1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn nghiên cứu định hướng sử dụng đất cát ven biển huyên thạch hà tỉnh hà tĩnh

104 2,3K 15
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu định hướng sử dụng đất cát ven biển huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh
Trường học Trường Đại Học Hà Tĩnh
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2003
Thành phố Hà Tĩnh
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn nghiên cứu định hướng sử dụng đất cát ven biển huyên thạch hà tỉnh hà tĩnh

Trang 1

1 Mở đầu 1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Việt Nam có khoảng 3200 km bờ biển, phân bố dọc theo nó là những vùng

đất cát và bãi bồi ven biển với trên 2 triệu héc ta Chỉ tính riêng đất cát ven biển (CVB) có đến gần 500 nghìn héc ta, tập trung nhiều nhất ở Duyên hải miền Trung, bắt đầu từ Nga Sơn (Thanh Hoá) đến tận cùng của miền Duyên hải Nam Trung Bộ (Bình Thuận) với trên 400 nghìn héc ta, chiếm trên 90% diện tích đất CVB toàn quốc, trong đó khoảng 30% đang còn bỏ trống

Đất CVB là loại đất có độ phì tự nhiên thấp, khả năng giữ nước, dinh dưỡng kém, năng suất cây trồng thấp Tuy vậy, đất cát ven biển có những lợi thế đáng kể, trước hết là đất có thành phần cơ giới nhẹ, dễ canh tác, thích hợp cho nhiều loại cây trồng như rau, hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày (CNNN), cây ăn quả, cây lương thực Lợi thế sau nữa là vị trí phân bố của chúng dọc theo quốc lộ 1A của các tỉnh Duyên hải miền Trung, thuận lợi cho việc vận chuyển, tiêu thụ nông sản phẩm

Hà Tĩnh có diện tích đất CVB khá lớn so với các tỉnh Bắc Trung Bộ (BTB), trong đó Thạch Hà là một trong 5 huyện có quy mô đất CVB lớn nhất (nếu tính cả cồn cát diện tích gần 15 nghìn héc ta) phân bố ở hầu khắp các xã (nhưng tập trung chủ yếu ở 22 xã gần biển) Đây là tiềm năng lớn để phát triển nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản (NTTS), nhưng đến nay việc sử dụng đất CVB của vùng nhìn chung hiệu quả chưa cao Nguyên nhân chính là do hệ thống canh tác ở đây còn mang tính truyền thống tự cung, tự cấp, chưa đáp ứng được yêu cầu nền kinh tế thị trường, sản phẩm nông nghiệp làm ra năng suất, chất lượng thấp, kém sức cạnh tranh, khó tiêu thụ Về giác độ xã hội, đời sống người dân ven biển Thạch Hà còn nhiều khó khăn Hơn nữa đây cũng là một trong những nơi thuộc vùng BTB phải hứng chịu nhiều thiên tai (nắng hạn, gió Lào, mưa bão, nạn cát bay, cát nhảy )

ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp cũng như cuộc sống sinh hoạt của con người, nên công tác phòng hộ ven biển luôn được đặt ra Gần đây đã xuất hiện một

1

Trang 2

số mô hình làm kinh tế trên đất CVB đạt hiệu quả kinh tế cao, nhưng quy mô còn nhỏ so với tiềm năng và rất cần được nghiên cứu

Từ những lý do vừa trình bày ở trên, đề tài "Nghiên cứu định hướng sử dụng đất cát ven biển huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh" không chỉ mang ý nghĩa

khoa học mà còn có ý nghĩa lớn về mặt thực tiễn

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng và nghiên cứu đề xuất định hướng sử dụng đất CVB của huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh cho sản xuất nông – lâm nghiệp, NTTS theo hướng kinh tế hàng hoá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, lao động và nguồn vốn, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người dân vùng ven biển

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về sử dụng đất CVB

- Đánh giá thực trạng sử dụng đất CVB của huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh trong sản xuất nông - lâm - thuỷ sản

- Đề xuất định hướng và các giải pháp hợp lý nhằm sử dụng có hiệu quả cao và bền vững 15 nghìn héc ta đất CVB cho sản xuất nông - lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề về sử dụng đất cát ven biển phục vụ cho phát triển kinh

tế nông nghiệp (cho trồng trọt, chăn nuôi, NTTS, trồng rừng phòng hộ ven biển) với các chủ thể là hộ nông dân, trang trại, HTX, doanh nghiệp có sử dụng đất CVB

- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu đất cát ven biển thuộc đối tượng đất nông nghiệp, lâm nghiệp, còn các đối tượng khác như đất chuyên dùng (giao thông, thuỷ lợi, công nghiệp, xây dựng cơ bản, khai khoáng ), đất ở, đất đô thị đều không thuộc diện đối tượng nghiên cứu

Trang 3

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian: Số liệu thứ cấp thu thập từ năm 2000 - 2002 và dự báo 2005-2010 Số

liệu điều tra tính cho năm 2003

- Không gian: Phạm vi nghiên cứu của đề tài là toàn bộ vùng đất CVB huyện Thạch

Hà Trong đó, chọn 6 xã đại diện cho toàn vùng để điều tra khảo sát, đó là:

+ Đại diện cho vùng đất CVB có địa hình cao, vàn cao chọn 2 xã là Thạch

Đỉnh, Thạch Khê

+ Đại diện cho vùng đất CVB có địa hình vàn, vàn thấp chọn 2 xã là Thạch

Bằng, Thạch Bàn

+ Đại diện cho vùng có cồn cát ven biển, chọn 2 xã là Thạch Trị, Thạch Hải

Đây là những xã có tỷ lệ diện tích đất CVB lớn so với diện tích tự nhiên từng xã nói trên

- Về nội dung nghiên cứu

+ Đánh giá quy mô, phân bố, tính chất đất cát ven biển liên quan đến hướng

sử dụng trong nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản

+ Đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất cát ven biển trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản

+ Đánh giá tiềm năng của đất cát ven biển phục vụ cho phát triển nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản

+ Xây dựng mục tiêu, phương hướng sử dụng đất cát ven biển đến 2010 cho phát triển nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản

+ Các giải pháp thực hiện mục tiêu sử dụng đất CVB

3

Trang 4

2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về sử dụng đất cát ven biển

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Những vấn đề lý luận về sử dụng đất nói chung

2.1.1.1 Các khái niệm cơ bản về đất và độ phì

- Khái niệm về đất

+ Ngay từ thời xa xưa, trong quá trình lao động sản xuất, con người đã có những hiểu biết nhất định về đất Nhưng chỉ đến Đô-cu-trai-ep (1886) mới có một

định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về đất Theo ông, đất là một thể tự nhiên được hình thành do tác động tổng hợp của 5 yếu tố: khí hậu, sinh vật, đá mẹ, địa hình và tuổi địa phương [32]

+ Sau Đô-cu-trai-ep, khoa học thổ nhưỡng ngày càng phát triển theo hướng gắn chặt với cây trồng Về mặt này, định nghĩa của Wiliam đi sâu vào đất trồng hơn Theo ông, đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng sản xuất ra những sản phẩm của cây trồng

+ Theo FAO (1976), đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái, bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất Đất đai không chỉ hàm chứa thành phần đất (thổ nhưỡng) mà còn các nội dung khác liên quan đến

nó như khí hậu, địa hình địa mạo, thuỷ văn, thảm thực vật tự nhiên, [30]

+ Luật đất đai năm 1993 có ghi: "Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng " [23]

- Khái niệm về độ phì: là khả năng của đất cung cấp cho cây trồng nước, thức ăn,

khoáng và các yếu tố cần thiết khác (như không khí, nhiệt độ ) để cây trồng sinh trưởng và phát triển bình thường [7], [31]

Khi nghiên cứu địa tô trong nông nghiệp, C.Mác đã phân ra các loại độ phì nhiêu của đất như: độ phì tự nhiên, độ phì nhân tạo, độ phì tiềm tàng, độ phì hiệu lực và độ phì kinh tế [7]

Trang 5

Như vậy tính chất cơ bản của đất trồng là khả năng tạo ra sản phẩm, đó là

điểm mấu chốt để phân biệt đất với đá, đó cũng chính là độ phì nhiêu của đất

- Đất đai có đặc điểm là: vị trí cố định, diện tích có hạn, độ phì có thể tăng lên vô

hạn

2.1.1.2 Sử dụng đất

Đất đai được sử dụng theo các kiểu sau[30]:

+ Sử dụng trên cơ sở sản xuất trực tiếp (làm đất canh tác để trồng trọt, làm

đồng cỏ, trồng rừng lấy gỗ )

+ Sử dụng trên cơ sở sản xuất gián tiếp (như chăn nuôi)

+ Sử dụng vì mục đích bảo vệ (chống suy thoái đất, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ các loài quý hiếm)

+ Sử dụng theo các chức năng đặc biệt như làm đường sá, khu dân cư, các công trình nhà máy công nghiệp, khu vui chơi an dưỡng

Tóm lại, tất cả các hình thức sử dụng đất nêu trên được coi như là loại hình

sử dụng đất chính [29] ở thời kỳ bình minh của nhân loại, khi con người mới chỉ tạo ra sản phẩm nông nghiệp bằng hình thức tra lỗ bỏ hạt hay thả rông gia súc trên

đồng cỏ tự nhiên, đó là các hình thức của loại hình sử dụng đất "canh tác nhờ nước mưa" Và sau này khi thuỷ lợi được áp dụng, con người biết đưa nước từ sông hồ

cho vào đồng ruộng để canh tác lúa và hoa màu, loại hình sử dụng đất "nông nghiệp có tưới" ra đời

- Loại hình sử dụng đất (Land Use type) trong nông nghiệp: là loại hình đặc biệt

của sử dụng đất được mô tả theo các thuộc tính nhất định, bao gồm quy trình sản xuất, các đặc tính về quản lý đất đai như sức kéo trong làm đất, đầu tư kỹ thuật và các đặc tính về kinh tế như định hướng thị trường, vốn, lao động, vấn đề sở hữu đất

đai Như vậy, loại hình sử dụng đất là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng với những phương thức quản lý sản xuất trong các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và kỹ thuật được xác định Có thể liệt kê một số loại hình sử dụng

đất khá phổ biến trong nông nghiệp hiện nay như:

5

Trang 6

+ Chuyên để trồng lúa, có thể canh tác bằng nước mưa hay có tưới, trồng 1

vụ, 2 vụ thậm chí 3 vụ lúa trong 1 năm

+ Kết hợp trồng lúa với cây trồng cạn, thực hiện những công thức luân canh nhiều vụ trong năm nhằm nâng cao lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu cuộc sống con người đồng thời còn có tác dụng cải tạo độ phì của đất Cũng có thể nhằm khắc phục những hạn chế về điều kiện tưới không chủ động một số tháng trong năm nhất là về mùa khô

+ Chuyên để trồng màu, thường được áp dụng cho những vùng đất cao thiếu nước tưới, đất có thành phần cơ giới nhẹ như cát hoặc pha cát

+ Dùng để trồng cây lâu năm như cây ăn quả, cây công nghiệp (chè, cà phê,

điều, cao su, cam, bưởi, xoài )

+ Dùng để làm đồng cỏ phục vụ chăn nuôi

+ Làm đất lâm nghiệp

+ Dùng để nuôi trồng thuỷ sản

2.1.2 Sử dụng đất cát ven biển

2.1.2.1 Khái niệm về đất cát ven biển

- Định nghĩa đất cát: Theo FAO - 2001 [17] đất cát từ tiếng La tinh arena, là

những loại đất có :

+ Thành phần cơ giới cát pha thịt hoặc cát thô hơn tới độ sâu ít nhất là 100

cm tính từ mặt đất, hoặc tới tầng loang lổ, tầng đá ong, hoặc tầng mặn ở độ sâu 50

Trang 7

- Theo Phan Liêu, đất cát ven biển là đất được hình thành do quá trình bồi tích của phù sa sông và biển, như vậy các sản phẩm này đều được nước cuốn trôi theo và bồi tích ở những vùng ven biển [20]

2.1.2.2 Nhận dạng đất cát ven biển

Đất cát có nhiều loại và dựa vào nguồn gốc phát sinh của đất cát để nhận dạng

- Đất cát ở vùng khô hạn: thường là các đụn cát cồn cát (di động), đất hình thành

do được cố định bởi thực vật, các chất hữu cơ tích luỹ lại trên bề mặt và hình thành Tuỳ thuộc vào vật liệu tạo đất và điều kiện địa hình mà có các đất cát thạch cao (Gypsiric), cát tích vôi (Calcisols), cát nhiễm mặn (Solonchak) và cát cứng rắn (Durisols) Tính thấm cao, khả năng giữ nước kém và hoạt động sinh học ở mức thấp là đặc tính cơ bản của đất cát vùng khô hạn Trên thế giới những vùng sa mạc

là điển hình của đất cát khô hạn

- Đất cát vùng nhiệt đới ẩm: hoặc là đất mới phát triển trên những vùng đất mới

bồi, thành phần cơ giới thô, ven sông, ven biển hoặc trầm tích do gió thổi tới hoặc

là những đất rất cổ trên tàn tích sản phẩm phong hoá đá axit đã mất hết những vật liệu khoáng nguyên sinh chỉ còn lại các hạt thạch anh (hạt thô) trong tiến trình hình thành đất

- Đất cát ở những vùng đồng bằng ven biển: có nguồn gốc tích tụ, nhưng chúng ở

vào những giai đoạn rất khác nhau, còn gọi là "đất cát trẻ" Có nơi đồng bằng được tiếp tục bồi đắp bởi cát biển, có nơi sự tích tụ lại xảy ra chủ yếu bởi phù sa sông hoặc trầm tích sông - biển được tích tụ cùng một lúc

2.1.2.3 Tính chất đất cát ven biển

- Tính chất vật lý: đất cát ven biển có thành phần cơ giới nhẹ, cơ bản là cát, trong

đó hàm lượng cát mịn lên đến 71-94%, đối với cồn cát ven biển thì thành phần cơ giới thô hơn, có khi lên đến 33- 44% [20], hàm lượng sét thấp, đó là lý do chính về khả năng giữ nước, giữ phân kém của đất cát ven biển ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát triển của cây trồng

7

Trang 8

+ Về dung trọng của đất cát ven biển thay đổi từ 1,4 đến 1,7 g/cm3, độ xốp thấp, thay đổi trong khoảng 35 - 45%, sức chứa ẩm đồng ruộng thấp, vì vậy nước mưa hoặc nước tưới không được giữ lại trong các lớp trên mà thấm sâu rất nhanh

Đất cát ven biển có kết cấu đất kém, rời rạc, nhưng có ưu điểm nổi bật là mực nước ngầm dâng cao, có thể hạn chế phần nào đặc tính xấu của đất

+ Dung tích hấp thu của đất thấp, chủ yếu dao động khoảng 4 đến 7 meq/100g đất trong khi đất phù sa sông Hồng đạt 10-15 meq/100g Độ no bazơ của

đất cát biển thường thấp nên rất cần được bón vôi và phân chuồng

- Tính chất hoá học: thành phần hoá học của đất cát ven biển liên quan chặt chẽ

với thành phần cơ giới và sự phát triển của quá trình hình thành đất, dưới tác động của thảm thực vật mọc trên đó

+ Đất CVB có hàm lượng silic (SiO2) rất cao (60 - 85%) Hàm lượng Fe2O3; : 1,2 - 9,7 %, Al2O3: 0,95 - 18,2 %, TiO2: 0,1 - 0,8 %, MnO: 0,008 - 0,13 %, Na2O: dưới 0,9 % Hàm lượng K2O biến động trong khoảng 0,16 - 2,2 %, CaO: 0,6 - 2,2

%, MgO: 0,1 - 1,85 % [4]

+ Về hàm lượng mùn (OM), nghèo hơn cả đất bạc màu, qua các mẫu quan sát ở vùng Thạch Hà cho thấy hàm lượng mùn rất thấp; cồn cát chỉ có hàm lượng mùn OM từ 0,1 - 0,19 % (xem phụ lục 3)

+ Đạm tổng số trong đất cát biển cũng biến động theo hàm lượng mùn, thường là N = 0,07 - 0,09% Tuy nhiên trong thực tiễn sản xuất cho thấy một loại

đất cát nhẹ, nghèo mùn nhưng được chăm bón tốt thì lượng đạm trong đất vẫn không quá ít

+ Đất cát ven biển rất nghèo lân, chỉ xung quanh 0,02 %, nguyên nhân chính

do rửa trôi các cỡ hạt đất nhỏ của đất CVB [20]

+ Kali tổng số trong đất cát biển thuộc loại trung bình, thay đổi khoảng 0,25

- 0,9% Đất cát ven biển có lượng kali như vậy có thể là một trong những nguyên nhân làm cho khoai, lạc, đậu phát triển thích hợp trên đất này

Trang 9

+ Độ chua của đất cát biển thay đổi, dao động pHKcl từ 4,1 - 5,2 Nơi cao, rửa trôi mạnh, đất thô nghèo thì pHKcl thường thấp dưới 5

+ Chất dễ tiêu của đất CVB rất nghèo, lân thường từ 1,9 - 7,1g/100g đất, còn kali có khoảng thay đổi rộng hơn từ 1,9 - 20mg/100g Những nơi cồn cát hay đất cát khô hạn quanh năm thường các chất dễ tiêu có hàm lượng thấp

- Các đặc tính về thuỷ văn

ở BTB nói chung, trên địa bàn Hà Tĩnh nói riêng mật độ sông suối khá dày

đặc (1,1 km/km2)nhưng ngắn và dốc nên về mùa mưa lũ tốc độ dòng chảy lớn tăng khả năng bào mòn đất, trong khi đó về mùa kiệt không giữ được nước nên ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây trồng

- Đặc điểm chế độ nước ngầm

Đất CVB có đế nước ngầm dâng cao (50 - 180 cm so với mặt đất), làm điều hoà chế độ nhiệt của đất vào mùa khô nóng và góp phần cung cấp nhu cầu nước cho cây

- Phân loại đất cát ven biển

+ Trong tài liệu nghiên cứu về đất CVB [20], tác giả Phan Liêu có đề cập

đến một số thông tin về sự phân loại đất trên thế giới Như ở Liên Xô (cũ) các loại

đất cát như cát podzol, cát sa mạc, cát nâu, cát màu hạt dẻ, đụn cát được xếp vào ngành phụ "đất không hoặc kém phát triển"

+ Theo hệ thống phân loại mới của Mỹ (American New Clasification of soils

7 th Approximation), tất cả các loại đất cát được xếp vào bộ (order) Entisol, trong

9

Trang 10

đó tách ra bộ phụ (Suborder) Fluvents gồm các cát trầm tích sông và cát dốc tụ (FAO dùng thuật ngữ là fluvisols), bộ phụ Psamments gồm các đụn cát, cát sa mạc

(FAO gọi là Regosols) Các tác giả phương Tây khác thì xếp đất cát vào một nhóm lớn gọi là "đất kém phát triển" (The Weakly developped soils)

+ ở Việt Nam có một số loại đất cát như cát dốc tụ chân đồi núi, cát bờ các sông lớn, cát ven biển trong đó đất cát ven biển có tiềm năng diện tích lớn nhất và

đây cũng là đối tượng được nghiên cứu trong đề tài

+ Theo phương pháp đánh giá đất của FAO - UNESCO [17], đất CVB được xếp vào nhóm Arenosols (AR), phân chia ra các đơn vị là: cồn cát trắng vàng, tên quốc tế là Luvic Arenosols (ARL); Cồn cát đỏ - Rhodic Arenosols (ARr); đất cát biển - Haplic Arenosols (ARh); đất cát mới biến đổi - Cambic Arenosols (ARc);

đất cát glây (Cg) - gleyic Arenosols (ARg)

+ Dựa theo cách phân cấp này, ở huyện Thạch Hà nhóm đất cát ven biển có diện tích 14.600 ha được chia làm 2 loại: cồn cát trắng vàng có 4762 ha và đất cát ven biển có 9838 ha [43]

2.1.2.4 Công dụng của đất cát ven biển

- Trong sản xuất nông, lâm nghiệp

+ Sử dụng đất cát ven biển để trồng trọt: Đất CVB có những ưu điểm cơ bản

là thành phần cơ giới thường là cát pha, tơi xốp , dễ làm đất lại phân bố ở vùng

đồng bằng phù hợp cho nhiều loại cây trồng phát triển Chính nhờ đặc tính đó nên

bà con nông dân có truyền thống dùng đất CVB để canh tác lúa - màu, nhất là cây trồng cạn như lạc, vừng, khoai lang,ngô, đậu đỗ

+ Trong chăn nuôi: ngoài việc xây dựng chuồng trại, chăn nuôi gia cầm

(nhất là thuỷ cầm như vịt, ngan) phải kể đến tiềm năng to lớn của vùng ven biển trong NTTS Vùng đồng bằng ven biển nhiều sông ngòi, đặc biệt nơi các cửa sông lớn đổ ra biển thường hình thành các đầm phá, cồn, bãi Vùng Nghệ An, Hà Tĩnh có cửa Lò, cửa Sót, hay ở Thừa Thiên Huế có phá Tam Giang là những tiềm năng lớn cho NTTS cũng như phát triển du lịch sinh thái biển

Trang 11

+ trong lâm nghiệp: cồn cát thường được dùng vào trồng rừng phòng hộ ven

biển Những cây phù hợp thường là phi lao, thông, keo bạch đàn Gần đây thông qua các dự án phủ xanh đất trống đồi trọc, bà con nông dân đã được hỗ trợ kinh phí

từ nguồn vốn như 327, 661 để trồng rừng trên cồn cát làm tăng độ che phủ, hạn chế những thiên tai (như nạn cát bay, cát nhảy, gió bão, mưa lũ làm sạt lở, xói mòn đất)

- Trong dịch vụ du lịch: các dải đất cát ven biển là tài nguyên vô giá mà cho đến

nay mới chỉ khai thác được một phần Dọc bờ biển Duyên hải miền Trung có nhiều cảnh đẹp với những bãi tắm, những khu rừng đặc dụng cho du lịch sinh thái như Sầm Sơn, Cửa Lò, Thiên Cầm, Thạch Hải, Nhật Lệ, Cửa Tùng đó là tiềm năng lớn giúp các vùng ven biển chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong tương lai

- Trong các lĩnh vực khác: như công nghiệp, xây dựng, giao thông, thuỷ lợi, ở vùng

ven biển không thể không sử dụng đến đất đai trong đó đất cát ven biển là chủ yếu

2.1.2.5 Những nguyên tắc cơ bản để sử dụng đất cát ven biển trong nông nghiệp

- Sử dụng đất trước hết phải dựa trên cơ sở phân hạng thích nghi

Đối với đất cát ven biển miền Trung do tính chất như trên đã phân tích là

loại đất nghèo dinh dưỡng và thường phân bố ở những vùng khô hạn, khả năng thấm nước nhanh nên ngoài những yếu tố về đất như loại đất, địa hình tương đối, thành phần cơ giới, độ phì nhiêu thì điều kiện tưới tiêu được đặc biệt quan tâm Ngoài ra, ở những vùng nghiên cứu có phạm vi rộng còn cần quan tâm đến các yếu

tố về khí hậu thuỷ văn như nhiệt độ, tổng tích ôn, lượng mưa

+ Loại đất: được đặc trưng bởi hàng loạt chỉ tiêu lý hoá tính cơ bản của đất

Loại đất còn cho ta khái niệm ban đầu về khả năng sử dụng với mức độ thích nghi cao, thấp một cách tương đối

+ Cấp địa hình tương đối: là yếu tố đặc trưng cho địa hình vùng đồng bằng

như vùng ven biển, liên quan trực tiếp đến điều kiện tưới tiêu từ đó ảnh hưởng tới sản xuất, bảo vệ đất và môi trường Có thể chia thành nhiều cấp khác nhau (địa hình cao, vàn cao, vàn, vàn thấp, trũng)

11

Trang 12

+ Độ dày tầng đất: là một yếu tố quan trọng trong đánh giá, phân hạng, đặc

biệt là đối với cây trồng dài ngày như cây ăn quả, những cây trồng có bộ rễ ăn sâu, hút được nhiều nước và chất dinh dưỡng, giúp cho cây đứng vững và bảo đảm cho cây trồng sinh trưởng và phát triển lâu bền, chống được gió bão ở vùng ven biển Tuy nhiên, đất CVB thường có độ dầy tầng đất hầu hết trên 100 cm Do đó độ dày tầng đất không phải là yếu tố hạn chế trong đánh giá phân hạng thích nghi

+ Thành phần cơ giới: ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển

của cây trồng cũng như quá trình sản xuất Thành phần cơ giới của đất cát ven biển thường là cát hoặc cát pha dễ làm đất, thu hoạch

+ Tình trạng ngập úng: vùng ven biển thường thấp, những vùng cửa sông đổ

ra biển về mùa mưa dễ bị ngập úng Xác định được các vùng ngập úng với mức độ khác nhau để giúp ta có giải pháp bố trí cây trồng và mùa vụ thích hợp, nhất là miền Trung có đặc điểm về mùa mưa thường mưa tập trung lượng mưa lớn

+ Chế độ tưới: là yếu tố quyết định trong sản xuất nông nghiệp đối với loại

hình sử dụng đất lúa - màu, đồng thời đem lại hiệu quả cao đối với cây trồng cần tưới như vùng chuyên màu, cây ăn quả Tuỳ theo sự phát triển thuỷ lợi khả năng cung cấp nước của vùng chia ra tưới chủ động , tưới khó khăn hay không được tưới

Đây cũng được coi là yếu tố “trội” trong phân hạng thích nghi của đất CVB

+ Lượng mưa: ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng và phát triển của cây

trồng, đặc biệt là các vùng không được tưới Lượng mưa phản ánh tương đối mức

độ cung cấp ẩm cho đất và cây Vùng Thạch Hà lượng mưa thường lớn nhưng lại không đều trong năm, tập trung chủ yếu vào mùa hè

+ Tổng tích ôn/năm : cây trồng và giống cây trồng có sự thích ứng khác

nhau với nhiệt độ Vì vậy, cần phải xác định chế độ nhiệt của từng vùng để bố trí cây trồng Tuy nhiên đối với vùng miền Trung tổng ích ôn là lớn, thường trên

8000oC

Tóm lại, khi phân hạng thích nghi cần đặc biệt ưu tiên những yếu tố "trội" có

tính đặc thù cho các loại hình sử dụng đất lựa chọn

Trang 13

- Lựa chọn loại hình sử dụng đất dựa trên nguyên tắc phát huy lợi thế so sánh

Đất đai giữa các vùng đều có sự khác nhau về tính chất, về vị trí tương đối,

về điều kiện kinh tế xã hội Sự khác nhau ấy tạo nên năng suất, chất lượng cây trồng vật nuôi khác nhau dẫn đến hiệu quả kinh tế thu được trên đất cũng sẽ khác nhau, vấn đề này đã được C Mác trình bày trong lý thuyết về địa tô [5]

Những lợi thế của đất CVB trong sản xuất nông nghiệp như đã trình bày là phù hợp cho cây trồng cạn lấy củ, lấy quả như cây CNNN (lạc, vừng, đậu đỗ, rau quả thực phẩm) Đó là những cây trồng hàng hoá có giá trị kinh tế cao trên thị trường hiện nay Nếu trên đất CVB việc trồng lúa coi là kém thích nghi vì thiếu nước, đất nghèo dinh dưỡng năng suất thấp thì cũng trên đất ấy nếu chuyển sang phương thức canh tác khác đem lại những sản phẩm hàng hoá có giá trị kinh tế cao thì lại trở thành lợi thế

- áp dụng TBKT, tăng cường đầu tư thâm canh

Vùng ven biển thường là mật độ dân cư đông, việc đẩy mạnh thâm canh trên tất cả diện tích đất nông nghiệp có ý nghĩa lớn nhằm bảo đảm cung cấp đủ lương thực, thực phẩm cho dân cư trong vùng Trong điều kiện CNH - HĐH đất nước, sức

ép về đô thị hoá, gia tăng dân số làm đất nông nghiệp càng thu hẹp như hiện nay thì thâm canh là biện pháp cơ bản quan trọng nhằm đưa nền sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, lựa chọn những cây trồng vật nuôi phù hợp với vùng ven biển nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng đất, một nguồn tài nguyên ngày càng khan hiếm

- Phát triển bền vững trên đất cát ven biển

Đất là một yếu tố tạo thành môi trường, con người tác động vào đất, thông

qua đất để thu sản phẩm phục vụ cho mục đích của mình hoặc là trồng trọt, chăn nuôi, trồng rừng hoặc xây dựng các công trình nhà cửa [7] Vùng ven biển là vùng khá nhạy cảm với hiện tượng thiên nhiên thời tiết khí hậu, các hiện tượng bão, lốc, mưa lũ thường xuyên xảy ra Đặc biệt trên vùng cát còn các hiện tượng như xói lở

đất, hiện tượng cát bay, cát nhảy, cát chảy làm mất đất canh tác, phá huỷ các công

13

Trang 14

trình giao thông, làng mạc, ảnh hưởng tới sức khoẻ con người Nên các hoạt động kinh tế ở vùng này, nhất là trong lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp luôn coi trọng việc kết hợp khai thác sử dụng với bảo vệ và cải tạo đất Việc lựa chọn những loại hình sử dụng đất hợp lý có hiệu quả kinh tế cao đồng thời thông qua đó để bồi dưỡng nâng cao độ phì của đất phải luôn được coi là phương án ưu tiên Trên những vùng cồn cát ven biển đặc biệt cần coi trọng trồng rừng phòng hộ để hạn chế thiên tai Công tác thuỷ lợi, điều tiết cân bằng nước cho nông nghiệp, NTTS và sinh hoạt ở các vùng ven biển đang là vấn đề bức xúc rất cần được sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương và các cơ quan nghiên cứu khoa học

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Trên thế giới

Hiện nay hành tinh chúng ta có khoảng 148 triệu km2 nhưng đất canh tác để sản xuất nông lâm nghiệp chỉ có khoảng 27% diện tích tự nhiên (DTTN) [7] Với trên 900 triệu ha, chiếm khoảng 7% bề mặt trái đất (nếu tính cả những đụn cát di

động và cát chảy chiếm tới 10%)

Đối với nhiều nước trên thế giới như Nga, Mỹ, Đức, Hà Lan người ta sử dụng đất cát ở các vùng thảo nguyên, ven hồ lớn để xây dựng những bãi chăn thả gia súc có giá trị, nhất là đối với ngành nuôi cừu lấy len [20], ở một số vùng khác

đất cát ven biển được dùng trồng cây ăn quả như dừa, điều, thanh long, cây có múi, cây dược liệu, trồng rừng nhân tạo

Đất cát vùng khô hạn có tổng lượng mưa hàng năm nhỏ hơn 300 mm, tại những vùng này thường được sử dụng chủ yếu để chăn nuôi quảng canh theo phương thức du mục Tuy nhiên, với những nơi có tổng lượng mưa từ 300 - 600

mm, khi gieo trồng các loại cây lấy hạt như dưa; đậu và cây thức ăn cho gia súc

được tưới đã cho năng suất khá cao, phương pháp tưới được coi là có hiệu quả nhất thường được sử dụng ở vùng đất cát là tưới nhỏ giọt kết hợp với bón phân liều lượng hợp lý, tưới nước bề mặt không phù hợp do tính thấm cao của cát dẫn đến mất mát nước quá nhiều

Trang 15

Đất cát ở vùng ôn đới có những hạn chế tương tự như đất cát ở vùng khô hạn, tuy nhiên tình trạng khô hạn thường ít trở ngại hơn, phần lớn đất cát ở vùng ôn

đới có rừng che phủ (rừng trồng hoặc là rừng tự nhiên) thuộc các khu bảo tồn thiên nhiên Một số diện tích nhỏ được sử dụng cho nông nghiệp để trồng cây ngũ cốc, cây làm thức ăn cho cho gia súc, trồng cỏ để chăn nuôi và dĩ nhiên để các cây trồng trên có năng suất cao cũng phải sử dụng phương pháp tưới phun bổ sung nhằm ngăn chặn áp lực hạn hán trong những giai đoạn khô hạn

Khác với đất cát ở vùng khô hạn và vùng ôn đới, đất cát ở vùng nhiệt đới ẩm thường có chất lượng tốt hơn nhiều nếu giữ được lớp phủ thực vật tự nhiên Vì dinh dưỡng tập trung chủ yếu trong sinh khối của lớp đất mặt 0-20 cm nên việc lấy đi lớp phủ thực vật sẽ làm cho đất suy giảm độ phì và không có giá trị kinh tế cũng như sinh thái ở một số nơi đất cát đã được sử dụng để trồng các cây trồng dài ngày như cao su và hồ tiêu; đất cát biển được sử dụng để trồng các cây lâu năm như dừa, điều, thông và phi lao với những nơi có nguồn nước ngầm chất lượng tốt ở trong tầng đất mà rễ cây có thể tiếp cận và sử dụng được Các cây lấy củ cũng thích hợp ở loại đất này vì dễ thu hoạch, nhất là với sắn là cây có thể chịu được những loại đất có hàm lượng dinh dưỡng thấp Lạc được trồng ở trên những loại đất cát có tính chất tốt hơn Như vậy, có thể thấy những nghiên cứu về đất cát ở nước ngoài

đã được đề cập đến khá toàn diện từ đặc điểm vật lý đến hoá học, sự khác biệt của

đất cát phân bố ở các vùng khí hậu khác nhau, tình hình sử dụng và giải pháp tưới nước phù hợp Tuy nhiên, ở nhiều nơi trên thế giới việc sử dụng đất cát cho mục

đích canh tác trồng trọt không nhiều mà chủ yếu cho phát triển đồng cỏ chăn nuôi hoặc trồng cây làm thức ăn gia súc Phần lớn đất cát được sử dụng trồng rừng nhằm hạn chế quá trình sa mạc hoá, bảo vệ môi trường

Việc khai thác sử dụng có hiệu quả và bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên ven biển nói chung và tài nguyên đất ven biển nói riêng hiện nay đang trở nên bức xúc, theo báo cáo của Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP) sáu phần mười dân số thế giới sống ở vùng ven biển và trong khoảng 20 - 30 năm

15

Trang 16

tới dân số vùng ven biển sẽ tăng gấp đôi, trong đó chủ yếu là nông dân và ngư dân.Ngoài khía cạnh phát triển kinh kế thì ngược lại vấn đề môi trường ngày càng trở nên búc xúc bởi sự xuống cấp của nó Nhiều nhà khoa học của UNEP cảnh báo các nước phải sử dụng những kinh nghiệm và kỹ thuật tối ưu có thể có được để quản lý những vùng ven biển bị đe doạ bởi bão lũ, lở đất, sa mạc hoá [30]

Nói về tình trạng sa mạc hoá, tác giả Nguyễn ánh Hồng [18] đưa ra một số thông tin cảnh báo: từ năm 2000 đến nay mỗi năm trái đất mất đi 3.436 km2 diện tích canh tác do sa mạc hoá Những vùng bị là phía Nam sa mạc Sahara, khu vực Gobi (Trung Quốc) mà nguyên nhân chính là trái đất nóng lên, cát lấp, hạn hán kéo dài

Từ năm 1950 đến nay diện tích đất canh tác của Trung Quốc bị sa mạc hoá tăng thêm 92.100 km2

Tại Tây Ban Nha, có 31% diện tích đất canh tác bị đe doạ nguy cơ sa mạc hoá

2.2.2 Khái quát thực tiễn sử dụng đất cát ven biển ở Việt Nam

- Những nghiên cứu về tài nguyên đất cát ven biển

+ ở Việt Nam đến nay có nhiều công trình nghiên cứu về đất nhưng chủ yếu tập trung vào những nhóm đất như phù sa sông Hồng, ĐBSCL, đất đồi núi, ba zan Tuy nhiên còn ít công trình nghiên cứu về đất CVB vì từng coi đây là "đất có vấn đề" Từ năm 1989 trở về trước Việt Nam thiếu lương thực trầm trọng, nên mục tiêu làm nông nghiệp là chủ yếu để bảo đảm lương thực, trong khi đất cát biển ít phù hợp cho cây lúa vẫn phải trồng lúa dù năng suất thấp

+ Năm 1981, Phan Liêu trong quá trình nghiên cứu về đất cát biển cũng

đã đề cập đến một số khía cạnh về phát sinh, xây dựng hệ thống phân loại đất cát ven biển nhưng chưa đi sâu nghiên cứu hiệu quả sử dụng của nhóm đất này [20]

+ Khi tài nguyên đất ngày càng khan hiếm đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp thì việc nghiên cứu khảo sát, mở rộng đất nông nghiệp càng trở nên bức xúc

Trang 17

Đất đồi núi, đất cát ven biển là những loại đất có tiềm năng còn rất lớn về diện tích nhưng đến nay nhiều nơi còn hoang hoá

+ Cả nước hiện nay diện tích nhóm đất CVB có 479,1 nghìn hectar, tập trung chủ yếu ở 4 vùng; BTB (202,8 nghìn hectar), NTB (244,6 nghìn hectar), vùng

ĐBSH và Quảng Ninh (13,7 nghìn hectar), ĐNB (17,9 nghìn hectar) Như vậy vùng Duyên hải miền Trung là lớn nhất, chiếm tới 93,4 % diện tích nhóm đất cát ven biển cả nước [49] Nhóm đất này được chia các loại: (i) đất cồn cát trắng, vàng (178,3 nghìn hectar, chiếm 37,2%), phân bố chủ yếu ở các tỉnh ven biển miền Trung, trong đó Bắc Trung Bộ có 93000 ha, Nam Trung Bộ có 82.300 ha và Đông

nam Bộ có 2900 ha (ii) Đất cồn cát đỏ (73.400 ha, chiếm 15,3%), phân bố tập

trung tại Bình Thuận và một ít ở tỉnh Ninh Thuận thuộc vùng duyên hải Nam

Trung Bộ (iii) Đất cát ven biển (227,4 nghìn hectar, chiếm 47,4%), trong đó vùng

BTB chiếm xấp xỉ 48,5% còn lại là các vùng NTB, ĐNB và ĐBSH

- Những nghiên cứu về phân vùng đất cát ven biển

+ Tác giả Phạm Việt Hoa cùng nhóm nghiên cứu đề tài "Điều tra đánh giá hiện trạng về môi trường sinh thái vùng đất cát và các đầm phá ven biển miền trung nhằm chống sa mạc hoá bảo vệ môi trường phục vụ phát triển kinh tế xã hội" [16], đã đưa ra các vùng sinh thái đất cát ven biển các tỉnh miền Trung (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận) theo lát cắt từ bờ biển vào sâu trong đất liền 4 - 5 km chia thành 3 vùng; vùng ngoài (sát biển),vùng giữa, vùng trong

(i) Vùng ngoài: sát biển thường gồm các bãi cát, cồn cát di động; khoảng

cách từ mép biển vào đất liền khoảng 150- 200 m Vùng này tồn tại thực vật chịu gió cát, chịu hạn như me rừng, mẫu đơn, cỏ lông chông, dứa dại Các loại thực vật chịu hạn có cơ cấu chống mất nước như lá biến thành gai (xương rồng, vợt gai), lá kim (phi lao) hoặc có bộ rễ dài ăn sâu 1 - 2 m trong cát để hút nước sinh tồn

(ii) Vùng giữa: tiếp theo vùng sát biển và ăn sâu vào đất liền từ 2 - 3 km hoặc

vào sâu hơn Vùng giữa là vùng đã có khá đông dân cư sinh cơ lập nghiệp Hệ sinh

17

Trang 18

thái phong phú, các cây trồng nông nghiệp như lúa, ngô, lạc đậu, dưa hấu , cây ăn quả như xoài, dừa Nhìn chung ở vùng sinh thái này, nạn cát bay, cát nhảy, cát chảy khá trầm trọng nên hướng phát triển các mô hình trồng rừng, nông lâm kết hợp phải được coi trọng

(iii) Vùng trong: là vùng cách bờ biển từ 3 - 5 km trở vào Đây là nơi tập

trung dân cư đông đúc, làng mạc trù phú Hệ thống cây trồng nông nghiệp phong phú; vùng đất cát cao hoặc vàn cao thường là trồng màu như cây CNNN, rau đậu Trên địa hình đất cát vàn , thấp trũng dân trồng lúa, NTTS Cây dài ngày như xoài, dừa, thơm, thanh long, nho và cây lấy gỗ, nguyên liệu giấy như phi lao, bạch đàn, tràm

+ Tác giả Nguyễn Võ Linh đã xếp đất CVB vùng BTB thành 2 đơn vị sinh thái nông nghiệp đó là: (i) đơn vị sinh thái nông nghiệp đồng bằng ven biển Thanh

- Nghệ - Tĩnh; (ii) đơn vị sinh thái nông nghiệp đồng bằng ven biển Bình -Trị - Thiên

Cả hai đơn vị sinh thái này với đặc điểm thổ nhưỡng chủ yếu các loại đất cát

có tiềm năng khá lớn nhưng hạn chế là dinh dưỡng kém , ảnh hưởng đến sinh trưởng cây trồng và thoái hoá đất (đất cát nhiễm mặn ven biển) Hơn nữa đây là nơi chịu ảnh hưởng của bão, nạn cát bay, cát nhảy (nhất là từ Hà Tĩnh trở vào) gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân

- Những nghiên cứu về sử dụng đất cát ven biển

Hiện nay Việt Nam đã bảo đảm đủ lương thực đáp ứng tiêu dùng trong nước

và từ năm 1989 đến nay hàng năm xuất khẩu hàng triệu tấn gạo Việc nghiên cứu chuyển đổi một phần đất lúa kém hiệu quả sang canh tác cây trồng khác hoặc sang mục đích sử dụng khác là đòi hỏi khách quan của nền kinh tế như kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XI mới đây nhất (tháng 6 năm 2004) đã thảo luận Đất cát ven biển

đã trở thành đối tượng nghiên cứu cho mục đích chuyển đổi sang các cây trồng hàng hoá có giá trị kinh tế cao hoặc sang NTTS

Trang 19

+ Mô hình trồng cây hàng năm như: cây lạc xuân trên đất CVB trồng theo

phương pháp che phủ nilon ở xã Diễn Quỳnh - huyện Diễn Châu cho giá trị sản lượng đạt từ 18-19 triệu đồng/ha, thu nhập bình quân đạt 12-13 triệu đồng/ha Bông

xen dưa hấu trên đất CVB ở huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế đạt giá trị sản

lượng 29,36 triệu đồng, trừ chi phí còn lại cho thu nhập 13,32 triệu đồng Mô hình

trồng bông trong mùa mưa (Hòa Thắng, Bắc Bình, Quảng Nam) năng suất thu

được từ 10 - 12 tạ bông hạt/ha Mô hình này thành công sẽ có ý nghĩa lớn cho việc

đưa cây bông vào sản xuất đại trà trên đất CVB, đây là cây thay thế nhập khẩu (hiện nay Việt Nam phải nhập khẩu trên 60% bông sợi nguyên liệu cho công

nghiệp dệt) [21]

+ Mô hình trồng cây lâu năm trên đất cát ven biển như: cây dừa ở Bến Tre

có thể phát triển trên các vùng đất xấu như đất cát nhiễm mặn ven biển cũng mang lại một nguồn thu nhập quan trọng cho nông dân (giá trị sản xuất khoảng 10 triệu

đồng/năm Cần thiết phải áp dụng giống mới, quy trình kỹ thuật mới để nâng năng suất dừa lên 5 - 6 tấn/ha thì hiệu quả sản xuất dừa sẽ cao hơn Hiện nay dừa được

chế biến với nhiều sản phẩm xuất khẩu [2] Cây điều ở Bình Định phù hợp với đất

đai, khí hậu, thời tiết vùng đất cát ven biển NTB Trồng giống điều ghép mới cho năng suất tới 1,8 tấn/ha (cao hơn giống cũ 1,1 tấn), giá trị sản lượng đạt 15,3 triệu

đồng/ha, lợi nhuận đạt 11,16 triệu đồng/ha (cao hơn giống cũ 8,445 triệu đồng/ha) [21]

+ Mô hình trồng cỏ kết hợp chăn nuôi: tỉnh Quảng Nam có mô hình khá độc

đáo, mô hình nuôi đà điểu của Công ty Khánh Việt Từ 10 ha đất cát hoang hoá,

đã xây dựng thành một trại nuôi đà điểu khép kín để có thể nuôi được 600 con, trong đó 3 ha dùng để trồng cỏ, sản xuất thức ăn Thịt đà điểu trên thị trường hiện nay giá khoảng 150.000đồng/kg [21]

+ Nuôi trồng thuỷ sản trên đất cát ven biển: Kết quả khảo sát năm 2002 của

Viện Kinh tế, Bộ Thuỷ sản và Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế (IUCN) [40] cho thấy chỉ khoảng 20.000 ha đất CVB miền Trung có khả năng quy hoạch và cải

19

Trang 20

tạo để NTTS Trong đó, Quảng Bình (4500 ha), Quảng Trị (4000 ha), Quảng Ngãi (4000 ha), Ninh Thuận (1500 ha), Bình Định (1000-1300 ha), Hà Tĩnh (1300 ha), Thừa Thiên Huế (600 ha), Phú Yên (250 ha) [39] Cũng theo kết quả nghiên cứu này, chỉ sau chưa đầy hai năm (đến năm 2002), diện tích nuôi tôm trên cát tại một

số tỉnh miền Trung tăng lên rất nhanh: 200 ha ở Ninh Thuận, 60 ha ở Quảng Ngãi,

16 ha ở Thừa Thiên Huế, 14 ha ở Quảng Bình, 6 ha ở Quảng Trị Năng suất nuôi tôm bình quân mỗi vụ dao động từ 1,72 tấn/ha ở Bình Định, 3 tấn/ha ở Quảng Trị

và Thừa Thiên Huế, đến 6 tấn/ha ở Ninh Thuận , đem lại thu nhập rất cao Đến nay

đã có một số dự án lớn nuôi tôm trên cát đang triển khai tại miền Trung như:

(i) Dự án 2000 ha phát triển nuôi tôm trên cát và cơ sở hạ tầng dịch vụ liên

quan như trại giống và nhà máy chế biến tại 2 huyện Thạch Hà và Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh

(ii) Dự án 2800 ha xây dựng khu nuôi tôm công nghiệp trên cát lớn nhất

Viêt Nam tại 2 huyện Quảng Ninh và Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình

+ Sử dụng đất cát ven biển theo hướng nông - lâm kết hợp [41]

Vùng cát ven biển huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị, trong số 8.020 ha tổng diện tích tự nhiên có đến 4.665.ha là đất cát ven biển (chiếm 58,2%) ở một số xã ven biển như Triệu An, Triệu Vân, Triệu Trạch, Triệu Lăng hầu như chỉ toàn là

đất cát ven biển Việc nghiên cứu cải tạo khai thác sử dụng đất cát ven biển trong vùng mang ý nghĩa lớn về kinh tế, xã hội , môi trường trước mắt cũng như lâu dài Trên địa bàn đã xuất hiện một số mô hình như: (i) Theo hướng nông lâm kết hợp,

đất cát ven biển được chia ô, lên liếp, gắn với mương tiêu và hệ thống đai rừng chắn gió, giữ ẩm, trồng các cây chịu hạn như ớt, dưa hấu, khoai lang Sau khi đất tương đối thuộc có thể tổ chức canh tác theo công thức luân canh: lúa vãi + cây gia

vị (hành tây, ớt ) + dưa hấu hoặc khoai lang (ii) Phát triển kinh tế vườn, tại một

số khu dân cư mới hình thành trồng cây ăn quả như mãng cầu xiêm, chanh, táo, bưởi, dừa Một số hộ còn trồng cỏ chịu hạn làm thức ăn chăn nuôi bò

- Nghiên cứu về cảnh báo môi truờng khi sử dụng đất CVB

Trang 21

+ Tác giả Nguyễn Văn Toàn trong đề tài nghiên cứu nhận xét [34]: bên cạnh lợi ích kinh tế-xã hội trước mắt của nghề nuôi tôm trên cát, đặc biệt là quy mô lớn, vẫn còn tiềm ẩn một số vấn đề về môi trường Ví dụ, nếu việc khai thác nước ngầm

để nuôi tôm trên cát quá giới hạn cho phép có thể dẫn đến sụt lở địa tầng, cạn kiệt nguồn nước ngầm ngọt, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước sinh hoạt của nhân dân và cho sản xuất nông nghiệp tại các khu vực lân cận

+ Rừng phòng hộ (thường là trồng phi lao) đối với vùng bờ cát có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, là giải pháp hữu hiệu và mang tính truyền thống ở nước ta để chống cát bay, cát chảy và bão cát, tạo cảnh quan đẹp cho vùng bờ cát ở các xứ nóng như miền Trung Nhưng những dải rừng như vậy đang bị ảnh hưởng và chết dần do nguồn nước ngầm nuôi cây đã bị hút cạn kiệt chủ yếu do nuôi tôm trên cát [39]

Tóm lại: các công trình nghiên cứu vừa nêu đã phản ánh khá rõ nét đặc thù

của đất cát ven biển nhưng chủ yếu là những nghiên cứu về tính chất, những yếu tố

tự nhiên vùng cát ven biển Tuy nhiên những nghiên cứu có tính chất tổng hợp về

sử dụng và hiệu quả sử dụng đất cát ven biển hầu như được đề cập chưa sâu, nhất là những giải pháp sử dụng để đạt hiệu quả và bền vững Đây cũng là mảng nội dung nghiên cứu mà đề tài này đề cập

21

Trang 22

3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 3.1 Khái quát đặc điểm huyện Thạch Hà

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý: Thạch Hà nằm ở vị trí trung tâm của tỉnh Hà Tĩnh, cách thành

phố Vinh 45 km Toạ độ địa lý của huyện nằm trong khoảng: 18010'03'' - 18029' vĩ

độ Bắc, 105038'- 106002' kinh độ Đông Ranh giới hành chính của huyện như sau:

+ Phía Bắc giáp với huyện Can Lộc và biển Đông

+ Phía Nam giáp với hai huyện Cẩm Xuyên, Hương Khê

+ Phía Đông giáp huyện Cẩm Xuyên và biển Đông

+ Phía Tây giáp hai huyện Hương Khê, Can Lộc

- Tài nguyên đất: Trên địa bàn huyện Thạch Hà có 6 nhóm đất chủ yếu,

trong đó nhóm đất cát ven biển có diện tích lớn nhất (14600 ha, chiếm 34,35 % DTTN cả huyện), phân bố hầu khắp các xã nhưng tập trung chủ yếu ở 22 xã gần biển (xem phụ biểu số 2) Loại đất này hiện nay chủ yếu trồng cây nông nghiệp hàng năm như lúa, ngô, khoai lang, cây CNNN, rau đậu Ngoài ra trên địa bàn

huyện còn có những nhóm đất khác (bảng 1)

- Về địa hình: huyện Thạch Hà có thể chia thành 3 dạng địa hình:

+ Vùng đồi nằm ở phía Tây Nam của huyện: gồm các xã Nam Hương, Bắc

Sơn, Thạch Xuân, Thạch Điền, Ngọc Sơn, Thạch Ngọc, có độ cao trung bình trên

50 m so với mặt nước biển

+ Vùng đồng bằng: ven quốc lộ 1A (như các xã Tượng Sơn, Thạch Môn,

Thạch Hạ, Hộ Độ, Thạch Kênh, Thạch Liên, Phù Việt, Thạch Thanh, Thạch Lâm, Thị xã Hà Tĩnh, Thạch Đài), có độ cao trung bình từ 1- 5 m so với mặt nước biển

+ Vùng ven biển: bao gồm 22 xã trong tổng số 42 xã của huyện Địa hình

của vùng hầu hết là đồng bằng, cồn cát và một phần diện tích đồi núi thấp nằm sát biển ở đây có đỉnh Nam Giới (Thạch Bàn, Thạch Hải) có độ cao 374 m, đỉnh Bằng Sơn (Thạch Bằng) có độ cao 148 m

Trang 23

Bảng 1 Diện tích các loại đất huyện Thạch Hà

( % )

3 Đất xám bạc màu trên đá mác ma axít Ba 11,13 0,03

+ Khí hậu: Thạch Hà nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, ngoài ra còn

chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam Khí hậu

Thạch Hà có một số đặc điểm sau:

* Lượng mưa: trung bình hàng năm lượng mưa cao (2500 mm nhưng phân

bố không đều, chỉ tập trung vào các tháng mùa hè và thường kết thúc muộn Tổng

lượng mưa 5 tháng mùa đông chỉ chiếm 26% tổng lượng mưa cả năm Vì vậy vào

thời kỳ này thường xảy ra khô hạn, ảnh hưởng nhiều đến sinh trưởng, phát triển của

cây trồng

+ Lượng bốc hơi: bình quân hàng năm 841 mm, 3 tháng có lượng bốc hơi

mạnh nhất là tháng 6, tháng 7, tháng 8 với lượng bốc hơi tương ứng là 129mm,

136mm, 112mm

23

Trang 24

* Nhiệt độ: trung bình hàng năm là 24,20C, được chia làm hai mùa rõ rệt Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 9 Với nền nhiệt độ như vậy có thể gieo trồng nhiều vụ trong năm kể cả một số loại rau thực phảm ôn đới

* Độ ẩm không khí: ở Thạch Hà hàng năm có độ ẩm tương đối khá cao

(trung bình 85%) Nhưng vào tháng 6, tháng 7 độ ẩm xuống thấp ứng với thời kỳ gió Tây khô nóng,ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp

* Chế độ gió: Gió mùa Đông Bắc hình thành từ tháng 11 đến tháng 4 năm

sau, gió Đông Nam thịnh hành từ tháng 5 đến tháng 10 MMột hạn chế lớn là ở vùng Thạch hà hàng năm vào tháng 5 đến tháng 7 xuất hiện gió Lào gây khô hạn

và nóng làm ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, đặc biệt dễ gây cháy rừng

* Bão lụt: ở Thạch Hà trung bình hàng năm có 1 - 2 cơn bão đổ vào thường

gây hậu quả nặng nề nhất là sản xuất nông nghiệp Mùa mưa bão ở đây xuất hiện muộn hơn (thường từ tháng 9 đến tháng 11)

* Chế độ thuỷ văn: Vùng biển Thạch Hà chế độ nhật triều không đều, hàng

tháng có khoảng 10 - 15 ngày có lần nước cường và 2 lần nước ròng trong ngày Cường độ triều dâng nhanh và thời gian ngắn (mực nước triều tại cửa Sót giao động

từ 1,8- 2,5m) có ảnh hưởng đến việc lấy nước để sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản

+ Tài nguyên nước

Thạch Hà có hệ thống sông khá dồi dào bao gồm hệ thống sông Già, sông Kênh Cần hợp lưu với sông Nghèn rồi đổ vào sông Đò Điệm tại Hộ Độ Sông Rào Cái đổ vào sông Đồng Môn hợp lưu với sông Hộ Độ rồi đổ vào sông cửa Sót Nhìn chung nguồn nước dồi dào, nhưng về mùa khô thường nhiễm mặn, ảnh hưởng đến việc cung cấp nước ngọt cho sản xuất và đời sống nhân dân

Trang 25

+ Tài nguyên rừng: diện tích đất lâm nghiệp có rừng hiện nay của Thạch Hà

là 4.750,43 ha (chiếm 11,18% DTTN toàn huyện), trong đó hầu hết là rừng trồng

được chia ra rừng sản xuất: 1.862,79 ha, còn lại là rừng phòng hộ

+ Tài nguyên khoáng sản và nguyên vật liệu xây dựng: có Emênit ở Thạch

Hội, Thạch Văn với trữ lượng hàng trăm ngàn tấn Đặc biệt có mỏ sắt Thạch Khê với trữ lượng lớn hàng trăm triệu tấn Ngoài ra còn có các loại khoáng sản khác như: cát ở Thạch Vĩnh, mỏ than bùn ở Thạch Tiến, mỏ đá ở Thạch Đỉnh, Thạch Bàn

+ Tài nguyên biển: Thạch Hà có bờ biển dài 27 km, có Cửa Sót là một trong

4 ngư trường của Hà Tĩnh với nhiều hải sản quý có trữ lượng khá cao như: tôm hùm, sò huyết, mực, cá… sản lượng đánh bắt hàng năm đạt khoảng 3500 - 4000 tấn Bờ biển Thạch Hải có những bãi cát dài, mịn và thoải rất thích hợp với phát triển du lịch như bãi biển Thạch Hải đã được quy hoạch xây dựng thành khu du lịch nghỉ mát, nhưng dịch vụ này chưa phát triển

Tóm lại: với vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, huyện Thạch Hà có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế nói chung cũng như sản xuất nông- lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - x∙ hội

- Tình hình sử dụng đất

Diện tích đất đang sử dụng vào mục đích nông nghiệp là 16.743,66 ha, chiếm 39,40% diện tích tự nhiên của huyện trong đó chủ yếu dùng vào sản xuất lương thực như lúa và những cây nông nghiệp hàng năm khác như ngô, khoai lang, cây CNNN Đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ thấp (11,42%), trong khi đất chưa sử dụng còn chiếm tỷ lệ lớn Nguyên nhân cơ bản là đất gò đòi phía Tây và đất cồn cát vùng ven biển chưa có giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý nên còn để trống

Nếu tính bình quân thì diện tích đất nông nghiệp là 846 m2/người và 3.674

m2/hộ; các xã vùng đồi núi đạt 945 m2/người và 5.184 m2/hộ; các xã vùng đồng bằng đạt 833 m2/người và 3.524 m2/hộ

25

Trang 26

Bảng 2 Hiện trạng sử dụng đất huyện Thạch Hà năm 2002

Nguồn: Báo cáo quy hoạch sử dụng đất huyện Thạch Hà [25]

- Thời vụ cây trồng

+ Vụ đông xuân : bắt đầu gieo trồng từ cuối tháng 11 đến tháng 12, thu hoạch

vào tháng 4 – 5 (tuỳ từng loại cây trồng, từng loại giống và từng tiểu vùng) Do yếu

tố thời tiết chi phối nên vụ này có diện tích gieo trồng lớn nhất so với các vụ khác

và là vụ chắc ăn

Trang 27

+ Vụ hè thu: Thường được bắt đầu từ tháng 5, thu hoạch vào tháng 9 (với lúa

thường thu hoạch vào đầu tháng 9) Đây cũng là vụ chính trong vùng có diện tích gieo trồng các loại cây như lúa, ngô, đậu tương, vừng, đậu đỗ, rau các loại, dưa và lạc

+ Vụ mùa : thường bắt đầu gieo trồng từ tháng 6-7, thu hoạch vào tháng

10-11 Với lúa vụ mùa thường năng suất thấp, đang có xu hướng giảm dần để tăng diện tích lúa hè thu

+ Vụ đông: thường bắt đầu gieo trồng từ tháng 9-11, thu hoạch tháng 1 đến

tháng 2 năm sau Các cây trồng chính trong vụ này gồm: ngô, khoai lang, khoai tây, rau các loại Đây là vụ cho năng suất khá, ít sâu bệnh, tận dụng được tính đa dạng của thời tiết để đưa các cây ưa lạnh vào trồng nhằm đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp, tăng diện tích gieo trồng, tăng hệ số sử dụng đất

- Cơ sở hạ tầng

+ Hệ thống thuỷ lợi: Trong những năm qua các công trình thuỷ lợi đã được

nâng cấp và xây mới, nguồn nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp chủ yếu là hồ

Kẻ Gỗ và 14 đập lớn nhỏ với tổng lượng nước lưu trữ 140 triệu m3, tưới ổn định cho 6.000ha Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có 47 trạm bơm điện, bơm dầu phục

vụ cho những khu vực khó khăn sản xuất trong mùa khô hạn Nhưng riêng vùng

đất CVB tình trạng thiếu nước tưới vẫn rất trầm trọng

+ Giao thông: trên địa bàn huyện có quốc lộ 1A chạy qua giữa huyện có

chiều dài 16km Mật độ các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ và huyện lộ đạt 0,27km/km2 và 0,59km/1.000 dân Tỷ lệ này của tỉnh là: 0,48km/km2 và 0,22 km/1.000 dân Các tuyến đường quốc lộ và tỉnh lộ đều đã được trải nhựa nhưng chất lượng thấp, có chiều rộng nền đường từ 6 - 9m Trong những năm qua toàn huyện đã mở rộng, nâng cấp, làm mới được 129km đường nhựa và bê tông, đến nay đã có 37/42 xã, thị trấn có đường nhựa đi qua

- Khái quát tình hình phát triển kinh tế

+ Tăng trưởng và cơ cấu kinh tế

27

Trang 28

Giai đoạn 2000 - 2002, kinh tế của huyện đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 7,8%, nhưng cơ cấu kinh tế vẫn nặng về nông nghiệp Nếu năm 2000 tỷ trọng nông

- lâm nghiệp - thuỷ sản : 75,73%; công nghiệp - xây dựng: 20,32%; thương mại - dịch vụ: 3,95%, thì đến năm 2002 các con số tương ứng là 71,06% : 20,77% : 8,17%

* Riêng nội bộ ngành nông nghiệp cho thấy trồng trọt chiếm tỷ trọng lớn nhất và có xu hướng tăng trong 3 năm gần đây Nếu năm 2000 trồng trọt chiếm 67,92% trong tổng GTSX 255.006 tr.đ, thì đến năm 2002 tăng lên 68,4%, trong khi chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp lại có xu hướng giảm nhẹ, cụ thể: chăn nuôi giảm từ 29,70% xuống 29,27%; dịch vụ nông nghiệp giảm từ 2,37% xuống 2,33% Những chỉ số này phản ánh một thực trạng chung là sản xuất thuần nông tự cấp tự túc, kinh tế hàng hoá kém phát triển

* Nuôi trồng thuỷ sản: hiện tại toàn huyện có 350,62 ha mặt nước nuôi trồng thuỷ sản Sản lượng thuỷ hải sản năm 2002 đạt 5.214 tấn, trong đó sản lượng đánh bắt hải sản 4.500 tấn Giá trị sản xuất của ngành thuỷ sản qua 3 năm: năm 2000 đạt 44.518 tr.đ, năm 2001 đạt 47.210 tr và năm 2002 tăng lên 50.514 tr

* Ngành lâm nghiệp: Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp của toàn huyện năm

2002 đạt 3.027 triệu đồng, giảm 39% so với năm 2000 Nguyên nhân do huyện

đã tăng cường bảo vệ diện tích rừng hiện có, hạn chế đến mức tối đa việc khai thác

gỗ và các lâm sản khác

- Đặc điểm x∙ hội

+ Lao động, việc làm và mức sống: Dân số toàn huyện năm 2002 là 198490

người, trong đó có 88.989 lao động, chiếm 44% dân số Nhìn chung lao động tham gia vào sản xuất nông nghiệp là chính và mang rõ tính thời vụ, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chưa phát triển, tình trạng thiếu việc làm Lương thực bình quân đầu người hiện nay 317kg/người/năm (riêng vùng đất cát năm 2003 179kg/người/năm), thu nhập bình quân toàn huyện 179,6$/người vào năm 2003

- Đánh giá tổng quát những lợi thế và tiềm năng phát triển huyện Thạch Hà

+ Vùng nghiên cứu có vị trí địa lý khá thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên đa dạng

Trang 29

+ Nông nghiệp đến nay vẫn là ngành kinh tế chủ yếu, trong đó sản xuất lúa, cây CNNN, nuôi trồng thuỷ sản là những chuyên ngành sản xuất chính tạo việc làm, thu nhập cho người lao động nông thôn

+ Tuy nhiên trong vùng cũng có nhiều khó khăn: điều kiện bất lợi của thời tiết như bão, úng ngập, hạn hán, gió Tây khô nóng đất cát, thiếu nước tưới Mật

độ dân số cao, diện tích đất không rộng, trong khi sức ép thu hẹp đất nông lâm nghiệp gia tăng do nhu cầu phát triển xây dựng công nghiệp, đô thị, mở rộng khu dân cư

+ Vì vậy, việc nghiên cứu tiềm năng tài nguyên đất cát ven biển của huyện Thạch Hà, đồng thời đề xuất các giải pháp sử dụng một cách hợp lý phục vụ cho phát triển nông nghiệp hàng hoá của vùng là cần thiết

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp chung

Dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

3.2.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

- Phương pháp thu thập tài liệu

+ Tài liệu thứ cấp: thu thập từ các tài liệu, số liệu có sẵn ở tỉnh Hà Tĩnh (Sở

Nông nghiệp, Cục Thống kê, Sở Thuỷ sản, Sở Kế hoạch Đầu tư, Đài Khí tượng thuỷ văn), ở UBND huyệnThạch Hà, ở các phòng ban của huyện, ở các xã vùng

điều tra khảo sát nghiên cứu Các tài liệu liên quan ở các viện nghiên cứu, các trường đại học

+ Tài liệu khảo sát: trong quá trình điều tra thực địa đã đi khảo sát toàn vùng

cát ven biển Thạch Hà trong đó đi sâu khảo sát 6 xã đại diện (địa bàn cụ thể được nêu trong phần phạm vi nghiên cứu ở trang 3 của báo cáo)

+ Phương pháp chọn mẫu điều tra: áp dụng phương pháp chọn ngẫu nhiên kết hợp với phương pháp chọn mẫu có định trước với những hộ gia đình sản xuất ở vùng đất cát biển, số lượng 202 hộ để phỏng vấn Trong quá trình khảo sát sử dụng

29

Trang 30

phương pháp chuyên gia, chuyên khảo, gặp gỡ trao đổi với nhiều đối tượng thuộc nhiều cơ quan liên quan, cụ thể:

* Trước hết trao đổi trực tiếp với các nhà chuyên môn ở các sở, ban nghành hữu quan cấp tỉnh (đặc biệt là Sở NN & PTNT Hà Tĩnh), cấp huyện (Phòng NN & PTNT Thạch Hà, Ban khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư của huyện và lãnh

đạo địa phương) để nắm tình hình, định hướng chung về phát triển vùng ven biển

+ Về điều tra nông hộ, đã phỏng vấn trực tiếp hộ nông dân đại diện cho vùng

đất cát ven biển theo một số tiêu chí định trước như sau:

* Phân theo xã: Xã Thạch Đỉnh (30 hộ), Thạch Khê (35 hộ), Thạch Bằng (35 hộ), Thạch Bàn (35 hộ), Thạch trị (35 hộ), Thạch Hải (32 hộ)

* Theo loại hình sử dụng đất cát ven biển: hướng tập trung vào cho nhóm cây lương thực (76 hộ), nhóm cây CNNN (30 hộ), nhóm cây rau đậu thực phẩm (35 hộ), nuôi trồng thuỷ sản (31 hộ), trồng rừng phòng hộ (30 hộ) Riêng ngành chăn nuôi không phải là ngành sử dụng đất cát ven biển một cách trực tiếp mà chỉ

là gián tiếp, đồng thời vùng ven biển không tồn tại hộ chuyên chăn nuôi mà các hộ nông dân thường hoạt động tổng hợp (trồng trọt kết hợp chăn nuôi) nên tình hình chăn nuôi được ghép chung với các phiếu điều tra đã nêu ở trên

`* Theo khả năng đầu tư của nông hộ dựa trên cơ sở đánh giá điều kiện kinh

tế hộ của địa phương theo quy định của Bộ Lao động thương binh Xã hội: (i) kinh

tế khá giả (40 hộ), (ii) kinh tế trung bình (132 hộ), (iii) kinh tế yếu (30 hộ)

3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

3.3.1 Các chỉ tiêu phản ánh hiện trạng sử dụng đất cát ven biển

- Diện tích đất CVB được đưa vào sử dụng

Trang 31

+ Cho nông nghiệp

+ Cho lâm nghiệp

+ Cho chuyên dùng

+ Cho đất ở

- Diện tích đất CVB chưa sử dụng

- Diện tích đất CVB sử dụng cho các loại hình kinh tế

3.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất trên đất cát ven biển

- Đất canh tác trên đầu người

- Đất canh tác trên lao động

- Đất canh tác trên hộ

3.3.3 Các chỉ tiêu phản ánh chi phí sản xuất trên đất cát ven biển

- Tổng chi phí trên hectar (TC)

- Chi phí trung gian trên một hectar (IC)

- Các chi phí khác: là thuế (T), chi phí lao động gia đình hoặc lao động thuê (W), chi phí hoạt động tài chính như lãi suất tiền vay (FF), khấu hao (A)

3.3.4 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả, hiệu quả sử dụng đất cát ven biển

- Năng suất sản phẩm trên 1 ha (NS)

- Tổng giá trị sản xuất trên 1 ha (GO)

- Giá trị gia tăng (VA) trên 1 ha đất cát ven biển

- Thu nhập hỗn hợp trên 1 ha đất cát ven biển (MI/ha):

- Lãi (Pr/ha)

- Hệ số sử dụng ruộng đất

- Chỉ tiêu phản ánh cải tạo độ phì đất

3.3.5 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế - x∙ hội ở tầm phạm vi vùng nghiên cứu

- Số sản phẩm đóng góp cho xã hội

- Giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, giá trị phẩm hàng hoá đóng góp cho kinh tế địa phương

31

Trang 32

- Số lao động được giải quyết việc làm

3.3.6 Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả môi trường

- Tăng độ che phủ: tính bằng tỷ lệ tăng lên của diện tích rừng và diện tích cây lâu năm trên tổng DTTN

- Hạn chế hiện tượng cát bay, lở ven sông, ven biển (đánh giá có tính chất định tính, trong quá trình thực hiện đề tài khó có thể đo đếm trực tiếp ra các con số cụ thể

được)

Trang 33

4 Thực trạng và ĐịNH HƯớNG Sử DụNG đất cát VEN biển

HUYệN THạCH Hà tỉnh hà tĩnh

4.1 Tình hình phân bố và sử dụng đất cát ven biển huyện Thạch Hà

4.1.1 Phân loại và tính chất các loại đất cát ven biển

- Phân loại của đất cát ven biển

Quỹ đất cát ven biển huyện Thạch Hà có 14,6 nghìn hectar, trong đó: cồn cát trắng vàng 4762 ha và đất cát 9838 ha

Bảng 3 Tình hình phân bố đất cát ven biển huyện thạch hà

Tỷ lệ (%)

Hà, nhất là trong sản xuất nông lâm nghiệp Riêng 6 xã trong vùng điều tra có quỹ

đất cát biển lớn nhất và chiếm tỷ trọng cao trong tổng diện tích đất tự nhiên của các xã (xem bảng 3), nh− Thạch Hải (chiếm 96,83%), Thạch Trị (chiếm 90,65%)

Cồn cát trắng vàng tập trung nhiều ở các xã sát bờ biển, riêng 6 xã trong vùng điều tra có diện tích cồn cát trắng vàng 2683,9 ha (chiếm 18,4 % tổng diện

33

Trang 34

tích cồn cát cả huyện), cụ thể xã Thạch Hải (1201,76 ha), Thạch Trị (801,7 ha), Thạch Khê (116,18 ha), Thạch Đỉnh (238,14 ha), Thạch Bằng (77,11 ha), Thạch Bàn (139,69 ha)

- Tính chất đất cát ven biển: có độ phì rất thấp, qua phân tích một số phẫu diện

cho thấy hàm lượng mùn rất nghèo và gần như không đáng kể (OM = 0,1 - 0,19 %) Các chất tổng số như : đạm rất nghèo ( N = 0,017 - 0,033 %), lân và kali đều thấp (P2O5 < 0,021%, K2O< 0,08 %) Tương tự các chất dễ tiêu cũng rất nghèo , hàm lượng lân dưới 1,6 g/100g đất, kali dưới 3,1 g/100 g đất (các chỉ tiêu phân tích tính chất lý hoá tính đất CVB được trình bày trong phụ biểu 3) Đó là lý do chính làm năng suất lúa cũng như cây trồng trên vùng đất CVB thấp so với bình quân của toàn huyện

4.1.2 Thực trạng sử dụng đất cát ven biển cho các ngành kinh tế

Nếu tách riêng đất cát và cồn cát cho thấy: đất cát đã đưa vào sử dụng 90,26% trong khi cồn cát mới chỉ đưa vào sử dụng 29,9% Cồn cát là loại đất rất nghèo dinh dưỡng bị thiéu ẩm quanh năm ít phù hợp cho sinh trưởng phát triển cây trồng theo phương thức canh tác truyền thống, khi mà nông nghiệp còn lệ thuộc quá nhiều vào điều kiện tự nhiên, khả năng đầu tư thâm canh của nông dân thấp, khoa học kỹ thuật chưa làm chủ Trồng rừng phòng hộ còn lại vẫn đang bỏ trồng

Trang 35

Biểu đồ 1: Cơ cấu sử dụng đất CVB huyện Thạch Hà năm 2002

Đất Nông nghiệp 46,56%

Đất lâm nghiệp 5,62%

Đất chuyên dùng 8,83%

Đất ở 4,99%

Đất ch−a sử dụng

34,00%

- Xét riêng vùng 6 xã điều tra: đất cát ven biển đ−ợc sử dụng với tỷ lệ cao (87,12%),

trong khi đó cồn cát (Cc) đ−ợc sử dụng 46,12% Các xã Thạch Hải, Thạch Trị

đã đ−a gần 100% diện tích đất cát vào sử dụng, các xã còn lại tỷ lệ diện tích đất cát ven biển d−a vào sử dụng thấp hơn, cụ thể: Xã Thạch Bàn (88,2%), xã Thạch Bằng (77,4%), xã Thạch Khê (93,3%), xã Thạch Đỉnh (79,0%) Chi tiết tình hình sử dụng đất CVB của 6 xã điều tra đ−ợc phản ánh ở bảng 4

35

Trang 36

Bảng 4 Hiện trạng sử dụng đất cát ven biển 6 x∙ điều tra năm 2002

Lâm nghiệp

Trang 37

Sơ đồ đất huyện thạch hà- tỉnh hà tĩnh

37

Trang 38

Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất huyện thạch hà- tỉnh Hà tĩnh

Trang 39

4.1.3 Tình hình sử dụng đất cát ven biển trong nông - lâm nghiệp

4.1.3.1 Trong lĩnh vực nông nghiệp

Đất cát ven biển có thể sử dụng như làm đất canh tác cây hàng năm, trồng cây lâu năm, làm vườn, trong những năm gần đây nông dân đã nuôi trồng thuỷ sản trên đất cát ven biển mang lại hiệu quả kinh tế cao

+ Về cơ cấu sử dụng đất

* Đất cây hàng năm: tổng diện tích đất cát ven biển dùng để trồng cây hàng

năm đạt 6821,52 ha vào năm 2002 Nếu so với diện tích đất cây hàng năm của cả huyện trên tất cả các loại đất thì đất cát ven biển chiếm 51,74% (diện tích cây hàng năm cả huyện Thạch Hà 2002 đạt 13181,30 ha) Từ sự so sánh đó cho thấy tầm quan trọng của đất cát ven biển trong sản xuất nông nghiệp của Thạch Hà

Bảng 5 Diện tích đất cát ven biển sử dụng trong nông nghiệp

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu thống kê huyện Thạch Hà [24]

* Đất vườn tạp: có 1746,87 ha, đất nhiễm phèn mặn khó trồng cây ăn quả

Hơn nữa đây là vùng phải hứng chịu nhiều cơn bão lớn, người dân địa phương cũng chưa tìm ra đối tượng cây ăn quả nào thật phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng cũng như cơ chế thị trường hiện nay

* Đất dùng cho nuôi trồng thuỷ sản: Có 262,09 ha chủ yếu là nuôi tôm sú ở

Thạch Hà đã có một số mô hình: như Công ty IAT (International America Technology) của nước ngoài nuôi tôm sú trên cồn cát theo phương pháp công nghiệp, hay HTX Sản xuất nông nghiệp & Dịch vụ của xã Thạch Trị nuôi ba ba

39

Trang 40

Ngoài ra tại xã Thạch Bàn chuyển đất cát ven biển đang làm muối sang cải tạo thành đầm nuôi trồng thuỷ sản Tuy vậy diên tích nuôi trồng thuỷ sản còn thấp, mới đạt 15,41% so với tiềm năng 1,7 nghìn hectar

+ Về hệ thống cây trồng trên đất cát ven biển

* Nhóm cây lương thực: bao gồm lúa, ngô, lang được trồng trên đất cát ven

biển

w Cây lúa: được trồng cả 3 vụ (đông xuân, hè thu, vụ mùa), trong 3 năm

(từ năm 2000 - 2002) diện tích lúa trồng trên đất cát ven biển biến động theo chiều hướng giảm, tuy nhiên biến động này không lớn (bảng 6)

Bảng 6 Diễn biến diện tích trồng lúa trên đất cát ven biển

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu thống kê huyện Thạch Hà [24]

Nếu so với diện tích lúa của toàn huyện thì tỷ trọng trên đất cát ven biển chiếm 29,51% trong năm 2002, thấp hơn năm 2000 (29,9%) Lý do chính ở đây là

đất cát ven biển có hạn chế về nước tưới Năng suất lúa trên đất cát ven biển thấp hơn năng suất lúa chung toàn huyện (năm 2002 chỉ bằng 76,26%).Về lâu dài trên chân đất cát cần ưu tiên hướng chuyển sang cây trồng cạn

Diện tích trồng lúa 3 năm qua biến động không đáng kể và lại có xu hướng giảm,năm 2002 giảm hơn năm 2002 là 23 ha Có xã như xã Thạch Bàn hiện nay không cấy lúa để chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản

Về giống lúa, huyện Thạch Hà đã đưa các giống lúa nhập nội vào sản xuất như các giống lúa thuần Trung quốc, một số nơi vẫn còn giống địa phương đặc sản như Rễ trâu, Rễ hẹp chịu hạn, gạo ngon nhưng năng suất thấp (như ở xã Thạch Bằng chỉ đạt 70 - 80 kg/sào Trung bộ)

Ngày đăng: 02/08/2013, 13:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Đình Bắc (2003), Rà soát điều chỉnh cơ cấu sản xuất nông lâm nghiệp vùng BTB, Viện QH &amp; TKNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rà soát điều chỉnh cơ cấu sản xuất nông lâm nghiệp vùng BTB
Tác giả: Vũ Đình Bắc
Năm: 2003
2. Vũ Đình Bắc (2004); Khảo sát thực trạng mức sống và đề xuất giải pháp bảo đảm an ninh lương thực cộng đồng cho các vùng khó khăn thuộc ĐBSH &amp; ĐBSCL, Viện QH &amp; TKNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát thực trạng mức sống và đề xuất giải pháp bảo "đảm an ninh l−ơng thực cộng đồng cho các vùng khó khăn thuộc ĐBSH & ĐBSCL
3. Lê Văn Bình (2003); Giáo trìnhLuật đất đai, Trường ĐHNN I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trìnhLuật đất đai
4. Lê Thanh Bồn (1998); Đặc điểm của lân và hiệu lực của phân lân trong đất cát ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế - Luận văn Tiến sĩ nông nghiệp - Tr−ờng Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm của lân và hiệu lực của phân lân trong đất cát ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1996); Kinh tế chính trị học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế chính trị học
7. Đào Nguyên Cát (2000), Kinh tế tài nguyên đất, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế tài nguyên đất
Tác giả: Đào Nguyên Cát
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2000
8. Phạm Văn Côn, Phạm Thị H−ơng; Thiết kế VAC Cho mọi vùng, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế VAC Cho mọi vùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
9. Cục Thống kê Hà Tĩnh (2003), Niên giám thống kê năm 2002, Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2002
Tác giả: Cục Thống kê Hà Tĩnh
Năm: 2003
11. Phạm Thị Mỹ Dung (1996), Phân tích kinh tế nông nghiệp - Trường đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích kinh tế nông nghiệp
Tác giả: Phạm Thị Mỹ Dung
Năm: 1996
12. Vũ Năng Dũng (2004); Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam đến năm 2010, Viện QH và TKNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam đến năm 2010
13. Vũ Năng Dũng (2004), Nghiên cứu cơ sở khoa học để xây dựng tiêu chí, bước đi, cơ chế chính sách trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn (Đề tài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học để xây dựng tiêu chí, b−ớc
Tác giả: Vũ Năng Dũng
Năm: 2004
14. Tr−ơng Đích (1998); 265 giống cây trồng mới, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 265 giống cây trồng mới
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
15. Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung và cộng sự (1997), Kinh tế nông nghiệp - Tr−ờng Đại học Nông nghiệp I - NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế nông nghiệp
Tác giả: Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung và cộng sự
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
16. Phạm Viết Hoa (2001); Điều tra đánh giá hiện trạng về nuôi trồng sinh thái vùng đất cát và các đầm phá ven biển miền trung nhằm chống sa mạc hoá bảo vệ môi tr−ờng phục vụ phát triển kinh tế xã hội - Bộ NN&amp;PTNT - Tr−ờng Đại học Thuỷ Lợi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra đánh giá hiện trạng về nuôi trồng sinh thái vùng đất cát và các đầm phá ven biển miền trung nhằm chống sa mạc hoá bảo vệ môi tr−ờng phục vụ phát triển kinh tế xã hội
17. Hội khoa học đất Việt Nam (1996), Đất Việt Nam - Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất Việt Nam
Tác giả: Hội khoa học đất Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1996
18. Nguyễn Anh Hồng (2003); Đất trồng trọt có nguy cơ thành sa mạc, Thời báo Kinh tế Việt Nam (11/7/2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất trồng trọt có nguy cơ thành sa mạc
19. Trần Hoàng Kim (2002), T− liệu kinh tế -xã hội 631 huyện, quận, thị xã thành phố thuộc tỉnh Việt Nam, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: − liệu kinh tế -xã hội 631 huyện, quận, thị xã thành phố thuộc tỉnh Việt Nam
Tác giả: Trần Hoàng Kim
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2002
20. Phan Liêu (1981), Đất cát biển Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất cát biển Việt Nam
Tác giả: Phan Liêu
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1981
21. Nguyễn Võ Linh (2003), Nghiên cứu phân vùng sinh thái nông nghiệp phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững Duyên hải miền Trung, Viện QH&amp;TKNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phân vùng sinh thái nông nghiệp phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững Duyên hải miền Trung
Tác giả: Nguyễn Võ Linh
Năm: 2003
22. Ngân hàng Thế giới (1993), Phát triển và môi tr−ờng (tài liệu dịch), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng Thế giớ
Tác giả: Ngân hàng Thế giới
Năm: 1993

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.   Diện tích các loại  đất  huyện Thạch Hà - Luận văn nghiên cứu định hướng sử dụng đất cát ven biển huyên thạch hà tỉnh hà tĩnh
Bảng 1. Diện tích các loại đất huyện Thạch Hà (Trang 23)
Bảng 2.  Hiện trạng sử dụng đất huyện Thạch Hà năm 2002 - Luận văn nghiên cứu định hướng sử dụng đất cát ven biển huyên thạch hà tỉnh hà tĩnh
Bảng 2. Hiện trạng sử dụng đất huyện Thạch Hà năm 2002 (Trang 26)
Bảng 3.  Tình hình phân bố đất cát ven biển huyện thạch hà - Luận văn nghiên cứu định hướng sử dụng đất cát ven biển huyên thạch hà tỉnh hà tĩnh
Bảng 3. Tình hình phân bố đất cát ven biển huyện thạch hà (Trang 33)
Bảng 4 .   Hiện trạng sử dụng đất cát ven biển 6 x∙ điều tra năm 2002 - Luận văn nghiên cứu định hướng sử dụng đất cát ven biển huyên thạch hà tỉnh hà tĩnh
Bảng 4 Hiện trạng sử dụng đất cát ven biển 6 x∙ điều tra năm 2002 (Trang 36)
Sơ đồ đất - Luận văn nghiên cứu định hướng sử dụng đất cát ven biển huyên thạch hà tỉnh hà tĩnh
t (Trang 37)
Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất huyện thạch hà- tỉnh Hà tĩnh - Luận văn nghiên cứu định hướng sử dụng đất cát ven biển huyên thạch hà tỉnh hà tĩnh
Sơ đồ hi ện trạng sử dụng đất huyện thạch hà- tỉnh Hà tĩnh (Trang 38)
Bảng 6.  Diễn biến diện tích trồng lúa trên đất cát ven biển - Luận văn nghiên cứu định hướng sử dụng đất cát ven biển huyên thạch hà tỉnh hà tĩnh
Bảng 6. Diễn biến diện tích trồng lúa trên đất cát ven biển (Trang 40)
Bảng 7.  biến động sản xuất lúa vụ đông xuân 3 năm (2000 - 2002) - Luận văn nghiên cứu định hướng sử dụng đất cát ven biển huyên thạch hà tỉnh hà tĩnh
Bảng 7. biến động sản xuất lúa vụ đông xuân 3 năm (2000 - 2002) (Trang 41)
Bảng 8 : Diễn biến sản xuất lúa vụ hè thu 3 năm 2000 - 2002 - Luận văn nghiên cứu định hướng sử dụng đất cát ven biển huyên thạch hà tỉnh hà tĩnh
Bảng 8 Diễn biến sản xuất lúa vụ hè thu 3 năm 2000 - 2002 (Trang 41)
Bảng 10.  Diễn biến DT, NS, SL khoai  lang trên đất cát biển   3 n¨m  ( 2000 - 2002) - Luận văn nghiên cứu định hướng sử dụng đất cát ven biển huyên thạch hà tỉnh hà tĩnh
Bảng 10. Diễn biến DT, NS, SL khoai lang trên đất cát biển 3 n¨m ( 2000 - 2002) (Trang 42)
Bảng 9.  Diễn biến sản xuất lúa vụ mùa huyện Thạch Hà  3 n¨m (2000 - 2002) - Luận văn nghiên cứu định hướng sử dụng đất cát ven biển huyên thạch hà tỉnh hà tĩnh
Bảng 9. Diễn biến sản xuất lúa vụ mùa huyện Thạch Hà 3 n¨m (2000 - 2002) (Trang 42)
Bảng 11.  Diễn biến DT, NS, SL Lạc trên đất CVB  huyện Thạch Hà 3 năm (2000 - 2002) - Luận văn nghiên cứu định hướng sử dụng đất cát ven biển huyên thạch hà tỉnh hà tĩnh
Bảng 11. Diễn biến DT, NS, SL Lạc trên đất CVB huyện Thạch Hà 3 năm (2000 - 2002) (Trang 43)
Bảng 12.  Diễn biễn DT, NS, SL vừng trên đất cVB - Luận văn nghiên cứu định hướng sử dụng đất cát ven biển huyên thạch hà tỉnh hà tĩnh
Bảng 12. Diễn biễn DT, NS, SL vừng trên đất cVB (Trang 44)
Hình trồng ớt trên đất cát ven biển mà trước đây là đất lúa - màu. - Luận văn nghiên cứu định hướng sử dụng đất cát ven biển huyên thạch hà tỉnh hà tĩnh
Hình tr ồng ớt trên đất cát ven biển mà trước đây là đất lúa - màu (Trang 45)
Bảng 14 .  Chi phí sản xuất và hiệu quả sử dụng đất cát ven biển huyện Thạch Hà (Tính trên 1 ha) - Luận văn nghiên cứu định hướng sử dụng đất cát ven biển huyên thạch hà tỉnh hà tĩnh
Bảng 14 Chi phí sản xuất và hiệu quả sử dụng đất cát ven biển huyện Thạch Hà (Tính trên 1 ha) (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w