1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn tăng cường sự liên kết giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc giang nhằm nâng cao chất lượng đào tạo

112 720 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tăng cường sự liên kết giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Tác giả Đào Thị Phương Nga
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Quốc Chỉnh
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn tăng cường sự liên kết giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc giang nhằm nâng cao chất lượng đào tạo

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

- -

ðÀO THỊ PHƯƠNG NGA

TĂNG CƯỜNG SỰ LIÊN KẾT GIỮA TRƯỜNG DẠY NGHỀ VỚI DOANH NGHIỆP TRÊN ðỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG NHẰM

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ðÀO TẠO NGHỀ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN QUỐC CHỈNH

HÀ NỘI – 2010

Trang 2

LỜI CAM đOAN

Tôi xin cam ựoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng ựược sử dụng ựể bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp

ựỡ việc hoàn thành luận văn này ựã ựược cảm ơn và các thông tin trắch dẫn trong luận văn ựều ựược ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 9 tháng 11 năm 2010

Tác giả luận văn

đào Thị Phương Nga

Trang 3

Lời Cảm ơn

Để hoàn thành luận văn này tôi đã nhận được sự hướng dẫn rất tận tình của Tiến

sỹ Nguyễn Quốc Chỉnh cùng với những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô trong

bộ môn Quản trị kinh doanh, trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới những sự giúp đỡ đó

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ đào tạo & Cung ứng nhân lực thuộc UBND tỉnh, UBND tỉnh Bắc Giang, sở Lao động - thương binh và xã hội tỉnh Bắc Giang, Cục Thống kê tỉnh Bắc Giang và một số ban ngành khác, các cơ sở đào tạo nghề, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi, xin cảm

ơn sự động viện hỗ trợ của gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn./

Bắc Giang, ngày 9 tháng 11 năm 2010

Tác giả

Đào Thị Phương Nga

Trang 4

MụC LụC

Lời cam ủoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục cỏc bảng v

2.1.5 Mối quan hệ về sự liên kết giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp để

2.1.6 Nhân tố tác động đến sự liên kêt giữa trường dạy nghề và doanh nghiệp

2.2.2 Phân tích chung về thực trạng hệ thống đào tạo nghề của Việt Nam 32

Trang 5

3.1.2 ðặc ủiểm về kinh tế - XK hội 41

4.2 Thực trạng liên kết đào tạo giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp để

4.2.1 Thực trạng các hình thức và nội dung liên kết giữa trường dạy nghề và

4.2.3 Đánh giá về sự liên kết giữa trường dạy nghề và doanh nghiệp để nâng

4.3 Định hướng giải pháp tăng cường liên kết giữa trường dạy nghề và doanh

4.3.3 Một số giải pháp tăng cường liên kết giữa trường dạy nghề và doanh

Trang 6

DANH MụC BảNG Bảng 2.1 Tổng hợp tình hình thực hiện đào tạo nghề của Việt Nam

Bảng 3.1 Tổng sản phẩm ( GDP) trên địa bàn tỉnh Bắc Giang (2006 – 2008) tính

Bảng 4.6: Tổng hợp hình thức và mức độ liên kết đào tạo giữa doanh nghiệp

Bảng 4.7: Đánh giá về mức độ liên kết với các trường nghề của doanh nghiệp 66

Bảng 4.9: Đánh giá về mức độ phù hợp giữa nghề được đào tạo và việc làm

Bảng 4.10: Đánh giá của doanh nghiệp về mức độ đáp ứng yêu cầu công việc

Bảng 4.11: Đánh giá của học sinh về mức độ đáp ứng yêu cầu công việc sau

Bảng 4.12: Đánh giá mức độ hữu ích của các chương trình đào tạo đối với

Trang 7

1 Mở đầu 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Hầu hết các nhà kinh tế cho rằng, cuối cùng không phải nguồn vốn hoặc nguyên liệu của một nước, mà chính là nguồn nhân lực hay chính xác hơn sự tăng lên của vốn nhân lực sẽ quyết định tính chất và bước đi của công cuộc phát triển kinh tế xK hội của nước đó Frederik Harbison viết: “ Các nguồn nhân lực là nền tảng chủ yếu để tạo ra của cải cho các nước Tiền vốn và các tài nguyên thiên nhiên là những nhân tố thụ động trong sản xuất, con người là những tác nhân tích cực chủ động tích lũy vỗn, khai thác tài nguyên thiên nhiên, xây dựng các tổ chức xK hội, kinh tế, chính trị và đưa sự nghiệp phát triển đất nước tiến lên Rõ ràng là đất nước nào bất lực trong việc phát triển tay nghề và kiến thức cho nhân dân mình và không sử dụng những cái đó một cách hữu hiệu trong nền kinh tế quốc dân sẽ không thể phát triển được bất kỳ một thứ gì” [4]

Trong những năm qua được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự nghiệp dạy nghề đK được phục hồi, ổn định có bước phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu nhân lực kỹ thuật của thị trường lao động Tuy nhiên, dạy nghề vẫn còn nhiều khó khăn, tồn tại, bức xúc và là mối quan tâm của toàn xK hội Do thiếu quy hoạch hệ thống đào tạo nghề, cho nên đào tạo nghề hiện nay hầu như tự phát, cơ cấu ngành nghề và dạy nghề mất cân đối, phân tán, chưa gắn kết với nhu cầu thực tế, không đáp ứng nhu cầu chuyển dịch kinh tế, việc liên kết trong dạy nghề để nâng cao chất lượng đào tạo chưa thật sự được quan tâm Bắc Giang là một tỉnh miền núi, có nguồn nhân lực dồi dào (năm 2008 là

chính sách, chế độ dạy nghề Hiện nay trên toàn tỉnh có 71 cơ sở đào tạo nghề

từ trình độ sơ cấp đến cao đẳng Trong đó, có 40% số cơ sở dạy nghề đK được xây dựng, cải tạo, mở rộng đáp ứng yêu cầu giảng dạy và học tập, số giáo viên dạy nghề đạt chuẩn so với quy định chiếm 90%, tổng số học sinh học nghề ở

Trang 8

các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh là 21.231 người [15] Hệ thống dạy nghề

đK chuyển hướng đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động và của doanh nghiệp Các cơ sở dạy nghề đK có những chuyển biến tích cực, đào tạo theo

định hướng thị trường lao động và nhu cầu của doanh nghiệp Nguồn lực đầu tư cho dạy nghề đK bước đầu phát triển theo xu hướng xK hội hóa, riêng năm

2008 tổng nguồn lực đầu tư cho dạy nghề của tỉnh là 47.411,4 triệu đồng [15] Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác đào tạo nghề và liên kết trong đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế như: Giữa đào tạo nghề và sử dụng chưa gắn kết chặt chẽ, chất lượng đào tạo ở hầu hết các trường dạy nghề chưa cao, cung đào tạo do các trường dạy nghề

đưa ra chủ yếu dựa trên khả năng của mình mà không tính tới đường cầu tương ứng từ các doanh nghiệp Điều này dẫn đến sự mất cân đối cung - cầu

đào tạo cả về quy mô, cơ cấu và đặc biệt là chất lượng, gây ra những lKng phí lớn và giảm hiệu quả đào tạo

Các cơ sở muốn sử dụng người mới được đào tạo nghề phải tiến hành đào tạo lại từ 3 đến 6 tháng

Cơ cấu ngành, nghề đào tạo vẫn chưa thật phù hợp với cơ cấu ngành, nghề của thị trường lao động; chưa bổ sung thường xuyên các nghề đào tạo mới theo yêu cầu của thị trường lao động; thiếu lao động kỹ thuật trình độ cao cung cấp cho các doanh nghiệp thuộc các ngành kinh tế mũi nhọn, ngành kinh

tế trọng điểm và cho xuất khẩu lao động

Chất lượng dạy nghề vẫn còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, chưa phù hợp với sự thay đổi nhanh công nghệ sản xuất của doanh nghiệp

Người lao động qua đào tạo nghề, kỹ năng thực hành và khả năng thích ứng với sự thay đổi nhanh cộng nghệ sản xuất của doanh nghiệp còn hạn chế

Vấn đề đặt ra là chất lượng đào tạo đK đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp chưa? Thực trạng của các trường dạy nghề cho người lao động ở tỉnh

Trang 9

Bắc Giang hiện nay như thế nào? Những kết quả mà các trường dạy nghề và doanh nghiệp đạt được khi tiến hành liên kết là gì? ủó ủỏp ứng yờu ủặt ra hay khụng? Những nhân tố nào tác động đến sự liên kết giữa trường dạy nghề và doanh nghiệp để nâng cao chất lượng đào tạo? Cỏc biện pháp tăng cường liên kết giữa trường dạy nghề và doanh nghiệp để nâng cao chất lượng đào tạo ở tỉnh Bắc Giang là gì? Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài

“Tăng cường sự liên kết giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp trên

địa bàn tỉnh Bắc Giang nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên kết giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề, từ đó đưa ra các giải pháp tăng cường sự liên kết giữa các trường dạy nghề và doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về đào tạo nghề, chất lượng đào tạo nghề và sự liên kết giữa trường trường dạy nghề và doanh nghiệp

- Phân tích thực trạng liên kết giữa các trường dạy nghề và doanh nghiệp trong đào tạo nghề

- Đề xuất một số giải pháp tăng cường sự liên kết giữa các trường dạy nghề và doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề đáp ứng yêu cầu thực tiễn sản xuất

1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Sự liên kết trường dạy nghề với doanh nghiệp trong đào tạo trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

Trang 10

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

1.3.2.1 Nội dung nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu:

- Chất lượng đào tạo nghề

- Sự liên kết giữa các trường dạy nghề với doanh nghiệp trong đào tạo nghề

- Mối quan hệ giữa chất lượng đào tạo và mức độ liên kết giữa trường với doanh nghiệp trong đào tạo nghề

- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề thông qua tăng cường sự liên kết giữa các trường dạy nghề và doanh nghiệp

1.3.2.2 Phạm vi về không gian

Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu về chất lượng đào tạo nghề và sự liên kết trong đào tạo nghề giữa các trường dạy nghề với doanh nghiệp thuộc địa bàn tỉnh Bắc Giang

Về thời gian: Luận văn được tiến hành trong thời gian từ 06/2009 đến tháng 9/2010 Nguồn số liệu đK công bố trong 5 năm 2006 - 2010

Trang 11

2 nghiên cứu tổng quan 2.1 Cơ sở lý luận về sự liên kết giữa trường dạy nghề và doanh nghiệp 2.1.1 Một số khái niệm

* Sự liên kết: Là sự kết hợp giữa hai hay nhiều pháp nhân kinh tế, để tạo ra một pháp nhân mới có sức mạnh tổng hợp về khả năng tài chính

* Liên kết đào tạo: Là sự hợp tác giữa các bên để tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo cấp bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng,

đại học [7]

* Sự liên kết giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp

Liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nghề đang được hiểu với nhiều ý nghĩa, khía cạnh khác nhau ở những mức độ khác nhau Trong phạm vi luận văn này, khái niệm “liên kết” được hiểu là mối quan hệ tương tác giữa nhà trường và doanh nghiệp, hợp thành một hệ thống đào tạo nghề thống nhất và phù hợp, trong đó chức năng của hệ thống được tích hợp từ hai bộ phận tạo thành là nhà trường và doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề

Trang 12

Như vậy, nội dung của đào tạo nghề bao gồm: trang bị các kiến thức lý thuyết cho học viên một cách có hệ thống và rèn luyện các kỹ năng thực hành, tác phong làm việc cho học viên trong phạm vi ngành nghề họ theo học nhằm giúp họ có thể làm một nghề nhất định

Đào tạo nghề bao gồm: đào tạo công nhân kỹ thuật (công nhân cơ khí,

điện tử, xây dựng, sửa chữa…); đào tạo nhân viên nghiệp vụ (nhân viên đánh máy, nhân viên lễ tân, nhân viên bán hàng, nhân viên tiếp thị…) và phổ cập nghề cho người lao động (chủ yếu là lao động nông nghiệp)

* Khái niệm về chất lượng đào tạo nghề

Chất lượng giáo dục - đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng là vấn đề cơ bản và là mục tiêu phấn đấu không ngừng của các cấp quản lý giáo dục - đào tạo cũng như các cơ sở đào tạo trực tiếp Có nhiều cách hiểu khác nhau về chất lượng đào tạo nghề với những khía cạnh khác nhau

Quan điểm nguồn lực ở phương Tây cho rằng chất lượng đào tạo nghề phụ thuộc đầu vào của hệ thống đào tạo Khi có các yếu tố đầu vào có chất lượng như: giáo viên giỏi, cán bộ quản lý giỏi, cơ sở vật chất đầy đủ, học sinh giỏi … thì chất lượng đào tạo nghề được nâng cao Cũng có quan điểm cho rằng chất lượng đào tạo nghề được đánh giá bằng sản phẩm của quá trình đào tạo (đầu ra), tức là bằng mức độ hoàn thành của học viên tốt nghiệp Một số quan điểm khác lại khẳng định chất lượng đào tạo nghề được quyết định bởi các quá trình hoạt động bên trong, đặc biệt là hệ thống thông tin và hệ thống các quyết định tối ưu

Theo GS.TS Đặng Quốc Bảo, chất lượng đào tạo là kết quả cuối cùng

đạt được bởi sự tác động tích cực của các yếu tố cấu thành của quá trình đào tạo Có thể khái quát quan niệm này như sơ đồ sau:

Trang 13

Trong đó:

- MT: Mục tiêu đào tạo

- PP, PT: Phương pháp đào tạo, phương tiện phục vụ đào tạo

- GV: Giáo viên và cán bộ quản lý đào tạo

- HV: Học viên

- ND: Nội dung đào tạo

- CSVC, TC: Cơ sở vật chất, tài chính phục vụ đào tạo

- Q: Chất lượng đào tạo

Hệ thống kiểm định quốc gia Việt Nam quan niệm “Chất lượng sẽ được

đánh giá bằng cách khách hàng xếp hạng tầm quan trọng của các đặc trưng phẩm chất đối nghịch với tính nhất quán và giá trị bằng tiền” Đào tạo nghề sẽ

đảm bảo, nâng cao chất lượng nếu thực hiện tốt các yếu tố như: đáp ứng yêu cầu của khách hàng; tập trung vào con người và mọi người đóng góp xây dựng

tổ chức của mình; có tầm nhìn dài hạn; quản lý sự thay đổi một cách có hiệu quả; có đổi mới; hữu hiệu; tổ chức tiếp thị tốt với thị trường

Trang 14

Xuất phát từ những khái niệm chung về chất lượng và các quan niệm về chất lượng đào tạo nghề nêu trên, có thể hiểu chất lượng đào tạo nghề với những điểm cơ bản như sau: “Chất lượng đào tạo nghề là kết quả tác động tích cực của tất cả các yếu tố cấu thành hệ thống đào tạo nghề và quá trình đào tạo vận hành trong môi trường nhất định”

2.1.2 Sự liên kết giữa trường và doanh nghiệp trong đào tạo nghề

2.1.2.1 Các nội dung liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong lĩnh vực

đào tạo nghề

a) Liên kết về tổ chức đào tạo

Nội dung liên kết phổ biến giữa các cơ sở dạy nghề và các doanh nghiệp hiện nay là liên kết trong việc tổ chức đào tạo, tức là việc đào tạo (dạy nghề) cho học viên sẽ được thực hiện bởi cả hai chủ thể là nhà trường và doanh nghiệp Nội dung, thời gian đào tạo mà mỗi chủ thể phải thực hiện tuỳ thuộc vào sự thoả thuận, phân công ban đầu Chương trình đào tạo của từng nghề, nguồn lực về tài chính, nhân sự, cơ sở vật chất… của từng chủ thể là căn

cứ để phân chia công việc mà nhà trường hay doanh nghiệp phải thực hiện trong toàn khoá đào tạo Thông thường, việc đào tạo lý thuyết sẽ do nhà trường thực hiện còn phía doanh nghiệp sẽ đảm nhận việc dạy thực hành Tuy nhiên, tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi bên trong quá trình liên kết, việc tổ chức đào tạo sẽ có những biểu hiện cụ thể khác nhau hay nói cách khác là hình thức đào tạo sẽ khác nhau

b) Liên kết về tài chính và cơ sở vật chất

Liên kết về tài chính là phía doanh nghiệp sẽ hỗ trợ trực tiếp (hoặc gián tiếp) cho nhà trường một phần (hoặc toàn bộ) kinh phí đào tạo nghề cho học viên

Trên thế giới hiện nay, việc doanh nghiệp đóng góp kinh phí cho đào tạo nghề rất phổ biến, thậm chí là bắt buộc ở một số nước nếu doanh nghiệp muốn sử dụng lao động đK qua đào tạo nghề Mức độ liên kết về tài chính giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nghề tuỳ thuộc quy định của từng

Trang 15

quốc gia và khả năng tài chính cũng như nhu cầu về nhân lực của doanh nghiệp Trên thực tế có nhiều kiểu liên kết tài chính, tiêu biểu là các kiểu liên kết như sau:

- Doanh nghiệp tới các trường để tuyển lao động, sau khi tuyển dụng xong họ trả lại tiền đào tạo cho Nhà nước Căn cứ vào số lượng lao động mà doanh nghiệp tuyển dụng, Nhà nước lại chuyển số tiền mà doanh nghiệp đK nộp vào cho nhà trường (mô hình liên kết tại Hàn Quốc)

- Căn cứ nhu cầu sử dụng lao động của mình, doanh nghiệp đặt hàng với nhà trường và chi trả toàn bộ kinh phí đào tạo cho nhà trường Người lao

động sau khi được đào tạo sẽ làm việc cho doanh nghiệp (việc tuyển sinh có thể do nhà trường thực hiện hoặc do doanh nghiệp tuyển người và gửi đến trường để học

- Hàng năm, doanh nghiệp cấp một lượng học bổng nhất định cho các học viên của trường Nhà trường sẽ có những ưu tiên trong việc giới thiệu học viên sau khi tốt nghiệp tới làm việc tại doanh nghiệp

- Doanh nghiệp khi sử dụng học viên đK tốt nghiệp phải nộp cho trường nghề hoặc cho Nhà nước một khoản thuế (thuế học nghề) bằng 0,5% quỹ lương của doanh nghiệp Trong đó, 0,2% cho trường và 0,3% cho cán bộ doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề (mô hình đào tạo kết hợp điển hình tại Pháp)

- Trường hợp các học viên đến thực tập tại doanh nghiệp và làm ra sản phẩm, doanh nghiệp sẽ trích một phần doanh thu đó trả cho nhà trường để đầu tư trở lại cho đào tạo

- Doanh nghiệp đầu tư thiết bị, phương tiện thực hành cho nhà trường

đối với những nghề mà doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng lao động

- Doanh nghiệp cho nhà trường tận dụng máy móc, thiết bị, nhà xưởng của chính doanh nghiệp để tổ chức đào tạo thực hành (bao gồm cả thực hành cơ bản và thực tập sản xuất)

Trang 16

c) Liên kết về nhân sự

Liên kết về nhân sự bao gồm có liên kết về giáo viên giảng dạy và cán

bộ quản lý đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp

Đội ngũ giáo viên là yếu tố cơ bản có tính chất quyết định sự đảm bảo

và nâng cao chất lượng đào tạo Thông thường, khi kết hợp về mặt giáo viên giữa nhà trường và doanh nghiệp thì sự kết hợp đó được biểu hiện dưới các hình thức như sau:

- Các trường đào tạo nghề sẽ cung cấp toàn bộ đội ngũ giáo viên giảng dạy lý thuyết và chịu trách nhiệm tổ chức đào tạo các nội dung lý thuyết của khoá học Các doanh nghiệp sẽ tổ chức đào tạo phần thực hành với đội ngũ giáo viên dạy thực hành là các cán bộ kỹ thuật của doanh nghiệp

- Nhà trường tổ chức đào tạo cả lý thuyết và thực hành cơ bản Cuối khoá học, khi học viên bước vào giai đoạn thực tập sản xuất (thực tập tốt nghiệp), doanh nghiệp sẽ cử những công nhân lành nghề hoặc kỹ sư hướng dẫn trực tiếp tại các phân xưởng sản xuất của doanh nghiệp

- Doanh nghiệp mời giáo viên tại các cơ sở đào tạo tới giảng dạy trực tiếp tại các lớp học do doanh nghiệp tự tổ chức Hình thức này thường áp dụng cho các lớp học ngắn hạn nhằm đào tạo lại hoặc đào tạo bồi dưỡng, nâng cao kiến thức cho người lao động của doanh nghiệp

- Nhà trường mời các cán bộ của doanh nghiệp tham dự các buổi thảo luận, trao đổi trực tiếp với học viên về những công nghệ sản xuất mới của doanh nghiệp để giúp học viên cập nhật kiến thức mới và tích luỹ kinh nghiệm

Cùng với đội ngũ giáo viên, các cán bộ quản lý của nhà trường cũng phải liên kết chặt chẽ với cán bộ quản lý của các doanh nghiệp trong quá trình

đào tạo kết hợp nhằm tổ chức và quản lý việc đào tạo có hiệu quả hơn

Trang 17

d) Liên kết về thiết kế và xây dựng chương trình đào tạo

Thiết kế, xây dựng chương trình đào tạo nghề phải đảm bảo sự quản lý,

điều phối và sử dụng của Nhà nước, đảm bảo yêu cầu thực tiễn của sản xuất và thị trường lao động Việc xây dựng chương trình đào tạo sát hơn với yêu cầu thực tiễn của nền sản xuất hiện đại làm cho chất lượng đào tạo nghề được

đánh giá là cao hơn Muốn như vậy, nhà trường cần phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp trong việc xây dựng chương trình đào tạo Mỗi chương trình đào tạo phải được xây dựng với sự tham gia của các chuyên gia về phát triển tài liệu, cán bộ có nghiệp vụ chuyên môn, giáo viên có trình độ - kinh nghiệm giảng dạy và các chuyên gia thực tiễn của các doanh nghiệp Hình thức liên kết xây dựng chương trình tiêu biểu là: Căn cứ theo chương trình khung thống nhất của Nhà nước, nhà trường phối hợp với khối cơ quan quản lý Nhà nước

về đào tạo nghề xây dựng Chương trình đào tạo lý thuyết; phối hợp với các hiệp hội nghề nghiệp, phòng công nghiệp và doanh nghiệp xây dựng chương trình đào tạo thực hành có định hướng theo yêu cầu phát triển công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp

Liên kết xây dựng chương trình đào tạo giữa nhà trường, doanh nghiệp

và cơ quan quản lý của Nhà nước sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề, đảm bảo mục tiêu “đào tạo những cái xK hội cần chứ không phải đào tạo những cái mà mình có”

e) Liên kết về thông tin

Liên kết về thông tin tức là phải thiết lập các kênh thông tin giữa nhà trường và doanh nghiệp Các thông tin về nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp về số lượng, chất lượng lao động cũng như ngành nghề đào tạo là một trong những căn cứ để các trường xác định qui mô, cơ cấu đào tạo, nội dung

đào tạo Đồng thời, các trường cũng dựa vào các thông tin phản hồi của doanh nghiệp khi sử dụng lao động được đào tạo bởi nhà trường để có những điều chỉnh phù hợp chương trình đào tạo

Trang 18

Liên kết về mặt thông tin giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nghề có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp Tiêu biểu như sau:

- Các doanh nghiệp báo cáo định kỳ về nhu cầu sử dụng lao động tới cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền hoặc hiệp hội nghề nghiệp hay phòng công nghiệp Các trường có thể thu thập thông tin từ các tổ chức này để tổng hợp

và xác định qui mô, cơ cấu ngành nghề đào tạo, xu hướng đổi mới ngành nghề, công nghệ sản xuất để có những điều chỉnh và đầu tư kịp thời về nội dung, chương trình đào tạo cũng như phương tiện, thiết bị giảng dạy và giáo viên

- Hằng năm, nhà trường tiến hành điều tra, khảo sát trực tiếp về nhu cầu

sử dụng lao động của các doanh nghiệp, thu thập thông tin phản hồi từ phía doanh nghiệp khi sử dụng lao động được đào tạo…

- Tổ chức các buổi giao lưu, trao đổi kinh nghiệm hoặc tổ chức hội thảo, phổ biến về các công nghệ sản xuất mới… giữa nhà trường và doanh nghiệp 2.1.2.2 Các hình thức liên kết giữa trường và doanh nghiệp

Mối quan hệ về mặt tổ chức giữa trường nghề và doanh nghiệp chi phối rất nhiều tới mức độ, hình thức cũng như hiệu quả liên kết giữa hai đối tượng này trong lĩnh vực đào tạo nghề Trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay

đang tồn tại nhiều hình thức liên kết giữa trường nghề và doanh nghiệp song

có thể gộp lại thành ba nhóm quan hệ chủ yếu như sau:

* Tổ chức trường nằm trong doanh nghiệp:

Trường nghề nằm trong (thuộc) doanh nghiệp tức là nhà trường được coi như một phân xưởng đào tạo của doanh nghiệp, chịu sự quản lý trực tiếp của doanh nghiệp và do doanh nghiệp cấp kinh phí hoạt động Kiểu tổ chức này thường chỉ có ở một số tập đoàn, doanh nghiệp lớn được cơ quan quản lý nhà nước về đào tạo cho phép mở các trường đào tạo nghề trực thuộc doanh nghiệp của họ

Trang 19

Với kiểu tổ chức này, quá trình đào tạo nghề mang một số đặc điểm như sau:

- Giáo viên hầu hết là kỹ sư, công nhân giỏi của doanh nghiệp được cử làm chuyên trách về đào tạo;

- Tuyển sinh chủ yếu theo yêu cầu phát triển nhân lực của doanh nghiệp

và một phần là đào tạo theo đơn đặt hàng của các doanh nghiệp khác (nếu đủ

điều kiện) Vì vậy, hầu hết học sinh tốt nghiệp đều được doanh nghiệp bố trí

sử dụng ngay;

- Chương trình đào tạo có thể theo chương trình quốc gia hoặc theo yêu cầu riêng biệt của doanh nghiệp Những khoá đào tạo theo chương trình quốc gia được đăng ký với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và sau khi tốt nghiệp, học sinh được cấp bằng tốt nghiệp theo hệ thống văn bằng quốc gia Đối với những học sinh được đào tạo theo chương trình của doanh nghiệp sẽ được cấp giấy chứng nhận tốt nghiệp Giấy chứng nhận tốt nghiệp có giá trị trong phạm

vi doanh nghiệp và làm căn cứ để thăng tiến trong việc phân công lao động của doanh nghiệp

Trong kiểu tổ chức này, doanh nghiệp là chủ thể của quá trình liên kết

đào tạo và mọi hoạt động đào tạo của nhà trường đều phụ thuộc vào sự điều hành của doanh nghiệp

Việc liên kết ở đây có ưu điểm là: Thực hiện trực để được nguyên lý học

đi đôi với hành, đào tạo gắn với sử dụng và quy luật cung cầu của cơ chế thị trường trong đào tạo; Chất lượng đào tạo được nâng cao do học sinh được thực hành thường xuyên trong điều kiện sản xuất thực tế với đầy đủ các phương tiện sản xuất hiện đại, điều mà các trường nghề độc lập thường không có được

Nhược điểm của loại hình tổ chức liên kết này là: Giáo viên của doanh nghiệp thường giỏi về kỹ năng chuyên môn nhưng lại chưa được đào tạo hoặc bồi dưỡng về sư phạm nên thường chỉ quan tâm đến rèn luyện kỹ năng nghề

mà ít quan tâm đến rèn luyện năng lực sáng tạo cho người học, điều này cũng

Trang 20

ảnh hưởng không tốt đến chất lượng đào tạo Bên cạnh đó, nội dung và kế hoạch đào tạo thường hướng nhiều tới công việc và kế hoạch của doanh nghiệp nên có khi ảnh hưởng đến kế hoạch đào tạo

Ngoài ra, để tổ chức liên kết đào tạo theo mô hình này cũng cần phải có những điều kiện nhất định mà ít doanh nghiệp có thể đáp ứng Trước hết, doanh nghiệp phải đủ mạnh, có tiềm năng và nhu cầu phát triển nhân lực trong tương lai thì mới đủ sức và có nhu cầu mở trường dạy nghề thuộc xí nghiệp ở Việt Nam cũng có chủ trương đưa trường dạy nghề về trực thuộc các Tổng công ty, tuy nhiên có một số trường như trường của Bộ công nghiệp sau đó lại phải đưa về trực thuộc các Bộ ngành

* Tổ chức doanh nghiệp nằm trong trường:

Để phát huy ưu điểm của việc học tập kết hợp với lao động sản xuất, ở nhiều nước trên thế giới cũng như Việt Nam, các trường dạy nghề được phép thành lập các doanh nghiệp (thường là dưới hình thức các đơn vị sản xuất) trong trường Doanh nghiệp này chịu sự quản lý trực tiếp của trường, do nhà trường đầu tư kinh phí hoạt động Trong mô hình tổ chức này, trường là chủ thể của việc liên kết giữa đào tạo và sản xuất, doanh nghiệp (đơn vị sản xuất)

được coi như xưởng thực hành của trường Như vậy, doanh nghiệp này phải thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ là vừa đào tạo vừa sản xuất ra sản phẩm đưa

ra tiêu thụ như các doanh nghiệp khác

Với kiểu liên kết này, chất lượng đào tạo cũng được nâng cao do học sinh được tiếp xúc trực tiếp với sản xuất Tuy nhiên, hạn chế của kiểu tổ chức này là các trường nghề thường không có đủ kinh nghiệm trong sản xuất và ít

có điều kiện để đầu tư được các trang thiết bị hiện đại như các doanh nghiệp khác Hơn nữa, các xưởng sản xuất mà doanh nghiệp thành lập thường chỉ phục vụ cho một số lượng hạn chế nghề đào tạo của trường Học sinh học nghề trong quá trình học tập cũng chưa đủ những kỹ năng cần thiết để sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng có thể cạnh tranh trên thị trường

Trang 21

* Trường dạy nghề và doanh nghiệp là những đơn vị độc lập:

Với loại hình tổ chức này, trường nghề và doanh nghiệp là những đơn vị hoàn toàn độc lập với nhau, có mục tiêu và chức năng riêng Việc liên kết đào tạo ở đây được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, hai bên cùng có lợi

Liên kết đào tạo nghề giữa trường nghề và các doanh nghiệp độc lập này có tính linh hoạt cao, mỗi trường có thể thiết lập mối quan hệ liên kết với nhiều doanh nghiệp khác nhau và ngược lại, mỗi doanh nghiệp cũng có thể liên kết với nhiều trường nghề khác nhau tuỳ theo yêu cầu nhân lực của mình

Ưu điểm của nó là tận dụng được thế mạnh của mỗi bên, thậm chí là của từng doanh nghiệp khác nhau để góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nhằm phục vụ lợi ích của các bên mà không làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ và

kế hoạch của bản thân họ Tuy nhiên, khó khăn trong việc thực hiện liên kết

đào tạo đối với mô hình này trước hết là do nhiều đầu mối nên sẽ phức tạp trong việc quản lý cũng như tổ chức thực hiện Mặt khác, do trình độ công nghệ sản xuất của các cơ sở khác nhau với các chuẩn chất lượng khác nhau sẽ tạo ra những khó khăn cho nhà trường trong việc xác định chuẩn đào tạo 2.1.2.3 Các mức độ liên kết

Trên thực tế, sự liên kết đào tạo giữa trường nghề và các doanh nghiệp

được thực hiện ở nhiều mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào yêu cầu và khả năng của mỗi bên Về cơ bản, có thể chia sự liên kết này thành các mức độ như sau:

- Liên kết toàn diện: là sự liên kết trong đó có sự tham gia phối hợp của phía doanh nghiệp cùng với nhà trường trong mọi lĩnh vực, mọi khâu của quá trình đào tạo nghề Đối với cấp độ liên kết này, phía doanh nghiệp sẽ góp phần

đầu tư trang thiết bị cho nhà trường hoặc tổ chức các phân xưởng đào tạo để nhà trường và doanh nghiệp cùng sử dụng, cử kỹ sư và các công nhân lành nghề cùng tham gia vào việc giảng dạy, tham gia với nhà trường từ khâu hướng nghiệp học sinh phổ thông chọn nghề phù hợp để học, xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo, tham gia đào tạo đánh giá kết quả học tập của học sinh, tham gia giới thiệu việc làm cho học sinh…

Trang 22

Liên kết toàn diện thường chỉ có ở các mô hình tổ chức doanh nghiệp nằm trong trường hoặc trường nằm trong doanh nghiệp Đối với các mô hình

tổ chức độc lập giữa trường và doanh nghiệp thì khó đạt được mức độ liên kết toàn diện song trên thực tế vẫn có một số trường thiết lập được hợp đồng liên kết toàn diện và thường xuyên

- Liên kết từng phần (có giới hạn): là sự liên kết chỉ được thực hiện trong một số lĩnh vực hoặc một số khâu của quá trình đào tạo nghề Ví dụ, doanh nghiệp hàng năm nhận học sinh của trường vào thực tập sản xuất, thực tập tốt nghiệp…

Với mức độ liên kết từng phần, có thể chia ra làm hai loại là liên kết thường xuyên và liên kết rời rạc Liên kết thường xuyên là hai bên duy trì sự liên kết một cách liên tục, đều đặn trong thời gian dài ở một số nội dung nhất

định Liên kết rời rạc là sự liên kết không đều đặn, mang tính thời điểm và chỉ thực hiện khi các bên có nhu cầu và điều kiện

Như vậy, sự liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nghề rất đa dạng, có thể thực hiện dưới nhiều hình thức, mức độ khác nhau tuỳ theo yêu cầu và điều kiện của các bên tham gia liên kết với mục tiêu sự hợp tác liên kết này sẽ mang lại lợi ích cho cả hai bên

2.1.3 Phân loại và các hình thức đào tạo nghề

a) Phân loại đào tạo nghề

Có rất nhiều cách phân loại đào tạo nghề, tuỳ theo mỗi loại tiêu thức ta

có thể phân loại đào tạo nghề thành các loại hình khác nhau

* Căn cứ vào thời gian đào tạo nghề:

Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo dưới một năm, chủ yếu

áp dụng đối với phổ cập nghề Loại hình này có ưu điểm là có thể tập hợp

được đông đảo lực lượng lao động ở mọi lứa tuổi, những người không có điều kiện học tập tập trung vẫn có thể tiếp thu được tri thức ngay tại chỗ, với sự hỗ trợ đắc lực của các cơ quan đoàn thể, địa phương, Nhà nước về mặt giáo trình, giảng viên…

Trang 23

- Đào tạo dài hạn: Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo từ một năm trở lên, chủ yếu áp dụng đối với đào tạo công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ Đào tạo nghề dài hạn thường có chất lượng cao hơn các lớp

đào tạo ngắn hạn

* Căn cứ vào nghề đào tạo đối với người học:

- Đào tạo mới: Là loại hình đào tạo nghề áp dụng cho những người chưa

có nghề (đào tạo mới là để đáp ứng yêu cầu tăng thêm lao động có nghề)

- Đào tạo lại: Là quá trình đào tạo nghề áp dụng với những người đK có nghề song vì lý do nào đó, nghề của họ không còn phù hợp nữa

- Đào tạo nâng cao: Là quá trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kinh nghiệm làm việc để người lao động có thể đảm nhận được những công việc phức tạp hơn

b) Các hình thức đào tạo nghề

Các hình thức đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng nhìn chung

là rất phong phú và đa dạng Tuy nhiên, về cơ bản đào tạo nghề hiện nay thường áp dụng một số hình thức chính sau đây:

• Đào tạo nghề chính quy:

Theo quy định của Luật dạy nghề, đào tạo nghề chính quy được thực hiện với các chương trình sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề tại các cơ sở dạy nghề theo các khoá học tập trung và liên tục

Có thể hiểu đào tạo nghề chính quy là loại hình đào tạo tập trung tại các trung tâm dạy nghề, các trường nghề với quy mô đào tạo tương đối lớn, chủ yếu là đào tạo các công nhân kỹ thuật có trình độ lành nghề cao

Việc đào tạo công nhân kỹ thuật thường chia làm hai giai đoạn: Giai

đoạn học tập cơ bản và giai đoạn học tập chuyên môn Giai đoạn học tập cơ bản là giai đoạn đào tạo nghề theo diện rộng, thường chiếm từ 70% đến 80% nội dung giảng dạy và tương đối ổn định Còn trong giai đoạn học tập chuyên

Trang 24

môn, người học được trang bị những kiến thức chuyên sâu và rèn luyện những

Với hình thức đào tạo chính quy, sau khi đào tạo, học viên có thể chủ

động, độc lập giải quyết công việc, có khả năng đảm nhận các công việc tương đối phức tạp, đòi hỏi trình độ lành nghề cao Cùng với sự phát triển của sản xuất và tiến bộ của khoa học kỹ thuật, hình thức đào tạo này ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật

Tuy nhiên, đào tạo chính quy cũng có nhược điểm là: Thời gian đào tạo tương đối dài; Đòi hỏi phải đầu tư lớn để đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, các cán bộ quản lý… nên kinh phí đào tạo cho một học viên là rất lớn

Đào tạo nghề tại nơi làm việc là hình thức đào tạo trực tiếp, trong đó người học sẽ được dạy những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc thông qua thực tế thực hiện công việc và thường là dưới sự hướng dẫn của những người lao động có trình độ cao hơn Hình thức đào tạo này thiên về thực hành ngay trong quá trình sản xuất và thường là do các doanh nghiệp (hoặc các cá nhân sản xuất) tự tổ chức

Chương trình đào tạo áp dụng cho hình thức đào tạo tại nơi làm việc thường chia làm bai giai đoạn: Giai đoạn đầu, người hướng dẫn vừa sản xuất vừa hướng dẫn cho học viên; Giai đoạn hai, giao việc làm thử cho học viên sau khi họ đK nắm được các nguyên tắc và phương pháp làm việc; Giai đoạn ba, giao việc hoàn toàn cho học viên khi họ đK có thể tiến hành làm việc một cách

độc lập

Trang 25

Hình thức đào tạo tại nơi làm việc có nhiều ưu điểm như: Có khả năng

đào tạo nhiều người cùng một lúc ở tất cả các doanh nghiệp, phân xưởng; Thời gian đào tạo ngắn; Không đòi hỏi điều kiện về trường lớp, giáo viên chuyên trách, bộ máy quản lý, thiết bị học tập riêng… nên tiết kiệm chi phí đào tạo; Trong quá trình học tập, người học còn được trực tiếp tham gia vào quá trình lao động, điều này giúp họ có thể nắm chắc kỹ năng lao động

Nhược điểm cơ bản của đào tạo tại nơi làm việc là: Việc truyền đạt và tiếp thu kiến thức không có tính hệ thống; Người dạy không có nghiệp vụ sư phạm nên hạn chế trong quá trình hướng dẫn, việc tổ chức dạy lý thuyết gặp nhiều khó khăn… nên kết quả học tập còn hạn chế; Học viên không chỉ học những phương pháp tiên tiến mà còn có thể bắt chước cả những thói quen không tốt của người hướng dẫn Vì vậy, hình thức đào tạo này chỉ phù hợp với những công việc đòi hỏi trình độ không cao

Đây là hình thức đào tạo theo chương trình gồm hai phần lý thuyết và thực hành Phần lý thuyết được giảng tập trung do các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật phụ trách Còn phần thực hành thì được tiến hành ở các xưởng thực tập do các

kỹ sư hoặc công nhân lành nghề hướng dẫn Hình thức đào tạo này chủ yếu áp dụng để đào tạo cho những nghề phức tạp, đòi hỏi có sự hiểu biết rộng về lý thuyết và độ thành thục cao

Ưu điểm nổi bật của các lớp cạnh doanh nghiệp là; Dạy lý thuyết tương

đối có hệ thống, đồng thời học viên lại được trực tiếp tham gia lao động ở các phân xưởng, tạo điều kiện cho họ nắm vững nghề; Bộ máy đào tạo gọn, chi phí đào tạo không lớn Tuy nhiên, hình thức đào tạo này chỉ áp dụng được ở những doanh nghiệp tương đối lớn và chỉ đào tạo cho các doanh nghiệp cùng ngành có tính chất giống nhau

Hình thức đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp được áp dụng khá rộng rKi trên thế giới nhưng mới chỉ xuất hiện ở Việt Nam trong

Trang 26

những năm gần đây và còn có nhiều cách hiểu khác nhau Có thể hiểu “đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp là hình thức đào tạo dựa trên hệ thống dạy và học có hai chỗ học, sự tích hợp chức năng của hai chỗ học tạo thành chức năng chung của hệ thống”

Đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp có thể được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau tuỳ theo điều kiện, quan điểm ở từng vùng, lKnh thổ và khu vực

Hình thức đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp xuất hiện ở Việt Nam còn quá yếu, mới chỉ thực hiện ở một số khía cạnh của việc kết hợp

đào tạo và được biểu hiện ở các hoạt động như:

- Đào tạo theo đơn đặt hàng (Một số doanh nghiệp đặt hàng cho các trường đào tạo);

- Một số tổng công ty lớn thành lập trường đào tạo riêng;

a) Các yếu tố bên trong (yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo nghề)

Đào tạo nghề chịu ảnh hưởng trước tiên là của các nhân tố bên trong của chính quá trình đào tạo bao gồm: hệ thống cơ sở dạy nghề; cơ sở vật chất, tài chính cho dạy nghề; đội ngũ giáo viên, học viên học nghề; chương trình, giáo trình đào tạo; hệ thống mục tiêu; tuyển sinh, việc làm; kiểm tra đánh giá, cấp văn bằng chứng chỉ…, những yếu tố này được coi là những yếu tố đảm bảo chất lượng của đào tạo nghề Chúng ta xét một số yếu tố chính như sau:

Trang 27

* Cơ sở vật chất, tài chính:

Cơ sở vật chất bao gồm: phòng học, xưởng thực hành cơ bản và thực tập sản xuất, thư viện – học liệu, trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy và học tập…

Đây là yếu tố hết sức quan trọng, nó tác động trực tiếp đến chất lượng đào tạo nghề Máy móc, trang thiết bị là những thứ không thể thiếu trong quá trình

đào tạo nghề, nó giúp cho học viên có điều kiện thực hành để hoàn thiện kỹ năng Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề càng tốt, càng hiện đại, theo sát với công nghệ sản xuất thực tế bao nhiêu thì người học viên càng có thể thích ứng, vận dụng nhanh chóng trong công việc bấy nhiêu Do vậy, cơ sở vật chất trang thiết bị cho đào tạo nghề đòi hỏi phải theo kịp với tốc độ đổi mới của máy móc, công nghệ sản xuất

Tài chính cho đào tạo nghề cũng là một trong những yếu tố cơ bản đảm bảo chất lượng đào tạo, nó tác động gián tiếp tới chất lượng đào tạo nghề thông qua khả năng trang bị về cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị giảng dạy, khả năng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên, … Tài chính đầu tư cho đào tạo nghề càng dồi dào thì càng có điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo nghề Các nguồn tài chính chủ yếu cho đào tạo nghề bao gồm: các nguồn lực từ Ngân sách nhà nước, đóng góp của bên hợp tác (doanh nghiệp), các nguồn hỗ trợ khác

* Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý:

Giáo viên dạy nghề là người giữ trọng trách truyền đạt kiến thức lý thuyết cũng như các kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm của mình cho các học viên trên cơ sở trang thiết bị dạy học hiện có Vì vậy, năng lực giáo viên dạy nghề tác động trực tiếp đến chất lượng đào tạo nghề

Đào tạo nghề có những nét khác biệt so với các cấp học khác trong nền giáo dục quốc dân đó là ngành nghề đào tạo rất đa dạng và học viên học nghề cũng có trình độ văn hóa rất khác nhau Bên cạnh đó, cấp trình độ đào tạo ở các cơ sở đào tạo nghề cũng rất khác nhau (chưa có nghề, trung cấp nghề, cao

Trang 28

đẳng nghề, bồi dưỡng, nâng bậc thợ) Sự khác biệt này dẫn đến đội ngũ giáo viên dạy nghề cũng rất đa dạng với nhiều cấp trình độ khác nhau

Vì vậy, giáo viên dạy nghề phải có đủ cả về số lượng và chất lượng, có

đủ về số lượng thì mới có thể tận tình hướng dẫn, theo sát học viên và đội ngũ giáo viên có chất lượng thì mới có thể giảng dạy và truyền đạt cho các học viên học nghề một cách hiệu quả

Một loại nhân lực khác cũng có ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề

đó là đội ngũ cán bộ quản lý dạy nghề Trong giai đoạn trước đây, vai trò của các cán bộ quản lý trong các cơ sở đào tạo không được đánh giá cao, tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay, nhất là trước bối cảnh hội nhập quốc tế và cạnh tranh trong lĩnh vực dạy nghề đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lý phải là những người thực sự có trình độ Chất lượng cán bộ quản lý cũng có ảnh hưởng rất lớn đến đào tạo nghề, thể hiện qua khả năng tổ chức, quản lý, điều phối quá trình đào tạo, tìm kiếm cơ hội hợp tác, liên kết đào tạo…

* Học viên học nghề:

Học viên học nghề là nhân tố quan trọng nhất, có tính chất quyết định

đối với công tác đào tạo nghề, nó ảnh hưởng toàn diện tới công tác đào tạo nghề Trình độ văn hoá, sự hiểu biết, tâm lý, cá tính, khả năng tài chính, quỹ thời gian… của bản thân học viên đều có ảnh hưởng sâu sắc tới quy mô và chất lượng đào tạo nghề Trình độ văn hoá cũng như khả năng tư duy của học viên càng cao thì khả năng tiếp thu các kiến thức trong quá trình học nghề càng tốt, khi ấy chất lượng đào tạo nghề càng cao và ngược lại

* Mục tiêu đào tạo:

Hệ thống mục tiêu đào tạo bao gồm: các mục tiêu ngành, quốc gia; mục tiêu trường (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn); mục tiêu đáp ứng yêu cầu thực tiễn của thị trường chung; mục tiêu đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp hợp tác đào tạo Các mục tiêu đào tạo càng sát thực, càng khả thi thì chất lượng đào tạo nghề càng được nâng cao Do đó, khi xây dựng mục tiêu đào tạo cần phải có

sự khảo sát, nghiên cứu kỹ lưỡng đối với từng yếu tố

Trang 29

* Chương trình, giáo trình đào tạo:

Chương trình đào tạo là điều kiện không thể thiếu trong quản lý nhà nước các cấp, các ngành đối với hoạt động của các cơ sở đào tạo nghề Chương trình đào tạo phù hợp được các cấp có thẩm quyền phê duyệt là một trong những yếu tố quan trọng, quyết định chất lượng đào tạo Không có chương trình đào tạo sẽ không có các căn cứ để xem xét, đánh giá bậc đào tạo của các đối tượng tham gia đào tạo và việc đào tạo sẽ diễn ra tự phát không theo một tiêu chuẩn thống nhất

Trong lĩnh vực dạy nghề, chương trình đào tạo gắn với nghề đào tạo Không có chương trình đào tạo chung cho các nghề mà mỗi loại nghề đều có chương trình riêng Do vậy, một cơ sở dạy nghề có thể có nhiều chương trình

đào tạo nếu như cơ sở đó đào tạo nhiều nghề Điều này đòi hỏi việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng về chương trình đào tạo nghề xét ở mức độ có hay không có, không thể chỉ căn cứ vào cơ sở đào tạo nghề mà phải căn cứ vào các nghề mà cơ sở đó đào tạo

Chương trình đào tạo bao gồm phần lý thuyết và phần thực hành, tương ứng với mỗi nghề thì tỷ lệ phân chia giữa hai phần này là khác nhau về lượng nội dung cũng như thời gian học

Với giáo trình cũng tương tự, giáo trình là những quy định cụ thể hơn của chương trình về từng môn cụ thể trong đào tạo Nội dung giáo trình phải tiên tiến, phải thường xuyên được cập nhật kiến thức mới thì việc đào tạo mới sát thực tế và hiệu quả đào tạo nghề mới cao

Việc nghiên cứu, xây dựng các chương trình, giáo trình sao cho hợp lý

và sát với nhu cầu đào tạo cũng như sát với nghề đào tạo để học viên có thể nắm vững được nghề sau khi tốt nghiệp là vấn đề rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng đào tạo

Trên đây là các yếu tố cơ bản bên trong của quá trình đào tạo nghề Chất lượng của các yếu tố này sẽ tác động quyết định tới chất lượng đào tạo nghề

Trang 30

Tuy nhiên, hệ thống đào tạo nghề vận hành trong môi trường văn hoá, chính trị, xK hội … nhất định và cũng chịu sự tác động qua lại của điều kiện môi trường

b) Các yếu tố bên ngoài

Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo nghề bao gồm các điều kiện môi trường của hệ thống đào tạo nghề Các yếu tố này ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo nghề với tính chất là điều kiện, hỗ trợ cho hệ thống, hợp với các yếu tố bên trong thành hệ các yếu tố tác động đến chất lượng đào tạo nghề

Các yếu tố bên ngoài tác động đến chất lượng đào tạo nghề thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: Thể chế chính trị, kinh tế – xK hội, khoa học – công nghệ, địa lý, truyền thống – văn hoá, … Tuy nhiên, cần quan tâm hơn đến một số yếu tố cơ bản như: Hội nhập kinh tế và xu hướng toàn cầu hoá; Sự phát triển của khoa học kỹ thuật; Thể chế chính trị; Sự phát triển kinh tế – xK hội; Cơ chế - chính sách; Qui mô - cơ cấu lao động; Nhận thức xK hội về đào tạo nghề Các yếu tố này có thể khái quát như sơ đồ sau:

- Mục tiêu đào tạo

đào tạo

Điều kiện môi trường đào tạo nghề

Trang 31

2.1.5 Mèi quan hỷ vÒ sù liến kạt giọa tr−êng dỰy nghÒ vắi doanh nghiỷp ệÓ nẹng cao chÊt l−ĩng ệộo tỰo nghÒ

Một trong những ưu tiên của chiến lược phát triển giáo dục nước ta từ

2001 ựến 2010 là phát triển nguồn nhân lực, ựặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao Phạm trù phát triển nguồn nhân lực (PTNNL) bao gồm 3 thành tố

có mối quan hệ biện chứng với nhau trong ỘTam giác PTNNLỢ:

Ba thành tố trên ựây nằm ựan xen trong hai hệ thống: Hệ thống ựào tạo, bồi dưỡng nhân lực và hệ thống sử dụng nhân lực

Tr−êng Dạy nghề là thiết chế thuộc vào hệ thống ựào tạo, bồi dưỡng nhân lực và doanh nghiệp thuộc vào hệ thống sử dụng nhân lực Hai hệ thống này có sự tác ựộng tương hỗ và thậm chắ có sự giao thoa nhau (chẳng hạn Tr−êng dỰy nghÒ cũng có xưởng sản xuất kinh doanh và ngược lại doanh nghiệp vẫn có thể mở cơ sở ựào tạo trực thuộc) Mối liên kết giữa tr−êng dỰy nghÒ với doanh nghiệp dựa trên cơ sở triết lý nhân quả; dựa trên tư tưởng Hồ Chắ Minh về phương châm nhà trường xã hội chủ nghĩa: ỘHọc ựi với lao ựộng Ờ Lắ luận ựi với thực hành - Cần cù ựi với tiết kiệmỢ và tuân thủ quy luật cung

- cầu trong kinh tế thị trường

đào tạo

- Bồi dưỡng nhân lực

Môi trường ựể ựội ngũ nhân lực phát triển

Tuyển chọn

- Sử dụng nhân lực

Trang 32

Sứ mệnh của trường dạy nghề là giỳp học sinh thớch ứng với một nhúm nghề thụng qua việc dạy nghề phổ thụng và ủào tạo nghề chuyờn sõu cho cỏc ủối tượng khỏc trong xó hội

Với kinh phớ ủầu tư hạn hẹp từ phớa nhà nước, muốn nõng cao chất lượng ủào tạo, ủỏp ứng yờu cầu của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập WTO, khụng thể khụng vận dụng chủ trương xó hội húa ở cỏc trường dạy nghề trong huy ủộng nguồn lực vật chất cũng như tay nghề tinh xảo của cỏc chuyờn gia thuộc cỏc doanh nghiệp Hơn nữa, ủể phỏt triển bền vững trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt trờn toàn cầu, cỏc doanh nghiệp khụng thể ngồi chờ nguồn nhõn lực sẵn cú, mà phải tớch cực, chủ ủộng và năng ủộng trong việc phối kết hợp với cỏc cơ sở ủào tạo nghề Như vậy, trong bối cảnh hội nhập WTO, khi mà tớnh chất cạnh tranh ngày càng gay gắt và quyền tự chủ và tự chịu trỏch nhiệm trước xó hội ngày càng nõng cao thỡ mối liờn kết giữa trường dạy nghề và cỏc doanh nghiệp là một tất yếu khỏch quan 2.1.6 Nhân tố tác động đến sự liên kêt giữa trường dạy nghề và doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề

2.1.6.1 Mức ủộ phỏt triển của nền kinh tế

Nền kinh tế càng phỏt triển, mức ủộ cạnh tranh càng cao thỡ cỏc doanh nghiệp càng cần cú tỷ lệ cao về lao ủộng qua ủào tạo, cú nhiều lao ủộng với tay nghề cao và thớch ứng ủược với sự ủổi mới thiết bị, cụng nghệ… nờn càng cần ủến cỏc trường dạy nghề ủể ủào tạo những người lao ủộng cú thể tạo nờn năng suất, chất lượng cao nhất Nền kinh tế phỏt triển buộc trường phải liờn kết với cỏc doanh nghiệp càng chặt chẽ hơn, vỡ nếu khụng, sản phẩm dịch vụ của mỡnh khụng thể thớch ứng ủược với tốc ủộ nhanh về ủổi mới thiết bị, cụng nghệ… hơn nữa chớnh mức ủộ phỏt triển kinh tế, mức ủộ hội nhập của nền kinh tế cũng dẫn ủến yờu cầu cạnh tranh giữa cỏc cơ sở ủào tạo núi chung và trường dạy nghề núi riờng

Trang 33

2.1.6.2 Nhận thức và năng lực của người quản lý

Mối liờn kết giữa trường dạy nghề với cỏc doanh nghiệp phụ thuộc vào mức ủộ nhận thức và năng lực của người quản lý trường dạy nghề cũng như người quản lý doanh nghiệp Cú nhận thức sõu sắc về triết lý của mối liờn kết thỡ mới xõy dựng ủược một cỏch khoa học cơ chế, chiến lược, kế hoạch hành ủộng thiết thực trong việc liờn kết song phương giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp hoặc ủa phương giữa nhiều trường dạy nghề với nhiều doanh nghiệp trờn

cơ sở ủặc thự và thế mạnh của mỗi ủối tỏc tham gia vào mối liờn kết

2.1.6.3 Cơ chế và Lợi ớch của cỏc bờn tham gia liờn kết

Cơ chế chung của nền kinh tế (tập trung, hay thị trường), cơ chế quản

lý ủơn vị sự nghiệp cú thu của nhà nước, cơ chế phối hợp giữa cỏc bờn tham gia liờn kết cú tỏc ủộng tớch cực hoặc tiờu cực ủến hiệu quả của việc liờn kết Lợi ớch hợp phỏp và hài hũa trờn cơ sở phương chõm “ủụi bờn cựng cú lợi” là ủộng lực thỳc ủẩy và cũng là ủảm bảo cho mối liờn kết cú tớnh bền vững

Tăng cường sự liên kết giữa trường và doanh nghiệp (tăng cường quan

hệ trường – ngành) mang lại lợi ích cho cả nhà trường, học viên, doanh nghiệp

và xK hội, cụ thể như sau:

*) Lợi ích đối với doanh nghiệp (ngành):

- Các doanh nghiệp (ngành) sẽ tiết kiệm được kinh phí và thời gian đào tạo lại lao động do chất lượng sinh viên tốt nghiệp tốt hơn khi có sự liên kết giữa trường và doanh nghiệp trong đào tạo;

- Nguồn cung lao động có tay nghề tăng lên, lực lượng lao động có khả năng thích nghi cao với công nghệ và môi trường làm việc mới tăng lên sẽ tạo

ra các cơ hội tuyển dụng tốt hơn, giảm bớt sự thiếu hụt kỹ năng cho doanh nghiệp;

- Các công nhân lành nghề bậc cao của doanh nghiệp sẽ có cơ hội phát triển năng lực lKnh đạo khi họ tham gia vào việc tư vấn…

Trang 34

*) Lợi ích đối với trường dạy nghề:

- Xây dựng và duy trì được các chương trình đào tạo có chất lượng và phù hợp với yêu cầu thực tiễn;

- Xác định những thay đổi và nguồn lực cần có tốt hơn, từ đó lập kế hoạch – chiến lược một cách hiệu qủa hơn, đưa ra những quyết định xác đáng hơn;

- Tạo ra nhiều cơ hội được nhận các tài trợ về thiết bị và các nguồn lực cho đào tạo, tăng tiềm năng tạo thu nhập;

- Có cơ hội tiếp cận với những nghề nghiệp mới, hiểu sâu sắc hơn về những nhu cầu trong công việc của nghề và ngành, từ đó lựa chọn sự ưu tiên

đào tạo cụ thể cho từng nghề để tăng khả năng có việc làm của học sinh tốt nghiệp, tăng cơ hội việc làm với mức lương cao;

- Thúc đẩy phát triển theo kịp tốc độ của ngành và cộng đồng, tạo điều kiện chuyển đổi giáo dục - đào tạo sang kiểu đào tạo hướng cầu;

- Trở thành đối tác trong hoạt động kinh tế cuả cộng đồng…

*) Lợi ích đối với học sinh học nghề:

- Có nhiều cơ hội lựa chọn để phát triển các lĩnh vực chuyên môn hoá, sẵn sàng đáp ứng công việc khi tốt nghiệp;

- Tăng khả năng có việc làm và những cơ hội đến với những công việc

có thu nhập cao hơn, cải thiện mức sống của gia đình và bản thân;

- Chuẩn bị tốt hơn cho việc học tập suốt đời…

*) Lợi ích đối với Chính phủ (cộng đồng):

- Tăng cường sự liên kết giữa các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp tạo ra nhiều thuận lợi trong việc hoạch định chính sách, chiến lược về giáo dục - đào tạo cũng như các chiến lược về sắp xếp việc làm;

- Những lợi ích kinh tế của một lực lượng lao động có tay nghề bao gồm nguồn thu nhập gia đình tăng, tiêu chuẩn sống tốt hơn và mức độ hài lòng về công việc cao hơn Doanh thu của Chính phủ cũng tăng cùng với sự gia tăng của các hoạt động kinh tế, dẫn tới các lợi ích xK hội được cải thiện

Trang 35

2.1.6.4 Quy mụ, chất lượng của cỏc bờn tham gia liờn kết

Quy mụ, chất lượng ủào tạo của trường dạy nghề càng lớn thỡ càng cú nhiều doanh nghiệp ủặt vấn ủề liờn kết Và ngược lại, chớnh cỏc doanh nghiệp

cú quy mụ lớn, trỡnh ủộ cụng nghệ cao, tiềm lực kinh tế lớn sẽ thu hỳt và tạo

sự bền vững cho mối liờn kết với cơ sở ủào tạo nghề

Liên kết đào tạo giữa trường và doanh nghiệp sẽ tác động cơ bản, toàn diện tới chất lượng của tất cả các yếu nói trên Cụ thể là:

- Khi có sự liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp thì mục tiêu, nội dung chương trình được xây dựng sát hơn với yêu cầu thực tiễn của những người sử dụng lao động

- Đa số đội ngũ giáo viên ở các cơ sở đào tạo nghề được đào tạo cơ bản,

đạt chuẩn của Nhà nước đề ra, song kinh nghiệm sản xuất trực tiếp và việc làm thì chưa thành thục bằng những người thợ cả tại các cơ sở sản xuất Khi nhà trường và doanh nghiệp kết hợp đào tạo sẽ tận dụng được thế mạnh của cả phía nhà trường và doanh nghiệp, đội ngũ giáo viên cho đào tạo nghề được tăng lên cả về qui mô và chất lượng, đặc biệt là đội ngũ giáo viên thực hành,

từ đó nâng cao chất lượng đào tạo

- Đội ngũ cán bộ quản lý đào tạo tại các cơ sở đào tạo chủ yếu được chọn ra từ đội ngũ giáo viên Khi liên kết với các doanh nghiệp, đội ngũ cán

bộ quản lý được bổ sung từ phía doanh nghiệp Điều này rất có lợi cho việc tổ chức, quản lý quá trình đào tạo, đặc biệt là các khâu tuyển sinh, thực tập sản xuất, việc làm, tham gia xây dựng chương trình…

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo là một trong những yếu tố cơ bản đảm bảo chất lượng đào tạo nghề Liên kết đào tạo với doanh nghiệp thì cơ sở vật chất phục vụ đào tạo sẽ tăng lên, thiết bị phục vụ đào tạo được cập nhật, tăng lên về số lượng cũng như chất lượng Đồng thời giúp học viên tiếp cận với thực tế thiết bị hiện đại đang vận hành, dây chuyền sản xuất hiện đại

Trang 36

- Tài chính phục vụ đào tạo nghề gồm các nguồn từ ngân sách, học phí, các nguồn thu và hỗ trợ khác Hiện nay, ngân sách nhà nước cấp rất hạn chế

và ở mức thấp so với quốc tế Khi có sự liên kết về mặt tài chính, doanh nghiệp sẽ đầu tư và đóng góp một phần kinh phí cho đào tạo học viên (mà họ

sẽ sử dụng) để phát triển nguồn nhân lực

- Giới thiệu và tìm việc làm sau khi tốt nghiệp là một dịch vụ quan trọng dành cho học sinh học nghề Nếu có sự liên kết chặt chẽ giữa nhà trường

và doanh nghiệp sẽ góp phần khắc phục tình trạng thất nghiệp của những học viên học nghề Học viên được đào tạo sẽ có địa chỉ sự dụng hoặc tối thiểu là

được đào tạo theo “cầu” của thị trường lao động Từ đó giúp người học an tâm học tập, nâng cao chất lượng đào tạo và giảm lKng phí cho xK hội

Tóm lại, thiết lập sự liên kết giữa trường và doanh nghiệp trong đào tạo nghề sẽ cải thiện các yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo nghề

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

2.2.1 Liên kết đào tạo nghề trên thế giới

Đào tạo kết hợp theo mô hình “Alternation”

“Alternation” theo cách gọi của tổ chức GTZ Việt Nam (trong tài liệu

về các hình thức đào tạo nghề trên thế giới) là “đào tạo phối hợp” là hình thức kết hợp đào tạo điển hình tại Pháp Đặc trưng của hình thức này là:

- Chương trình đào tạo: Đào tạo chính quy cấp bằng nghề hoặc bồi dưỡng nâng cao tay nghề Về đào tạo chính quy, trường hoàn toàn tuân thủ theo tiêu chuẩn quốc gia, không được tự do về nội dung chương trình giảng dạy Về bồi dưỡng nâng cao trình độ, không bắt buộc phải cấp văn bằng, chứng chỉ nghề và doanh nghiệp tham gia vào xây dựng các chương trình đào tạo;

- Phương pháp tổ chức đào tạo: Các môn cơ bản - đại cương, các môn lý thuyết chuyên môn, thực hành cơ bản được đào tạo tại trường cho giáo viên của trường thực hiện Thực tập sản xuất được tiến hành tại doanh nghiệp với

sự tham gia của cán bộ, nhân viên của doanh nghiệp;

Trang 37

- Tài chính: Doanh nghiệp khi sử dụng học viên đK tốt nghiệp phải nộp cho trường đào tạo nghề hoặc cho Nhà nước một khoản thuế (thuế học nghề) bằng 0,5% quỹ lương của doanh nghiệp Trong đó, 0,2% cho trường và 0,3% cho cán bộ doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề;

- Đánh giá kết quả đào tạo: Việc thi, kiểm tra, tốt nghiệp được thực hiện tại trường Kiểm tra tay nghề (thi thực hành) được tiến hành tại doanh nghiệp với Hội

đồng kiểm tra bao gồm giáo viên của trường và cán bộ của doanh nghiệp

Đào tạo kết hợp theo mô hình “Dual system”

Trong các tài liệu về đào tạo nghề tại Việt Nam, “Dual system” được gọi bằng nhiều cách như “song tuyến”, “song hành”, “kép”… Tuy nhiên, dù

được gọi bằng cách nào thì về bản chất nội dung và hình thức của nó vẫn là

“kết hợp đào tạo tại trường và doanh nghiệp” Trong phạm vi bài luận văn này

sẽ sử dụng khái niệm “song tuyến”

Đào tạo kết hợp theo hình thức song tuyến là hình thức đào tạo nghề cơ bản của Đức và chủ yếu là đào tạo để phục vụ cho doanh nghiệp Đặc điểm cơ bản của đào tạo song tuyến là:

- Xây dựng mục tiêu và nội dung chương trình đào tạo: Căn cứ theo chương trình khung thống nhất của Nhà nước, khối cơ quan quản lý Nhà nước

về đào tạo nghề xây dựng Chương trình đào tạo lý thuyết và các hiệp hội nghề nghiệp, phòng công nghiệp sẽ xây dựng chương trình đào tạo thực hành có

định hướng theo yêu cầu phát triển công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp;

- Cơ sở vật chất sư phạm – trang thiết bị thực hành: đào tạo được tiến hành cả ở trường và doanh nghiệp nên cơ sở vật chất trang thiết bị đào tạo gồm cả của trường và doanh nghiệp;

- Cán bộ giáo viên: gồm cả giáo viên của trường và doanh nghiệp, trong

đó giáo viên của các trường sẽ dạy các môn lý thuyết;

- Tài chính: do cả phía trường và doanh nghiệp đóng góp Tài chính của nhà trường lấy từ ngân sách Nhà nước và các khoản thu hợp lệ khác Về phía doanh nghiệp sẽ cấp học bổng cho học sinh, đầu tư tuyển cán bộ hướng dẫn thực hành tại doanh nghiệp, đầu tư cơ sở vật chất – sư phạm;

Trang 38

- Đánh giá tốt nghiệp: Kết quả thi thực hành quyết định việc tốt nghiệp của học viên, kết quả thi lý thuyết chỉ có giá trị tham khảo Đề thi thực hành

do các phòng công nghiệp ra

Mô hình đào tạo tuần tự

Kết hợp theo mô hình đào tạo tuần tự tức là quá trình đào tạo được chia làm hai giai đoạn và tiến hành ở hai địa điểm là trường và doanh nghiệp: Giai

đoạn một đào tạo lý thuyết và thực hành cơ bản tất cả các công việc của nghề tại trường; giai đoạn hai là thực hành sản xuất theo từng công việc và thực hành tốt nghiệp tại cơ sở sản xuất trong một thời gian dài

Ưu điểm của mô hình này là đơn giản trong việc tổ chức quá trình đào tạo kết hợp và tận dụng được ưu thế của mỗi bên trong việc kết hợp Tuy nhiên, nhược điểm của nó là học lý thuyết và thực hành cũng như thực hành cơ bản và thực hành sản xuất được tiến hành ở những khoảng thời gian cách xa nhau nên học sinh dễ bị quên những điều đK học

2.2.2 Phân tích chung về thực trạng hệ thống đào tạo nghề của Việt Nam 2.2.2.1 Hệ thống cơ sở đào tạo nghề

Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm tới lĩnh vực dạy nghề và dành nhiều sự đầu tư nhiều cho việc phát triển hệ thống cơ sở dạy nghề về cả số lượng và chất lượng

Hiện nay, Việt Nam đK có được một hệ thống dạy nghề rộng khắp trong cả nước với các loại hình cơ bản như:

- Trường Cao đẳng nghề: Đào tạo nghề dài hạn (trình độ cao đẳng nghề)

từ 1 đến 3 năm tuỳ theo trình độ đầu vào của học viên, cấp bằng nghề Ngoài

ra, trường cũng có thể đào tạo nghề ở trình độ trung cấp nghề, sơ cấp nghề và các khoá đào tạo ngắn hạn thường xuyên, cấp chứng chỉ nghề

- Trường Trung cấp nghề: Đào tạo nghề dài hạn trình độ trung cấp nghề, cấp bằng nghề; đào tạo trình độ sơ cấp nghề, các khoá đào tạo ngắn hạn thường xuyên, cấp chứng chỉ nghề

Trang 39

- Trung tâm dạy nghề: Đào tạo nghề ngắn hạn dưới 1 năm

- Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp và dạy nghề:

Đào tạo nghề ngắn hạn dưới 1 năm, cấp chứng chỉ nghề

- Các trường Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp có dạy nghề: Đào tạo nghề trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề, sơ cấp nghề và các khoá đào tạo bồi dưỡng ngắn hạn

Hiện nay, trong cả nước có: 70 trường cao đẳng nghề; 254 trường trung cấp nghề; 665 trung tâm dạy nghề; trên 1.000 cơ sở có dạy nghề khác (bao gồm các trường cao đẳng, đại học có dạy nghề, trung tâm hướng nghiệp ) Trường cao đẳng nghề và trung cấp nghề gọi chung là trường dạy nghề)

2.2.2.2 Qui mô đào tạo nghề

Cùng với sự lớn mạnh của hệ thống cơ sở dạy nghề, qui mô đào tạo hàng năm cũng không ngừng tăng lên Các số liệu tổng hợp được các báo cáo tổng kết về tình hình đào tạo nghề của Tổng cục Dạy nghề (Bảng 2.1) cho thấy lưu lượng đào tạo nghề giai đoạn 2004 - 2008 tăng mạnh, tỷ lệ tăng hàng năm đạt từ 5 đến 8%, trong đó đào tạo dài hạn tăng nhanh hơn (từ 12 đến 18%) so với đào tạo ngắn hạn (từ 2 đến 7%)

Với những nỗ lực của mình, ngành đào tạo nghề đK đào tạo được một

số lượng lớn lao động có trình độ cho xK hội, tuy nhiên vẫn chưa đạt được chỉ tiêu 22 – 25% lao động qua đào tạo Nhu cầu về lao động kỹ thuật còn rất lớn

mà lượng cung hiện tại chưa đáp ứng được

Theo đánh giá của các chuyên gia giáo dục, “qui mô đào tạo có tăng lên hàng năm nhưng chỉ đáp ứng khoảng 30% nhu cầu nguồn nhân lực kỹ thuật

mà Nghị quyết TW2 khoá VIII đề ra” Để đáp ứng chỉ tiêu 50 – 60% lao động qua đào tạo vào năm 2020 đề ra trong chiến lược phát triển dạy nghề, ngành

đào tạo nghề cần nỗ lực cao hơn nữa

Trang 40

Bảng 2.1 Tổng hợp tình hình thực hiện đào tạo nghề của Việt Nam

giai đoạn 2004 - 2008 Năm

Theo khảo sát của công ty t− vấn rủi ro Chính trị và Kinh tế, chất l−ợng

đào tạo và nguồn nhân lực của Việt Nam trong thời gian vừa qua đ−ợc đánh giá gần thấp nhất trong khu vực châu á

Ngày đăng: 02/08/2013, 16:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Tổng hợp tình hình thực hiện đào tạo nghề của Việt Nam - Luận văn tăng cường sự liên kết giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc giang nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Bảng 2.1. Tổng hợp tình hình thực hiện đào tạo nghề của Việt Nam (Trang 40)
Bảng 2.3. Tổng hợp trình độ tay nghề của giáo viên dạy nghề. - Luận văn tăng cường sự liên kết giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc giang nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Bảng 2.3. Tổng hợp trình độ tay nghề của giáo viên dạy nghề (Trang 42)
Bảng 2.5. Tổng hợp diện tích mặt bằng phòng học của các tr−ờng dạy nghề            Tr−êng thuéc - Luận văn tăng cường sự liên kết giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc giang nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Bảng 2.5. Tổng hợp diện tích mặt bằng phòng học của các tr−ờng dạy nghề Tr−êng thuéc (Trang 44)
Bảng 3.1. Tổng sản phẩm ( GDP) trên địa bàn tỉnh Bắc Giang (2006 – 2008) - Luận văn tăng cường sự liên kết giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc giang nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Bảng 3.1. Tổng sản phẩm ( GDP) trên địa bàn tỉnh Bắc Giang (2006 – 2008) (Trang 49)
Bảng 4.1: Kết quả đào tạo nghề của tỉnh Bắc Giang thời kỳ 1998 – 2008 - Luận văn tăng cường sự liên kết giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc giang nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Bảng 4.1 Kết quả đào tạo nghề của tỉnh Bắc Giang thời kỳ 1998 – 2008 (Trang 58)
Bảng 4.2. Danh sách các tr−ờng dạy nghề tỉnh Bắc Giang (năm 2008) Tên cơ sở dạy nghề Cơ quan quản lý - Luận văn tăng cường sự liên kết giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc giang nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Bảng 4.2. Danh sách các tr−ờng dạy nghề tỉnh Bắc Giang (năm 2008) Tên cơ sở dạy nghề Cơ quan quản lý (Trang 63)
Bảng 4.3: Đội ngũ giáo viên của 11 tr−ờng dạy nghề  (năm 2008) - Luận văn tăng cường sự liên kết giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc giang nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Bảng 4.3 Đội ngũ giáo viên của 11 tr−ờng dạy nghề (năm 2008) (Trang 65)
Bảng 4.4: Tổng hợp nguồn thu tại 5 trường trên địa bàn tỉnh Bắc Giang - Luận văn tăng cường sự liên kết giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc giang nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Bảng 4.4 Tổng hợp nguồn thu tại 5 trường trên địa bàn tỉnh Bắc Giang (Trang 68)
Bảng 4.5: Thực trạng xây dựng chương trình đào tạo nghề tại các trường - Luận văn tăng cường sự liên kết giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc giang nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Bảng 4.5 Thực trạng xây dựng chương trình đào tạo nghề tại các trường (Trang 69)
Bảng 4.6: Tổng hợp hình thức và mức độ liên kết đào tạo giữa - Luận văn tăng cường sự liên kết giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc giang nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Bảng 4.6 Tổng hợp hình thức và mức độ liên kết đào tạo giữa (Trang 70)
Bảng 4.7: Đánh giá về mức độ liên kết với các trường nghề của doanh nghiệp - Luận văn tăng cường sự liên kết giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc giang nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Bảng 4.7 Đánh giá về mức độ liên kết với các trường nghề của doanh nghiệp (Trang 72)
Bảng 4.9: Đánh giá về mức độ phù hợp giữa nghề đ−ợc đào tạo và - Luận văn tăng cường sự liên kết giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc giang nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Bảng 4.9 Đánh giá về mức độ phù hợp giữa nghề đ−ợc đào tạo và (Trang 74)
Bảng 4.10: Đánh giá của doanh nghiệp về mức độ đáp ứng yêu cầu công - Luận văn tăng cường sự liên kết giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc giang nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Bảng 4.10 Đánh giá của doanh nghiệp về mức độ đáp ứng yêu cầu công (Trang 76)
Bảng 4.12: Đánh giá mức độ hữu ích của các chương trình đào tạo đối với - Luận văn tăng cường sự liên kết giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc giang nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Bảng 4.12 Đánh giá mức độ hữu ích của các chương trình đào tạo đối với (Trang 80)
Bảng 4.14: Dự bỏo nhu cầu học nghề của người lao ủộng - Luận văn tăng cường sự liên kết giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc giang nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Bảng 4.14 Dự bỏo nhu cầu học nghề của người lao ủộng (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w