Những giải pháp chủ yếu nhằm xoá đói giảm nghèo bền vững ở huyện gia bình, tỉnh bắc ninh
Trang 1Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Đói nghèo là hiện tượng xã hội có tính lịch sử ở mọi quốc gia, dân tộc Ngày nay, chống đói nghèo đã trở thành vấn đề toàn cầu Nhiều quốc gia, tổ chức và diễn đàn quốc tế đều lấy hoạt động chống đói nghèo là một trong những mục tiêu quan trọng trong chương trình hoạt động Nếu vấn đề đói nghèo không giải quyết được, thì không một mục tiêu nào mà cộng đồng quốc
tế, quốc gia đặt ra, như hoà bình, ổn định, công bằng xã hội có thể giải quyết
Trong nền kinh tế thị trường, quy luật cạnh tranh đã thúc đẩy nhanh hơn quá trình phát triển không đều, làm sâu sắc hơn sự phân hoá giữa các nhóm dân cư trong mỗi nước cũng như giữa các quốc gia, châu lục Khoảng cách về mức thu nhập của người nghèo so với người giàu ngày càng có xu hướng rộng
ra, nó đang là một vấn đề thời sự đối với toàn cầu
Một trong những thách thức lớn của các nước đang phát triển, nhất là Việt Nam hiện nay là đói nghèo, nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế Vì vậy,
đối với Việt Nam, xoá đói giảm nghèo (XĐGN) trở thành một vấn đề xã hội bức xúc, cần đặc biệt quan tâm, là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài, không chỉ là vấn đề nhân đạo, công bằng xã hội, mà còn là một trong những mục tiêu hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, nhằm nâng
Trang 2cao mức sống cho người dân, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu cơ bản trong hoạt động của mình là giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ mới
đem lại hạnh phúc, ấm no cho mọi người dân, mọi gia đình Việt Nam Từ ngày đầu dựng nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến đói nghèo Người gọi đó là một thứ “giặc”- cùng với giặc đói nghèo, còn có giặc dốt, giặc ngoại xâm đều cần phải diệt, nhằm mang lại cơm no, áo ấm, hạnh phúc cho nhân dân Người chỉ rõ, Đảng và Nhà nước phải tạo điều kiện “làm cho người nghèo đủ ăn Người đủ ăn thì khá, giàu Người khá, giàu thì giàu thêm” [28, tr 303]
Trong những năm đổi mới vừa qua, nền kinh tế nước ta đã có bước phát triển vượt bậc, đời sống của đa số dân cư được cải thiện Công tác XĐGN hơn
10 năm qua đã thu được những thành tựu đáng kể: giảm tỷ lệ hộ đói nghèo trong cả nước từ gần 30% năm 1992, xuống còn 17,7% năm 1997 và năm
2002 chỉ còn 11% (tính theo tiêu chí cũ) Tuy nhiên, đói nghèo ở Việt Nam hiện nay vẫn còn là vấn đề thách thức lớn, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới hiện nay vẫn còn 11,86% (đến tháng 6/2003) [10, tr.24] Đặc biệt tại gần 2000 xã nghèo, khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn chiếm tỷ lệ cao trên 30% Chương trình XĐGN đã được triển khai ở tất cả các địa phương, nhưng có nơi hiệu quả chưa cao Tuy hàng năm số hộ nghèo giảm khoảng 2% nhưng với tiêu chuẩn phân
định nghèo còn thấp, hơn nữa những hộ thoát nghèo vẫn chưa vững chắc, chỉ cần gặp thiên tai, rủi ro nhỏ trong sản xuất kinh doanh và đời sống thì nhiều
hộ lại có thể trở lại nghèo đói (tái nghèo, tái đói) Thực tế cho thấy, biểu hiện của XĐGN chưa vững chắc được thể hiện trên nhiều mặt: xã nghèo, người nghèo chưa có "nội lực" để vươn lên, khi hết chương trình dự án hỗ trợ thì lại trở về nghèo khổ; có nơi tác động của chương trình dự án không đủ tầm giải quyết đói nghèo, không ít nơi không phù hợp thực tế địa phương; có nơi có
Trang 3Trong công tác XĐGN, huyện uỷ, HĐND, UBND huyện cùng các ban ngành đoàn thể, các xã, thị trấn trong huyện đã đề ra nhiều chủ trương và giải pháp chỉ đạo, nên công tác XĐGN trong huyện có nhiều chuyển biến tích cực:
tỷ lệ hộ đói nghèo giảm từ 16,1% năm 2000, xuống còn 13,6% năm 2001 và 11,3% năm 2002, bình quân mỗi năm giảm 2,4% Tuy nhiên, Gia Bình vẫn là huyện có tỷ lệ hộ đói nghèo cao nhất tỉnh (toàn tỉnh tỷ lệ hộ đói nghèo đến 31/12/2002 là 7,7%); việc chỉ đạo chương trình XĐGN còn một số vấn đề bất cập Một số hộ đã thoát khỏi đói nghèo nhưng chưa bền vững, có hộ lại trở lại tái nghèo Trong hai năm 2001- 2002 có 588 hộ trung bình không vươn lên
được hộ giàu mà còn rơi vào tình trạng tái nghèo (chiếm tỷ lệ 2,26% so với tổng số hộ trong huyện), toàn huyện vẫn còn 3 xã khó khăn về mọi mặt
Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX:
“phấn đấu đến năm 2010 về cơ bản không còn hộ nghèo Thường xuyên củng
cố thành quả xoá đói giảm nghèo” [14, tr.211] và định mục tiêu “cơ bản xoá
hộ đói, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 10% vào năm 2005” [14, tr.265] Vì vậy, việc xây dựng luận cứ khoa học, tìm kiếm các giải pháp XĐGN bền vững
ở một huyện còn nhiều khó khăn nhưng đang trên đà phát triển là việc làm có
ý nghĩa thiết thực cấp bách cả về lý luận và thực tiễn Xuất phát từ lý do trên, với sự phân công của Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn của Trường Đại học Nông nghiệp I; đồng thời được sự nhất trí của thầy giáo hướng dẫn, tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Những giải pháp chủ yếu nhằm xoá đói giảm nghèo bền vững ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh”
Trang 41.2 Mục đích của đề tài
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về đói nghèo, phân hoá giàu nghèo, công tác xoá đói giảm nghèo và XĐGN bền vững ở nông thôn trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN hiện nay
- Phân tích, đánh giá thực trạng đói nghèo và công tác XĐGN bền vững ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian qua
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm XĐGN bền vững ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
+ Những giải pháp chủ yếu nhằm XĐGN bền vững ở huyện Gia Bình
- Không gian: vùng nông thôn của 3 xã nghiên cứu, huyện Gia Bình trong mối quan hệ với tỉnh Bắc Ninh
Trang 52 Tổng quan tài liệu
2.1 Những vấn đề chung về đói nghèo trên thế giới
Các quốc gia trên thế giới khác nhau về nhiều mặt: điều kiện địa lý tự nhiên, dân số và trình độ dân trí, phong tục tập quán, bản sắc văn hoá, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ phát triển kinh tế, hệ tư tưởng và chế độ chính trị xã hội Nhưng dù có sự khác biệt đến mấy, vẫn có những điểm chung, những vấn đề bức xúc cần quan tâm giải quyết Một trong những vấn đề lớn đó có tính toàn cầu là đói nghèo Nhiều diễn đàn khu vực và thế giới đã khẳng định,
đói nghèo là vấn đề nổi cộm, bức xúc của xã hội Đói nghèo không còn là vấn
đề riêng của một quốc gia, mà là vấn đề quốc tế Vì vậy, tại Hội nghị thượng
đỉnh thế giới về phát triển xã hội họp tại Copenhagen, Đan Mạch tháng 3 năm
1995, những người đứng đầu các quốc gia đã trịnh trọng tuyên bố: “Chúng tôi cam kết thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo trên thế giới, thông qua các hành động quốc gia kiên quyết và sự hợp tác quốc tế, coi đây như một đòi hỏi bắt buộc về mọi mặt đạo đức xã hội, chính trị, kinh tế của nhân loại” [41, tr.3]
Để hình thành các giải pháp XĐGN, cần thiết phải có quan niệm đúng về
đói nghèo Tuy nhiên, cho đến nay quan niệm về đói nghèo và tiêu chí xác
định có nhiều quan niệm và cách tiếp cận khác nhau
2.1.1 Khái niệm về đói nghèo
Khái niệm về đói nghèo được nêu ra tại Hội nghị bàn về XĐGN ở khu vực châu á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc tháng 9 năm
1993 đưa ra khái niệm như sau: “Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế- xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương” [23, tr.9]
Theo chúng tôi, khái niệm này là phù hợp Một khái niệm có tính chất
Trang 6hướng dẫn về phương pháp đánh giá, nhận diện nét chính yếu, phổ biến về đói nghèo Quan niệm hạt nhân có trong khái niệm này là nhu cầu cơ bản của con người Căn cứ xác định nghèo hay đói là ở chỗ nhu cầu cơ bản ấy, con người không được hưởng và thoả mãn Nhu cầu cơ bản ấy nói lên cái thiết yếu, tối thiểu để duy trì sự tồn tại của con người, như: ăn, mặc, ở Chính vì vậy, khái niệm này đã được nhiều quốc gia trong khu vực chấp nhận và sử dụng trong những năm qua
Theo báo cáo chung của các nhà tài trợ hội nghị tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam tháng 12/2003: nghèo là tình trạng bị thiếu ở nhiều phương diện: thu nhập hạn chế, hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít được tham gia quá trình ra quyết định, cảm giác bị xỉ nhục, không được người khác tôn trọng [7, tr.7]
Tuy nhiên, các tiêu chí và chuẩn mục đánh giá phân loại sự nghèo đói còn phụ thuộc vào từng vùng, từng điều kiện lịch sử nhất định Đói nghèo là hai danh từ có quan hệ mật thiết với nhau, có thể gắn chúng vào thành một từ kép Song nếu tách riêng giữa đói và nghèo để phân tích và nhận dạng, ta cũng thấy giữa đói và nghèo có sự khác biệt về cấp độ và mức độ
- Đói: là một bộ phận của những hộ nghèo, mọi điều kiện không đạt
được mức tối thiểu Đói là một khái niệm biểu đạt tình trạng con người ăn không đủ no, không đủ năng lượng tối thiểu cần thiết để duy trì sự sống hàng ngày và không đủ sức để lao động, để tái sản xuất sức lao động Đây là trường hợp đói gay gắt kinh niên là tình trạng thiếu ăn thường xuyên Đói thường đi liền với thiếu chất dinh dưỡng- suy dinh dưỡng, dễ thấy nhất là ở phụ nữ và trẻ
Trang 7bệnh tật rơi vào cùng cực, không có gì để sống, không có lương thực, thực phẩm để ăn, có thể dẫn tới cái chết, thì đó là trường hợp đói gay gắt cấp tính, cần phải được cứu trợ khẩn cấp kịp thời Như vậy, về cấp độ có sự khác nhau
là thiếu đói và đói gay gắt
+ Thiếu đói: là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối thiểu, chỉ đủ khả năng đảm bảo có được số lương thực bữa đói, bữa no và
có khi đứt bữa dài 1-3 tháng Con người chỉ được thoả mãn mức 1500-2000 calo/người/ngày
+ Đói gay gắt: là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối thiểu, chịu đói ăn, chịu đứt bữa từ 3 tháng trở lên Mức calo cung cấp
ở dưới mức 1500 calo/người/ngày
- Nghèo: Là tình trạng của một bộ phận dân cư chỉ có các điều kiện vật
chất và tinh thần để duy trì cuộc sống của gia đình họ ở mức sống tối thiểu trong điều kiện chung của cộng đồng Mức sống tối thiểu ở đây được hiểu là các điều kiện ăn, ở, mặc và các nhu cầu khác như văn hoá, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp chỉ đạt mức duy trì cuộc sống rất bình thường và dưới đó là sự nghèo khổ Nghèo luôn luôn là dưới mức trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện Giữa mức nghèo và mức trung bình thường có khoảng cách
từ ba lần trở lên
Để phân biệt một cách chi tiết hơn, các nước còn phân chia thành hai loại là: nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối
Nghèo tuyệt đối: “Là tình trạng của một số bộ phận dân cư không có khả
năng thoả mãn những nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống” [16] Nó là tình trạng con người không có ăn, không đủ lượng dinh dưỡng tối thiểu, cần thiết Theo quy định của Ngân hàng Thế giới, nhu cầu dinh dưỡng đối với các nước Đông Nam á phải đạt số lượng là 2.100 calo/người/ngày [2, tr.5] Quy
định này cũng trùng với quy định của Tổng cục Thống kê Việt Nam về xác
định ngưỡng nghèo dựa trên chi phí cho một giỏ tiêu dùng bao gồm lương
Trang 8thực và phi lương thực [7, tr.7] Như vậy, nghèo tuyệt đối, biểu hiện chủ yếu thông qua tình trạng một bộ phận dân cư không được thoả mãn các nhu cầu tối thiểu, trước hết là ăn gắn liền với dinh dưỡng Ngay nhu cầu này cũng có sự thay đổi, khác biệt từng quốc gia Phạm trù “nhu cầu tối thiểu” cũng được mở rộng dần
Trên thực tế, bộ phận dân cư nghèo tuyệt đối rơi vào tình trạng đói và thiếu đói Đó là bộ phận dân cư chỉ bảo đảm được mức lương thực bữa no, bữa
đói, có khi dứt bữa tới 3 tháng trở lên
Nghèo tương đối: Là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống
dưới mức trung bình của cộng đồng ở một thời kỳ nhất định Nghèo tương đối phát triển theo không gian và thời gian nhất định, tuỳ thuộc vào mức sống chung của xã hội Như vậy, nghèo tương đối gắn liền với sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân cư so với mức sống trung bình của địa phương
ở một thời kỳ nhất định
Từ những đánh giá trên, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc xoá dần nghèo tuyệt đối là công việc có thể làm, còn nghèo tương đối là hiện tượng thường có trong xã hội và vấn đề cần quan tâm là rút ngắn khoảng cách chệnh lệch giàu nghèo, và hạn chế sự phân hoá giàu nghèo
Đói nghèo là một khái niệm động, phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế- xã hội, lịch sử, mức độ tăng trưởng kinh tế và nhu cầu phát triển của con người
ở một thời điểm, một vùng, một quốc gia là đói nghèo, nhưng sang một thời
điểm khác, vùng khác, quốc gia khác chỉ số đó không còn phù hợp Do đó, rất khó quy định hợp lý một chuẩn mực chung nhất về đói nghèo cho tất cả mọi quốc gia, ngay trong một quốc gia cũng có thể khác nhau giữa các vùng, giữa các thời kỳ
- Nước nghèo
Một quốc gia được coi là nghèo khổ khi thu nhập thực tế bình quân người còn thấp, nguồn lực hạn hẹp, cơ sở hạ tầng và môi trường yếu kém, có vị trí
Trang 9không thuận lợi trong giao lưu với cộng đồng quốc tế
Thực tế, khái niệm có thể không thống nhất, đối với từng quốc gia khác nhau sẽ có chuẩn mực đánh giá khác nhau Vì thế, trên cơ sở thống nhất chung về mặt định tính, cần phải xác định thước đo mức đói nghèo của mỗi quốc gia
Công thức tính quy mô nghèo của vùng hoặc quốc gia là:
Quy mô nghèo Tổng số hộ nghèo đói của vùng hoặc quốc gia của vùng hoặc =
quốc gia Tổng số hộ dân cư của vùng hoặc quốc gia
2.1.2 Chỉ tiêu và chuẩn mực đánh giá về đói nghèo của thế giới
Quan điểm của thế giới khi xác định nghèo đói thường được xem xét theo 4 khía cạnh: thời gian, không gian, giới tính và môi trường
- Về thời gian: Phần lớn người nghèo là những người có mức sống dưới
mức tối thiểu ”chuẩn” trong một thời gian dài Tuy nhiên, cũng có những người nghèo “tình thế” trong một khoảng thời gian nhất định chẳng hạn như những người thất nghiệp, những người nghèo do suy thoái kinh tế hoặc do thiên tai, dịch hoạ, tệ nạn xã hội, rủi ro v.v
- Về không gian: Nghèo đói diễn ra chủ yếu ở nông thôn- nơi có 3/4 dân
số sinh sống Tuy nhiên, tình trạng nghèo đói ở thành thị, trước hết là ở các nước đang phát triển cũng có xu hướng gia tăng
- Về giới tính: Người nghèo là phụ nữ đông hơn nam giới Nhiều hộ gia
đình nghèo nhất do phụ nữ là chủ hộ và phần lớn các gia đình có phụ nữ làm chủ hộ thường là những hộ nghèo Ngay trong các hộ nghèo đói do đàn ông làm chủ hộ thì phụ nữ vẫn khổ hơn nam giới
- Về môi trường: Phần lớn người thuộc diện đói nghèo đều sống ở những
Trang 10vùng sinh thái khắc nghiệt, nơi mà lũ lụt, hạn hán luôn đe doạ đến sản xuất kinh doanh và đời sống của họ
Chỉ tiêu đánh giá sự nghèo đói trến thế giới dựa vào nhiều phương pháp khác nhau Đánh giá chuẩn mực đói nghèo phụ thuộc vào mức sống chung của từng vùng, của từng quốc gia và phụ thuộc vào quan điểm của từng nhà nghiên cứu Đồng thời nó tuỳ thuộc chủ yếu vào các điều kiện kinh tế- xã hội, phong tục tập quán của từng quốc gia, từng địa phương, phụ thuộc vào các yếu tố khách quan, song trong đó có một phần yếu tố chủ quan của các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách Xác định giàu nghèo có thể căn cứ vào chính mức sống của hộ nông dân, như ăn, mặc, ở, mức chi tiêu, mức thu nhập trong ngày
Đối với từng quốc gia, hiện nay Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra các tiêu chí đánh giá mức độ giàu nghèo của các quốc gia bằng thu nhập bình quân đầu người theo 2 phương pháp tính:
- Phương pháp ATLAS, tức là theo tỷ giá hối đoái, tính theo USD
- Phương pháp PPP (Purchasing Power Parity) là phương pháp sức mua tương đương, cũng tính theo USD
Từ đó, ở cấp quốc gia, WB chia các quốc gia trên thế giới thành 4 nhóm:
- Nhóm các nước nghèo nhất
- Nhóm các nước có trình độ trung bình
- Nhóm các nước có thu nhập khá cao
- Nhóm các nước có thu nhập cao và rất cao
Theo phương pháp thứ nhất, người ta phân biệt thành 6 loại về sự giàu nghèo của các nước (lấy theo mức thu nhập năm 1990), cụ thể như sau:
- Trên 25.000 USD/người/năm là nước cực giàu
- Từ 20.000 đến dưới 25.000 USD là nước giàu
- Từ 10.000 đến dưới 20.000 USD là nước khá giàu
- Từ 2.500 đến dưới 10.000 USD là nước trung bình
Trang 11- Từ 500 đến dưới 2.500 USD là nước nghèo
- Dưới 500 USD là nước cực nghèo [18, tr.170]
Với cách tính này, hiện nay trên thế giới có khoảng 1,12 tỷ người (20% dân số) đang sống trong tình trạng nghèo đói Tùy theo mỗi nước, đưa ra cho mình một chuẩn mực nghèo, khổ khác nhau:
Bảng 2.1: Thu nhập bình quân đầu người của một số nước châu á năm 2002
Đơn vị tính: USD/người/năm
Tên nước
Thu nhập bình quân đầu người Tên nước
(Nguồn: Niên giám thống kê tóm tắt 2003[32, tr.103-109])
Các nước phát triển: lấy nước Mỹ làm đại diện cho các nước phát triển thì, năm 1992 một người có thu nhập bình quân dưới 852 USD/năm là người nghèo khổ
Các nước đang phát triển cũng đưa ra cho mình một chuẩn mực riêng: Ma-lai-xi-a: 28 USD/người/tháng; In-đô-nê-xi-a: 6 USD/người/tháng; Phi-lí-pin: 7 USD/người/tháng; Băng-la-đét: 11 USD/người/ tháng; Pa-ki-xtan:
6 USD/người/tháng [26, tr.95]
Như vậy, ta thấy tiêu chí phổ biến để đo mức độ, trình độ phát triển chung của một quốc gia là thu nhập bình quân/ người Một số nhà nghiên cứu
Trang 12cho rằng, chỉ căn cứ vào chỉ tiêu thu nhập thì chưa đủ để đánh giá Vì vậy, bên cạnh chỉ tiêu này, Tổ chức Hội đồng Phát triển hải ngoại (ODC) đưa ra chỉ số chất lượng vật chất của cuộc sống (PQLI) Căn cứ để đánh giá chỉ số PQLI gồm 3 chỉ tiêu cơ bản: tuổi thọ, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh, tỷ lệ xoá mù chữ Gần đây Liên hợp quốc còn đưa ra tiêu chí phản ảnh mức sống của con người
là thành tựu y tế, xã hội, trình độ văn hoá, giáo dục, mà tổng hợp là chỉ số phát triển con người (HDI), giá trị của HDI trong khoảng (0,1)
Tóm lại, sự kết hợp chỉ tiêu GDP, HDI, PQLI cho phép ta nhìn nhận các
nước giàu nghèo một cách chính xác và khách quan hơn
Ngoài các tiêu chí đánh giá trên, người ta còn sử dụng hệ số Gini để đo
sự công bằng hay bình đẳng giữa người giàu và người nghèo Hệ số Gini do Gini đề xuất năm 1936 để nhận biết sự bất bình đẳng Hệ số Gini là một trong các chỉ số thông dụng nhất của phân bố thu nhập Gini nhận giá trị từ 0 đến 1
và tăng cùng với mức độ của sự bất bình đẳng Gini càng nhỏ thì càng có sự công bằng Nó có giá trị 0 trong trường hợp có sự bình đẳng tuyệt đối và nhận giá trị 1 trong trường hợp có sự bất bình đẳng tuyệt đối
Theo tính toán của các chuyên gia kinh tế, thì hệ số Gini của Thái Lan năm 1981 là 0,453, năm 1998 là 0,479; In-đô-nê-xia năm 1990 là 0,321, năm
1993 là 0,3335, năm 1996 là 0,356; Phi-lí-pin năm 1971 là 0,478, năm 1985 là 0,446, năm 1988 là 0,445; ở Việt Nam, năm 1994 là 0,3730, năm 1995 là 0,3599, năm 1996 là 0,3671 [40, tr.2-4] Đến năm 1999, ở Việt Nam hệ số Gini là 0,39, năm 2002 đã tăng lên 0,42 [2, tr.22]
Ngân hàng Thế giới đưa ra nhận xét: đối với nước có thu nhập thấp, hệ số Gini biến động từ 0,3 đến 0,5; đối với nước có thu nhập trung bình, hệ số Gini
từ 0,4 đến 0,65 và đối với nước có thu nhập cao thì hệ số Gini từ 0,2 đến 0,4
Từ đó, Ngân hàng Thế giới cũng đưa ra nhận xét, hệ số Gini tốt thường xoay quanh 0,3
Hệ số Gini được tính toán trên cơ sở đường cong Lorenz (Hình 2.1) Khi
Trang 13nghiên cứu mức độ bình đẳng về xã hội và kinh tế, đánh giá giữa khoảng cách
về thu nhập, giữa phần thu nhập của 20% lớp người có thu nhập cao nhất (gọi
là lớp người giàu) chiếm giữ và phần thu nhập của 20% lớp người có thu nhập thấp (gọi là lớp người nghèo) trong xã hội chiếm giữ để biết sự bất bình đẳng hay công bằng xã hội
% thu nhập cộng dồn (100%)
a
b
% dân số cộng dồn (100%)
2.1.3 Nghèo đói trên thế giới và kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về xoá đói giảm nghèo bền vững
2.1.3.1 Tình trạng nghèo đói trên thế giới và nguyên nhân nghèo đói
Thế giới ngày nay đã và đang phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực, do
sự tác động và ảnh hưởng to lớn của cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật, công nghệ, cùng nhiều yếu tố khác của thời đại Tuy nhiên, đói nghèo vẫn là một
Trang 14vấn đề quan tâm của cả nhân loại Toàn thế giới hiện nay có khoảng 1,2 tỷ người nghèo đói, chiếm 1/4 dân số thế giới Châu á, châu Phi và châu Mỹ La tinh có số lượng nghèo đói lớn nhất (châu á gần 800 triệu người, châu Phi gần
500 triệu người, Mỹ La tinh khoảng 75 triệu người) Bôlivia là nước chiếm tỷ
lệ cao nhất (97%) về số người sống dưới mức nghèo khổ ở những vùng nông thôn Khu vực Nam á là nơi chậm phát triển nhất thế giới- số dân nghèo khổ chiếm tới 40% và cũng tập trung chủ yếu ở nông thôn Hậu quả của tình trạng nghèo đói này là thất học, bệnh tật phổ biến Theo số liệu thống kê chưa đầy
đủ, các quốc gia khu vực Nam á có ít nhất 375 triệu người lớn mù chữ, 130 triệu trẻ em ở độ tuổi đi học không có cơ hội đến trường [33, tr.22] Còn theo
ước tính của FAO, hiện có tới 780 triệu người ở các nước thế giới thứ ba thiếu
ăn và nghèo khổ cao hơn toàn bộ dân số châu Âu, Bắc Mỹ, Mỹ La tinh, Nam Xa-ha-ra
Bảng 2.2: Tỷ lệ người nghèo ở các khu vực trên thế giới
Trang 15Người nghèo đói không chỉ ở nông thôn mà ở thành thị cũng chiếm một
tỷ lệ đáng kể, xu hướng chung đang tăng dần, bởi vì ngoài dân nghèo thành thị còn có người nghèo đói từ nông thôn tràn vào đô thị tìm việc làm, họ không
có nhà ở, việc làm và thu nhập không ổn định, không được hưởng các dịch vụ
y tế, văn hoá Đối với nhiều quốc gia, đây còn là môi trường làm cho tiêu cực
và tệ nạn xã hội phát triển Điều đáng chú ý là đa số người nghèo đói là phụ nữ, trẻ em, tình trạng suy dinh dưỡng, thất nghiệp, mù chữ, dịch bệnh lây lan, môi trường sinh thái ô nhiễm nghiêm trọng, tuổi thọ và trí lực giảm sút Sự chênh lệch giàu nghèo giữa các nước ngày càng lớn, dẫn tới các nước nghèo bị các nước giàu chi phối, lệ thuộc, bất bình đẳng trong quan hệ quốc tế Theo số liệu của Liên hợp quốc (1992), trên thế giới có 42 nước nghèo nhất và riêng châu Phi có 32 nước nằm trong tình trạng này [33, tr.24]
Theo số liệu thống kê của UNDP, tính đến hết năm 2000, toàn thế giới có
48 nước bị xếp vào những nước kém phát triển nhất (Bảng 2.3)
Theo một đánh giá khác, 50 nước nghèo nhất thế giới có số dân bằng 1/5 dân số thế giới hầu hết ở châu Phi Thu nhập của họ đã tụt xuống ở mức chỉ còn 2% thu nhập của thế giới [34]
Bên cạnh một bộ phận dân cư nghèo đói, điều đáng quan tâm là chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa các nước giàu với nước nghèo, giữa các nhóm dân cư ở hầu hết các quốc gia trên thế giới ngày càng tăng Báo cáo thường kỳ của tổ chức quốc tế tại Paris, từ năm 1994 đã cho thấy sự phân biệt giàu nghèo ngày càng tăng trên thế giới [19]
- Số người giàu có mức sống, mức thu nhập cao gấp 69 lần người nghèo
- Những nước có thu nhập trên đầu người dưới mức 370 USD được coi là nghèo ngày càng tăng, hàng năm có tới 200 triệu người, trong số những người nghèo có tới 70% là phụ nữ
- Tại các nước giàu như Hoa Kỳ và các nước phát triển ở châu Âu cũng
có tới 15% số người sống dưới mức nghèo khổ
Trang 16Bảng 2.3: Danh sách 48 nước kém phát triển nhất
Gibuti Gămbia Haiti Lêxôthô
Malavy Môritani Nêpal Xamoa Xalômông Tôgô
Tadania Dămbia
Buốckina Pharô
Ănggôla Cáp Ve Cômo Ghinê Xích đạo Ghinê
Kiri bati Liberia Manđivơ
Môdămbích Nigiê
Xao Tômê Prixnipee Xômali Tuvalu Vanuatu
(Nguồn: Tạp chí Thông tin lý luận số 12/2000)
Cũng theo UNDP, năm 1997 chênh lệch về thu nhập giữa 2 nhóm giàu/nghèo lên tới 74 lần [25, tr.49]
ở Anh, chỉ 5% số người giàu đã chiếm 50% tổng thu nhập cá nhân của cả nước ở Mỹ, trong thập kỷ 80, có thêm 4 triệu trẻ em rơi vào cảnh nghèo
đói, mặc dầu mức thu nhập của nền kinh tế đã tăng lên hơn 20% ở Liên minh châu Âu (EU), khu vực gồm hầu hết các nước giàu thì số người nghèo cũng tăng từ 38 triệu người năm 1975 lên 52 triệu người năm 1988 [36, tr.48] ở
Trang 17nhiều quốc gia, phân hoá giàu nghèo làm tăng bất công xã hội và chuyển thành đối kháng lợi ích Ngày nay, trong toàn bộ hệ thống tư bản chủ nghĩa chênh lệch thu nhập, bất công xã hội tăng lên: 20% số người giàu nhất chiếm 82,7% thu nhập; 20% số người nghèo nhất chiếm 1,4% thu nhập [17, tr.13] Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới năm 2000 về “Tấn công nghèo
đói” [39], trong 6 tỷ người trên thế giới hiện nay thì có khoảng 2,8 tỷ người, gồm một nửa sống một ngày với mức chi tiêu bình quân dưới 2 đô la và khoảng 1,2 tỷ người có mức chi tiêu chưa đến 1 đô la một ngày
Hình 2.2 cho thấy, sự phân bố dân cư sống dưới mức chi tiêu 1 đô la một ngày rất khác nhau giữa các vùng trên thế giới
Đông á thái bình dương 23.2%
Trung Đông - Bắc Phi 0.5%
Châu mỹ la tinh - Carribe 6.5%
Châu âu- Trung á 2.0%
Tiểu vùng sa mạc - châu Phi 24.3%
Nam á 43.5%
(Nguồn: Ngân hàng Thế giới năm 2000, [11])
Hình 2.2: Phân bố dân cư thế giới sống dưới 1 USD một ngày (1,2 tỷ người)
Cũng theo báo cáo này của Ngân hàng Thế giới cho biết, số người ở
Đông á sống dưới 1 đôla một ngày giảm từ 420 triệu người năm 1987 xuống còn 280 triệu năm 1998 mặc dù chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Trong khi đó, ở các vùng như châu Mỹ La tinh, Nam á và tiểu vùng Sa mạc Sa-ha-ra- châu Phi thì số người nghèo đang gia tăng Những bằng chứng
Trang 18này đã khẳng định một thực tế là, cùng với sự phát triển và tiến bộ theo thời gian thì nghèo đói vẫn tồn tại ở mọi nơi, từ nước phát triển cao cho đến nước kém phát triển nhất, cho dù cuộc chiến chống nghèo đói đã được phát động toàn cầu
Nếu căn cứ vào 5 mức giàu nghèo khác nhau, nghĩa là theo thu nhập và phân chia toàn bộ dân số thế giới ra 5 nhóm bằng nhau, mỗi nhóm chiếm 20% dân số thế giới Mỗi nhóm dân số tương ứng với một mức độ chiếm hữu của cải vật chất và trình độ phát triển nhất định, thì sự phân hoá hiện rõ tình trạng bất bình đẳng
Các chỉ tiêu được chọn để mô tả trong biểu đồ tại Hình 2.3 là GNP (tổng sản phẩm quốc dân), tích luỹ, đầu tư và thương mại quốc tế Nếu coi toàn bộ thế giới theo từng chỉ tiêu là 100% thì bức tranh ấy sẽ là: 20% dân số giàu nhất thế giới chiếm dụng 87,5% GNP, 84,0% tích luỹ, 85% đầu tư và 90% thương mại quốc tế; 20% dân số nghèo nhất chiếm các chỉ tiêu tương ứng là 1,4%, 0,9%, 0,7% và 0,9% Rõ ràng là một nhóm người thì có tất cả, còn nhóm kia coi như không có gì Hai thái cực giàu nghèo đến mức thật là nghiệt ngã
(Nguồn: Nghèo đói và xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam, [1])
Hình 2.3: Bức tranh phân phối sự bất công của thế giới hiện đại
Trang 19Cũng theo số liệu thống kê khảo sát xã hội học, hiện trạng đói nghèo đi liền với bất công xã hội đang diễn ra ở nhiều nước: ở Hồng Kông, Ma-lai-xi-a, Phi-li-pin, Xin-ga-po, Xri-lanca: 20% người nghèo có thu nhập thấp chỉ nhận
được 5% tổng thu nhập, trong khi đó 20% người giàu có thu nhập cao nhất nhận được 47% tổng thu nhập ở Hồng Kông, 51% ở Ma-lai-xi-a, 48% ở Phi-li-pin, 49% ở Xin-ga-po, 56% ở Xri-lanca
ở Đông Âu vào đầu thập kỷ 90, trong bối cảnh rối loạn và xung đột xã hội, kinh tế suy thoái và lạm phát, gần 50% số dân Rumani (11 triệu người) phải sống dưới mức nghèo khổ; ở Balan có 42% số gia đình có mức thu nhập tối thiểu Châu Phi có 548 triệu dân đã có 204 triệu người nghèo khổ, trong đó
có 35 triệu người đứng trước nguy cơ chết đói nếu không được cứu hộ Xômali, với 72 triệu dân đã có 30 vạn chết vì đói và nội chiến, 415 triệu người
đang bị nạn đói đe doạ trong cuộc khủng hoảng chính trị [18, tr.170]
Nếu cuối những năm 80, toàn thế giới có 147 nhà tỷ phú USD, thì sau nửa thế kỷ đã tăng lên 274 nhà tỷ phú, và hiện nay khi bước sang thiên niên kỷ mới số nhà tỷ phú đã có khoảng 450 người Điều đáng nói là tổng tài sản của
450 nhà tỷ phú này đã nhiều hơn thu nhập hàng năm của khoảng 50% dân số toàn thế giới Các nhà nghiên cứu phương tây cũng đã thừa nhận rằng, giai
đoạn toàn cầu hoá nền kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ tiên tiến đang là cơ hội béo bở để các nhà tỷ phú kiếm tiền nhanh hơn và xuất hiện thêm nhiều tỷ phú mới (thể hiện tại Bảng 2.4)
Bên cạnh đó, tình trạng cùng cực đang đè nặng lên đầu của 2/3 dân số thế giới Trong một vài năm gần đây, thu nhập thực tế của 1,6 tỷ người (chiếm 1/4 dân số thế giới) đã bị giảm đi Trong vòng 30 năm lại đây, khoảng cách giàu nghèo tăng thêm 2 lần Ngay ở nước Anh, thu nhập thực tế của 10% dân
số nghèo nhất bị giảm đi 20% trong thời gian 1979- 1993; trong khi đó, thu nhập thực tế của 10% dân số giàu nhất tăng lên 61% Vào những năm cuối
Trang 20của thế kỷ XX, tình trạng phân hoá giữa người giàu và người nghèo còn tồi tệ hơn
áchentina Côlômbia Tây Ban nha Ixraen
777655443333
Thổ Nhĩ Kỳ
ấn Độ
Hà Lan Nam Phi Libăng Vênêxuêla Lúcxămbua Ailen
ôxtrâylia
Êcuađo Pêru Các nước khác
3332321111131
(Nguồn:nghèo đói và vấn đề xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam [1])
Bức tranh thế giới đầy dãy bất công, bất bình đẳng, phân biệt vẫn còn hiện hữu, vẫn còn có sự áp đặt của số người giàu có đối với số đông người nghèo khổ, của quốc gia giàu đối với quốc gia nghèo
Về nguyên nhân nghèo đói trên thế giới:
Nghèo đói là hiện tượng xuất hiện từ lâu trong xã hội Đã hàng trăm năm nay, nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng lý giải hiện tượng nghèo đói, nhất là nguyên nhân và cách khắc phục Có thể nói, tiếp cận nguyên nhân nghèo đói
và phân hoá giàu nghèo rất đa dạng Có nhà nghiên cứu tiếp cận nguyên nhân nghèo đói và phân hoá giàu nghèo chủ yếu từ khía cạnh nhân chủng học hoặc dân số học; đồng thời cũng xuất hiện nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận cả nguyên nhân về tự nhiên, kinh tế, chính trị và xã hội
Người có công trình nghiên cứu về nguyên nhân nghèo đói chủ yếu dựa
Trang 21vào dân số- xã hội thường được nhắc đến đầu tiên là Mantuýt Theo Mantuýt, lượng của cải từ sản xuất tăng chậm, theo cấp số cộng; còn dân số thì tăng quá nhanh, theo cấp số nhân Do đó, nghèo đói là hệ quả tất yếu của nguyên nhân dân số tăng nhanh Từ đó theo Mantuýt, muốn giảm nghèo đói, tất yếu phải chấp nhận bệnh dịch, chiến tranh Tuy quan điểm của Mantuýt mang yếu tố phản động, nhưng cũng đã cảnh báo cho loài người, nhất là các nước đang phát triển, phải chủ động trong việc phát triển dân số và phải xem hạ thấp tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là yêu cầu bắt buộc đề hạn chế nghèo đói
C Mác (1818- 1883) và M weber (1864- 1920) được xem như là “hai nhà khổng lồ về lý thuyết phân tầng xã hội” [17, tr.14] Lý giải về nguyên nhân phân tầng xã hội và giàu nghèo giữa C Mác và M weber có những kết luận khác nhau Theo C Mác, nguyên nhân cơ bản, sâu xa nhất dẫn đến phân hoá giai cấp, phân hoá giàu nghèo là có hoặc không có quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất Cũng theo C Mác, sự khác biệt về thu nhập giữa những người lao động còn do sự khác nhau về trình độ nghề nghiệp và hiệu quả lao động Còn M weber, đặc biệt nhấn mạnh nguyên nhân uy tín và quyền lực Khác với C Mác, M weber cho rằng nguyên nhân cơ bản dẫn đến giàu nghèo và phân tầng xã hội là khả năng thị trường của từng thành viên trong xã hội Tuy thừa nhận những khía cạnh hợp lý về quan niệm của M weber, nhưng nhiều nhà khoa học tư sản cũng phê phán đánh giá "Những tiếp cận của M weber
có xu hướng tập trung vào công việc mà coi nhẹ của cải như một yếu tố cốt yếu của cấu trúc giai cấp” [17, tr.12] Nhiều nhà xã hội học hiện đại khái quát
3 nhóm nhân tố liên quan đến giàu nghèo là tài sản, trí tuệ, uy tín và quyền lực Theo Robert Chamber, những bất lợi của người nghèo gồm 5 yếu tố, đó là nghèo nàn, yếu kém về thể chất, dễ bị tổn thương, bị cô lập và vô quyền [37] Tuy nhiên, theo nhiều nghiên cứu, nguyên nhân dẫn đến nghèo đói thường tiếp cận thành 2 nhóm: nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan
Trang 22Khi phân tích nguyên nhân khách quan thường nhấn mạnh lý do chung, môi trường, những tác nhân “bên ngoài” người nghèo đói như: hậu quả chiến tranh, thiếu tư liệu sản xuất, thiên tai, mặt trái của kinh tế thị trường, thiếu sót trong chính sách của Nhà nước, gặp rủi ro v.v ; về nguyên nhân chủ quan thường do thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, sinh đẻ nhiều, chi tiêu không có kế hoạch, mắc các tệ nạn xã hội v.v Một số cá nhân và tổ chức, khi nghiên cứu nguyên nhân nghèo đói đã xem xét nguyên nhân ở 2 cấp
độ: cấp cộng đồng và cấp hộ gia đình ở cấp cộng đồng, các nguyên nhân thường được nhắc đến là: khí hậu khắc nghiệt, sự cách biệt về địa lý, hậu quả chiến tranh, khủng hoảng kinh tế- xã hội ; còn cấp hộ gia đình gồm những nguyên nhân như thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, sinh đẻ nhiều, thiếu đất đai, bệnh tật, bị rủi ro riêng Nói đến nguyên nhân của sự nghèo đói, rất khó phân biệt nguyên nhân nào là cái bắt đầu gây ra tình trạng nghèo đói Tuy nhiên, dù tiếp cận nguyên nhân như thế nào, chúng ta đều thấy
sự phân biệt các nguyên nhân có tính chất tương đối và giữa các nguyên nhân
có quan hệ chặt chẽ với nhau Muốn XĐGN bền vững thì phải giải quyết được tất cả các nguyên nhân đó
2.1.3.2 Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về xoá đói giảm
nghèo bền vững
Bối cảnh tình hình thế giới và khu vực từ những thập niên gần đây của thế kỷ XX đã đặt các quốc gia, dân tộc, trong đó có Việt Nam trước những yêu cầu bức xúc để tồn tại và phát triển Một mặt giữ vững được nền độc lập, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, duy trì nền hoà bình và ổn định chính trị- xã hội; mặt khác, có sự phát triển hưng thịnh về kinh tế- văn hoá để nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống của dân cư Thách thức của sự phát triển và yêu cầu tìm kiếm các giải pháp, các mô hình phát triển bền vững đặt ra đối với mỗi quốc gia, mỗi khu vực ngày càng lớn, mà trước hết là vượt ra khỏi ngưỡng nghèo khổ, đủ sức bứt lên trong hội nhập, tránh nguy cơ tụt hậu và ngày càng
Trang 23lạc hậu
Kinh nghiệm tổng quát bao trùm mà nhiều nước trên thế giới và khu vực
đã thực hiện có hiệu quả, đó là áp dụng những can thiệp vĩ mô thuộc về vai trò quản lý kinh tế- xã hội của Nhà nước để chống đói nghèo, XĐGN từng bước
có hiệu quả Điểm mấu chốt trong kinh nghiệm của các nước này là Nhà nước kịp thời có những giải pháp và chính sách đúng đắn, đồng bộ; đồng thời bảo
đảm được những điều kiện để thực thi Những giải pháp và chính sách đó hướng vào phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế, thực hiện cải thiện mức sống dân cư, gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội Về mặt
lý thuyết, ý tưởng nằm ở vị trí chủ đạo của mọi chiến lược phát triển và mọi chương trình kế hoạch quản lý xã hội của Nhà nước Về mặt thực tiễn xã hội, bài học kinh nghiệm này cho thấy tầm quan trọng thiết thực của các chính sách hỗ trợ phát triển cho người nghèo bằng cách tạo việc làm và tăng thu nhập thực tế cho họ, tạo cho họ cơ hội và trợ giúp các điều kiện để tự mình thoát ra khỏi đói nghèo Đây là phương thức cơ bản và lâu dài, vì không thể giải quyết đói nghèo trên quy mô xã hội và cộng đồng dân cư chỉ bằng cách tự cứu, cứu tế đơn thuần Cũng không thể giản đơn cắt bớt thu nhập của người giàu để phân phối cho người nghèo Biện pháp này có tính chất thụ động, gây hậu quả tiêu cực, tạo tâm lý chờ đợi, ỷ lại vào Nhà nước và làm suy giảm nhân
tố kích thích đối với người lao động, làm triệt tiêu động lực phát triển của sản xuất, của hoạt động kinh tế Lẽ dĩ nhiên, việc điều tiết xã hội qua thu nhập, phân phối để khắc phục những sự phân hoá giàu nghèo bằng những chính sách hợp lý (thuế thu nhập đối với những người có thu nhập cao, thu nhập bất thường), tăng quỹ phúc lợi xã hội là cần thiết và được coi trọng vì mục đích công bằng xã hội
Kinh nghiệm cho thấy, Nhà nước không nên can thiệp trực tiếp tới hộ nghèo, mà chỉ thông qua các chính sách tạo môi trường kinh tế- xã hội thuận lợi để hỗ trợ phát triển cho người nghèo
Trang 24Cùng với Nhà nước, các tổ chức, đoàn thể, hiệp hội, các doanh nghiệp các tổ chức phi Chính phủ cần phối hợp và tham gia trực tiếp vào quá trình xã hội hoá chương trình XĐGN Các tổ chức này có thể làm được nhiều việc hữu ích, như cung cấp tư vấn sản xuất, kinh doanh, cho vay các món vay nhỏ
để sản xuất kinh doanh, dịch vụ, dạy nghề và chuyển giao công nghệ mới phù hợp cho người nghèo Vốn và công nghệ là 2 yếu tố rất cơ bản mà các tổ chức này hướng tới, là các giải pháp quan trọng làm chuyển đổi tình trạng nghèo
đói của các hộ Ngoài ra, cần lựa chọn công nghệ thu hút nhiều lao động và phát triển doanh nghiệp tại vùng nghèo Những kinh nghiệm nêu trên cũng chính là những giải pháp cơ bản để góp phần XĐGN bền vững ở mỗi quốc gia trong thời gian qua
Có thể nói, cuộc đấu tranh chống đói nghèo đang ngày càng được chú trọng và trở thành vấn đề bức xúc của mọi quốc gia Tuy nhiên, cho đến nay,
từ việc quan niệm về đói nghèo cũng như cách giải quyết, lựa chọn biện pháp XĐGN cũng khác nhau đối với mỗi quốc gia dân tộc Trong mấy thập kỷ gần
đây, nhiều nước phát triển và đang phát triển rất chú trọng đến công tác XĐGN Các diễn đàn quốc tế và khu vực về đói nghèo ở Ma-lai-xi-a, Côpenhagen, Bắc Kinh đều đưa vấn đề đói nghèo vào nội dung chính của chương trình nghị sự Riêng các nước Đông Nam á, đói nghèo đã được bàn bạc, tranh luận thường xuyên trong 2 thập kỷ nay Một số quốc gia như Phi-lí-pin, In-đô-nê-xi-a đã xây dựng được chương trình quốc gia về XĐGN Trong hợp tác song phương, Cộng hoà Liên bang Đức đã rất chú trọng mục tiêu XĐGN trong chính sách hợp tác quốc tế Nhiều tổ chức quốc tế trong hoạt
động của mình đã và đang quan tâm đến các nước nghèo và dân nghèo Thậm chí, nhiều trường hợp trong viện trợ, cho vay, các tổ chức quốc tế đã giành riêng cho mục tiêu XĐGN Ngoài việc giúp đỡ vốn, Ngân hàng Thế giới có phân biệt trong chính sách dựa vào mức thu nhập của từng quốc gia Nhiều nước có số dân đông nhất thế giới như Trung Quốc, ấn Độ đã gắn phát triển
Trang 25kinh tế- xã hội với XĐGN và đã thành công trong lĩnh vực XĐGN, coi đó là yếu tố phát triển bền vững
Có thể nói, ở tầm quốc gia, trên thế giới xuất hiện nhiều mô hình khác nhau ở đây không có điều kiện trình bày trực tiếp về kinh nghiệm XĐGN của tất cả các quốc gia Vì mỗi quốc gia có những kinh nghiệm đặc thù Tuy nhiên, có một nét chung nhất để XĐGN bền vững thì phải có sự nỗ lực từ phía bản thân người nghèo, hỗ trợ của cộng đồng, quốc gia và quốc tế Sau đây là kinh nghiệm của một số nước:
- ở Vương quốc Thuỵ Điển: Đã có thời kỳ, Thuỵ Điển phát triển theo mô
hình Nhà nước phúc lợi chung Đặc trưng cơ bản của mô hình này là Nhà nước rất coi trọng và có vai trò quan trọng trong phân phối Năm 1995, chi tiêu của Chính phủ đạt mức 65% thu nhập quốc dân, trong lúc đó, ở các nước khác mức chi tiêu trên chỉ đạt 33- 52% [35, tr.33] Chính phủ Thuỵ Điển đã thực hiện hàng loại các biện pháp để bảo đảm các nhu cầu tối thiểu của con người, quan tâm thoả đáng đến nhóm có thu nhập thấp và cố gắng giảm dần mức chênh lệch thu nhập giữa các nhóm dân cư Nhờ đó, vào những năm 80 ở Thuỵ Điển, 20% số hộ gia đình có thu nhập cao nhất nhận được 26,9% thu nhập, còn 20% số hộ gia đình có mức thu nhập thấp nhất được hưởng đến 8% thu nhập Cùng thời gian trên 2 chỉ tiêu tương ứng ở Mỹ là 41,9% và 4,7% [35, tr.19]
- ở Mỹ: Mỹ được coi là nước giàu nhất thế giới, nhưng tỷ lệ người nghèo
khổ luôn dao động ở con số 13% từ 20 năm trở lại đây Đặc biệt, năm 1997, tỷ
lệ nghèo lên tới 16,5% Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp Mỹ 9/1997, nhấn mạnh, có 11 triệu người Mỹ, trong đó có 4 triệu trẻ em sống trong các căn hộ
được coi là đói nặng hay đói tương đối Như vậy, nạn nghèo khổ vẫn còn trầm trọng ở Mỹ Tại Mỹ, người ta cho rằng sống nhờ vào cứu trợ của Nhà nước là
“phi đạo đức” và bảo hiểm xã hội chỉ dành cho người bị thất bại trong cuộc
đời Trong khi đó, ở châu Âu, bảo hiểm xã hội quốc gia là vấn đề có tính phổ
Trang 26biến Còn sống nghèo ở Mỹ trong một chừng mực nào đấy là mang dấu vết của tội lỗi Người nghèo phải tự mình vươn lên Như vậy, ở Mỹ, vai trò của Nhà nước và cộng đồng xã hội trong việc giúp đỡ người nghèo vươn lên chưa tương ứng với trình độ phát triển về kinh tế Mỹ [19]
- ở Trung Quốc: Từ khi cách mạng vô sản thành công (1949), có thể chia
quá trình phát triển kinh tế, phân hoá giàu nghèo và các hoạt động XĐGN làm hai giai đoạn: từ năm 1949 đến năm 1977 là thời kỳ xây dựng CNXH theo mô hình kế hoạch hoá tập trung và từ năm 1977 đến nay thực hiện cải cách kinh tế theo hướng nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
So với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Tuy ở Trung Quốc chênh lệch giàu nghèo không lớn nhưng số dân nghèo đói rất cao Từ năm 1985- 1988, chênh lệch thu nhập giữa 20% nhóm dân cư giàu nhất với 20% nhóm dân cư nghèo nhất chỉ 6,5 lần và hệ số Gini chỉ là 0,3
Nhờ cải cách và đổi mới nền kinh tế có hiệu quả và thực hiện một số chính sách XĐGN, nên số người nghèo ở Trung Quốc giảm xuống nhanh chóng Nếu theo mức chuẩn nghèo của Cục Thống kê Trung ương Trung Quốc
là có thu nhập 100 nhân dân tệ/1 người/1 năm, thì số người nghèo ở nông thôn năm 1978 là 250 triệu người (chiếm 30% dân số), đến năm 1985 chỉ còn 125 triệu người và năm 1998 chỉ còn 42 triệu người [35, tr.68] Trong quá trình cải cách kinh tế, Trung quốc đã thực hiện nhiều biện pháp để hạn chế phân hoá giàu nghèo và thực hiện công tác XĐGN Tuy vậy, dân nghèo nói chung và dân cư nông thôn Trung Quốc không những vẫn còn thu nhập và mức hưởng thụ các dịch vụ xã hội vẫn rất thấp kém Năm 1996, trong lao động nông thôn Trung Quốc, số người mù chữ chiếm 22,25%, số có trình độ tiểu học là 45,1% [21, tr.47]
Có thể phân loại các biện pháp được thực hiện XĐGN ở Trung Quốc thành 2 nhóm: nhóm các biện pháp chung và nhóm các biện pháp trực tiếp XĐGN
Trang 27+ Nhóm các biện pháp chung ở Trung Quốc được thực hiện rất phong phú và thay đổi từng thời kỳ, cụ thể như: Duy trì sự ổn định về chính trị- xã hội; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhằm tạo thêm việc làm, thu nhập cho mọi người; điều tiết hợp lý thu nhập, phân phối; tạo việc làm thông qua thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhất là cơ cấu kinh tế nông thôn, chú ý thích đáng
đến phát triển đều ở các vùng
+ Nhóm các biện pháp trực tiếp để XĐGN: xây dựng các mô hình, chỉ
đạo điểm cho từng vùng, từng địa phương, để làm hình mẫu, đầu tàu “lan toả”; huy động mọi nguồn lực cho XĐGN (khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài, tranh thủ tối đa vốn của WB và các tổ chức phi chính phủ đầu tư hỗ trợ vốn ngân sách Nhà nước, các tổ chức đoàn thể, các tổ chức kinh tế và của cộng
đồng, khuyến khích các vùng, địa phương giàu giúp đỡ vùng, địa phương nghèo ); chuyển nền kinh tế nông nghiệp từ sản xuất tập trung sang sản xuất tư nhân với mô hình kinh tế hộ gia đình và quyền sử dụng đất lâu dài; hỗ trợ chuyển giao công nghệ và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào các vùng nông thôn; hỗ trợ tích cực về truyền thông, giáo dục, y tế, nhà ở cho các hộ nghèo
Từ những năm 70, ấn Độ đã đưa ra các chương trình đấu tranh chống nghèo đói, Nhà nước đã đầu tư 8 tỷ Rupi cho mục tiêu này Tiến hành phân
Trang 28loại hộ nông dân để có những biện pháp thiết thực; giải quyết cho các hộ nghèo đói vay tiền với lãi suất ưu đãi Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 7, ấn Độ
đã cho 15 triệu hộ nông dân vay vốn với số tiền 38 tỷ Rupi, kết hợp với các giải pháp hoạt động phổ biến KHKT, ứng trước vật tư, phân bón
Hiện nay, ấn Độ có 12- 14% hộ nông dân có mức sống giàu có Tuy nhiên, chương trình chống đói nghèo sẽ không thể chấm dứt được tình trạng nghèo khổ trên quy mô lớn, do giai cấp tư sản cầm quyền đã thi hành biện pháp nhằm theo đuổi mục đích làm dịu sự căng thẳng của những xung đột xã hội trong nông thôn ấn Độ, điều chỉnh chính sách của chính quyền trong khuôn khổ tình trạng bất bình đẳng kinh tế- xã hội vẫn được duy trì [26, tr.95]
- ở Nhật Bản:
Nhật Bản là quốc gia đất hẹp người đông, điều kiện phát triển kinh tế rất khó khăn, nghèo tài nguyên lại thường hay động đất nhưng đặc điểm của người Nhật Bản là rất ham làm việc, và biết tiết kiệm và căn cơ chỉ hơn 20 năm sau chiến tranh, từ đống tro tàn đổ nát, Nhật Bản đã vươn lên thành cường quốc về kinh tế, đời sống nhân dân tăng cao, tình trạng đói nghèo giảm xuống thấp Hiện nay 90% dân số Nhật Bản là tầng lớp trung lưu Có được thành quả như vậy hẳn Nhật Bản phải có bí quyết thần kỳ gì Đó là các kế hoạch, chính sách của Nhật Bản đưa ra đúng đắn và thực hiện tích cực, góp phần đẩy nhanh phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, XĐGN bền vững
Nhật Bản đã áp dụng các giải pháp sau:
+ Thực hiện quá trình dân chủ hoá sau chiến tranh, nhằm tạo lập một nền kinh tế thị trường, bao gồm nhiều chủ thể có sự bình đẳng tương đối trong sản xuất kinh doanh, thực hiện dân chủ hoá lao động
+ Xoá bỏ cơ sở gây ra sự phân hoá giàu nghèo, tạo lập mặt bằng bình
đẳng hơn cho xã hội đối với tài sản và đất đai nhanh chóng thực hiện mục tiêu
“ruộng đất cho người cày”
Trang 29+ Can thiệp mạnh mẽ của Nhà nước vào nền kinh tế thị trường, đảm bảo
sự phát triển theo mục tiêu ưu tiên
+ Tập trung cao độ cho phát triển kinh tế, làm cơ sở để hỗ trợ cải thiện cuộc sống cho người nghèo, giảm phân hoá giàu nghèo và tạo nên sự công bằng trong xã hội
+ Thực hiện chính sách cùng hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế
+ Thực hiện chính sách thuế thu nhập để điều tiết giảm bớt chênh lệch về thu nhập
+ Thực hiện chính sách vùng, khu vực: khuyến khích phát huy lợi thế so sánh giữa các vùng ; hỗ trợ khu vực nông thôn nông nghiệp thông qua chính sách bảo hộ đối với sản xuất nông nghiệp (bảo hộ mậu dịch đối với 22 loại sản phẩm nông nghiệp và duy trì chế độ trợ giá cho sản xuất lương thực)
+ Thực hiện chính sách trợ giúp các đối tượng có thu nhập
+ Thực hiện chính sách về phúc lợi xã hội: thông qua hệ thống bảo hiểm rộng lớn trên các lĩnh vực: tương trợ công cộng, dịch vụ, phúc lợi bảo hiểm xã hội (chăm sóc sức khoẻ, trợ cấp con cái, hưu trí, bảo hiểm thất nghiệp và tai nạn lao động), y tế công cộng, trợ cấp và giúp đỡ của Nhà nước cho các nạn nhân chiến tranh Các khoản chi cho bảo hiểm xã hội ở Nhật Bản không nhỏ, năm 1989 con số này đã chiến 14% thu nhập quốc dân và từ đó đến nay các khoản chi này không ngừng tăng lên Đây chính là biện pháp có hiệu quả để những người nghèo sớm thoát khỏi cảnh đói nghèo và những người không may gặp rủi ro nhanh chóng trở lại cuộc sống ổn định, nâng cao chất lượng cuộc sống
- ở cộng hoà In-đô-nê-xi-a:
In-đô-nê-xi-a là quốc gia đông dân nhất Đông Nam á, với hơn 7 ngàn hòn đảo lớn nhỏ, với tính đa dạng về điều kiện sinh thái, dân tộc chia cắt về
địa hình, phát triển kinh tế và thực hiện XĐGN là công việc rất phức tạp
ở thời kỳ đầu sau khi dành được độc lập, nền kinh tế phát triển khó khăn
Trang 30Kinh tế chậm tăng trưởng, dân số tăng nhanh, nên thu nhập bình quân của dân cư có xu hướng giảm sút Nếu như năm 1957, thu nhập bình quân một nguời dân đạt 131USD, thì đến năm 1961 giảm xuống còn 83USD
Sau đó, nhà nước In-đô-nê-xi-a có hàng loạt các biện pháp nhằm khôi phục và phát triển kinh tế Thực hiện chiến lược mở cửa, tăng xuất khẩu, nhất
là xuất khẩu khoáng sản, sản phẩm nông lâm thuỷ sản Đến năm 1996, kim ngạch xuất khẩu của In-đô-nê-xi-a đạt 55 tỷ USD Nhờ kinh tế tăng trưởng và bước đầu nhận thức được tác hại của phân hoá giàu nghèo và cuộc sống khó khăn của người nghèo, trong suốt thập kỷ 80 và nửa đầu thập kỷ 90, In-đô-nê-xi-a đã thực hiện nhiều biện pháp XĐGN, đưa mục tiêu XĐGN thành mục tiêu quốc gia Chính phủ đã trợ cấp ngân sách hỗ trợ tín dụng cho người nghèo, khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn, mở rộng và củng cố hệ thống hợp tác xã của những người kinh doanh nhỏ Nhờ những biện pháp tích cực, nên số người nghèo của In-đô-nê-xi-a giảm liên tục Năm
1976, số người dưới mức nghèo khổ là 54 triệu người, nhưng đến năm 1987 chỉ còn 30 triệu người Năm 1996, In-đô-nê-xi-a được giải thưởng của Liên hợp quốc về thực hiện chương trình XĐGN Nhưng đến cuối năm 1996, kinh tế- xã hội và chính trị In-đô-nê-xi-a lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng Các nhà lãnh đạo tham nhũng, xung đột về lãnh thổ, bạo động, khủng hoảng kinh
tế, đặc biệt thực thi cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu tư thiên về hướng ngoại, khi
có chấn động, khủng hoảng kinh tế xuống dốc, đời sống nhân dân, nhất là tầng lớp nghèo bị giảm sút nghiêm trọng Có nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng, khủng hoảng kinh tế- xã hội và bất ổn về chính trị đã làm tiêu tan thành quả XĐGN của gần 20 năm trước đó ở In-đô-nê-xi-a
Trang 31Thái Lan đã áp dụng chính sách giảm nghèo đói ở từng vùng trọng điểm thông qua chính sách đất đai, giải quyết việc làm ưu tiên ở những vùng không có đất
đai và đạt được kết quả cao, giảm mức nghèo đói từ 59% năm 1962 xuống còn 26% năm 1986 Như vậy, có sự cải thiện đáng kể trong vòng 24 năm [29] Tuy nhiên ở giai đoạn sau này, Thái Lan đã áp dụng mô hình gắn liền chính sách phát triển quốc gia với chính sách phát triển nông thôn qua việc phát triển các xí nghiệp ở làng quê nghèo, phát triển doanh nghiệp nhỏ, mở rộng các Trung tâm dạy nghề ở nông thôn nhằm giảm bớt nghèo đói Nhờ vậy
tỷ lệ nghèo đói của Thái Lan đã giảm xuống còn 23% dân số vào năm 1990
- ở Ma-lai-xi-a:
Kinh nghiệm của Ma-lai-xi-a về XĐGN là áp dụng các biện pháp làm giảm bớt sự bất bình đẳng về thu nhập, đó là kết hợp tăng trưởng kinh tế nhanh với phân phối thu nhập công bằng, nâng cao mức sống của nhân dân Ma-lai-xi-a rất chú trọng đến phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là thế mạnh để bắt tay và phát triển công nghiệp, thực hiện công nghiệp hoá- hiện
đại hoá và giải quyết những vấn đề xã hội Kết quả là Ma-lai-xi-a đã giảm từ 20,7% người nghèo đói năm 1986 xuống còn 17,1% năm 1990 Đặc biệt Ma-lai-xi-a coi giáo dục là nền tảng để tiến hành phân phối thu nhập bình đẳng [19]
Từ kinh nghiệm của các nước nói trên, đặc biệt là các nước trong khu vực
có điều kiện gần giống của nước ta cho thấy các chính sách và giải pháp thường được các nước áp dụng trong xoá đói giảm nghèo bền vững là:
- Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, nông thôn, coi đây là khu vực và đối tượng ưu tiên, trọng điểm Nông nghiệp đóng vai trò to lớn trong việc đẩy mạnh tăng trưởng thời kỳ đầu của sự phát triển Có chính sách đất đai phù hợp Đầu tư cho cơ sở hạ tầng cho nông thôn góp phần phát triển kinh tế, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân, xoá đói giảm nghèo
Trang 32- Đầu tư vốn và công nghệ, đây là 2 yếu tố cơ bản, là giải pháp quan trọng chuyển đổi tình trạng nghèo đói của các hộ, lựa chọn công nghệ phù hợp thu hút nhiều lao động, đồng thời khuyến khích đầu tư phát triển doanh nghiệp tại vùng nghèo
- Đầu tư vào con người, tạo cho mỗi người có cơ hội ngang nhau để có việc làm và thu nhập ổn định Nhà nước quan tâm hỗ trợ trong việc học tập,
đào tạo nghề, trang bị kiến thức, chăm sóc y tế
- Nhà nước đề ra những chính sách phù hợp để đảm bảo gắn tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội, như chính sách thuế thu nhập, bảo trợ xã hội, trợ giá nông nghiệp
- Cùng với nhà nước, cần có sự tham gia của các tổ chức quốc tế, các tổ chức, đoàn thể, của cộng đồng và đặc biệt là sự cố gắng vươn lên của bản thân người nghèo
Kinh nghiệm cho thấy, Nhà nước không can thiệp trực tiếp tới hộ nghèo,
mà chỉ thông qua các chính sách tạo môi trường kinh tế- xã hội thuận lợi để
hộ nghèo tự phấn đấu vượt qua đói nghèo
Từ những kết quả nghiên cứu đã công bố và từ nghiên cứu trên chúng ta
có thể rút ra nhận xét sau:
- Nghèo đói và phân hoá theo thu nhập giữa nhóm giàu và nhóm nghèo
đang là vấn đề mang tính toàn cầu Giải quyết nghèo đói phải là mối quan tâm chung của các quốc gia và quốc tế, trong đó có trách nhiệm của những nước giàu
- Nghèo đói liên quan tổng hợp đến nhiều nhân tố, điều kiện như: chính trị- xã hội, dân số, vị trí địa lý, tài nguyên môi trường, quản lý, chính sách phát triển của mỗi quốc gia Do đó, XĐGN bền vững phải là một chương trình rất tổng hợp
- Hiện tượng chênh lệch thu nhập cao, bất bình đẳng về nghèo đói là hiện tượng có thể hạn chế được nếu có sự nỗ lực từ nhiều phía: quốc gia, quốc tế,
Trang 33các cơ quan tổ chức, đoàn thể, cộng đồng và bản thân người nghèo đói
- Toàn cầu hoá kinh tế là xu hướng tất yếu mà mỗi nước nghèo cũng phải tham gia Tuy nhiên, mặt trái, hậu quả của toàn cầu hoá rất lớn Do đó, việc tìm ra cách thức để chủ động hội nhập vươn lên thoát nghèo là thách thức khó khăn rất lớn đối với các nước nghèo
Qua nghiên cứu kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo của một số nước trên thế giới, nhất là những quốc gia trong khu vực, chúng ta có thể rút ra những bài học bổ ích cho Việt Nam trong công tác xoá đói giảm nghèo bền vững
2.2 Vấn đề nghèo đói và chính sách xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam
2.2.1 Một số khái niệm về đói nghèo của Việt Nam
ở Việt Nam đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các khái niệm khác nhau
về nghèo đói ở Việt Nam Song các ý kiến thống nhất tập trung nhất là:
- nghèo: là tình trạng của một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn
một phần các nhu cầu tối thiểu cơ bản của con người và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện
- Đói: là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo, có mức sống dưới
mức tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống Đó là những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn đứt bữa từ 1-2 tháng, thường vay nợ của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả
Cách phân chia nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối cũng tương tự như cách phân chia hiện nay của một số nước đang sử dụng
- Hộ nghèo
Giới hạn nghèo đói được thể hiện ở mức thu nhập bình quân tính theo
đầu người Các hộ có thu nhập bình quân tính theo đầu người nằm dưới giới hạn nghèo đói được gọi là hộ nghèo
- Xã nghèo
Xã nghèo là xã có một trong các đặc trưng sau:
+ Tỷ lệ hộ nghèo của xã chiếm trên 40% số hộ của xã
Trang 34+ Kết cấu hạ tầng, gồm đường giao thông, điện thắp sáng, trường học, trạm y tế, nước sinh hoạt, chợ chưa có hoặc rất hạn chế: thiếu 1/6 các công trình kết cấu hạ tầng về kinh tế và xã hội
2.2.2 Khái niệm về chính sách XĐGN và XĐGN bền vững ở Việt Nam
- Chính sách xoá đói giảm nghèo là một hệ thống các giải pháp và công
cụ xác định vai trò của Nhà nước, của các tổ chức trong xã hội trong việc phân phối hợp lý các hành động của mình để nâng cao mức sống cho người dân nghèo, tạo cho họ những cơ hội phát triển trong đời sống cộng đồng bằng chính lao động của bản thân
Khái niệm này được thâu tóm một cách cô đọng kinh nghiệm thực tiễn giảm bớt đói nghèo của các nước trong khu vực và trên thế giới- nó có ý nghĩa tư vấn và chỉ đạo quá trình tìm kiếm con đường và cách thức xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam
- Xoá đói giảm nghèo bền vững là một nội dung của phát triển bền vững
về mặt xã hội Phát triển bền vững về mặt xã hội thể hiện ở mức độ bảo đảm dinh dưỡng và chất lượng chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân ngày càng được nâng cao, mọi người đều có cơ hội được học hành, giảm tình trạng đói nghèo
và hạn chế khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp và các nhóm xã hội, giảm các tệ nạn xã hội, nâng cao mức độ công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ
Trang 35giữa các thành viên của xã hội và giữa các thế hệ của một xã hội Duy trì và phát huy tính đa dạng và bản sắc văn hoá dân tộc, không ngừng nâng cao trình
độ văn minh của đời sống vật chất và tinh thần
Với cách suy nghĩ như trên, chúng tôi cho rằng XĐGN bền vững được hiểu như sau:
- Xoá đói giảm nghèo bền vững là một hệ thống các giải pháp và công cụ
đồng bộ xác định rõ vai trò của Nhà nước, của các tổ chức trong xã hội và trong việc phân phối hợp lý các hành động của mình để nâng cao mức sống cho người dân nghèo, tạo cho họ những cơ hội phát triển trong đời sống cộng
đồng bằng chính lao động của bản thân họ, vươn lên thoát khỏi cảnh nghèo
đói, không làm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, không bị nguy cơ tái
đói nghèo đe doạ, không rơi vào cảnh tái nghèo đói
- XĐGN bền vững là hệ thống các giải pháp đồng bộ giải quyết một
cách căn bản tình trạng nghèo đói, trên cơ sở những tác động có căn cứ khoa học đến các đối tượng và nguyên nhân nghèo đói, nhằm khai thác mạnh mẽ nội lực của chủ thể nghèo đói; khuyến khích động viên tinh thần vươn lên thoát nghèo đói và bảo đảm cơ chế ngăn cản tình trạng tái nghèo đói
2.2.3 Chỉ tiêu đánh giá hộ nghèo và chuẩn mực xác định đói nghèo của Việt Nam
2.2.3.1 Chỉ tiêu đánh giá
Nghèo đói là quan niệm động, quan niệm nghèo đói có thể thay đổi theo không gian và thời gian Do đó mỗi quốc gia cần xác định cho mình những chỉ tiêu đánh giá đói nghèo phù hợp theo từng thời gian
ở nước ta thường xác định trên hai chỉ tiêu chủ yếu sau:
- Chỉ tiêu chính: Thu nhập bình quân một người 1 tháng (hoặc 1 năm)
được đo bằng chỉ tiêu giá trị hay hiện vật quy đổi, thường lấy lương thực (gạo) tương ứng một giá trị nhất định để đánh giá
Khái niệm thu nhập ở đây được hiểu là thu nhập thuần tuý (bằng tổng thu
Trang 36trừ đi tổng chi phí sản xuất) Song, cần nhấn mạnh chỉ tiêu thu nhập bình quân nhân khẩu/tháng là chỉ tiêu cơ bản nhất để xác định mức đói nghèo
- Chỉ tiêu phụ: Là nhà ở và tiện nghi sinh hoạt, dinh dưỡng bữa ăn, mặc, tư liệu sản xuất, vốn, các điều kiện học tập, chữa bệnh, đi lại
2.2.3.2 Chuẩn mực
ở Việt Nam, ngoài gợi ý về cách xác định chuẩn nghèo đói theo mức thụ hưởng calo do bữa ăn mang lại hàng ngày quy đổi ra thu nhập của Ngân hàng Thế giới đã nêu trên, các nhà nghiên cứu và các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan đã nêu ra các chuẩn mực nghèo đói khác nhau Chẳng hạn, trước năm 2004, Thành phố Hồ Chí Minh lấy mức thu nhập bình quân dưới 3 triệu
đồng ở thành thị và dưới 2,5 triệu đồng ở nông thôn/1 khẩu/1 năm; nhưng từ năm 2004 mức chuẩn nghèo mới của Thành phố được nâng lên là 6 triệu
đồng/người/năm [24] Một số nhà kinh tế lấy tiêu thức lương thực bình quân nhân khẩu, gia đình nào có thu nhập bình quân dưới 30 kg gạo/khẩu/tháng
được coi là nghèo Để thống nhất cách xác định, luận án chỉ trình bày cách xác định chuẩn mực đói nghèo của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội (LĐ-
TB và XH)
ở nước ta Bộ LĐ - TB và XH là cơ quan thường trực trong việc thực hiện xoá đói giảm nghèo Cơ quan này đã đưa ra mức xác định khác nhau về nghèo
đói tuỳ theo từng thời kỳ phát triển của đất nước
- Trước năm 1995, với yêu cầu cấp bách về chỉ đạo xoá đói giảm nghèo,
Bộ LĐ-TB và XH đưa ra ngưỡng nghèo đói ở nước ta là có thu nhập 1 người 1 tháng bằng tiền tương đương với giá trị 15 kg gạo tẻ thường
- Đến năm 1995, Bộ LĐ-TB và XH đã đưa ra tiêu chí chi tiết hơn cho từng mức độ nghèo đói và từng khu vực, các tiêu chí cụ thể được quy định như sau:
+ Hộ đói là hộ có bình quân thu nhập 1 người 1 tháng bằng tiền là 40.000đ, tương đương với giá trị 13 kg gạo tẻ thường
Trang 37+ Hộ nghèo được phân biệt cho thành thị và nông thôn:
ở thành thị: là hộ có thu nhập 1 người 1 tháng bằng tiền là 90.000đ, tương đương với giá trị 25 kg gạo tẻ thường
ở nông thôn, chuẩn nghèo cho vùng đồng bằng, trung du thu nhập 1 người 1 tháng bằng tiền là 70.000đ, tương đương với giá trị 20 kg gạo tẻ thường; ở nông thôn miền núi, hải đảo có mức thu nhập 1 người 1 tháng bằng tiền là 50.000đ, tương đương với giá trị 15 kg gạo tẻ thường
Để thuận lợi cho việc tính toán và nhận dạng hộ đói nghèo trong điều kiện mới, trên cơ sở điều tra thống kê toàn bộ hộ dân cư trên địa bàn, sau khi tham khảo ý kiến của nhiều bộ, ban, ngành, đoàn thể, Bộ LĐ-TB và XH đã ra thông báo số 1751/LĐTBXH, ngày 20/5/1997 về việc xác định chuẩn mực đói nghèo năm 1997-1998 trên cơ sở tính theo mức thu nhập bình quân đầu người trong hộ/tháng được quy ra gạo và tiền tương ứng Cụ thể:
+ Hộ đói: có thu nhập dưới 13 kg gạo, tương ứng với 45.000đ (cho tất cả các vùng)
hộ đói nghèo thấp hơn tỷ lệ bình quân chung của cả nước, có đủ nguồn lực cân
Trang 38đối cho các giải pháp hỗ trợ XĐGN)
Do yêu cầu của sự phát triển đất nước, đời sống của các tầng lớp nhân dân được cải thiện, ngày 1/11/2000, Bộ LĐ-TB và XH có Quyết định số 1143/2000/QĐ-LĐTBXH về việc điều chỉnh chuẩn hộ nghèo giai đoạn 2001-
2005 Theo đó quy định mức thu nhập bình quân đầu người trong hộ cho từng vùng cụ thể như:
- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000đồng/tháng
Với cách đánh giá chuẩn mực đói nghèo theo thu nhập như trên tuy đã có tiến bộ là định mức thu nhập được quy thành giá trị, dễ so sánh, nhưng vẫn còn một số hạn chế là: Không phản ảnh được chi tiêu, tổng hợp mức sống của người nghèo(như tình trạng nhà cửa, tiện nghi sinh hoạt, y tế, giáo dục và mức hưởng thụ các dịch vụ cơ bản khác); không phản ảnh được sự mất cân đối giữa chuẩn mực so với đời sống thực của người nghèo (ví dụ có thể gặp phải rủi ro nên thu nhập không đạt chuẩn, nhưng các điều kiện khác vẫn tốt) Hơn nữa cách đánh giá trên cũng có điều vô lý là trong thực tế rất dễ đạt mức quy định
về thu nhập trong khi các điều kiện khác chưa được cải thiện cũng đã được công nhận xoá nghèo Như vậy, mức đánh giá nghèo đói như trên còn rất thấp
Trang 39- Trước Cách mạng Tháng Tám: Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, trải qua nhiều thập kỷ bị chiến tranh tàn phá, tuyệt đại đa số dân cư là nông dân sống ở nông thôn bằng nghề sản xuất nông nghiệp độc canh, nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp Dưới thời phong kiến và thực dân đô hộ, đa số nông dân Việt Nam không có ruộng đất, phải đi làm thuê cho
địa chủ phong kiến, bị bóc lột đến tận xương tuỷ Hơn 2 triệu người đã bị chết trong nạn đói khủng khiếp năm 1945
- Từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến năm 1998:
Theo số liệu của Bộ LĐ - TB và XH tháng 6 năm 1993 [18, tr.70], ngay sau khi cách mạng tháng 8 thành công, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện cuộc cách mạng ruộng đất (cải cách ruộng đất), nhìn chung tất cả nông dân Việt Nam đều được chia ruộng đất để sản xuất, đưa nông dân từ thân phận nô
lệ lên vị trí người làm chủ Từ năm 1945 đến năm 1975 dân tộc ta bước vào 2 cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Đây cũng là những năm phải tập trung nhiều sức lực, tiền của cho tiền tuyến Vì vậy, tình trạng nghèo đói vẫn chiếm tỷ lệ khá cao Thời kỳ 1955- 1960, tỷ lệ nghèo đói
là 45-50%, chiếm một nửa dân số cả nước; trong đó hộ thiếu đói chiếm 30% dân số Thời kỳ 1961-1975, tỷ lệ đói nghèo ở nước ta tăng cao hơn, ở mức 60-70% dân số Đây là thời kỳ đế quốc Mỹ ráo riết thực hiện các chiến dịch bình định miền Nam và leo thang đánh phá miền Bắc, nên điều kiện sản xuất gặp nhiều khó khăn, nhiều nơi bị tàn phá nặng nề
26-Thời kỳ 1976- 1980: Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất và cả nước bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) Tuy nhiên, đây vẫn là thời kỳ chúng ta hàn gắn vết thương chiến tranh và khôi phục kinh tế, cơ chế quản lý kinh tế- xã hội vẫn là quan liêu bao cấp đã làm cho kinh tế- xã hội của đất nước nói chung và nông nghiệp nông thôn nói riêng gặp nhiều khó khăn và sa sút nghiêm trọng Nhiều mục tiêu kinh tế-xã hội không đạt kế hoạch, thu nhập quốc dân chỉ tăng 0,4% trong khi dân số tăng thêm 4,5 triệu
Trang 40người Vì thế, tỷ lệ đói nghèo vẫn còn khá cao, thậm chí còn có phần tăng hơn trước, (chiếm 54-72% dân số); trong đó các hộ nghèo tuyệt đối chiếm từ 33- 39%
Thời kỳ 1981- 1988: Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị 100 CT/TW ngày 13/1/1981 Đây được coi là khâu đột phá, tạo ra giải pháp tình thế, khơi dậy sinh khí mới cho nông thôn, nông nghiệp, nông dân, đã chặn
đứng sự sa sút trong nông nghiệp Sản lượng lương thực tăng bình quân 1 triệu tấn/năm Bình quân lương thực đầu người từ 273 kg năm 1981 tăng lên 304 kg năm 1985 Tình trạng đói nghèo ở thời kỳ này giảm đáng kể, chỉ còn 30 - 40%; trong đó, tỷ lệ thiếu đói 7 - 14%
- Từ năm 1988 đến nay:
Do thực hiện đường lối đổi mới, toàn diện nền kinh tế cũng được đổi mới chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường Kinh tế nước ta đã tăng trưởng với tốc độ cao
Thời kỳ 1991 - 1995, GDP tăng với tốc độ bình quân 8,2% Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân đầu người một tháng đều tăng năm sau cao hơn năm trước Nhờ vậy mà tỷ lệ đói nghèo đã giảm đi khá nhiều Tỷ
lệ đói nghèo năm 1992 gần 30%; đến năm 1994 giảm xuống còn 20- 22%, trong đó hộ thiếu đói gay gắt chiếm 5- 7%; ở vùng núi cao dân tộc, số hộ nghèo vẫn còn 40%
Năm 1997, cả nước còn 2,65 triệu hộ đói, chiếm tỷ lệ 17,7% tổng số hộ; trong đó còn 1498 xã có tỷ lệ hộ nghèo đói từ 40% trở lên, gần 500 xã chưa có
đường giao thông đến trung tâm xã, trên 600 xã thiếu trạm y tế, trên 3500 xã chưa có chợ, trên 1500 xã chưa có điện, với trên 30% tổng số hộ chưa được dùng nước sạch trong sinh hoạt, 1715 xã thuộc miền núi khu vực III
Năm 1998 tỷ lệ hộ nghèo đói còn 15,7% Nếu tính từ năm 1992 đến cuối năm 1998 thì bình quân mỗi năm giảm được 2% tương ứng với 25 - 30 vạn hộ thoát cảnh đói nghèo