiến hành thu với số lượng 50 rệp

Trang 36

Bảo quản cận thận không để ảnh hưởng đến sức sống của rệp

Chỉ tiêu theo dõi: Tỉ lệ rệp bị kí snh (%)

3.4.5.3 Xác định hiệu lực phòng trừ rệp muội hại ớt của 4 loại thuốc trên đồng ruộng và trong phòng thí nghiệm

3.4.5.3.1 Trên đồng ruộng: sử dụng thuốc BVTV

- Công thức thí nghiệm

+ CT I, CT II, CT III, CT IV là 4 loại thuốc thử nghiệm

+ CT V là công thức đối chứng phun nước lã

Bố trí 5 công thức thí nghiệm Trong đó chọn 2 loại thuốc nông dân thường sử

dụng là Ofatox 400EC thuốc lân hữu cơ thuộc nhóm độc 2 với hoạt chất là Fenitrothion

và Trichlorfon; thuốc Tango 800WG nhóm độc 2 có hoạt chất Fipronil; 1 loại thuốc hoá học thế hệ mới thuộc nhóm độc 3 là Actara 25WG có hoạt chất Thiamethoxam, 1

Trang 37

loại thuốc có nguồn gốc sinh học Bitadin WP hoạt chất Bacillus thuringensis; 1 công

thức làm đối chứng phun nước lã Thí nghiệm bố trí theo kiểu RCB, mỗi thí nghiệm nhắc lại 3 lần diện tích mỗi ô thí nghiệm 20m2

Mỗi ô điều tra 3 điểm, mỗi điểm điều tra 10 lá trên 3 tầng Đếm toàn bộ số rệp sống trên các ô thí nghiệm trước phun và sau phun 1, 3, 5, 7 ngày

3.4.5.3.2 Phương pháp thử thuốc trong phòng thí nghiệm

Thí nghiệm có 5 công thức 3 lần nhắc lại (Mỗi công thức sử dụng một loại thuốc như thí nghiệm ngoài đồng ruộng và một công thức dùng nước lã) Mỗi lần nhắc lại của 1 công thức bao gồm 1 lá ớt trên đó có 10 con rệp non tuổi 3 Thí nghiệm được tiến hành theo 2 phương pháp: Nhúng lá trong thuốc 5 giây và phun thuốc ướt đều lá cây

Phương pháp nhúng lá trong dung dịch thuốc 5 giây: Pha thuốc theo nồng độ thí nghiệm trên đồng ruộng sau đó nhúng toàn bộ lá ngập trong dung dịch thuốc 5 giây, sau đó gắp ra để trên giấy thấm cho khô thuốc, thả rệp tuổi 3 với số lượng 10 con/lá Bảo quản lá ớt trong đĩa nuôi rệp có giấy thấm giữ ẩm Đếm số rệp sống sau khi xử lí thuốc 1 ngày, 2 ngày, 3 ngày

Phương pháp phun ướt đều lá cây: Tiến hành thả 10 rệp tuổi 3/ đĩa lá ớt đặt trong hộp petry có lót giấy thấm Phun thuốc ướt đều toàn bộ lá Đếm số lượng rệp sống sau 1 ngày, 2 ngày, 3 ngày

3.4.5.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thuốc BVTV tới mật độ thiên địch trên đồng ruộng (Điều tra trên ruộng thí nghiệm phun thuốc rệp)

Tiến hành điều tra mật độ bọ rùa đỏ trước phun thuốc BVTV 1 ngày và sau phun 1, 3, 5, 7 ngày (Phương pháp điều tra theo 5 điểm chéo góc, mỗi điểm 1 m2) Xác định ảnh hưởng của các loại thuốc tới mật độ bọ rùa đỏ trên đồng ruộng

Chỉ tiêu theo dõi: con/m2

3.4.6 Phương pháp tính toán số liệu

- Thành phần sâu, nhện hại ớt và thiên địch của chúng

Trang 38

Tổng số điểm có sâu, nhện (thiên địch)

Tần suất xuất hiện (%) = x 100 Tổng số điểm điều tra

Mức độ phổ biến của sâu, nhện được phân theo tần xuất xuất hiện (%):

Kí hiệu Mức độ phổ biến Tần xuất xuất hiện

- : Rất ít phổ biến < 5%

+ : Ít phổ biến 5 - 20 %

++ : Phổ biến 20 - 50 %

+++ : Rất phổ biến > 50 %

- Diễn biến mật độ các loài rệp muội hại ớt

Tổng số cá thể điều tra (con)

Mật độ rệp muội (con/ lá) =

Tổng số lá điều tra (lá)

- Mật độ sâu hoặc thiên địch có kích thước cơ thể lớn:

Tổng số sâu hoặc thiên địch tại điểm điều tra (con) Mật độ (con/m2) =

Tổng diện tích điều tra (m2)

- Tỉ lệ rệp bị kí sinh

Tổng số rệp bị kí sinh (con)

Tỉ lệ kí sinh (%) = x 100 Tổng số rệp theo dõi (con)

- Thời gian phát dục các tuổi đời, vòng đời của rệp:

∑xini

Xtb =

N

Trong đó: Xtb: Thời gian phát dục trung bình

xi: Thời gian phát dục của cá thể

Trang 39

Ta x Cb

Q(%) = [1 - ] x 100

Tb x Ca

Trong đó: Ta: Số sâu sống ở công thức thí nghiệm sau khi xử lí

Tb: Số sâu sống ở công thức thí nghiệm trước khi xử lí Ca: Số sâu sống ở công thức đối chứng sau khi xử lí Cb: Số sâu sống ở công thức đối chứng trước khi xử lí

- Hiệu lực của các loại thuốc BVTV trong phòng thí nghiệm tính theo công thức Abbott

C - T Hiệu lực (%) = x 100

C Trong đó : C: Số lượng rệp sống ở công thức đối chứng

T: Số lượng rệp sống ở công thức xử lý thuốc

Trang 40

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Kết quả điều tra tình hình sản xuất ớt tại Mai Lâm, Đông Anh, Hà Nội vụ

Xuân Hè năm 2008

Hà Nội là nơi có diện tích trồng rau tương đối lớn với trên 70 chủng loại rau, trong đó rau gia vị hiện nay đang rất được quan tâm phát triển Cây ớt cũng vậy, là một loại rau có tiềm năng năng suất cao và giá trị kinh tế lớn đang được nông dân các huyện ngoại thành Hà Nội phát triển Ở xã Mai Lâm Huyện Đông Anh có diện tích đất trồng ớt trên 20 ha Người nông dân qua nhiều năm sản xuất đã có nhiều kinh nghiệm trong việc trồng, chăm sóc và phòng trừ các loài sâu hại cây ớt Để tìm hiểu tập quán sản xuất của nông dân tại vùng nghiên cứu, chúng tối tiến hành điều tra tình hình sản xuất cây ớt tại Mai Lâm, Đông Anh, Hà Nội trong vụ xuân hè năm

2008 Kết quả được trình bày tại bảng 4.1

Qua kết quả điều tra bằng phiếu phỏng vấn 30 hộ nông dân trồng ớt trong xã

về tập quán canh tác và cơ cấu giống trên cây ớt tại Mai Lâm, Đông Anh, Hà Nội cho thấy:

- Tập quán canh tác: Người dân hiện nay chủ yếu sản xuất ớt trên chân đất phù sa ngoài bãi sông và một diện tích nhỏ trong đồng, do đặc điểm của cây ớt có khả năng chịu hạn cao, không chịu được ngập úng, thích hợp cao với đất thịt nhẹ, đất pha cát Trong canh tác cây ớt người dân phải ươm cây giống với chế độ chăm sóc cẩn thận Sau khi ươm cây 25 - 30 ngày thì đem trồng ngoài ruộng Ruộng trồng ớt phải cày bừa

kĩ, làm cỏ sạch, lên luống rộng 1 - 1,2 m cao 40 - 45 cm để chống úng và dễ thoát nước Trên mỗi luống trồng 2 hàng ớt với khoảng cách cây cách cây 45 cm, hàng cách hàng 55 - 60 cm Sau khi trồng khoảng 2,5 đến 3 tháng bắt đầu cho thu hoạch được Chế độ tưới nước: Ớt là cây có thể chịu nóng, hạn và không chịu được ngập, úng vì vậy cần chủ động tưới, tiêu cho ớt nhất là khi cây mới trồng phải tưới hàng ngày cho cây, khi cây đã lớn (giai đoạn cây có nụ và quả) tưới nước kết hợp với bón thúc và làm cỏ Tưới gốc để cây hút nước nhanh hơn và không để nước đọng giữa các luống Ớt cho quả quanh năm và hái được nhiều đợt (một đợt có thể thu hái trong vòng 21 ngày, trung bình 3 ngày thu hái một lần) Khoảng 1,5 tháng sau cây sẽ cho thu hái đợt tiếp theo Tuỳ theo nhu cầu và muc đích sử dụng sản phẩm mà thu hái khi quả bắt đầu

Ngày đăng: 02/08/2013, 16:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.2. Cây ớt sừng bò Capsicum acuminatum - Luận văn thành phần sâu, nhện hại ớt; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và biện pháp phòng trừ loài rệp bông aphis gossypii glov
Hình 4.2. Cây ớt sừng bò Capsicum acuminatum (Trang 43)
Hình 4.1. Cây ớt chỉ thiên Capsicum fasciculatum - Luận văn thành phần sâu, nhện hại ớt; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và biện pháp phòng trừ loài rệp bông aphis gossypii glov
Hình 4.1. Cây ớt chỉ thiên Capsicum fasciculatum (Trang 43)
Bảng 4.4. Diễn biến mật độ rệp bông A. gossypii và rệp đào M. persicae hại ớt - Luận văn thành phần sâu, nhện hại ớt; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và biện pháp phòng trừ loài rệp bông aphis gossypii glov
Bảng 4.4. Diễn biến mật độ rệp bông A. gossypii và rệp đào M. persicae hại ớt (Trang 52)
Hình 4.5. Diễn biến mật độ rệp bông A. gossypii và rệp đào M. persicae hại ớt - Luận văn thành phần sâu, nhện hại ớt; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và biện pháp phòng trừ loài rệp bông aphis gossypii glov
Hình 4.5. Diễn biến mật độ rệp bông A. gossypii và rệp đào M. persicae hại ớt (Trang 53)
Bảng 4.5. Diễn biến mật độ rệp bông A. gossypii hại trên các giống ớt tại Mai - Luận văn thành phần sâu, nhện hại ớt; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và biện pháp phòng trừ loài rệp bông aphis gossypii glov
Bảng 4.5. Diễn biến mật độ rệp bông A. gossypii hại trên các giống ớt tại Mai (Trang 54)
Hình 4.6. Diễn biến mật độ rệp bông A. gossypii hại các giống ớt  tại Mai Lâm, - Luận văn thành phần sâu, nhện hại ớt; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và biện pháp phòng trừ loài rệp bông aphis gossypii glov
Hình 4.6. Diễn biến mật độ rệp bông A. gossypii hại các giống ớt tại Mai Lâm, (Trang 55)
Hình 4.7. Diễn biến mật độ rệp bông A. gossypii hại ớt trồng trong đồng và ngoài - Luận văn thành phần sâu, nhện hại ớt; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và biện pháp phòng trừ loài rệp bông aphis gossypii glov
Hình 4.7. Diễn biến mật độ rệp bông A. gossypii hại ớt trồng trong đồng và ngoài (Trang 57)
Hình 4.8. Diễn biến mật độ rệp bông A. gossypii hại trên ớt trồng ở 2  vụ tại Mai - Luận văn thành phần sâu, nhện hại ớt; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và biện pháp phòng trừ loài rệp bông aphis gossypii glov
Hình 4.8. Diễn biến mật độ rệp bông A. gossypii hại trên ớt trồng ở 2 vụ tại Mai (Trang 60)
Hình 4.13. Vị trí sống của rệp bông A. gossypii hại ớt tại Mai Lâm, Đông Anh, - Luận văn thành phần sâu, nhện hại ớt; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và biện pháp phòng trừ loài rệp bông aphis gossypii glov
Hình 4.13. Vị trí sống của rệp bông A. gossypii hại ớt tại Mai Lâm, Đông Anh, (Trang 67)
Hình 4.15. Rệp bông A. gossypii Glove sống ở mặt dưới lá bánh tẻ của ớt - Luận văn thành phần sâu, nhện hại ớt; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và biện pháp phòng trừ loài rệp bông aphis gossypii glov
Hình 4.15. Rệp bông A. gossypii Glove sống ở mặt dưới lá bánh tẻ của ớt (Trang 68)
Hình 4.19. Tỉ lệ rệp A. gossypii bị ong Aphidius sp. kí sinh  tại Mai Lâm, Đông - Luận văn thành phần sâu, nhện hại ớt; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và biện pháp phòng trừ loài rệp bông aphis gossypii glov
Hình 4.19. Tỉ lệ rệp A. gossypii bị ong Aphidius sp. kí sinh tại Mai Lâm, Đông (Trang 75)
Hình 4.20. Rệp Aphis gossypii  bị ong Aphidius sp kí sinh - Luận văn thành phần sâu, nhện hại ớt; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và biện pháp phòng trừ loài rệp bông aphis gossypii glov
Hình 4.20. Rệp Aphis gossypii bị ong Aphidius sp kí sinh (Trang 75)
Hình 4.21. Hiệu lực phòng trừ A. gossypii bằng thuốc BVTV trong phòng thí nghiệm - Luận văn thành phần sâu, nhện hại ớt; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và biện pháp phòng trừ loài rệp bông aphis gossypii glov
Hình 4.21. Hiệu lực phòng trừ A. gossypii bằng thuốc BVTV trong phòng thí nghiệm (Trang 77)
Hình 4.22. Thử hiệu lực phòng chống rệp bông A. gossypii bằng các loại thuốc - Luận văn thành phần sâu, nhện hại ớt; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và biện pháp phòng trừ loài rệp bông aphis gossypii glov
Hình 4.22. Thử hiệu lực phòng chống rệp bông A. gossypii bằng các loại thuốc (Trang 77)
Hình 4.23. Hiệu lực của 4 loại thuốcBVTV phòng trừ rệp bông A. gossypii hại ớt - Luận văn thành phần sâu, nhện hại ớt; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và biện pháp phòng trừ loài rệp bông aphis gossypii glov
Hình 4.23. Hiệu lực của 4 loại thuốcBVTV phòng trừ rệp bông A. gossypii hại ớt (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm