Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống nhãn trên vùng đất bạc màu việt yên bắc giang
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp I
Vũ Thị Tâm
đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống nhãn
trên vùng đất bạc màu việt yên - bắc giang
luận văn thạc sĩ nông nghiệp
hà nội, năm 2004
1
Trang 2bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp I
Vũ Thị Tâm
đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống nhãn
trên vùng đất bạc màu việt yên - bắc giang
luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Chuyên ngành: Kỹ thuật trồng trọt Mã số: 4.01.01
Người hướng dẫnkhoa học: TS Đoàn thế lư
hà nội, năm 2004
2
Trang 3Lời cam đoan
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận
văn này là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho sự thực hiện luận văn
này đã đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều
đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Vũ Thị Tâm
3
Trang 4Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này với nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp, nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Nông học và khoa sau đại học Trường Đại học Nông nghiệp I
Tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Đoàn Thế Lư, Trưởng bộ môn Rau - Hoa - Quả, Khoa Nông học Trường Đại học Nông nghiệp I đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn chỉnh luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Nhà giáo ưu tú Tiến sĩ Nghiêm Xuân Hội, Ban Giám hiệu Trường Cao đẳng Nông - Lâm cùng toàn thể các
đồng nghiệp của nhà trường, đã tạo điều kiện giúp đỡ và động viên tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Nhà giáo ưu tú Vũ Hữu Thinh nguyên Hiệu trưởng Trường Trung học Kĩ thuật Nông nghiệp Trung ương đã dịch giúp tôi tài liệu cây ăn quả tiếng Trung Quốc
Tôi xin chân thành cảm ơn các cơ quan hữu quan, các bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã dìu dắt giúp đỡ động viên tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày 20 tháng 9 năm 2004
Vũ Thị Tâm
4
Trang 5danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t trong luËn v¨n
5
Trang 61 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Gần đây nền kinh tế nước ta phát triển khá mạnh, vấn đề lương thực đã
được giải quyết, sản xuất cây ăn quả được chú ý hơn, diện tích trồng cây ăn quả tăng nhanh Cùng với một số cây ăn quả khác: xoài, hồng, cam, vải cây
nhãn (Euphoria longana) là một trong những cây ăn quả được quan tâm phát
triển
Sản phẩm quả nhãn có giá trị dinh dưỡng cao được dùng để ăn tươi, sấy khô, làm thuốc an thần kích thích hoạt động của não Cùi nhãn có thể chế đồ hộp giá trị còn có phần cao hơn vải đóng hộp Hạt nhãn, vỏ quả nhãn đều dùng làm thuốc trong đông y từ lâu quả nhãn đã được coi là mặt hàng quý không chỉ tiêu dùng trong nước mà còn được xuất khẩu ra nước ngoài Ngoài
ra nhãn còn là cây có nguồn mật, có chất lượng cao, mật ong từ hoa nhãn được coi là loại mật thượng đẳng thơm ngọt có giá trị dược liệu
Cây nhãn được coi là cây trồng quan trọng trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong sản xuất nông nghiệp ở nhiều vùng kinh tế của đất nước Cây nhãn không chỉ được trồng trong vườn với quy mô khác nhau mà còn được sử dụng trồng như là cây bóng mát, cây cảnh ở ven đường, trong các công sở, trường học, công trình thuỷ lợi bởi tán cây xoè rộng có tác dụng phủ xanh đất trống, bảo vệ tài nguyên đất, cải thiện cảnh quan môi trường sinh thái
Trong những năm gần đây chúng ta đã ứng dụng tiến bộ kỹ thuật ghép nhãn để thay thế cho việc nhân giống bằng hạt và cây chiết, đã mở ra khả năng mở rộng diện tích, tăng năng suất phẩm chất của sản phẩm quả cho các vùng kinh tế ngoài vùng truyền thống trồng nhãn trước đây (Hưng Yên) Cây nhãn ghép sinh trưởng phát triển như thế nào ở các vùng sinh thái khác nhau?
Có phù hợp với vùng đất bạc màu không? Mẫu mã và phẩm chất quả nhãn trồng ở các vùng kinh tế này nói chung và ở Việt Yên nói riêng so với nhãn ở
6
Trang 7Hưng Yên truyền thống thế nào? Đó là những vấn đề mà thực tiễn sản xuất nông nghiệp ở huyện Việt Yên đòi hỏi Xuất phát từ những vấn đề trên, được
sự nhất trí của Khoa Sau Đại Học và Khoa Nông học Trường Đại học Nông nghiệp I, chúng tôi tiến hành đề tài:
"Đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển của một số giống nhãn trên
vùng đất bạc màu Việt Yên - Bắc Giang"
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá hiện trạng sản xuất và khảo sát khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống nhãn triển vọng trồng trên đất bạc màu ở huyện Việt Yên - Bắc Giang, nhằm góp phần phát triển sản xuất nhãn và chọn giống thích hợp cho vùng đất bạc màu Việt Yên
1.3 Mục đích, yêu cầu của đề tài
1.3.1 Mục đích
- Đánh giá hiện trạng sản xuất nhãn và những điểm tồn tại trong sản xuất nhãn ở huyện Việt Yên - Bắc Giang
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng của một
số giống nhãn trên vùng đất bạc màu Việt Yên - Bắc Giang để chọn ra được giống tốt phục vụ việc mở rộng sản xuất nhãn trên địa bàn
1.3.2 Yêu cầu
- Đánh giá được hiện trạng sản xuất nhãn của Huyện về các mặt diện tích, năng suất, giống, kỹ thuật trồng, nhân giống, các khó khăn và thuận lợi cũng như yêu cầu đặt ra đối với giống
- Đánh giá được khả năng sinh trưởng phát triển của một số giống nhãn trồng thí nghiệm trên đất bạc màu tại trường Cao đẳng Nông Lâm - Việt Yên - Bắc Giang
- So sánh năng suất, chất lượng của các giống nhãn thí nghiệm trồng ở Việt Yên với những kết quả nghiên cứu nhãn ở Hưng Yên để khuyến cáo cho hoạch định phát triển trồng nhãn trên đất thấp còn bỏ trống tại Việt Yên
7
Trang 81.4 ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
1.4.2 ⇑ nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu về sinh trưởng, phát triển của các giống nhãn trên vùng
đất bạc màu của vùng trung du và núi thấp thuộc tỉnh Bắc Giang là cơ sở để khuyến cáo các giống và cơ cấu giống nhãn cho vùng Góp phần phục vụ chương trình phát triển cây ăn quả của huyện, phủ xanh đất trống bạc màu,
mở rộng diện tích đẩy mạnh sản xuất nhãn hàng hoá, tận dụng đất thấp còn bỏ trống để phát triển sản xuất cây ăn quả tạo vùng nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến quả
- Góp phần xây dựng hệ thống sản xuất nông nghiệp bền vững tăng thu nhập, hiệu quả xã hội, hiệu quả bảo vệ môi trường sinh thái - cảnh quan phục
vụ chương trình 50 triệu đồng/ha/năm của huyện
8
Trang 92 Tổng quan tài liệu và Cơ sở khoa học của đề tài
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Trên cở sở điều tra khảo sát các điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của Huyện để nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa cây nhãn với điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của vùng, đánh giá khả năng phát triển cây nhãn cũng như xem xét tiềm năng, các lợi thế, các hạn chế khi phát triển sản xuất nhãn theo hướng hàng hoá trên quan điểm hệ thống nông nghiệp bền vững
Đánh giá sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng của một số giống nhãn trồng trên vùng đất bạc màu Việt Yên - Bắc Giang, so sánh với những kết quả nghiên cứu nhãn trồng ở Hưng Yên Để khẳng định việc phát triển trồng nhãn ghép trên vùng đất bạc màu, làm cơ sở cho việc hoạch định kế hoạch phát triển trồng cây nhãn ở Việt Yên
2 2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Nghiên cứu về nguồn gốc và phân bố của nhãn
2.2.1.1 Nghiên cứu về nguồn gốc của nhãn
Về nguồn gốc và xuất xứ của cây nhãn có nhiều tài liệu xác nhận là cây nhãn có mặt ở các vùng núi kéo dài từ Myanma đến miền Nam Trung Quốc Sau đó nhãn được mở rộng đến các miền đất thấp ở miền tây nam ấn Độ và Sri Lanka ở Trung Quốc nguồn gốc của nhãn ở hai trung tâm: Trung tâm thứ nhất là ở Vân Nam và trung tâm thứ hai là ở Quảng Đông, Quảng Tây và Hải
Nam (Ke et al., 2000) [43]
Căn cứ vào kết quả nghiên cứu của các tác giả: Macmilom (sổ tay nghề vườn nhiệt đới) dẫn theo [8] Roxburgh (thực vật chí ấn độ) dẫn theo [8]
Đều cho rằng cây nhãn có nguồn gốc từ Trung Quốc Leenhouto, dẫn theo [8] cho rằng Kalimantan (Indonesia) cũng là một cái nôi của cây nhãn Tuy nhiên theo Decandolle, dẫn theo [8] nguồn gốc cây nhãn có ở ấn độ, vùng có khí hậu lục địa, vùng tây Ghats ở độ cao 1600m còn có rừng nhãn dại, ở các bang
9
Trang 10Bengal và Assam ở độ cao 1000m trồng nhiều nhãn Sau thế kỷ 19 nhãn còn
được nhập vào trồng ở các nước Âu Mỹ, châu Phi, australia trong vùng nhiệt
đới và á nhiệt đới ở Việt Nam nhãn được trồng từ bao giờ Theo Vũ Công Hậu (1999) [8] "Có thể miền bắc nước ta là một trong những vùng quê hương của nhãn "
2.2.1.2 Tình hình phân bố nhãn trên thế giới:
Cho đến nay diện tích và sản lượng nhãn trên thế giới chưa được thống kê
đầy đủ vì nhãn thường được trồng trong "vườn gia đình" và sản lượng thu hoạch thường bị để ngoài các giữ liệu thống kê quốc gia [8]
Hiện nay Trung Quốc là nước có diện tích trồng nhãn lớn nhất trên thế giới Theo Lê Mỹ Anh khoa viện nghệ trường đại học Nông nghiệp Quảng Tây thì diện tích trồng nhãn ở Trung Quốc đạt khoảng 38- 40 vạn mẫu (15 mẫu = 1ha) chủ yếu trồng ở các tỉnh Duyên Hải, Phúc Kiến, Quảng Đông, sau đó là Quảng Tây và một số ít ở Vân Nam, Quý Châu [57]
Theo giáo trình trồng cây ăn quả (Dành cho các trường đại học ở phía nam Trung Quốc năm 1989) [57] cho thấy: ở Trung Quốc nhãn được trồng nhiều ở Duyên Hải, Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Tứ Xuyên và Vân Nam diện tích khoảng 2700 ha, nhãn là cây trồng có tuổi thọ cao, năng suất tăng theo độ tuổi ở Phúc Kiến có cây nhãn 350 tuổi vẫn cho năng suất trung bình
Nghiên cứu về nguồn gen của nhãn theo Wong kai choo và Saichol (1991) [17] Thái Lan có 3 bộ sưu tập lớn về nhãn ở Chiang Mai và Lamphun các
10
Trang 11giống trồng ở Thái Lan và Trung Quốc có nhiều đặc điểm khác nhau ở chồi hoa và quả nhưng nhìn chung thì tính đa dạng về nguồn gốc không quá nhiều
ở Việt Nam, nhãn là cây ăn quả đặc sản của vùng đồng bằng Bắc bộ được trồng nhiều ở các tỉnh: Hải Hưng, Nam Hà, Thái Bình, Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Giang khác với cây vải, nhãn có thể trồng ở 2 miền Nam, Bắc nhưng trồng những giống khác nhau, giống ở miền Bắc thường to cây hơn, trồng chủ yếu ở 2 bên đường đi, bờ đê và trong vườn nhưng số lượng không lớn còn ở miền Nam giống nhãn phong phú hơn nhiều, cây bé ra quả sớm [25]
Một số giống nhãn được trồng phổ biến ở châu á đó là:
- Giống Đại Quảng, giống Ô Long, Đại ô viên, Phúc Châu (Trung Quốc)
- Ssp Malesianus var male sianas: ở nhiều nơi thuộc các nước Đông Dương và khu vực Malaixia
- Ssp Longan var obtusus: ở các nước Đông Dương và Thái Lan [17]
2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nhãn trên thế giới và trong nước
2.2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nhãn trên thế giới
Nhãn là cây ăn quả á nhiệt đới có sản lượng lớn năng suất tăng theo độ tuổi Tuy nhiên số đông người phương Tây chưa đánh giá cao quả nhãn vì vậy
mà vấn đề sản xuất và tiêu thụ nhãn sang các nước phương Tây có phần hạn chế Điều này ngược lại đối với người á đông
Nghiên cứu về sản xuất nhãn ở Trung Quốc [44], Trung Quốc năm 1997
có diện tích trồng nhãn 432.400 ha với sản lượng 232.000 tấn quả, phân bố chủ yếu ở các vùng Quảng Tây, Quảng Đông, Phúc Kiến, Tây Tạng, Vân Nam
và Hải Nam, diện tích và sản lượng nhãn ở Quảng Tây, Quảng Đông và Phúc Kiến chiếm 97% diện tích trồng và sản lượng nhãn ở Trung Quốc Trong 11 năm từ 1987 đến 1997 sự tăng trưởng về diện tích và sản lượng nhãn ở Quảng Tây, Quảng Đông và Phúc Kiến số liệu được trình bày ở bảng 1:
11
Trang 12Bảng 1: Kết quả sản xuất nhãn ở một số vùng chủ yếu của Trung Quốc
210.100 119.600 90.300
22.400 21.800 37.300
133.300 124.700 104.800
* Nguồn: (Liu and Ma, 2000) [44]
ở Thái Lan (Subhadrabandhu and Yapwattanaphun, 2000a) [46] Sản lượng nhãn của năm 1998 đạt 238.000 tấn với diện tích 411.504 ha Sự tăng trưởng sản xuất nhãn ở Thái Lan trong 10 năm (từ năm 1989 đến 1998) về diện tích
là 2,34 lần, về sản lượng tăng 5,33 lần Thái Lan có 8 vùng trồng nhãn lớn đó là: Lamphun, Chiang Mai, Chiang Rai, Nan, Phra Yao, Lampang, Phrae, Chanthaburi Trong đó Lamphun và Chiang Mai có diện trồng và sản lượng nhãn lớn nhất của Thái Lan (Lamphun 11.008 ha với sản lượng 44.031 tấn Chiang Mai 6.436 ha với sản lượng 40.932 tấn) Ngoài tiêu thụ trong nước Thái Lan còn xuất khẩu nhãn sang Malaysia, Philipin, Hồng Kông và các nước trong khối EC Chỉ riêng xuất khẩu nhãn trong 3 năm 1986-1990 Thái Lan đã tăng gấp 3 lần doanh thu xuất khẩu những hoa quả thứ yếu khác
ở Đài Loan (Yen 2000) [53], nhãn được trồng tập chung chủ yếu ở phía nam, năm 1994 có diện tích 12.142 ha với sản lượng 109.460 tấn, đến năm
1998 có diện tích 11.808 ha với sản lượng 53.385 tấn Kết quả thống kê trong
5 năm 1994 - 1998 diện tích trồng nhãn tăng không đáng kể và có xu hướng giảm (1998 diện tích trồng nhãn 11.808 ha, chiếm 97,25%) Sản lượng nhãn chỉ đạt 48,77% so với năm 1994, với nguyên nhân nhãn ở các mô hình sản xuất ra quả cách năm và quả có kích thước biến động lớn
Nghiên cứu về năng suất nhãn ở Thái Lan Subhadrabandhu và
12
Trang 13Yapwattanaphun (2000a) [46], cho biết trong 10 năm từ 1989ư1998 thì năm
có năng suất cao nhất đạt 7.325 kg/ha/năm (1990) và năm có năng suất thấp chỉ đạt 2.512 kg/ha/năm (1989) Trong đó năm 1989, 1991, 1993, 1995 là những năm mất mùa có sản lượng nhãn thấp, các năm 1990, 1992, 1994, 1996
là những năm được mùa và cho sản lượng cao Nghiên cứu về năng suất nhãn năm 1993 ở Thái Lan cho thấy ở các tỉnh khác nhau thì nhãn có năng suất khác nhau như: ở Lamphun là 3.712 kg/ha/năm, ở Chiang Rai là 5.194 kg/ha/năm và cao nhất là ở Chiang Mai là 6.837 kg/ha/năm
Nghiên cứu diễn biến năng suất nhãn ở các tỉnh có nhiều nhãn ở Trung Quốc (Liu and Ma 2000) [44] năng suất nhãn ở ba tỉnh Quảng Tây, Quảng
Đông và Phúc Kiến từ 1987 đến 1997 cho thấy ở Quảng Đông năm đạt năng suất cao là 2.506 kg/ha/năm (1987) và năm đạt năng suất thấp là 1.044 kg/ha/năm (1995) Tương tự như vậy ở Phúc Kiến năm 1987 nhãn đạt năng suất 1.650 kg/ha/năm và năm đạt năng suất thấp 1.023 kg/ha/năm (1993), ở Quảng Tây năm đạt năng suất cao là 2.435 kg/ha/năm (1987) và năm đạt năng suất thấp 731kg/ha/năm (1993)
Nghiên cứu năng suất nhãn ở Đài Loan (Yen 2000) [53] từ 1994 đến 1998 cho thấy năm nhãn đạt năng suất cao là 12.701 kg/ha/năm (1995) và năm nhãn đạt năng suất thấp là 4.506 kg/ha/năm (1996)
So sánh thu nhập kinh tế của nhãn và vải (Subhadradbandhu and Yapwattanaphun, 2000a) [46] ở Thái Lan nhãn chiếm khoảng 50% tổng sản phẩm xuất khẩu năm 1997 Trong đó nhãn xuất khẩu lớn hơn vải 10% Theo kinh nghiệm của những nhà cung cấp vải của Trung Quốc, trên thị trường thế giới nhãn không có được thế mạnh như vải Năm 1997, Thái Lan xuất khẩu 135.923 tấn nhãn với trị giá 201 triệu US$, dưới dạng nhãn tươi, nhãn sấy và nhãn bảo quản lạnh Trong 2 năm 1996, 1997 sản lượng nhãn xuất khẩu tăng 2ư3 lần so với năm 1993, 1995 Các nước nhập khẩu nhãn tươi có số lượng
đáng kể từ Thái Lan đó là Malaysia, Indonesia, Canada và Singapore Một
13
Trang 14phần nhãn cũng được xuất khẩu sang Trung Quốc Bên cạnh nhãn tươi, Thái Lan cũng xuất khẩu số lượng đáng kể nhãn sấy Tổng giá trị xuất khẩu nhãn sấy năm 1997 ở Thái Lan là 86 triệu USD và theo chiều hướng ngày càng tăng Năm 1995 xuất khẩu 3.655 tấn với giá trị 7,770 triệu USD Năm 1996 xuất khẩu 26.850 trị giá 41,790 triệu USD Năm 1997 xuất khẩu 38.075 tấn với giá trị 85,670 triệu USD [46]
ở Đài Loan, (Yen (2000) [52] sản phẩm nhãn xuất khẩu gồm nhãn sấy khô, nhãn bảo quản và nhãn đóng hộp trong đó chủ yếu là nhãn sấy khô Khối lượng nhãn xuất khẩu tăng dần từ 1994 đến 1998, trong đó nhãn sấy khô có khối lượng 6.744 tấn với giá trị 11,034 triệu USD; nhãn bảo quản có khối lượng 191 tấn với giá trị 90.3000 USD; nhãn đóng hộp có khối lượng 3 tấn với giá trị 7000 USD
Giá bán của nhãn quả: Theo Subhadrabandhu và Yapwattanaphun (2000a)
[46] tại Thái Lan từ 1989 ư 1997 và Đài Loan từ 1994ư1998 cho thấy giá nhãn quả tại các nhà vườn thay đổi theo sản lượng hàng năm, năm được mùa thì giá thấp, năm mất mùa thì giá cao So sánh tại Thái Lan trong 9 năm cho thấy năm 1996 được mùa nhãn với tổng sản lượng quả là 236.426 tấn, giá là 16,17 Baht/kg, năm 1995 sản lượng 143.592 tấn, giá là 18,87 Baht/kg
ở Đài Loan (Yen 2000) [53] năm 1997 sản lượng nhãn là 130.495 tấn với giá là 25,34 N.T.$/kg, năm 1998 sản lượng nhãn là 53.385 tấn với giá là 64 N.T.$/kg
2.2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nhãn ở Việt Nam
ở Việt Nam, nhãn là cây ăn quả đặc sản có từ lâu đời ở nước ta được nhiều người ưa chuộng, do những ưu điểm của nó Lê Quý Đôn đã nói về nhãn lồng Hưng Yên: "Mỗi lần bỏ vào miệng thì trong răng lưỡi đã nảy vị thơm tựa như thấm nước ngọt của trời cho"
Nhãn được trồng nhiều ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, nhiều nhất là ở Hải
14
Trang 15Hưng tập trung ở thị xã Hưng Yên, các huyện Phù Tiên, Kim Thi, Cẩm Bình, Châu Giang, Ninh Thanh Cả vùng có khoảng trên 2 triệu cây, tính theo mật
độ thông thường, diện tích trồng nhãn ước tính khoảng 35.000 - 40.000 ha Chủ trương phát triển trồng cây ăn quả ở vùng trung du và miền núi phía bắc nhằm phủ xanh đất trống đồi trọc cây nhãn nói riêng và cây ăn quả nói chung
được đưa vào các mô hình vườn ao chuồng, góp phần cải thiện đời sống nhân dân Do nhu cầu quả tươi tại chỗ, một số vùng sản xuất chính và những vùng phụ cận khác trong cả nước đã đẩy mạnh diện tích trồng nhãn vừa đáp ứng nhu cầu quả tươi tại chỗ vừa vận chuyển tiêu thụ đến các trung tâm thành phố, thị xã chính vì vậy cây nhãn không chỉ trồng nhiều trong các "vườn gia đình"
mà nó còn được trồng nhiều trên quy mô kinh tế trang trại với diện tích lớn Người ta còn sử dụng quả nhãn đưa vào lò sấy làm long nhãn vừa tiêu thụ trong nước vừa xuất khẩu qua Trung Quốc Tuy nhiên có phản ánh gần đây là giá nhãn xuất khẩu bị ép giá có thể do chất lượng của nhãn sấy chưa đáp ứng
được yêu cầu tiêu dùng của người Trung Quốc vì thế vấn đề cải tiến giống, cải tiến chế biến dựa trên yêu cầu của người mua thì cây nhãn sẽ có một vị trí vững vàng hơn [27]
ở Việt Nam, nhãn được trồng chủ yếu ở đồng bằng châu thổ sông Mêkông, vùng phía bắc và phía nam nước ta năm 1998 có diện tích là 33.914
ha với sản lượng 320.000 tấn Năm 1999 có diện tích là 41.600 ha với sản lượng 365.000 tấn Trong đó diện tích nhãn trồng ở đồng bằng châu thổ sông Mêkông chiếm 70 - 80% diện tích trồng nhãn của cả nước, Nguyễn Minh Châu (2000) [38]
Khả năng phát triển cây ăn quả góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở vùng đồng bằng sông Hồng, Nguyễn Ngọc Kiểm (1995) [14] Đánh giá về cây nhãn ở đồng bằng sông Hồng tác giả viết: "Ưu thế của cây nhãn là tuổi thọ dài sản lượng cao, năng suất tăng theo tuổi cây, nhu cầu tiêu thụ lớn, tán cây xoè rộng tạo độ che phủ lớn Tuy nhiên hạn chế của cây nhãn là có hiện tượng ra
15
Trang 16quả cách năm”
ở tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Văn Vượng (1997) [32] cho biết: diện tích nhãn
được trồng là 707 ha và cho sản lượng 1.099 tấn, nhãn được trồng nhiều nhất ở các huyện: Lục Nam (70 ha), Sơn Động (383 ha), Lục Ngạn (198 ha) ở Sơn
Động năm 1996 trồng mới được 200 ha nhãn trong đó có 30% là nhãn Đại ô viên nhập của Trung Quốc
Tóm lại, sản xuất và thị trường nhãn ở nước ta với diện tích và sản lượng
còn bé nhỏ so với sản xuất nhãn của các nước trong khu vực Sản phẩm quả
được tiêu thụ chủ yếu là nhãn quả tươi ở thị trường trong nước
2.2.3 Điều kiện sinh thái của nhãn
Nhãn là cây ăn quả có khả năng thích nghi rộng, tuy nhiên ở mỗi nước mỗi vùng sự sinh trưởng và phát triển của nhãn có khác nhau, liên quan chặt chẽ đến điều kiện sinh thái của từng vùng Vấn đề này được nhiều tác giả nghiên cứu và rút ra kết luận sau:
"Nhãn là cây cận nhiệt đới, có thể sinh trưởng và phát triển tốt ở vùng nhiệt đới nhưng đòi hỏi khí hậu thay đổi theo mùa rõ rệt để tạo điều kiện cho
nhãn sẽ sai quả và cho sản lượng cao " Độ ẩm trong đất rất cần thiết cho nhãn trong thời kỳ từ khi đậu quả đến lúc thu hoạch Lượng mưa hàng năm thích hợp cho sự sinh trưởng của nhãn vào khoảng 1.500 - 2.000 mm [27]
ở Trung Quốc người trồng nhãn có câu "Cạn chi thấp nhãn" tức là vải thích khô còn nhãn thích ẩm Đó cũng là lý do vì sao người ta thường trồng nhãn ở các vùng đất thấp, không trồng ở quá cao, ở vùng đồi nhất định phải tưới nước cho nhãn thì mới ra hoa đậu quả được Lượng mưa thích hợp từ 1000 mm trở lên, tuy nhiên nhãn cũng là cây ăn quả có khả năng chịu hạn tốt [25]
Người Trung Quốc cũng nói: "Dương nhật lệ chi, bội nhật long nhãn" (có nghĩa vải trồng ra nắng còn nhãn trồng ở chỗ khuất nắng) khuất nắng không
có nghĩa là bóng râm vì nhãn cũng như các cây ra hoa ở đầu cành, là cây ưa
16
Trang 17sáng Tuy nhiên nó cũng rất sợ ánh sáng trực xạ (nhãn Bắc) còn đối với nhãn Nam chịu nắng, chịu đất cát rất tốt [25]
Nhãn hàng hoá là cây ăn quả á nhiệt đới sinh trưởng tốt trong vùng nhiệt
đới những đòi hỏi sự thay đổi của mùa để phân hoá mầm hoa Trong thời gian
thương và rụng, (Menzel at al., 1990) [45] ở Thái Lan nhiệt độ thích hợp
cho đến khi quả chín Lượng mưa hàng năm thích hợp là khoảng 1500mm Nếu gặp hạn trong thời kỳ ra hoa và đậu quả có thể làm giảm năng suất Nhãn
nở hoa trong thời kỳ mưa thì hoa bị rụng và tỷ lệ đậu quả kém Nhãn rất nhạy cảm với gió, những cơn gió xoáy mạnh làm rụng quả và gẫy cành ở một vài nơi thuộc Thái Lan và Trung Quốc người ta thực hiện biện pháp hỗ trợ bằng cách chống cành bằng cọc tre khi cây mang nhiều quả trên cành hoặc dùng hàng rào để chắn gió [45]
2.2.4 Nghiên cứu về sinh trưởng của các giống nhãn:
Thời gian sinh trưởng của các giống nhãn khác nhau biến động trong phạm
vi lớn Thời gian bắt đầu từ nảy lộc đến lúc cho quả chín ở các giống nhãn khác nhau thì khác nhau Sự sinh trưởng và phát triển của nhãn phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện ngoại cảnh, nó ảnh hưởng đến sự hình thành các đợt lộc trong năm
Nghiên cứu về các đợt cành nhãn trong năm, Trần Thế Tục (1997) [25] trên cây nhãn một năm có 3 đến 5 đợt cành đó là: Cành mùa hè, cành xuân, cành thu, cành mùa đông có nhưng rất ít Cành thu mọc sau khi hái quả 15 - 20 ngày, cành này thường mọc ra trên cành hè và cành vừa hái quả, nếu cành hè phát triển khoẻ (ở cây ít quả hoặc không có quả) thì cành thu sẽ ít Thông thường cành mẹ của cây nhãn là cành thu và cũng là cành mẹ tốt nhất vì cành
17
Trang 18này sinh trưởng khoẻ, sung sức tích luỹ được nhiều dinh dưỡng, hiệu năng quang hợp cao
Kết quả nghiên cứu của trường Đại Học Nông Nghiệp Phúc Kiến, Trung Quốc, trong 3 năm cho thấy: Cành thu của nhãn được hình thành từ cành mùa hè: chiếm 40- 70%, ra trên cành quả đã thu hoạch chiếm 23- 40,1%, ra trên các loại cành khác chiếm 12,1- 47% Như vậy việc bồi dưỡng cành thu đủ về
số lượng và sung sức sẽ đảm bảo cho vụ quả sang năm là một vấn đề hết sức quan trọng hiện nay đang đặt ra để khắc phục hiện tượng nhãn cách năm không có quả [56]
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng các đợt lộc trên giống nhãn Hương chi ở giai đoạn kinh doanh (10 tuổi) tại vườn Trường Đại học Nông - Lâm Thái Nguyên Ngô Xuân Bình (2003) [1] cho biết:
- Giai đoạn kinh doanh một năm cho 4 đợt lộc, số lượng lộc giảm dần theo thứ tự: lộc thu - hè - xuân - đông
- Các đợt lộc khác nhau có thời gian sinh trưởng và mức độ sinh trưởng khác nhau, ở lộc hè: thời gian sinh trưởng, chiều dài cành thuần thục, số lá và số mắt đạt giá trị cao nhất
Các đợt lộc có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, mỗi đợt lộc đều được phát sinh từ các loại cành của các mùa vụ khác nhau trong năm hoặc của những năm trước Do đó khi cần tác động đến một đợt lộc cụ thể, phải chú ý tác động
đến cành mẹ là nguồn gốc sinh ra lộc
2.2.5 Đặc điểm thực vật học và sinh vật học của cây nhãn
2.2.5.1 Nghiên cứu về rễ nhãn và sự phát dục của rễ
Rễ nhãn ăn rất sâu và rộng, ở những vùng đất đỏ tơi xốp rễ có thể ăn sâu tới 4 đến 5 m, ở những vùng đất nông thì rễ ăn nông Rễ nhãn ăn rất rộng nói chung rộng hơn tán lá 1- 3 lần nhưng 80% tập trung trong tán, ở nơi đất xốp thì phần lớn rễ tập trung ở độ sâu 10- 100 cm và tập trung nhiều nhất ở độ sâu
50 cm trở lại ở nơi đất tốt thì rễ phân nhánh nhiều và ít có tình trạng rễ đuôi
18
Trang 19chuột, rễ nhãn có nấm cộng sinh giống vải
Sự phát dục của rễ: một năm rễ sinh trưởng làm 3 đợt Đợt 1 vào tháng 3-
4 lượng rễ ít, đợt 2 giữa tháng 5 - giữa tháng 6 rễ phát triển mạnh, đợt 3 giữa tháng 9- giữa tháng 10 rễ sinh trưởng yếu Các đợt sinh trưởng của rễ thường xen kẽ với các đợt lộc, thường là sau đỉnh cao của lộc sinh trưởng Sinh trưởng của lộc và rễ lại phụ thuộc vào quả, năm trước quả nhiều thì năm sau rễ và lộc sinh trưởng kém Sự sinh trưởng của rễ còn phụ thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm
đất Nhiệt độ đất dưới 10°C rễ sinh trưởng rất yếu, từ 23- 28°C rễ sinh trưởng mạnh nhất, từ 29- 30°C rễ sinh trưởng yếu dần, từ 33- 34°C rễ ngừng sinh trưởng Độ ẩm đất ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của rễ đất đủ ẩm rễ sinh trưởng mạnh (1 ngày rễ mới có thể mọc dài thêm 1,55 cm) hàm lượng nước trong đất từ 13% trở lên là thích hợp Trong điều kiện đủ ẩm, đủ dinh dưỡng 84% rễ tập trung ở tầng từ 0- 60 cm Đất đủ ẩm và tơi xốp rễ sinh trưởng mạnh nên vườn nhãn cần được cày lật xới giữa hàng [26]
2.2.5.2 Nghiên cứu về lá nhãn
Lá nhãn là loại lá kép lông chim ở cây con lá thứ nhất, thứ 2 thường có 1
đôi lá nhỏ, lá thứ 2, thứ 3 có 2 đôi lá, các lá sau có từ 3- 4 đôi lá cây trưởng thành thì đa số có 4 đôi lá kép ít có 3 đôi, số đôi lá kép nhiều hay ít phụ thuộc vào giống nhưng rất ít trường hợp có 8 đôi lá Lá đơn mọc đối hoặc so le, mặt sau lá màu xanh nhạt mặt trên xanh thẫm, cuống ngắn, gân lá lồi lên, lá non màu nâu tím, lá ở cành quả thường có màu xanh vàng Do cấu tạo của lá có 3
đặc điểm sau:
- Tầng biểu bì của lá dày
- Phần lớn khí khổng bị tế bào bảo vệ trồi ra che lấp
- Các gân lá lớn nhỏ đều có những bó mạch dẫn kéo dài ra đến lớp biểu bì [26]
2.2.5.3 Nghiên cứu về hoa nhãn, đặc điểm nở hoa và sự phân hoá mầm hoa
Nhãn là cây ăn quả á nhiệt đới có quá trình phân hoá mầm hoa và sau đó là
19
Trang 20ra hoa kết quả trong cùng 1 năm Quá trình phân hoá hoa chia ra các bước sau:
- Thời kỳ chuẩn bị: Đỉnh sinh trưởng nhỏ, nhọn các vẩy xếp khít chặt vào nhau
- Thời kỳ phân hoá gốc mầm hoa: Khoảng đầu đến cuối tháng 2 bắt đầu có
sự phân hoá mầm lá và mầm hoa, mầm hoa thường hơi tròn, hình chùy, ngắn
và to
- Phân hoá chùm hoa: Cuối tháng 2 đầu tháng 3 chùm hoa hình thành nhanh
và tách ra thành nhiều mầm, những chùm nhỏ hình thành sớm phân hoá ra mầm, đài hoa
- Chùm hoa hình thành nhanh thường vào cuối tháng 3 hình thành nên rất nhiều nhánh nhỏ, bắt đầu hình thành đài hoa một số hình thành cánh hoa
- Hình thành hoa ở nhãn sự phát dục thành hoa và phân hoá mầm hoa xảy ra gần như cùng một lúc Đến đầu tháng 4 về cơ bản đã hình thành chùm hoa đầy
đủ, đài, cánh hoa xuất hiện rất nhanh, nhị và nhuỵ xuất hiện, tử phòng bắt đầu nhú ra, giai đoạn này rất ngắn thường chỉ 10 ngày [26]
Để đảm bảo cho cây nhãn phân hoá mầm hoa được thuận lợi trong mùa
đông cần có 1 thời gian có nhiệt độ thấp và khô hạn vừa phải để nhằm hạn chế cành mùa đông có lợi cho việc quang hợp và tích luỹ chất khô, tăng nồng độ
dị bào tạo cho cây phân hoá mầm hoa được tốt
Hoa nhãn có 4 loại: Hoa đực, hoa cái, hoa biến thái, hoa lưỡng tính trong
đó chủ yếu là hoa đực và hoa cái ngoài ra còn có hoa biến thái và hoa lưỡng tính nhưng số lượng không đáng kể
Hoa đực chiếm trên 80% tổng số hoa, nở nhiều lần và thời gian nở dài, hoa cái chiếm dưới 20% tổng số hoa trên cây Hoa nhãn có mầu vàng nhạt có mùi thơm nhẹ
Trình tự nở hoa: thông thường trên các chùm hoa hoa đực nở trước tiếp theo
là hoa cái cuối cùng là hoa đực Cũng có thể hoa cái nở trước sau đó là hoa
đực hoặc cả 2 loại hoa cùng nở và kết thúc hoặc hoa đực và hoa cái cùng nở
20
Trang 21đầu tiên sau đó nở hoa đực và kết thúc Hoa đực nở làm 2 đợt, đợt đầu 1- 3 ngày, đợt sau 4 - 9 ngày, hoa cái thời gian nở hoa ngắn 2- 4 ngày tập trung nở 1- 2 đợt Hoa biến thái và hoa lưỡng tính có nở nhưng tỉ lệ đậu thành quả rất ít [26]
Hoa nhãn xếp thành chùm (chùm hoa) mọc ở ngọn và nách Chùm hoa nhãn
có từ 10 - 20 nhánh mỗi nhánh có 3 hoa, hoa ở giữa nở trước rồi đến hoa ở 2 bên Trên một cây thì các chùm hoa ở giữa tán nở trước rồi đến hoa ở gốc tán
và cuối cùng là hoa ở đỉnh tán Thời gian nở hoa trên 1 chùm từ 13 - 28 ngày, trên toàn cây 30- 35 ngày cả vườn khoảng 45 ngày
Hoa đực và hoa cái nở làm nhiều đợt xen kẽ nhau, khả năng nhuỵ cái có khả năng tiếp nhận hạt phấn thụ tinh kéo dài Nếu nhãn nở hoa gặp điều kiện thời tiết nắng, ẩm độ không khí không quá thấp và có nhiều côn trùng hoạt
động như ong mật thì khả năng đậu quả rất tốt Khả năng đậu quả trung bình của nhãn đạt 10- 20%, năm đậu quả cao có thể đạt 40% Như vậy ở nhãn tỷ lệ
đậu quả là khá cao so với một số cây ăn quả khác [26]
2.2.5.4 Nghiên cứu về sự sinh trưởng và phát dục của cành
Một năm nhãn ra từ 3 đến 5 đợt cành, cành xuân 1 đợt, cành hè 2 - 3 đợt, cành thu 1 đợt, cành đông ít hơn
- Thông thường thì cành thu chiếm khoảng 1/3 Nhưng nếu năm trước không
ra quả hoặc ít quả thì cành xuân cành hè nhiều Cành non (lộc) thường mọc từ
đỉnh ngọn của cành mẹ, cũng có khi mọc từ nách hoặc từ mầm bất định Thời gian, số lượng các đợt lộc phụ thuộc vào sức sinh trưởng của cây, tuổi cây, số lượng quả năm trước và chế độ nước, dinh dưỡng [56]
- Cành xuân thường mọc từ cành thu năm trước, cành hè và cành thu không mang quả hoặc cành già đã mang quả của năm trước Khoảng tháng 1 đã bắt
đầu nứt lộc, mạnh nhất là tháng 2 đến giữa tháng 3, đến giữa tháng 4 thì hết, cuối tháng tư thì cành xuân đã già Cây nhãn hàng năm ra quả đều thì cành xuân ít, hoa quả năm trước ít thì năm sau cành xuân nhiều và mập Những
21
Trang 22cành xuân gầy yếu nên cắt bỏ cho ra cành thu làm cành mẹ thì tốt hơn
- Cành hè: Nói chung cành hè mọc ra từ cành xuân hoặc cành hè, cành thu của năm trước, trên cành đã ngắt quả, cành già của năm trước Cành hè có thể
ra làm 2-3 đợt Đợt 1 vào trung tuần tháng 5 thường ít, đợt 2 vào cuối tháng 6
đến đầu tháng 7 Do mưa nhiều, nhiệt độ cao nên thường ra rất nhiều lộc, đợt
3 vào cuối tháng 7 đến đầu tháng 8 Lộc đợt này thường phát sinh ngay trên cành hè ra sớm trong năm hình thành nên 2 đợt cành trong một vụ hè Số lượng cành hè nhiều, ít phụ thuộc vào mùa quả trong năm Trong năm sai quả thì cành hè ít, nước phân đầy đủ thì cành hè nhiều Cành hè nhiều hay ít, tốt hay xấu liên quan mật thiết đến cành thu là cành mẹ của cành quả năm sau Cành hè là cành rất quan trọng, ngoài việc là gốc của cành thu, cành hè còn có thể trực tiếp là cành mẹ mang quả Cành hè to, mập, lá nhiều là cành mẹ mang quả rất tốt (ở Phúc Kiến cành hè mang quả chiếm tới 58,8 - 97,4%) vì vậy sự sinh trưởng của cành hè đều đặn hàng năm là cơ sở để cho năng suất cao của nhãn [56]
- Cành thu : Xuất hiện từ đầu tháng 8 đến đầu tháng 10 Cây tốt thì ra sớm,
đa số phát sinh sau khi hái quả 15 - 20 ngày Cành thu có 2 loại, một loại mọc
từ cành hè, một loại mọc từ cành quả mới hái Ngoài ra còn mọc ra từ cành thu năm trước hoặc cành bị cắt ngắn nhưng ít Cành thu mọc từ cành hè thường chiếm 60% từ cành quả khoảng 20 đến 21% Trong năm quả ít hoặc không có quả, cành xuân, cành hè to khoẻ thì cành thu ít Các giống chín sớm thì cành thu ra sớm và nhiều, giống chín muộn thì cành thu ra muộn và ít, sinh trưởng kém Cây to khoẻ dinh dưỡng tốt thì cành thu ra sớm và mập Bón đủ phân trước và sau khi hái quả thì cành thu nhiều, dài và mập hơn nhiều Mùa thu mưa nhiều có lợi cho cành thu sinh trưởng Nhưng nhãn chín vào tháng 8 - tháng 9 vào mùa thu mưa ít , nhiệt độ thấp dần thì sau khi hái quả cành thu sẽ
ít thường chỉ được 10 -12%, cành dài và nhỏ Cành thu là cành mẹ của cành quả năm sau Kết quả theo dõi của Viện khoa học Nông nghiệp Phúc Kiến 3
22
Trang 23năm liền như sau: Tỷ lệ ra hoa ở cành thu mọc từ cành hè từ 40 -72,3%; từ cành thu mọc từ cành quả (mới hái quả) từ 23% - 40,1% và từ các cành khác
12 - 47% Vì vậy chăm sóc cho cành thu nhiều, to mập là yếu tố quyết định cho năng suất cao [56]
- Cành đông: Thường ra vào tháng 11, năm nào mùa đông ấm áp và mưa nhiều thì cành đông nhiều Cây còn non sinh trưởng khoẻ thì cành đông nhiều, cành đông nhiều thì năm sau ra quả ít nên người ta thường tìm cách hạn chế không cho ra cành đông [56]
Nghiên cứu về khả năng ra cành của các giống nhãn và mối tương quan của chúng đến năng suất, Trần Văn Khởi (2002) [12] cho biết:
- Nhãn có khả năng ra cành quanh năm, cành hè và cành thu chiếm 70 - 90%, cành đông và cành xuân chiếm 10 - 30%
- Trong các giống nhãn thí nghiệm thì giống nhãn lồng ra nhiều cành nhất, nhãn nước ra ít cành nhất trong năm
- Số lượng cành hè và cành thu có tương quan thuận với năng suất quả, số lượng cành xuân có tương quan nghịch, cành đông không có tương quan với năng suất quả
2.2.5.5 Nghiên cứu sinh trưởng của quả nhãn
Sau khi thụ phấn thụ tinh quả bắt đầu phát triển, tháng đầu chiều cao quả phát triển nhanh hơn đường kính quả, đồng thời hạt cũng to dần lên Sang tháng thứ 2 quả phát triển với tốc độ nhanh dần và đạt được kích thước lớn, lúc này các chùm quả đã hiện rõ trên tán cây Khoảng giữa tháng 6 đầu tháng 7 cùi phát triển nhanh bao kín lấy hạt và sau đó là thời kỳ tích luỹ vật chất và chín của quả [27]
2.2.5.6 Nghiên cứu đặc điểm rụng quả của nhãn
Nhãn là cây có tỷ lệ đậu quả cao, sau khi hoa tàn khoảng 1 tháng thì có
đợt rụng quả lần thứ nhất chiếm 40- 70% số quả rụng Các quả rụng lần này là
do quá trình thụ phấn thụ tinh không đầy đủ hoặc do noãn phát triển kém
23
Trang 24Lần rụng quả sinh lý lần 2 vào giữa tháng 6 tháng 7 đến lúc quả chín, song số lượng quả rụng không đáng kể Do đó cần có biện pháp kỹ thuật thích hợp để khắc phục hiện tượng rụng quả đối với nhãn [27]
2.2.6 Nghiên cứu về chọn giống và nhân giống nhãn
2.2.6.1 Nghiên cứu về chọn giống nhãn
Nghiên cứu về tiêu chuẩn quả nhãn hàng hoá, Tôn Thất Trình (1995) [20] Một số giống nhãn tốt muốn xuất khẩu được cần có trái to, đường kính từ 2,5
cm trở lên, đây cũng là điểm khó dung hoà cho nhà vườn vì rất nhiều giống nhãn quả nhỏ ở Thái Lan, Trung Quốc, Florida lại có năng suất cao Vỏ nhãn mỏng, màu sắc biến động từ xanh lợt đến vàng đậm khi quả chín, cùi trắng trong hay trắng, nhưng có một vài giống nhãn có cùi gợn hồng khi chế biến
đóng hộp Đây là một nhược điểm trên thị trường Thịt quả có thể nhiều nươc hay xốp, mùi vị ngọt và thơm ít đến nhiều, một vài giống có vị chua Đây là một đặc tính quan trọng khi lựa chọn giống nhãn để trồng Phần cùi ở quả nhãn phải có tỷ lệ cao khoảng 70 - 75%
Nghiên cứu về nguồn tài nguyên di truyền các giống nhãn Trần Thế Tục (1999) [27] ở miền Bắc Việt Nam có 7 giống nhãn chính đó là: Nhãn lồng, nhãn bàm bàm, nhãn đường phèn, nhãn cùi, nhãn điếc, nhãn nước và nhãn thóc Có 5 giống được trồng nhiều ở Nam Bộ là: nhãn tiêu da bò, nhãn Xuồng cơm vàng,nhãn Tiêu lá bầu, nhãn Da bò và nhãn Long Hiện nay có một số giống nhãn nhập nội từ Trung Quốc như Đại ô viên, Thạch Hiệp, Trữ Lượng Trên thế giới hiện nay có một số giống nhãn ngon như Daw, Champô, Biew-Kiew của Thái Lan và trên nhãn vỏ có phấn, nhãn vỏ đỏ, nhãn vỏ xanh và nhãn tháng 10 của Đài Loan
Nghiên cứu về các giống nhãn hàng hoá Tôn Thất Trình (1995) [20] cho biết ở Trung Quốc liệt kê có từ 300- 400 giống nhãn khác nhau, nhưng chỉ có khoảng 30 giống nhãn được trồng để làm hàng hoá, điển hình của các giống này là: Fuyan, Ưu long ling (hay Hắc Long Đinh), Wuyuan (Hắc Vương),
24
Trang 25Shixia ở Thái Lan cũng có hàng trăm giống nhãn nhưng chỉ có một số giống trồng nhiều như Daw, Dang, Chompoo, Haew, Biew Kiew và Baidum
Mô tả 127 giống nhãn hiện có ở Trung Quốc Đặng Vũ Lăng (1996) [15] chia chúng thành 3 nhóm chính là:
- Nhóm giống trồng chủ yếu: Gồm 25 giống là những giống trồng nhiều trên diện tích rộng và có lịch sử lâu đời, có ưu việt và có giá trị kinh tế cao
- Nhóm giống trồng bình thường: Gồm 68 giống là những giống có diện tích trồng hẹp, sản lượng thương phẩm thấp, trong đó có một số giống có đặc tính kinh tế tốt có diện tích trồng vừa phải
- Nhóm giống gồm nhiều cá thể ưu tú: Gồm 34 giống có hình thái đột biến vì giá trị kinh tế cao, số lượng cây rất ít (như các cây nhãn ưu tú ở nước ta) Xinghui Liu và Cuilan Ma (2000) [44] cho rằng nhãn là một trong những cây á nhiệt đới quan trọng nhất và là sản phẩm đặc biệt nổi tiếng của Miền nam Trung Quốc Các tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông, Phúc Kiến và Đài Loan
là những vùng sản xuất chính Năm 1997 diện tích trồng nhãn thống kê là 444.400 ha với sản lượng 495.800 tấn, trong đó giống chín sớm chiếm 14%, chính vụ chiếm 68% và chín muộn 18%
ở Malaysia những giống nhãn địa phương được chia thành 4 nhóm dựa theo
đặc điểm thực vật học và quả là: Isau, Sau, Kakus và Mata Kuching (Kai Choo Wong), 2000 [42]
Tại Đài Loan để có cơ sở cho công tác tuyển chọn giống nhãn Chao Cheng Nam, Chang-Jerway, Yen- Chungrung (1997) [37] từ 1993 - 1996 đã tìm hiểu
đặc tính của 42 giống nhãn địa phương Nhóm tác giả này cho biết khối lượng quả của 15 giống nhãn (chiếm 35,7%) giao động từ 9 - 10,9 gam/ quả, có 4 giống có khối lượng quả trên 13 gam Tỷ lệ cùi của 17 giống (chiếm 40,5%) dao động từ 65 - 69,9%, chỉ có giống Pu- way là trên 70% Nồng độ chất tan của 13 giống (31%) có độ Brix trên 21% Khối lượng hạt của 24 giống (57,1%) giao động từ 1,6- 2,0 gam, chỉ có 2 giống hạt nhỏ hơn 1 gam
25
Trang 26Nghiên cứu về chọn giống nhãn ở phía bắc nước ta, Trần Thế Tục, Hoàng Lâm, Vũ Mạnh Hải và các cộng tác viên (1993- 1995) [24] tiến hành điều tra tuyển chọn giống nhãn ở Hưng Yên cho kết quả: Trong tổng số 25 vạn cây nhãn điều tra, tập thể tác giả đã chọn được 47 cây nhãn đầu dòng với tiêu chuẩn chất lượng tốt, năng suất trung bình cao hơn năng suất bình quân 20% Trong 47 cây được chọn thì tỷ lệ giữa cây thực sinh và cây chiết xấp xỉ bằng nhau đây là nguồn giống quý để cung cấp mắt ghép khắc phục cho việc nhân giống nhãn trồng ở các tỉnh đồng bằng trung du và miền núi phía Bắc nước ta Trung tâm cây ăn quả Long Định và Trung tâm cây ăn quả Phú Hộ (1996 - 1997) [21] đã tiến hành điều tra tuyển chọn các cây nhãn vải ưu tú thuộc các
địa phương đã được trồng hoặc lưu truyền qua các thế hệ, nhân giống bằng phương pháp gieo hạt hoặc cành chiết, trong đó phương pháp gieo hạt là chủ yếu Tổng số cây tuyển chọn được lên tới hàng trăm cây, nhiều cây đang được khảo nghiệm và nhân giống bằng phương pháp ghép để phổ biến cho sản xuất
Đó là các giống nhãn Tiêu lá bầu ở Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre dễ điều khiển ra hoa hơn nhãn Tiêu da bò Giống nhãn Xuồng cơm vàng phổ biến ở Bà Rịa - Vũng Tàu, gia đình chủ vườn cho biết: Giống nhãn đã được nhận nhiều huy chương vàng trong các cuộc bình tuyển chọn giống cây ăn quả ở địa phương
Trung tâm Cây ăn quả Long Định (1998) [21] cho biết giống nhãn xuồng cơm vàng được công nhận năm 1997 Thời gian thu hoặch của giống từ tháng
6 - 8, cây có tán hình tròn phân cành đều, lá hình trứng, đuôi lá bầu tròn, phiến lá hơi vặn, quả hình xuồng, vỏ quả màu vàng da bò khi chín, thịt quả khô ráo, giòn, dày và có màu hơi vàng có hương vị ngọt rất ngon, Khối lượng quả 17,8g, độ Brix 21,5%
Giống nhãn tiêu lá bầu được tuyển chọn và công nhận năm 1998, thời gian thu hoạch quả tháng 3 - 5 và tháng 6 - 8, cây có tán tròn, phân cành đều, lá hình trứng, đuôi lá bầu tròn, phiến lá phẳng mầu xanh đậm, quả hình tròn màu
26
Trang 27vàng da bò hơi đậm khi chín, Khối lượng quả trung bình 10,2g, thịt quả ráo, dai, dày, độ Brix 24,5% hương vị thơm ngon, trồng phổ biến ở các tỉnh Đồng Nai, Tiền Giang, Bến Tre và Vĩnh Long [22]
Kết quả điều tra nhãn ở hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái, Trần Thế Tục, Nguyễn Thị Bích Hồng (1997 - 1999) bình tuyển được 9 cây nhãn đầu dòng
ưu tú (Yên Bái 6 cây, Là Cai 3 cây) trong đó nhãn lồng 3 cây và nhãn cùi 6 cây Các cây này có năng suất cao hơn năng suất trung bình của các giống trong vườn, Khối lượng quả trung bình biến động từ 8,07 - 13,3g, độ Brix đạt
từ 18, 0 - 23,0% [29]
Điều tra nhãn ở Hà Tây Nguyễn Xuân Cường (1997) [5] cho biết ở dọc sông Đáy có gần 300 cây nhãn trên 70 tuổi hiện nay sinh trưởng tốt, sai quả, quả ngon thu hoạch từ 0,8 - 1 tấn quả /cây, cho giá trị thu nhập 14 - 15 triệu
đồng / năm Kết quả điều tra ở 285 xã trên tổng số 324 xã ở tỉnh Hà Tây diện tích trồng nhãn đạt 1.259 ha Kết quả tuyển chọn giống nhãn, tác giả đã chọn
được 14 cây đầu dòng ưu tú tại tỉnh Hà Tây
Kết quả chọn tạo giống nhãn ở nước ngoài chủ yếu cũng xuất phát từ việc chọn các giống cũ hay chọn lọc các cây gieo hạt biến dị mà thành ở Trung Quốc 1989 chọn được giống nhãn Qingke Baoyuan từ trong số cây con của giống Baoyuan có khả năng chống chụi cao, chín muộn, Khối lượng quả 16,9
- 18,4g cùi giòn màu trắng kem [41]
Nghiên cứu giống nhãn có tính chống bệnh và chất lượng tốt ở các tỉnh phía nam Trung Quốc Chen- Quixan, Chen-Leijin, Yu-Desheng (2000) [39] cho biết nhãn Qingshan là giống nhãn chất lượng hàng đầu cho ăn tươi, cây cho năng suất cao và chống chịu với bệnh chồi rồng
Kết quả chọn giống nhãn ở Trung Quốc Xu Xiudan, Huang Jinsong, Zangshao, Quan Luxiumin và Xụiahui (1999) [51] cho biết: Giống nhãn Lidongbeen được chọn từ những cây con thực sinh, do cơ sở nghiên cứu cây
ăn quả Phúc Kiến chọn từ năm 1980, năm 1985 cho quả Lidong been là giống
27
Trang 28nhãn chín rất muộn vào giữa và cuối tháng 10, cây có dạng lùn năng suất cao
và ổn định, chống chịu tốt với bệnh chồi rồng, quả to và hàm lượng đường cao
Tóm lại, công tác chọn tạo giống của các tác giả trong và ngoài nước trên cơ sở nhập nội và điều tra tuyển chọn giống sẵn có trong sản xuất, tiến hành bình tuyển những giống ưu tú nhất Các cây tuyển chọn đang được nhân giống
để phục vụ sản xuất tại các địa phương, góp phần cải thiện chất lượng giống trên diện tích trồng mới của địa phương
2.2.6.2 Nghiên cứu về nhân giống nhãn
Nghiên cứu về các phương pháp nhân giống nhãn Menzel at al., (1990) [45] nhãn có thể nhân giống bằng hạt, chiết cành, ghép nhưng cách nhân giống bằng hạt không được khuyến khích, phải mất từ 7- 8 năm cây mới có thể cho quả và quả của cây nhân bằng hạt thì ít mang được những đặc điểm dy truyền của cây mẹ lấy hạt
2.2.6.2.1 Một số vấn đề lý luận về nhân giống vô tính nhãn
♦ Sinh sản: là khả năng sinh vật tái tạo các thế hệ Tuy rất đa dạng nhưng các phương thức đều thuộc hai kiểu chính là sinh sản hữu tính và sinh sản vô tính Trong kiểu sinh sản vô tính, bằng các cơ quan dinh dưỡng, một cơ thể mới hoàn chỉnh được hình thành từ chồi sinh dưỡng hoặc được tái tạo từ một bộ phận nào đó của sinh vật Đây là hình thức sinh sản đặc trưng cho một số cây trồng nông nghiệp
Dựa vào đặc điểm kết hợp và truyền đạt vật chất di truyền của thế hệ ban
đầu cho thế hệ mới, người ta phân loại cây trồng thành ba hệ thống sinh sản bao gồm: hệ thống thụ phấn chéo, hệ thống tự thụ và hệ thống sinh sản vô tính Chính hệ thống sinh sản quy định cấu trúc di truyền tương đối của quần thể ở các thế hệ, do đó quyết định các phương pháp và các bước trong quá trình chọn tạo và nhân giống [31]
♦ Nhân giống: Là biện pháp kỹ thuật mà con người dùng để tái tạo các cá thể
28
Trang 29cần thiết thông qua hệ thống sinh sản Sinh sản và nhân giống là hai khái niệm khác nhau, “Nhân giống vô tính” áp dụng cho các loại cây thuộc hệ thống sinh sản khác nhau nên có nghĩa rộng hơn so với khái niệm “sinh sản vô tính”
♦ Dòng và dòng vô tính: dòng là cấu trúc cơ sở của giống cây trồng Trong chọn giống với cây nhân giống hữu tính, khái niệm dòng bao gồm dòng thuần, dòng lai, dòng tự phối và dòng tổng hợp ở đây, dòng là một quần thể của cây sinh sản bằng hạt, trong đó có sự đa dạng di truyền được kiểm soát và tính
đồng dạng được bảo toàn so với các chuẩn mực tương xứng với giống
Đối với cây nhân giống vô tính, kết quả của việc nhân giống vô tính liên tục các cá thể từ một cây mẹ ban đầu tạo ra dòng vô tính Nói cách khác, dòng vô tính là một tập hợp các cá thể đồng nhất về mặt di truyền có được từ một cá thể duy nhất bằng nhân giống vô tính [31]
♦ Những đặc tính khác nhau của một dòng vô tính
- Tất cả những cá thể trong một dòng vô tính riêng biệt là giống hệ về kiểu gen bởi vì một dòng vô tính đã đạt được qua sinh sản vô tính chỉ nhờ sự phân chia phân bào nguyên nhiễm Như vậy kiểu gen của một dòng vô tính được duy trì ổn định và không có sự thay đổi nào
- Sự khác nhau về kiểu hình trong một dòng vô tính là do môi trường (E) Nói như vậy bởi vì tất cả những cá thể trong một dòng vô tính có cùng kiểu gen như nhau
Kiểu hình của một dòng vô tính là do hiệu quả của gen (G), của môi trường (E) và ảnh hưởng qua lại giữa kiểu gen và môi trường (G x E) trên ý nghĩa quần thể (U) Kiểu hình của một dòng vô tính được biểu thị bằng công thức: P = U + G + E + GE [31]
2.2.6.2.2 Những kết quả nghiên cứu nhân giống bằng phương pháp chiết cành
Nhiều nước có mục đích nhân giống bằng phương pháp chiết cành các giống cây ăn quả để tạo các dạng gốc ghép vô tính nhằm nâng cao mật độ trồng, năng suất, tiện chăm sóc và phòng trừ dịch hại Trong các phương pháp
29
Trang 30nhân giống vô tính, phương pháp chiết cành được sử dụng phổ biến từ lâu đời
ở Trung Quốc, Đài Loan và Thái Lan [43]
Theo giáo sư Vũ Công Hậu [8] nhãn có thể nhân giống bằng các phương pháp khác nhau như gieo hạt, chiết ghép, phương pháp gieo hạt cây có nhược
điểm là hay xuất hiện những biến dị xấu [43] Muốn có giống ổn định phải nhân bằng con đường vô tính, phương pháp chiết được áp dụng phổ biến lâu
đời với nhiều loại cây ăn quả, thời vụ chiết tốt nhất là vào mùa mưa, sau hai
đến ba tháng cành chiết ra rễ đạt tiêu chuẩn có thể mang giâm ở vườn ươm để bồi dưỡng cho cây con quen với điều kiện sống mới trước khi đem trồng
Vũ Công Hậu (1996) dẫn theo [31], chỉ ra rằng ở Việt Nam chỉ nên dùng phương pháp chiết và ghép Bởi vì ở trường Đại Học Nông Nghiệp I (Trâu Quỳ - Gia Lâm - Hà Nội) những năm 70 đã lấy hạt từ những giống nhãn quý ở Hưng Yên để trồng quanh trường, kết quả 10 cây chỉ có 1 cây có chất lượng tốt, giống cây mẹ
Theo tác giả Bantten (1986a) [35], việc nhân giống vô tính cho cây nhãn ở Thái Lan rất phổ biến và phát triển Các phương pháp ghép, chiết cành và giâm cành đã được thực hiện nhiều ở Thái Lan, phổ biến hơn cả là chiết cành Các kết quả nghiên cứu của trường Đại học Chiang Mai, Thái Lan cho thấy cành ghép trên gốc gieo hạt chịu gió bão kém hơn nhiều so với cây trồng bằng cành chiết Cũng theo Batten: ở Trung Quốc phương pháp nhân giống bằng chiết cành nhãn khá phổ biến, chiết cành đã có ở Trung quốc từ 800 năm trước
đây
Các tác giả trường Đại học Kasetsart - Thái Lan (1990) [47] lại quan tâm
đến sinh trưởng phát triển của cây con trồng từ cành chiết, ở Thái Lan cây nhãn được nhân từ cành chiết sẽ ra hoa vào năm thứ 4 sau khi trồng, năng suất năm thứ 5 năm là 2-5 kg/cây, tăng lên 20kg/cây ở năm thứ 7 Năm thứ 10 là 60kg/cây và năng suất tăng khoảng 100-190 kg/cây ở năm thứ 15 Sau 15 năm năng suất cây giao động từ 150-200 kg/cây và duy trì được khoảng 10 năm
30
Trang 31tiếp theo Năng suất bắt đầu giảm khi cây trên 35 tuổi Chiết cành giúp cho cây có bộ rễ chùm phân bố rộng hơn, khả năng hấp thụ dinh dưỡng tốt hơn, dễ thích nghi với vùng có mực nước ngầm cao, ít bị rụng quả
♦ Ưu điểm của phương pháp chiết cành
- Dễ làm, dễ đạt kết quả
- Cây trồng từ cành chiết nhanh ra quả, do vậy rút ngắn được thời kỳ kiến thiết cơ bản
- Cây chiết có bộ khung tán đẹp, thấp cây thuận lợi cho việc chăm sóc và thu hoạch
- Cây trồng từ cành chiết giữ được đặc điểm di truyền quý của cây mẹ
♦ Nhược điểm của phương pháp chiết cành
- Hệ số nhân giống không cao, nếu chiết quá nhiều cành trên cây sẽ ảnh hưởng đến cây mẹ
- Cây chiết thường không bền, do không có rễ chính, nên tuổi thọ cây không cao, kém chịu gió bão
- Một số loại cây ăn quả có hàm lượng tanin trong cây cao thường khó hình thành rễ khi chiết cành: hồng, lê dẫn theo [31]
2.2.6.2.3 Những kết quả nghiên cứu nhân giống bằng phương pháp ghép
Kỹ thuật ghép ra đời bắt nguồn từ hiện tượng liền lại của các cây sống tự nhiên gần nhau do va chạm và ép sát với nhau trong một thời gian dài Về sau này, kỹ thuật ghép được phát triển mạnh trong công tác nhân giống vô tính các loài cây trồng, trước hết là các cây thân gỗ Kỹ thuật ghép được dựa trên cơ sở
từ phát triển của khoa học nghiên cứu giải phẫu thực vật và phân loại thực vật;
sự nghiên cứu về cấu trúc của tượng tầng và các quá trình hoạt động của tượng tầng, dưới ảnh hưởng của các điều kiện sinh thái môi trường Kỹ thuật ghép càng phát triển mạnh mẽ và đóng vai trò hết sức quan trọng trong công tác giống cây trồng nông nghiệp Sự phát triển của khoa học hoá học nông nghiệp, công nghệ chất dẻo
31
Trang 32Bằng phương pháp ghép cây các nhà khoa học đã thu được nhiều kết quả to lớn trong quá trình nghiên cứu và thử nghiệm, tìm được các kiểu ghép thích hợp cho nhiều loại cây trồng nông nghiệp, xác định các yếu tố ảnh hưởng tới việc ghép cây như ảnh hưởng thời vụ ghép, thời vụ chiết cành, tuổi gốc ghép, tuổi cành ghép đặc biệt đã xác định rõ nhiều tổ hợp ghép có khả năng sinh trưởng tốt, năng suất và phẩm chất tốt, chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh
và sâu bệnh hại [31]
♦ Ưu điểm của phương pháp ghép
- Cây ghép sinh trưởng tốt, tuổi thọ cao nhờ rễ của gốc ghép hoạt động tốt
- Cây ghép giữ được các đặc điểm tốt của cây mẹ, điều này có được do mắt ghép lấy trên cây giống đã thành thục, các đặc tính di truyền đã ổn định
- Cây ghép sớm ra hoa kết quả vì tuổi của mắt ghép và cành ghép đã thành thục, có thể tiếp tục giai đoạn phát dục của cây mẹ
- Có hệ số nhân giống cao, trong thời gian ngắn có thể tạo ra một số lượng lớn cây trồng
- Duy trì được nòi giống đối với những giống không có hạt hoặc chiết, giâm cành khó ra rễ
- Nâng cao được sức chống chịu của giống: chịu hạn, chịu úng, chịu sâu bệnh trên cơ sở chọn được giống gốc ghép thích hợp
- Cây thấp, có thể tạo tán cây ngay từ giai đoạn vườn ươm do vậy thuận tiện cho việc chăm sóc, thu hoạch ở vườn sản xuất
♦ Nhược điểm của phương pháp ghép
- Cây ghép dễ bị nhiễm bệnh nếu không chú ý chọn mắt ghép, gốc ghép sạch bệnh
- Đòi hỏi cán bộ nhân giống phải có trình độ, có tay nghề thành thạo
- Phải có các dụng cụ chuyên môn: dao ghép, kéo cắt cành, dây nilon ,dẫn theo [31]
♦ Điều kiện của ghép cây
32
Trang 33- Hai cây muốn ghép với nhau phải cùng một họ Tuy nhiên theo Trần Thế Tục (1995) dẫn theo [31] cho biết, có trường hợp cá biệt người ta có thể ghép thành công giữa các cây khác họ, khác loài với nhau Ví dụ: ở Trung Quốc dùng cây hồng (Diospiros kaki) làm gốc ghép cho cây nhót tây (Etribo trya Liundl) và dùng cây dâu tằm (Morusalba L.) làm gốc ghép cho lê (Pyrus L.)
- Gốc ghép với mắt ghép hoặc cành ghép phải có quan hệ huyết thống gần nhau và phải hợp nhau, tốt nhất là trong cùng một họ phụ hoặc trong cùng một giống Ví dụ: mơ ghép trên mận, mận ghép trên đào hoặc đào Mẫu Sơn ghép trên gốc đào thóc, mận tam hoa ghép trên gốc mận đắng
- Mắt và cành ghép phải có sức phát triển phù hợp với gốc ghép, nếu không
dễ hình thành hiện tượng “chân voi”, gốc to, ngọn nhỏ như ghép chanh trên gốc bưởi hoặc mơ trên gốc đào, hoặc hiện tượng “chân hương”, gốc nhỏ, ngọn
to như ghép đào trên gốc mơ hoặc ghép bưởi trên gốc quýt
Để đánh giá sự phù hợp giữa gốc ghép và cành ghép người ta dùng: Tỷ lệ tiếp hợp U: Trong đó U được xác định bởi tỷ lệ giữa đường kính của gốc ghép
và đường kính của cành ghép Thường có 3 tỷ lệ tiếp hợp sau:
+ U>1: Gốc ghép to, cành ghép nhỏ, thường thấy ở các nước nhiệt đới khi chọn gốc ghép chịu úng, sinh trưởng khoẻ
+ U<1: Gốc ghép nhỏ, cành ghép to, thường thấy ở các nước ôn đới khi chọn gốc ghép chịu hạn, chịu lạnh
+ U=1: Gốc ghép và cành ghép bằng nhau, thể hiện sự phù hợp bên trong của tổ hợp ghép Tạo điều kiện cho cây sinh trưởng tốt, tuổi thọ dài Hai bộ phận ghép phải được gắn khít vào nhau, để tượng tầng được tiếp xúc với nhau và nhựa của cây này mới truyền sang cây kia, dẫn theo [31]
♦ Sự ảnh hưởng của gốc ghép và thân cành ghép
Trong quá trình ghép cây tỷ lệ sống cao hay thấp, chất lượng cây giống sau trồng tốt, xấu liên quan chặt chẽ tới điều kiện ghép cây và sự ảnh hưởng của gốc ghép và thân cành ghép cũng như điều kiện môi trường Do vậy khi xác
33
Trang 34định một tổ hợp ghép ta phải cân nhắc và nghiên cứu kỹ gốc ghép và cành ghép hoặc mắt ghép Khả năng tiếp hợp của các giống nhãn ở Trung Quốc Zhang - Meichu, Hua- Youqun, Luo- Winle (1998) [55] cho rằng sự không tương hợp giữa chồi ghép và gốc ghép của nhãn là một vấn đề lớn Qua theo dõi 1844 cây nhãn của 10 giống ở Trung Quốc cho thấy 708 cây (chiếm 38,4%) biểu hiện triệu trứng của sự xung khắc đó là:
- Chọn giống ghép không tốt, giữa gốc ghép và cành ghép không tạo được sức tiếp hợp tốt nên có những biểu hiện như lá lá vàng rụng sớm, cành mọc
ít , chụm thành chùm, các đốt trên cành ngắn, chỗ tiếp tiếp giáp giữa gốc ghép và cành ghép phồng lên hoặc teo lại
- Do kỹ thuật ghép không được tốt tạo nên sức tiếp hợp kém giữa gốc ghép
và cành ghép
Nghiên cứu về ưu nhược điểm của phương pháp ghép Trần Thế Tục, Cao Anh Long, Phạm Văn Côn, Hoàng Ngọc Thuận, Đoàn Thế Lư (1998) [26] cho biết, phương pháp ghép (kể cả phương pháp ghép mắt và ghép cành) mang lại nhiều ưu điểm như hệ số nhân giống cao, cây đồng đều, cây có bộ rễ khoẻ, có khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu, đất đai tại chỗ, sâu bệnh cây sinh trưởng khoẻ và nhanh cho quả Tuy vậy vẫn còn nhiều nhà khoa học băn khoăn về khả năng tiếp hợp giữa gốc ghép và cành ghép, thời gian đầu vấn đề này còn chưa rõ trên cây còn nhỏ, nhưng thời gian sau nếu sức tiếp hợp không tốt sẽ gây thiệt hại lớn
Trong các phương pháp ghép nhãn kết quả cho thấy ghép mắt, ghép vát và
34
Trang 35ghép áp dễ tiếp hợp hơn so với ghép nêm và ghép lưỡi gà Vấn đề gốc ghép cho nhãn, tác giả Vũ Mạnh Hải (1995) [7] cho rằng: “Hiện nay chỉ ghép nhãn trên gốc nhãn, chưa tìm dược loại gốc ghép tốt hơn”
Nghiên cứu về tuổi thọ của nhãn ghép và khả năng tiếp hợp của nhãn ghép Đàm Bảng Chương (2000) [3] ở Trung Quốc cho thấy, nhiều vườn nhãn ghép 70 tuổi vẫn cho năng suất cao Việc chọn tổ hợp cành ghép và gốc ghép
là rất quan trọng Kinh nghiệm ở Trung Quốc cho thấy, khi quan sát gốc ghép
và cành ghép có vỏ nhẵn giống nhau hoặc vỏ sần sùi giống nhau thì khả năng tiếp hợp tốt Ngược lại gốc ghép và cành ghép có độ nhẵn vỏ khác nhau và độ sần sùi khác nhau thì khả năng tiếp hợp kém Tác giả cũng chỉ rõ rằng việc lựa chọn tổ hợp cành ghép, gốc ghép là khâu quan trọng nhất của phương pháp nhân giống nhãn bằng cành ghép
Nghiên cứu ở nước ngoài về nhân giống nhãn bằng phương pháp ghép cành tác giả Fan- Min (1999) [40] cho rằng nhiệt độ thích hợp cho ghép nhãn là 20-
cao là mùa thu và mùa xuân, gốc ghép tốt nhất có tuổi từ 12 - 18 tháng Tác giả cũng nhấn mạnh rằng các nhà làm vườn đều có một ý kiến thống nhất là sử dụng gốc ghép và cành ghép cùng một giống, trong các phương pháp ghép thì phương pháp ghép cành đạt tỷ lệ ghép sống cao (80%)
Phương pháp ghép lưỡi gà được ứng dụng vào thực tế từ cuối những năm
1970 ở Thái Lan phương pháp ghép được thực hiện vào mùa đông khi sự sinh trưởng sinh dưỡng ngừng lại Cây gốc ghép có tuổi khoảng 12 tháng Sau ghép thực hiện chăm sóc 2 tháng thì có thể mang trồng [45]
Trong những năm 80 của thế kỷ 20 phương pháp ghép cây ăn quả đã trở thành phổ biến trong nhân dân ở nhiều vùng sản xuất Những kết quả về phương pháp ghép táo, hồng đã góp phần thúc đẩy nghề làm vườn phát triển Các nhà khoa học trường ĐHNN I; Trung tâm nghiên cứu cây ăn quả Phú Hộ, Viện nghiên cứu cây Lương thực Hải Dương đã hoàn thiện các phương pháp
35
Trang 36ghép táo, hồng Nghiên cứu thời vụ ghép, phương pháp ghép thích hợp cho những vùng sinh thái khác nhau [26], [28] Trung tâm cây ăn quả Phú Hộ phổ biến phương pháp ghép đoạn cành là chủ yếu cho tất cả các cây, trong khi đó viện lương thực chủ trương ghép “cửa sổ” cho táo, nhãn, vải Ghép chữ “T” cho cam quýt Các nhà khoa học của trường ĐHNN I trong những năm 90 [4]
đã nghiên cứu và phổ biến phương pháp ghép mắt nhỏ có gỗ cho cam quýt, hồng, ghép đoạn cành và ghép cửa sổ cho cây táo, đối với cây táo phương pháp ghép mắt nhỏ có gỗ có hiệu quả cao nhất, nhưng hiện nay đa số nhân dân vùng Gia Lâm Hà Nội vẫn quen dùng phương pháp ghép “cửa sổ” Các cán bộ khoa học của trường ĐHNN I đã có nhiều năm hoàn thiện và phổ biến
kỹ thuật ghép mắt nhỏ có gỗ đối với cam quýt cho cán bộ và nhân dân các nông trường Phủ Quỳ, thị xã Lạng Sơn, huyện Hàm Yên Tuyên Quang, nông trường Thạch Quảng, Thạch Thành, Thanh Hoá đã tiếp nhận các kỹ thuật này
từ các chuyên gia Cu Ba rất có kết quả Trường ĐHNN I đã cải tiến và nghiên cứu áp dụng trên cây hồng Kỹ thuật này đã giúp cho việc phát triển cây cam quýt và cây hồng được nhanh chóng hơn, làm cho sản xuất mang tính công nghiệp và khoa học hơn [26], [28]
Kết quả nghiên cứu ghép nhãn tại Viện cây lương thực, Nguyễn Quang
Đồng, Đoàn Xuân Thuỷ, Nguyễn Văn Tuynh, Phạm Thị Hương (1995) [6] cho thấy, 2 thời vụ ngày 5/4 - 25/5 và 5/9 - 25/10 thì ghép mắt kiểu cửa sổ có tỷ lệ sống và tỷ lệ thành cây cao nhất đạt 86,5% Ghép mắt kiểu chữ T tỷ lệ sống thấp đạt 40%, ghép mắt kiểu tam giác tỷ lệ sống và tỷ lệ thành cây đạt 80 - 88% Độ tuổi của gốc ghép tốt từ 14 - 38 tháng tuổi, tuổi của gốc ghép càng cao thì tỷ lệ ghép sống càng cao Tuy nhiên trong sản xuất để hạ giá thành cây giống có thể ghép khi gốc ghép đạt từ 14 tháng tuổi trở đi Cành lấy mắt ghép
là cành bánh tẻ có độ tuổi từ 5 - 8 tháng tuổi Trong 3 giống lấy làm gốc ghép thì giống nhãn gỗ và giống nhãn lồng làm gốc ghép tốt hơn giống nhãn nước Nghiên cứu về ảnh hưởng của phương pháp bảo quản cành ghép của giống
36
Trang 37nhãn Hương chi ở Hải Dương, Trần Văn Khởi và Nguyễn Tấn Hinh (2002) [13] cho biết:
- Nếu cần thiết phải bảo quản cành ghép đã cắt khỏi cây thì nên bảo quản
du và miền núi mùa đông đến sớm hạn chế sự sinh trưởng của cành cây ghép
- Phương pháp ghép nêm chẻ lệch cho tỷ lệ ghép sống, tỷ lệ thành cây và sức tăng trưởng của cành ghép hơn hẳn phương pháp ghép mắt nhỏ có gỗ
- Nhân giống bằng phương pháp ghép nêm muốn đạt hiệu quả cao cần chăm sóc tốt cây gốc ghép, chọn cành ghép đủ tiêu chuẩn, giữ được lá gốc của cây ghép, thao tác ghép chính xác càng nhanh càng tốt
Nghiên cứu về ảnh hưởng của một số biện pháp nhân giống đến một số đặc
điểm thực vật học của cây nhãn, từ một dòng nhãn ưu tú được tuyển chọn trong thực tế sản xuất tại Hưng Yên ký hiệu (HC4) Trần Văn Khởi (2001) [11] cho biết: Nhãn nhân giống bằng phương pháp ghép và chiết cành từ cây
mẹ các chỉ tiêu về lá như dạng lá, mầu sắc lá, các chỉ tiêu về quả như chiều cao quả, tỷ lệ cùi/quả và độ Brix không có sự khác nhau Điều này cho thấy ở thế hệ cây con các chỉ tiêu này rất ổn định không có sự sai khác với cây mẹ, không chịu sự tác động của biện pháp nhân giống
Tóm lại, trong những năm vừa qua những tiến bộ kỹ thuật về nhân giống cây ăn quả ở nước ta đã thu được những thành tựu đáng kể, hiện nay
37
Trang 38trong các phương pháp nhân giống nhãn thì phương pháp ghép đang thể hiện
ưu việt hơn cả, nó đáp ứng nhanh một số lượng lớn cây giống tốt phục vụ sản xuất kịp thời Những nghiên cứu trong nước nhằm tập trung giải quyết các khâu kỹ thuật ghép sao cho đạt hiệu quả cao nhất, chất lượng cây giống xuất vườn là tốt nhất song vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển cây ăn quả ở các tỉnh Trung du và Miền núi Công tác nghiên cứu giống gốc ghép chưa thực
sự được chú trọng và tiến hành rất chậm so với yêu cầu chung, điều này đã làm chậm trễ quá trình phổ biến các giống cây ăn quả mới trong sản xuất
2.2.7.Nghiên cứu về kỹ thuật trồng nhãn
2.2.7.1 Mật độ trồng
Trồng cây ăn quả với mật độ dày và siêu dày là một tiến bộ kỹ thuật quan trọng trong việc nâng cao năng suất Xu hướng chung trong thâm canh là nâng cao mật độ đến mức siêu dày từ những năm đầu khi cây chưa khép tán, vườn quả đã đạt năng suất cao để có thể nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư kiến thiết cơ bản Trồng dày hợp lý, tận dụng được điều kiện không gian, đất đai,
ánh sáng, tiết kiệm được công chăm sóc và góp phần bảo vệ đất, chóng xói mòn [27]
ở Trung Quốc những vườn nhãn cũ mật độ trồng khá thưa, rất nhiều nơi chỉ trồng 150 - 300 cây/ha Hiện nay Trung Quốc chủ trương dùng phương pháp trồng dày, khống chế tán tuỳ theo giống nhãn và trình độ thâm canh có thể trồng 4m ì 4m, 3m ì 5m, 3m ì 4m, 3m ì 3m mỗi ha có thể trồng 625 cây, 667 cây, 833 cây,1115 cây Mật độ trồng nhãn ở vườn khoa học kỹ thuật
ở Diệp Hải, Quảng Đông là 1800 cây/ha Đây là một vườn quả có hàm lượng khoa học kỹ thuật rất cao và đáng học tập [3]
Trước đây người ta thường trồng nhãn theo khoảng cách 6m x 6m cho
đến 12m x 12m tương ứng với mật độ 70 - 300 cây/ha Mật độ thông thường
ở các vườn quả chín ở Thái Lan: 50 cây/ha, ở Đài Loan: 300-600 cây/ha ở tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc mật độ trung bình là 270 cây/ha Với mật độ này
38
Trang 39cây trồng sẽ khép tán sau 6 - 7 năm Thời điểm trồng nhãn tốt nhất là bắt đầu mùa mưa với kích thước hố 60 cm x 60 cm x 60 cm Đào hố trước khi trồng 2 tuần, bón lót bằng phân lân và phân hữu cơ bằng cách đảo đều với đất và lấp vào hố trước khi trồng (Anon, 1992) [34]
Nghiên cứu về tỉa cành trong 3- 4 năm đầu người ta thực hiện tỉa cành để tạo lớp cành cơ bản của tán cây, để cây nhãn có tán cân đối có từ 6 -10 cành chính ở Thái Lan với nhãn trồng mới người ta cắt cây ở độ cao 1,2 m và để lại 3- 4 cành sinh trưởng khoẻ để tạo bộ khung cành Mỗi cành bên để lại hai nhánh Các cành con sau để lại 1 nhánh sau 3 - 4 năm thì bộ tán của cây nhãn
có từ 24- 32 cành Việc tỉa cành như vậy sẽ tạo ra bộ tán thông thoáng và giảm được sâu bệnh, giảm chiều cao của cây và tăng số lượng cành mang quả, thuận tiện cho việc chăm sóc và thu hoạch Khi nhãn đã cho thu hoạch người ta tiến hành tỉa cành sau khi thu quả bằng cách bẻ hoặc cắt các cuống chùm quả, các cành bên trong tán, cành vượt, cành bị sâu bệnh và các cành sinh trưởng yếu giúp cho tán cây thông thoáng, để các cành của cây đều nhận
được ánh sáng và tạo ra lớp cành cho vụ quả của năm sau không bị muộn, nếu tỉa quá nhiều cành làm giảm số lượng lá, tán thưa thì sẽ ảnh hưởng đến năng suất của vụ sau ở Trung Quốc, Đài Loan và Thái Lan với nhãn trên 10 tuổi người ta tỉa bớt hoa và quả, khi chiều dài của chùm hoa khoảng 10 - 12 cm thì loại bỏ 40% ở những cây sai quả Với những cây mới ra quả thì loại bỏ 30%
số chùm hoa Mức độ tỉa hoa và quả còn phụ thuộc vào số lượng quả có trên cây và khả năng sinh trưởng của cây Việc tỉa bớt hoa và quả sẽ làm cho quả
có kích thước và Khối lượng lớn, đạt được giá trị hàng hoá cao trên thị trường, (Huang et al., 2000) [41]
Nghiên cứu về việc điều khiển nước cho nhãn, Menzel et al (1990) [45] cho biết: Lượng mưa để đảm bảo nhãn cho sản lượng tốt là từ 1200- 1400 mm hoặc 100-150 ngày mưa trong suốt thời gian từ khi nhãn đậu quả cho đến khi thu hoạch Nếu không đủ lượng mưa trên thì phải tiến hành tưới cho nhãn ở
39
Trang 40Thái Lan việc tưới tiêu cho nhãn được xác định là nhân tố hàng đầu quyết
định năng suất của nhãn Người ta thường tưới nước để đất có độ ẩm cao hơn
so với ẩm độ đất của nhãn trồng dọc theo các con sông ở Chiang Mai và Lamphun trong 3 - 4 năm đầu, người ta tưới cho nhãn bằng phương pháp phun mưa Khi cây cho quả tiến hành tưới suốt thời kỳ từ ra hoa đậu quả, quả lớn, cho tới khi thu hoạch và dừng tưới khi nhãn hoàn thành đợt lộc thu
ở nước ta chưa có nhiều trang trại trồng cây ăn quả tập trung phần lớn các diện tích phát triển thêm gồm các vườn gia đình có quy mô diện tích nhỏ, các tiến bộ kỹ thuật áp dụng chưa đồng bộ vì vậy áp dụng kỹ thuật trồng dày còn hết sức hạn chế Chúng ta mới chỉ áp dụng một số cây như dứa, chuối, cam quýt, song mật độ so với các nước trên thế giới thì vẫn còn thưa [16]
Tóm lại, muốn trồng cây ăn quả với mật độ dày và siêu dày, chúng ta phải chọn tạo giống các loại cây ăn quả thấp cây, tán gọn kết hợp với đốn tỉa ngay
từ khi cây ở vườn ươm, chọn và nhân nhanh nhiều loại gốc ghép lùn kết hợp với các thành tựu mới về công nghệ sinh học ở nước ta và các nước trên thế giới
2.2.7.2 Bón phân cho nhãn
Theo kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng quả nhãn giống Ô long ling của trường Đại học Phúc Kiến thì mỗi tấn quả tươi cây nhãn phải hút từ đất: 4,0 - 4,8 kg N, 1,46 - 1,58 kg P205 , 7,54 - 8,96 kg K20 Từ những kết quả trên
đã tính toán để lấy một tấn quả tươi cần bón 30 - 35 kg urê, 71 - 86 kg supelân, 30 - 38 kg kalyclorua, trong đó tỷ lệ N: P: K là : 1: 0,6: 2 là tốt nhất, cho sản lượng tăng rõ rệt [56]
Chuẩn đoán dinh dưỡng đất của 15 vườn nhãn ở đồng bằng sông Pearl của Trung Quốc Zhang- fabao, Chen- Jianzhang, Chen-Xiudao (1999) [54] đã cho thấy tất cả các mẫu thử đều thiếu đạm, 93% đất thiếu kaly, can xi, mangan, 36% đất thiếu đồng và môlipđen Thứ tự các yếu tố hạn chế dinh dưỡng đất
đối với nhãn là: N, P, Ca, Mg, S, Zn, Cu, Mn, Mo Điều này chỉ ra rằng đất
40