Luận văn đánh giá hiện trạng và định hướng sử dụng đất chưa sử dụng huyện võ nhai, tỉnh thái nguyên
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp I - Hà nội
-
Hà Anh Tuấn
Đánh giá hiện trạng
và định hướng sử dụng đất chưa sử dụng
Huyện Võ nhai, tỉnh Thái Nguyên
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 40103
Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn ích Tân
Hà Nội - 2004
Trang 2Mục lục
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Phần I: Đặt vấn đề
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
1.2 Mục đích yêu cầu của đề tài
Phần II: Tổng quan tài liệu
2.1 Một số quan điểm về đất chưa sử dụng
2.2 Nguyên nhân hìnht hành đất chưa sử dụng
2.3 Một số vấn đề sử dụng đất theo quan điểm sinh thái, phát triển lâu bền
2.3.1 Sử dụng đất lâu bền
2.3.2 Sử dụng đất theo quan điểm sinh thái
2.3.3 Sử dụng đất nông lâm kết hợp
2.4 Đất chưa sử dụng trên thế giới và Việt Nam
2.4.1 Đất chưa sử dụng trên thế giới
2.4.2 Đất chưa sử dụng ở Việt Nam
2.4.3 Đất chưa sử dụng ở tỉnh Thái Nguyên
Phần III: Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp
3.3.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp
3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu điều tra
3.3.4 Phương pháp xây dựng bản đồ và thể hiện kết quả
Trang 3Phần IV: Kết quả nghiên cứu
4.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Võ Nhai
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
4.2 Hiện trạng sử dụng đất đai
4.3 Hiện trạng đất chưa sử dụng
4.3.1 Diện tích đất chưa sử dụng
4.3.2 Vị trí phân bố các loại đất chưa sử dụng
4.3.3 Quy mô đất chưa sử dụng
4.3.4 Tình hình giao đất, bao chiếm đất chưa sử dụng và bỏ hoá đất
4.3.5 Biến động đất chưa sử dụng
4.3.6 Nguyên nhân hình thành và các yếu tố tác động đến đất chưa sử dụng ở Võ Nhai
4.4 Đánh giá tiềm năng đất chưa sử dụng
4.4.1 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
4.4.2 Xác định đặc tính, tính chất đất chưa sử dụng
4.4.3 Xác định loại hình sử dụng đất
4.4.4 Xác định hiệu quả kinh tế
4.5 Lựa chọn các loại hình sử dụng đất chưa sử dụng
4.5.1 Yêu cầu và nguyên tắc lựa chọn
4.5.2 Tiêu chuẩn lựa chọn
4.5.3 Các loại hình sử dụng đất được lựa chọn
4.6 Định hướng sử dụng đất cho đất chưa sử dụng
4.6.1 Các quan điểm chung về khai thác sử dụng đất chưa sử dụng
4.62 Định hướng khai thác sử dụng đất chưa sử dụng huyện Võ Nhai
4.7 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất chưa sử dụng
Phần V: Kết luận và đề nghị
5.1 Kết luận:
5.2 Đề nghị:
Trang 4Tài liệu tham khảo
danh mục các bảng biểu
Bảng 1: Điện tích đất cả nước năm 2003 phân theo loại đất
Bảng 2: Tình hình sử dụng đất tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3: Các yếu tố khí hậu huyện Võ Nhai
Bảng 4: Hiện trạng rừng ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 5: Tình hình tăng trưởng kinh tế của huyện
Bảng 6: Diện tích, năng suất, sản lượng một số loại cây trồng
Bảng 7: Số lượng gia súc, gia cầm của huyện
Bảng 8: Hiện trạng dân số và đất ở huyện Võ Nhai năm 2003
Bảng 9: Cơ cấu loại đất huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 10: Hiện trạng sử dụng đất năm 2003
Bảng 11: Hiện trạng sử dụng các loại đất theo đơn vị hành chính
Bảng 12: Thống kê diện tích đất chưa sử dụng huyện Võ Nhai
Bảng 13: Phân bố diện tích các loại đất chưa sử dụng huyện Võ Nhai
Bảng 14: Thống kê số lượng khoảnh đất và quy mô thửa đất theo đơn vị các xã Bảng 15: Tình hình giao đất, bao chiếm đất và bỏ hoá đất
Bảng 16: Biến động đất chưa sử dụng huyện Võ Nhai
Bảng 17: Các loại đất huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 18: Tổng hợp các chỉ tiêu phân cấp đánh giá đất chưa sử dụng
Bảng 19: Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất cây trồng hàng năm Bảng 20: Hiệu quả kinh tế của cây ăn quả
Bảng 21: Hiệu quả kinh tế của loại hình sử dụng đất công nghiệp lâu năm Bảng 22: Các loại hình sử dụng đất được lựa chọn
Trang 5Bảng 23: So sánh đất chưa sử dụng theo độ dốc
Bảng 24: Định hướng đất chưa sử dụng theo độ dốc
Danh mục các biểu đồ
Biểu đồ 1: Cơ cấu các loại đất cả nước
Biểu đồ 2: Hiện trạng sử dụng đất của tỉnh Thái Nguyên
Biểu đồ 3: Cơ cấu các loại đất huyện Võ Nhai
Biểu đồ 4: Tình hình giao đất, bao chiếm và bỏ hoá đất CSD
Biểu đồ 5: So sánh biến động đất chưa sử dụng
Danh mục các chữ viết tắt trong luận văn
FAO Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hiệp quốc ICRAF Nghiên cứu nông lâm kết hợp
IDREC Trung tâm nghiên cứu phát triển quốc tế Canada IUCN Hiệp hội quốc tế bảo vệ Tài Nguyên và Môi trường LUT Loại hình sử dụng đất
PAM Dự án chăm sóc và bảo vệ rừng
PRA Phương pháp điều tra nhanh nông thôn
UBND Uỷ ban nhân dân
UNEP Chương trình môi trường Liên hiệp quốc
VAC Vườn - Ao - Chuồng
WCS Chiến lược toàn cầu về bảo vệ Môi trường
Trang 6Đặt vấn đề
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên Quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, nguồn nội lực, nguồn vốn to lớn của đất nước, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng
Đối với sản xuất nông nghiệp thì đất đai vừa là đối tượng sản xuất, vừa là tư liệu sản xuất không gì thay thế được
Đất đai cố định về mặt vị trí, diện tích có hạn nhưng lại khác nhau về tính chất của từng loại đất, chất lượng đất cũng như các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tác động vào đất, chính vì vậy mà các sản phẩm và hiệu quả do đất tạo ra cũng có nhiều khác biệt
Việc bảo vệ, quản lý và sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả là trách nhiệm của mọi người và là biện pháp hữu hiệu mang lại lợi ích kinh tế cao trong mọi lĩnh vực sản xuất và đời sống Việc sử dụng hợp lý không những làm tăng của cải vất chất cho xã hội mà còn làm tăng giá trí của đất, độ phì, cũng như bảo vệ được
đất đai Trái lại, nếu sử dụng đất bất hợp lý không những không làm tăng sản phẩm cho xã hội mà còn làm ảnh hưởng đến môi trường và phá huỷ đất đai Với sự phát triển ngày càng cao của con người dẫn đến nhu cầu của xã hội
về các sản phẩm nông lâm nghiệp ngày càng tăng, sự phát triển kinh tế xã hội
Trang 7gắn liền với sự đô thị hoá không ngừng gây áp lực trực tiếp đối với đất đai trên toàn câù Dân số ngày càng tăng, diện tích đất nông, lâm nghiệp ngày càng hẹp,
đất canh tác bị hạn chế Vì vậy giải quyết vấn đề lương thực trong những năm tới không những trên thế giới mà đối với Việt Nam cũng chỉ có hai con đường chủ yếu là mở rộng diện tích canh tác và thâm canh tăng tăng suất cây trồng Câu hỏi
đặt ra là làm thế nào để sử dụng đất có hiệu quả cao trên cơ sở bền vững nhằm duy trì sản xuất không chứng cho hiện tại mà còn cả tương lai là vấn đề mà tất cả các quốc gia đều phải quan tâm hiện nay
ở Việt Nam, các khu vực đồng bằng đất chưa sử dụng còn lại rất ít, khả năng khai thác mở rộng là rất thấp Trong khi đó tại các khu vực trung du miền núi diện tích đất chưa sử dụng còn khá nhiều, khả năng khai thác mở rộng diện tích là rất lớn Điển hình là các tỉnh miền núi phía Bắc, với quỹ đất còn rất lớn nhưng việc thâm canh, sử dụng, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm tăng năng suất cây trồng, tăng hiệu quả sử dụng đất còn gặp nhiều khó khăn như: cơ sở hạ tầng thấp kém, trình độ dân trí thấp, thiếu vốn sản xuất, phong tục tập quán lạc hậu, thiếu cán bộ kỹ thuật Do đó, để phát triển sản xuất nông lâm nghiệp ở các vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn cần phải có những giải pháp hữu hiệu và đồng bộ
Mặt khác, đất chưa sử dụng có đặc điểm là phân bố ở những địa bàn sung yếu về mặt môi trường như: Ven biển, vùng đồi núi đầu nguồn Các khu vực có
địa hình hiểm trở, độ dốc lớn, độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 150m - 1.500m Dân cư tại đây tập trung thưa thớt, trình độ hiểu biết thấp, trên thực tế vẫn còn xảy ra những tình trạng khai thác đất bất hợp lý (đốt rừng làm nương rẫy, canh tác theo kiểu du canh du cư, khai thác nông lâm sản bừa bãi không theo quy hoạch, kế hoạch ) dẫn đến đất chưa sử dụng ngày càng có xu hướng tăng Để giải quyết vấn đề này cần phải đánh giá thực trạng sử dụng đất và nghiên cứu đề xuất hướng cải tạo sử dụng hợp lý các vùng đất chưa sử dụng
Điều này có ý nghĩa to lớn trong việc cải tạo môi trường, cũng như góp phần ổn
Trang 8định về mặt kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của người dân trong vùng là một trong những yêu cầu cấp bách của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
Võ Nhai là một trong những huyện vùng núi của tỉnh Thái Nguyên, có tổng diện tích tự nhiên là 84.510,41ha, cách thủ đô Hà Nội theo quốc lộ 3 và quốc lộ
1 là 120km, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên là 50km và thị trấn Đồng
Đăng - Lạng Sơn 80km Mặc dù thuận tiện giao thông và có nguồn tài nguyên phong phú những trên thực tế Võ Nhai lại gặp rất nhiều khó khăn trong vấn đề phát triển kinh tế xã hội bởi một lẽ do địa hình phức tạp, thành phần chủ yếu
là dân tộc ít người, trình độ học vấn, trình độ dân trí thấp Thời gian gần đây để
ổn định đời sống nhân dân Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư mỗi năm lên đến hàng tỷ đồng cho các dự án xoá đói giảm nghèo, dự án 135, đầu tư vào cơ sở hạ tầng như: điện - đường - trường - trạm, xây dựng quy hoạch đất đai cho các xã, nhưng đời sống của nhân dân nơi đây còn gặp khó khăn Các dự án về huyện chưa có sự tập trung nghiên cứu trong vấn đề sử dụng đất hợp lý đặt biệt đối với
đất chưa sử dụng đây cũng là nguyên nhân góp phần trong vấn đề tăng diện tích
đất chưa sử dụng của huyện
Đánh giá hiện trạng và xây dựng định hướng khai thác đất chưa sử dụng cho các mục đích kinh tế xã hội phù hợp với điều kiện tự nhiên và tình hình phát triển chung của địa phương là nhiệm vụ quan trọng Nó không chỉ mang tính lợi ích về kinh tế xã hội mà còn có ý nghĩa rất to lớn trong việc bảo vệ tài nguyên môi trường và phát triển bền vững Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: "Đánh giá hiện trạng và định hướng sử dụng đất chưa sử dụng của huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên"
1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích
1.2.1.1.Đánh giá thực trạng đất chưa sử dụng của huyện Võ Nhai để có kế hoạch khai thác sử dụng vào các mục đích nông, lâm nghiệp
Trang 91.2.1.2 Định hướng sử dụng, khai thác đất chưa sử dụng để làm cơ sở hoạch
định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cho các năm tiêu theo
1.2.1.3 Góp phần xây dựng cơ sở khoa học, thực tiễn về khai thác đất chưa
sử dụng theo quan điểm sinh thái và bền vững
1.2.2 Yêu cầu
1.2.2.1 Điều tra điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Võ Nhai
1.2.2.1 Điều tra đánh giá hiện trạng sử dụng đất
1.2.2.3 Đánh giá tiềm năng đất chưa sử dụng
1.2.2.4 Định hướng sử dụng hợp lý cho các vùng đất chưa sử dụng
TổNg quan TàI LIệU
2.1.mộT Số QUAN ĐIểM Về ĐấT CHƯA Sử DụNG
* Đất chưa sử dụng là tên gọi thường dùng trước đây của các loại đất: Đất không có rừng (lâm nghiệp), đất hoang (nông nghiệp), đất chưa sử dụng (diện tích hoang hoá, đất không có rừng, mặt nước chưa được sử dụng) Trần An Phong, (1992) [19]
* Theo quy định của Luật đất đai:
- Đất chưa sử dụng là đất chưa được xác định để dùng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp , khu dân cư, chuyên dùng và Nhà nước chưa giao cho ai sử dụng ổn định, lâu dài (Điều 47 - Luật đất đai 1998) [15]
- Đất chưa sử dụng là đất chưa có đủ điều kiện hoặc chưa được xác định để
sử dụng và mục đích sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, lâm nghiệp, chưa xác định là khu dân cư nông thôn, đô thị, chuyên dùng và Nhà nước chưa
Trang 10giao cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài (Điều 72 - Luật đất đai 1993) [16]
* Một số quan điểm khác cho rằng: đất chưa sử dụng để chỉ các loại đất như sau:
- Đất nông lâm nghiệp bị phá làm nương rẫy nhiều năm không có rừng, bao gồm:
+ Thảm cây bụi và cây gỗ, tre, nứa rải rác với trữ lượng 25m3/ha có độ che phủ dưới 0,3%
+ Thảm cỏ và lau lách thuần loại hoặc có cây rải rác
+ Nương rẫy do du canh tạo ra và cây bụi hoặc thảm cỏ nằm xen kẽ
+ Đất canh tác nông nghiệp do quảng canh, đất bị thoái hoá hoặc bỏ hoang + Đất bị xói mòn mạnh không có thảm thực vật che phủ hoặc thảm thực vật quá thưa thớt
- Núi đá không có rừng cây
- Ao hồ, đầm phá, mặt nước chưa sử dụng
Các loại đất trến hiện chưa được sử dụng hoặc mới được khai thác để sử dụng ở mức độ còn thấp, cần được đánh giá về số lượng và chất lượng Việt Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, (1990) [32]
* Theo tài liệu hướng dẫn thực hiện Tổng kiểm kê đất đai năm 2000 - Tổng cục Địa chính thì đất chưa sử dụng bào gồm và được thể hiện là:
+ Đất bằng chưa sử dụng: Là loại đất có địa hình tương đối bằng phẳng, độ dốc < 50 từ trước đến nay chưa sử dụng hoặc đã sử dụng nhưng bỏ hoang trên 3 năm
+ Đất đồi núi chưa sử dụng: Là loại đất có độ dốc > 50 từ trước đến nay chưa sử dụng hoặc đã sử dụng nhưng bỏ hoang trên 3 năm, kể cả đất nương rẫy hay không không sử dụng
+ Đất mặt nước chưa sử dụng: Là các loại ao, hồ, đầm, phá, sông cụt, thùng
đào, thùng đấu, từ trước đến nay chưa sử dụng hoặc đã sử dụng nhưng bỏ hoang trên 3 năm
Trang 11+ Dông, suối: Là toàn bộ diện tích sông suối tự nhiên trong địa giới hành chính
+ Núi đá không rừng cây: Là toàn bộ núi đá không có rừng cây và không nằm trong phạm vi các mỏ khai thác đá
+ Đất chưa sử dụng khác: Là những loại đất khác chưa được sử dụng
Trong phân loại đất của các nước người ta thường dùng thuật ngữ tiếng Anh như sau: Unused Land để chỉ đất chưa sử dụng
Như vậy: Qua các quan điểm nêu trên có thể hiểu rằng đất chưa sử dụng là
đất chưa có đủ điều kiện hoặc chưa được xác định để sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, chuyên dùng, khu dân cư nông thôn, đô thị và là các loại đất tại thời điểm điều tra chưa được sử dụng hoặc đã sử dụng nhưng bỏ hoang trên 3 năm
2.2 Nguyên nhân hình thành đất chưa sử dụng
Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông Nghiệp (1993) [32], xác định nguồn gốc của đất chưa sử sụng được thình thành do 4 nguyên nhân chủ yếu như sau:
* Đất chưa sử dụng hình thành do khai thác nương rẫy: Đây là phương
thức canh tác rất phổ biến ở vùng cao như Đông Bắc, Tây Bắc, miền núi Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, vùng núi cao Đông Nam Bộ Canh tác nương rẫy là biện pháp sử dụng đất tại các khu vực có độ dốc lớn và có thể chấp nhận được khi tại địa bàn có số dân không lớn và thời gian bỏ hóa đất dài Trên thực tế nguyên nhân làm gia tăng đất chưa sử dụng ở nước ta chủ yếu lại do canh tác nương rẫy, hiện tượng này vẫn đang phát triển rộng ở một số vùng trong cả nước
Đồi núi nước ta chiếm 3/4 diện tích cả nước (khoảng 26,5 triệu ha) với hơn
25 triệu dân thuộc trên 50 dân tộc sinh sống, trong đó có gần 2 triệu người sống chủ yếu nhờ nương rẫy, thu nhập bình quân thấp đời sống rất khó khăn Điển hình tại vùng cao Tây Bắc cho đến nay mật độ che phủ của rừng giảm đi một nửa, nương rẫy tăng lên 1,7 lần nhưng mức lương thực bình quân đầu người mới
Trang 12chỉ có 267kg/người/năm, chứng tỏ rằng diện tích rừng giảm đi ngược lại là tăng
đất nương rẫy và tăng diện tích đất chưa sử dụng
* Đất chưa sử dụng hình thành do quảng canh, đất bị xói mòn nghèo kiệt phải bỏ hoang: Việt canh tác sự vào quảng canh tức là canh tác dựa trên độ phì
của đất cũng là một tác hại không nhỏ Để thu hoạch 1 tạ lúa chúng ta phải lấy đi
từ đất 18,4kgN và 7,2kg P2O5 Do lượng chất lấy đi từ đất nhiều trong khi đó không được bù đắp thường xuyên dẫn đến năng suất cây trồng giảm, năm đầu
đạt 10 - 12 tạ/ha, năm thứ hai đạt 7 - 8 tạ/ha, sang năm thứ 3 chỉ đạt 2 - 3 tạ/ha dẫn đến không canh tác được và bỏ hoang Theo thống kê của ngành lâm nghiệp bình quân từ năm 1996 đến năm 1999 mỗi năm mất đi 60.000,00ha rừng do canh tác quảng canh
* Đất chưa sử dụng hình thành do du canh du cư và di dân tự do:
Hiện nay tại các khu vực miền núi số dân du canh du cư có khoảng 1,2 triệu người chủ yếu là dân tộc thiểu số Dân di cư từ tỉnh này sang tỉnh khác, thường là
từ những nơi đất xấu không thể canh tác được sang những nơi đất tốt hơn, ở đây
họ lại tiếp tục đốt rừng làm nương sản xuất cho đến khi bị thoái hoá không canh tác được và vòng cuốn này lại tiếp diễn Theo thống kê tỉnh Cao Bằng từ năm
1976 đến năm 1991 đã có 9000 người di cư tự do, trong đó có 700 người là dân tộc Tày, Nùng; quá trình du canh du cư và di dân tự do này đã làm cho diện tích rừng bị thiệt hại đáng kể, diện tích đất chưa sử dụng gia tăng tại các vùng có dân
di cư lớn
*Đất chưa sử dụng hình thành do khai thác lâm sản bừa b∙i: Hiện nay
những khu rừng đầu nguồn, rừng có nhiều lâm sản quý trong tình trạng suy kiệt hết sức nghiêm trọng Các ngành chức năng nói chung và ngành lâm nghiệp nói riêng đã có nhiều biện pháp cố gắng song nhiều lúc, nhiều nơi đã không kiểm soát nổi, thêm vào đó là tình trạng săn bắn, khai thác vận chuyển lâm sản trái phép, đốt rừng một cách tự do dẫn đến hàng năm có hàng trăm vụ cháy rừng xảy ra làm mất đi hàng chục nghìn ha rừng biến đất rừng thành đất chưa sử dụng
Trang 13Theo Nguyễn Đình Bồng 1953 [3], đất chưa sử dụng có các nguồn gốc hình thành khác nhau có loại hình thành do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt: Khí hậu quá nóng, quá lạnh, quá khô, đất dốc quá, quá mỏng, quá dày, thực vật không thể phát triển được làm cho con người không thể khai thác sử dụng cho các mục
đích nông lâm nghiệp do bị khai thác một cách quá mức như: Chặt rừng đốt rẫy,
du canh, quảng canh, quản lý kém, không áp dụng các biện pháp quản lý đất dẫn
đến thoái hoá đất,mất khả năng sản xuất Có loại hình thành do hậu quả khai khoáng đã bóc đi lớp đất mặt không được phục hồi hoặc thoái hoá do nhiễm các chất thải công nghiệp Có loại hình thành do bom, mìn, chất độc hoá học của chiến tranh
Nói chung, đất chưa sử dụng được hình thành do tác động của các quá trình
tự nhiên và hoạt động tiêu cực của con người làm cho đất bị thái hoá dẫn đến mất khả năng sản xuất
Trong lịch sử tiến hoá nhân loại đã khai khẩn 1500 triệu ha đất canh tác song cũng huỷ hoại một diện tích tương đương và khoảng 1.400 triệu ha Mỗi năm trên thế giới có từ 5 đến 7 triệu ha đất canh tác bị mất khả năng sản xuất do
bị thoái hoá Theo FAO tổng kết và chỉ rõ rằng xói mòn và thoái hoá trên đất dốc
ở các nước nhiệt đới ẩm có liên quan chặt chẽ đến những vấn đề về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá xã hội (T.C.Sheng [44])
- Điều kiện tự nhiên là nhân tố quan trọng hình thành đất chưa sử dụng Các khu vực nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm chịu ảnh hưởng mạnh về vấn đề này, có những tháng lượng mưa rất lớn, cường độ cao gây xói mòn rửa trôi, có những tháng lại khô lạnh làm hạn chế phát triển dẫn thoái hoá đất Địa hình dốc
đất đai để trồng trọt xấu, manh mún dẫn đến phương pháp trồng trọt theo kiểu du canh du cư ảnh hướng lớn tới đất Tại những nơi thiếu các biện pháp bảo vệ đất thì các phương pháp canh tác cổ truyền trên sườn dốc ở những vùng mưa nhiều
và mưa lớn thường dẫn đến xói mòn đất nghiêm trọng cụ thể ở một số nước như Jamaica, Đài Loan canh tác theo kiểu cổ truyền đã làm mất 100 đến 200ha
đất/ha/năm ở các vùng nhiệt đới ẩm thực vật phát triển mạnh hạn chế rất lớn
Trang 14đến năng suất cây trồng đòi hỏi phải có phương thức canh tác đó là làm sạch cỏ dại bằng cách đốt, cày, cuốc kỹ càng, những cách làm này cũng dễ tạo cho đất
bị xói mòn và chuyển thành đất chưa sử dụng
- Các vấn đề về kinh tế xã hội cũng tác động một phần không nhỏ trong quá trình gia tăng diện tích đất chưa sử dụng Sự nghèo đói và tăng nhanh dân số là một áp lực lớn đối với đất đai, nạn thiếu đất ngày càng tăng Sử dụng đất không hợp lý, canh tác không ngừng trên đất bạc màu và trên đất dốc dẫn đến xói mòn, cường độ sử dụng đất quá lớn làm cho đất không còn khả năng hồi phục, đất bị khô cằn và trở thành sa mạc Một bộ phận dân số còn hạn chế trong nhận thức làm cho công tác khuyến cáo, truyền đạt kiến thức về sử dụng, bảo vệ và cải tạo
đất còn gặp nhiều khó khăn
Đối với Việt Nam qua nghiên cứu các tác giả cũng đã nhận xét:
- Môi trường đất Việt Nam thường bị tác động của các hiện tượng rửa trôi, lầy úng, ảnh hướng của phèn mặn và các chất độc khác, hàng năm sự rửa trôi và bào mòn bề mặy đã làm mất đi hàng triệu tấn mùn và các chất dinh dưỡng có giá trị, đất bị kết von hoặc thoái hoá thành đá ong, nhiều vùng đất bị rửa trôi trở thành đất xói mòn trơ sỏi đá (Tôn Thất Chiểu - 1995 [5])
- Việt Nam với đa số diện tích đất đồi núi, mạng lưới sông suối dày đặc nhưng ngắn và dốc, lượng mưa lớn và tập trung theo mùa do đó hiện tượng xói mòn xảy ra rất mạnh Sự tổn thất về xói mòn trên đất dốc ở nước ta là rất lớn nó không những làm mất diện tích đất canh tác mà còn làm gia tăng diện tích đất chưa sử dụng
2.3 một số vấn đề về sử dụng đất theo quan điểm sinh thái, phát triển bề vững.
2.3.1 Sử dụng đất bền vững
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nền văn minh hiện đại của nhân loại đã làm biến đổi sâu sắc cảnh quan môi trường Sự kiệt quệ của nguồn năng lượng, sự bùng nổ về dân số càng làm sâu sắc thêm sự khủng hoảng giữa nhu cầu
Trang 15ngày càng tăng và khả năng có hạn của các nguồn tài năng lượng Từ năm 1980 Hiệp quốc tế bảo vệ thiên nhiên và tài nguyên môi trường (IUCN), tổ chức lưng thực và nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) và chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP) đã khởi xướng chiến lược toàn cầu (WCS) về bảo vệ môi trường nhằm mục tiêu: Duy trì các nguồn gen, bảo vệ sử dụng hợp lý và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể thái tạo được Thế giới đã trải qua
"Thập kỷ nhận thức về môi trường" (1971 - 1982) và "Thập kỷ hành động"(1982 -1991) Bảo vệ môi trường đã trở thành chiến lược toàn cầu và chiến lược của mỗi quốc gia
Năm 1983 Hội nghị quốc tế về môi trường do UNEP tổ chức tại Nairobi (Kenya) đã vạch ra chính sách đất đai thế trên cơ sở những nguyên tắc quản lý,
sử dụng hợp lý, bảo vệ nâng cao tiềm năng sức sản xuất của đất; chối xói mòn, thoái hoá đất, hạn chế việc sử dụng đất ngông nghiệp phì nhiêu vào các mục đích phi nông nghiệp Năm 1992 FAO đã đề ra Hiến chương đất đai thế giới Hiến chương nêu rõ sự thoái hoá đất ảnh hưởng trực tiếp đến nông lâm nghiệp, các khu vực kinh tế khác và môi trường nói chung, để bảo vệ sự sống còn của loài người phải sử dụng hợp lý đất, nước, thực vật, không kể những tài nguyên thiên nhiên ấy bị suy thoái, huỷ hoại Các chính phủ có trách nhiệm bảo tồn và cải thiện một cách bền vững khả năng sản xuất của đất đai
Năm 1992, thế giới kỷ niệm hai mươi năm thành lập chương trình bảo vệ môi trường của Liên hiệp quốc (UNEP), lần đầu tiên Hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát triển đã họp tại Brazin (gọi tắt là RiO-92, RiO là tên viết tắt của đô Brazin), diễn đàn RiO-92, hội tụ tinh hoa của nhân loại, định hướng cho các quốc gia, các tổ chức quốc tế chiến lược về môi trường và phát triển bền vững để vững vàng bước vào thế kỷ 21 đầy thách thức Trong bối cảnh trên, quan
điểm sử dụng đất bền vững đã được triển khai trên thế giới, trong hai thập kỷ qua:
* Về nông nghiệp bền vững:
Bill Mollison và David Holmgren tác giả của 2 cuốn sách về Nông nghiệp
Trang 16thuyết về nông nghiệp bền vững và triển khai ở úc và nhiều nước trên thế giới Theo Bill Mollison (1991): Nông nghiệp bền vững là một hệ thống thiết kế để chọn môi trường bền vững cho con người Nông nghiệp bền vững liên quan đến nông nghiệp và cây trồng Một mặt nông nghiệp bền vững liên quan đến cây trồng, vật nuôi, các công trình xây dựng và hạ tầng cơ sở (nước, năng lượng,
đường xá) Tuy vậy nông nghiệp bền vững không hẳn là yếu tố đó mà chính là mối liên quan giữa các yếu tố mà con người tạo ra qua sắp đặt, phân bố chúng trong cảnh quan trên mặt đất
Mục tiêu của nông nghiệp bền vững là xây dựng một hệ thống ổn định về mặt sinh thái, có tiềm lực về mặt kinh tế, có khả năng thoả mãn những nhu cầu của con người mà không bóc lột đất, ô nhiễm môi trường Nông nghiệp bền vững sử dụng những đặc tính vốn có của cây trồng, vật nuôi, kết hợp với đặc trưng của cảnh quan và cấu trúc trên diện tích đất sử dụng thống nhất, nông nghiệp bền vững là một hệ thống mà nhờ đó con người có thể tồn tại được, sử dụng nguồn lương thực và tài nguyên phong phí thiên nhiên mà liên tục huỷ diệt
sự sống trên trái đất, chăm sóc con người và dành thời gian, tài lực, vật lực vào các mục tiêu đó Những nguyên tắc của nông nghiệp bền vững:
Định hướng tương đối: mỗi yếu tố của hệ thống được sắp đặt trong mối quan hệ tương hỗ, mỗi yếu tố thực hiện nhiều chức năng; mỗi chức năng quan trọng được nhiều yếu tố hỗ trợ, xây dựng kế hoạch năng lượng có hiệu suất cho nhà ở, vùng, khu vực, ưu tiên sử dụng tài nguyên sinh học, cải tạo chu kỳ năng lượng tại chỗ; sử dụng và tăng vụ cây tự nhjiên để làm đất tốt, xanh tươi; đa canh, đa dạng hoá các loại cây có lợi để tăng sản lượng và tăng mức độ từng lúc trong hệ thống; tìm cách sử dụng bờ rìa và mô hình tự nhiên có lợi nhất
Nông nghiệp bền vững là một hệ thống nông nghiệp thường trực, tự xây dựng bền vững, thích hợp cho mọi tình trạng ở thành trị và nông thôn với thiết kế nhằm đạt sản lượng cao, giá thành hạ, kết hợp tối ưu sản xuất cây trồng, cây rừng, vật nuôi, các cấu trúc và các hoạt động của con người
Nông nghiệp hữu cơ:
Trang 17Một khuynh hướng mới "Nông nghiệp hữu cơ" đang chủ trương dùng máy nhỏ hoặc bằng sức kéo động vật, sử dụng rộng rãi phân bón hữu cơ (đặc biệt chú
ý phân xanh), phát triển các xây họ đậu trong hệ thống luân canh, giảm bớt dùng chất hoá học để trừ sâu, diệt bệnh đã được áp dụng ở nhiều nước
* Nông nghiệp sinh học:
Andrey Voisin (1994); Klaus Aubert (1972) đã hình thành trường phái nông nghiệp sinh học, bác bỏ việc sản xuất và dùng nhiều loại phân chế biến vì bón nhiều loại phân hoá học ảnh hưởng đến chất lượng nông sản và sức khoẻ người tiêu dùng Phần Lan đã đưa ra thị trường những sản phẩm nông nghiệp theo con
đường "Green Way" hoàn toàn không bón phân hoá học
ở Việt Nam từ xa xưa, tổ tiên chúng ta đã xây dựng mô hình định canh bền vững ở đồng bằng, với nghề trồng lúa nước thích hợp với điều kiện thiên nhiên của nước ta, hệ thống VAC (Vườn - Ao - Chuồng) và các mô hình nông lâm kết hợp phù hợp với các vùng tự nhiên sinh thái là những kinh nghiệm truyền thống
được đúc rút tring quá trình đấu tranh bền bỉ, lâu dài với thiên nhiên khắc nghiệt
để tồn tại, phát triển, là những bằng chứng sinh động về quan điểm thực tiễn sử dụng lâu bền, áp dụng ở Việt Nam Cùng với việc khôi phục phát triển kinh nghiệm truyền thống đó, quan điểm sử dụng đất lâu bền được nghiên cứu, phát triển sâu rộng ở nước ta ngày nay Thực chất của nông nghiệp bền vững là phải thực hiện được khâu cơ bản đó là giữ độ phì nhiêu đất được lâu bền Độ phì nhiêu đất tổng hợp từ nhiều yếu tố lý học, hoá học, lý hoá học, sinh học tất cả hài hoà để tạo ra môi sinh thuận lợi nhất cho cây trồng phát triển Trong tất cả các yếu tố ấy, quan trọng bậc nhất là chất mùn
Chúng ta cũng đủ cơ sở cho vùng đất dốc không cần giải quyết lương thực với bất kỳ giá nào, loại trừ được phương thức đốt nương, làm rẫy để giải quyết cái ăn để có thảm có xanh cho 10 triệu ha đất trống, đồi trọc, trước hết phải gắn cuộc sống của hàng triệu hộ nông dân vùng này với phương hướng đa dạng hoá sản phẩm, chống xói mòn, thâm canh sản xuất lâu bền (Tôn Thất Chiểu
1995 [5])
Trang 18Kết quả điều tra nghiên cứu và thực tiễn sản xuất suốt 30 năm qua cho thấy, miền núi không thể tự sản xuất đủ lương thực vấn đề đặt ra là "phải thực sự có
sự an toàn lương thực" An toàn lương thực (Food Security) có nghĩa đầu đủ là:
Đảm bảo cung cấp đủ lượng, đủ chất cho tất cả mọi người, ở mọi nơi, trong mọi thời gian Chỉ có như vậy mới yên tâm trồng và giữ rừng, định canh, định cư Cần khẩn trương xây dựng những trung tâm nghiên cứu triển khai chế độ canh tác cạn hợp lý trên đất dốc (Dry Farminh) theo hệ sinh thái nông lêm kết hợp (Agro Forsetry) ở các vùng đồi núi nước ta Trung tâm thực nghiệm những mô hình thích hợp cho từng dân tộc, trong từng vùng sinh thái nhất định và tổ chức tập huấn rộng rãi cho đồng bào các dân tộc mở rộng ra diện
2.3.2 Sử dụng đất theo quan điểm sinh thái
* Hệ sinh thái:
Khái niệm về sinh thái (Ecosystem) dó A.Tansley đề xuất năm 1935: Hệ sinh thái là một đơn vị bao gồm các vật sống và ngoại cảnh không sống của chúng Hệ sinh thái gồm 2 thành phần chủ yếu: các quần thể sống (thực vật,
động vật, vi sinh vật) với các mối quan hệ dinh dưỡng và vị trí của chúng; các nhân tố ngoại cảnh (khí hậu, đất đai, nước) Theo chức năng, hoạt động của hệ sinh thái được phân theo các hướng: dòng năng lượng; chuỗi thức ăn; sự phân bố theo không gian và thời gian tuần hoàn vật chất; phát triển và tiến hoá, điều khiển
Trong sinh quyển (Biosphere) có 3 hệ sinh thái chủ yếu Các hệ sinh thái tự nhiên: Rừng, đồng cỏ, sông, hồ, biển, các hệ sinh thái nông nghiệp; các hệ sinh thái đô thị bao gồm các thành phố lớn, các khu công nghiệp
* Hệ sinh thái nông nghiệp:
- Hệ sinh thái nông nghiệp là hệ sinh thái nhân dạo do lao động của con người tạo ra Lao động của con người không phải tạo ra hoàn toàn các hệ thống sinh thái nông nghiệp mà chỉ tạo điều kiện cho các hệ sinh thái này phát triển tốt hơn theo quy luật tự nhiên của chúng Cây trồng, vật nuôi và các thành phần sống khác của hệ sinh thái nông nghiệp quan hệ rất chặt chẽ với điều kiện ngoại cảnh
Trang 19- Hệ sinh thái nông nghiệp là một hệ thống các hệ sinh thái phụ: đồng ruộng cây hàng năm, vườn cây lâu năm hay rừng nông nghiệp, đồng cỏ chăn nuôi, ao cá, khu vực dân cư; trong đó hệ sinh thái đồng ruộng là thành phần trung tâm quan trọng của hệ sinh thái nông nghiệp Hệ sinh thái nông nghiệp: nông trường, nông trại, hợp tác xã
Trên đất đồi núi ở nước ta hiện nay, tồn tại cả 3 hình thức của hệ thống nông nghiệp (Farming Systems): của vùng nhiệt đới Hệ thống nông nghiệp truyền thống (Traditional Farming Systems), tiêu biểu là nương rẫy trong phiềng, bãi, kỹ thuật cải tiến, trồng xen gối, chống xói mòn; hệ thống nông nghiệp hiện
đại (Modern Farming Systems); tiêu biểu: các vùng nông nghiệp chuyên canh, các vườn cây công nghiệp của các nông, lâm trường
Quan điểm của Terry Rambo và Rerksem đã xác định các đặc tính của hệ sinh thái nông nghiệp như sau: năng suất là sản lượng thực của hàng hoá và các dịch vụ của hệ sản lượng năm: kg/ha, số dư tổng số (Gross margin); ổn định: mức độ ổn định của năng suất trong điều kiện có dao động nhỏ của môi trường, (hệ số nghịch đảo của biên thiên năng suất) biến thiến nhỏ: ổn định cao, biến thiên lớn: ổn định thấp); chống chịu: khả năng duy trì năng suất của hệ khi phải chịu sức ép (Stress) hoặc thay đổi đột ngột (Shock) (hạn, lũ lụt, sâu bệnh ); Tự trị: mức phụ thuộc của hệ vào các hệ khác để tồn tại ngoài sự điều khiển của nó; công bằng: sự phân phối sản phẩm của hệ được công bằng như thế nào Hợp tác: khả năng phối hợp trong các hoạt động; Tính đa dạng: số lượng loại, kiểu khác nhau của thành phần (loài) trong một hệ Tính thích hợp: khả năng phản ứng của
hệ với những thay đổi môi trường để đảm bảo sự tồn tại liên tục (Lê Trọng Cúc
và các tác giả, 1990 [5])
* Hệ sinh thái nhân văn:
Hệ sinh thái nhân văn nghiên cứu về mối quan hệ giữa con người và môi trường Sinh thái nhân văn cung cấp cơ sở khái niệm cho việc phân tích hệ thống
Trang 20quan điểm cho rằng có mối quan hệ có hệ thống giữa xã hội loại người (hệ thống xã hội) và môi trường tự nhiên (hệ sinh thái) Những mối quan hệ này ảnh hưởng
đến nguồn tài nguyên và đến những tác động môi trường do con người gây ra
Hệ thống xã hội hình thành trên cơ sở các yếu tố: dân số, kỹ thuật, tín ngưỡng,
đạo đức, nhận thức, thể chế, cơ cấu xã hội Hệ sinh thái tồn tại trên cơ sở các yếu
tố sinh vật (thực vật, động vật, vi sinh vật) Các yếu tố vật lý (đất, nước ) Mối quan hệ tương tác giữa hệ thống xã hội và hệ sinh thái được thể hiện dưới dạng năng lượng vật chất và thông tin Những dòng vật chất này ảnh hưởng đến cơ cấu
và chức năng của hệ thống
ở Việt Nam nghiên cứu về hệ sinh thái nói chung: Hệ sinh thái nông nghiệp; hệ sinh thái nhân văn nói riêng là những nhánh nghiên cứu mới, xuất hiện từ thập kỷ 80 với các công trình: Hệ sinh thái nông nghiệp Đào Thế Tuấn (1984) [5]: Hệ sinh thái nông nghiệp Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam: Lê Trọng Cúc, Katthlen Gillogy, S Terry Rambo (1990) [6])
2.3.3 Sử dụng đất nông lâm kết hợp
Nông lâm kết hợp là phương thức sử dụng đất đã được áp dụng hàng nghìn năm trên thế giới Nền nông nghiệp "chặt - đốt" ra đời vàop kỷ NEOLETHIC, khoảng 7000 năm trước trước công nguyên, vườn nhà, một hình thức nông lâm kết hợp nguyên thuỷ cũng xuất hiện cùng thời gian này (Swanmingthan 1987)
Sự cần thiết phải tăng cường phát triển thực hiện nông lâm kết hợp đã được xác nhận trở lại nhiều hơn trong những năm gần đây Năm 1975: trung tâm nghiên cứu phát triển quốc tế Canada (IDRCC) đã tài trợ cho một nghiên cứu có tên là
"Cây, thực phẩm và con người" bởi Bene, Beall và Cote (1977), nghiên cứu này
đã dặt ra vị trí quan trọng của nghiên cứu nông lâm kết hợp với ưu tiên cao, Bene cũng đề nghị thành lập một hội đồng quốc tế cho việc nghiên cứu nông lâm kết hợp (ICRAF) (Lundgren 1987) Có nhiều tác giả đã cố gắng đưa ra một định nghĩa đầy đủ về nông lâm kết hợp (Bene etal 1977; Nair 1984 ), nhưng định nghĩa của ICRAF 1983 có thể được xem là chuẩn mực "Nông lâm kết hợp là hệ thống sử dụng đất bao gồm các cây gỗ lâu năm và các cây nông nghiệp hàng
Trang 21năm hoặc cây thức ăn gia súc, hoặc cả hai trên cùng một mảnh đất, đồng thời hay luân phiên với mục đích cho sản phẩm tối đa và duy trì sản xuất lâu bền" (ICRAF-1983), Kênnth G Mac Dicken, Napoleon T.Vergara [41]
- Quan điểm của P.K.R Nair 1985 [42] cho rằng: nông lâm kết hợp được phân loại, thông dụng theo các tiêu chuẩn bố trí về mặt không gian và thời gian của các thành phần, mối liên hệ chính và vai trò của các thành phần, các phương tiện sản xuất, sản phẩm của hệ thống Một số bảng phân loại chỉ dựa vào một trong những yếu tố trên Ví dụ: vai trò của các thành phần (King 1979), sự bố trid thời gian của các thành phần (Vergara 1981); một số khác cố gắng kết hợp một số những yếu tố trên theo các thứ bậc với cách thức đơn giản (Torres 1983), hoặc nhiều tổ hợp, (Combe) và Budowski 1979; Wiersum 1980, sự đánh giá các tiêu chuẩn khác nhau đã được sử dụng trong phân loại nông lâm kết hợp xác
định rằng chúng liên quan đến xấu trúc, chức năng (sản phẩm) của hệ thống tự nhiên kinh tế, xã hội hoặc sinh thái (môi trường)
Hầu hết các hệ thống nông lâm kết hợp có thể được phân loại theo các tiêu chuẩn như cấu trúc: Liên quan đến sự kết hợp không gian của thành phần cây gỗ,
sự bố trí theo chiều thẳng đứng của các thành phần, kết hợp và bố trí thời gian củă các thành phần khác nhau Chức năng: Liên quan đến chức năng hoặc vai trò chính của hệ thống, chủ yếu là các thành phần cây gỗ (sản xuất, sản phẩm bằng thực phẩm, cỏ khô, củi hoặc để bảo vệ, ví dụ: hàng rào chắn gió, đai che chắn, bảovệ đất ); kinh tế xã hội: có liên quan đến đầu vào quản lý (thấp, cao), quy mô, mức độ quản lý hoặc mục đích thương mại (sinh kế, nuôn bán, trung gian); Sinh thái: liên quan đến điều kiện môi trường và sự cânbằng sinh thái của hệ thống Có thể khẳng định các kiểu nhất định của các hệ thống có thể thích hợp các điều kiện sinh thái nhất định: có thể thiết lập các hệ thống nông lâm kết hợp cho các đất sa mạc, bán sa mạc, cao nguyên nhiệt đới, đất thấp nhiệt đới ẩm
- Theo Kenneth G.Macdicken [41]: Lợi ích của cây trồng trong hệ thống nông lâm kết hợp đã được nhiều tác giả xác định như sau:
+ Tạo bóng, giảm bức xạ trực tiếp (Adeyoju 192, Peck 1982)
Trang 22+ Tuần hoàn dinh dưỡng (Nair 1984, Vergara 1982, Bishop 1983, Sanchez
1982, 1985, Glover, Beer 1986)
+ Tăng chất hữu cơ, cải thiện độ phì đất: (Nair 1982, 1984, Peck 1982, Bidhop 1983)
+ Chắn gió, giảm tốc độ gió: (Adeyoju 192, Peck1982)
+ Ngăn ngừa sâu bệnh khống chế cỏ dại: Peck 1982, Bishop 1983
+ Tăng tổng sản phẩm (Nair 1984, Watson 1988, Wilison, Kano 1981) + Tăng khả năng bền vững (Nair 1982, DelaCruz, Vergara 1987)
+ Tăng độ xốp, thoáng khí (Nair 1984, Weirsum 1984, Lundgren, Nair
1985, Vergara 1984, Oldeman 1979, Bishop 1983)
+ Điều hoà khí hậu (Nair 1982)
+ Khai athác đất theo chiều sâu tốt hơn (Nelliat 1974, Nair 1982, Philip
1963, Pickersgill 1983)
+ Giảm yêu cầu phân bón cho cây hàng năm (Oldemon 1979)
+ Kiểm soát sự thấm sâu (Bishop 1983)
- Các hệ thống nông lâm kết hợp truyền thống và hiện đại được áp dụng rộng rãi với nhiều hình thức phong phú ở các nước như ấn Độ, Bangladesh, Indonexia, Lào, Pakistan, Philippin, Sri Lanka, Tháiland, Trung Quốc và vùng Châu á - Thái Bình Dương
- Nông lâm kết hợp ở Việt Nam đã được áp dụng lâu đời trên các vung sinh thái khác nhau của đất nước Tuy nhiên, nghiên cứu nônglâm kết hợp như một khoa học mới xuất hiện gần đây với các công trình của Lê Trọng Cúc, Halthlen Gilogy A.Terry Rambo, (1990)[6], Hoàng Hoè (1991), Phạm Văn Vang (1990) [27]
2.4 Đất chưa sử dụng trên thế giới và ở Việt Nam
2.4.1 Đất chưa sử dụng trên Thế giới
- Đất chưa sử dụng trên thế giới cho đến nay vẫn chưa có số liệu thống kê một cách chính xác do còn liên quan đến các tác nhân hình thành, khả năng sử dụng của chúng Thế giới có khoảng 4,4 tỷ ha đất không có khả năng sản xuất nông lâm nghiệp Trong giai đoạn 1966 đến 1980 đất trồng trọt đã tăng 71 triệu
Trang 23ha Ngược lại với nó là đất trồng cỏ, rừng và dất rừng lại giảm đi 148 triệu ha; 77 triệu ha đất sản xuất nông lâm nghiệp đã chuyển sang mục đích sử dụng khác còn lại chủ yếu là đất không có khả năng sản xuất do thoái hoá và ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá Các tác nhân hình thành và tác hại của đất chưa sử dụng trên thế giới cụ thể là:
+ Vấn đề suy thoái và giảm diện tích rừng
+ Vấn đề thoái hoá và mất khả năng canh tác của đất
+ Vấn đề xói mòn rửa trôi đất
+ Tình hình và quá trình sử dụng dẫn đến sa mạc hoá mất đất canh tác ở nhiều quốc gia, khu vực và trên thế giới
Theo tài liệu nghiên cứu của FAO[40], đất sử dụng cho mục đích sản xuất nông lâm nghiệp chiếm khoảng 10,6% tổng số diện tích đất trên thế giới
Trong đó:
+ Đất dốc có khoảng 973 triệu ha (chiếm 65,9)
+ Đất có khả năng phát triển nông lâm nghiệp có khoảng 2000 triệu ha (chiếm 14,7%)
Phần lớn diện tích đất trống đồi núi trọc tập trung ở các khu vực Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Châu Phi và Châu Đại Dương
Cũng theo FAO, năm 1997 toàn thế giới có 2.500 triệu ha rừng trong đó rừng nhiệt đới có 1.935 triệu ha, chiếm 77,4% Hàng năm rừng nhiệt đới bị thu hẹp lại do rất nhiều nguyên nhân như: cháy rừng, khai thác lâm sản bừa bãi trung bình mỗi năm diện tích rừng giảm 11,5 triệu ha trong khi đó diện tích trồng mới và tái sinh chỉ có khoảng 1,5 triệu ha [39]
- Một số nước Châu á:
+ Theo A.l.Joshi (1994) [43] thì ở Nê Pan với tổng diện tích tự nhiên là 14,74 triệu ha (100%), trong đó: Đất trồng trọt là 3,05 triệu ha, chiếm 21%; đất
đồng cỏ có 1,75 triệu ha, chiếm 12%; đất có rừng là 5,51 triệu ha, chiếm 37%,
đất cây lùm bụi, đất không canh tác, đất khác là 4,44 triệu ha chiếm 30% diện tích tự nhiên
Trang 24+ Theo R.N.Concepcion (1994) [35] ở Philippin với tổng diện tích đất đai
tự nhiên là 30,02 triệu ha (100%), trong đó: Đất nông nghiệp là 10,37 triệu ha, chiếm 34,34%; đất có rừng là 8,95 triệu ha, chiếm 29,80%, đất cây lùm bụi, đất
cỏ là 8,99 triệu ha, chiếm 29,97%; đất mặt nước 0,77 triệu ha, chiếm 2,85%, đất khác là 0,97 triệu ha, chiếm 3,12% diện tích đất tự nhiên
+ Theo A.l.Joshi (1994) [43] ở Trung Quốc có tổng diện tích tự nhiên là 850,00 triệu ha (100%), trong đó: Đất trồng trọt là 130,00 triệu ha, chiếm 15,29%; đất đồng cỏ có 265,00 triệu ha, chiếm 31,17%, đất có rừng là 190,00 triệu ha, chiếm 22,37%; đất chưa sử dụng là 265,00 triệu ha, chiếm 31,17%
2.4.2 Đất chưa sử dụng ở Việt Nam
2.4.2.1 Các nghiên cứu về đất chưa sử dụng ở nước ta
Cha ông ta từ xưa đã rất quan tâm đến khai khẩn đất đai nhưng mục đích chỉ
để tăng diện tích đất nông nghiệp mà không chú trọng đến những loại đất bỏ hoang hóa Cho đến thời thuộc Pháp bằng nhiều thủ đoạn khác nhau bọn địa chủ cường hào cũng chỉ quan tâm đến việc chiếm đất hoang để lập đồn điền mà không cụ thể hoá đối với từng loại đất
Nhiều năm gần đây, song song với quá trình điều tra nghiên cứu tài nguyên
đất nói chung; việc điều tra xác định số lượng, đặc điểm phân bố và nghiên cứu
đất đai trong phạm vi đất chưa sử dụng trên phạm vi toàn quốc cũng được tiến hành hoá Những nghiên cứu tương đối có hệ thống về đất chưa sử dụng ở Việt Nam bao gồm:
+ Năm 1980; Tổng cục quản lý ruộng đất, Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, Tổng cục khai hoang kinh tế mới đã xây dựng bản đồ đấ hoang toàn quốc với tỷ lệ 1/1.000.000 Tổng diện tích đất hoang, núi đá không rừng cây, mặt nước chưa sử dụng là 12.148.500,00 ha
+ Năm 1986; Tổng cục quản lý ruộng đất đã thực hiện đề tài 02 - 15 - 01- 01" Điều tra, xác định tiềm năng đất còn khả năng khai hoang toàn quốc" kết quả dự báo: Đất có khả năng nông nghiệp là 3,3 triệu ha (Trong đó :Lúa 0,3 triệu
ha, màu, cây công nghiệp ngắn ngày 1,7 triệu ha, cây lâu năm 1,3 triệu ha) Đất
Trang 25có khả năng lâm nghiệp 10,8 triệu ha ( Trong đó : Rừng tái sinh 5,0 triệu ha,rừng trồng 5,8 triệu ha) (Tôn Gia Huyên, 1992) [11]
+ Năm 1986, Viện quy hoạch thiết kế nông nghiệp thực hiện đề tài 02 - 15 -
02 - 01 "Nghiên cứu đánh giá và quy hoạch sử dụng đất khai hoang ở Việt Nam" Tài liệu này lần đầu tiên đưa ra phương pháp đánh giá đất hoang theo mục tiêu
sử dụng cho các hệ thống cây trồng theo 4 mức độ thích hợp Tổng diện tích đất hoang là 11.0676.000,00 ha, phân bố trên 13 nhóm đất bao gồm: 4.005 khoanh
đất hoang (trong đó có 1.681 khoanh đất hoang dưới 1000ha, 202 khoanh diện tích trên 10.000ha) Đề xuất sử dụng đối với số diện tích đất hoang là: Nông nghiệp 4.145.700,00ha, lâm nghiệp 7.140.600,00ha, các mục đích khác 389.600
ha (Nguyễn Đình Bồng, Nguyễn Khang, Đào Châu Thu, 1995) [4]
+ Nghiên cứu về thực trạng hướng cải tạo và sử dụng đất chưa sử dụng vào sản xuất nông nghiệp Thực hiện trong 2 năm (1991 - 1992) do Viện Quy hoạch
và Thiết kế Nông nghiệp phối hợp với Viện Điều tra Quy hoạch rừng tiến hành
và rà soát đất chưa sử dụng ở các vùng sinh thái nông nghiệp trên bản đồ tỷ lệ 1/205.000, khảo sát đất chưa sử dụng ở một số tỉnh trọng điểm trên bản đồ tỷ lệ 1/100.000 và khảo sát đối chiếu một số khoanh đất trên bảng đồ tỷ lệ lớn 1/10.000
+ Năm 1991: Bộ Lâm nghiệp công bố số liệu điều tra (1977) về diện tích rừng và đất rừng là 19 triệu ha, trong đó diện tích có rừng là 9,3 triệu ha, diện tích đất trồng đồi núi trọc là 9,7 triệu ha (trong đó 9,5 triệu ha đất và 0,2 triệu ha núi đá không có rừng cây) Dự kiến đến năm 2000 đối với đất chưua sử dụng là:
5 triệu ha trồng rừng (trồng mới 2 triệu ha, khoanh nuôi tái sinh 3 triệu ha), canh tác nông lâm kết hợp 2 triệu ha, dành cho đất thổ cư + vườn rừng + nương rẫy 2,5 triệu ha (Nguyễn Đình Bồng, 1995) [2]
Tuy nhiên các đề tài nói trên mới thống kê các nguồn tài liệu, số liệu bản đồ
tỷ lệ nhỏ (tỷ lệ bản đồ từ 1/500.000 đến 1/1000.000), các số liệu đưa ra mang tính tổng hợp và khái quát hạn chế trong việc sử dụng (Trần An Phong - 1992) [19]
Trang 26+ Năm 1990 - 1991 Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp tiến hành khảo sát
4 điểm đất chưa sử dụng trên bản đồ địc hình tỷ lệ lớn: Mộc Châu - Sơn La diện tích 5.000,00ha, tỷ lệ bản đồ 1/25.000; Phong Châu - Vĩnh Phú, diện tích 3.000,00ha, tỷ lệ bản dodò 1/25.000; Yên Lập - Vĩnh Phú diện tích 1.313,00 ha,
tỷ lệ bản đồ 1/10.000; Yên Bình - Yên Bái diện tích 1.873,00ha, tỷ lệ bản đồ 1/10.000 Từ kết quả khảo sát có nhận xét: Những tài liệu về đất chưa sử dụng ở thời điểm khảo sát và công bố có thể sử dụng để đề xuất phương hướng sử dụng cho các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp là vùng trung du miền núi thì tỷ lệ sử dụng cho nông nghiệp là 60% và cho lâm nghiệp là 25%
+ Năm 1993 Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp đã soạn tài liệu "Đất trtống đồi núi trọc Việt Nam - Thực trạng, hướng cải tạo và sử dụng cho sản xuất nông nghiệp đến năm 2000" Tài liệu này được tổng hợp từ ruộng đất, Viện Điều tra Quy hoạch rừng, Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp và Tổng cục Thống kê Tài liệu đã thống kê số lượng, chất lượng đất trống đồi núi trọ trên địa bàn cả nước, khả năng và hướng sử dụng cho mục đích nông nghiệp và lâm nghiệp + Từ năm 1995 cho đến nay, Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp đã phối hợp với các ngành như Địa chính, Thống kê từ cấp trung ương đến địa phương
để tiến hành triển khai thực hiện chương trình: "Điều tra cơ bản phục vụ chiến lược mở rộng 1,5 triệu ha đất nông nghiệp" Kết quả là đã đề xuất được gần 600 nghìn ha đất có khả năng mở rộng cho nông nghiệp trên toàn quốc
+ Năm 2000 Tổng cục Địa chính chủ trì phối hợp với Cục Thống kê, bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Tổng cục Kiểm lâm và các cơ quan chức năng có liên quan từ trung ương đến địa phương thực hiện dự án "Điều tra, kiểm
kê đất chưa sử dụng năm 2000" Kết quả kiểm kê đã xác định khả năng khai thác
sử dụng đất chưa sử dụng cho các mục đích nông lâm nghiệp và mục đích khác trong phạm vi từ xã, huyện, tỉnh và toàn quốc
Ngoài các nghiên cứu về đất chưa sử dụng trên quy mô toàn quốc còn có các nghiên cứu về vấn đề này ở quy mô vùng và phạm vi hẹp nhằm đánh giá một cách sát thực hơn tiềm năng của loại tài nguyên này
Trang 27Có thể nói việc nghiên cứu thực trạng, hướng cải tạo sử dụng cho mục đích nông lâm nghiệp và các mục đích khác của đất chưa sử dụng hiện nay đang là một vấn đề được nhiều cơ quan ban ngành, nhiều nhà khoa học quan tâm Với tiềm năng rất to lớn nếu được đánh giá và sử dụng một cách khoa học, hợp lý thì nguồn tài nguyên này sẽ mang lại hiệu quả thật thiết thực
Đất chưa sử dụng bao gồm:
+ Đất bằng chưa sử dụng (thảm cỏ và lau lách thuần loại hoặc có cây bụi rải rác)
+ Đất đồi núi chưa sử dụng (nương rẫy du canh và cây bụi hoặc thảm cỏ xen
kẽ, thảm cây bụi, gỗ, tre nứa rải rác có sản lượng dưới 25m3/ha, độ che phủ dưới 0,3%)
+ Mặt nước chưa sử dụng
+ Sông suối
+ Núi đá không có rừng cây
+ Đất chưa sử dụng khác
2.4.2.2 Đất chưa sử dụng ở Việt Nam
Việt Nam có tổng diện tích đất tự nhiên là 32.924.061,00 ha, xếp thứ 55 trong tổng số gần 200 nước trên thế giới, phân loại các loại đất được thể hiện qua bảng 1 và biểu đồ 1 như sau:
Bảng 1: Diện tích đất cả nước năm 2003 phân theo loại đất
I Đất nông nghiệp
1 Đất trồng cây hàng năm
2.Đất vườn tạp
3 Đất trồng cây lâu năm
4 Đất trồng cỏ dùng vào chăn nuôi
5 Đất có mặt nước NTTS
9.345.346
6.129.518 628.464 2.181.943 37.575 367.846
28,38
18,26 1,19 6,63 0,11 1,12
Trang 28ii đấT LÂMNGHIệP
402
35,16
29,69 5,47 0,00
V Đất chưa sử dụng
1 Đất bằng chưa sử dụng
2 Đất đồi núi chưa sử dụng
3 Đất có mặt nước chưa sử dụng
30,46
6,35 23,39 0,45 2,26 1,88 0,69
(Nguồn: Niên giám Thống kê năm 2003)
Biểu đồ 1: Cơ cấu các loại đất cả nước
Đất Chưa sử dụng
Qua bảng 1 cho thấy, cả nước có 9.345.346,00 ha nông nghiệp, chiếm 28,38% tổng diện tích đất tự nhiên toàn quốc Trong đó có 6.129.518,00ha đất trồng cây hàng năm và 2.181.943,00 ha đất trồng cây lâu năm Hệ số sử dụng đất
Trang 29trồng cây hàng năm từ 1,4% năm 1995 tăng lên 1,6% năm 2000 Sản xuất nông lâm nghiệp biến đổi dần theo hướng bền vững, thể hiện qua việc tăng nhanh diện tích các loại cây trồng lâu năm có hiệu quả kinh tế cao như chè, cà phê, cao su, cây ăn quả các loại và giảm các loại cây trồng cho hiệu quả thấp
Đất lâm nghiệp có vai trò quan trọng đối với môi trường sinh thái, sẽ không thể có nền nông nghiệp bền vững nếu không có rừng Năm 2000, đất lâm nghiệp tăng 780.049,00ha so với năm 1995, bình quân tăng 148.000,00ha đất lâm nghiệp một năm trong giai đoạn này Hiện nay đất lâm nghiệp có diện tích là 11.575.429,00ha, chiếm 35,16% tổng diện tích đất tự nhiên toàn quốc, chủ yếu
là đất rừng tự nhiên có 9.774.483,00ha, chiếm 84,4% diện tích đất lâm nghiệp; còn lại là đất rừng trồng và một phần nhỏ đất ươm cây giống
Tổng diện tích đất chưa sử dụng của Việt Nam là 10.027.265,00 ha, chiếm tới 30,46% tổng diện tích đất tự nhiên thì còn khoảng 3,0 triệu ha có thể khai thác sử dụng vào mục đích nông lâm nghiệp Trong tương lai nếu khai thác hết
đất có khả năng sản xuất nông lâm nghiệp thì diện tích sẽ xấp xỉ 14,7 triệu ha và khi đó bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người cũng có thể vượt qua 1.500 m2/người, đó là chưa tính đến diện tích đất nông nghiệp đang bị mất do sử dụng vào các mục đích mở rộng khu dân cư nông thôn, đô thị, giao thông, thuỷ lợi và những diện tích đất canh tác bị thoái hoá không còn khả năng canh tác Theo đánh giá sơ bộ trong tổng số 10.027.265,00 ha đất chiếm tỷ lệ cao nhất tới 23,39% tổng diện tích tự nhiên, đất có mặt nước chưa sử dụng có 148.634,001 ha,chiếm 0,45%, đất chưa sử dụng khác là 255.930,00 ha, chiếm 0,69% diện tích
đất tự nhiên, còn lại là sông, suối, núi đá không rừng cây chiếm 4,14% tổng diện tích tự nhiên Quỹ đất chưa sử dụng có khả năng sử dụng vào mục đích nông nghiệp khoảng 1.000.000,00 ha, thuỷ sản gần 100.000,00 ha, trên 3,0 triệu ha có thể trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh, số còn lại phần lớn là đất trống đồi núi trọc, nằm ở vùng cao, xac các khu dân cư, địa hình dốc, chia cắt, điều kiện khai thác
sử dụng rất khó khăn Hiện mới có gần 30% quỹ đất chưa sử dụng đã được nhà nước giao cho tổ chức và hộ gia đình quản lý, sử dụng
Trang 30Với thực trạng sử dụng đất như hiện nay, cho dù đến năm 2020 khi tiềm năng đất nông nghiệp được khai thác hết (khoảng 10 triệu ha) nhưng dân số khi
đó tăng lên khoảng 126 triệu người thì bình quân đất nông nghiệp vẫn chỉ có 793
m2/người (UNEP, 1994) Như vậy nước ta là một trong những nước hiếm đất nhất thế giới hiện nay nên việc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước phải luôn gắn liền với diện lược sử dụng tiết kiệm tài nguyên có hạn và quý giá này
Đất đồi núi Việt Nam là hợp phần quan trọng của quỹ đất, chiếm 3/4 lãnh thổ toàn quốc Trong số này đất chưa sử dụng có xu hướng ngày một tăng nhanh, theo số liệu điều tra năm 1943 diện tích đất chưa sử dụng có khoảng 2 đến 3 triệu ha, đến năm 1975 là 10,5 triệu ha và cho đến năm 1998 thì diện tích đất chưa sử dụng là 12,6 triệu ha Đất chưa sử dụng tăng lên do sự bố trí sử dụng một cách bất hợp lý làm cho đất bị thoái hoá, xói mòn mất khả năng canh tác, thay vào đó là đất không sử dụng được mà nghiêm trọng nhất hiện nay là khu vực Tây Bắc và Tây Nguyên
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Địa chính đất chưa sử dụng toàn quốc như sau:
- Năm 1990 đất trống đồi núi trọc có 13,218 triệu ha
- Năm 1995 diện tích đất trống đồi núi trọc 10,937 triệu ha
- Năm 2000 diện tích đất trống đồi núi trọc 8, 699 triệu ha
Qua số liệu cho thấy đất chưa sử dụng đã được quan tâm khai thác để đưa vào sử dụng hợp lý, diện tích đất chưa sử dụng ngày một giảm nhanh, từ năm
1990 đến năm 1995 giảm 2,281 triệu ha, năm 1995 đến năm 2000 giảm được 2,248 triệu ha Như vậy trong 10 năm tính từ năm 1995 đến năm 2000 diện tích
đất chưa sử dụng đã giảm đi 4,259 triệu ha, đây là một tín hiệu đáng mừng thúc
đẩy việc khai thác sử dụng quỹ đất nói chung và đất chưa sử dụng nói riêng trong thời gian tới Dự kiến đến năm 2010 định hướng cho đất chưa sử dụng vào các mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, chuyên dùng, đất ở đạt 28.150.300,00
ha, chiếm tỷ lệ 85,50% tổng diện tích đất tự nhiên Còn lại 4.774.000,00 ha đất chưa sử dụng và sông suối chiếm 14,50% tổng diện tích tự nhiên, trong đó đất
Trang 31đồi núi, đất bằng và đất mặt nước chưa sử dụng là 3.409.000,00ha; sông, suối 745.000,00ha; núi đá không có rừng cây 620.000,00ha
2.4.3 Đất chưa sử dụng ở tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên là một tỉnh thuộc miền núi phía Bắc, có diện tích không lớn chỉ chiếm 1,13% tổng diện tích đất đai toàn quốc; bao gồm có 7 huyện,1 Thành phố và 1 thị xã; với 169 xã, thị trấn Dân số phân bố không đồng đều giữa các vùng, vùng cao và vùng núi dân cư thưa thớt, trong khi đó thành thị và vùng
đồng bằng dân cư dày đặc (huyện Võ Nhai có tỷ lệ 75 người/ Km2 trong khi đó tại Thành phố Thái Nguyên tỷ lệ này là 1.279 người /Km2.) Dân số của cả tỉnh là 1.073.184 người, tỷ lệ lao động nông nghiệp chiếm trên 80%
Với tổng diện tích đất tự nhiên là 354.110,06ha, hiện trạng sử dụng các loại
đất được thể hiện qua bảng 2 và biểu đồ 2 như sau:
Bảng 2: Tình hình sử dụng đất tỉnh Thái Nguyên
Trang 322 Đất có rừng trồng 46.993,84 13,27
1 Đất có khả năng nông nghiệp 5.418,61 1,52
2 Đất có khả năng lâm nghiệp 50.034.19 14,12
3 Sông, suối và đất chưa sử dụng khác 23.082,19 6,51
(Nguồn: Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Thái Nguyên )
Biểu đồ 2: Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Thái Nguyên
Đất Chưa sử dụng
Qua bảng 2 cho thấy, trong tổng diện tích tự nhiên là 354.110,06ha thì có 279.916,00ha đất được giao đã đưa vào sử dụng Đất nông nghiệp của tỉnh có 94.563,47ha , chiếm 26,70% tổng diện tích tự nhiên; đất lâm nghiệp có 152.274,64ha, chiếm 43,00% tổng diện tích tự nhiên; đất chưa sử dụng là 20.538,93ha, chiếm 5,8% tổng diện tích đất đai toàn tỉnh Trong đất chưa sử dụng, diện tích đất bằng và đồi núi còn tới 55.451,80ha
Tổng diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 152.274,64ha thì có tới 105.209,02ha đất rừng tự nhiên, chiếm đến 69,09% tổng diện tích đất lâm nghiệp, rừng trồng chỉ chiếm khoảng30% diện tích Phần lớn rừng gỗ quý và có sản lượng cao đã cạn kiệt Rừng tự nhiên có giá trị gần đây biến mất, thay vào đó
là các trảng cây bụi hay trảng cỏ chịu hạn hoặc các thảm rừng đơn loại như bạch
đàn, keo, vầu, tre
Đất trồng cây lâu năm có 18.348,02ha, chiếm 5,18% diện tích chủ yếu lac cây chè, cây ăn quả như: Vải, nhãn, mận, cam, quýt trong đó trên 2/3 diện tích
Trang 33mới chỉ trồng được trong khoảng 2 - 3 năm Cây hàng năm trên vùng đất đồi gò
có diện tích 13.146,05ha với cây trồng phổ biến là ngô, khoai, sắn, lạc, mía, đỗ
và cây lúa nương Đất trồng cây hàng năm chủ yếu là đất bằng phẳng , chế độ tưới tiêu chủ động, cây trồng chủ yếu là lúa nước và các loại rau mầu
Đất chưa sử dụng của tỉnh là 78.534,70ha, chiếm 22,18% tổng diện tích đất
đai tự nhiên, trong đó đất có khả năng sản xuất nông nghiệp là 5.417,61ha chiếm 1,52% tổng diện tích, đất có khả năng sản xuất lâm nghiệp là 50.034,19ha phân
bố nhiều ở các huyện như Định Hoá(13.534,7ha), Võ Nhai (17.255,29ha), tiếp
đến Phú Lương, Đại Từ, Đồng Hỷ Nhìn chung đất chưa sử dụng của tỉnh được hình thành do tình trạng phá rừng khai thác lâm sản bừa bãi, quản canh, đất bị xói mòn và cạn màu phải bỏ hoang, du canh du cư và di dân tự do, tập quán canh tác lạc hậu, không đúng kỹ thuật Đất bị thái hoá, nghèo kiệt chất dinh dưỡng
và khô hạn, trồng trọt khó khăn, năng suất cây trồng thấp Vấn đề sử dụng đất nói chung và định hướng chi đất chưa sử dụng nói riêng để sử dụng đất phục vụ cho sản suất nông - lâm nghiệp theo quan điểm sinh thái phát triển bền vững
đang là vấn đề bức xúc và cần được quan tâm của tỉnh và của nhân dân
Trang 34Phần III
Đối tượng phạm vi, nội dung và phương
pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là toàn bộ diện tích đất chưa sử dụng kể cả
đất đã giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nhưng hiện chưa đưa vào sử dụng
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra đánh giá hiện trạng đất chưa sử dụng trên toàn bộ địa bàn huyện
Võ Nhai ; xác định diện tích đất chưa sử dụng, đất chưa sử dụng có khả năng mở rộng cho sản xuất nông lâm nghiệp
- Điều tra tình hình giao đất, bao chiếm đất và bỏ hoá đất chưa sử dụng phân theo các đối tượng sử dụng trong giai đoạn 1995 - 2003
- Đề xuất hướng sử dụng hợp lý đất chưa sử dụng đến năm 1010 cho các loại hình sử dụng nông - lâm nghiệp trên địa bàn huyện Võ Nhai
Trang 353.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập các thông tin, dữ liệu có sẵn liên quan đến vấn đề nghiên cứu của
để tài từ các cơ quan chức năng và cơ quan nghiên cứu tại địa phương (Sở tài nguyên môi trường tỉnh Thái Nguyên, UBND huyện Võ Nhai, phòng Tài nguyên môi trường huyện, phòng thống kê, UBND các xã ) bằng phương pháp coppy, sao chụp và phỏng vấn
3.3.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp
Sử dụng phương pháp điều tra nhanh nông thôn (PRA) về hiện trạng sử dụng đất, các chính sách có liên quan đến sử dụng đất chưa sử dụng theo yêu cầu của tài bằng phiếu "Điều tra nông hộ" có sự tham gia của người dân Đây là phương pháp không chỉ được sử dụng rộng rãi trong các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm mà còn được sử dụng hành loạt trong các hoạt động khác liên quan
đến phát triển nông thôn PRA là phương pháp bao gồm một loạt cách tiếp cận, giao lưu, khuyến khích người dân cùng tham gia điều tra, trao đổi, thảo luận và phân tích về tình hình sản xuất, mức độ đầu tư thâm canh, kết quả sản xuất trên các loại hình sử dụng đất theo mẫu phiếu điều tra
(Mẫu phiếu "Điều tra nông hộ" của Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn
có bổ sung - phụ lục)
3.3.3 Phương pháp sử lý số liệu điều tra
Phương pháp thống kê được áp dụng để tập hợp và xử lý các số liệu điều tra thu thập được trong quá trình nghiên cứu
Số liệu điều tra trừ phiếu điều tra nông hộ được sử lý trên máy tính bằng phần mền EXCEL: số liệu về hiện trạng sử dụng đất, số liệu phân tích kinh tế của loại hình
sử dụng đất chuyên màu và cây công nghiệp ngắn ngày, loại hình sử dụng đất cây ăn quả, loại hình sử dụng đất cây công nghiệp lâu năm, loại hình sử dụng đất lâm nghiệp
và loại hình sử dụng đất nước nuôi trồng thuỷ sản
Trang 363.3.4 Phương pháp xây dựng bản đồ và thể hiện kết quả
Bản đồ sau khi hiệu chỉnh được số hoá và xử lý trên phần mền MAPINFO gồm có:
- Bản đồ đất huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên
- Bản đồ định hướng sử dụng đất chưa sử dụng huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên
Tất cả các loại bản đồ trên được thể hiện trên cùng một tỷ lệ
Trang 37Phần IV:
Kết quả nghiên cứu
4.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Võ Nhai 4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Võ Nhai là một huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Thái
Nguyên, có đường quốc lộ 1B chạy qua cách thành phố Thái Nguyên 50km Toàn huyện có 14 xã và một thị trấn với tổng diện tích tự nhiên là 84.510,41ha
- Phía Đông giáp huyện Bình Gia tỉnh Lạng Sơn
- Phía Tây giáp huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên
- Phía Nam giáp huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang
- Phía Bắc giáp huyện Na Rì tỉnh Bắc Cạn
4.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Địa hình của huyện thấp dần về phía Nam, dựa vào địa hình và quá trình sản xuất, huyện chia ra làm 3 tiểu vùng:
- Vùng 1 (vùng phía Bắc gồm 6 xã): Nghinh Tường, Cúc Đường, thượng
Nung, Sảng Mộc, Vũ Chấn và Thần Xa Với đặc điểm được đặc trưng bởi núi cao, dốc, phần lớn là núi đá vôi, đất lâm nghiệp chiếm ưu thế, do đó diện tích
đất phân tán
- Vùng 2 (vùng trung tâm gồm 3 xã và một thị trấn): La Hiên, Lâu Thượng,
Phú Thượng và thị trấn Đình Cả có dạng địa hình thung lũng tương đối bằng phẳng chạy dọc theo quốc lộ 1B với 2 bên là dãy núi cao có độ dốc lớn, đất đai màu mỡ đây là sản xuất lúa trọng điểm của huyện
- Vùng 3 (vùng phía Nam gồm 5 xã): Tràng Xá, Liên Minh, Dân Tiến, Bình
Long và Phương Giao Vùng này có địa hình bát úp bị chia cắt nhiều bởi các khe suối, sông và xen lẫn núi đá vôi, các soi bãi ven sông địa hình thấp và tương đối bằng phẳng hơn các xã ở vùng 1, đây cũng là vùng trọng điểm phát triển cây cồng nghiệp của huyện
Trang 384.1.1.3 Khí hậu
Mặc dù điều kiện địa hình phức tạp bởi có 3 vùng khác nhau những điều kiện khí hậu tương đối đồng nhất Do nằm ở chí tuyến Bắc trong vành đai nhiệt
đới Bắc bán cầu nên khí hậu của huyện Võ Nhai chia làm 2 mùa chính rõ rệt:
- Mùa nóng: từ tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình từ 25,2 - 28,60C
- Mùa lạnh: từ tháng 11 đến tháng 3 nhiệt độ trung bình từ 14 - 20,10C Chế độ nhiệt, độ ẩm, lượng mưa, lượng bốc hơi, số giờ nắng được thể hiện qua bảng 3
Bảng 3: Các yếu tố khí hậu huyện Võ Nhai
(Nguồn: Trạm thuỷ văn huyện Võ Nhai)
Tháng
Nhiệt độ trung bình ( 0 C) 16,6 18,6 20,1 24,7 25,2 28,4 28,6 27,4 26,8 24,1 20,6 14,4 22,9 Nhiệt độ tối cao TB ( 0 C) 29,1 28,1 30,0 32,8 37,6 39,7 35,7 36,7 34,0 33,9 34,8 30,7 33,6 Nhiệt độ tối thấp TB ( 0 C) 10,4 12,2 15,6 18,0 21,8 23,8 24,7 23,4 18,0 17,9 13,9 12,5 17,7
Độ ẩm (%) 83,0 85,0 87,0 85,0 81,0 82,0 88,0 86,0 87,0 86,0 79,0 79,0 84,0 Tổng lượng mưa (mm) 27 5 53,0 65 242 237 148 278 103 128 64 40 1.390 Lượng bốc hơi (mm) 24,4 49,1 54,4 73,3 113,3 110,9 68,8 78,2 60,2 59,2 99,6 77,6 908,8
Số giờ nắng (giờ) 60 53 39 78 90 163 158 140 207 121 105 51 1.265
Qua bảng 3 cho thấy:
* Chế độ nhiệt: nhiệt độ trung bình năm khoảng 22,90C, tổng tích ôn trong năm khoảng 80000C, nhiệt độ tương đối cao trung bình 33,60C, nhiệt độ tối thấp trung bình là 17,70C Tháng 6 là tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất (37,90C), tháng 1 là tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất (10,40C), số giờ nắng trong năm là 1.265 giờ
* Về chế độ mưa: Cũng như các huyện khác ở Võ Nhai, mưa tập trung từ
tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa trong thời gian này chiếm tới 90% tổng lượng mưa trong năm, lượng mưa đạt 115,83 mm trong tháng Tháng 1 và tháng 2 là tháng có lượng mưa ít nhất (khoảng 5-27mm/ tháng) Tháng 8 là tháng có lượng mưa cao nhất là 278 mm/ tháng, đáp ứng tốt nhu cầu về nước của các loại cây
Trang 39trồng, nhất là đối với cây chè, ngược lại từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau lượng mưa thấp làm cho sản lượng và năng suất cây trồng giảm hẳn
* Lượng bốc hơi: Lượng bốc hơi trung bình năm của huyện đạt 75,73mm,
trong năm có 6 tháng có lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa (tháng 11: 12 ; 1 : 2 ; 3) nên rất khô hạn (hệ số K - chỉ số ẩm ướt nhỏ hơn 0,3) vì vậy cây trồng trong mùa vụ này rất khó phát triển
* Độ ẩm không khí: Bình quân biến động từ 79-88% Để một cách khái quát
về độ âm của huyện nhằm đánh giá những vấn đề có liên quan đến sử dụng đất ; chúng tôi sử dụng chỉ số ẩm ướt (K), thấy rằng chỉ số ẩm ước của huyện thường lớn gấp 2 lần so với lượng bốc hơi, như vậy độ ẩm của huyện là rất khá
Với đặc điểm thời tiết khí hậu của huyện như trên, trong định hướng sử dụng đất chưa sử dụng cần lợi dụng chế độ nhiệt cao, độ ẩm khá, để bố trí các loại hình sử dụng đất, các hệ thống cây trồng ngắn ngày và dài ngày, nhằm sử dụng đất đai một cách tốt nhất, hạn chế đất bị thoái hoá, xói mòn, rửa trôi
- Tổng diện tích khu vực: 397km2.
- Tổng dòng chảy bình quân: 5,7 x 108 m/s
- Lưu lượng bình quân: 3,9 m/s
- Lưu lượng mùa kiệt: 1,1 - 3,5 m/s
+ Hệ thống sông Rong: phân bố pử phía Nam của huyện là nhánh của sông Thương, bắt nguồn từ xã Phú Thượng chảy qua thị trấn Đình Cả, xã Tràng Xá, Dân Tiến, Bình Lòng và chảy qua tỉnh Bắc Giang
- Tổng diện tích khu vực 228 km2
- Tổng dòng chảy bình quân: 12,4 x 108 m/s
Trang 40- Lưu lượng mùa kiệt: 0,7 m/s
Ngoài ra còn có hệ thống hồ, đập, mạng lưới suối nhỏ góp phần nhằm đáp ứng cho sản xuất nông lâm nghiệp
4.1.1.5 Các nguồn tài nguyên
1 Tài nguyên đất
Dựa trên bản đồ thổ nhưỡng và thuyết binh bản đồ tỷ lệ 1/50.000 của tỉnh Thái Nguyên, huyện Võ Nhai có các loại đất chính như sau:
- Đất phù sa ngòi suối 1.816,000 ha, chiếm 2,15%
- Đất đen 1.869,5 ha, chiến 2,21%
- Đất đỏ vàng 59.977,20 ha, chiếm 70,97%
- Đất nâu đỏ 5.740,80 ha chiếm 6,79%
- Đất nâu vàng 709,50 ha, chiếm 0,83
- Đất vàng nhạt 3.297,00 ha, chiếm 3,90%
- Các loại đất khác là 11.070,41 ha, chiếm 13,09%
2 Tài nguyên nước:
Hệ thống sông suối trong huyện tương đối phong phú nhưng phân bố không
đều, là nơi đầu nguồn của 2 hệ thống sông chính cho nên nguồn nước mặt rất phong phú Nếu biết khai tác tốt nguồn nước (giữ được rừng, xây dựng các hồ
đập hợp lý) thì đủ đảm bảo của yêu cầu sản xuất nông lâm nghiệp
Nguồn nước ngầm cũng rất đa dạng, ở độ sâu từ 60m đến 90m có lưu lượng khoảng 360 lít / giây, đủ đảm bảo nguồn nước cho sinh hoạt và sản xuất
3 Tài nguyên rừng
Theo số liệu thống kê đến cuối năm 2003 toàn huyện có 54.259,90 ha đất có rừng với các loại rừng được thể hiện ở bảng 4