Luận văn đánh giá đất gò đồi phục vụ phát triển cây ăn quả ở huyện đông triều, tỉnh quảng ninh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
- -
ðẶNG THỊ THU LAN
ðÁNH GIÁ ðẤT GÒ ðỒI PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN CÂY
ĂN QUẢ Ở HUYỆN ðÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: QUẢN LÝ ðẤT ðAI
Mã số: 60.62.16
Người hướng dẫn khoa học: TS ðỖ NGUYÊN HẢI
HÀ NỘI - 2008
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng
Tôi cam ñoan rằng, mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn này ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn
Hà Nội,ngày 15 tháng 9 năm 2008
Tác giả luận văn
ðặng Thị Thu Lan
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn trực tiếp và quý báu của thầy giáo TS ðỗ Nguyên Hải, của các thầy cô giáo trong Khoa Tài nguyên và Môi trường, Khoa Sau ðại học – Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội
Tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh ñạo Viện Quy hoạch và Thiết
kế Nông nghiệp, Lãnh ñạo và cán bộ phòng Tài nguyên ñất và Môi trường - Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, Phòng Nông nghiệp, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Thống kê huyện
Triều, các hộ nông dân, các chủ trang trại trên ñịa bàn huyện và gia
văn
Hà Nội, ngày 15 tháng 9 năm 2008
Tác giả luận văn
ðặng Thị Thu Lan
Trang 4Mục Lục
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt v
Danh mục các hình ảnh vi
Danh mục các biểu đồ, sơ đồ vi
Danh mục các bảng vii
mở đầu 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 10
2 ý nghĩa khoa học và thực tiễn 11
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 11
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
Chương I: tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học 12
1.1 Khái niệm đất gò đồi 12
1.2 Những nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài 13
1.2.1 Nghiên cứu về đánh giá đất 13
1.2.2 Nghiên cứu về cây ăn quả 19
1.2.3 Nghiên cứu sử dụng đất đồi núi 23
1.3 Yêu cầu sinh thái của một số cây ăn quả 26
1.3.1 Nhóm cây có múi (Citrus spp.) 26
I.3.2 Cây na (Anona saquamosa L) 27
1.3.3 Cây nhRn (Dimocarpus longan Luor.) 28
1.3.4 Cây vải (Litchi chinensis Sonn) 29
Chương II: nội dung và phương pháp nghiên cứu 31
2.1 Nội dung nghiên cứu 31
2.1.1 Nghiên cứu các đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xR hội có liên quan 31
2.1.2 Điều tra đánh giá hiện trạng sử dụng đất gò đồi và hiện trạng 31
2.1.3 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai tỷ lệ 1/50.000 31
2.1.4 Phân hạng mức độ thích hợp đất đai vùng gò đồi đối với cây ăn quả huyện Đông Triều 32
2.1.5 Đề xuất định hướng phát triển cây ăn quả 32
2.2 Phương pháp nghiên cứu 32
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 32
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp thông qua điều tra thực địa 32 2.2.3 Phương pháp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai bản đồ 33
2.2.4 Phương pháp đánh giá đất đai theo FAO 33
Trang 52.2.5 Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế 33
2.2.6 Xử lý, phân tích và tổng hợp các kết quả 33
Chương III: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 34
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xR hội vùng nghiên cứu 34
3.1.1 Vị trí địa lý 34
3.1.2 Điều kiện tự nhiên 34
3.1.3 Điều kiện kinh tế xR hội 3
3.2 Đặc điểm đất gò đồi huyện Đông Triều 4
3.2.1 Nhóm đất xám bạc màu 1
3.2.2 Nhóm đất đỏ vàng 5
3.3 Hiện trạng sử dụng đất gò đồi và thực trạng phát triển cây ăn quả 13
3.3.1 Hiện trạng sử dụng đất 13
3.3.2 Các loại hình sử dụng đất đai chính ở Đông Triều 13
3.3.3 Hiệu quả kinh tế, xR hội, môi trường các loại hình sử dụng đất 2
3.3.4 Tình hình phát triển cây ăn quả ở Đông Triều 10
3.4 xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 11
3.4.1 Lựa chọn chỉ tiêu và phân cấp chỉ tiêu xây dựng bản đồ LMU 11
3.4.2 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 14
3.5 Đánh giá đất gò đồi phục vụ phát triển cây ăn quả 16
3.5.1 Nguyên tắc và cấu trúc phân hạng đất đai 16
3.5.2 Xác định yêu cầu sử dụng đất của cây ăn quả 17
3.5.3 Kết quả phân hạng mức độ thích hợp đất đai đối với cây ăn quả 20
3.5.4 Đánh giá mức độ thích hợp hiện tại cho các cây ăn quả chính 23
3.6 Đề xuất phát triển cây ăn quả và giải pháp phát triển 23
3.6.1 Quan điểm trong đề xuất sử dụng đất đai 23
3.6.2 Đề xuất hướng phát triển cây ăn quả 24
3.6.3 Một số giải pháp chủ yếu thúc đẩy phát triển cây ăn quả 27
kết luận và đề nghị 6
1 Kết luận 6
2 Đề nghị 6
tài liệu tham khảo 8
phụ lục 11
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTB : Bắc Trung bộ
CAQ : Cây ăn quả
DHNTB : Duyên hải Nam Trung bộ
DTĐGĐ : Diện tích đất gò đồi
LUS : Hệ thống sử dụng đất
LUT : Loại hình sử dụng đất
TDMNBB : Trung du miền núi Bắc bộ
TN : Tây nguyên
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
Trang 7danh mục các hình ảnh
ảnh 3.1 Loại hình sử dụng đất 1 vụ lúa, 1 vụ màu 47
ảnh 3.2 Loại hình sử dụng đất cây ăn quả (vải thiều) 48
ảnh 3.3 Loại hình sử dụng đất cây ăn quả (nhRn) 49
ảnh 3.4 Loại hình sử dụng đất cây ăn quả (na) 49
ảnh 3.5 Loại hình sử dụng đất cây ăn quả (cam, quýt) 86
Danh mục các biểu đồ, sơ đồ
Biểu đồ 3.1 Diện tích đất gò đồi huyện Đông Triều 64 Biểu đồ 3.2 Diện tích thích hợp của đất gò đồi Đông Triều đối với CAQ 64 Sơ đồ 3.1 Chu chuyển đất trồng cây ăn quả theo đề xuất trên diện tích đất
gò đồi huyện Đông Triều – tỉnh Quảng Ninh 69
Trang 8Danh mục các bảng biểu
Bảng 1 Diện tích, năng suất, sản lượng một số loại quả trên thế giới 11
Bảng 2 Diện tích một số cây ăn quả nhiệt đới của một số nước đứng đầu 12
Bảng 4 Phân loại đất gò đồi huyện đông triều 30
Bảng 11 Hiện trạng sử dụng đất gò đồi huyện Đông Triều năm 2007 43
Bảng 12 Hiệu quả kinh tế của một số loại hình sử dụng đất vùng gò đồi
Trang 9Bảng 13 Phân cấp chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 58
Bảng 14 Tổng hợp ĐVĐ theo loại đất và quy mô diện tích 59 Bảng 15 Yêu cầu sử dụng đất của các loại cây ăn quả 62
Bảng 16 Diện tích mức độ thích hợp đất đai với 3 nhóm cây ăn quả chính 63
Bảng 17 Đề xuất diện tích cây ăn quả trên diện tích đất gò đồi ở Đông Triều
đến năm 2015
68
Trang 10mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong vùng đất đồi núi, đất gò đồi có những lợi thế như độ dốc thấp, mức độ chia cắt ít, giao thông thuận lợi, có nguồn nước tưới và có điều kiện sinh thái (khí hậu, đất đai ) thích hợp để phát triển một nền nông nghiệp đa dạng về sản phẩm, tương đối tập trung về qui mô Trong nhiều năm qua đất gò
đồi ở vùng đồi núi phía Bắc đR được khai thác một cách khá triệt để cho sản xuất Nông – lâm nghiệp nhằm phục vụ các nhu cầu ngày càng lớn của xR hội Tuy nhiên, nếu nhìn nhận một cách toàn diện trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững thì đất gò đồi đR và đang bị suy thoái nghiêm trọng do các quá trình xói mòn, rửa trôi và nghèo kiệt dinh dưỡng Nhiều diện tích đất gò đồi còn sản xuất kém hiệu quả, chưa chú ý đến biện pháp canh tác thích hợp mà chỉ thiên về góc độ sử dụng bóc lột đất
Đông Triều là một huyện thuộc phía Tây tỉnh Quảng Ninh, có diện tích
tự nhiên 39.675ha, trong đó diện tích đất đồi núi là 23.216 ha chiếm 58,5% diện tích tự nhiên toàn huyện, trong số này có hơn 10.000ha đất gò đồi, rất thích hợp với phát triển cây ăn quả Nhiệt đới và á nhiệt đới Nằm trên Quốc lộ 18- tuyến giao thông huyết mạch của tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, trong vùng có có một số trung tâm công nghiệp và đô thị như: Hạ Long - Cẩm Phả - Uông Bí, đặc biệt là Vịnh Hạ Long - trung tâm du lịch
có ý nghĩa quốc gia và quốc tế
Vì vậy, có thể nói Đông Triều là một vùng có tiềm năng phát triển cây
ăn quả Tuy nhiên để có định hướng phát triển loại cây ăn quả nào cho thích hợp, quy mô là bao nhiêu, bố trí ở nơi nào? đòi hỏi phải có sự nghiên cứu
đánh giá một cách kỹ lưỡng về khả năng thích hợp của đất đai, nhu cầu của thị
trường và cả lợi thế so sánh với các loại sử dụng khác
Vì thế chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá đất gò đồi
phục vụ phát triển cây ăn quả ở huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh”
Trang 112 ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2.1 ý nghĩa khoa học của đề tài
- Góp phần bổ sung kiến thức đánh giá phân hạng sử dụng đất thích hợp cho các loại cây ăn quả trên bản đồ tỷ lệ lớn (1/50.000) trong vùng đồi núi Việt Nam
- Xây dựng cơ sở dữ liệu cho quy hoạch quản lý nguồn tài nguyên đất theo hướng sử dụng đất bền vững cho vùng gò đồi thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc
2.2 ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý ở huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh thực hiện định hướng quy hoạch phát triển cây ăn quả, nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập, cải thiện đời sống của nông hộ vùng gò đồi
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá, xác định được quy mô, diện tích đất gò đồi thích hợp với phát triển cây ăn quả của huyện Đông Triều
- Làm căn cứ cho việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng và sử dụng đất bền vững trên địa bàn huyện Đông Triều, góp phần nâng cao đời sống của người dân sống trong vùng nghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đất: Các loại đất hình thành tại chỗ và đất phù sa cổ có địa hình được xếp vào đất gò đồi
Cây trồng: Các loại cây ăn quả và cây trồng cạnh tranh về đất
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
Trang 12chương I
tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học của đề tài
1.1 khái niệm đất gò đồi
Cho đến nay khái niệm về đất gò đồi vẫn còn nhũng ý kiến chưa thống nhất mặc dù những thuật ngữ như đồi, vùng đồi và trung du được sử dụng khá phổ biến trong lĩnh vực địa lý nói chung và địa mạo nói riêng
Theo Spiridonop cho rằng để phân chia, xác định đồi thì độ cao tương
đối hoặc độ chia cắt sâu có ý nghĩa quyết định Theo ông dạng địa hình đồi có
độ cao tương đối (chia cắt sâu) khoảng 10 – 100m
Lê Quý An thì cho rằng giới hạn thấp nhất của đồi là 25m (tính theo độ cao tuyệt đối) và giới hạn ở độ cao không được đề cập mà chỉ nói đến giới hạn
về mức độ dốc phải nhỏ hơn 25o
Trong ấn phẩm “Những loại đất chính miền Bắc Việt Nam” của các tác giả Vũ Ngọc Tuyên, Trần Khải và Phạm Gia Tu cho rằng vùng Trung du bao gồm những loại đất phân bố ở độ cao từ 25m-200m Tuy nhiên, về vấn đề này cũng có nhiều ý kiến khác nhau Nhưng theo Vũ Tự Lập đất gò đồi giới hạn từ
độ cao 25 – 250m và độ dốc 8 – 150
Theo quan điểm của Nguyễn Đình Kỳ và các cộng sự có thể lấy giới hạn độ cao tuyệt đối từ 15m, nơi địa hình bắt đầu bị chia cắt mạnh còn giới hạn trên có thể đến 250 m để xác định ranh giới vùng gò đồi
Còn theo tiêu chí xác định đất gò đồi của Nguyễn Văn Toàn đề xuất trong đề tài cấp nhà nước KC 08.01 là: độ cao tương đối (chia cắt sâu) 10 – 100m và độ cao tuyệt đối nhỏ hơn 500m Đối với huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh do đặc tính phù hợp về địa hình và địa mạo chúng tôi sử dụng tiêu chí này để xác định phạm vi vùng gò đồi ở địa bàn nghiên cứu
Trang 131.2 những nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài
1.2.1 Nghiên cứu về đánh giá đất
a- Nghiên cứu đánh giá đất ở một số nước trên thế giới
Nghiên cứu về đánh giá đất, A Young cho rằng: Đánh giá đất đai là
quá trình đoán định tiềm năng của đất đai cho một hoặc một số loại sử dụng
đất đai được đưa ra để lựa chọn (Dent D and Young A) [31]
FAO đR định nghĩa về đánh giá đất đai như sau: Đánh giá đất đai là
quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của vạt đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại sử dụng đất yêu cầu phải có (FAO) [33]
Đánh giá đất đai là quá trình thu thập thông tin, xem xét toàn diện và phân hạng là việc làm cụ thể để định ra mức độ thích hợp cao hay thấp của
đất đai với từng loại cây trồng, nhóm cây, hay một công thức luân canh Tùy theo mục đích và điều kiện cụ thể, mỗi nước đR đề ra nội dung phương pháp
đánh giá đất đai cho từng mức độ chi tiết trên từng tỷ lệ bản đồ của mình
* Tình hình đánh giá đất đai ở Liên Xô (cũ)
ở Liên Xô cũ, việc phân hạng và đánh giá đất đai được thực hiện theo quan điểm đánh giá đất đai của V.V Docutraev gồm 3 bước:
+ Đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng (So sánh các loại thổ nhưỡng theo tính chất tự nhiên)
+ Đánh giá khả năng sản xuất của đất (Yếu tố được xem xét kết hợp với yếu tố khí hậu, độ ẩm, địa hình)
+ Đánh giá kinh tế đất (Chủ yếu là đánh giá khả năng sản xuất hiện tại của đất)
Quan điểm đánh giá đất đai của V.V Docutraev áp dụng phương pháp cho điểm các yếu tố đánh giá trên cơ sở thang điểm Sau đó được bổ sung, hoàn thiện dần và phổ biến ra nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước thuộc
Trang 14hệ thống XHCN, trong đó có Việt Nam Ngoài những ưu điểm trên, phương pháp đánh giá đất đai của V.V Docutraev cũng có một số hạn chế như quá đề cao khả năng tự nhiên của đất hay khi đánh giá đất lại ít quan tâm tới sự chi phối của yếu tố kinh tế-xR hội Mặt khác phương pháp đánh giá đất đai cho
điểm cụ thể chỉ đánh giá được đất đai hiện tại mà không đánh giá được đất đai trong tương lai, do đó tính linh động kém (Nguyễn Văn Thân) [13]
* Tình hình đánh giá đất đai ở một số nước châu Âu khác
Có hai phương pháp đánh giá đất đai được một số nước Châu Âu sử dụng đó là:
+ Đánh giá đất dựa vào thống kê sức sản xuất thực tế của đất: Cơ sở
của phương pháp này là dựa vào năng suất bình quân nhiều năm so với năng suất thực tế trên đất được lấy làm chuẩn cho phân hạng
+ Đánh giá đất dựa vào thống kê sức sản xuất tiềm tàng của đất:
Phương pháp này chia đất thành các hạng, mỗi hạng được mô tả trong quan hệ
và tác động giữa các yếu tố hạn chế của đất với sử dụng đất trong sản xuất nông nghiệp
* Tình hình đánh giá đất đai ở ấn Độ và một số nước Nhiệt Đới ẩm Châu Phi
Thường áp dụng phương pháp tham biến, có tính đến sự phụ thuộc của một số tính chất đất đối với sức sản xuất, các nhà khoa học đất đi sâu nghiên cứu, phân tích về các đặc trưng thổ nhưỡng có ảnh hưởng đến sản xuất như: sự phát triển của phẫu diện đất, màu sắc đất, độ chua, độ no bazơ (V%), hàm lượng mùn Các mối quan hệ trong đánh giá đất được thể hiện bằng phương trình toán học Kết quả phân hạng cũng được tính theo phần trăm (%) hoặc điểm (Đào Châu Thu, Nguyễn Khang) [18]
* Tình hình đánh giá đất đai ở Mỹ
ở Mỹ, ngay từ đầu thế kỷ XX đR chú ý tới công tác phân hạng đất đai nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên đất Hệ thống đánh giá phân loại đất đai theo
Trang 15tiềm năng của Mỹ đR được Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) đề xuất vào những năm 1961, xây dựng được một phương pháp đánh giá phân hạng đất đai mới
có tên là: Đánh giá tiềm năng đất đai Cơ sở đánh giá tiềm năng sử dụng đất
đai dựa vào các yếu tố hạn chế trong sử dụng đất, chúng được phân ra thành 2 nhóm sau:
- Nhóm các yếu tố hạn chế vĩnh viễn bao gồm những hạn chế không dễ thay đổi và cải tạo được như độ dốc, độ dày tầng đất, lũ lụt và khí hậu khắc nghiệt
- Nhóm những yếu tố hạn chế tạm thời có khả năng khắc phục được bằng các biện pháp cải tạo trong quản lý đất đai như độ phì, thành phần dinh dưỡng và những trở ngại về tưới tiêu
Phương pháp Đánh giá tiềm năng đất đai của Mỹ đR phân chia đất đai thành các cấp (class), cấp phụ (subclass) và đơn vị (unit)
Khả năng và mức độ thích hợp chủ yếu dựa vào những yếu tố hạn chế vĩnh viễn trong sử dụng đất Nguyên tắc chung của phương pháp là các yếu tố nào có mức độ hạn chế lớn và khả năng chi phối mạnh đến sử dụng là yếu tố quyết định mức độ thích hợp mà không cần tính đến những khả năng thuận lợi của các yếu tố khác có trong đất Sau này đánh giá đất ở Mỹ thường sử dụng rộng rRi hai phương pháp đánh giá đất đai:
Phương pháp đánh giá đất đai tổng hợp: Phương pháp này tiến hành
đánh giá đất theo năng suất bình quân của cây trồng trong nhiều năm và đánh giá đất cho từng loại cây trồng, qua đó xác định mối tương quan giữa đất với cây trồng và đề ra các biện pháp tăng năng suất
Phương pháp đánh giá đất đai từng yếu tố: Thống kê các yếu tố tự nhiên của đất (thành phần cơ giới, dinh dưỡng, địa hình ) để xác định tính chất và phương hướng cải tạo đất, qua đó xác định hạng đất đồng thời cũng thống kê các yếu tố kinh tế chi phối tới sản xuất
* Nghiên cứu về đánh giá đất theo quan điểm của FAO
Trang 16Đây là phương pháp đánh giá đất đai dựa trên cơ sở phân loại đất đai
thích hợp (Land suitability classification) Cơ sở của phương pháp này là so
sánh giữa yêu cầu sử dụng đất với chất lượng đất, gắn với phân tích các khía cạnh về kinh tế - xR hội, môi trường để lựa chọn phương án sử dụng đất tối ưu (FAO, 1976) [32] Đánh giá đất đai theo FAO có thể được chia theo hai kiểu: Phân hạng định tính và phân hạng định lượng
Phân hạng thích hợp hiện tại và tiềm năng
Về cấu trúc phân hạng, FAO đR đưa ra hệ thống phân hạng gồm 4 cấp: Bậc (Orders), hạng (Clases), hạng phụ (Subclasses), và đơn vị đất thích hợp (Units) Theo đó, bậc thích hợp thường được chia thành 3 hạng (thích hợp cao, thích hợp trung bình và kém thích hợp) Bậc không thích hợp chia ra 2 hạng (không thích hợp tạm thời và không thích hợp vĩnh viễn)
Phương pháp đánh giá đất của FAO đR kế thừa những điểm mạnh trong phương pháp đánh giá đất của Liên xô và Mỹ, ngoài ra còn được bổ sung hoàn chỉnh về phương pháp đánh giá đất đai cho các loại hình sử dụng đất khác nhau Điểm nổi bật của phương pháp đánh giá đất theo FAO là đR coi trọng và quan tâm đến việc đánh giá khả năng duy trì và bảo vệ tài nguyên đất đai Chính vì vậy, đây là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất ở nhiều nước
Như vậy: Trong các phương pháp đánh giá đất ở nước ngoài, đánh giá
đất theo FAO là phương pháp mang tính định lượng có thể áp dụng hoàn thiện nhất cho các loại bản đồ có tỷ lệ khác nhau từ nhỏ (mức độ khái quát) đến lớn (mức độ chi tiết) Ưu điểm nổi bật của phương pháp này là đM không chỉ tính
đến việc khai thác sử dụng tài nguyên đất mà còn quan tâm đến duy trì và bảo
vệ nguồn tài nguyên quý giá này Phương pháp này đM được áp dụng linh hoạt
và mang lại thành công ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam
Trang 17b- Đánh giá sử dụng đất ở Việt Nam
ở Việt Nam, ngay từ năm 1802, nhà Nguyễn đR phân chia đất đai theo
“tứ hạng điền” và “lục hạng thổ” để làm cơ sở cho việc mua bán và phân cấp ruộng đất (Phan Huy Lê) [8] Tuy nhiên, những nghiên cứu một cách tương
đối hoàn chỉnh thự sự mới chỉ được bắt đầu vào thời kỳ Pháp thuộc nhằm mục
đích lập đồn điền, trang trại Những công trình nghiên cứu luc bấy giờ chủ yếu
là những nghiên cứu tổng quát của Viện Nghiên cứu Nông lâm Đông Dương với các công trình nghiên cứu của các tác giả Yves Henry (1930), EM Castagnol (1950) và Smith (1951) (Thái Công Tụng)
Công tác đánh giá đất đai ở Việt Nam mang tính khoa học được bắt đầu
từ những năm 1970 Bùi Quang Toản đR đề ra quy trình kỹ thuật để đánh giá
đất Các yếu tố tham gia trong đánh giá, phân hạng đất được chia thành 4 mức
độ thích hợp (Rất tốt, tốt, trung bình và kém) và được phân chia thành 4 hạng (Bùi Quang Toản) [20] Quy trình này đR được áp dụng trong thời gian dài nhưng gần đây nó đR không còn phù hợp vì trong nghiên cứu này, vấn đề kinh
tế xR hội và tác động tới môi trường chưa được nghiên cứu sâu
Năm 1981, Tổng cục Quản lý Ruộng đất đR ban hành một số nguyên tắc cơ bản để phân hạng đất đai Sau 5 năm thực hiện, cả nước có tới 216 huyện (43% số huyện thị) với 2,6 triệu ha đất lúa (chiếm 6,9% diện tích lúa)
được phân hạng (Nguyễn Đình Bồng) [1]
Năm 1984, Tôn Thất Chiểu và nhóm nghiên cứu đR đánh giá phân hạng
đất khái quát toàn quốc ở tỷ lệ bản đồ 1/500.000 dựa vào nguyên tắc phân loại khả năng đất đai của Mỹ
Phân loại khả năng thích hợp của FAO bước đầu được áp dụng trong nghiên cứu đánh giá và quy hoạch sử dụng đất hoang ở Việt Nam (Bùi Quang Toản) [20] Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ đánh giá các điều kiện của tự nhiên và
hệ thống phân vị chỉ dừng lại ở lớp (class) thích hợp cho từng loại hình sử dụng đất Tiếp đó, nghiên cứu đánh giá sử dụng đất phèn và mặn ở Đồng bằng
Trang 18sông Cửu long lần đầu tiên đR áp dụng phương pháp của FAO để đánh giá khả năng đất đai ở cả hai mặt: tự nhiên và kinh tế – xR hội
Năm 1989, Vũ Cao Thái đR lần đầu tiên thử nghiệm nghiên cứu đánh giá, phân hạng sử dụng thích hợp đất Tây Nguyên với cây cao su, cà phê, chè, dâu tằm Đề tài vận dụng phương pháp đánh giá phân hạng đất đai của FAO theo kiểu định tính để đánh giá khái quát tiềm năng đất đai của vùng Đất đai
được phân chia theo 4 hạng thích nghi và 1 hạng không thích nghi
Năm 1993, Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp (TKNN) đR thực hiện công tác đánh giá đất trên cả 9 vùng sinh thái của cả nước, với bản đồ tỷ
lệ 1/250.000 theo phương pháp đánh giá đất của FAO
Năm 1995, Trần An Phong và ctv (Viện Quy hoạch và TKNN) đưa ra kết quả nghiên cứu về “Đánh giá hiện trạng sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền” của đề tài KT 02-09 (Trần An Phong) [11]
Năm 2002, Viện Quy hoạch và TKNN đR áp dụng phương pháp đánh giá của FAO điều tra đánh giá phân hạng thích hợp cho đất lúa cho các vùng kinh tế trong cả nước và một số tỉnh trọng điểm như Thái Bình, Quảng Trị
Cho đến nay, các nghiên cứu về đánh giá đất đR và vẫn đang được tiếp tục thực hiện, góp phần hoàn thiện nội dung phương pháp đánh giá theo FAO trong điều kiện Việt Nam, phục vụ quy hoạch sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, góp phần xây dựng và phát triển một nền nông nghiệp bền vững
Nhận xét chung về đánh giá đất ở trong nước
Từ khi phương pháp đánh giá đất của FAO ra đời, các nghiên cứu về
đánh giá đất đai ở Việt Nam đM vận dụng được trên cơ sở thực tiễn của nước
ta và cho kết quả rất tốt với các mức độ và mục tiêu khác nhau của đánh giá
đất: Khái quát cho cấp vùng, chi tiết cho cấp tỉnh, huyện hay nói cách khác phụ thuộc vào tỷ lệ bản đồ khác nhau
Trang 191.2.2 Nghiên cứu về cây ăn quả
a- Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
Sản xuất quả là ngành quan trọng trong nền nông nghiệp của nhiều nước trên thế giới Diện tích trồng cây ăn quả của thế giới hiện nay khoảng hơn 15 triệu ha, năng suất bình quân đạt từ 20 – 35 tấn/ha tuỳ theo từng chủng loại với sản lượng đạt khoảng 200 – 300 triệu tấn
Những nghiên cứu chung về sự phát triển cây ăn quả trên thế giới cho thấy: sản xuất hoa quả nhìn chung có xu hướng gia tăng và ngày càng được chú trọng trong cơ cấu nông sản của nhiều nước Theo thống kê của FAO (1984), năm 1983 sản lượng 20 loại quả chủ yếu của thế giới đạt 359,4 triệu tấn, tăng 14,6% so với sản lượng bình quân thời kỳ 1979-1981 Một số loại quả có sản lượng lớn là: nho (57,2 triệu tấn); cam (56,8 triệu tấn) ; chuối (50,6 triệu tấn) Những sản phẩm có sản lượng xuất khẩu lớn là: chuối (11,6 triệu tấn), cam quýt (6,35 triệu tấn), táo tây (4,28 triệu tấn)
Theo Singh.R.N (1993) tiêu thụ quả bình quân đầu người của thế giới các năm 1985-1987 là 65,5 kg/năm trong đó khu vực Châu á - Thái Bình Dương mức tiêu thụ mới chỉ xấp xỉ 46% của thế giới
Ngay từ những năm 1972, Brown đR rút ra: Trong cơ cấu năng lượng tiêu thụ tổng số của Thế giới, hoa quả và rau cung cấp 9,6%, trong khi đó diện tích các loại cây này chỉ chiếm 3,7% cơ cấu tổng diện tích đất nông nghiệp Hiệu ích cung cấp năng lượng của rau và quả rất cao so với các sản phẩm lương thực Cây lương thực chiếm tới 76,2% diện tích đất nông nghiệp nhưng chỉ cung cấp 62,7% tổng năng lượng
Thị trường các sản phẩm hoa quả: Các nghiên cứu của FAO (1988) cho thấy, việc bán buôn quả tươi những năm gần đây liên tục phát triển Những yếu tố chính góp phần phát triển mạnh mẽ thị trường quả và thúc đẩy việc thâm nhập thị trường sau này gồm: sự quan tâm ngày càng tăng đến mùi vị mới; mẫu mR, màu sắc, sự làm quen với các sản phẩm thông qua giao lưu,
Trang 20quảng cáo, các websize ., các cơ sở kinh doanh phát triển, các yếu tố kỹ thuật, vận chuyển (đường không, đường thuỷ ), thông tin Các sản phẩm chính buôn bán lớn: dứa tươi, bơ, xoài, chuối các sản phẩm thứ yếu: vải, ổi, chanh khối lượng tuy nhỏ nhưng giá trị và lRi suất cao, thị trường của chúng
(Nguồn: Bộ Thương mại và Tổ chức nông lương thế giới)
Tiêu thụ quả của Thế giới hiện nay tăng gấp 1,3 lần so với thập kỷ trước Mức tiêu thụ quả ở các nước phát triển đạt 160 - 190 kg/người/năm Theo dự báo của FAO xu hướng tiêu thụ quả của thị trường Thế giới trong những năm đầu thế kỷ 21 sẽ tăng 6 - 8%/năm, giá Quả trên thị trường Thế giới tăng khoảng 2 %/năm trong giai đoạn 2000 - 2010 Nhìn chung triển vọng
Trang 21phát triển CAQ ở góc độ toàn cầu qua các nghiên cứu là rất khả quan Đây cũng chính là cơ sở xây dựng chiến lược phát triển CAQ ở nước ta
Sự gia tăng phát triển sản xuất và tiêu thụ quả trên Thế giới đR minh chứng cho vai trò và hiệu quả mà ngành sản xuất này mang lại trong nông nghiệp
Những nghiên cứu về kỹ thuật phát triển CAQ được tập trung trên các lĩnh vực: kỹ thuật về giống (chọn, nhân, lai tạo giống), kỹ thuật canh tác, phòng trừ sâu bệnh, bảo quản, chế biến
Bảng 2 Diện tích một số cây ăn quả nhiệt đới của một số nước
đứng đầu (năm 2002)
Đơn vị: 1000 ha
Loại cây
(Nguồn: (FAO) Tổ chức nông lương thế giới.)
* Về hiệu quả trồng CAQ: Các nghiên cứu cho thấy, mức lRi từ sản xuất quả rất lớn, bình quân thu nhập ở Thái Lan: trên 2.400 USD/ha, quả có múi trên 600 USD/ha; Nê Pan: xoài trên 1.200 USD/ha, chuối trên 750 USD/ha, quả có múi trên 2.200 USD/ha; Philipin: cam, quýt trên 1.850 USD/ha
Ngày nay nhiều nước trên Thế giới phát triển cây ăn quả phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu đR mang lại thu nhập đáng kể từ sản xuất quả tươi, các sản phẩm chế biến như Trung Quốc (táo, lê, quả có múi, dứa ), ấn
Độ (xoài), Italia, Tây Ban ha, Israel, Ai Cập, Ma Rốc (cam), Philipin (chuối),
Mỹ, Israel (cam, quýt)
Trang 22b- Tình hình nghiên cứu trong nước
Những nghiên cứu về tình hình sản xuất cây ăn quả cũng như phương hướng phát triển của chúng ở Việt Nam nói chung và vùng trung du miền núi bắc bộ nói riêng được đề cập trong nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu:
Trần Văn Diễn [5] cho rằng phát triển cây ăn quả là một hướng góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn và về lâu dài sản xuất cây ăn quả phải trở thành sản xuất chính
Nghiên cứu về phát triển hệ thống cây trồng trên một số loại đất nông nghiệp vùng Đông Bắc Bắc bộ, Nguyễn Văn Thuận [19] đR nhận xét rằng hệ thống cây ăn quả đR kiến tạo một hệ sinh thái kiểu rừng nên rất bền vững, có hiệu quả kinh tế cao và tạo ra sản phẩm hàng hóa
Phạm Văn Côn [2] khi nghiên cứu mô hình trồng cây ăn quả trên đất dốc ở xR Bằng Vân, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn cho thấy đang phát triển
và mở rộng mô hình trồng cây ăn quả trên đất nương rẫy có độ dốc 20 - 300: lê
- đu đủ - vải- na - hồng xen các hàng cây cốt khí để chống xói mòn Do dạng mô hình này có điều kiện trồng tập trung, dễ đầu tư kỹ thuật, lại tạo ra sản phẩm hàng hoá
Bảng 3 Diễn biến diện tích cây ăn quả
Trang 23Do hiệu quả kinh tế cao cộng với khai thác được lợi thế về khí hậu, đất
đai và lao động cùng với chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng của Nhà nước đề ra nên diện tích cây ăn quả toàn quốc trong những năm qua tăng khá nhanh, từ 496 ngàn ha năm 1999 tăng lên 767,1 ngàn ha năm 2005 (tăng thêm 271,1 ngàn ha), tốc độ tăng bình quân thời kỳ 1999 - 2005 là 6,43%/năm
Chủng loại cây ăn quả của nước ta rất đa dạng, một số cây ăn quả có giá trị kinh tế cao được trồng tập trung và mang tính đặc trưng cho từng vùng sinh thái như: nhRn, vải, hồng không hạt (Trung du và Miền núi Bắc Bộ); xoài, sầu riêng, chôm chôm, thanh long, măng cụt (Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ); nho, thanh long (Duyên hải Nam Trung Bộ)
Một số cây ăn quả phục vụ xuất khẩu do có lợi thế về thị trường tiêu thụ nên diện tích tăng nhanh như vải, nhRn, cây có múi (tăng bình quân 18%/năm), xoài (tăng bình quân 11%/năm); chuối tuy là cây trồng quan trọng chiếm 13,6% diện tích cây ăn quả cả nước nhưng chưa trở thành sản phẩm hàng hoá qui mô lớn
Nghiên cứu về tình hình sản xuất cây ăn quả của Việt Nam vừa qua cho thấy: lợi thế so sánh, khai thác tiềm năng và định hướng phát triển nông nghiệp ở vùng TDMNBB gần đây của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, của các Tỉnh, các Viện đều cho thấy cây ăn quả có nhiều lợi thế và tiềm năng phát triển, đặc biệt là tiềm năng và tính đa dạng trong sản xuất nông sản hàng hoá
1.2.3 Nghiên cứu sử dụng đất đồi núi
a- Tình hình sử dụng đất đồi núi trên thế giới
Theo báo cáo gần đây của tổ chức FAO, đất nông nghiệp trên toàn thế giới hiện nay là 1.476 triệu ha, trong đó đất đồi núi, độ dốc từ 100 trở lên vào khoảng 377 triệu ha
Trang 24Vùng Châu á, Thái Bình Dương, đất nông nghiệp có 453 triệu trong đó
đất có độ dốc là 351 triệu ha (N.W.Hudson, 1999; I.J.Dent, 1989)
Vùng Đông Nam á, đất nông nghiệp chiếm 21% diện tích vào khoảng
91 triệu ha, trong đó đất dốc là 58 triệu ha Diện tích đất đồi núi ở khu vực
Đông Nam á được phân bố ở tất cả các nước trong khu vực, nhiều nhất là ở Việt Nam (chiếm 75% diện tích toàn quốc) Phần lớn diện tích đất đồi núi
được sử dụng cho lâm nghiệp, cũng như được khai thác trồng các loại cây trồng công nghiệp, cây ăn quả dài ngày
Đất đồi núi nói chung có độ màu mỡ cao nếu mới được khai phá hoặc
được sử dụng hợp lý Tuy nhiên, độ màu mỡ phụ thuộc nhiều vào thành phần
đá mẹ, độ dốc, thảm thực vật và dòng chảy tràn của nước mưa ĐR từ lâu, qua quá trình chặt phá rừng, khai thác đất trồng trọt, người ta đR phát hiện đất đồi núi rất nhanh chóng bị suy thoái do hiện tượng đất bị xói mòn rửa trôi Vì vậy,
từ thế kỷ 18 bắt đầu xúc tiến các công trình nghiên cứu về các biện pháp chống xói mòn bảo vệ đất dốc (Volni, 1870; Các giáo sư trường Đại học Pardin Mỹ, từ 1951 đến 1958; Các nghiên cứu Quốc tế của nhiều nước, 1980;
Chương trình IBSRAM, CIAT, thập kỷ 90)
b- Tình hình nghiên cứu và sử dụng đất đồi núi ở Việt Nam
ở việt Nam, diện tích đất đồi núi nước ta chiếm gần 3/4 diện tích toàn quốc, khoảng 23,9 triệu ha Do vậy, sử dụng đất đồi núi trong sản xuất nông lâm nghiệp chiếm một vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế
Các nghiên cứu về đặc điểm đất và hướng sử dụng đất đồi núi ở nước ta
đR và đang được đặc biệt chú ý
Về sử dụng đất đồi núi, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đR phân cấp độ dày tầng đất và độ dốc của các loại đất phục vụ cho công tác quy hoạch sử dụng đất có hiệu quả và lâu bền
Trang 25Từ những năm 60 đR có nhiều công trình nghiên cứu về các biện pháp
kỹ thuật chống xói mòn đất, bảo vệ đất dốc (Nguyễn Trọng Hà, 1976; Bùi Quang Toản, 1965; Nguyễn Xuân Cát, 1980; Nguyễn Văn Tiễn, 1988; Thái Phiên với chương trình IBSRAM, 1990-1999; Nguyễn Thế Đặng, 1991-2000…)
Đất đồi núi thuận lợi cho việc mở ra những vùng chuyên canh cây trồng mang tính hàng hóa cao Theo Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên thì ở trung du và
đồi núi đR có 18 vùng chuyên canh cây cao su, 13 vùng chuyên canh cà phê,
16 vùng chuyên canh cây ăn quả, 11 vùng chuyên canh cây đặc sản…
Theo các tài liệu thống kê cho thấy, hơn 30 năm qua đất đồi núi luôn chiếm một tỷ lệ đáng kể diện tích đất canh tác của cả nước và có xu thế ngày càng tăng (năm 1962: 26,3%, 1989: 26,7%, 1996: 38%, 2000: 41%, 2005: 45%)
c- Nghiên cứu đất, đánh giá đất đai ở tỉnh Quảng Ninh
Công tác nghiên cứu đất ở tỉnh Quảng Ninh bắt đầu từ những năm
1960 Mục tiêu của nghiên cứu đất lúc bấy giờ là điều tra, phân loại và lập bản
đồ đất, phục vụ thống kê số lượng, chất lượng đất
Năm 2004 – 2006 Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đR điều tra chỉnh lý bản đồ đất tỷ lệ 1/100.000 phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho tỉnh Quảng Ninh Kết quả của chương trình đR thống kê được trên địa bàn tỉnh có 9 nhóm đất và 30 loại đất, từ đó giúp cho việc thống kê loại đất theo độ dốc, tầng dày (với đất đồi núi) và loại đất theo thành phần cơ giới, cấp địa hình (với đất đồng bằng) Các số liệu này được tổng hợp ở hai cấp tỉnh và huyện Theo đó có thể đánh giá một cách khái quát khả năng đất nông nghiệp nói chung và đất trồng cây ăn quả nói riêng Bởi lẽ muốn xác định quỹ đất trồng cây ăn quả ngoài yếu tố đất còn phải tính đến yếu tố khí hậu, một trong hai yếu tố sinh thái quan trọng Mặt khác, cũng cần nói thêm rằng vùng gò đồi
Trang 26nói chung và vùng gò đồi của huyện Đông Triều nói riêng chưa hề có một nghiên cứu nào phục vụ trồng cây ăn quả
1.3.1 Nhóm cây có múi (Citrus spp.)
- Nhiệt: Do nguồn gốc á nhiệt đới nên cam, quít không chịu được nhiệt
độ quá cao hoặc quá thấp nhưng nói chung chịu nóng tốt hơn chịu lạnh Sức chịu lạnh xếp theo thứ tự từ cao đến thấp, theo như Praloran là: cam ba lá, quất, quít, cam đắng, cam ngọt, bưởi chùm và bưởi, chanh núm, chanh mỏng
vỏ, thanh yên và phật thủ Tất nhiên trong mỗi loài còn tùy giống
ở Việt Nam không có nhiệt độ thấp có thể làm chết cam quít và về nguyên tắc có thể trồng cam, quít ở bất kỳ nơi nào (miền Nam cũng như miền Bắc, ở đất thấp cũng như trên núi cao) Tuy nhiên càng lên cao nhiệt độ càng thấp xuống và cam, quít sinh trưởng chậm lại
- Mưa và độ ẩm: Cam, quít là những cây ưa độ ẩm trung bình, có thể lấy 1000-2000mm là giới hạn lượng mưa cần có ở những vùng trồng cam, quít chỉ nhờ nước trời Tuy nhiên, do nghề trồng cam, quít đR mở ra rất rộng, nên
có thể trồng ở các nước có chế độ mưa rất khác nhau, nhưng ở các nơi mưa ít thì phải tưới
Cam, quít không ưa độ ẩm không khí quá thấp Quả ria tán chất lượng thường không bằng ở giữa tán cây do độ ẩm ở đó ổn định hơn Tất nhiên độ
ẩm quá cao tạo điều kiện cho bệnh phát triển nặng, nhất là bệnh chảy gôm Ngoài ra địa y có thể phủ kín một phần thân cành ở thấp Vườn cam ở nơi khô ráo, đủ ánh sáng nhưng bốn phía được che chắn bằng các cây chắn gió thường phát triển tốt
- Đất và độ ẩm đất: Đất nào giữ được một hàm lượng nước ổn định là những đất thích hợp cho cam, quít Đất phải có kết cấu tốt, thoáng (hàm lượng
Trang 27chứa oxy phải từ 1,2-1,5%) vì cam, quít hết sức mẫn cảm với sự dao động của
đổ (Vũ Công Hậu, 1996) [7]
I.3.2 Cây na (Anona saquamosa L)
Na (mRng cầu) là cây ăn quả nhiệt đới trồng phổ biến ở nhiều nơi trong cả nước Trong 100g phần ăn được của na cho ta 66calo, 1,6g protein, 14,5g gluxit, 0,12% axit, 30mgvitaminC, 0,54% chất béo và 1,22% xenlulô
Na chủ yếu dùng đẻ ăn tươi, làm nước giải khát Na nguyên sản ở vùng nhiệt đới Tính thích hợp rộng, sớm cho quả, năng suất cao, ít sâu bệnh
ở các tỉnh phía Bắc người ta phân biệt 2 loại: na dai và na bở
Na có nguồn gốc nhiệt đới nên thích hợp khí hậu ấm áp và khô Tuy vậy, cây vẫn sinh trưởng được trong điều kiện nóng ẩm Na rất sợ rét, chịu rét kém vải, nhRn và chanh Cây trưởng thành có thể chịu được nhiệt độ 00C trong thời gian ngắn song rụng hết lá Người ta thấy ở 40C cây đR bị thiệt hại do nhiệt độ thấp, nhưng nếu ở các vùng có nhiệt độ mùa hè quá cao >40oC, lại bị hạn hoặc khô nóng cũng không thích hợp cho việc thụ phấn của na và sự phát triển của quả, dễ gây nên hiện tượng rụng quả sau khi thụ phấn xong, hoặc nếu quả có phát triển được cũng rất kém về năng suất và phẩm chất
Trang 28- Đất trồng: Na không kén đất, chịu hạn tốt, không thích đất úng Đất cát sỏi, đất thịt nặng, đất có vỏ sò, vỏ hến, đất đá vôi đều trồng được na Nhưng tốt nhất là đất có tầng dày, đất rừng mới khai phá, đất đồi ven sông suối, đất chân núi đá vôi thoát nước có nhiều mùn, giàu dinh dưỡng là thích hợp hơn cả Na ưa khô để cây rụng lá và sẽ mọc chồi hoa (Trần Thế Tục, Cao
Anh Phong và ctg, 1998) [22]
1.3.3 Cây nhãn (Dimocarpus longan Luor.)
Cây cao to có thể cao 10-15m (nhRn Bắc) tán cây giống vải, rậm lá, xanh quanh năm Cây nhRn Bắc mọc từ hạt thường chỉ có một thân, vỏ dày, có vệt nứt dọc và có khi bong ra từng mảng khác với cây vải và khác với giống nhRn lồng ở phía Nam nhiều thân, vỏ nhẵn Hoa ra từng chùm to, chủ yếu gồm hoa cái và hoa lưỡng tính Hoa nhRn có 5 cánh, màu trắng hơi vàng ở nhRn Bắc, trắng tuyền và có phần to hơn ở nhRn Nam
Thụ phấn nhờ côn trùng là chính và trừ những trường hợp mưa phùn kéo dài ở miền Bắc, thường thụ phấn và kết quả tốt
NhRn Bắc ra hoa năm 1 lần vào tháng 2,3 chín vào khoảng tháng 7,8
Yêu cầu sinh thái
- Nhiệt: nhRn chịu rét tốt hơn vải, trồng được cả ở Florida và California
ở Mỹ Tuy nhiên không thể xếp nhRn vào cây á nhiệt đới được vì nhRn Bắc cũng như nhRn Nam trồng ở xứ nóng vĩ tuyến 8-10 độ vẫn ra hoa quả bình thường, còn cây vải hồng đòi hỏi rét, không có rét không ra hoa được
- ánh sáng: nhRn không chịu được những nơi quá khô, ánh nắng gay
gắt
- Mưa và độ ẩm: Cây nhRn Bắc yêu cầu độ ẩm phải đầy đủ vào thời gian cây ra nhiều cành lá và đặc biệt khi nhRn ra hoa kết quả, những thời gian này khá dài, nên độ ẩm đất phải luôn luôn tốt
Trang 29Mưa phùn lai rai do gió mùa Đông Bắc mang lại vào lúc nhRn ra hoa ở miền Bắc, làm cho hoa không tung phấn, ong bướm không hoạt động được, có thể gây mất mùa nhRn
ở bất kể nơi nào, đất thấp không thoát nước sau những trận mưa to, trồng nhRn cũng không được do bộ rễ nhRn ăn sâu, dễ bị thối và tuổi thọ của cây nhRn giảm mạnh
- Đất: người Trung Quốc cho rằng dễ thỏa mRn yêu cầu về đất của cây
nhRn: miễn là không phải đất bạc màu, khô hạn, không thoát nước và không
chua mặn, đất nào cũng trồng được nhRn (Vũ Công Hậu, 1996) [7]
1.3.4 Cây vải (Litchi chinensis Sonn)
Cây vải có những yêu cầu rất chặt chẽ đối với các yếu tố khí hậu, thời tiết: độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng và những yếu tố này tác động đồng thời, yếu
tố nọ chịu tác động của yếu tố kia, khó tách riêng từng yếu tố
Yêu cầu sinh thái
- Nhiệt: Vải là cây á nhiệt đới hơn nhiệt đới, rét quá thì chết, nóng quá thì không ra hoa, chỉ ra lá và chỉ trồng giữa các vĩ tuyến khoảng 20o và 30o Trong khi đó cam, quít có thể trồng từ vĩ tuyến 0o tới vĩ tuyến khoảng 35o đủ thấy vải đòi hỏi những điều kiện nhiệt khác xa cam, quít
- Mưa: Vải nguồn gốc ở các vùng có lượng mưa năm là 1500mm trong
đó có Việt Nam nên chịu độ ẩm không khí cao Những tháng mưa nhiều bộ lá cây vải vẫn xanh tốt, không bị nấm phá hại Tuy vậy vải không chịu úng, không những thua ổi, táo gai mà thua cả nhRn
Vải chịu hạn rất tốt, tuy nhiên hạn vào lúc quả đang lớn tháng 4, 5 thì rụng quả nhiều, chất lượng quả kém
Trong điều kiện trồng vải không tưới nước, chế độ mưa và độ ẩm miền Bắc phải coi là thích hợp về đại thể Mùa khô bắt đầu vào tháng 11, 12 và lúc này đúng là lúc vải cần khô thì mới ra hoa nhiều Mùa mưa bắt đầu vào tháng
4, 5 và đúng lúc này cây vải cần nhiều nước nhất để tưới quả
Trang 30- Nắng và ánh sáng: Người Trung Quốc nói “Đương nhật lệ chi, bối nhật long nhRn” tức là nhRn thì quay lưng lại với mặt trời ( ở chỗ râm một chút) còn vải thì phải ở chỗ đối diện với mặt trời ( ở nơi ánh sáng toàn phần) Chính vì vậy mà cây vải là cây chịu hạn tốt cũng như xoài, mít, điều
- ảnh hưởng của gió bMo: Cây vải được coi là cây yếu chịu gió ở Việt
Nam những năm có bRo, thiệt hại ở các vùng đồng bằng như Thanh Hà, Hải Dương khá nặng Bộ lá dày, vải trồng bằng cành chiết, rễ ăn nông nên thường
bị bật gốc Đặc biệt những gió nóng và khô như gió Lào tháng 4, 5 làm cho không khí và cả mặt đất quanh cây vải khô đi, và cây vải thì ưa không khí ẩm nên có ảnh hưởng xấu, nhất là vì lúc này quả đang lớn (Vũ Công Hậu, 1996) [7]
Từ những kết quả nghiên cứu ở trong và ngoài nước đR đề cập ở trên cho thấy, nhu cầu sinh thái của các loại cây trồng khác nhau đòi hỏi phải có những nghiên cứu toàn diện không chỉ đơn thuần về đất (loại đất, độ dốc, tầng dày) mà còn có cả yếu tố khí hậu Các yếu tố này cần được xác định và thể hiện trên các bản đồ theo các ngưỡng phân cấp vùng đồng nhất về từng yếu tố
Trang 312.1.1.1 Nghiên cứu điều kiện tự nhiên
- Nghiên cứu tài nguyên đất, tài nguyên khí hậu, địa hình, địa chất, thuỷ văn, thực vật
- Phúc tra bản đồ đất gò đồi huyện Đông Triều tỷ lệ 1/50.000 Xác định các đặc tính độ dốc, tầng dày, thành phần cơ giới
2.1.1.2 Nghiên cứu điều kiện kinh tế xR hội
Dân số, lao động, dân tộc, cơ sở hạ tầng, giao thông thuỷ lợi có liên quan đến việc trồng và phát triển cây ăn quả
2.1.2 Điều tra đánh giá hiện trạng sử dụng đất gò đồi và hiện trạng trồng cây ăn quả
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất đối với các loại hình sử dụng ở vùng
gò đồi huyện Đông Triều
- Điều tra các hệ thống cây trồng chính trên đất gò đồi có khả năng cạnh tranh với cây ăn quả, hiệu quả kinh tế của các hệ thống cây trồng này
- Điều tra hiện trạng và hiệu quả kinh tế của vùng trồng cây ăn quả
2.1.3 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai tỷ lệ 1/50.000
- Thu thập các thông tin, t− liệu, bản đồ phục vụ đánh giá đất (bản đồ
đất, bản đồ m−a, bản đồ nhiệt độ, bản đồ thuỷ lợi )
- Lựa chọn, phân cấp chỉ tiêu phục vụ xây dựng các bản đồ chuyên đề
Trang 32- Xây dựng các bản đồ chuyên đề (loại đất,mưa, nhiệt độ, thuỷ lợi, ) phục vụ cho xây dựng bản đồ đơn vị đất
- Chồng xếp các bản đồ chuyên đề xây dựng bản đồ đơn vị đất đai (LMU) cho đánh giá sử dụng đất đối với cây ăn quả
2.1.4 Phân hạng mức độ thích hợp đất đai vùng gò đồi đối với cây ăn quả huyện Đông Triều
- Xác định yêu cầu sử dụng đất đai của cây ăn quả
- Đánh giá sử dụng đất thích hợp theo FAO dựa vào cơ sở so sánh, đối chiếu mức độ thích hợp về yêu cầu của các LUT cây ăn quả với chất lượng đất
đai với yêu cầu sử dụng đất được lựa chọn Đánh giá theo 4 mức độ: Thích hợp cao, thích hợp, ít thích hợp và không thích hợp cho từng đối tượng cây ăn quả
2.1.5 Đề xuất định hướng phát triển cây ăn quả
Trên cơ sở kết quả đánh giá mức độ thích hợp của đất đai đối với cây ăn quả và mục tiêu phát triển cây ăn quả trên đất gò đồi của huyện Đông Triều xây dựng những đề xuất, định hướng phát triển cây ăn quả
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập các tài liệu thứ cấp liên quan đến luận văn tại các phòng chức năng trên địa bàn huyện Đông Triều
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp thông qua điều tra thực địa
Phúc tra theo tuyến ngoài thực địa: Được áp dụng trong quá trình điều tra đất và nghiên cứu hệ thống cây trồng
Phương pháp điều tra nông thôn có sự tham gia của cộng đồng
(Paticipatory Rural Appraisal - PRA) Được áp dụng trong điều tra đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp qua phỏng vấn hộ nông dân đR đánh giá hiệu quả kinh tế và hiệu quả bền vững trong sử dụng đất gò đồi
Trang 332.2.3 Phương pháp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai bản đồ với sự trợ giúp của hệ thống thông tin địa lý
Sử dụng phương pháp chồng xếp các bản đồ đơn tính bằng phần mềm GIS (MAPINFO) Phương pháp này được áp dụng trong việc xây dựng bản đồ
đơn vị đất đai, tổng hợp đặc điểm của từng đơn vị đất đai và xây dựng bản đồ
đánh giá và đề xuất định hướng phát triển cây ăn quả vùng gò đồi huyện Đông Triều
2.2.4 Phương pháp đánh giá đất đai theo FAO
áp dụng quy trình đánh giá đất của FAO thường dùng ở Việt Nam theo nguyên tắc yếu tố hạn chế tối đa
2.2.5 Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế
- Tổng thu = giá sản phẩm x năng suất/ha/năm
- Tổng chi = Các chi phí vật chất + chi phí khấu hao
- Thu nhập hỗn hợp = Tổng thu – tổng chi phí vật chất – khấu hao
2.2.6 Xử lý, phân tích và tổng hợp các kết quả
Sử dụng công cụ của Microsoft Office để xử lý số liệu, trình bày báo cáo
Trang 34đường thủy và đường sắt
Tọa độ địa lý của huyện:
Từ 21o29’04’’ đến 21o44’55’’ vĩ độ bắc
Từ 106o33’’ đến 106o44’57’’ kinh độ đông
Ranh giới tiếp giáp với các huyện
Phía Đông giáp thị xR Uông Bí
Phía Tây giáp huyện Chí Linh (Hải Dương)
Phía Nam giáp huyện Thuỷ Nguyên (Hải Phòng)
Phía Bắc giáp huyện Sơn Động và Lục Nam (Bắc Giang)
Huyện Đông Triều và một số huyện khác trong tỉnh nằm ở sườn phía
Đông Nam vòng cung Đông Triều, vị trí này tạo ra cho Đông Triều có điều kiện tự nhiên đặc thù khác so với các vùng lRnh thổ khác
3.1.2 Điều kiện tự nhiên
3.1.2.1 Khí hậu
Đông Triều có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm Số liệu quan trắc nhiều năm ở trạm Uông Bí cho thấy:
1/ Nhiệt độ
Trang 35Nhiệt độ trung bình năm của huyện là 23,5oC, nhiệt độ tối cao tuyệt đối
đạt tới trị số 37,9oC trong mùa hạ và nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối có thể thấy là
1oC về mùa đông
2/ Lượng mưa
Tổng lượng mưa trung bình năm ở Đông Triều là 1793 mm tương đối thấp so với toàn tỉnh và phân bố tập trung chủ yếu vào mùa hè:
Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 với lượng mưa đạt 75
- 80% tổng lượng mưa cả năm (trong đó tập trung vào tháng 8 có thể đạt tới
390 mm) Thời gian này thường trùng với bRo lụt, kết hợp với mưa lũ từ thượng nguồn đổ về từ sông Đá Vách, hay gây ra lụt lội ở vùng thấp
Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa trong mùa khô chiếm 20 - 25% tổng lượng mưa cả năm Trong thời gian này do lượng mưa thấp, lưu lượng nước dưới thượng lưu cạn kiệt, nguy cơ hạn hán khá cao
3/ Chế độ bức xạ
Tổng bức xạ đạt bình quân 104,7cl/năm, trong đó bức xạ hữu hiệu là 55,9cl Nhìn chung chế độ bức xạ ở đạt ở mức trung bình, đảm bảo cho các cây trồng và thực vật tự nhiên phát triển tốt
4/ Chỉ số ẩm
Chỉ số ẩm ở huyện Đông Triều thay đổi theo mùa từ thấp lên cao đạt mức từ 0,4 (tháng 1) – 5,3 (tháng 8) Nhìn chung có thể đáp ứng yêu cầu của nhiều loại cây trồng Tuy nhiên, có thể xảy ra hạn hán trên diện rộng hay cục
Trang 39Gió mùa Đông - Bắc xuất hiện vào mùa khô từ tháng 10 năm trước, chấm dứt vào tháng 4 năm sau Tốc độ gió từ 3- 4m/s Đặc biệt do ảnh hưởng gió Đông- Bắc tràn về trong các tháng mùa đông thường gây lạnh và giá rét khá dài
Cũng như các vùng ven đồng bằng Bắc Bộ, trung bình mỗi năm ở đây
có khoảng 2 - 5 cơn bRo ảnh hưởng trực tiếp tới Đông Triều BRo thường kèm mưa lớn, với sức gió từ cấp 8 đến cấp 10, gây tác hại đáng kể đến sản xuất nông nghiệp trong vùng
Khí hậu đa dạng tạo điều kiện thuận lợi cho huyện Đông Triều phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp Tuy nhiên với tần suất mưa bMo tập trung về cuối mùa mưa kết hợp với địa hình dốc là nguyên nhân chính gây nên hiện tượng rửa trôi, xói mòn, úng lụt, ảnh hưởng xấu cho sản xuất nông - lâm nghiệp Nhiệt độ và độ ẩm thay đổi theo mùa
3.1.2.2 Tài nguyên nước
Đông Triều có hệ thống sông suối khá phong phú, bao bọc toàn bộ phía Tây Bắc, Tây Nam, phía Nam và phân bố tương đối đều trên địa bàn toàn huyện Điển hình là sông Kinh Thầy chảy qua địa phận tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương qua Đông Triều ra Hải Phòng Sông này có hai nhánh cấp 2 là sông Cầm và sông Bằng; Các sông nội huyện như sông Cầu Vàng, sông Đạm, sông
Đá Vách và các suối nhỏ phía đông bắt nguồn từ các dRy núi phía bắc thuộc cánh cung Đông Triều ở độ cao 500 - 700m chảy theo hướng Bắc - Nam Các sông nhánh đều ngắn và dốc, bồi tụ ít, quanh co, uốn khúc, cửa sông hẹp làm
lũ lên nhanh nhưng rút chậm dễ gây ra úng lụt kéo dài
Huyện Đông Triều có các hồ lớn: Hồ Bến Châu thuộc xR Tràng Lương
có dung tích 10 triệu m3; Tại xR An Sinh có hồ Khe Chè dung tích 1,5 triệu m3
và hồ Trại Lốc có dung tích 0,5 triệu m3; xR Hồng Thái Tây có 2 hồ Khe Ươn
1 và hồ Khe Ươn 2 Các hồ lớn này có vai trò điều tiết và cung cấp nước tưới
Trang 40cho sản xuất nông nghiệp ở các khu vực lân cận, ngoài ra chúng còn là những
địa điểm hấp dẫn khách du lịch
3.1.2.3 Địa hình
Đông Triều là huyện có địa hình đan xen giữa đồi núi, trung du và đồng bằng Trong đó hơn 50% diện tích đất tự nhiên là đất đồi núi phân bố ở phía Bắc và Tây Bắc thuộc cánh cung Đông Triều Địa hình có xu hướng thấp dần
từ Bắc xuống Nam Địa hình của vùng gò đồi được phân thành 2 vùng rõ rệt:
1/ Vùng núi cao: Gồm các xR An Sinh, Bình Khê, Tràng Lương; có độ cao
trung bình từ 300- 400 m, đỉnh cao nhất là Am Váp có độ cao 1031m, đoạn giữa đứt gRy tạo thành thung lũng lớn Bình Khê- Tràng Lương Vùng núi cao của huyện có diện tích tự nhiên là 213 km2 chiếm 53,5% so với diện tích tự nhiên của toàn huyện
Vùng núi cao thường đối mặt với hiện tượng xói mòn, rửa trôi đổ xuống phía nam với hàm lượng chất hữu cơ cao, kèm theo cát sỏi và nhiều hợp chất rắn khác Đây là vùng có ưu thế của cây lâm nghiệp, cây ăn quả và cây công nghiệp lâu năm
2/ Vùng có địa hình đồi núi thấp
Phân bố từ dốc Đỏ thuộc xR Hồng Thái Đông qua phía Bắc TT Mạo Khê qua xR Kim Sơn và xR Tràng An; Có diện tích là 60,44 km2, chiếm 15,2%
so với diện tích tự nhiên của toàn huyện Đây là vùng đồi thấp liễn dải hoặc bát úp xen kẽ và dạng địa hình cao có nguồn gốc phù sa cổ Vùng này có tiềm năng để phát triển cây ăn quả và phát triển các mô hình nông lâm kết hợp
3.1.2.4 Địa chất, đá mẹ
1/ Đặc điểm địa chất:
Hầu hết diện tích gò đồi của huyện Đông Triều nằm trong đới Duyên Hải, một phần phía Bắc của huyện thuộc đới An Châu (Đovjikov A.E và CTV, 11971) Theo tài liệu nghiên cứu địa chất học, huyện Đông Triều là một vùng trầm tích đR trải qua nhiều thời kỳ kiến tạo phức tạp Trong đó, các xR