1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu đặc điểm phát sinh gây hại biện pháp phòng trừ một số loài nhện hại chính trên cam quýt vùng lạng sơn vụ xuân hè 2005

119 1,1K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đặc điểm phát sinh gây hại và biện pháp phòng trừ một số loài nhện hại chính trên cam quýt vùng Lạng Sơn
Tác giả Nguyễn Thị Hà
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Văn Đĩnh
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Bảo vệ thực vật
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn nghiên cứu đặc điểm phát sinh gây hại biện pháp phòng trừ một số loài nhện hại chính trên cam quýt vùng lạng sơn vụ xuân hè 2005

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

trường đại học nông nghiệp i

-

nguyễn thị hà

Nghiên cứu đặc điểm phát sinh gây hại và biện pháp phòng trừ một số loài nhện hại chính trên cam quýt vùng Lạng Sơn Vụ xuân hè 2005

Luận văn thạc sĩ nông nghiệp

Chuyên ngành : Bảo vệ thực vật Mã số : 60.62.10

Người hướng dẫn khoa học: pgS.TS nguyễn văn đĩnh

Hà nội - 2005

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng:

Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, ch−a từng đ−ợc sử dụng và công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này, đ6 đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hà

Trang 3

Lời cảm ơn

Có được kết quả nghiên cứu này

Tôi xin được bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

PGS TS Nguyễn Văn Đĩnh - Trưởng Khoa Nông học Trường Đại học Nông Nghiệp I, người thầy hết sức tận tình và chu đáo Thầy truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu, chỉ dẫn cho tôi từng bước đi để tập làm và hoàn thành luận văn nghiên cứu khoa học

Tập thể các thầy cô giáo Bộ môn Côn trùng, Khoa Nông học Trường

Đại học Nông Nghiệp I, luôn giúp đỡ và có những góp ý sâu sắc trong thời gian học tập và thực hiện đề tài

Ban l6nh đạo Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng VII Lạng Sơn và các anh chị em đồng nghiệp, những người đ6 tạo mọi điều kiện về thời gian và bố trí thí nghiệm cho tôi trong quá trình nghiên cứu khoa học

Cuối cùng tôi xin chân thành cám ơn, sự giúp đỡ của các đồng chí l6nh

đạo địa phương và bà con nông dân, nơi tôi tiến hành các thí nghiệm, nghiên cứu khoa học

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hà

Trang 4

2 Tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học của đề tài 5

3 Vật liệu nội dung và phương pháp nghiên cứu 34

4.1 Thành phần nhện hại cam quýt ở vùng Lạng Sơn 43 4.1.1 Thành phần nhện hại cam quýt vùng Lạng Sơn 43

Trang 5

4.1.2 Đặc điểm hình thái và triệu chứng gây hại của một số loài nhện

4.2 Một số kết quả nghiên cứu về nhện đỏ Panonychus citri McGregor

và nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora Ashmead 584.2.1 Đặc điểm sinh học của nhện đỏ Panonychus citri McGregor 59

4.2.2 Tập tính cư trú và sự phân bố của nhện rám vàng trên cây 64 4.2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển quần thể nhện đỏ Panonychus citri McGregor và nhện rám vàng Phyllocoptruta

Trang 6

Bảng 4.16 ảnh hưởng của tỉa cành tạo tán đến mức độ gây hại của nhện

Bảng 4.17 Kết quả khảo nghiệm thời điểm phun hỗn hợp dầu khoáng và

Trang 7

Danh mục các hình

Hình 4.1: Tỷ lệ % nhện đỏ ở hai mặt lá quýt Bắc Sơn 63 Hình 4.2: Mật độ nhện đỏ (con/lá) ở các tuổi lá khác nhau 64 Hình 4.3: Biến động mật độ nhện rám vàng (con/lá, quả) trên các bộ phận của cây quýt Bắc Sơn qua các tháng điều tra (năm 2005) 66Hình 4.4: Phân bố của nhện rám vàng trên cùng một lá quýt Bắc Sơn qua

Trang 8

Danh mục các ảnh

ảnh 4.3: Cặp trưởng thành nhện đỏ Panonychus citri McGregor 50

ảnh 4.4: Trứng nhện đỏ Panonychus citri McGregor 50

ảnh 4.6: Cặp trưởng thành nhện xanh Eutetranychus banksi McGregor 58

ảnh 4.7: Nhện trắng Polyphagotarsonemus latus Banks 58

ảnh 4.8: Nhện đỏ son Tetranychus cinnabarinus Boisduval 58

ảnh 4.9: Nhện dẹt đỏ tươi Brevipalpus phoenicis Geijkes 58

Trang 9

Đồng thời, trong quá trình phát triển lịch sử, cũng hình thành nhiều vùng cam quýt đặc sản, có chất lượng nổi tiếng, như quýt Bắc Sơn, cam Hà Giang, cam sành Bắc Giang, cam Canh Hà Nội

Tuy nhiên, thực tế đáng quan tâm là hầu hết các vườn cam quýt ở nước ta thường có chu kì kinh doanh ngắn Sức sinh trưởng và phát triển của cây kém dần, năng suất thấp và phẩm chất quả không thể hiện đúng đặc trưng của giống, hiệu quả kinh tế không cao [18] Một trong số các nguyên nhân quan trọng dẫn tới hiện trạng trên là do tác hại của một số loài dịch hại như bệnh vân vàng lá Greening, ruồi đục quả, nhện hại Các đối tượng dịch hại này đ6 tàn phá các vùng cam quýt, và đang làm mất dần nhiều vùng sản xuất cam quýt truyền thống [5,12,17,20,25,28] Do vậy, mặc dù với ưu đ6i của thiên nhiên, nhưng sản lượng cam quýt sản xuất ra, không đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước, phẩm chất quả chưa đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu Điều đó, đ6 tạo điều kiện mở

đường cho sản phẩm cam quýt tươi từ Trung Quốc nhập khẩu ồ ạt và nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường trong nước

Để phục hồi nền sản xuất cây ăn quả có múi, duy trì và phát triển các

Trang 10

vùng cam quýt đặc sản Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đ6 triển khai

đồng bộ nhiều giải pháp khác nhau Trong đó chú trọng nghiên cứu ứng dụng các biện pháp phòng trừ dịch hại Đến nay, đ6 có nhiều kết quả khả quan như phục hồi giống, nhân giống sạch bệnh và kỹ thuật chăm sóc đ6 và đang được ứng dụng rộng r6i trong sản xuất [3,18]

Tuy nhiên, do đầu tư thâm canh và sản xuất chuyên canh đ6 tạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển mạnh, diễn biến phức tạp, nhất là nhóm nhện hại Thành phần sâu hại cây có múi ở nước ta rất phức tạp và đa dạng Theo kết quả điều tra mới đây của Viện bảo vệ thực vật (1999)[27] có tới 96 loài côn trùng và nhện hại xuất hiện trên cam quýt, trong đó có trên 20 loài phổ biến và gây hại nghiêm trọng Nhóm nhện hại cam quýt có 2 loài được xác định là thường xuyên gây hại

ở hầu hết các vùng trồng cam quýt trên cả nước là nhện đỏ cam chanh (hay còn gọi là nhện đỏ) Panonychus citri Mcgregor và nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora Ashmead (còn gọi là nhện trắng[11], nhện rỉ sắt[27], nhện ống[3], nhện nhỏ[25]) Đây cũng chính là 2 đối tượng nhện hại cây có múi được nhiều tác giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu

Những nghiên cứu về nhện hại cây trồng nói chung và nhện hại cây có múi nói riêng ở nước ta chưa nhiều Riêng ở Lạng Sơn trong những năm vừa qua chưa có tác giả nào nghiên cứu về tình hình nhện hại trên cam quýt Việc phòng chống nhện hại của một số công trình đ6 công bố trước đây chủ yếu là đề cập

đến hiệu lực của các loại thuốc hóa học

Năm 1992, Nguyễn văn Đĩnh[5] đ6 đề cập đến những vấn đề cấp bách trong phòng chống nhện hiện nay Những hiểu biết và nhận thức về nhện hại cây

có múi ở nước ta còn nhiều hạn chế Đặc biệt là ở vùng núi Lạng Sơn người sản xuất và ngay cả cán bộ kỹ thuật, khái niệm về các loài nhện hại còn rất mới mẻ Một số loại thuốc hóa học có khả năng diệt nhện cao thường dùng trong sản xuất trước đây như lưu huỳnh vôi, Kelthane, Nuvacron, Dimecron đều là những thuốc có phổ tác dụng rộng, hiện nay đ6 bị cấm hoặc hạn chế sử dụng do tính

độc hại đối với môi trường

Trang 11

Hiện tượng giảm hiệu lực của các loại thuốc Pyrethroid đối với nhện đỏ cam Panonychus citri đ6 được Hoàng Lâm (1991)[14] ghi nhận Việc giảm hiệu lực nhanh chóng của một số loại thuốc trừ nhện đ6 gây rất nhiều khó khăn và lúng túng cho các nhà sản xuất, trong phòng chống nhóm đối tượng gây hại này

Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của khoa Nông học Trường Đại học Nông Nghiệp I - Hà Nội chúng tôi tiến hành đề tài:

“ Nghiên cứu đặc điểm phát sinh gây hại và biện pháp phòng trừ một số loài nhện hại chính trên cam quýt vùng Lạng Sơn "

1.2 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Những nghiên cứu về thành phần nhện hại trên cam quýt sẽ đóng góp thêm cơ sở khoa học, cho việc đánh giá tầm quan trọng của nhóm nhện hại

Kết quả nghiên cứu về sinh học sinh thái của loài gây hại chủ yếu và biện pháp phòng trừ chúng, sẽ góp phần củng cố và xây dựng cơ sở khoa học cho việc

sử dụng thuốc hợp lý, sử dụng khi thật cần thiết, sẽ giảm được chi phí đầu tư và tránh ô nhiễm môi trường, góp phần tháo gỡ những khó khăn trong sản xuất hiện nay về vấn đề phòng chống nhện hại như hiện tượng rám quả cam quýt, bưởi

Những kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa trong việc bổ sung hiểu biết về thành phần nhện hại và mức độ gây hại trên cam quýt trong điều kiện sinh thái và hệ thống canh tác ở vùng Lạng Sơn

Đồng thời sẽ góp thêm tư liệu, hoàn thiện biện pháp phòng trừ tổng hợp nhện hại trên cam quýt đạt hiệu quả cao và bền vững

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định thành phần nhện hại cam quýt vùng Lạng Sơn và tìm loài gây hại chủ yếu

- Nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh thái, quy luật phát sinh và phát triển của một số loài gây hại chủ yếu, làm cơ sở cho biện pháp phòng trừ

- Đề xuất một số biện pháp phòng trừ các loài nhện hại chủ yếu trên cam

Trang 12

quýt tại Lạng Sơn, góp phần hạn chế tác hại của chúng trong sản xuất

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các loài nhện hại trên cam quýt thuộc bộ Ve bét Acarina, Lớp Nhện Arachnida, trong đó 2 loài nhện hại chủ yếu được tập trung nghiên cứu là nhện đỏ Panonychus citri Mcgregor và nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora Ashmead

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài được tiến hành từ tháng 01 năm 2005 đến tháng 07 năm 2005 Địa

điểm nghiên cứu là các vườn trồng cam quýt đại diện cho 4 vùng tiểu khí hậu khác nhau của Lạng Sơn (vườn cam quýt ở huyện Văn L6ng, Bắc Sơn, Lộc Bình, vườn cây số 3 Lạng Sơn )

Các thí nghiệm trong phòng được tiến hành tại phòng kỹ thuật Chi cục kiểm dịch thực vật vùng VII Lạng Sơn

Trang 13

2 Tổng quan tài liệu

và cơ sở khoa học của đề tài

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Tầm quan trọng của nhóm nhện hại cây (Phytophagous mite) đ6 được các nhà bảo vệ thực vật ở nhiều nước trên thế giới quan tâm đến từ lâu, đặc biệt là từ những năm 1950 - 1960 Chúng đ6 gây hại đáng kể trên nhiều loại cây trồng, một số loài đ6 trở thành dịch hại nguy hiểm, ảnh hưởng nhiều tới kết quả trồng trọt Có nhiều công trình nghiên cứu về nhện hại cây trồng của các nhà khoa học trên thế giới đ6 được công bố Tiêu biểu cho những nghiên cứu cơ bản về nhện hại cây trồng là các công trình của Prichard and Baker (1955)[58], Jeppson et al (1975)[47], Kantz G.W.(1975)[48], Meyer (1981)[50] Những miêu tả và khoá phân loại của các tác giả này đ6 đặt cơ sở nền tảng cho những nghiên cứu tiếp theo của nhiều nhà khoa học trên thế giới

Nhiều công trình nghiên cứu về nhện hại đ6 đề cập tới các đặc điểm sinh học, đặc tính gây hại của từng loài, ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến sức tăng quần thể , làm cơ sở cho các biện pháp phòng chống đối với chúng

Tuy kích thước cơ thể nhỏ bé (0,1 – 0,5 mm), rất khó nhìn thấy bằng mắt thường nhưng nhện hại cây lại được các nhà khoa học đánh giá là có ưu thế sinh học rất cao so với các loài động vật khác Chúng có khả năng thích nghi cao với

điều kiện môi trường Với khả năng hoạt động nhanh nhẹn, kích thước cơ thể nhỏ, chúng dễ ẩn náu trong lá, vỏ cây, các kẽ nứt ở thân, hoa, quả và khi thức ăn trở nên khan hiếm, chúng dễ dàng “bốc bay” phát tán nhờ gió Chu kỳ sinh học của nhện hại cây thường ngắn, khả năng sinh sản cao, nên sức tăng quần thể cũng rất cao, dễ bùng phát về số lượng gây thành dịch Chính khả năng sinh sản cao đ6 làm cho nhện rất nhanh trở nên “trơ”với thuốc hoá học Jeppson et al (1975)[47] Nhiều thông tin về tính kháng thuốc của nhóm nhện hại cây có múi

đ6 được ghi nhận ở Nhật, Trung Quốc, Mỹ và nhiều nơi khác

Trang 14

Công tác phòng chống nhện hại cây trên thế giới ngày nay đ6 đạt được nhiều thành tựu to lớn Cùng với sự phát triển không ngừng về khoa học bảo vệ thực vật, hàng loạt thuốc trừ sâu thế hệ mới ra đời, như những thuốc trừ sâu có tính chọn lọc cao, thuốc trừ sâu sinh học ít độc với con người và môi trường Gần

đây nhất là những ứng dụng trừ sâu của sản phẩm dầu khoáng trên cây ăn quả Những loại thuốc này đ6 dần dần thay thế những thuốc trừ sâu thế hệ cũ có độ

độc cao và gây ô nhiễm môi trường, làm giảm đáng kể thiệt hại do sâu hại nói chung và nhện hại nói riêng

Biện pháp sinh học và phòng trừ tổng hợp ngày càng được chú ý ở nhiều nước trên thế giới Tại nhiều nước như Mỹ, Australia, Nhật, Italia, Hy Lạp, Trung Quốc, Thái Lan công tác phòng trừ sâu bệnh hại trên cây có múi đ6

được áp dụng theo nguyên tắc quản lý dịch hại tổng hợp (Intergratest Pest Management, IPM) Chương trình IPM được thử nghiệm và ứng dụng trên các vườn cây lâu năm đ6 mang lại hiệu quả cao và bền vững

ở nước ta đ6 có một số tác giả nghiên cứu về nhện hại cây có múi như Tạ Hồng và Nguyễn Văn Nghiệp (1971)[11], Nguyễn Văn Đĩnh (1994, 1997, 2002)[7][8][9], Nguyễn Văn Đĩnh và Nguyễn Thị Phương (2000)[10], Trần Xuân Dũng (2002)[4] và Nguyễn Thị Thuỷ (2003)[24] Những kết quả nghiên cứu nhện hại, của các tác giả trên cung cấp thông tin về sự thiệt hại và biện pháp phòng trừ do nhện gây ra trong thực tiễn sản xuất cây có múi ở nước ta Tuy nhiên ở những điều kiện sinh thái khác nhau, trình độ thâm canh và tập quán canh tác khác nhau, thành phần sâu bệnh hại nói chung và nhện hại nói riêng trên cây cam quýt cũng có những điểm khác biệt Trên thực tế ở Lạng Sơn hiện nay việc phòng trừ nhện hại vẫn chủ yếu dựa vào thuốc hoá học, nên đ6 gây nhiều bất cập trong sản xuất, các loại nhện hại trở nên trơ dần với thuốc bảo vệ thực vật Điều đó chứng tỏ qui luật phát sinh, phát triển của nhện hại và biện pháp phòng trừ chúng có những điểm riêng, không thể áp dụng như đối với vùng trồng cam quýt khác hoặc lúa và các cây trồng ngắn ngày

Xuất phát từ các luận cứ khoa học trên, đáp ứng yêu cầu của sản xuất

Trang 15

hiện nay và lâu dài, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài, nhằm thu thập các dẫn liệu khoa học, làm cơ sở để phát triển các biện pháp phòng trừ nhện hại có hiệu quả, thích hợp với điều kiện sinh thái và canh tác vùng Lạng Sơn

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

2.2.1.1 Thành phần loài nhện hại cam quýt

Nhóm nhện hại là các đối tượng gây hại nghiêm trọng trên nhiều loại cây trồng ở nhiều vùng trên thế giới, đ6 thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học Nhiều công trình nghiên cứu đ6 xác định thành phần các loài nhện hại trên cây trồng khá phong phú Nhóm nhện hại cây trồng thuộc ngành chân đốt, lớp Nhện Arachnida, bộ Ve bét Acarina Còn gọi là bộ nhện nhỏ, (Viện bảo vệ thực vật,

1999 [27]) (Kantz, 1975 [48])

Trong số đó, có trên 10 họ nhện hại thường gặp trên nhiều loại cây trồng Tuy nhiên, chỉ có 4 họ có các đại diện có thể gây hại nặng hơn cả, bao gồm họ nhện chăng tơ thật (Tetranychidae), họ nhện chăng tơ giả (Tenuipalpidae), họ nhện u sần (eriophyidae) và họ Tarsonemidae (Jeppson et al.(1975)[47], Meyer (1981)[50]

Riêng trên cây cam quýt, số lượng các loài nhện hại được xác định là không nhiều, nhưng số đối tượng đ6 trở thành dịch hại thường xuyên lại nhiều hơn so với các cây trồng khác Đến nay, có nhiều chuyên khảo về nhện hại cam quýt đ6 được công bố, như các tác giả: Prichard.A.E và E.W Baker (1955)[58]; Meyer (1981)[50] ;E.W Baker (1975)[47]

Các tài liệu công bố còn chỉ rõ ở các vùng sản xuất có điều kiện sinh thái khác nhau thì thành phần nhện hại và ý nghĩa kinh tế của mỗi loài được đánh giá không giống nhau Theo kết quả ghi nhận của Smith Dan, Roger Broadley (1997)[63] tại Australia có tới 10 loài nhện hại trên cây cam quýt, bao gồm: Tegolophus australics, Panonychus citri McGregor, Brevipalpus lewisi,

Trang 16

Tarsonemus watei, Tydeus canifornicus, Phyllocoptruta oleivora Ashmead, Eriophyes sheldoni Ewing, Polyphagotarsonemus latus Banks, Tetranychus urticae Koch, Eutetranychus orientalis Klein

Tại Cu Ba là nước có nhiều công trình nghiên cứu về nhện hại đ6 được công bố có liên quan đến thành phần loài và đặc điểm sinh học, sinh thái của một số loài gây hại chủ yếu và biện pháp phòng trừ chúng Theo N Rodrigueez (1981)[61] tại Cu Ba có 9 loài nhện gây hại trên cam quýt là Phyllocoptruta oleivora Ashmead, Panonychus citri McGregor, Tetranychus urticae Koch, Eutetranychus banksi McGregor, Polygotarsonemus latus Banks, Aceria sheldoni Ewing, Brevipalpus phoenicis Geijkes, Brevipalpus ebovatus và Tetranychus mexicanus Trong khi đó, theo kết quả nghiên cứu của S Barbagallo (1981)[30] ở Italia nhện gây hại trên cam quýt chỉ có 3 loài, đó là Eriophyes sheldoni Ewing., Panonychus citri McGregor và Tetranychus urticae Koch

Theo F Luck Robert (1981)[49] đ6 ghi nhận tại bang California (Mỹ)

có 4 loài nhện quan trọng, chúng phát sinh gây hại thường xuyên trên cam quýt

là Phyllocoptruta oleivora Ashmead, Panonychus citri McGregor, Eriophyes sheldoni Ewing và Polyphagotarsonemus latus Banks) Trái lại, ở vùng Georgia thuộc Liên Xô cũ V.A Yasnosh (1986)[72] cũng ghi nhận có 2 loài nhện gây hại nghiêm trọng là Phyllocoptruta oleivora Ashmead và Panonychus citri McGregor

Bên cạnh đó một số công trình của các tác giả ở châu á như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, ấn Độ cũng đều chỉ rõ hai loài nhện hại Panonychus citri McGregor và Phyllocoptruta oleivora Ashmead được coi là những đối tư-ợng gây hại nghiêm trọng ở các vườn cam quýt, nếu không áp dụng các biện pháp phòng trừ thì năng suất, chất lượng quả và tuổi thọ của vườn cam sẽ giảm

đi rõ rệt (Nakao S.I et al., 1996 [53], Wei X.K et al., 1989 [69], Wu T K., 1990 [71] Neyda Rodrigueez (1981)[61] và Baker (1975)[47] khẳng định nhện đỏ (Panonychus citri) và nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora Ashmead là 2 đối

Trang 17

tượng phổ biến và quan trọng ở hầu hết các vùng trồng cam quýt trên thế giới

Nói chung, trong tổng số khoảng trên 20 loài nhện hại cam quýt được các tác giả trên thế giới đề cập đến, chỉ có khoảng 7- 9 loài được coi là đối tượng gây hại nghiêm trọng hơn cả nhưng với mức độ gây hại khác nhau tuỳ theo đặc

điểm của mỗi vùng sinh thái Tuy nhiên, các tác giả đều thống nhất cho rằng 2 loài nhện đỏ (Panonychus citri McGregor) và nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora Ashmead là 2 loài phổ biến nhất và gây hại nghiêm trọng trên cam quýt

ở nhiều nước, chúng có mặt thường xuyên trên vườn cam quýt và trong tất cả các giai đoạn sinh trưởng của cây ngay từ khi cây gốc ghép bắt đầu có lá

2.2.1.2 Đặc điểm gây hại và ý nghĩa kinh tế của hai loài nhện hại chủ yếu trên cam quýt

a Đặc điểm gây hại và ý nghĩa kinh tế của nhện đỏ

Nhện đỏ (Panonychus citri) gây hại chủ yếu ở trên lá, chúng dùng vòi chích nhựa cây ở lá và tiết ra độc tố làm phá vỡ tế bào và mô diệp lục, làm lá mất dần màu xanh và dần chuyển sang màu vàng trắng Khi bị hại ở mức độ nặng thì lá có màu bạc xỉn lấm tấm, khả năng quang hợp của lá giảm và cây phát triển còi cọc, đâm chồi nảy lộc kém, kích thước lá bé dần và lá có thể rụng hàng loạt (Jeppson et al.,1975)[47] Trên quả, nhện gây hại tạo ra những vết đốm màu nhạt, khi nhện đỏ phá hại nặng thì quả có thể bị rụng và cây có thể bị chết (Smith Dan et al 1997)[63]

Nhện đỏ được đánh giá là đối tượng gây hại quan trọng trên cam quýt và

có ý nghĩa kinh tế ở hầu hết các vùng trồng cam quýt trên thế giới, như California, Florida, Texaz (Mỹ ), Nam phi, Liên Xô, ấn Độ (Jeppson et al, 1975)[47] Một số tác giả khác như Wu T.K., 1990 [71], Furness G O., 1981 [38] cũng có nhận xét tương tự về mức độ gây hại nghiêm trọng của loài nhện

đỏ (Panonychus citri) đối với nghề trồng cam quýt ở các nước khác như Tây ban nha, Italia, Australia, Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài loan,

Trang 18

b Đặc điểm gây hại và ý nghĩa kinh tế của nhện rám vàng:

Đặc tính gây hại của nhện rám vàng cũng giống như đặc tính chung của nhóm nhện hại là dùng kìm chích vào mô cây (lá, cành, quả) hút chất dinh dưỡng làm cho các tế bào bị tổn thương Triệu chứng của nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora trên cây có múi ở Mỹ được Asmead mô tả từ những năm 1878 - 1879 Loài nhện này có thể có nguồn gốc phân bố ở Đông Nam á, cũng là nơi xuất xứ của cây có múi Người ta tìm thấy nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora ở phía đông Transvaal Lowvel năm 1958 Từ đó loài nhện này đ6 được báo cáo có mặt ở Bắc Transvaal, Bắc Natal và ở vùng Pretoria

Nó còn xuất hiện ở một số nơi khác thuộc Nam phi, như Swaziland, , Angola, Zimbabuê và Malawi (Dẫn theo Meyer, (1981)[50]

Tác hại và biện pháp phòng chống nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora đ6 được W W Yother và A.C.Mason đề cập năm (1930) (Jeppson, (1975)[47] Triệu chứng gây hại được mô tả trên quả là “ Để lại các vết rám màu trắng bạc, màu nâu xám trên vỏ quả”

Theo Meyer (1981)[50], N.Gonzales và CS (1983)[40], nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora tấn công trên quả ngay từ khi cánh hoa bắt đầu rụng Sự xâm nhiễm đạt mức cao nhất khi quả có đường kính trung bình từ 1 đến 2 cm Khi quả bắt đầu chín không thấy sự xuất hiện của nhện trên quả Meyer (1981)[50], Jeppson, (1975)[47] cũng cho rằng quả có thể bị tấn công ngay giai

đoạn đầu mới phát triển, thậm chí quả mới chỉ to bằng hạt đậu Hà Lan đ6 có thể tìm thấy nhện trên quả Triệu chứng hại có thể nhìn thấy được khi quả bị hại có

đường kính khoảng 5- 6 cm Các vết bị hại rộng dần ra cùng với sự phát triển của quả Nhện chích hút gây tổn thương tế bào biểu bì, làm vỡ các túi tinh dầu, vỏ quả bị hại chuyển dần thành mầu trắng bạc, nâu đỏ hoặc tím đen Trên bưởi, cam chua và chanh vỏ quả chuyển sang mầu trắng bạc và kết cấu trở lên thô, nứt nẻ (gọi là hiện tượng rám quả) Trên cam ngọt vỏ quả bị biến mầu từ nâu nhạt đến nâu đậm Quả bị hại có vỏ dầy hơn và tỷ lệ nước thấp hơn những quả bình thường Nhện gây hại nặng sẽ làm cho lá và cành bị biến nâu cũng như cây bị

Trang 19

suy tàn sức sống có thể làm rụng lá, quả trên cây

A.S Nascimento và CS (1984)[54] đ6 tiến hành thí nghiệm so sánh các quả cam thu ở những cây không phòng trừ nhện Phyllocoptruta oleivora (có mật

độ nhện 106 con/ cm2) với quả cam thu ở những cây được phòng trừ Kết quả cho thấy ở những cây không được phòng trừ, quả có khối lượng thấp hơn 29,9 g,

đường kính nhỏ hơn 4,5 mm, thể tích nhỏ hơn 34 cm3 và lượng nước ép ít hơn 21,5 ml so với những quả thu được ở các cây được phòng trừ

Theo Meyer (1981)[50], ở những vùng nhện rám vàng gây hại nặng, 50% năng xuất có thể bị giảm nếu không áp dụng biện pháp phòng trừ Những quả bị hại có giá trị rất thấp do m6 quả xấu

Tác hại của nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora không chỉ làm giảm năng xuất mà còn ảnh hưởng đến phẩm chất quả Những quả có trên 25 % diện tích vỏ quả bị hại kích thước nhỏ hơn, hàm lượng đường tan và Vitamin C cao hơn, độ axit tổng số thấp hơn quả bình thường Nhưng sự gây hại chính của nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora là làm giảm giá trị thương phẩm của quả Những quả bị hại kích thước nhỏ hơn bình thường, có các vết bầm tím trên vỏ, chất lượng kém, không đủ tiêu chuẩn cho xuất khẩu (N.Gonzalez và CS 1983)[40]

Nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora được coi là một trong những loài dịch hại quan trọng nhất và có diện phân bố rộng ở khắp các vùng trồng cây có múi trên thế giới, sự gây hại của nó ảnh hưởng lớn đến năng xuất và phẩm chất quả (Meyer 1981)[50] (Jeppson 1975)[47]

2.2.1.3 Những nghiên cứu về sinh học và sinh thái của nhện đỏ:

Các tác giả nghiên cứu đều cho rằng nhóm nhện hại cam quýt nói chung

và nhện đỏ nói riêng đều có đặc điểm chung là vòng đời ngắn, sức sinh sản cao, vì vậy số lượng quần thể thường tăng nhanh theo mùa Đồng thời cũng chỉ rõ sự phát triển số lượng quần thể của nhện đỏ chịu ảnh hưởng khá rõ rệt dưới tác

động của nhiều yếu tố, như nhiệt độ, độ ẩm không khí và lượng mưa, chủng loại

Trang 20

giống cam quýt và kỹ thuật canh tác trên vườn, đặc biệt là mức độ và kỹ thuật sử dụng thuốc hoá học để phòng trừ chúng

Nhện đỏ cam quýt (Panonychus citri McGregor) thuộc họ nhện chăng tơ thật (Tetranychidae) Cơ thể nhện có hình cầu, màu đỏ đậm, kích thước biến

động từ 0,1- 0,5 mm và có nhiều lông cứng dài được mọc từ các u lông ở trên

l-ưng Trứng hình cầu, hơi dẹt và ở giữa có cuống dài trên đầu cuống có những lông tơ nhỏ toả ra xung quanh trông giống củ hành tây

Trong quá trình phát triển, nhện đỏ trải qua 3 lần lột xác để chuyển tuổi

từ nhện non sang tiền trưởng thành I (Protonymph) và sau đó chuyển sang giai

đoạn tiền trưởng thành II (Duetonymph), cuối cùng là trưởng thành Đáng chú ý

là trong giai đoạn nhện non, chúng chỉ có 3 đôi chân, đến các giai đoạn còn lại mới có đủ 4 đôi chân Trưởng thành hoạt động nhanh nhẹn bằng cách bò và giao phối theo kiểu lưng bụng

Từ năm 1980 ở Cu Ba, Neyda Rodriguez [61] đ6 công bố kết quả nghiên cứu khá chi tiết về đặc điểm sinh học, sinh thái của nhện đỏ Theo kết quả nghiên cứu của Donald T ; Judson M và Arvizo G (2001)[36] thì vòng đời của nhện đỏ chỉ kéo dài khoảng 18 ngày Nhện cái ưa thích đẻ trứng dọc theo gân lá,

ở vị trí nửa cuối về phía chóp lá, ngoài ra chúng còn đẻ trứng ở búp và trên quả Mỗi con cái thường đẻ từ 20 đến 50 trứng và thời gian trứng kéo dài từ 2 đến 3 ngày, thậm chí tới 8 đến 30 ngày Thời gian sống của nhện trưởng thành kéo dài trong vài ngày và con cái thường sống dài hơn con đực, nhất là khi thời tiết khô hạn

Yếu tố môi trường có ảnh hưởng rõ rệt đến, đặc điểm sinh học và sinh thái của nhện đỏ Kết quả nghiên cứu của Jeppson (1975)[47] cho thấy trong

điều kiện nhiệt độ 260C thì vòng đời của nhện đỏ là 14 ngày, nếu ở nhiệt độ thấp

100C thời gian phát triển của nhện đỏ kéo dài gấp 9 lần so với điều kiện nhiệt độ

270C Còn khi thời tiết nóng trên 400C hay một số ngày có nhiệt độ 320C kết hợp

có nhiều gió sẽ làm nhện đỏ bị chết khá nhiều

Năm 1994, Huang J H [44] cũng công bố kết quả nghiên cứu về ảnh

Trang 21

hưởng của nhiệt độ đối với sự phát triển, khả năng đẻ trứng và tuổi thọ của nhện

đỏ

Kết quả nghiên cứu cho thấy ở nhiệt độ từ 200C đến 25oC là điều kiện tốt nhất cho sự sống sót của mỗi giai đoạn phát triển của nhện đỏ Tỷ lệ giới tính cũng khác nhau khi ở nhiệt độ khác nhau, tỷ lệ nhện cái so với nhện đực lớn nhất ở nhiệt độ 250C và cũng là điều kiện tốt nhất cho sự đẻ trứng Chỉ số phát triển quần thể đạt cao nhất (=1) ở nhiệt độ 250C và đạt thấp hơn (<1) khi điều kiện nhiệt độ môi trường lên tới 350C Theo kết quả nghiên cứu của B.S Yue và CS (1992)[74], khi sinh sống ở nhiệt độ từ 20- 300C thì tỷ lệ nở trứng của nhện đỏ đều đạt trên 90%, còn ngoài khoảng nhiệt độ này thì tỷ lệ nở của trứng đều thấp Tỷ lệ tăng tự nhiên của nhện đỏ cao nhất khi sống ở nhiệt độ 20oC

Kết quả công bố của các tác giả còn chỉ rõ thức ăn khác nhau cũng ảnh hưởng tới đặc điểm sinh học của nhện đỏ, như khả năng đẻ trứng của trưởng thành cái, thời gian sống của con đực và con cái cũng như tỷ lệ đực cái Nghiên cứu của Chiavegato và Gouzaga (1988)[34] cho thấy khi thí nghiệm ở nhiệt độ

250C, ẩm độ 58% với thức ăn là quả và lá chanh thì thời gian phát dục của pha trứng tương ứng là 7,3 ngày và 6,9 ngày; còn thời gian của ấu trùng tuổi 1 là 1,98 ngày và 1,56 ngày; ấu trùng tuổi 2 là 1,88 ngày và 1,76 ngày; thời gian tr-

ước đẻ trứng của trưởng thành cái là 1,14 ngày và 1,11 ngày và vòng đời của nhện tương ứng là 12,8 ngày và 12,1 ngày, còn thời gian sống của con cái là 28,9 ngày và 13,0 ngày và con đực là 9,6 ngày và 10,9 ngày Cũng trong điều kiện sống như vậy thì khả năng đẻ trứng của trưởng thành cái trung bình là 77,2 quả khi nuôi trên lá chanh và chỉ đạt 37,7 quả khi nuôi trên quả Tỷ lệ trưởng thành cái và đực tương ứng là 2,7: 1 và 3,1: 1 Từ đó các tác giả kết luận rằng đối với

sự phát triển của nhện đỏ thì lá chanh thích hợp hơn quả chanh

Các tác giả Tian M.Y., Liang G W, Pang X.F., Peng S.K và Zhou Z.G (1994)[66] đ6 nghiên cứu ảnh hưởng của ba giống cam (Guilonzao, Weizhang và Jingchen) đối với sự phát triển quần thể của nhện đỏ Các tác giả đ6 xác định các thời kỳ phát triển và khả năng đẻ trứng của nhện đỏ không bị ảnh hưởng của 3

Trang 22

giống cam này, nhưng tỷ lệ sống sót của quần thể ở các giai đoạn phát dục khác nhau lại có sự khác nhau có ý nghĩa Kết quả thí nghiệm đ6 xác định ở giai đoạn sâu non tỷ lệ sống sót là 0.3017 (Guilonzao), 0.3913 (Weizhang) và 0.4872 (Jingchen), còn ở giai đoạn tiền trưởng thành tương ứng là 0.3779; 0.5701 và 0.5856, ở giai đoạn trưởng thành tương ứng là 0.8207; 0.8004 và 0.8404 Các tác giả này có nhận xét giống cam Guilonzao có thể kháng với nhện đỏ hơn hai giống kia Ngoài ra, một số tác giả khác như Yue B S et al (1992)[74], Tian M

Y et al (1995)[65] cũng đều khẳng định nhiệt độ quá thấp hoặc quá cao, mưa rào hoặc độ ẩm không khí cao trong thời gian dài, cũng như sự gia tăng mật độ của thiên địch trong vườn là những yếu tố làm hạn chế sự phát triển số lượng quần thể nhện đỏ

Những kết quả công bố nói trên đ6 cho thấy nhện đỏ là đối tượng có chu

kỳ phát triển ngắn và tiềm năng sinh sản cao, nhưng quá trình phát triển số lượng quần thể chịu ảnh hưởng rất rõ rệt của chất lượng thức ăn, điều kiện môi trường sống và hoạt động của các loài thiên địch Đó là những khía cạnh rất cần được quan tâm đánh giá và nghiên cứu nhằm khai thác điểm yếu của dịch hại, phát triển các biện pháp phòng trừ chúng một cách có hiệu quả cao và bền vững 2.2.1.4 Những nghiên cứu về phòng trừ nhện hại cam quýt

a Biện pháp hoá học

Lịch sử phát triển biện pháp hoá học, phòng trừ nhện hại trên cây trồng nói chung và nhện hại trên cam quýt nói riêng, luôn gắn liền với lịch sử ra đời, phát triển của các loại thuốc trừ dịch hại và liên quan chặt chẽ đến hiện tượng chống thuốc của nhện Ngày nay, trong hệ thống phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại cây có múi, biện pháp hoá học vẫn giữ vai trò quan trọng với việc sử dụng những hợp chất có tính chọn lọc cao, có nguồn gốc sinh học, ít độc với động vật

có ích và con người Hầu hết các nước sản xuất cây có múi trên thế giới, đều quan tâm nghiên cứu về sử dụng các hợp chất hoá học, để phòng trừ nhện hại

* Phòng trừ nhện đỏ (Panonychus citri McGregor )

Trang 23

Nhiều tác giả cho rằng, mặc dù nhện đỏ có khả năng phát triển nhanh tính kháng, đối với các loại thuốc trừ nhện hoá học, song vẫn coi biện pháp hoá học đóng vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý dịch hại tổng hợp nhện đỏ hại cam quýt Vì vậy, việc chọn chủng loại thuốc và thời điểm dùng thuốc, cần phải được cân nhắc cẩn thận, phải sử dụng thuốc trong hệ thống đồng bộ, với các biện pháp khác, như canh tác, bón phân chăm sóc và chế độ tưới nước trên vườn cam quýt

Donal T.; Judson M và Arvizo G (2001)[36] cho rằng, không nên dùng các loại thuốc bột để trừ nhện đỏ Vì thường gây độc cho môi trường và hiệu quả phòng trừ rất thấp Còn theo Jeppson (1975)[47] thì các thuốc chứa lưu huỳnh,

đ6 được sử dụng để phòng trừ nhện hại, từ những năm 1920 và người ta đ6 sử dụng, những loại thuốc này để diệt trừ rất hiệu quả hầu hết các loài nhện hại cây trồng, đặc biệt là nhện đỏ hại trên cam quýt Tuy ít độc với người, nhưng hầu hết các chất chứa lưu huỳnh lại có nhược điểm là tiêu diệt nhiều loài thiên địch

và động vật có ích Cũng trong thời gian này, dầu khoáng (sản phẩm của dầu

mỏ, dầu nhờn của nhựa than đá, than nâu, đá dầu ) cũng được sử dụng để trừ nhện trong nhiều năm Song do nhược điểm của các loại sản phẩm này là kém an toàn đối với cây, nhiều khi chỉ có tác dụng với những pha nhất định và cũng như các chất chứa lưu huỳnh, hiệu quả sử dụng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết, nên phạm vi ứng dụng ngày càng thu hẹp dần Những hợp chất trừ sâu hữu cơ tổng hợp ra đời sau năm 1939 đ6 khắc phục được, những nhược điểm của nhóm thuốc chứa lưu huỳnh và các sản phẩm của dầu mỏ Nhóm này cũng cho hiệu quả rất nhanh, ít gây hại cho cây trồng và có thể áp dụng trong nhiều điều kiện thời tiết khác nhau

Sau những năm thập kỷ 70, hàng loạt các thuốc trừ sâu mới ra đời và thịnh hành, như nhóm hợp chất Pyrethroid, Formamidin, Dinitrofenol cùng với hàng loạt các thuốc trừ nhện đặc hiệu như Fenpropathrin, Propargite, Benzximat, Clofentezine, Tebufenpyrat, Brompropylate, Hexythiazox, Fenpyroxymate đ6 đ-

ược thử nghiệm và đưa vào sử dụng rộng r6i ở các nước như Đài Loan, Trung Quốc, Tây Ban Nha, Italia, CuBa và Nam Tư (Wen H.C et al., 1993 [70]

Các tác giả Santaballa E., Roca M., Laborda R (1994)[62] đ6 thử

Trang 24

Cloenine 0,02% và Clofentezine cộng với Dicofol 0,2% phun trong 2 vườn cam

ở Tây ban Nha từ 1991- 1992 Thời điểm phun vào mùa hè và mùa thu ở 3 giai

đoạn sinh trưởng của cây, để phòng trừ nhện đỏ Kết quả đ6 cho thấy những thuốc này, luôn giữ được quần thể nhện hại ở mức 20%, đặc biệt chúng không

ảnh hưởng đến quần thể nhện bắt mồi Từ kết quả nghiên cứu thu được, các tác giả này đ6 khuyến cáo ngưỡng phòng trừ nhện đỏ là 40% lá bị hại ở đầu mùa thu Cũng trong những năm này tại Trung quốc, Q.B Zang et al (1993)[76] đ6 thử nghiệm Pyridaben 20% pha lo6ng 4000- 5000 lần trong phòng trừ nhện đỏ hại cam rất có hiệu quả và ít gây ảnh hưởng đến quần thể thiên địch trong vườn cam quýt

Theo Tian M Y., Liang G W, Pang X F (1995)[65] thử nghiệm 2 loại thuốc trừ sâu, một loại thuốc có tính chọn lọc (Hexythiazox) và một loại có phổ tác động rộng (Fenvalerate) trên vườn cam quýt Kết quả mật độ quần thể nhện

đỏ và tỷ lệ tăng tự nhiên (rm) của quần thể nhện ở vườn phun Hexythiazox giảm

và tỷ lệ tăng tự nhiên rm = - 0,0118, còn ở vườn phun Fenvalerate thì chỉ trong một thời gian ngắn sự tái phát quần thể của nhện đỏ là rất nhanh, quần thể thiên

địch tự nhiên bị giảm mạnh và tỷ lệ tăng tự nhiên đạt tới rm = 0,0625

Với hy vọng giảm độ độc thực vật, do các loại thuốc trừ dịch hại gây ra, Dầu khoáng (sản phẩm của dầu mỏ, dầu nhờn, nhựa than đá, than nâu, đá dầu ) cũng đ6 được nghiên cứu sử dụng để trừ nhện trong những năm 70 Song do nh-

ược điểm của các loại sản phẩm này là kém an toàn với cây, hoặc chỉ có tác dụng với những pha nhất định và cũng như các hợp chất chứa lưu huỳnh, hiệu quả sử dụng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết, nên phạm vi ứng dụng ngày càng thu hẹp dần Trong khi đó những hợp chất trừ sâu tổng hợp ra đời đ6 khắc phục được, những nhược điểm của nhóm thuốc chứa lưu huỳnh và những sản phẩm của dầu mỏ Nhóm thuốc này ít gây độc cho cây trồng và có thể áp dụng trong nhiều điều kiện thời tiết khác nhau Dẫn theo Huang M.D, Mai S.W,

Li S.X (1981)[45] và Jeppson et al (1975)[47], Smith D, Beattie G.A.C, Roger B (1997)[63]

Trang 25

Theo kết quả nghiên cứu của Huang G.Y, Xu Z H, Fang Z (1999)[43] Sau một thời gian dài sử dụng nhiều hợp chất hữu cơ tổng hợp lại biểu hiện những nhược điểm, như độc hại tới môi trường và thiên địch có ích Đặc biệt, các loại thuốc này đ6 làm tăng nhanh tính kháng thuốc, của một số dịch hại, trong đó có nhện đỏ Để khắc phục những nhược điểm trên, các nhà sản xuất thuốc hoá học luôn cố gắng tìm tòi và trong những năm gần đây, do tiến bộ trong quá trình gia công, các sản phẩm trừ nhện chế từ dầu khoáng lại được dùng trở lại và rất có hiệu quả ở một số nước như: Hàn Quốc, Trung Quốc và Australia

Kết quả nghiên cứu của X.K.Wei, et al (1989)[69] cho biết loại dầu từ hạt của quả xoan (Melia azedazach) có khả năng diệt nhện đỏ cao trong phòng thí nghiệm và không gây hại tới loài nhện bắt mồi Amblyseius newsami, do cấu tạo Lipid của dầu khoáng, cấu tạo khác nhau về cấu trúc lỗ thở của hai loài nhện này,

đ6 làm cho dầu có đặc tính phá huỷ một cách chọn lọc

Bên cạnh sự phát triển của các thuốc mới, nhược điểm của các loại thuốc

cũ phòng trừ nhện hại, cũng đ6 được phát hiện ngày càng nhiều

Tại Quảng Đông (Trung Quốc), sau năm 1959 các hợp chất lân hữu cơ đ6

được sử dụng rộng r6i, để trừ nhện đỏ (Panonychus citri McGregor ) nhện rám vàng (Phyllocoptruta oleivora) và côn trùng hại trên cam quýt Từ đó quần thể nhện hại trên loại cây trồng này đ6 thực sự tăng mạnh do thiên địch bị tiêu diệt

Tính kháng thuốc nhanh chóng của nhện đỏ (Panonychus citri McGregor) đ6 được nhiều tác giả trên thế giới đề cập tới như Jeppson và CS (1975)[47], Meyer (1981)[50], H.G.Yang và CS (1999)[43]

*Phòng trừ nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora

N.Gonzalez và CS (1989)[41] đ6 nghiên cứu xác định thời điểm phun tốt nhất để phòng trừ nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora Thuốc Zinep được sử dụng với liều lượng 1kg a.i./400 lít nước cho 1 ha, phun vào thời điểm 50,75 và

100 % cánh hoa bị rụng Kết quả cho thấy tốt nhất là sử dụng thuốc vào lúc 75

Trang 26

% cánh hoa bị rụng và phun tiếp lần thứ hai sau 7 ngày (Khoảng thời gian đủ để hoàn thành vòng đời của nhện)

L.A.N Moraes và CS (1995)[51] đ6 nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phun thuốc lưu huỳnh đến hiệu lực phòng trừ nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora Kết quả cho thấy liều lượng phun khác nhau ít ảnh hưởng đến hiệu quả phòng trừ nhện tức thời, nhưng thời gian hiệu lực kéo dài có khác nhau

Các loại thuốc hoá học đ6 được sử dụng, để phòng trừ nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora rất phong phú Trước đây, loài nhện này đ6 được phòng trừ, trong nhiều năm bằng cách phun hay rắc lưu huỳnh hoặc là phun lưu huỳnh- vôi Tiếp đó, một số loại thuốc trừ nấm cũng có khả năng trừ được nhện mới xuất hiện trên thị trường, đ6 được nghiên cứu và đưa vào sử dụng rộng r6i (Meyer M.K 1981[50])

Cũng như đối với nhện đỏ, các sản phẩm từ dầu khoáng được sử dụng để phòng trừ nhện rám vàng cho hiệu quả rất cao

C.S.Moreira (1992)[52] đ6 cho biết sử dụng dầu SUN (của Mỹ) và OPAE (Brazil) nồng độ 1% như là một trong hai thuốc trừ nhện rám vàng, đ6 được nghiên cứu trên cây cam ở Sao Paolo (Brazil) bởi cả 2 loại dầu này bước đầu, đ6

có hiệu quả ngăn ngừa và duy trì sự gây hại của nhện ở mức độ thấp

Kết quả nghiên cứu của Q.Q Huang và H.Zhang (1990)[46] tại Fujian - Trung Quốc cho biết một số loại dầu khoáng dùng để trừ rệp sáp (Unaspis yanonensis) trên cây có múi cũng cho hiệu quả trừ nhện Ngoài các loại thuốc trên, một số thuốc khác cũng được nghiên cứu và kết quả cho thấy chúng cũng

có hiệu lực trừ nhện rất cao, như Formetanate, UBI- T930 (Triarathene), Oxamyl, Ethion, Chlopyrifos, Dicofol (Kelthane, Milbol), Cacbosulfan, Fenbutaxin oxyde và Amitraz, Abamectin, Flufenoxuron, Teflubenzuron, Bromopropylate, (Gonzalez N.et al 1989[41], Drishpoun Y.et al 1995[37]

Tuy nhiên hiệu lực trừ nhện rám vàng của các loại thuốc biểu hiện rất khác nhau qua thời gian sử dụng Y.Drishpoun và cộng sự (1995)[37] cho biết

Trang 27

tại Israel, các loại thuốc Fenbutatin oxide, Mancozeb, Maneb, Metiram, Zineb

và hỗn hợp giữa Cyhexatin và Tetradifon có khả năng diệt trừ được nhện rám vàng Các loại thuốc khác như Diflubenzuron, Flufenoxuron, Lufenuron, Formetanat và Amitraz, cho hiệu quả không cao đối với nhện rám vàng

Tại Florida, Israel và Lyband, các báo cáo đ6 cho thấy nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora có tính chống Zineb ở nhật Bản, nhện rám vàng đ6 hình thành tính chống Chlorobenzilate (Jeppson et al 1975[47], Meyer 1981[50]) ở Florida, nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora đ6 có khả năng chống Dicofol (Omoto C et al 1995[57])

b Biện pháp sinh học và phòng trừ tổng hợp nhện hại cam quýt

Việc lạm dụng thuốc hoá học trong phòng trừ dịch hại, trên cây cam quýt nói chung và nhện hại nói riêng, đ6 và đang là vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới Ngoài ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ cuả người sản xuất và tiêu dùng, việc dùng thuốc hoá học quá mức còn gây tác hại trên nhiều mặt, như ô nhiễm môi trường, chất lượng sản phẩm và đặc biệt phá vỡ cân bằng sinh thái vì thuốc hoá học đ6 làm suy giảm số lượng quần thể các thiên

địch tự nhiên, vốn là nhân tố quan trọng trong việc điều hoà số lượng dịch hại trên đồng ruộng Do vậy, việc áp dụng biện pháp sinh học và quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) đ6 được phát triển mạnh mẽ ở vùng sản xuất cam quýt, tại hầu hết các nước trên thế giới từ những năm 1960

Biện pháp sinh học và quản lý dịch hại tổng hợp trên cam quýt, đ6 được nghiên cứu và áp dụng rất có hiệu quả ở nhiều nước, như: Italia (Barbagallo S.,

1981 [30]) Australia (Smith Dan., 1997 [63]), Nhật Bản (Nakao S.I et al., 1996 [53], Nohara Keigo, 1981[55], Trung Quốc (Wu T.K., 1990 [71] ), Mỹ (Luck R.F., 1981 [49]) và một số nước khác, như: Tây Ban Nha, Chi Lê [35]

Nhóm thiên địch của nhện hại, đ6 được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và sử dụng, để phát triển biện pháp sinh học trên cam quýt Chiếm giữ một vai trò quan trọng, trong điều hoà số lượng các loài nhện hại, ngoài tự

Trang 28

nhiên phải kể đến các loài côn trùng và nhện bắt mồi ăn thịt, bao gồm một số loài thuộc họ Phytoseiidae (Acarina), giống Stethorus thuộc họ Coccinellidae, giống Olygota thuộc họ Staphylinidae (Neuroptera), họ Miridae (Hemiptera), Bọ trĩ (Thysanoptera) và một vài loài ruồi ăn thịt thuộc họ Syrphidae (Jeppson et al.,

1975 [47] Những đại diện của các nhóm thiên địch như đ6 nêu đều có mặt trên các vườn cam quýt (Helle W và Sabelis M.W.(1985)[42]

Kết quả nghiên cứu của Neyda Rodriguez (1981)[61] ở Cu Ba đ6 chỉ rõ thiên địch của riêng nhóm nhện bắt mồi Phytoseiidae đ6 có tới 15 loài khác nhau

Còn Donald T., Judson M và Arvizo G (2001)[36] đ6 xác định ở vùng Arizona (Mỹ) có tới 11 loài côn trùng, 6 họ nhện bắt mồi ăn thịt, 1 loại nấm và 2 loại vi rút, chúng là tác nhân tự nhiên có vai trò rất quan trọng trong việc hạn chế

sự phát triển số lượng quần thể nhện, trên cam quýt và có thể lợi dụng chúng trong phòng trừ sinh học tự nhiên

Qua theo dõi, Wu T.K và Lo K.C (1990)[71] cũng nhận thấy trên vườn cam quýt, có nhiều loài thiên địch của nhện hại thường xuyên xuất hiện và chắc chắn, chúng có những đóng góp nhất định trong điều hoà số lượng quần thể nhện Đó là các loài, như: các loài bọ rùa, nhóm Oligota sterhoru, chuồn chuồn

cỏ Chrysopa, bọ cánh cộc, bọ trĩ hay nấm tua Hirsutella thompsonii Fisher

Danh mục các loài côn trùng và nhện thiên địch của nhện hại trên cam quýt, đ6 được công bố ở nhiều nước trên thế giới ở mỗi nước, thành phần và tầm quan trọng của các loài thiên địch, trong chương trình phòng trừ tổng hợp dịch hại IPM trên cam quýt cũng khác nhau, mỗi nước đều có danh sách những loài thiên địch cần được bảo vệ, duy trì và phát triển

Theo D.K.Reed (1987)[59] virut gây bệnh và nấm Entomopthora có vai trò quan trọng khống chế quần thể nhện đỏ ngoài tự nhiên, nhưng kết quả nghiên cứu, sử dụng hai loại vi sinh vật này còn rất hạn chế

Một trong những thành công lớn nhất, nghiên cứu phòng trừ sinh học

Trang 29

nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora là những thành tựu đạt được, của việc sử dụng nấm tua Hirsutella thompsonii Fisher

Theo Meyer (1981)[50] ở Suriam người ta, đ6 nghiên cứu và sử dụng nấm tua Hirsutella thompsonii Fisher để phòng trừ nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora rất có hiệu quả

ở Trung Quốc, D.M.chen và CS (1987)[32] cũng nghiên cứu sử dụng một loại bột đ6 pha nấm tua Hirsutella thompsonii Fisher ở liều lượng 7x104 và 1,5 x

105 bào tử/gr để phòng trừ nhện Phyllocoptruta oleivora Kết quả cho thấy hiệu lực của chế phẩm đạt tương ứng là 80,9 % và 85,5 %, kéo dài trong thời gian khoảng 2 tháng, trên 90% quả được bảo vệ không bị nhện gây hại

A.Sztejnberg (1998)[64] sau khi phân lập và nuôi cấy nấm Hirsutella thompsonii Fisher, bằng môi trường PDA và đem lây nhiễm, cho một số loài dịch hại và cho biết có 6 loài nhện hại (trong đó có nhện đỏ và nhện rám vàng)

và một số ong bị chết Trong khi đó, không thấy biểu hiện của nấm tấn công nhóm nhện bắt mồi thuộc họ Phytoseiidae Điều đó đ6 chứng tỏ, tính chọn lọc cao của nấm Hirsutella thompsonii Fisher và tiềm năng trong phát triển biện pháp sinh học phòng trừ nhện hại cam quýt

Đánh giá vai trò và triển vọng sử dụng một số loài thiên địch quan trọng

đ6 được các tác giả một số nước đề cập đến Một số tác giả đ6 đi sâu nghiên cứu

về các đặc điểm sinh học, sinh thái, khả năng tấn công con mồi và sức chống chịu với điều kiện ngoại cảnh (đặc biệt là chống chịu với thuốc hoá học) của một vài loài thiên địch được coi là những tác nhân quan trọng

Yue-B S; Tsai J H (1995)[73] đ6 tìm hiểu tiềm năng bắt mồi của một loài nhện nhỏ là Agstemus exsertus Gonzalez đối với nhện đỏ Các tác giả thấy rằng trưởng thành cái của Agstemus exsertus Gonzalez rất ưa thích ăn trứng của nhện đỏ, nó có thể tiêu thụ tới 75,2%, còn với nhộng và trưởng thành của nhện

đỏ thì chỉ đạt tương ứng là 16,6% và 8,2 % Các nhà khoa học này còn chỉ rõ Agstemus exsertus Gonzalez là tác nhân để phòng trừ nhện đỏ rất có hiệu quả

Trang 30

trong nhà lưới, còn trong điều kiện tự nhiên thì số lượng quần thể loài bắt mồi này, thường bị suy giảm trong mùa đông, nhưng có thể tăng nhanh chóng trong mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10

Kết quả nghiên cứu đ6 công bố của Chen W L., Zhao Z M., Li L S., Wei Q C., (1994)[33] qua đánh giá khả năng bắt mồi của 3 loài thiên địch tự nhiên, đối với nhện đỏ là Stethorus chengi, Amblyseius nicholsi và Erigonidium graminicolum Đ6 xác định loài Erigonidium graminicolum có hiệu quả cao nhất trong phòng trừ nhện đỏ

Tầm quan trọng của nhóm thiên địch tự nhiên, được đánh giá rất cao trong chương trình quản lý dịch hại tổng hợp Tuy nhiên, việc nuôi nhân và sử dụng các loài thiên địch, để phòng trừ dịch hại trên cam quýt còn nhiều hạn chế, phạm vi áp dụng còn rất hạn hẹp Do vậy, hướng lợi dụng quần thể thiên địch sẵn có trong tự nhiên, trong công tác phòng trừ dịch hại được coi là vấn đề quan trọng hiện nay Trên cơ sở nghiên cứu, lựa chọn các loại thuốc hoá học ít độc, có tính chọn lọc cao và tăng cường áp dụng các biện pháp khác (như canh tác, đốn tỉa, tưới nước ) để bảo vệ, duy trì và phát huy vai trò của thiên địch, trong điều hoà số lượng quần thể dịch hại

Nohara K và cộng sự (2000)[56] đ6 nghiên cứu và quan sát các vùng trồng cam, thuộc đảo Nagashima (Nhật Bản) từ năm 1974 đến năm 1999 cho thấy, ở những vùng trồng cam có sử dụng nhiều thuốc hoá học đ6 làm nghèo hệ

động thực vật có ích và thiên địch, do vậy quần thể nhện đỏ luôn gây hại ở mức

độ cao Ngược lại, những vùng ít sử dụng thuốc trừ sâu, rất giàu động vật và côn trùng có ích, đặc biệt là động vật ăn thịt và ký sinh, nên quần thể nhện đỏ luôn ở mật độ thấp và mức độ gây hại không đáng kể Tác giả còn chỉ rõ sử dụng dầu khoáng để trừ rệp sáp và một số loài nhện hại vào mùa đông sẽ ít gây hại cho nhóm thiên địch có ích trên vườn cam quýt

Kết quả nghiên cứu của H M Dau và CS (1981)[45] đ6 chỉ rõ loài cỏ Ageratum conggjoides L phát triển rất nhiều trên những vườn cam quýt ở Quảng

Đông (Trung Quốc), ngoài tác dụng làm giảm nhiệt độ không khí trong vườn từ

Trang 31

400C xuống dưới 350C vào mùa hè, làm tăng độ ẩm đất, lấn át các loài cỏ khác

Điều quan trọng hơn, loài cỏ này là nguồn cung cấp phấn hoa làm thức ăn cho nhện bắt mồi phát triển Do vậy, đ6 ngăn được sự gây hại và bùng phát của nhện

đỏ vào mùa thu và làm giảm sự gây hại của chúng vào mùa xuân

Kết quả nghiên cứu của M.Y.Gao và X.C Kuang (1994)[39] cho thấy biến động mật độ của trứng nhện đỏ Panonychus citri trên cây quýt Omanthus fragrans có tương quan chặt với mật độ nhện bắt mồi Phytoseius

Qua nghiên cứu, nhóm tác giả Tian M Y; Peng S K.; Du Y R.; Xon Z

H (1995)[65] nhận thấy, mật độ quần thể nhện đỏ tăng rất nhanh vào đầu vụ xuân, trong khi mật độ thiên địch của nhện đỏ lại tăng rất chậm Từ đó, các tác giả đ6 đề xuất giải pháp đơn giản là cắt và cho thêm những cành sồi xanh có nhiều thiên địch lên cây cam quýt Với cách làm đó, đ6 làm mật độ nhện bắt mồi Phytoseius, Amblyseius tăng lên gấp đôi và mật độ nhện đỏ đ6 tăng rất chậm so với khu vực thí nghiệm phun thuốc hoá học định kỳ

Trong hệ thống quản lý dịch hại tổng hợp, để duy trì, bảo vệ quần thể thiên

địch sẵn có trong tự nhiên, đòi hỏi phải sử dụng những thuốc hoá học có tính chọn lọc cao, ít độc hại đến môi trường và quần thể các loài thiên địch Nghiên cứu theo

định hướng này, Liu J F và Zang Q B., et al (1999)[75] cho biết sử dụng hợp chất sinh học 1,8% Agrimec (Abamectin) nồng độ 6ppm trên cam quýt cho hiệu quả trừ nhện đỏ, nhện rám vàng, sâu vẽ bùa từ 86,2% đến 100% Một công bố của Wang A F., et al., (1992)[68] còn cho biết dùng hợp chất Nikkomycin (phòng trừ bệnh đạo ôn cho lúa) cũng có khả năng phòng trừ nhện đỏ và nhện rám vàng, như-

ng hiệu lực không cao như một số loại thuốc khác

Todd Murray (2002)[67] và một số nhà côn trùng học, cho rằng nhện hại

được xem là loài dịch hại thứ hai trong nông nghiệp, nhưng đ6 trở thành đối tượng dịch hại quan trọng từ khi chúng ta dùng DDT, khi một số thuốc trừ dịch hại được phun nhiều, thì nhện hại bùng phát vì quá nhiều nhện bắt mồi bị tiêu diệt, phun thuốc nhiều còn làm tăng khả năng sinh sản của con cái Nhằm mục

đích hạn chế dùng thuốc hoá học, tạo thói quen cho người nông dân vùng trồng

Trang 32

cam quýt không sử dụng thuốc hoá học một cách bừa b6i, giảm số lần phun thuốc, giảm ô nhiễm môi trường, đồng thời nhận thấy tầm quan trọng của các biện pháp khác (như : canh tác, dùng thuốc hoá học chọn lọc, các chế phẩm sinh học, dầu khoáng ), các nhà khoa học đ6 đưa ra ngưỡng phòng trừ nhện đỏ trên cam quýt

Tuy nhiên, ngưỡng phòng trừ đối với nhện đỏ mà các tác giả đề xuất rất khác nhau, do điều kiện sinh thái nơi nghiên cứu ở mỗi nước khác nhau, thậm chí do điều kiện ở mùa vụ khác nhau

Todd Murray (2002)[67] cho rằng nếu cứ 1 cá thể bắt mồi trên 10 nhện hại (tỷ lệ bắt mồi/nhện hại là 10) thì chỉ nên phun thuốc sinh học để trừ nhện Ngoài ra, ông còn khuyến cáo nên giảm thiểu tiềm năng phá hại của nhện đỏ bằng cách giảm điều kiện khô hạn trong vườn quả và giữ cho cây được tươi tốt,

ông đưa ra ngưỡng phòng trừ nhện đỏ là từ 10-30 con/lá

Còn Ric Bessin (2002)[60] cho rằng ngưỡng kinh tế, để phòng trừ nhện khác nhau ở các thời gian trong năm Từ đầu năm đến tháng 4 ngưỡng kinh tế trung bình là 5 con/lá, từ tháng 4 đến tháng 5 là 10 con/lá, thời gian còn lại là trên 15 con/lá, sau khi phun trừ nhện nên kiểm tra nhện bắt mồi Tác giả còn cho rằng, nên luân phiên thuốc trừ nhện hại, để tránh sự kháng thuốc của nhện vào những tháng mùa hè khi sự phá hại của nhện là nghiêm trọng và nên dùng dầu khoáng để phòng trừ nhện đỏ, vì có hiệu quả phòng trừ cao và có thể luân phiên với thuốc hoá học, lại ít độc hại với người Trong chương trình IPM dịch hại trên cam quýt ở Australia người ta đ6 sử dụng ngưỡng phòng trừ đối với nhện đỏ là khi hơn 50% số lá trên cây có mặt nhện trưởng thành và xuất hiện những triệu chứng gây hại đầu tiên của nhện trên lá Đối với nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora ngưỡng phòng trừ, được sử dụng trên cơ sở mối tương quan giữa tỷ lệ quả bị hại và mật độ nhện bắt mồi E victoriensis theo từng mùa vụ khác nhau (Smith Dan et al 1997[63])

A.V Netto (1987) theo kết quả nghiên cứu của mình đ6 đề nghị, chỉ nên

sử dụng biện pháp hoá học đối với nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora khi

Trang 33

10 % số quả có nhện với mật độ ít nhất là 30con/ cm2

Trong chương trình IPM phòng trừ dịch hại trên cam quýt, sản phẩm góp phần hạn chế thuốc hoá học đ6 được quan tâm nhiều là dầu khoáng Đến nay, dầu khoáng ngày càng được sử dụng ở nhiều nước trồng cam quýt do ưu thế của

nó Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu của G.A.C Beattie et al (1989)[31] được tiến hành tại New South Wales và Griff với 4 loại dầu khoáng với số hiệu là 206,

212, 214, 238, trong 3 năm liên tiếp phun ở nồng độ 2% thì 3 loại dầu 206, 212,

214 không ảnh hưởng đến năng suất, nhưng loại dầu 238 làm giảm năng suất do giảm số quả, ở cả 2 địa điểm tiến hành thí nghiệm Tác giả đưa ra khuyến cáo rằng loại dầu 238 không nên phun ở nồng độ > 2% từ tháng 11 đến tháng 3, chỉ nên dùng từ cuối xuân đến đầu mùa thu, ông còn chỉ rõ điều kiện khí hậu ảnh h-

ưởng rất lớn đến việc phòng trừ bằng dầu khoáng, nếu nhiệt độ quá cao > 350C trong nhiều ngày thì không nên phun

Một số tác giả khác như Furness G.O., (1981)[38]; Nohara Keigo et al (2000)[56] cũng khẳng định ưu thế của dầu khoáng trong chương trình IPM trên cam quýt, do nhiều ưu điểm của nó như: hiệu quả phòng trừ cao và lâu dài, tăng

độ bóng của quả, ít độc với người và thiên địch có ích, đặc biệt là không làm phát triển tính kháng thuốc của nhện hại

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

2.2.2.1 Thành phần loài và tầm quan trọng của nhóm nhện hại trên cam quýt

Theo tác giả Lê Trường (1985)[26] nhện đỏ Panonychus citri đ6 trở thành loài dịch hại nguy hiểm, trên cam ở Bố Hạ - Hà Bắc và Xuân Mai Hà Tây từ những năm 1950 sau khi dùng nhiều loại thuốc hoá học Tạ Hồng và Nguyễn Văn Nghiệp (1971)[11] đ6 cho rằng nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora là một trong những loài sâu hại gây rám quả, làm giảm giá trị thương phẩm trong xuất khẩu cam cho thị trường Liên Xô cũ Phan Quốc Sủng (1974)[20] cũng cho rằng nhện hại có liên quan tới nguyên nhân làm rụng quả cam ở Phủ Quỳ- Nghệ

An

Trang 34

Trong bài viết “ Bước đầu đánh giá về sâu bệnh hại cam quýt ở các tỉnh phía Bắc trong mấy chục năm qua”, tác giả Vũ Khắc Nhượng (1993)[17] đ6 xác

định 2 loài nhện hại Phyllocoptruta oleivora và Panonychus citri là những đối tượng gây hại chủ yếu trên cam quýt Tác giả Hoàng Lâm (1993)[15] cho rằng Panonychus citri là một trong hai loài dịch hại nguy hiểm nhất trên cam chanh Phạm Văn Vượng và Hà Quang Dũng (1994)[29] đ6 cho biết ở vùng phủ quỳ- Nghệ An có những lô cam bị nhện gây rám quả tới 70 - 80 % Tác giả Nguyễn Văn Đĩnh và Nguyễn Thị Phương (2000)[10] cũng đề cập tới sự nguy hại của nhện rám vàng trên cam quýt Trần Xuân Dũng (2002)[4] đ6 nghiên cứu đặc

điểm phát sinh gây hại và khả năng phòng ngừa nhện hại trên cam quýt Nguyễn Thị Thuỷ (2003)[24] cũng đi sâu tìm hiểu đặc điểm sinh học và khả năng phòng trừ nhện đỏ

Nhện hại cam quýt ở Việt Nam đ6 được quan tâm nghiên cứu tuy chưa nhiều Theo tác giả Nguyễn Văn Đĩnh (1994)[7], thành phần nhện hại thường phát sinh gây hại trên cam quýt ở vùng Hà Nội có 5 loài, gồm: nhện đỏ (Panonychus citni), nhện rám vàng (Phyllocoptuta oleivora), nhện trắng (Polyphagotarsonemus latus), nhện sọc trắng (Calacarus citrifolli) và nhện dẹt (Brevipalpus sp) Trong đó, hai loài gồm nhện đỏ (P citri) và nhện rám vàng (Phyllocoptuta oleivora) là hai đối tượng thường xuyên xuất hiện và gây hại nặng cho vườn cam quýt

Kết quả nghiên cứu của Trung tâm cây ăn quả Xuân Mai (1980) [28] đ6 phát hiện được bốn loài thuộc nhóm nhện nhỏ, gồm Panonychus citri, Brevipalpus sp, Tetranychus urticae và Calacerus citrifolli Đồng thời, đ6 thu đ-

ược một số kết quả bước đầu về vòng đời của loài nhện đỏ (P citri) và nhện dẹt (Brevipalpus sp), về thành phần cây ký chủ của nhện đỏ và kết quả đánh giá hiệu lực của một số thuốc hoá học, đối với nhện đỏ được thực hiện tại nông trường Cao Phong (Hoà Bình)

Theo Hà Minh Trung và CTV (1992)[25] trên cam quýt ở vùng Phủ Quỳ (Nghệ An) có 3 loài nhện hại quan trọng cần phải áp dụng các biện pháp phòng

Trang 35

trừ là nhện đỏ, nhện rám vàng và nhện trắng

Còn ở một số vùng trồng cam khác, thuộc khu vực phía Bắc như Bắc Quang (Hà Giang), Thạch Hà (Hoà Bình) và Hà Tây thì 3 loài nhện hại phát sinh thường xuyên và gây hại nghiêm trọng trên cam quýt là Phyllocoptruta oleivora, Panonychus citri và Polyphagotarsonemus latus được đề cập đến trong nhiều công trình đ6 công bố [11, 12, 15, 23] Tại Hưng Yên, kết quả nghiên cứu từ năm 1994 đến 1997 của Nguyễn Thị Phương [19] đ6 ghi nhận có 4 loài nhện hại trên cam quýt là Panonychus citri, Phyllocoptruta oleivora, Polyphagotarsonemus latus và Brevipalpus sp

Kết quả điều tra côn trùng và bệnh hại cây ăn quả ở Việt nam từ

1997-1998 của Viện Bảo vệ thực vật (1999)[27] đ6 xác định trên cây cam quýt ở Việt nam có 4 loài nhện hại là Panonychus citri, Polyphagotarsonemus latus, Tetranychus urticae, Phyllocoptruta oleivora

Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2000)[2] cho biết, thành phần nhện hại cam quýt ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long có 4 loài là Eutetranychus sp, Polyphagotarsonemus latus, Panonychus citri và phyllocoptruta oleivora Trong

đó 2 loài nhện đỏ (Panonychus citri) và nhện rám vàng (Phyllocoptruta oleivora) được coi là 2 loài nhện gây hại quan trọng nhất hiện nay, trên cam quýt tại đồng bằng Sông Cửu Long

Công trình nghiên cứu (công bố năm 2002) về nhện hại cam quýt của Trần Xuân Dũng [4] đ6 xác định, thành phần nhện hại cam quýt có 7 loài thuộc

4 họ nhện nhỏ ở điều kiện sinh thái vùng đồi Hoà Bình, bao gồm: nhện đỏ (P citri), nhện rám vàng (P oleivora), nhện đỏ son (Tetranychus cinnabarinus Boiduval), nhện xanh (Eutetranychus banksi McGregor), nhện ngọc đỏ (Tetranychus sp), nhện dẹt đỏ tươi (Brevipalpus phoenicis Geijkes) và nhện trắng (Polyphagotarsonemus latus Banks) Trong số 7 loài nhện đ6 xác định thì chỉ có 2 loài nhện hại quan trọng nhất trên cam quýt hiện nay ở khu vực Hoà Bình là nhện đỏ (P citri) và nhện rám vàng (P oleivora), còn các loài khác xuất

Trang 36

hiện ít và tác hại của chúng không đáng kể

Theo công bố của Nguyễn Thị Thuỷ (2003)[24] đ6 xác định thành phần nhện hại trên cam quýt vùng ngoại thành Hà Nội gồm 6 loài thuộc 4 họ hại cam quýt đó là nhện trắng Polyphagotarsonemus latus, nhện đỏ Panonychus citri và nhện rám vàng phyllocoptruta oleivora, nhện ngọc đỏ Tetranychus sp, nhện dẹt Brevipalpus sp, nhện đỏ son Tetranychus cinnabarinus Boiduval Trong đó xác

định 2 loài gây hại nghiêm trọng là nhện đỏ Panonychus citri và nhện rám vàng phyllocoptruta oleivora

Các nghiên cứu về nhện hại và ý nghĩa kinh tế của chúng trên cam quýt còn được đề cập đến trong các tài liệu đ6 công bố của Hồ Khắc Tín 1980)[21], Trần Huy Thọ, Đào Đăng Tựu và Trương Văn Hàm (1996)[23]

Như vậy, qua các tài liệu công bố về thành phần nhện hại trên cam quýt của một số tác giả trong nước cho thấy ở Việt Nam có 8 loài nhện hại khác nhau

là Panonychus citri McGregor., Phyllocoptruta oleivora Ashmead., Tetranychus urticae Kock, Polyphagotarsonemus latus Banks, Brevipalpus sp., Eutetranychus sp, Calacarus citrifolli Keifer, Eutetranychus banksi McGregor Trong số đó có 3 loài được đánh giá là gây hại quan trọng nhất trên cam quýt hiện nay là nhện đỏ (Panonychus citri), nhện rám vàng (Phyllocoptruta oleivora) và nhện trắng Polyphagotarsonemus latus

2.2.2.2 Những nghiên cứu về sinh học, sinh thái của nhện đỏ

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về sinh học sinh thái nhện đỏ trên cam quýt ở nước ta còn ít và tản mạn Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về chúng đều có nhận xét nhện đỏ là loài có kích thước rất nhỏ, vòng đời ngắn, sức sinh sản và mức tăng quần thể cao, dễ bùng phát thành dịch và gây hại nghiêm trọng cho cam quýt Quần thể nhện đỏ phân bố chủ yếu ở mặt trên của lá, tập trung nhiều ở các lá già và lá bánh tẻ Khi mật độ nhện lên rất cao chúng mới tấn công lên lá non và cành non Nhện đỏ thường gây hại nặng cho cây ở thời kỳ vườn -

ươm, trong thời kỳ kiến thiết cơ bản, nhưng khi cây già cỗi thì mức độ, phát sinh và

Trang 37

gây hại của nhện có giảm đi [1, 4, 6, 7, 9, 15, 19, 25, 28]

Theo Nguyễn Văn Đĩnh (1992)[6] nhện đỏ là loài gây hại chủ yếu trên lá, làm lá còi cọc, cây phát triển kém ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất quả Qua nghiên cứu đ6 xác định nhện đỏ có vòng đời ngắn, ở nhiệt độ 250C vòng đời

là 11,78 ngày, nhưng ở nhiệt độ cao 300C vòng đời rút ngắn còn 8,44 ngày Hệ

số nhân số lượng quần thể trong một thế hệ khá cao, ở điều kiện nhiệt độ 300C

hệ số nhân số lượng là 38,67, còn ở nhiệt độ 250C là 23,99 Từ kết quả nghiên cứu tác giả đ6 thiết lập bảng sống của loài nhện đỏ

Kết quả của Trần Xuân Dũng (2002)[4] xác định khi nhiệt độ không khí

từ 21,8 - 29,80C, ẩm độ từ 83,1- 84,5% thì thời gian phát dục của trứng nhện đỏ

từ 3,93 - 5,8 ngày, ấu trùng từ 2,01- 4,69 ngày và vòng đời của nhện trung bình

từ 8,21-13,1 ngày Theo tác giả nhện đỏ có mặt và gây hại quanh năm trên đồng ruộng Có hai cao điểm phát triển số lượng quần thể của nhện với cao điểm 1 vào các tháng 4, tháng 5 và 6 và cao điểm 2 vào tháng 10 và tháng 11

Kết quả theo dõi của Trần Thị Bình ở vùng cam Hà Giang từ năm

1997-1999 [1] cũng xác định mật độ nhện đỏ phát sinh tập trung vào các tháng 4, 6,

10 và tháng 12 Rõ ràng, quá trình phát triển số lượng quần thể nhện đỏ trên

đồng ruộng gắn liền với thời gian ít mưa trong năm và nhiệt độ không khí không cao

Gần đây nhất kết quả theo dõi của Nguyễn Thị Thuỷ (2003)[24] cũng xác định các giai đoạn phát dục và vòng đời của nhện đỏ chịu ảnh hưởng rõ rệt của nhiệt độ và ẩm độ không khí Cụ thể trong khoảng nhiệt độ từ 18,16 - 30,0oC

và ẩm độ không khí từ 73,76 - 80,44% thì thời gian phát dục của pha trứng từ 3,9 -8,4 ngày; nhện non 4,83 -6,2 ngày ; tiền đẻ trứng 1,4 -1,5 ngày và vòng đời của nhện biến động từ 10,25 - 16,10 ngày

2.2.2.3 Những nghiên cứu về phòng trừ nhện hại cam quýt

a Những nghiên cứu về kẻ thù tự nhiên của nhện hại cam quýt

Ngoài tác động, của thời tiết khí hậu ở từng vùng, sự phát triển số lượng

Trang 38

quần thể của nhện hại, còn liên quan đến vai trò hoạt động của quần thể các loài

ký sinh và bắt mồi ăn thịt ngoài tự nhiên Nhằm hướng tới phát triển biện pháp sinh học trong phòng trừ nhện hại, một số tác giả đ6 tập trung nghiên cứu xác

định thành phần thiên địch và khả năng lợi dụng chúng Từ năm 1994, Nguyễn Văn Đĩnh [7] đ6 đi sâu nghiên cứu đặc điểm của ba loài nhện bắt mồi P persimilis, A anonymus và A idacus và hiệu quả hạn chế nhện đỏ của chúng Tác giả cho đó là những tác nhân sinh học quan trọng, trong hạn chế số lượng quần thể nhện hại trên đồng ruộng, cần quan tâm nghiên cứu nhân nuôi và sử dụng trong hệ thống quản lý dịch hại tổng hợp nhện hại cây ăn quả có múi ở n-

ước ta

Tác giả Hà Quang Hùng và CS (1996)[13] đ6 xác định được 54 loài thiên

địch trên cam quýt trong đó có 16 loài côn trùng ký sinh, 38 loài côn trùng và nhện bắt mồi Kết quả điều tra của Phạm Văn Lầm và CS (1999)[16] đ6 thu thập

được 123 loài thiên địch trên cam quýt, trong đó mới xác định tên khoa học của

38 loài Tuy nhiên, vai trò của các loài này trong việc hạn chế số lượng sâu hại nói chung và nhện hại nói riêng còn chưa được đi sâu nghiên cứu

Nghiên cứu của Trần Xuân Dũng (2002)[4] đ6 xác định được 8 loài côn trùng và nhện thiên địch của nhóm nhện hại cam quýt vùng đồi Hoà Bình trong thời gian từ năm 1998- 2001 Tác giả cho biết trong số 8 loài ghi nhận được thì chỉ có 4 loài có khả năng chuyên tính cao (chỉ ăn nhóm nhện hại), đó là bọ rùa

đen nhỏ (Stethorus punctillum), bọ rùa đen 2 chấm (Stethorus sp) và 2 loài nhện nhỏ bắt mồi là Phytoseilus sp., Amblyseius sp., ba loài còn lại là chuồn chuồn cỏ (Chrysopa sp,), bọ cánh ngắn (Oligota sp.) và bọ trĩ (Scolothrip sp.) là những loài đa thực Tuy nhiên, tác giả cũng cho biết vai trò của nhóm thiên địch nhện hại trên vườn cam quýt tại vùng đồi Hoà Bình còn chưa rõ ràng

b Phòng chống nhện hại cam quýt bằng thuốc hoá học

Các loại thuốc hoá học trước đây được các tài liệu đề cập tới có hiệu lực cao với nhện hại cam quýt là Bi58, Kelthane, Lưu huỳnh vôi, Nuvacron Song hiện nay một số loại thuốc này đ6 nằm trong danh mục cấm hoặc hạn chế sử

Trang 39

dụng, do tính độc của chúng đối với môi trường

Phạm Văn Vượng và Hà Quang Dũng (1994)[29] đ6 sử dụng thuốc Zinep

80 wp nồng độ 0,4 -0,5 phun vào các thời điểm khác nhau và kết luận rằng: Thời điểm phun thuốc phòng chống nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora có hiệu quả khi tỷ lệ lá có nhện là 18%, tỷ lệ quả có nhện là 8% với mật độ 20con/quả Phun thuốc 2 lần, mỗi lần cách nhau 7 ngày Các tác giả còn cho biết nếu phun thuốc vào cuối tháng 05 đầu tháng 06 khi quả cam có đường kính lớn hơn 3 cm thì mặc dù hiệu lực diệt trừ nhện cao nhưng tỷ lệ quả bị rám vẫn rất cao

Nguyễn Văn Đĩnh (1992)[5] đ6 đề cập đến vấn đề, cần phải luân phiên sử dụng các loại thuốc hoá học khác nhau, trong phong trừ nhện hại cây có múi để khắc phục hiện tượng nhanh kháng thuốc của chúng Vấn đề này Hoàng Lâm (1991)[14] đ6 ghi nhận sự giảm hiệu lực nhanh chóng của các loại thuốc Pyrethroid đối với nhện đỏ Panonychus citri

Kết quả nghiên cứu của các tác giả Vũ Đình Phú, Hoàng hữu cơ, Quách Thị Hoè (1995)[18] đ6 sử dụng Danitol và Ortus trừ nhện đỏ trong vườn ươm giống cây cam quýt rất có hiệu quả

Tác giả Nguyễn Thị Phương (1997)[19] đ6 đề nghị 5 loại thuốc có hiệu lực trừ nhện rám vàng cao là Pegasus, Nissorum, Comite, Ortus và Danitol Những thuốc này thuộc nhóm ít độc, có thể khuyến cáo đem sử dụng rộng r6i Cũng theo tác giả trên, thời điểm phun thuốc tốt nhất là vào cuối tháng 3 đầu tháng 4 khi quả cam có đường kính 1cm Có thể phun thuốc 1- 2 lần, phun lần 2 tốt nhất sau 14 ngày, phun kỹ 2 mặt lá cả trong và ngoài tán cây

Nguyễn Văn Cảm và CS (2001)[3] khi nghiên cứu sử dụng dầu khoáng trong phòng trừ tổng hợp sâu hại cây có múi ở nông trường Cao Phong (Hoà Bình) đ6 cho biết sử dụng dầu khoáng DC- Tron Plus trừ nhện đỏ và nhện rám vàng cho hiệu quả phòng trừ cao

Vấn đề phòng chống nhện hại cây có múi, Nguyễn Văn Đĩnh (2002)[9]

Trang 40

cũng cho rằng, cần phải áp dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp, trong đó chú ý như : tỉa cành tạo tán, bón phân cân đối, sử dụng thuốc chọn lọc, tránh phun một loại thuốc nhiều lần, tránh phun các loại thuốc quá độc đối với thiên

Đối với nhện rám vàng phun 1 lần khi cây có quả non đường kính nhỏ hơn 1cm Các loại thuốc Pegasus, Nissorum, Casscade, Ortus và hỗn hợp của dầu DC- Tron Plus với các loại thuốc Pegasus, Danitol, Comite, Zinep, Tạp kỳ có hiệu lực trừ nhện rám vàng cao

Nghiên cứu gần đây nhất của Nguyễn Thị Thuỷ (2003)[24] đưa ra một số loại thuốc có hiệu lực trừ nhện đỏ cao là Dandy 5EC, Rirbon 15 EC, Pegasus

500 EC và Nissorun 5 SC Đặc biệt, hai chế phẩm sinh học có hiệu lực trừ nhện trên 90 % là thuốc Bitadin WP và Tạp Kỳ 1,8 EC

Nhìn chung, việc nghiên cứu về nhện hại cam quýt ở nước ta chưa nhiều

và chưa đồng bộ Những công trình đi sâu nghiên cứu tìm ra giải pháp phòng trừ dựa trên các đặc điểm sinh học sinh thái của nhện đỏ chưa nhiều Việc nghiên cứu các biện pháp phòng trừ nhện hại trong các năm qua, do nhu cầu cấp thiết của thực tiễn sản xuất, nên phần lớn các công trình nghiên cứu mới chỉ đề cập

đến hiệu lực của các thuốc hoá học

Để xây dựng biện pháp phòng trừ nhện hại có hiệu quả cao và bền vững cho từng vùng cụ thể, cần phải tiếp tục nghiên cứu và đề ra các biện pháp phòng trừ, như : biện pháp canh tác và tìm chọn các loại thuốc có hiệu quả cao, nhất là thuốc sinh học và dầu khoáng, nhằm hạn chế dùng thuốc hoá học, đảm

Ngày đăng: 02/08/2013, 13:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.2. Mức độ xuất hiện của các loài  nhện  hại  cam  quýt qua  các -  nghiên cứu đặc điểm phát sinh gây hại biện pháp phòng trừ một số loài nhện hại chính trên cam quýt vùng lạng sơn vụ xuân hè 2005
Bảng 4.2. Mức độ xuất hiện của các loài nhện hại cam quýt qua các (Trang 54)
Bảng 4.3:  Thời gian các giai đoạn phát dục của nhện đỏ -  nghiên cứu đặc điểm phát sinh gây hại biện pháp phòng trừ một số loài nhện hại chính trên cam quýt vùng lạng sơn vụ xuân hè 2005
Bảng 4.3 Thời gian các giai đoạn phát dục của nhện đỏ (Trang 67)
Bảng 4.4. Khả năng đẻ trứng  của nhện đỏ ở các tháng trong năm 2005 -  nghiên cứu đặc điểm phát sinh gây hại biện pháp phòng trừ một số loài nhện hại chính trên cam quýt vùng lạng sơn vụ xuân hè 2005
Bảng 4.4. Khả năng đẻ trứng của nhện đỏ ở các tháng trong năm 2005 (Trang 69)
Bảng 4.5. Mật độ nhện đỏ ở mặt trên và dưới lá quýt Bắc Sơn -  nghiên cứu đặc điểm phát sinh gây hại biện pháp phòng trừ một số loài nhện hại chính trên cam quýt vùng lạng sơn vụ xuân hè 2005
Bảng 4.5. Mật độ nhện đỏ ở mặt trên và dưới lá quýt Bắc Sơn (Trang 70)
Hình 4.1: Tỷ lệ % nhện đỏ ở hai mặt lá quýt Bắc Sơn -  nghiên cứu đặc điểm phát sinh gây hại biện pháp phòng trừ một số loài nhện hại chính trên cam quýt vùng lạng sơn vụ xuân hè 2005
Hình 4.1 Tỷ lệ % nhện đỏ ở hai mặt lá quýt Bắc Sơn (Trang 71)
Hình 4.2: Mật độ nhện đỏ (con/lá) ở các tuổi lá khác nhau -  nghiên cứu đặc điểm phát sinh gây hại biện pháp phòng trừ một số loài nhện hại chính trên cam quýt vùng lạng sơn vụ xuân hè 2005
Hình 4.2 Mật độ nhện đỏ (con/lá) ở các tuổi lá khác nhau (Trang 72)
Bảng 4.7. Mật độ của nhện rám vàng trên các bộ phận của cây -  nghiên cứu đặc điểm phát sinh gây hại biện pháp phòng trừ một số loài nhện hại chính trên cam quýt vùng lạng sơn vụ xuân hè 2005
Bảng 4.7. Mật độ của nhện rám vàng trên các bộ phận của cây (Trang 73)
Kết quả (Bảng 4.7, hình 4.3) cho thấy tháng 1, mật độ nhện rám vàng tập  trung chủ yếu trên lá bánh tẻ và lá già, tháng 2 tập chung cả trên lá non, bánh tẻ -  nghiên cứu đặc điểm phát sinh gây hại biện pháp phòng trừ một số loài nhện hại chính trên cam quýt vùng lạng sơn vụ xuân hè 2005
t quả (Bảng 4.7, hình 4.3) cho thấy tháng 1, mật độ nhện rám vàng tập trung chủ yếu trên lá bánh tẻ và lá già, tháng 2 tập chung cả trên lá non, bánh tẻ (Trang 74)
Hình 4.4: Phân bố của nhện rám vàng trên cùng một lá -  nghiên cứu đặc điểm phát sinh gây hại biện pháp phòng trừ một số loài nhện hại chính trên cam quýt vùng lạng sơn vụ xuân hè 2005
Hình 4.4 Phân bố của nhện rám vàng trên cùng một lá (Trang 76)
Bảng 4.9.  Mức độ hại của nhện đỏ Panonychus citri và nhện rám vàng  Phyllocoptruta oleivora  trên một số giống cam quýt vùng Lạng Sơn -  nghiên cứu đặc điểm phát sinh gây hại biện pháp phòng trừ một số loài nhện hại chính trên cam quýt vùng lạng sơn vụ xuân hè 2005
Bảng 4.9. Mức độ hại của nhện đỏ Panonychus citri và nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora trên một số giống cam quýt vùng Lạng Sơn (Trang 77)
Bảng 4.10.Mức độ gây hại  của nhện đỏ và rám vàng -  nghiên cứu đặc điểm phát sinh gây hại biện pháp phòng trừ một số loài nhện hại chính trên cam quýt vùng lạng sơn vụ xuân hè 2005
Bảng 4.10. Mức độ gây hại của nhện đỏ và rám vàng (Trang 79)
Bảng 4.12: ảnh hưởng của mưa đến mật độ nhện đỏ trên vườn quýt -  nghiên cứu đặc điểm phát sinh gây hại biện pháp phòng trừ một số loài nhện hại chính trên cam quýt vùng lạng sơn vụ xuân hè 2005
Bảng 4.12 ảnh hưởng của mưa đến mật độ nhện đỏ trên vườn quýt (Trang 81)
Bảng 4.13. Hiệu quả của việc tưới phun đối với nhện đỏ -  nghiên cứu đặc điểm phát sinh gây hại biện pháp phòng trừ một số loài nhện hại chính trên cam quýt vùng lạng sơn vụ xuân hè 2005
Bảng 4.13. Hiệu quả của việc tưới phun đối với nhện đỏ (Trang 82)
Bảng 4.14: Hiệu lực của một số thuốc bảo vệ thực vật -  nghiên cứu đặc điểm phát sinh gây hại biện pháp phòng trừ một số loài nhện hại chính trên cam quýt vùng lạng sơn vụ xuân hè 2005
Bảng 4.14 Hiệu lực của một số thuốc bảo vệ thực vật (Trang 83)
Bảng 4.15: Hiệu lực trừ nhện đỏ của hỗn hợp dầu khoáng -  nghiên cứu đặc điểm phát sinh gây hại biện pháp phòng trừ một số loài nhện hại chính trên cam quýt vùng lạng sơn vụ xuân hè 2005
Bảng 4.15 Hiệu lực trừ nhện đỏ của hỗn hợp dầu khoáng (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w