Luận văn đánh giá hiện trạng một số loài hải sản có giá trị kinh tế tại khu bảo tồn biển hòn mun,khánh hoà
Trang 1Đặt Vấn Đề
Việt Nam có bờ biển dài trên 3260 km, diện tích vùng biển đặc quyền kinh tế gấp 3 lần đất liền và là nước có tiềm năng về khai thác và nuôi trồng thuỷ sản Nguồn lợi thuỷ sản nói chung và nguồn lợi hải sản ở Biển Đông nói riêng từ lâu đã được nhiều nhà khoa học, tổ chức trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu
Trữ lượng cá biển của Việt Nam ước tính khoảng trên 3 triệu tấn và khả năng cho phép khai thác khoảng 1,6 triệu tấn/năm [3] với nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do khai thác không hợp lý và những biến đổi của môi trường, nguồn lợi thuỷ sản Việt Nam nói chung và nguồn lợi hải sản nói riêng đã và đang ngày càng suy giảm
Để bảo vệ và phát triển nguồn lợi hải sản, nhiều nước trên thế giới và khu vực đã thành lập các khu bảo tồn biển (KBTB) Các KBTB được thành lập nhằm bảo vệ tính đa dạng sinh học, khai thác hợp lý nguồn tài nguyên biển và
đảm bảo tính bền vững tài nguyên, môi trường biển
ở nước ta, trong thời gian qua việc bảo vệ đa dạng sinh học và các hệ sinh thái thủy sinh chưa được quan tâm đúng mức Các hệ sinh thái biển ở nước ta nhiều nơi đã và đang bị suy thoái Nhiều rạn san hô bị tàn phá do các hoạt động khai thác bừa bãi, nhiều giống loài thuỷ sản quý hiếm có nguy cơ bị diệt vong, v.v…
Trong thời gian gần đây, Chính phủ và các nhà quản lý khoa học trong cả nước đã và đang quan tâm đến bảo vệ đa dạng sinh học và các hệ sinh thái thuỷ sinh của Việt Nam bằng nhiều giải pháp Một trong những giải pháp bảo
vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái thuỷ sinh đang được chú trọng là thành lập các KBTB Năm 2000, Chính phủ Việt Nam đã chính thức phê duyệt Dự án thí
điểm KBTB Hòn Mun Mục tiêu chính của Dự án là bảo vệ đa dạng sinh học
Trang 2biển điển hình có tầm quan trọng quốc tế và đang bị đe doạ, tạo điều kiện cải thiện sinh kế của cộng đồng dân cư và tạo nên một mô hình quản lý có sự tham gia của cộng đồng
Khu bảo tồn biển Hòn Mun (từ năm 2004 đã đổi tên thành KBTB vịnh Nha Trang) là vùng biển bao gồm đảo Hòn Mun và 8 đảo lớn nhỏ khác nằm trong vịnh Nha Trang thuộc tỉnh Khánh Hoà Với đa dạng san hô và các quần thể động, thực vật phong phú, vịnh Nha Trang nói chung và KBTB vịnh Nha Trang nói riêng là nơi có tính đa dạng sinh học biển vào bật nhất ở nước ta Tuy nhiên, cũng như các nơi khác, đa dạng sinh học và các hệ sinh thái ở đây
đang có nguy cơ bị đe dọa nghiêm trọng Do vậy, nghiên cứu hiện trạng các loài hải sản làm cơ sở cho bảo vệ đa dạng sinh học và sử dụng bền vững nguồn lợi hải sản trong KBTB vịnh Nha Trang là việc làm cấp thiết
Từ thực tế đó, được sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn, Trường Đại học Nông nghiệp I và Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I, tôi đã chọn thực
hiện đề tài: “ Đánh giá hiện trạng một số loài hải sản có giá trị kinh tế tại Khu bảo tồn biển Hòn Mun, Khánh Hòa" với mục tiêu chính là:
• Đánh giá hiện trạng khai thác một số loài hải sản như: cá thu vạch, cá cơm sọc xanh, cá lầm tròn nhẳng và mực lá ở KBTB vịnh Nha Trang
• Đề xuất các biện pháp bảo vệ và khai thác hợp lý nguồn lợi hải sản nói chung và các đối tượng nói trên ở khu bảo tồn biển
Trang 3Chương 1 Tổng quan tàI liệu
1.1 Tình hình bảo vệ nguồn lợi hải sản
1.1.1 Thế giới
Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản nói chung và hải sản nói riêng đã và đang
được nhiều nước trên thế giới quan tâm Theo FAO [6], từ năm 1950 đến nay sản lượng thủy sản thế giới đã tăng lên 7 lần và có xu hướng tăng lên trong thời gian tới Trước nhu cầu ngày càng tăng về sản phẩm thuỷ sản và nguy cơ ngày càng cạn kiệt của nguồn lợi này, nhiều nước trên thế giới đã và đang có nhiều biện pháp nhằm bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thuỷ sản của quốc gia mình
Trung Quốc là nước đứng đầu về khai thác hải sản trong suốt những năm
90, để bảo vệ nguồn lợi hải sản, Trung Quốc đã giảm chỉ tiêu tăng trưởng về khai thác đến 0% năm 1999 và -1,5% năm 2000 Bên cạnh giảm tốc độ tăng trưởng về khai thác, Trung Quốc đã thực thi cấm đánh bắt hải sản ở những ngư trường trọng điểm trong những khoảng thời gian nhất định; giải thể những tàu nhỏ cũ, cấm đóng tàu nhỏ mới, cải tổ triệt để các đội tàu khai thác, tăng cường hợp tác quốc tế và tập trung khai thác xa bờ, v.v…[6]
Các nước trong khối cộng đồng chung châu Âu (EU) đã tiến hành giảm 20% số lượng đội tàu khai thác của các nước trong khối trong thời gian 5 năm (1999-2003) và tiếp tục giảm 10% đến năm 2005 Chương trình này đã được nhiều nước trong khối và thế giới hưởng ứng [6], cụ thể được trình bày ở bảng 1.1
Trang 4
Bảng 1.1: Sản lượng và tăng trưởng về khai thác hải sản của một số
nước trên thế giới
1999 2000 Năm
Nước
Sản lượng (triệu tấn)
Tăng trưởng
so với năm
1998 (%)
Sản lượng (triệu tấn)
Ngoài biện pháp giảm chỉ tiêu tăng trưởng, việc quản lý tàu thuyền và
các hoạt động khai thác thông qua việc cấp giấy phép đã và đang được nhiều
nước trên thế giới và khu vực sử dụng như Philippin, Myanma, Nauy, v.v…
Biện pháp khác nhằm phục hồi và tái tạo nguồn lợi hải là thả con giống
các loài hải sản ra biển đã được nhiều nước trên thế giới như Nhật Bản, Mỹ,
Trung Quốc, v.v… áp dụng
ở khu vực Đông Nam á, Thái Lan là nước quan tâm sớm đến công tác
bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản Luật Nghề cá của Thái Lan ra đời năm 1947 và
Trang 5được hoàn thiện qua nhiều lần vào năm 1953, 1985 [23] Đến nay, mặc dù có nguồn lợi thuỷ sản khá dồi dào và là một trong 10 nước đứng đầu thế giới về sản lượng thuỷ sản nhưng công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản ở Thái Lan luôn luôn được chú trọng Phương châm bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản của Thái Lan là tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nghề cá;
đẩy mạnh công tác nuôi trồng và phát triển nguồn lợi; mở rộng hợp tác quốc
tế
1.1.2 Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước có nhiều tiềm năng về thuỷ sản Biển Việt Nam có tính đa dạng sinh học cao, đặc trưng của một vùng biển nhiệt đới với khoảng 11.000 loài sinh vật biển, trong đó cá có khoảng hơn 2.000 loài cá,
700 loài động vật ruột khoang, 2.500 loài động vật thân mềm [3] Trong những năm qua, do những biến động của thiên nhiên và tác động của con người, nguồn lợi hải sản ven bờ nước ta đã bị khai thác quá mức, tổng sản lượng hải sản hàng năm đánh bắt ở Việt Nam không ngừng tăng lên nhưng năng suất khai thác trên một đơn vị cường lực (Catch per unit effort) giảm từ 0,92 tấn/cv/năm (năm 1985) xuống 0,48 tấn/CV/năm (năm 2002), tỷ lệ cá tạp trong một mẻ lưới ngày càng tăng [26]
Có nhiều nguyên nhân làm suy giảm nguồn lợi hải sản Việt Nam như khai thác không hợp lý, suy thoái của các hệ sinh thái, ô nhiễm môi trường biển, v.v… Môi trường biển ở nước ta đã và đang bị ô nhiễm do nhiều nguyên nhân khác nhau như: Nước từ các lưu vực và sông thải ra biển mang theo các chất thải chưa được xử lý của các nhà máy, khu dân cư,… Một trong những minh chứng cho nguyên nhân này là môi trường vịnh Hạ Long bị ô nhiễm do các chất thải sinh hoạt và hoạt động khai thác than Hàm lượng các kim loại nặng như kẽm, đồng, thuỷ ngân ở đây đều cao hơn mức cho phép [12]
Trang 6Ngoài ra, môi trường biển còn bị ô nhiễm do hoá chất bảo vệ thực vật từ hoạt động nông nghiệp, các chất thải của hoạt động khai khoáng, khai thác dầu khí, vận tải biển, các chất thải từ hoạt động nuôi trồng thuỷ sản ở một số khu vực, v.v
Khai thác thuỷ sản không hợp lý là một trong những nguyên nhân gây suy giảm nguồn lợi thuỷ sản nói chung và nguồn lợi hải sản nói riêng Các hoạt động khai thác hải sản của nước ta hiện nay chủ yếu chỉ tập trung ở vùng ven bờ, các phương tiện khai thác thuỷ sản phần lớn còn lạc hậu, sử dụng phương tiện đánh bắt mang tính huỷ diệt nguồn lợi như chất nổ, xung điện,
ánh sáng mạnh, mắt lưới nhỏ, v.v
Trong các hệ sinh thái, rạn san hô là một trong những hệ sinh thái ở biển rất quan trọng đối với sinh vật biển Cho đến nay, chưa có số liệu chính xác nào về tổng diện tích các rạn san hô ở Việt Nam, theo ước tính của Nguyễn Huy Yết (1996) [4], ở nước ta có khoảng 40.000 ha rạn san hô, với khoảng trên 300 loài và tập trung chủ yếu ở 4 khu vực: Tây vịnh Bắc Bộ, ven bờ biển miền Trung và Đông Nam Bộ, vùng biển Tây Nam Bộ và vùng biển Trường Sa
và Hoàng Sa Hệ sinh thái rạn san hô ở nước ta hiện nay đang bị đe doạ nghiêm trọng Theo cảnh báo của Viện Tài nguyên Thế giới (2000, 2002) [3], [4], 80% rạn san hô ở biển Việt Nam nằm trong tình trạng rủi ro, trong đó có 50% nằm trong tình trạng rủi ro cao Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng xấu
đến rạn san hô như sử dụng các biện pháp khai thác hải sản không hợp lý (dùng thuốc nổ, xyanua, ), khai thác san hô làm bờ đầm nuôi tôm, hàng mỹ nghệ, vật liệu xây dựng, do tác động của các hoạt động vận tải biển, khai thác dầu khí, do tác động của thiên tai Đến nay, nhiều rạn san hô ở nước ta đã bị suy thoái và hầu như ít có khả năng phục hồi
Cùng với rạn san hô, rừng ngập mặn là nơi sinh sản, cư trú và phát triển rất quan trọng của nhiều loài hải sản nói riêng và sinh vật nói chung Rừng
Trang 7ngập mặn nước ta hiện nay bị thu hẹp đáng kể do chiến tranh và những hoạt
động của con người như phá rừng ngập mặn để làm chất đốt, nuôi trồng thuỷ sản, v.v Đặc biệt, trong thời gian gần đây với phong trào nuôi tôm phát triển mạnh, rừng ngập mặn nhiều nơi đã bị tàn phá nghiêm trọng
Nhà nước đã quan tâm đến việc bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản bằng sự ra đời của Pháp lệnh Bảo vệ và Phát triển nguồn lợi thuỷ sản do Chính phủ ban hành ngày 25/4/1989, đây là văn bản pháp luật cao nhất về bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản được thực hiện trong 15 năm qua
Gần đây, Luật Thuỷ sản đã được Quốc hội ban hành và có hiệu lực vào tháng 7/2004 thay thế cho Pháp lệnh Bảo vệ và Phát triển nguồn lợi thuỷ sản Luật Thuỷ sản đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản ở Việt Nam
Để khai thác và quản lý tốt nguồn lợi thuỷ sản, việc thường xuyên tuyên truyền giáo dục và đưa cộng đồng tham gia vào việc bảo vệ nguồn lợi là việc làm thiết thực và cấp thiết [26]
Trang 81.2 Quá trình thiết lập và quản lý các khu bảo tồn biển
Theo định nghĩa của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) (1994) "Khu Bảo tồn biển là một vùng biển nhất định nào đó đ−ợc thiết lập nhằm bảo tồn đa dạng sinh học biển, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và các giá trị văn hóa, lịch sử đi kèm bằng pháp luật hoặc các biện pháp tích cực khác" Các KBTB đ−ợc thừa nhận là một biện pháp tích cực để bảo vệ và phát triển nguồn lợi hải sản
đ−ợc trình bày cụ thể ở bảng 1.2
Trang 9Bảng 1.2: Phân bố các khu bảo tồn biển trên thế giới
Đến nay, tổng diện tích các KBTB trên thế giới mới chiếm khoảng 3%
diện tích biển Các KBTB được thiết lập ở các nước hiện nay thuộc nhiều hình
thức khác nhau Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 về Bảo tồn biển của IUCN tại
Caracas năm 1992 đã khuyến cáo các nước thành lập các KBTB theo 6 kiểu:
Khu Dự trữ thiên nhiên biển; vườn Quốc gia biển; Kỳ quan thiên nhiên biển;
khu Bảo tồn loài, nơi sinh cư; khu Bảo tồn cảnh quan biển; khu Bảo tồn tài
nguyên thiên nhiên biển [24]
Về qui mô diện tích, hiện nay KBTB lớn nhất là Công viên biển Dải san
hô lớn ở úc (Great Barrier Reef) với diện tích 34,4 triệu ha Khu bảo tồn biển
nhỏ nhất cũng ở úc, đó là những khu dự trữ san hô đỏ với diện tích khoảng 1
ha [3]
Trang 10Đối với vùng biển khu vực Đông Nam á, sự gia tăng dân số cao và đời sống của người dân phụ thuộc nhiều vào nguồn lợi tự nhiên, đặc biệt là dân cư vùng ven biển đã làm suy giảm nghiêm trọng tính đa dạng sinh học của vùng biển này, nhiều hệ sinh thái ở khu vực này đã và đang bị suy thoái Theo ước tính đến nay có khoảng 88% số rạn san hô của khu vực bị đe doạ nghiêm trọng [3]
Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến nguồn lợi hải sản, các nguyên nhân này tuỳ thuộc vào đặc thù của từng quốc gia Đối với Malayxia, nguyên nhân ảnh hưởng lớn đến nguồn lợi và môi trường biển do sự phát triển quá nhanh các hoạt động kinh tế vùng ven bờ ở Inđônêxia, nguyên nhân ảnh hưởng chủ yếu là khai thác hải sản quá mức, còn ở Thái Lan, nguyên nhân ảnh hưởng chính đến nguồn lợi hải sản là do khai thác không hợp lý và sự bùng phát của ngành du lịch
Các nước trong khu vực Đông Nam á đã chú trọng đến việc thiết lập các khu bảo tồn biển Đến năm 2002, đã có 310 KBTB ở các nước như Philippin, Inđônêxia, Singapore, Thái Lan và Malayxia, v.v [3]
Mặc dù số lượng các khu bảo tồn biển của khu vực Đông Nam á khá nhiều nhưng cho đến nay khoảng 46% các khu bảo tồn ở khu vực này đã được thiết lập nhưng không được quản lý hoặc quản lý lỏng lẻo, 28% được quản lý dưới mức trung bình, số KBTB được quản lý tốt rất ít [3]
Nhìn chung, việc thiết lập các KBTB có vai trò và ý nghĩa lớn đối với bảo
vệ đa dạng sinh học, cân bằng ổn định các hệ sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học, sử dụng hợp lý nguồn lợi Các KBTB có các vai trò:
• Bảo vệ, giữ cân bằng ổn định các hệ sinh thái quan trọng của biển
Trang 11• Tăng tính đa dạng của các loài, sinh khối và kích thước các loài được bảo vệ trong khu bảo tồn
• Phục hồi và tái tạo nguồn lợi hải sản
• Tạo ra nơi cư trú cho các loài hải sản đang có nguy cơ bị cạn kiệt và diệt vong
• Bảo vệ đa dạng di truyền của các loài sinh vật biển
Các KBTB được xem là các trung tâm phát tán các cá thể hải sản trưởng thành và chưa trưởng thành ra các khu vực lân cận Đã có nhiều nghiên cứu về lợi ích này khi thành lập KBTB ở St Lucia, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy sản lượng khai thác hải sản quanh các KBTB trên một đơn vị cường lực tăng 46-90% sau 5 năm bảo vệ (Robert và nnk, 2001) [3], [11]
Khi thiết lập các KBTB, các hệ sinh thái và đa dạng sinh học ở đây được tái phục hồi sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội ở khu vực thông qua các hoạt động như giải trí, du lịch, nghiên cứu, v.v…
Mặc dù các KBTB đã đem lại rất nhiều lợi ích như: bảo tồn đa dạng sinh học, làm tăng sản lượng hải sản khai thác, v.v… như đã nêu trên, nhưng trong quá trình thiết lập và quản lý những KBTB đã và đang gặp không ít những khó khăn Khó khăn mà nhiều KBTB gặp phải là ngư trường đánh bắt của các ngư dân bị thu hẹp và sản lượng đánh bắt giảm trong thời gian đầu thiết lập các KBTB Do vậy, sinh kế của các ngư dân bị ảnh hưởng và mâu thuẫn xảy ra Các vấn đề về phân chia quyền lợi của các thành viên trong cộng đồng ở các KBTB, việc xác định đúng mục tiêu của từng KBTB, v.v… cũng là những vấn
đề khó khăn trong thiết lập và quản lý các KBTB Nhiều KBTB đã thất bại do không giải quyết tốt những vấn đề trên
Trang 121.2.2 Việt Nam
Thiết lập các khu bảo tồn được Việt Nam quan tâm khá sớm (từ năm 1962) và Việt Nam đã tham gia nhiều Công ước quốc tế liên quan đến bảo tồn thiên nhiên nói chung và bảo tồn biển nói riêng như:
Bên cạnh những Công ước quốc tế, Việt Nam đã có nhiều kế hoạch hành
động về bảo tồn thiên nhiên như: Chiến lược bảo tồn quốc gia (1985); Kế hoạch hành động đa dạng sinh học quốc gia; các chiến lược và kế hoạch hành
động bảo vệ môi trường quốc gia và ngành thuỷ sản đến năm 2010, v.v…
Tuy quan tâm sớm về công tác bảo tồn thiên nhiên và có nhiều cơ sở pháp lý như đã nêu trên, nhưng có thể nói Việt Nam là một trong những nước chậm nhất trong khu vực Đông Nam á thiết lập các KBTB Các khu bảo tồn
được thiết lập ở Việt Nam chủ yếu trên đất liền Tính đến nay, Việt Nam có
121 khu bảo tồn với diện tích 2 triệu ha, chiếm khoảng 6% tổng diện tích lãnh thổ tự nhiên của Việt Nam Trong số các khu bảo tồn nêu trên, rất ít khu có diện tích biển được công nhận chính thức Biển chủ yếu chỉ được đề cập đến ở vuờn Quốc gia Cát Bà, Côn Đảo và KBTB vịnh Nha Trang, trong đó KBTB vịnh Nha Trang là KBTB chính thức đầu tiên ở Việt Nam
Trang 13Được sự tài trợ của Ngân hàng châu á (ADB) và sự hỗ trợ kỹ thuật của Quỹ Bảo vệ Động và Thực vật hoang dã (WWF), một hệ thống về KBTB và ven biển của Việt Nam đã được đề xuất vào năm 1999 Trong danh mục đề xuất của dự án có 30 khu bảo tồn, trong đó có 15 KBTB với việc điều chỉnh
mở rộng về diện tích
Năm 2001, KBTB Hòn Mun (từ năm 2004 đổi thành KBTB vịnh Nha Trang) thuộc tỉnh Khánh Hoà đã được thành lập và quản lý với sự trợ giúp của Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF), Tổ chức Phát triển Quốc tế Đan Mạch (DANIDA), Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) và Chính phủ Việt Nam Cùng với KBTB Hòn Mun, KBTB Cù Lao Chàm thuộc tỉnh Quảng Nam cũng đang được thiết lập và quản lý với sự tài trợ của DANIDA từ năm 2004
Bộ Thuỷ sản đang trình Đề án qui hoạch hệ thống KBTB và quy chế quản
lý KBTB để Thủ tướng Chính phủ xem xét phê duyệt Cho đến nay hệ thống KBTB đầu tiên nói trên vẫn chưa được phê duyệt chính thức về pháp lý ở cấp Chính phủ
Mặc dù, chưa có một khuôn thể chế, chính sách hoàn chỉnh đối với quản
lý các KBTB ở cấp quốc gia nhưng đã có những quyết định quan trọng của Chính phủ Nghị định 43/2003/NĐ-CP ngày 02 tháng 5 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ đã chính thức giao cho Bộ Thuỷ sản quản lý nhà nước các KBTB Tiếp theo Nghị định trên, vấn đề quy hoạch và quản lý KBTB cũng đã
được đề cập tại chương 2, điều 9 của Luật Thuỷ sản được Quốc hội thông qua
và chính thức có hiệu lực vào tháng 7 năm 2004 Bên cạnh, những quyết định trên, Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Chương trình bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản đến năm 2010, trong đó có 15 KBTB đã đề xuất [3], [24]
Nhìn chung, dù được thiết lập muộn nhưng các KBTB ở Việt Nam đang
được sự quan tâm của Chính phủ Các KBTB được thiết lập có ý nghĩa rất lớn
Trang 14về nhiều mặt đối với nước ta Ngoài những vai trò, ý nghĩa chung như đã trình bày ở trên, việc thiết lập các KBTB ở Việt Nam còn có ý nghĩa lớn trong việc bảo vệ an ninh chủ quyền quốc gia trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế của nước ta [3]
1.3 Tình hình nghiên cứu cá cơm sọc xanh, cá lầm tròn nhẳng, cá thu vạch và mực lá trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Cá cơm sọc xanh (Stolephorus zollingeri)
Trên thế giới, giống cá cơm nói chung và loài cá cơm sọc xanh nói riêng
có sản lượng khá lớn và đã được nghiên cứu nhiều
Chan, Huang và Tang (1985) [32], khi nghiên cứu ở vùng biển Tây Bắc
Đài Loan đã nhận thấy ấu trùng và cá con của cá cơm sọc xanh là một trong 2
đối tượng chiếm ưu thế ở đây, đặc biệt ấu trùng cá cơm sọc xanh có thể thu
được trong suốt thời gian khảo sát
Sreekumari và cộng tác viên (1976) [62] đã công bố kết quả về nghiên cứu sự phát triển và phân bố của ấu trùng cá cơm sọc xanh ở khu vực phía Nam ấn Độ ấu trùng cá cơm sọc xanh ở đây xuất hiện ở mọi thời gian trong năm nhưng tập trung chủ yếu vào khoảng tháng 4-5 và tháng 11-12
Adamari, Hasan, Zubaidi (1987) [29], nghiên cứu thành phần cá đánh bắt
ở vịnh Baguala đã xác định được mùa vụ sinh sản của cá cơm ở đây trong khoảng tháng 5, 6 và tháng 7
Jane (1985) [43], khi nghiên cứu mùa vụ và sinh học của cá cơm ở vịnh Tabaco và Lagonoy của Philippin đã cho thấy mùa vụ khai thác ở đây tập trung vào 2 lần trong năm là: tháng 3-4 và tháng 8-9 Các tác giả đã xác định
được ở đây có 3 loài cá cơm trong đó cá cơm sọc xanh chiếm chủ yếu trong tổng sản lượng khai thác Kích thước của cá cơm sọc xanh chủ yếu là 7,86 cm
Trang 15Cá cơm sọc xanh còn được nghiên cứu trong các công trình khác của: Krakatitsa và Sapin (1971) [46], Apichart, Termvidchakorn (1997) [63], v.v…
ở Việt Nam các loài cá cơm là đối tượng khai thác chính của nghề lưới
trủ (vây cá cơm) và là đối tượng được quan tâm nghiên cứu
Lê Trọng Phấn, Nguyễn Văn Lục (1991) [19], dựa vào số liệu thu thập
được ở vùng biển từ Hải Phòng đến Rạch Giá đã xác định tuổi, kích thước khai thác, sản lượng của cá cơm Nghiên cứu cũng xác định được mùa vụ sinh sản của cá cơm tập trung vào từ tháng 4 đến tháng 7 Sức sinh sản tương đối khoảng 516-1485 trứng/g khối lượng cơ thể
Theo Nguyễn Văn Lục (1999) [16], cá cơm sọc xanh ở vịnh Nha Trang thành thục sinh dục quanh năm nhưng chủ yếu tập trung vào: tháng 4-6 và tháng 9-11 hàng năm
Nguyễn Hữu Phụng và nnk (2002) [22], khi nghiên cứu trứng và cá bột ở vùng nước ven bờ tỉnh Khánh Hoà đã phát hiện trứng cá cơm sọc xanh chiếm
tỷ lệ cao nhất (29,11%), tỷ lệ cá bột cũng đạt khá cao ( 28,26%)
Tình hình nghiên cứu giống cá cơm (Stolephorus) nói chung và loài cá
cơm sọc xanh nói riêng trên thế giới và ở Việt Nam cho thấy, nhiều nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu về đặc điểm sinh học, đặc biệt là đặc điểm sinh sản và ảnh hưởng của các yếu tố môi trường tới sự phát triển của cá thể Các nghiên cứu về đánh giá hiện trạng cá cơm ở các ngư trường trọng điểm và xác
định các biện pháp khai thác hợp lí chưa được quan tâm nhiều, nhất là ở Việt Nam
Trong KBTB vịnh Nha Trang, sản lượng khai thác cá cơm hàng năm khá lớn Các nghiên cứu về cá cơm ở đây tập trung vào đặc điểm sinh trưởng, sinh sản Chưa có nghiên cứu nào đưa ra những giải pháp khai thác nguồn lợi cá
Trang 16cơm một cách hợp lí ở đây Do vậy, việc đánh giá hiện trạng khai thác cá cơm
và tìm giải pháp cho khai thác hợp lí nguồn lợi cá cơm ở vịnh Nha Trang là hướng nghiên cứu cần quan tâm
1.3.2 Cá lầm tròn nhẳng (Spratelloides gracilis)
Trên thế giới, cá lầm tròn nhẳng đã được Ozawa, Kaku, Masuda và
Matsuura (1989) [57] nghiên cứu Kết quả cho thấy, cá đực thường có kích thước nhỏ hơn nhưng có hệ số béo, hệ số thành thục của tuyến sinh dục cao hơn và có số lượng thường ít hơn cá thể cái trong quần đàn
Milton, Blaber và những người khác (1990) [51] đã công bố nghiên cứu
đặc điểm sinh học sinh sản của 3 loài cá trong đó có cá lầm tròn nhẳng Tác giả đã so sánh các đặc điểm sinh sản của các loài cá này ở Maldives và Solomon và cho thấy kích thước thành thục của cá ở Solomon nhỏ hơn ở Maldives và các khu vực khác Cá của cả 2 vùng đều có mùa sinh sản kéo dài
Milton và Blaber (1991) [52] công bố nghiên cứu về thành thục sinh dục, mùa vụ sinh sản của 6 loài cá ở đảo Solomon trong đó có cá lầm tròn nhẳng Hầu hết các loài đều có khả năng sinh sản quanh năm và tập trung vào 1 hoặc
2 vụ Nghiên cứu cũng nhận thấy có 3 yếu tố chính ảnh hưởng đến sinh sản trong đó chu kỳ trăng là quang trọng nhất tiếp đến là lượng mưa và nhiệt độ
Emelyanova và Vancouver (1999) [34] đã nghiên cứu đặc điểm sinh sản của một số loài cá nhiệt đới Nghiên cứu đã tiến hành trên 6 loài cá thuộc 4 họ
ở Biển Đông trong đó có cá lầm tròn nhẳng Nghiên cứu đã cho thấy mùa vụ sinh sản dài hay ngắn phụ thuộc vào nhóm tuổi và kích thước cá thể tham gia sinh sản cũng như đặc điểm phát triển của tuyến sinh dục
Dalzell và Port Moresby (1983) [33] đã nghiên cứu về tỷ lệ chết, sinh trưởng và sự bổ sung quần đàn từ phân tích số liệu chiều dài của cá lầm tròn nhẳng ở New Gesea
Trang 17ở Việt Nam, cá lầm tròn nhẳng là loài có giá trị kinh tế, phân bố nhiều
ở khu vực vịnh Nha Trang, Khánh Hoà Đến nay, hầu như có rất ít nghiên cứu
về đối tượng này ở Việt Nam Emelyanova (2003) [35] đã công bố kết quả nghiên cứu một số đặc điểm phát triển tuyến sinh dục của cá làm tròn nhẳng ở vịnh Nha Trang Trong nghiên cứu này tác giả xác định đây là loài cá có thể
đẻ quanh năm nhưng tập trung nhiều nhất vào khoảng 2 tháng Sức sinh sản trung bình của loài này khoảng 3.600 trứng
Cá lầm tròn nhẳng ở vịnh Nha Trang có sản lượng khai thác hàng năm khá lớn, vùng khai thác chủ yếu tập trung ở ven các rạn đá ngầm và san hô quanh các đảo Việc nghiên cứu khai thác hợp lý cá lầm tròn nhẳng ở vịnh Nha Trang, nhằm ổn định nguồn lợi đối tượng này cần được quan tâm nhiều hơn trong thời gian tới
1.3.3 Mực lá (Sepioteuthis lessoniana)
Trên thế giới, mực lá phân bố nhiều ở khu vực ấn Độ-Thái Bình Dương Tuy nhiên đối tượng này chỉ mới được quan tâm nghiên cứu nhiều trong những năm gần đây và tập trung chủ yếu ở một số nước như Nhật, ấn Độ, Inđônêxia, úc, Philippin và Thái Lan
Segawa (1990) [60] đã công bố nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn lên tốc
độ tăng trưởng của mực lá ở biển Nhật Bản Kết quả thí nghiệm cho thấy tốc
độ tăng trưởng hàng ngày của mực khoảng 12,9% ở những mực lớn (30-50 g) tốc độ tăng trưởng giảm còn 1,8-4,1% Ngoài ra sinh trưởng của mực còn phụ thuộc vào chất lượng thức ăn
Neethiselvan và Venkataramani (2000) [54] nghiên cứu về tập tính bắt mồi của mực lá ở Thoothukkudi, ấn Độ Thức ăn chính của mực lá trong thời
kỳ đầu của đời sống chủ yếu là tôm về sau là cá Mực lá là loài có tập tính ăn
Trang 18thịt lẫn nhau Việc tìm thấy có nhiều tôm và các loài giáp xác khác trong ruột mực lá chứng tỏ đây là loài có khuynh hướng bắt mồi động vật đáy
Ukio Ueta và Susumu Segawa (1995) [67] nghiên cứu sinh thái sinh sản
và sự bổ sung của ấu trùng mực lá tại một số vùng biển ở Nhật Bản Nghiên cứu xác định tuyến sinh dục của con đực thành thục sớm hơn con cái 2 tháng Thời gian di cư sinh sản và sinh sản diễn ra khoảng từ tháng 4-9 khi nhiệt độ của những bãi đẻ cao hơn 160C ấu trùng mực lá thường xuất hiện khoảng từ tháng 6-10 ấu trùng bổ sung vào quần đàn có kích thước 5 cm(ML) xuất hiện
khoảng trung tuần tháng 6 đến đầu tháng 9
Công trình nghiên cứu của Tomokichi Kobayashi và Mitsuhisa Kawano (1995) [66] cho thấy số lần sinh sản tối đa của mỗi cá thể là 8 lần Buồng trứng gồm nhiều túi trứng và mỗi túi trứng có trung bình 4,8 trứng Số trứng trong vòi trứng sau khi đẻ khoảng 0-86 trứng Số trứng của mỗi lần sinh sản khoảng 59 trứng
Neethiselvan, Venkataramani và Ramkumar (2002) [55] đã nghiên cứu thành thục sinh dục và sinh sản của mực lá ở vùng biển Đông Nam ấn Độ Nghiên cứu đã xác định được chiều dài thành thục nhỏ nhất ở mực đực là 135
mm và mực cái là 115 mm Sức sinh sản của mực khoảng 4.020-11.400 trứng
ở những cá thể có chiều dài 13,7-22 cm
Ahmad, Usman (1997) [27] đã công bố nghiên cứu về nuôi mực lá Mực
được nuôi trong những lồng lưới nổi trong 2 năm Mực lá sau khi nở được đưa
ra nuôi ở lồng nổi đến khi đạt kích thước thương phẩm (100-200 g) trong thời gian 3 tháng và thành mực bố mẹ (200-300 g) trong thời gian khoảng 5 tháng Sức sinh sản của mỗi con cái khoảng 300 trứng/lần sinh sản Tuy nhiên, tỷ lệ sống của ấu trùng thấp
Trang 19ở Thái Lan, Nabhitabhata Jaruwat (1996) [53] đã nghiên cứu về sinh trưởng của mực lá và đã xác định mực lá là loài có tốc độ tăng trưởng nhanh, sau 4 tháng nuôi có thể đạt 600 g Mật độ nuôi 3-4 con/m2
úc là một trong những nước nghiên cứu về mực lá khá sớm, Jackson (1990) [40] đã xác định tuổi và sinh trưởng của mực lá bằng phân tích các
đường sinh trưởng trên nhĩ thạch (statolith) Nghiên cứu xác định cả mực đực
và mực cái đều thành thục dưới 100 ngày tuổi Kích thước mực đực 75-213
mm và mực cái 75-184 mm
Balgos và Pauly (1998) [30] nghiên cứu tuổi và sinh trưởng của mực lá Nghiên cứu đã xác định được mực ấu trùng 30-40 ngày tuổi có chiều dài bao lưng 19-33 mm và mực trưởng thành (62-132 ngày tuổi) có chiều dài bao lưng 62-315 mm Tốc độ tăng trưởng cao nhất ở mực trưởng thành là 0,5 mm/ngày
Jackson và Moltschaniwskyj (2002) [42] đã công bố nghiên cứu ảnh hưởng của sự biến đổi không gian và thời gian đến tốc độ tăng trưởng và thành thục của mực lá ở vùng biển ấn Độ –Thái Bình Dương Kết quả cho thấy, các loài mực ở vùng nhiệt đới vào thời gian nhiệt độ nước ấm sinh trưởng nhanh hơn 9% so với nhiệt độ nước lạnh ấu trùng mực mùa xuân của vùng nhiệt đới
và ở vùng xích đạo có tốc độ tăng trưởng gần như nhau( 3,24: 3,18 g/ngày) và nhanh hơn có tốc độ tăng trưởng ấu trùng mực mùa hè và mùa thu (2,89 g/ngày) Tuổi mực lớn nhất được ghi nhận ở đây là 224 ngày nhưng hầu hết
đều có tuổi < 200 ngày
Forsythe (2002) [36] đã nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến tốc độ tăng trưởng của mực lá ở Nhật Bản Mực lá có tốc độ trăng trưởng nhanh và thường phân bố ở những khu vực có nhiệt độ 16-34 0C
Trang 20ở Việt Nam, mực lá được khai thác chủ yếu bằng nghề câu, lồng bẫy và lưới kéo đáy, đây là loài có giá trị kinh tế cao Các nghiên cứu về mực lá ở nước ta chưa nhiều, chủ yếu là nghiên cứu khái quát về giá trị kinh tế, hình thái Một số nghiên cứu tập trung vào xác định các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục
Nghiên cứu đầu tiên về mực lá ở nước ta được Robson tiến hành vào năm
1928 [7] Nghiên cứu đã công bố 8 loài mực có giá trị kinh tế của Việt Nam
và vịnh Thái Lan Nguyễn Xuân Dục (1978) [7] đã công bố danh mục 26 loài mực phân bố ở vịnh Bắc Bộ, trong đó có 2 loài tác giả chỉ xác định được tới giống
Nguyễn Chính (1991) [8] đã nghiên cứu và đưa ra danh mục những loài mực có giá trị kinh tế của vùng biển từ Phú Yên đến Thuận Hải, trong đó có mực lá Tác giả đã xác định năng xuất đánh bắt, sự biến động sản lượng mực qua các tháng trong năm và qua các năm, tuy nhiên các đánh giá chủ yếu tập trung vào mực ống và mực thẻ
Nghiên cứu đáng chú ý trong lĩnh vực này là nghiên cứu của Nguyễn Lâm Anh, Nguyễn Văn Long [1] và đề tài KT-03-09 trong Chương trình biển KT-03 [7] Các nghiên cứu này đã đánh giá khá chi tiết về sản lượng, một số thống số sinh trưởng của các loài mực ở vùng biển Việt Nam trong đó có mực lá
Cùng với những nghiên cứu về định loại, Trương Sỹ Kỳ (1997) [15] đã nghiên cứu và xác định sự phát triển tuyến sinh dục của một số loài mực có giá trị kinh tế ở vùng biển miền Trung, trong đó có mực lá ở nghiên cứu này tác giả đã xác định được noãn sào của mực lá có 5 giai đoạn phát triển
Việc nghiên cứu hiện trạng khai thác, nghiên cứu tìm những biện pháp khai thác mực lá bền vững ở các ngư trường hầu như chưa được quan tâm Để
Trang 21khai thác hợp lí nguồn lợi mực nói chung và mực lá nói riêng, trong thời gian tới cần có những nghiên cứu về đánh giá hiện trạng và tìm giải pháp cho khai thác hợp l í
1.3.4 Cá thu vạch(Scomberomorus commerson)
Cá thu vạch là loài có giá trị kinh tế cao và phân bố ở nhiều khu vực trên thế giới đặc biệt là ở Thái Bình Dương Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về đối tượng này ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ
Trên thế giới, Jenkins, Milward và Hartwick (1984) [44] đã nghiên cứu
về ấu trùng cá thu vạch ở úc Nghiên cứu cho thấy có sự thay đổi về tố độ
tăng trưởng, hình thái và màu sắc trong quá trình phát triển
McPherson (1993) [48] đã xác định được chiều dài thành thục và sinh sản nhỏ nhất của cá thu vạch cái ở úc là 79 cm (FL) Mùa vụ sinh sản tập trung vào tháng 10 và 11 Thời gian xuất hiện của mỗi đàn cá ở khu vực này trong mùa sinh sản khoảng 2-6 ngày
Thiagarajan (1989) [65] nghiên cứu sinh trưởng của cá thu vạch ở ấn Độ Nghiên cứu đã xác định được các tham số: L∞ =177,5 cm (FL); K = 0.38/năm Kích thước trung bình của cá thu vạch ở khu vực này 154 cm (FL)
và trọng lượng 21,3 kg
Kedidi, Fita, Abdulhadi (1992) [45] đã xác định các tham số của cá thu vạch ở đây qua phương trình đường cong sinh trưởng Von Bertalanffy: L∞ = 183,6 mm; K= 0,26; a = 0,0056; b= 2,979 Nghiên cứu cũng đã xác định được
hệ số chết tự nhiên của cá thu vạch là M = 0,36
Cùng với những nghiên cứu về sinh học, Bullock, Helmke và Jebreen (2001) [31] đã khảo sát tổng quát về cá thu vạch ở Queensland, úc Theo tác
Trang 22giả, nguồn lợi cá thu ở đây đã bị suy giảm, sức sinh sản cá thu khu vực này giảm
Al-Hosni và Siddeek (1999) [28] đã công bố nghiên cứu về sinh trưởng
và tỷ lệ chết của cá thu vạch ở Omani Nghiên cứu đã xác định được K= 0,28;
t0 = -0,86 Tỷ lệ chết tự nhiên được tính theo 3 phương pháp và kết quả cho 3
hệ số khác nhau: 0,35; 0,64; 0,77 Tỷ lệ chết do khai thác được xác định bằng 0,4 Hầu hết trong thời gian nghiên cứu, hệ số khai thác đều vượt mức cho phép Do vậy sản lượng cá thu vạch khai thác ở đây giảm từ 27.762 tấn năm
1988 xuống còn 3.265 tấn năm 1993
Lewis và Mackie (2002) [47] đã công bố phương pháp thu thập, chuẩn bị
và phân tích nhĩ thạch của cá thu vạch ở khu vực ấn Độ-Tây Thái Bình Dương Nghiên cứu này có thể làm cơ sở tham khảo tốt cho việc xác định tuổi của cá thu vạch và những loài cá tương tự
ở Việt Nam, cá thu vạch là một trong những đối tượng cá kinh tế chủ yếu Nguyễn Hữu Phụng và các ctv (1991) [20] đã nghiên cứu khá chi tiết về hình thái cá bột của cá thu vạch cũng như khu vực phân bố cá bột cá thu vạch trong vịnh Bắc bộ Nghiên cứu cũng đã xác định được mùa vụ sinh sản của cá thu vạch ở vịnh Bắc bộ: từ tháng 4 đến tháng 9, trong đó chủ yếu tập trung vào khoảng tháng 5 đến tháng 7 (chiếm 80% tổng số cá bột thu được cả năm) Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy, cá bột cá thu vạch phân bố nhiều ở những vùng có nhiệt độ trên 270C, độ mặn tầng mặt 24,7-34,0%0 và chủ yếu tập trung ở vùng gần bờ (độ sâu< 36 m)
Trong vịnh Nha Trang, cá thu vạch chủ yếu được khai thác bằng nghề lưới đăng, đây là đối tượng chủ yếu đem lại thu nhập chính cho nghề này
Đặng Văn Thi (2002) [37] đã phân tích khá chi tiết hoạt động của các đầm
đăng và sản lượng cá thu vạch ở khu vực này
Trang 23Lê Trọng Phấn, Hồ Bá Đỉnh và nnk (2003) [18] đã công bố kết quả điều tra nghề lưới đăng ở Nha Trang Trong nghiên cứu này các tác giả chỉ mới giới thiệu khái quát về sản lượng, kích thước, trọng lượng cá khai thác được ở các cơ sở lưới đăng Các chỉ số trên chỉ mới nêu chung theo từng nhóm cá, chưa
có thống kê riêng cho cá thu vạch (gộp chung trong nhóm cá thu ngừ)
Nhìn chung, cá thu vạch là đối tượng được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, hầu như chưa có nghiên cứu nào về dự báo nguồn lợi, sản lượng khai thác, phương pháp khai thác, v.v đặc biệt là ở từng ngư trường cụ thể Do vậy, để bảo vệ và khai thác hợp lý nguồn lợi cá thu vạch chúng ta cần có những nghiên cứu giải quyết những vấn đề trên trong thời gian tới
Trang 24Chương 2 TàI LIệU và phương pháp nghiên cứu 2.1 Tài liệu
Tài liệu được thu thập tại KBTB Hòn Mun (KBTB vịnh Nha Trang) và các khóm đảo từ ngày 31 tháng 1 đến ngày 31 tháng 7 năm 2004 cho các loại nghề: Câu, trủ, đăng, pha xúc, lặn, v.v…
Ngoài ra còn sử dụng các tài liệu của Dự án thí điểm KBTB Hòn Mun
từ năm 2001 – 2004 và tham khảo nguồn tài liệu có liên quan khác
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Đánh giá tình hình kinh tế - xã hội tại 6 khóm đảo trong KBTB vịnh Nha Trang, nơi có các loại nghề khai thác các đối tượng nghiên cứu về tình hình khai thác các đối tượng nghiên cứu như mùa vụ khai thác, cơ cấu nghề nghiệp, sản lượng khai thác, v.v bằng phiếu điều tra (xem phụ lục 27) và nguồn số liệu thứ cấp từ các Sở, ban, ngành liên quan của thành phố Nha Trang, Khánh Hoà
Tham gia trực tiếp trên các phương tiện khai thác của nghề câu mực, câu cá, trủ (vây cá cơm), lưới đăng, mành chong để thu thập số liệu về thành phần loài, thành phần sản lượng khai thác, các số liệu về sinh học của 4 loài nghiên cứu
Thu mẫu để phân tích sinh học: mẫu của 4 đối tượng nghiên cứu được thu trực tiếp ở các thuyền khai thác trong khu bảo tồn và các cảng cá, chợ trên
địa bàn thành phố Nha Trang
Trang 25Phân tích sinh học của 4 đối tượng nghiên cứu chính
• Đo chiều dài toàn thân cá (TL): từ mút mõm đến mút vây đuôi (mm)
• Chiều dài mực là chiều dài bao lưng (ML) (mm)
• Cân khối lượng bằng cân điện tử có độ chính xác đến gram
• Xác định độ chín mùi tuyến sinh dục của cá bằng mắt thường và kính giải phẫu soi nổi theo thang 6 bậc của Nicolski
Thu mẫu nhĩ thạch để phân tích tuổi của đối tượng khai thác
Cá: Lấy nhĩ thạch và bảo quản theo phương pháp của Secor et al (1995); P.D Lewis và M Mackie (2002) Phân tích tuổi theo phương pháp của Buckworth (1999); P.D Lewis & M Mackie (2002) và Jenke (2002) (phụ lục
8, 9, 10, 13)
Mực: Phân tích tuổi dựa vào nhĩ thạch theo Jackson (1990), Lipinski (1993) (phụ lục 11, 12, 14)
Bảng 2.1: Số lượng mẫu thu thập và phân tích sinh học
Trang 26Hình 2.1: Đo chiều dài mực lá (Sepioteuthis lessoniana)
Chiều dài bao lưng (ML)
Chiều dài toàn thân
(TL)
Hình 2.2: Đo chiều dài cá thu vạch (Scomberomorus commerson)
Nhĩ thạch được mài bằng máy mài (PHOENIX BRTA) và quan sát dưới kính hiển vi Nikson eslipse E200 ở độ phóng đại 10 X và chụp ảnh bằng máy chụp ảnh kỹ thuật số Nikson eslipse 4500 (phụ lục 15, 16)
Trang 27Tuổi đánh bắt thích hợp được tính theo công thức của Kutty và Qasim (1968)
M
M bk
e k ( t m ư t0 ) = +
Trong đó: tm là tuổi đánh bắt thích hợp; M là hệ số chết tự nhiên; b là số
mũ của phương trình tương quan W= a.Lb; k, t0 là hệ số trong phương trình sinh trưởng von Bertalanffy
+ Xác định các hệ số trong phương trình tương quan chiều dài - khối lượng
Tương quan chiều dài - khối lượng được tính theo phương pháp hồi qui lặp với phương trình
Trang 28Trong đó: Lt là chiều dài của cá thể ở thời điểm t; Loo là chiều dài lý thuyết có thể đạt được; k là hằng số sinh trưởng; t0 là tuổi lý thuyết khi cá có chiều dài và khối lượng bằng 0
Số liệu được xử lý bằng phần mềm đánh giá nguồn lợi cá biển nhiệt đới FISAT( FAO-ICLARM STOCK ASSESSMENT TOOLS) và các phần mềm khác được sử dụng trong nghiên cứu nghề cá biển
Trang 29Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang có 6 khóm dân cư (Trí Nguyên, Bích
Đầm, Vũng Ngán, Vũng Me, Hòn Một và Đầm Báy) với tổng số dân 5.138 khẩu, 988 hộ, trong đó Trí Nguyên là khóm đảo có dân cư đông nhất chiếm 53% tổng dân số các khóm đảo
Cộng đồng dân cư trong khu bảo tồn có 8% hộ giàu; 68% hộ trung bình
và 24% hộ nghèo Hầu hết dân cư ở các khóm đảo trong KBTB vịnh Nha Trang có trình độ dân trí tương đối thấp Tỷ lệ người mù chữ khá cao Trình độ văn hóa của người dân các khóm đảo chủ yếu là cấp 1, số người có trình độ văn hóa cấp 2, 3 ít
Trong các đặc điểm về tình hình kinh tế xã hội của khu bảo tồn, phạm vi
đề tài chỉ đi sâu tìm hiểu về cơ cấu nghề nghiệp
3.1 Cơ cấu nghề nghiệp của dân cư trong khu bảo tồn
Khai thác thủy sản là nghề chính của người chồng và nội trợ là công việc chính của người vợ, xem hình 3.1a và 3.1b
Hình 3.1a Cơ cấu nghề nghiệp của người chồng trong cộng
Trang 30Hình 3.1b Cơ cấu nghề nghiệp của người vợ trong cộng
Hình 3.1a và 3.1b cho thấy khai thác thuỷ sản là nghề chính đối với người chồng (79%) và nội trợ là công việc chính của người vợ (79%) Khai thác thuỷ sản ở đây không những là nghề chính của người chồng mà còn là nguồn thu nhập chính của hầu hết các gia đình Do vậy, việc tìm những giải pháp khai thác hợp lý nhằm đảm bảo ổn định nguồn lợi hải sản có ý nghĩa lớn
đối với sinh kế của người dân nơi đây Tuy nhiên, việc tìm ra giải pháp cho vấn đề này vô cùng khó khăn, đòi hỏi phải có sự phối hợp của nhiều bên liên quan và ý thức của cộng đồng dân cư ở đây
Bên cạnh nghề khai thác, nuôi trồng thuỷ sản là nghề chiếm tỷ lệ khá lớn (9%) và đem lại thu nhập cao cho người dân Đối tượng nuôi chủ yếu của hầu hết các hộ gia đình là tôm hùm Hiện nay, tôm hùm là loài chưa sản xuất được giống Giống tôm hùm nuôi ở đây được thu từ tự nhiên và thức ăn cho tôm hùm chủ yếu là cá tạp, các loài nhuyễn thể, giáp xác, v.v…khai thác từ tự nhiên Do vậy, việc phát triển nuôi tôm hùm mạnh sẽ làm cạn kiệt nguồn giống tự nhiên, ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn lợi tôm hùm trong thời gian tới Mặc khác, tôm hùm là loài ăn thức ăn tươi sống, vì vậy, nếu nuôi tôm hùm số lượng nhiều sẽ gây ô nhiễm môi trường nước khu vực