Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và các biện pháp phòng chống bọ nhẩy phyllotreta striolata fabricius hại r
Trang 11 Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Đối với cây rau nói chung, rau họ hoa thập tự nói riêng thì tầm quan trọng của chúng trong đời sống hàng ngày đã được cha ông ta thừa nhận qua câu ca dao: "Cơm không rau như đau không thuốc"
Về mặt dinh dưỡng, đây là loại thực phẩm quan trọng, chúng cung cấp cho cơ thể những chất quan trọng có tác dụng điều hoà cân bằng kiềm tan trong máu làm tăng khả năng đồng hoá prôtein Ngoài ra, chúng còn bổ sung lượng vitamin giúp cơ thể chống bị bệnh phù thũng, mỏi mệt khi làm việc, tăng sự dẻo dai cho hệ tuần hoàn, hệ thần kinh Hàng ngày, để đảm bảo năng lượng cần thiết thì một người phải dùng từ 250 - 300 g (khoảng 7,5-9 kg rau cho 1 người mỗi tháng)
Về mặt kinh tế, rau là loại cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, giá trị sản xuất 1 ha rau cao gấp 2-3 lần lúa và là loại hàng hoá có giá trị xuất khẩu cao Thời kỳ 1986-1990 nước ta xuất khẩu đạt 5,15 triệu USD Năm 1997 kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam đạt 140 triệu USD tăng 170% so với năm 1986 và chiếm 1,6 tổng kim ngạch xuất khẩu trong cả nước [1]
Về mặt xã hội, sản xuất rau góp phần tăng thu nhập cho người lao động, giải quyết việc làm cho nông dân trong những lúc nông nhàn, giảm được số lao động thất nghiệp ở địa phương, đảm bảo trật tự an ninh xã hội
Tuy nhiên, một vấn đề lớn đặt ra cho việc sản xuất rau là đảm bảo được
an toàn thực phẩm Bởi như chúng ta đã biết các biện pháp phòng trừ sâu hại nói chung vẫn dựa nhiều vào thuốc hoá học nhưng việc tuân thủ nguyên tắc 4
đúng không được quan tâm (thời gian phun, chủng loại thuốc, số lần phun và
71
Trang 2nồng độ sử dụng đều cao hơn nhiều so với khuyến cáo, thậm chí người nông dân còn trộn một số loại thuốc với nhau) chính vì vậy đã xuất hiện nhiều sâu hại mang tính chống thuốc như sâu tơ, sâu xanh Làm giảm số lượng, chủng loại các loài sinh vật có ích, gây mất cân bằng sinh thái Đồng thời tạo điều kiện cho các loài sâu hại trước đây là thứ yếu nay trở thành chủ yếu
Rau xanh gồm nhiều họ khác nhau, trong đó rau họ hoa thập tự chiếm hơn 50% tổng sản lượng rau và xuất hiện hầu như quanh năm trên thị trường Cùng đồng hành với sự phát triển của rau là sự xuất hiện và gây hại của các loài sâu hại Do việc sản xuất rau chủ yếu theo hướng thâm canh cao, các vụ rau được trồng gối nhau liên tục nhằm tăng hệ số quay vòng của đất nên đây
là nguyên nhân chính làm cho sâu hại ngày càng nguy hiểm hơn
Hiện nay, bọ nhảy được xem là một trong những loài sâu hại mới nhưng rất phổ biến, khó phòng trừ và gây hại rất nặng trên rau họ hoa thập tự Để phòng trừ hiệu quả một loài sâu hại nói chung, bọ nhảy nói riêng thì trước hết phải hiểu được tập tính sống và các đặc tính sinh vật học, sinh thái học của chúng Chính vì vậy để góp phần hoàn thiện qui trình phòng trừ bọ nhảy trên rau họ hoa thập tự nói chung và cải Đông Dư nói riêng được sự phân công của
bộ môn Côn trùng - khoa Nông học - Trường Đại học Nông Nghiệp I chúng
tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái
học và các biện pháp phòng chống bọ nhảy Phyllotreta striolata Fabricius
hại rau họ hoa thập tự vụ Đông xuân năm 2003 - 2004 tại Tằng My -
Đông Anh - Hà Nội”
1.2 Mục đích của đề tài
Dựa vào kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và biện
pháp phòng chống bọ nhảy Phyllotreta striolata Fabricius hại rau họ hoa
thập tự vụ Đông xuân 2003 - 2004 từ đó đề xuất biện pháp phòng chống bọ
nhảy P striolata Fabricius đạt hiệu quả kinh tế và môi trường
72
Trang 31.3 Yêu cầu của đề tài
- Điều tra xác định thành phần cây kí chủ của bọ nhảy Phyllotreta striolata Fabsicius tại Tằng My-Đông Anh vụ Đông xuân 2003
- Nghiên cứu đặc tính sinh học, sinh thái học của bọ nhảy Phyllotreta striolata Fabsicius hại rau họ hoa thập tự
- Tìm hiểu một số biện pháp phòng trừ nhằm hạn chế sự gây hại của bọ
nhảy Phyllotreta striolata
73
Trang 42 tổng quan tài liệu
2.1 Cơ sở khoa học
Sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất chịu rủi ro cao nhất bên cạnh những rủi ro do điều kiện khí hậu thời tiết, chính sách, kinh tế xã hội thì một rủi ro khác không thể không nhắc đến là rủi ro do dịch hại gây ra
Đối với rau họ hoa thập tự, bọ nhảy được đánh giá là một trong những loài sâu gây hại nghiêm trọng làm ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất và phẩm chất cây trồng
Việc phòng chống bọ nhảy hiện nay vẫn đang gặp nhiều khó khăn do đặc
điểm của chúng: ở pha sâu non chúng chui xuống đất và gây hại còn pha trưởng thành chúng có khả năng nhảy nhanh Bên cạnh đó việc phát hiện kẻ thù tự nhiên của bọ nhảy để khống chế sự phát triển của chúng là điều rất khó
và hiện nay chưa thực hiện được Trên thực tế ngoài đồng ruộng, người nông dân phòng trừ bọ nhảy dựa vào biện pháp hoá học là chủ yếu Trong khi đó, vì chạy theo lợi nhuận người trồng rau đã quá lạm dụng thuốc hoá học và sử dụng rất bừa bãi Vì vậy, hiệu quả của việc phòng chống chưa được cao, độ an toàn sản phẩm thấp và tác động mạnh đến cân bằng sinh thái
Đề tài chúng tôi nghiên cứu trên cơ sở đi sâu tìm hiểu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học, thử nghiệm một vài biện pháp phòng trừ từ đó đề ra hệ thống biện pháp phòng chống đạt hiệu quả kinh tế, an toàn môi trường cao
2.2 Nghiên cứu ngoài nước
2.2.1 Vị trí phân loại, phân bố và ký chủ của Phyllotreta striolata
Phân loại côn trùng là yêu cầu cơ bản để nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh vật học và tác hại của chúng Đồng thời tiến hành các công tác kiểm dịch thực vật và có các biện pháp phòng chống thích hợp
74
Trang 5Tổ chức C.A.B.I (1999) [20] đã xác định vị trí phân loại của P striolata
- Họ phụ (Sub family): Aticinae
- Giống (Genus): Phyllotreta
Theo Balachowsky (1963) [15] P striolata là loài có phạm vi phân bố
rộng từ Bắc Mỹ đến Nam Phi
Theo Feeny và cộng sự (1970) [29] lấy mẫu cây trên đồng ruộng đại diện
cho 23 họ ở bang New York Đã cho thấy, trưởng thành P striolata có phạm
vi ký chủ hẹp Chỉ giới hạn trong các họ Capparidaceae, Cruciferae và Tropaeolaceae
Nghiên cứu so sánh bọ nhảy được nuôi trồng bằng loại cây ký chủ (thuộc
họ hoa thập tự - bao gồm: turnip, leaf mustard, Chinese cabbage, flowering Chinese cabbage and Chinese kale) Thí nghiệm được thực hiện ở nhiệt độ 25
- 28 độ C Kết quả thí nghiệm cho thấy tỷ lệ sống của sâu non, nhộng, tuổi thọ
và độ mắn đẻ của bọ nhảy trưởng thành ăn các loại thức ăn khác nhau có sự khác nhau Giới hạn chủng quần cũng đã được xác định Theo Zhang và cộng
sự (2000) [65]
2.2.2 Tác hại của Phyllotreta striolata
Theo Kalshoven (1981) [41] P striolata là loài dịch hại chính của rau họ
hoa thập tự đặc biệt là ở giai đoạn cây giống trong vườn ươm vùng Java Indonexia Chúng xuất hiện phổ biến ở đồng bằng và trung du, nhưng hiếm
75
Trang 6khi tìm thấy chúng ở độ cao trên 1200 m Trưởng thành hoạt động vào giờ nóng trong ngày và nhảy bật lên khi bị khua động
Cây cải củ vụ sớm ở miền tây Kansas thường bị bọ nhảy phá hại rất nặng
Bọ nhảy chủ yếu gây hại ở phần trên bề mặt lá, phần thân mọng nước đây là nguyên nhân gây ra héo lá, lụi cây Khi cây cao 1 inch bộ lá bị tấn công mạnh theo Jee (1994) [40]
Theo Wylie (1979) [61] ở Manitoba, Canada trưởng thành bọ nhảy có thể gây hại cho cây cải ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng của cây: cây giống, lá, hoa, thân thậm chí ở cả quả và hạt Sâu non bọ nhảy gây hại rễ cây, phần thân dưới mặt đất làm giảm năng suất rõ rệt
Burgeess (1981) [18] cho rằng ở Canada thiệt hại lớn nhất đối với cây cải lá là do bọ nhảy trưởng thành quá đông gây ra trên cây giống vào mùa xuân
Sự di chuyển của trưởng thành bằng phương thức bay, nhảy đã chuyển từ cây này sang cây khác, từ ruộng này sang ruộng một cách nhanh chóng Hoạt
động ăn mạnh nhất của bọ nhảy trưởng thành khi gặp thời tiết thuận lợi: nắng,
2.2.3 Đặc điểm sinh vật học của Phyllotreta striolata
Theo Chen và cộng sự (1990) [22] P striolata Fabricius là loài côn trùng
gây hại nghiêm trọng cải bao, cải củ cải xanh ngọt ở Đài Loan Trưởng thành cái đẻ trứng vào cuống lá hoặc trong đất Đôi khi trứng được đẻ từng quả riêng
lẻ nhưng thường đẻ thành cụm từ 4 - 5 quả trong đất ở độ sâu 2-3 cm ở Đài Loan tuổi thọ của trưởng thành đa dạng, dài nhất là trên cây cải bao (33ngày)
76
Trang 7Theo Liang và cộng sự (1990) [47] vào những buổi chiều mát có 8% số trưởng thành bọ nhảy tập trung ở trên mặt lá, cho nên đối với trưởng thành bọ nhảy việc sử dụng thuốc trừ sâu có tác dụng tiếp xúc có hiệu quả thấp hơn so với loại thuốc nội hấp và thấm sâu
Harukawa và Tokunaga (1938) [32] cho rằng trứng của P.striolata hình
ovals, chiều dài khoảng 0,42mm, chiều rộng khoảng 0,27mm, chúng chuyển
từ màu trắng sữa hoặc trắng vàng ngay sau đẻ đến màu trắng trong suốt do sự tiêu huỷ lòng đỏ trứng trong quá trình phát triển Những quả trứng được phủ một màng mỏng chất nhờn Màng đệm có đường vân đẹp với bề mặt nhiều cạnh nhỏ Trứng nở sau khi đẻ khoảng 7 - 10 ngày
Sâu non P striolata hình trụ, mập, màu trắng, đầu có màu nâu Phần
ngực và bụng được phủ một lớp lông thưa, ngắn, cứng màu vàng nhạt, trên lỗ thở được phủ lớp lông màu nâu nhạt Miệng, mảnh cứng của đôi chân ngực có màu nâu nhạt Hàm trên, hai bên đầu, móc đệm của chân đều có màu đen Sâu
non P striolata có ba đôi chân ngực phát triển Phần cuối của bụng được chia
thành hình oval mỏng ở phía trước và cơ quan hậu môn hình trụ phía sau Sâu non có ba tuổi, hình thái ở ba tuổi đều giống nhau, nhưng khác nhau về kích thước Sau khi nở sâu non dài khoảng 0,84 mm sau đó phát triển đến khoảng
4 - 5 mm - sâu non đẫy sức Thời gian phát dục của sâu non từ 23 - 34 ngày
Sự hoá nhộng diễn ra trong đất, ở độ sâu 2 - 5 cm Nhộng có râu đầu, mầm chân, mầm cánh đều lộ rõ Đốt cuối có hai gai lồi, ở giai đoạn nhộng có
sự thay đổi màu từ màu trắng hoặc vàng nhạt đến nâu vàng Đầu, ngực, bụng
có những lông cứng, thưa ở những vị trí xác định Phần bụng thon cho đến đốt bụng thứ 4 và có thể được chia thành: 7 đốt trước lớn, 2 đốt sau nhỏ Các lỗ thở ở các đốt ngực giữa và ở 7 đốt bụng đầu tiên của nhộng Con nhộng cái dài khoảng 1,9 mm và rộng khoảng 0,8 mm; con đực dài khoảng 1,7 mm, rộng 0,7mm Đốt cuối có gai lồi
77
Trang 8Theo Takizawa (1994) [56] ở Nhật Bản những con trưởng thành qua
đông xuất hiện vào cuối tháng 3 và đẻ trứng trong đất vào tháng 4, vào thời
gian này trưởng thành P striolata bắt đầu xuất hiện Mùa sinh sản bắt đầu từ
tháng 5 cho tới đầu tháng 8 Khoảng tháng 6 đến tháng 7 sâu non được phát hiện ở những mẫu đất gần sát gốc cây ký chủ Một thế hệ mới sẽ xuất hiện vào tháng 7 hàng năm Trứng nở trong vòng một tuần sau, trước khi nở vỏ trứng nứt ra theo đường dích dắc tạo nên những hình sáu cạnh nhỏ Đường nứt không ở vị trí xác định, nhưng luôn được thấy ở nửa trước dọc theo trục đối xứng của quả trứng Để chui ra khỏi vỏ sâu non gặm những lỗ nhỏ trên màng
vỏ hoặc do sự chuyển động của sâu non tạo nên áp lực cơ học làm nứt màng
đệm Độ ẩm có quan hệ đến tỷ lệ nở của trứng, khả năng nở 100% là điều không thể vì độ ẩm quá cao hay thấp thì trứng sẽ không có khả năng nở thành sâu non
Sâu non sau khi nở chui xuống đất ăn rễ cây và phần thân ngầm Chúng
đẫy sức ở tuổi 3 sau khoảng 2 - 3 tuần
Nhộng dài khoảng 3 mm, sự hoá nhộng diễn ra trong đất ở độ sâu 5 cm Cũng theo Takizawa ở nhiệt độ 25,60C và ẩm độ 100% giai đoạn sâu non, tiền nhộng, nhộng có thời gian phát dục tương ứng là: 14,5 - 3,2 - 7,2 ngày Tuổi
thọ của trưởng thành P striolata ở Nhật Bản từ 50-100 ngày Vì vậy từ tháng
4 đến đầu tháng 11 đã tìm thấy trưởng thành, sâu non
Theo Chen và cộng sự (1991) [23] trong điều kiện phòng thí nghiệm có
11 thế hệ kế tiếp nhau trong một năm ở Đài Loan tuổi thọ của trưởng thành trong mùa thu là 40 - 52 ngày, 20 - 23 ngày vào mùa hè Trong khoảng từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau một thế hệ mới được hoàn thành trong vòng 60
đến 67 ngày và từ 33 - 38 ngày trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 8
Bọ nhảy P striolata không thể sống sót trong điều kiện nhiệt độ nhỏ hơn
160C, chúng phát triển mạnh ở ngưỡng nhiệt độ > 200C Tỷ lệ chết cao khi nhiệt độ > 320C và nhỏ hơn 200C
78
Trang 9ở Đài Loan, P striolata xuất hiện quanh năm nhưng mật độ cao nhất vào
mùa khô (nhiệt độ thích hợp nhất cho bọ nhảy là từ 20-280C) Sự tăng trưởng của bọ nhảy bị ảnh hưởng bởi mưa lớn hoặc mưa kéo dài và nhiệt độ cao Qua quan sát hai thế hệ bọ nhảy trên một vụ cải củ người ta nhận thấy: mật độ quần thể ở thế hệ thứ hai cao hơn nhiều so với thế hệ thứ nhất, do vậy cây cải
củ ở thời kỳ đầu của vụ sau bị hại ngiêm trọng Trong 107 mẫu đất được thu thập định kỳ hàng tuần vào những năm 1989-1991 trung bình có 161 sâu non
và nhộng trên một m2 đất, mật độ cao nhất lên tới 1310 con/m2
Zhang và cộng sự (2000) [66] đã điều tra biến động mật độ chủng quần
bọ nhảy trên rau họ hoa thập tự trồng tại Quảng Đông - Trung Quốc Sự biến
động trên 10 cây ở 5 địa phương, điều tra 10 ngày/lần (từ tháng 7 năm 1996
đến tháng 12 năm 1997) Bọ nhảy đã có 7 thế hệ trên 1 năm số lượng bọ nhảy bắt đầu tăng cao từ đầu tháng 4 tới cuối tháng 5 và giữa tháng 9 đỉnh cao về số lượng bọ nhảy giữa tháng 9 gấp 2,4 – 2,5 lần đỉnh cao số lượng của chúng trong mùa xuân Số lượng quần thể bọ nhảy có tương quan chất với lượng mưa
và nhiệt độ Bọ nhảy thích gây hại cải canh và cải củ hơn là cải xoăn và cải trắng
2.2.4 Các biện pháp phòng chống
* Biện pháp sử dụng giống chống chịu sâu bệnh
Sử dụng giống chống chịu sâu bệnh là công việc mới và có hiệu quả trong phòng trừ sâu hại cây trồng nông nghiệp nói chung, cây rau nói riêng [72]
Theo Lamb và cộng sự (1993) [44] một số dòng cải dầu Brassica napus
có tính kháng với bọ nhảy rất cao như L19, M12 và đã được sử dụng phổ biến trong sản xuất ở Manitoba, Canada
Pivnick và cộng sự (1992) [51] đã kết luận rằng giống rau cải Brassica
khi điều chỉnh lượng Iosthiocyanate trong cây sẽ tạo nên giống chống hoặc
giống mẫn cảm với bọ nhảy P striolata
79
Trang 10Cũng theo Picvick và cộng sự bẫy dầu cải đã được sử dụng ở Manitoba, Canada vào vụ xuân để thu thập bọ nhảy trưởng thành ngoài đồng Chất Nitriles trong thành phần sinh hóa của cây cải có mùi thơm và khả năng thoát mùi cao đã có tác dụng quyến rũ bọ nhảy
Bọ nhảy rất thích ăn và gây hại trên những cây rau họ hoa thập tự có hàm lượng Glucosinolate cao Mối tương quan giữa mật độ bọ nhảy trưởng thành
và hàm lượng chất Glucosinolate trong cây kí chủ là mối tương quan chất, theo Gao và cộng sự (2001) [30]
Theo Hung và cộng sự (2000) [39] đã chỉ ra rằng bọ nhảy P striolata bị
hấp dẫn bởi dầu cải Có mối liên quan giữa dầu cải hỗn hợp và hỗn hợp với parafin trong 5 ml PVC, hỗn hợp đựng trong chụp nhựa có đường kính 2 cm, cao 2,5 cm Trong các ống đó đựng các hỗn hợp (hỗn hợp dung dịch chứa từ
11 - 26 mg dầu cải) Kết quả cho thấy nồng độ dầu cải càng cao thì càng hấp dẫn hơn với bọ nhảy Tuy nhiên nhiệt độ cũng có tác dụng phụ Khi nồng độ dầu cao tăng từ 10% tới 0,84 mg/d thì nhiệt độ tăng 1 độ C Trên cánh đồng cải, đặt bẫy ngay trên mặt đất thì khả năng thu bắt (hấp dẫn bọ nhảy) cao hơn
so với đánh bẫy: độ cao 30, 60, 90 cm so với mặt đất Bẫy cyhinter vàng, trắng, xanh da trời, có hiệu quả thu bắt bọ nhảy cao hơn bẫy đỏ, xanh lá cây, trong suốt….màu không có tác dụng thu bắt bọ nhảy Nếu như độ dài và
đường kính của bẫy cyhinter tăng thì khả năng thu bắt cũng tăng
Năm loài cây không phải là ký chủ của bọ nhảy đã được sử dụng để
chống lại bọ nhảy đó là Mikania micrantha, Chromolaena odorata, Wedelia chinensis, Lantana camara và tomato Kết quả đã chỉ ra rằng mùi của các cây
trên có tác dụng xua đuổi côn trùng, theo Zhao và cộng sự (2003) [67]
Theo Palaniswamy và cộng sự (1992) [50] bọ nhảy Phyllotreta sp có tính lựa chọn cây ký chủ rất cao Mật độ bọ nhảy P striolata và Phyllotreta cruciferae cao nhất ở loài Brassica oleracea trong số 9 loài thực vật được theo
dõi trong phòng và ngoài đồng ruộng Dựa vào đặc tính này để luân canh cây
80
Trang 11trồng, sử dụng loài Brassica oleracea làm bẫy cây trồng phòng chống bọ nhảy
rất có hiệu quả
Ngoài ra, việc sử dụng lưới chắn để khống chế số lượng bọ nhảy hại cây con giống họ cải đã được Palaniswamy và cộng sự (1992) tiến hành có hiệu quả cao ở Canada
Một số giống súp lơ được tạo ra bằng lai tạo có khả năng chống bọ nhảy rất cao, ngược lại một số giống rất mẫn cảm với bọ nhảy như giống Broc 5 và giống Glossy, theo Stoner (1992) [55]
nhảy P striolata cho cây cải giống vào vụ xuân
Việc sử dụng lưới chắn để khống chế số lượng bọ nhảy hại cây con giống
họ cải đã được Palaniswamy và cộng sự (1992) [50] tiến hành có hiệu quả cao
ở Canada
Theo Picvick, Lamb và Reed (1992) [51] bẫy dầu cải đã được sử dụng ở Manitoba, Canada vào vụ xuân để thu thập bọ nhảy trưởng thành ngoài đồng Chất Nitriles trong thành phần sinh hóa của cây cải có mùi thơm và khả năng thoát mùi cao đã có tác dụng quyến rũ bọ nhảy
Bẫy nước đã được sử dụng trên cánh đồng trồng cải bắp ở Quebec,
Canada để phòng chống bọ nhảy P striolata trưởng thành Tuy nhiên việc sử
dụng bẫy màu trắng cho hiệu quả cao hơn bẵy màu vàng - theo Vincent và Stewart (1981) [58]
Eddy (1938) [26] cho rằng việc dọn sạch những tàn dư sau thu hoạch cũng góp phần ngăn chặn sự tái sinh sản của bọ nhảy trên đồng ruộng Vun
81
Trang 12xới đúng thời điểm, đúng kỹ thuật cũng là một trong những biện pháp làm giảm số lượng sâu non bọ nhảy trên đồng ruộng, lại không gây ô nhiễm môi trường sống
Không xử lý cỏ dại khi gieo cải lá vào cuối tháng 7 đã làm giảm rõ rệt năng suất chất khô so với việc dọn sạch cỏ cùng tàn dư cây trồng Bởi bọ nhảy sinh sản nhanh, tỷ lệ sống sót cao, gây hại nặng cho cây trồng khi có cỏ dại và các thực vật trên đồng ruộng theo Reed và Byers (1981) [52]
Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cây đến mật độ bọ nhảy đã
được Dosdal và cộng sự (1998) [25] trung tâm Alberta, Canada tiến hành tại
Polish và Arrgentina Canola trên 2 loại rau cải Brassica rapa L và Brassica napus L Kết quả thí nghiệm cho thấy khoảng cách (cây x cây ) hợp lý nhất làm giảm mật độ bọ nhảy, đối với Brassica napus L là 14 cm và đối với Brassica rapa L là 30 cm
Chế độ bón phân không cân đối cũng là một trong những nguyên nhân làm tăng số lượng bọ nhảy trên đồng ruộng Eigenbrode và Pimental (1988)
[27] đã khảo sát ảnh hưởng của phân chuồng và phân hóa học đến mật độ P striolata trên cánh cải ở New York, Mỹ Kết quả thí nghiệm cho thấy công
thức sử dụng phân bón hóa học có mật độ bọ nhảy cao hơn rất nhiều so với công thức chỉ sử dụng phân chuồng Sử dụng phân chuồng hoai mục cũng làm giảm mật độ bọ nhảy hơn so với việc sử dụng phân chuồng tươi
Theo Hou và cộng sự (2000) [33] việc xử lý đất bằng bón Tobaco (thuốc lá) vào trong đất trồng rau họ hoa thập tự đã làm giảm số lượng bọ nhảy và tăng năng suất của cây
* Biện pháp sinh học
Hiệu quả của biện pháp phòng trừ sinh học đối với bọ nhảy Phyllotreta
sp vẫn còn hạn chế Một số loại côn trùng, tuyến trùng, nấm, vi khuẩn… đã
được nghiên cứu sử dụng làm giảm mật độ bọ nhảy trên đồng ruộng
82
Trang 13Một số loài côn trùng ký sinh bọ nhảy trên đồng ruộng ở Canola, Canada
như: Crysopacarnea, Geocoris bullatus, Collops vitatus, Nabis alternatus, Gryllus pennsyvanicus [69]
ở Manitoba, Canada ngay từ những năm 1978 đến năm 1983 thí nghiệm
về côn trùng ký sinh bọ nhảy đã được tiến hành Trong thí nghiệm này
Townesilitus Psylliodis đã được sử dụng làm côn trùng ký sinh với mục đích làm giảm mật độ bọ nhảy P striolata và Phyllotreta cruciferae gây hại trên
cải củ theo Wylie(1988) [63]
Theo Eddy (1938) [26] Braconid perilitus epitricis là loài côn trùng ký sinh bọ nhảy P striolata trưởng thành nhưng số lượng loài này không nhiều
Theo Smith (1952) [54], Loan (1969) [49] và Wylie (1984) [62]
Braconid microctonus vittatae là côn trùng ký sinh P striolata ở Mỹ, Canada Ngoài ra, P striolata còn có một số loài ký sinh như Braconnid townesilitus psylliodes, T bicolor
Elsey (1990) [28] đã phát hiện P striolata bị ký sinh bởi loài tuyến trùng Howardula sp ở miền Bắc Carolina, Mỹ
Li và Wang (1990) [46] tiến hành một thử nghiệm phòng trừ sâu non bọ nhảy ngoài đồng ruộng và trong phòng Trong thí nghiệm, một số dòng tuyến
trùng như A24 của Steinernema, KG của S.glaseri, 8701 của S.species và 86 H-1 của Heterorhaditis sp đã được phân lập Và được sử dụng để ký sinh sâu
non bọ nhảy trên rau cải củ Kết quả thí nghiệm cho thấy dòng tuyến trùng A24 đã ký sinh 86,6 - 100% sâu non bọ nhảy trong ống nghiệm và 77,0 -94,2% sâu non bọ nhảy ở ngoài đồng
ở Quảng Đông, Trung Quốc Wei và Wang (1993) [59] đã sử dụng tuyến
trùng để ngăn chặn P striolata ngoài đồng Các tác giả trên cho biết bằng việc
sử dụng tuyến trùng Steinernema apocapsae đã có từ 40% đến 70% sâu non
83
Trang 14bọ nhảy bị ký sinh Biện pháp này đang được thử nghiệm trong sản xuất rau
họ thập tự nhằm làm giảm thiệt hại do bọ nhảy gây ra trên đồng ruộng và giảm được ô nhiễm môi trường
Huang và cộng sự (1992) [38], đã thử nghiệm độc tố của vi khuẩn
Bacillus firmus để trừ bọ nhảy P striolata ở Guangxi, Trung Quốc
Theo Butt J.M và cộng sự (1994) [19] nấm Metarhizium anisopliae và Beauveria bassiana với nồng độ 1010 bào tử / ml có tác dụng diệt côn trùng
hại rau họ hoa thập tự và ong mật sau phun 5 ngày, tuy nhiên hiệu lực trừ sâu của nấm không cao
Theo Zhang và cộng sự (2000) [66] tuyến trùng được xem như một tác
nhân sinh học tấn công bọ nhảy P striolata Fabricius Tỷ lệ bọ nhảy nhiễm
tuyến trùng được dùng để đánh giá hiệu lực Nghiên cứu đã nhiễm 7x10gam tuyến trùng/hm2 vào trong đất trồng cải Kết quả thí nghiệm cho thấy ở phần
đất có nhiễm tuyến trùng thì số lượng bọ nhảy chỉ là 2,39 Trong khi đó ở công thức không có tuyến trùng thì số lượng bọ nhảy là 12,9 và mật độ bọ nhảy ở lứa sau cũng chỉ bằng 2/10 số lượng ở công thức đối chứng (không tuyến trùng)
Theo Hou (2001) [34] có thể sử dụng tuyến trùng Steinernema carpocapsaeA24 (SC) phòng trừ bọ nhảy Đã thử hiệu lực của SC để phòng trừ
bọ nhảy trên đồng và trong phòng thí nghiệm Phun thành từng dải có chiều rộng là 10 và 22,5 cm Số lượng của tuyến trùng cần để phòng trừ bọ nhảy giảm xuống tới 1,7 tỷ tuyến trùng/hm2 Với lượng nematode như vậy có hiệu quả trừ bọ nhảy 72,2% Chỉ số quần thể giảm tới 2,416
Trên thế giới cũng như Việt Nam hiện nay chưa thấy có sự phát hiện nào
về côn trùng bắt mồi của loài bọ nhảy Phyllotreta
* Biện pháp hóa học
Theo Ruth Harad (2001) [53] sử dụng thuốc vẫn là biện pháp phòng trừ
bọ nhảy nhanh chóng và hiệu lực nhất Các loại thuốc sử dụng để phòng trừ bọ
84
Trang 15nhảy ở mỗi vùng, mỗi nước là rất khác nhau tùy theo điều kiện môi trường, tập quán canh tác của vùng ấy
Ngay từ năm 1934, Hamilton và Gemmell [31] đã thử nghiệm một số
loại thuốc hóa học để diệt bọ nhảy P striolata trên ruộng cải bắp và đã đưa ra
một số thuốc có hiệu quả cao
ở New York các loại thuốc trừ sâu thường được sử dụng để phòng trừ bọ nhảy hại rau thập tự trong sản xuất là: Thiodan, Sevin, Disyston Hiệu lực trừ
bọ nhảy nhất là Thiomethoxam, với tên thương phẩm là Adage do công ty
Novartis sản xuất Một số loại thuốc như Bacillus thuringensis, Methomyl,
Cypermethrin, Carbaryl, Spinnosad mới được nghiên cứu sử dụng phòng trừ
bọ nhảy nhằm giảm ô nhiễm môi trường sinh thái, ô nhiễm sản phẩm (Lee Stiver, 2001) [45]
Các loại thuốc trừ sâu hoá học: Esfenvalerate, Sevin, Chorpyrisfos, Diazinon, Disulfoton, Endosulfan là loại thuốc thường sử dụng trừ bọ nhảy hại rau ở California, Mỹ [85] ở Sarawak, Brunei thường sử dụng Dibrom 96 EC, Gusathion 25EC, Rotenone, Dimethoate để phòng trừ bọ nhảy [72]
Theo Reed và Byers (1981) [52], Hou và cộng sự [37], sử dụng thuốc trừ sâu dạng hạt xử lý đất như Diazinon trước khi gieo hạt cải đã làm giảm nhẹ mức độ gây hại của bọ nhảy trưởng thành đối với việc sử dụng loại thuốc phun lên mặt luống
Loại thuốc Lindane cũng có hiệu lực trừ sâu non bọ nhảy tương đối cao, làm giảm rõ rệt mức độ gây hại của bọ nhảy đối với rau cải ở miền Tây, Canada theo Doldal L.M (1998) [25] cũng như ở Trung Quốc (Hou và cộng
sự, 2000) [33]
Tuy nhiên, tính chống thuốc của bọ nhảy đối với DDT, Diazinon và Dieldrin đã xuất hiện đặc biệt là trong sản xuất đại trà Tính kháng thuốc trừ sâu của bọ nhảy đã được Turnock M và Turnbull S.A (1994) [57] phát hiện ở
85
Trang 16Manitoba, Canada khi so sánh với bọ nhảy thu thập ở vùng Ontario, Luân Đôn nơi ít sử dụng thuốc trừ sâu hoá học
* Phòng trừ tổng hợp
Allyl isothyocyanate là một loại dầu thực vật chiết tách từ cây cải mù tạc
đã được nghiên cứu sử dụng để làm giảm mật độ bọ nhảy trên đồng ruộng (Burgess, 1977) [17]
Dịch chiết Methanolic từ hạt xoan ấn Độ đã được sử dụng nghiên cứu phòng trừ sâu hại đậu đỏ Dịch chiết này phun định kỳ 1 tuần / lần từ khi nảy mầm đến khi thu hoạch Kết quả là dịch chiết này cho hiệu lực trừ sâu cao đối với sâu cuốn lá, hiệu lực trừ sâu trung bình đối với dòi đục lá, hiệu lực thấp
đối với bọ nhảy và bọ trĩ
Một số chế phẩm sinh học hạt xoan ấn Độ lại có ảnh hưởng trực tiếp đến
số lượng và hoạt động ăn của bọ nhảy bởi nó tạo mùi gây ngán ăn, giảm thiệt hại gây ra cho cây họ cải (Palaniswamy P và cộng sự, 1994) [50]
Wei và Wang (1993) [59] đã chỉ ra rằng ở Trung Quốc sau khi xử lý vào
đất hỗn hợp tuyến trùng Steinerrnema carpocapsae agriotis và dung dịch
Trichlorfon có hiệu quả trừ sâu non bọ nhảy rất cao sau khi xử lý 15 - 20 ngày, nhất là đối với sâu non tuổi 3 Nên sử dụng bón hỗn hợp trên 2 hoặc 3
lần trong một vụ từ khi trồng đến khi thu hoạch để phòng trừ bọ nhảy P striolata trên đồng ruộng
Xác định hiệu quả trừ bọ nhảy của BIOACT - T35 đã được tiến hành cả trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng Kết quả thí nghiệm đã chỉ ra rằng chất BIOACT - T35 đã làm giảm sự hoạt động và sự ăn hại của bọ nhảy Khi phun 10,00 ml BIOACT - T35/1 lít dung dịch thì 91,42% bọ nhảy trưởng thành đã chuyển xa cây ký chủ, 93,54% không lựa chọn cây bị phun hóa chất làm thức ăn Chủng quần bọ nhảy giảm chỉ còn 0,3676 trong khi đó ở công
86
Trang 17thức đối chứng là 3,8680 Qua đây cho thấy vai trò của BIOACT - T35 trong việc kìm hãm số lượng bọ nhảy bằng cách xua đuổi và ngăn chặn, theo Hou và cộng sự (2002) [36]
Kellogg và cộng sự (2002) [42] cho rằng Cassabanana glandular trichomes (CGT) có hiệu quả ngăn chặn các loài chân đốt Thí nghiệm tìm hiểu hiệu lực của CGT phòng trừ 4 loại côn trùng và nhện (rệp Aphis nerii, bọ nhảy P striolata, Boisea trivittata và nhện Tetranychus uticae) đã chỉ ra rằng
tác dụng của hóa chất này đã làm giảm kích thước, tác dụng tới hình thái của phần miệng nhưng không thể hiện sự tác động tới các đặc điểm về tập tính của côn trùng và nhện
Theo Ciampolini (2001) [24] sự xuất hiện và các cây ký chủ ưa thích của
4 loài bọ nhảy đã được miêu tả là: P striolata, Phyllotreta cruciferac, Phyllotreta undulata và Phyllotreta nemorum Chúng đã gây thiệt hại đáng kể
trong mùa xuân và mùa hè trên các cây rau họ hoa thập tự có vòng đời ngắn
như: Eruca sativa [E vesicaria] làm cây mất giá trị thương phẩm Tại Châu
Âu người ta đã sử dụng một số tác nhân sinh học bao gồm microctonus
bicolor và tuyến trùng howardula phyllotreta, hexamermis albicans và amphimermis elegans Những loài này tấn công vào bọ nhảy trưởng thành qua
đông, chúng rất khó nuôi cấy và bảo quản Biện pháp phòng trừ bằng thuốc thì rất khó khăn, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới các loài kể thù tự nhiên
Và ít được sử dụng với cây rau họ hoa thập tự có thời gian sinh trưởng ngắn Cuối cùng chỉ có biện pháp sử dụng chất tự nhiên pyrethrins là có thể phòng trừ được
Dựa trên bảng sống của chủng quần tự nhiên bọ nhảy Hiệu lực của azadrachtin phòng trừ bọ nhảy đã làm giảm số lượng trưởng thành và trứng bọ nhảy, giảm mật độ chủng quần, giảm sự gây hại của bộ nhảy trên cây rau họ hoa thập tự, theo Hou (2002) [37]
87
Trang 182.3 Nghiên cứu trong nước
Theo Nguyễn Trí Tiến (1994) [11] thành phần loài khu hệ bọ nhảy miền Bắc Việt Nam gồm 113 loài thuộc 61 giống, 16 họ của 4 phân bộ Số họ tập trung chủ yếu ở 3 phân bộ: Entomobryomorpha (37,50%), Symphypleona
(31,25%), Poduromopha (25,50%) Trong 113 loài tập trung ở họ Entomobrydae tới 30,16% rồi đến họ Isotomidae 25% Theo tác giả bọ nhảy
có 4 nhóm sinh thái chính: 1- Nhóm sống trên bề mặt thảm và không gian (trong nhóm này lại chia thành 2 dạng sinh thái nhỏ hơn: dạng sống trong không gian và dạng sống ở tầng thảm trên) 2- Nhóm sống ở thảm đất (gồm 2 dạng: sống trên mặt đất, dưới lớp thảm và sống nửa ở thảm và nửa ở đất) 3- Nhóm sống ở đất chính thức 4- Nhóm chuyên hoá, sống với các côn trùng xã hội như mối, kiến
Theo Hồ Khắc Tín và cộng sự (1980) [12] ở Việt Nam có 4 loại sâu hại
chủ yếu trên rau họ hoa thập tự, gồm: sâu tơ (Plutella maculipennis Curtis), bọ nhảy sọc cong vỏ lạc (P striolata), sâu khoang (Prodenia litura Fabricius) và rệp muội hại rau (Aphididae ) Bọ nhảy P striolata là đối tượng sâu hại
nghiêm trọng trên rau họ hoa thập tự ở Việt Nam hiện nay cũng như nhiều nước khác trên thế giới Bọ nhảy thuộc họ ánh kim Chrysomelidae bộ cánh cứng Coleoptera Chúng gây hại cho rau ở cả 2 pha phát dục: sâu non và trưởng thành
Bọ nhảy trưởng thành có kích thước cơ thể dài 1,8 –2,4 mm, hình bầu dục, toàn thân màu đen bóng Trên cánh có 2 vân sọc hình vỏ củ lạc màu trắng Thời gian sống của trưởng thành bọ nhảy rất dài, có thể tới 1 năm Giai
đoạn từ khi vũ hoá đến đẻ trứng phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trường, có thể từ 15 - 79 ngày
Sâu non đẫy sức hình ống tròn dài 4mm, màu vàng nhạt Có 3 đôi chân ngực rất phát triển Các đốt đều có u lồi, trên u có các lông nhỏ
88
Trang 19Nhộng hình bầu dục dài khoảng 2 mm, màu vàng nhạt, mầm cánh và mầm chân sau rất dài Đốt cuối cũng có 2 gai lồi
Trứng được đẻ ngay trên cây gần sát mặt đất, hình bầu dục dài 3 mm, màu vàng sữa Trong điều kiện nhiệt độ khoảng 260C trứng phát dục từ 4 - 8 ngày
Quy luật phát sinh gây hại của họ nhảy có liên quan trực tiếp với một số yếu tố ngoại cảnh: nhiệt độ và độ ẩm Nhiệt độ dưới 100C hoặc trên 340C bọ nhảy ít hoạt động và tìm nơi ẩn náu Độ ẩm không khí trên 80% là thích hợp, dưới 80% sẽ ảnh hưởng rõ rệt đến số lượng trứng đẻ và tỷ lệ sâu sống
Mưa nhiều, bọ nhảy đẻ ít và tỷ lệ nở cũng như tỷ lệ sống sót của sâu non thấp
Do trưởng thành bọ nhảy sống lâu và đẻ trứng kéo dài nên không tạo thành lứa rõ rệt Hàng năm chúng phá hại nhiều trên cây vụ Đông từ tháng 9
đến tháng 4 nhưng gây thiệt hại nặng nhất vào tháng 2 đến tháng 3
Theo Nguyễn Thị Hoa và cộng sự (2001) [5] sâu hại rau họ hoa thập tự chủ yếu có 6 loài: sâu tơ, sâu khoang, sâu xám, bọ nhảy, rệp và sâu xanh bướm trắng Bọ nhảy phát sinh gây hại quanh năm từ tháng 1 đến tháng 12 Trong năm 2000, trên cây cải ngọt bọ nhảy phát sinh mạnh vào tháng 5 và tháng 10, mật độ từ 100 - 135 con/m2 Nhưng năm 2001 bọ nhảy phát sinh mạnh vào tháng 3, mật độ trưởng thành bọ nhảy là 107,5 con/m2 Bọ nhảy gây hại nặng trên cải xanh, cải củ hơn ở cải bắp, xu hào Vùng chuyên canh bị bọ nhảy hại nặng hơn vùng xen canh Mật độ bọ nhảy bị giảm mạnh khi có mưa lớn, mưa kéo dài
Kết quả khảo nghiệm hiệu lực trừ bọ nhảy của một số thuốc trừ sâu Nguyễn Thị Hoa (2001) [5] cho thấy Regent 800 WG, nồng độ sử dụng là 0,01% có hiệu lực trừ bọ nhảy cao nhất 98,2% tại thời điểm sau phun 5; 7 ngày Tiếp đến là Padan 95 SP với nồng độ sử dụng là 0,25%, hiệu lực trừ BNTT từ 86,2-88,2% Thuốc trừ sâu sinh học Delfin WG với nồng độ sử dụng
89
Trang 200,1% hiệu lực trừ trưởng thành bọ nhảy thấp đồng thời tác động của thuốc rất ngắn Sau khi phun thuốc 1; 3 ngày hiệu lực trừ trưởng thành bọ nhảy của thuốc là 46,5; 47,0% nhưng đến 5; 7 ngày sau phun hiệu lực giảm còn 41,8%
và 40,9%
Bọ nhảy chủ yếu gây hại trên cây rau họ hoa thập tự nên việc dọn sạch tàn dư, luân canh cây trồng hợp lý là biện pháp phòng trừ bọ nhảy có hiệu quả cao đồng thời giảm được chi phí bảo vệ thực vật, giảm ô nhiễm môi trường,
đặc biệt là giảm được tồn dư thuốc trừ sâu trong sản phẩm [12]; [13]; [15] Theo Vũ Thị Hiển (2002) [4] thành phần sâu hại rau cải xanh ngọt vụ
Đông Xuân 2001 vùng Gia Lâm - Hà Nội gồm 7 loài gây hại chính thuộc 5 họ
và 3 bộ khác nhau trong số đó bọ nhảy P striolata là loài gây hại nghiêm
trọng nhất Bọ nhảy gây hại ở cả hai pha phát dục: sâu non và trưởng thành, thời gian phát dục trung bình của các pha trứng, sâu non, nhộng ở 250 C là 6,5
- 15,24 - 10,07 ngày Thời gian sống trưởng thành trung bình là 26,86 ngày (250 C) Theo tác giả khi phun Sevin 85 WP (0,15%) và rắc Vibasu 10H (0,7 kg/sào) xử lý đất có hiệu lực trừ sâu non bọ nhảy cao nhất đạt 72,26 và 76,51% sau khi xử lý 7 ngày Padan 95SP (0,25%) có hiệu lực trừ trưởng thành bọ nhảy cao nhất đạt 98,89% ngay sau khi phun 3 ngày với thí nghiệm trong phòng và 82,83% với thí nghiệm ngoài đồng
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2001) [1] đã qui định mật
độ sâu, tỷ lệ bệnh để thống kê diện tích nhiễm sâu bệnh (10TCN224 - 1995)
Đối với bọ nhảy hại rau họ hoa thập tự (trong cả giai đoạn sinh trưởng) mật độ và tỷ lệ dịch hại dự thảo là 20 con/m2
Diện tích nhiễm nhẹ: là diện tích có mật độ sâu, tỷ lệ bệnh từ 50 - 100% mức qui định
Diện tích nhiễm trung bình: là diện tích có mật độ sâu, tỷ lệ bệnh từ 100
- 200% mức qui định
90
Trang 21Diện tích nhiễm nặng: là diện tích có mật độ sâu, tỷ lệ bệnh trên 200% mức qui định
Diện tích mất trắng: là tổng số diện tích bị hại giảm trên 70% năng suất Nhìn chung, những nghiên cứu về bọ nhảy ở Việt Nam ch−a có nhiều,
đặc tính sinh vật học, sinh thái học ch−a đ−ợc chú trọng Cách phòng chống
bọ nhảy ch−a đ−ợc giải quyết Hiện nay, các nghiên cứu vẫn chú trọng nhiều
đến việc áp dụng thuốc hoá học ch−a có sự phối hợp với các biện pháp khác
91
Trang 223 Địa điểm - vật liệu và phương pháp nghiên cứu
3.1 Vật liệu nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Cải Đông Dư và 07 loại cây rau họ hoa thập tự
- Bọ nhảy hại rau P striolata Fabricius
- Một số loại thuốc hoá học, sinh học
3.1.2 Dụng cụ nghiên cứu
- Thu bắt trưởng thành bằng vợt, ống hút
- Dung dịch giữ mẫu (cồn 700, foocmon 5%)
- Các dụng cụ đo đếm
- Kính lúp điện
- ống nghiệm, bút lông, panh…
- Lồng nuôi sâu, lồng mica
- Tủ định ôn (250C và 300C)
- Đĩa petri, hộp nhựa
- Các dụng cụ trồng cây khác
3.2 Địa điểm nghiên cứu và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
- Bộ môn Côn trùng - Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội
- Xã Tằng My - Huyện Đông Anh - Hà Nội
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên rau họ hoa thập tự từ tháng 12/2003 đến tháng 6 năm 2004
92
Trang 233.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu mẫu và xác định thành phần cây ký chủ, diễn biến số lượng của bọ nhảy Phyllotreta striolata vụ Đông xuân 2003 - 2004 tại Đông Anh - Hà Nội
- Điều tra theo phương pháp điều tra bảo vệ thực vật của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn [1]
Định kỳ điều tra 7 ngày/1 lần, trên các loại cây họ hoa thập tự, mỗi loại cây điều tra một ruộng, mỗi ruộng điều tra 5 điểm chéo góc, mỗi điểm điều tra
5 cây Thu toàn bộ bọ nhảy trưởng thành trên mỗi cây và những cây bị héo,
đưa về phòng thí nghiệm để xác định nguyên nhân gây chết (do bệnh hay bọ nhảy)
- Chỉ tiêu theo dõi:
+ Diễn biến mật độ cá thể trưởng thành của bọ nhảy P striolata trên 1
Tổng số lần bắt gặp bọ nhảy Tần xuất xuất hiện bọ nhảy(%) =
Tổng số lần điều tra x100 Mức độ thường gặp được đánh giá theo tần xuất xuất hiện bọ nhảy như sau:
Mức độ phổ biến Ký hiệu % số lần gặp bọ nhảy trong điều tra Rất ít
ít
Trung bình
Nhiều
- + ++
Trang 24+ Xác định mức độ gây hại của bọ nhảy P striolata theo tháng 9 cấp hại
[6].ph
Cấp 0: Không có vết hại
Cấp 1: < 1% diện tích lá bị hại
Cấp 3: 1 - 5% diện tích lá bị hại
Cấp 5: 6 - 25% diện tích lá bị hại
Cấp 7: 26 - 50% diện tích lá bị hại
Cấp 9: 51 - 100% diện tích lá bị hại
Nếu xác định bọ nhảy P striolata gây hại từ cấp 1 trở lên thì xác định
đây là loại cây ký chủ của bọ nhảy
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh vật học và sinh thái học của bọ nhảy Phyllotreta striolata
3.3.2.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái
Quan sát, mô tả, đo đếm kích thước từng pha phát dục P striolata với số
lượng đo ở từng pha phát dục n = 30
-Pha trứng: Đo chiều dài và nơi rộng nhất của quả trứng
-Pha sâu non: Đo chiều dài cơ thể và chiều rộng của đầu
-Pha nhộng và pha trưởng thành: Đo chiều dài và phần rộng nhất của cơ thể
Trang 25n
x x
3.3.2.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của Phyllotreta striolata
a Nghiên cứu thời gian phát dục của bọ nhảy P striolata Fabricius trên
cải Đông dư trong phòng thí nghiệm ở 3 ngưỡng nhiệt độ 250C; 27,30C và
300C ẩm độ trung bình 80%
Theo dõi thời gian phát dục của P striolata theo từng giai đoạn (trứng,
sâu non, nhộng và pha trưởng thành) Bắt 50 trưởng thành bọ nhảy từ ngoài
đồng về phòng thí nghiệm Thả vào lồng nuôi sâu, trong đã trồng sẵn cây cải
Đông dư Sau một ngày chuyển cây cải Đông dư ra ngoài, soi lá cải dưới kính lúp hai mắt để kiểm tra trứng Cắt các lá có quả trứng ( mỗi lá chứa một quả trứng) đặt vào hộp petry dưới đáy hộp có lót giấy thấm nước để giữ cho lá
được tươi Bố trí thí nghiệm với 30 đĩa petry ở mỗi ngưỡng nhiệt độ (250C; 27,30C và 300C) Theo dõi hàng ngày để xác định thời gian phát triển các pha của mỗi cá thể bọ nhảy và bổ sung nước, thay lá để giữ lá cải Đông dư tươi -Thời gian phát dục trung bình của cá thể ở các pha được tính:
Trong đó: X là thời gian phát dục trung bình
Xi là thời gian phát dục của cá thể thứ i
Ni là số cá thể phát dục trong ngày thứ i
Trang 26
n
t S
=
n
x x
b Nghiên cứu khả năng sinh sản của bọ nhảy trên cây cải Đông dư ở 3
điều kiện nhiệt độ 250C; 27,30C và 300C
- Gieo cây cải Đông dư thành nhiều đợt Sử dụng cây ở giai đoạn 5 lá để cho bọ nhảy trưởng thành đẻ trong phòng thí nghiệm, mỗi chậu trồng một cây
và đặt chúng trong lồng cách ly Thả mỗi cặp trưởng thành đực cái mới vũ hóa vào mỗi cây (thí nghiệm làm với 15 cặp trưởng thành đực cái) Tiến hành thay cây hàng ngày sau khi phát hiện thấy trưởng thành bắt đầu đẻ Đếm số lượng trứng được đẻ ra hàng ngày của 15 cặp trưởng thành cho tới khi cặp trưởng thành cuối cùng ngừng đẻ
- Chỉ tiêu theo dõi:
- Khả năng đẻ trứng trung bình của một cá thể cái:
Tổng số trứng đẻ (quả)
Số trứng đẻ / 1Χ (quả/Χ) =
Tổng số con cái (con)
- Thời gian đẻ trứng trung bình:
Σ thời gian đẻ của các trưởng thành cái theo dõi (ngày) Thời gian đẻ trứng TB (ngày/ con) =
Σ số trưởng thành cái theo dõi (con) -Số trứng đẻ trung bình trong một ngày của một con cái:
Σ số trứng đẻ của các cá thể cái thí nghiệm trong ngày/quả
Số trứng đẻ TB/ 1 ngày/Χ =
Tổng số cá thể cái theo dõi (con)
96
Trang 27c ảnh hưởng của nhiệt độ đến sức sống của các pha phát dục (trứng, sâu
non và nhộng của bọ nhảy Phyllotreta striolata)
Bố trí 50 cá thể của từng pha (trứng, sâu non và nhộng) trên một đĩa petry
có lá cải Đông dư tươi Mỗi thí nghiệm nhắc lại 8 lần Thay lá tươi và theo dõi hàng ngày
- Chỉ tiêu theo dõi:
-Tỷ lệ trứng nở :
Tổng số trứng nở (quả)
Tỷ lệ trứng nở (%) =
Tổng số trứng theo dõi (quả) x100
- Tỷ lệ chết tự nhiên của sâu non:
Tổng số sâu non chết (con)
Tổng số nhộng theo dõi (con) x100
3.3.2.3 Phương pháp tính tỷ lệ tăng thực tự nhiên quần thể bọ nhảy Phyllotreta striolata ở điều kiện 25 0 C
- Để xác định chỉ tiêu này, chúng tôi đã tiến hành theo dõi tỉ lệ nở của trứng, tỉ lệ sống của sâu non, tỉ lệ vũ hoá của nhộng, sức sinh sản, tỉ lệ giới tính Nhằm đánh giá được một chỉ tiêu sinh học (chỉ số hoặc tỉ lệ tăng thực tự nhiên - The Intrinsic rate of Natural increase), đây là thế năng tổng hợp cả tốc
độ sinh sản và tốc độ phát triển Chỉ số này còn được gọi là tiềm năng sinh học (Biotic potential) hay chỉ số môi trường (Enviromental index) (Birch,1948) chỉ số này được ký hiệu (r) trong phương trình
dN
Dt = r.N (1)
97
Trang 28Trong đó:
dN: là số l−ợng chủng quần gia tăng trong thời gian dt
N: là số l−ợng chủng quần ban đầu
r: tỉ lệ tăng tự nhiên, hay đây cũng chính là tỉ lệ sinh (b) trừ đi tỉ
Nt: số l−ợng chủng quần ở thời điểm t
N0: số l−ợng chủng quần ở thời điểm ban đầu
e: cơ số logarith tự nhiên
- Hay (2) còn có thể chuyển về dạng (3) do một quần thể với khoảng sinh
tử không đổi sẽ dần tiếp cận với một hình thức của sự phân bố tuổi, biết sự phân bố tuổi ổn định
+ Sức sinh sản (mx) là số con cái sống sót trung bình đ−ợc một cá thể mệ
ở tuổi x đẻ ra trong một đơn vị thời gian
- Tổng số con cái sinh ra sống sót trong một thế hệ (do một mẹ đẻ ra)
đ−ợc gọi là hệ số nhân của một thế hệ hay còn gọi là chỉ số nhân của một thế
hệ (Netreproductive rate) – R0
98
Trang 29- Ngoài ra lấy logarit nghịch cơ số e của (r) ta tìm được giá trị λ Đây là chỉ số giới hạn tăng tự nhiên (Finite rate of natural increase) nó cho chúng ta biết được số lần chủng quần tăng trong 1 đơn vị thời gian
λ = antiloger
3.3.3 Biện pháp phòng trừ bọ nhảy Phyllotreta striolata trên cải Đông dư vụ Đông xuân (2003 - 2004) tại Đông Anh – Hà Nội
3.3.3.1 Biện pháp canh tác
- Để đánh giá các biện pháp canh tác ảnh hưởng đến hoạt động sống của
bọ nhảy Chúng tôi bố trí ruộng có sự luân canh cây khác họ (cách làm đất
99
Trang 30như nông dân) và ruộng chuyên canh rau họ hoa thập tự, từ đó theo dõi sự diễn biến số lượng bọ nhảy trưởng thành và tỷ lệ cây chết do sâu non bọ nhảy gây
Thí nghiệm 2: nửa ruộng còn lại ngâm nước trong vòng 3 – 4 ngày, sau
đó tháo nước làm ẩm đất để trồng cây
+ Thí nghiệm 1: cách làm đất khô, chúng tôi bố trí 3 công thức theo kiểu RCB và nhắc lại 3 lần - sơ đồ thí nghiệm trang 31
* Công thức 1: xử lý đất: sử dụng thuốc Sago Super 3 G (Chlorpyrifos Methyl, 1,5 – 2kg/1000m2) dạng hạt mang tác dụng xử lý đất để
đánh giá ảnh hưởng của chúng đến pha sâu non
* Công thức 2: Làm đất theo kinh nghiệm nông dân (trước khi trồng rắc vôi bột)
* Công thức 3: Đối chứng, không xử lý đất, không rắc vôi bột
+ Thí nghiệm 2: cách làm đất ướt có 3 công thức bố trí theo kiểu RCB và nhắc lại 3 lần - sơ đồ thí nghiệm trang 31
* Công thức 1: xử lý đất: sử dụng thuốc Sago Super 3 G (Chlorpyrifos Methyl, 1,5 – 2kg/1000m2) dạng hạt mang tác dụng xử lý đất để
đánh giá ảnh hưởng của chúng đến pha sâu non
* Công thức 2: Làm đất theo kinh nghiệm nông dân (trước khi trồng rắc vôi bột)
* Công thức 3: Đối chứng, không xử lý đất, không rắc vôi bột
Mỗi ô thí nghiệm rộng 20 m2 (5m x 4m)
100
Trang 31CT2: Delfin WG (Bacillus thuringiensis)
CT3: Pycythrin 5EC (Cypermethrin 5%)
CT4: Crymax 35WP (Bacillus thuringiensis)
CT5: Cyclodan 35EC (Endosulfan35%)
CT6: Phun n−íc l·
- §iÒu tra 5 ®iÓm chÐo gãc, mçi ®iÓm 5 c©y/ 1 c«ng thøc/ 1 lÇn nh¾c l¹i ThÝ nghiÖm nh¾c l¹i 3 lÇn Bè trÝ theo kiÓu RCB, mçi « cã diÖn tÝch réng 20
m2 (5m x 4m)
- ChØ tiªu theo dâi:
Tû lÖ c©y chÕt do bä nh¶y g©y h¹i ë tõng giai ®o¹n cña c©y, ë tõng c«ng thøc
101
Trang 32Σ Số cây điều tra (cây)
3.3.3.2 Biện pháp thuốc bảo vệ thực vật
3.3.3.2.1 Khảo sát trong phòng
Bảng 3.1: Các công thức thí nghiệm khảo sát hiệu lực của thuốc Bảo
vệ thực vật (BVTV) trong phòng thí nghiệm (sơ đồ thí nghiện trang 31) Công thức Tên thương mại Tên hoạt chất Liều lượng dùng
CT 1 Vithadan 95 WP Nereistoxin 95% 0,8 kg/ha
Trang 33+ Cyclodan 35 EC: Thuốc có tác dụng tiếp xúc, vị độc Thuốc có độ độc I, thời gian cách ly của thuốc là 7 ngày sau phun
+ Pycythrin 5 EC: Thuốc có tác dụng tiếp xúc, vị độc, phổ tác động rộng Thuốc có độ độc II, thời gian cách ly của thuốc đối với rau ăn lá là 7 ngày sau phun
+ Crymax 35WP và Delfin WG: Là 2 loại thuốc có nguồn gốc vi khuẩn, thời gian cách ly ngắn chỉ 1 ngày sau phun
+ Thử nghiệm thuốc: mỗi loại thuốc được phun nhắc lại trên 3 cây cải
Đông dư có lồng cách ly ở giai đoạn 5 lá Trên cây đã thả ngẫu nhiên 20 cá thể trưởng thành bọ nhảy
- Chỉ tiêu theo dõi: Số trưởng thành bọ nhảy chết ở mỗi công thức sau thí nghiệm 1, 3, 5 và 7 ngày thử nghiệm
Tính hiệu quả theo công thức Abbott:
Ca - Ta Hiệu quả (%) =
Ca x 100 Trong đó:
Ta là số cá thể sống ở công thức thí nghiệm sau khi xử lý
Ca là số cá thể sống ở công thức đối chứng sau khi xử lý
3.3.3.2.2 Khảo sát ngoài đồng
- Chúng tôi sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật đã được khảo nghiệm trong phòng thí nghiệm pha theo nồng độ ghi trong bảng 3.1 để khảo nghiệm ngoài đồng Phương pháp phun ướt bề mặt lá, phun theo kiểu bao vây (từ ngoài vào trong và phun vòng quanh) Khi phun thuốc chúng tôi cho nước vào rãnh ngập 2/3
- Thí nghiệm được thực hiện trên cải Đông dư - Bố trí theo sơ đồ trang 31
- Chỉ tiêu theo dõi: Số trưởng thành bọ nhảy trước thí nghiệm và sau thí nghiệm 1, 3, 5 và 7 ngày thử nghiệm
103
Trang 34Tính hiệu quả theo công thức Henderson – Tilton:
Ta x Cb
HL (%) = ( 1 -
Ca xTb ) x 100 Trong đó: HL là hiệu lực của thuốc
Ta là số cá thể sống ở công thức thí nghiệm sau khi xử lý
3.4 Xử lý số liệu
Số liệu thí nghiệm được xử lý thống kê trên máy vi tính theo chương trình Microsoft Excel 2000, thống kê sinh học, trong chương trình GENSTAT (General statistics Software của VSN International) và so sánh theo Duncan (DMRT) Các công thức tính toán dựa vào tài liệu của tác giả Phạm Chí Thành [10]
104
Trang 354 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1 Thành phần cây ký chủ họ hoa thập tự của bọ nhảy Phyllotreta
striolata vụ Đông xuân 2003 – 2004 tại Tằng My - Đông Anh - Hà Nội
Bọ nhảy P striolata là đối tượng gây hại chính trên rau họ hoa
thập tự ở nước ta nói riêng và nhiều nước trên thế giới nói chung Chúng
gây hại ở cả pha sâu non và pha trưởng thành
Ngay sau khi nở sâu non chui xuống đất - sống trong đất và tấn
công vào các rễ cây Chúng gặm rễ phụ, gốc thân cây và rễ chính đồng
thời chúng gặm mô biểu bì ngoài của rễ non khiến cho rễ hoá gỗ làm
cây héo do giảm khả năng hút nước, khoáng, dinh dưỡng bị hạn chế, hại
nặng chúng có thể gây chết cây Pha sâu non có ảnh hưởng lớn đến giai
đoạn cây con do khả năng phục hồi ở cây con không cao vì vậy khi bị
hại cây dễ chết hoặc nếu có phục hồi được cây cũng trở nên còi cọc,
chậm phát triển, giảm năng suất chất lượng rau Đây cũng là nguyên
nhân chính khiến nhiều cây con bị héo và chết ở những ruộng chuyên
canh 2 – 3 vụ liền trồng rau họ hoa thập tự Tác hại của sâu non nặng
nhất với cây ở giai đoạn cây mới mọc từ hạt được 7-10 ngày hoặc khi
cây con trồng bắt đầu hồi xanh
Trưởng thành chủ yếu hại các lá bánh tẻ, lá non Chúng ăn thủng lá
dẫn đến làm giảm khả năng quang hợp của cây, ảnh hưởng đến giá trị
thương phẩm Khi mật độ trưởng thành bọ nhảy cao ở giai đoạn cây con
(từ 7-15 ngày sau gieo) chúng có thể gây mất năng suất hoàn toàn do
trưởng thành cắn thủng lá mầm, lá thật thậm chí cả thân cây vừa nhú
Qua quá trình điều tra chúng tôi đã xác định được phổ kí chủ của
P striolata và mức độ phổ biến, cấp hại của chúng trên bảng 4.1
105