1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn đánh giá đất nông nghiệp phục vụ công tác định hướng quy hoạch sử dụng đất huyện định hoá tỉnh thái nguyên

80 779 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá đất nông nghiệp phục vụ công tác định hướng quy hoạch sử dụng đất huyện Định Hoá tỉnh Thái Nguyên
Trường học Trường Đại Học Thái Nguyên
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Luận văn
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn đánh giá đất nông nghiệp phục vụ công tác định hướng quy hoạch sử dụng đất huyện định hoá tỉnh thái nguyên

Trang 1

1 Mở đầu 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của nhân loại, vì nó là nguồn gốc của mọi sự sống trên trái đất Nhận thức được vai trò của nó mà tất cả các quốc gia trên hành tinh này đều đã không quản ngại hi sinh để bảo vệ

nó và cũng từ đất mà các cuộc xung đột đã và đang xảy ra Tuy vậy, mỗi quốc gia đều có những sự quan tâm khác nhau đến đất và ở những quốc gia nào con người quan tâm chú trọng sử dụng bảo vệ bồi dưỡng nó thì đất đai sẽ tốt lên và cuộc sống sẽ ổn định, phát triển

Đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp có hạn về diện tích, có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và sự thiếu ý thức của con người trong quá trình hoạt động sản xuất Trong khi đó xã hội ngày càng phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về lương thực, thực phẩm, các sản phẩm công nghiệp, các nhu cầu về văn hoá, xã hội, nhu cầu về giao thông, thuỷ lợi, cơ sở hạ tầng và các mục đích chuyên dùng khác Điều đó đã tạo nên áp lực ngày càng lớn lên đất đai, làm cho quỹ nông nghiệp luôn có nguy cơ bị giảm diện tích trong khi khả năng khai hoang để mở rộng diện tích lại hạn chế

Trước những thực trạng ấy, nghiên cứu đánh giá tài nguyên thiên nhiên nói chung và đất đai nói riêng để tổ chức sử dụng hợp lý, có hiệu quả theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề mang tính toàn cầu, được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm Đánh giá đất để nhằm

sử dụng dụng đất có hiệu quả và lâu bền được coi là công việc then chốt và cấp thiết Đánh giá đất đai không chỉ dừng lại ở việc đánh giá các yếu tố tự nhiên của đất mà phải đánh giá đầy đủ các yếu tố liên quan đến quá trình sử dụng đất hiện tại và trong tương lai, bao gồm các đặc tính tự nhiên, kinh tế, xã hội, các nhu cầu và mục tiêu của người sử dụng đất Đánh giá đất đai cung cấp

Trang 2

thông tin đầy đủ về đất, nên được coi là cơ sở, là tiền đề quan trọng để lập quy hoạch sử dụng đất

Định Hoá là một huyện miền núi nằm ở phía Tây - Tây Bắc của tỉnh Thái Nguyên, có quốc lộ 254 chạy qua và cách thành phố Thái Nguyên 52km Với tổng diện tích đất tự nhiên 50 082ha trong đó chiếm 19 540.63 là đất chưa

sử dụng, đất nông nghiệp chiếm 8 991.72ha, đất có khả năng khai thác nông nghiệp khoảng 4 290ha

Huyện Định Hoá được chia thành 3 tiểu vùng có địa hình phức tạp nhưng cũng từ đó tạo thành một cảnh quan môi trường sinh động, chế độ nhiệt phong phú, độ ẩm tương đối khá, nói chung Đinh Hoá có những điều kiện thuận lợi để phát triển đa dạng hoá cây trồng đặc biệt là trong nông nghiệp

Tuy nhiên hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn toàn huyện chưa phục vụ

được các yêu cầu sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất đai để đáp ứng được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện đã

đề ra

Nhằm thúc đẩy và phát huy tối đa nguồn tài nguyên đất nông nghiệp sẵn có, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội cho huyện Định Hoá cùng với những lí do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

Đánh giá đất nông nghiệp phục vụ công tác định hướng

Quy hoạch sử dụng đất huyện Định Hoá - Tỉnh Thái Nguyên

1.2 ý nghĩa của đề tài

- Góp phần bổ xung hoàn thiện lý luận khoa học cho việc đánh giá đất theo phương pháp của FAO trong phân cấp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai, yêu cầu sử dụng đất thích hợp của các loại hình sử dụng đất trong phạm vi địa bàn cấp huyện

- Góp phần xây dựng những giải pháp sử dụng hợp lý và có hiệu quả về tài nguyên đất trong sản xuất nông nghiệp của huyện Định Hoá tỉnh Thái

Trang 3

1.3 Mục đích của đề tài

- Điều tra đánh giá tài nguyên đất sản xuất nông nghiệp của huyện theo phương pháp đánh giá đất theo FAO

- Trên cơ sở kết quả đánh giá đất nông nghiệp của huyện Định Hoá đưa

ra định hướng quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp nhằm phát huy tối đa tiềm năng nguồn tài nguyên đất này

1.4 Yêu cầu của đề tài

- Thu thập đầy đủ các tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Định Hoá Các số liệu thu thập chính xác, thống nhất và hệ thống

- Nắm vững các nguyên tắc đánh giá đất theo FAO, áp dụng phù hợp với điều kiện cụ thể của huyện Định Hoá

Trang 4

2 Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu

2.1 Khái quát chung về đánh giá đất đai

2.1.1 Khái niệm về đất đai trong đánh giá đất đai

Trong đánh giá đất, đất đai được định nghĩa là một vùng đất mà đặc tính của nó được xem như bao gồm những đặc trưng tự nhiên quyết định đến khả năng khai thác được hay không và ở mức độ nào đó của vùng nghiên cứu Thuộc tính của đất đai gồm: Khí hậu, thổ nhưỡng và lớp địa chất bên dưới, thuỷ văn, giới động thực vật và những tác động quá khứ cũng như hiện tại của con người [11]

Có thể định nghĩa theo một cách khác: Một vạt đất xác định về mặt địa

lý là một phần diện tích của bề mặt trái đất với những thuộc tính tương đối ổn

định hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của sinh quyển bên trên, bên trong và bên dưới nó như không khí, đất, điều kiện địa chất, thuỷ văn, thực vật, động vật cư trú, những hoạt động hiện nay và trước đây của con người ở chừng mực thuộc tính này có ảnh hưởng, có ý nghĩa tới việc sử dụng vạt đất đó của con người hiện tại và trong tương lai [17]

Như vậy đánh giá đất phải được xem xét trên phạm vi rất rộng, bao gồm cả không gian, thời gian, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Đặc điểm đánh giá đất của FAO là những tính chất đất đai có thể đo lường hoặc ước lượng -

định lượng được (FAO, 1985) [25] Trong đánh giá đất đai, đôi khi người ta chỉ lựa chọn một số thuộc tính quan trọng nhất để xem xét từng điều kiện cụ thể trong vùng nghiên cứu Đặc tính quan trọng đó thể hiện ở mức độ và vai trò tác động của nó tới việc sử dụng đất đai

2.1.2 Sự cần thiết phải đánh giá đất đai

Trang 5

- Theo định nghĩa của FAO "Đánh giá đất đai là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của khoanh đất cần đánh giá với những tính chất

đất đai mà loại sử dụng đất yêu cầu cần phải có" (FAO, 1976) [23]

Việc đánh giá đất đai cho các vùng sinh thái hoặc các vùng lãnh thổ khác nhau nhằm tạo ra một sức sản xuất mới, ổn định, bền vững và hợp lý

Đánh giá đất đai ra đời từ rất lâu, từ những cảm nhận đơn giản, chủ quan, cách thức phân nhóm đất thành các mức "tốt", "xấu" đến những phân tích có cơ sở khoa học Khoa học đánh giá đất đai ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của khoa học nông nghiệp và các lĩnh vực khoa học khác Đánh giá đất đai là một bộ phận quan trọng của quá trình quy hoạch sử dụng đất, là cơ sở để đề ra những quyết định sử dụng đất hợp lý

2.1.3 Đánh giá đất đai trong mối liên quan đến các yếu tố sinh thái

Đánh giá đất đai thường liên quan tới toàn bộ hệ sinh thái, do đó trong

đánh giá đất đai, các điều kiện sinh thái cần phải được đưa vào các tiêu chuẩn phân cấp dưới dạng định tính hoặc định lượng Trong hệ thống bản đồ phục vụ

đánh giá đất, ngoài các bản đồ phản ánh các đặc điểm đất đai còn phải xây dựng các loại bản đồ như: Bản đồ khi hậu, thời tiết, địa hình, thuỷ lợi, thảm thực vật, Ngoài ra trong đánh giá đất đai cũng tính đến những yếu tố kinh

tế có liên quan đến loại hình sử dụng đất, các tác động về mặt xã hội đối với con người Hiểu biết về tổ hợp đất và hiệu ứng qua lại của quan hệ trao đổi nội tại xuất hiện khi sự mất cân bằng bị phá vỡ bởi sự phát triển hay sự xáo trộn sảy ra do sự thay đổi môi trường xung quanh là vấn đề cốt yếu để đánh giá đất thành công [23]

Như vậy việc đánh giá đất đai phải được xem xét trong một phạm vi rất rộng, bao gồm cả không gian, thời gian, các yếu tố xã hội Cho nên đánh giá

đất đai không chỉ là lĩnh vực khoa học tự nhiên mà còn mang tính kinh tế, kỹ

Trang 6

thuật Vì vậy cần phải biết kết hợp chuyên gia của nhiều nghành tham gia

đánh giá đất [1]

Đánh giá đất đai nhằm mục tiêu cung cấp các thông tin về sự thuận lợi

và khó khăn cho việc sử dụng đất, làm căn cứ cho việc đưa ra những quyết

định về việc quản lý và sử dụng đất đai [13]

2.2 Nghiên cứu và đánh giá đất ở nước ngoài

2.2.1 Đánh giá đất đai theo phân loại định lượng (Soil Taxonomy) của Mỹ:

Tại Mỹ công tác phân hạng đất đai nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên đất

đã được quan tâm vào những năm 1950 Mặc dù công tác điều tra phân loại

đất của Hoa Kỳ mang tính thực tiễn cao, nhưng việc thể hiện kết quả điều tra lại quá phức tạp do đó khó vận dụng trong thực tế sản xuất Vì vậy Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ đã xây dựng một phương pháp đánh giá đất đai mới: "Phân loại tiềm năng đất đai" Cơ sở đánh giá tiềm năng sử dụng đất dựa vào các yếu

tố hạn chế trong sử dụng đất những yếu tố hạn chế này được chia thành 2 nhóm:

- Nhóm các yếu tố hạn chế vĩnh viễn bao gồm những hạn chế không dễ dàng thay đổi và cải tạo được như: độ dốc, độ dày tầng đất, điều kiện khí hậu khắc nghiệt

- Nhóm những yếu tố hạn chế tạm thời có khả năng cải tạo được bằng các biện pháp quản lý và chăm sóc như hàm lượng dịnh dưỡng, điều tiết nước

Đất đai được đánh giá theo 3 cấp: Nhóm, nhóm phụ và loại Theo hệ thống phân loại đất đai được chia thành 8 nhóm, trong đó 4 nhóm thích hợp với sản xuất nông nghiệp (từ mức độ thích hợp cao cho đến thích hợp thấp), 2 nhóm có khả năng lâm nghiệp và 2 nhóm hiện tại không có khả năng sử dụng

Trang 7

Trong mỗi nhóm người ta đều tách ra các nhóm phụ và từ các nhóm phụ tách

ra các loại

Phương pháp đánh giá "Phân loại tiềm năng đất đai" của Mỹ tuy không

đi sâu vào từng loại hình cụ thể đối với sản xuất nông nghiệp và xác định về mặt hiệu quả kinh tế - xã hội, song lại rất quan tâm đến những yếu tố hạn chế bất lợi trong sử dụng đất và việc xác định các biện pháp bảo về đất có tính đến các vấn đề về môi trường là rất có ý nghĩa cho việc tăng cương bảo vệ môi trường sinh thái

2.2.2 Đánh giá đất đai ở Liên Xô (cũ)

Đây là trường phái đánh giá đất đai theo quan điểm phát sinh, phát triển của Docuchaep V.V Trường phái này cho rằng, đánh giá đất đai trước hết phải đề cập đến loại thổ nhưỡng và chất lượng tự nhiên của đất là những chỉ tiêu mang tính khách quan và đáng tin cậy Ông đã đề ra những nguyên tắc trong đánh giá đất đai là xác định các yếu tố đánh giá đất phải ổn định và phải nhận biết được rõ ràng, phải phân biệt được các yếu tố một cách khách quan

và có cơ sở khoa học, phải tìm tòi để năng cao sức sản xuất của đất, phải có sự

đánh giá thống kê kinh tế và thống kê nông học của đất đai mới có giá trị trong việc đề ra những biện pháp sử dụng đất tối ưu [13]

Trên cơ sở quán triệt những nguyên tắc khoa học về đánh giá đất đai do Docuchaep V.V đề xướng, nhiều nhà khoa học với các công trình nghiên cứu của mình đã bổ sung, phát triển cơ sở khoa học về đánh giá đất đai Trong đó phải kể đến các công trình nghiên cứu đánh giá đất đai của Ivanop P.V (1963), Cheremuskin C.D (1962), Dodokov N.P (1969), Degchiraev I.V (1973)

Học thuyết phát sinh trong đánh giá đất đai của Docuchaep V.V được thừa nhận và được phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt các nước thuộc

hệ thống xã hội chủ nghĩa cũ ở Đông Âu Tại các nước CHDC Đức (cũ), Bungari, Hungari, Tiệp Khắc, Ba Lan, công tác đánh giá đất đai và quy hoạch

Trang 8

sử dụng đất hợp lý đã được tiến hành khá phổ biến (Grigoriev E.V 1971) Trong đánh giá đất thường áp dụng phương pháp cho điểm các yếu tố trên cơ

sở thang điểm chuẩn đã được xây dựng thống nhất Đối chiếu giữa tính chất

đất và điều kiện tự nhiên với yêu cầu chung của hệ thống cây trồng được lựa chọn để phân hạng đánh giá đất

2.2.3 Đánh giá đất theo FAO

Công tác đánh giá đất đai những năm gần đây đã được tổ chức FAO rất quan tâm Thấy rõ được tầm quan trọng của công tác đánh giá, phân hạng đất

đai là cơ sở cho việc quy hoạch sử dụng đất, tố chức FAO đã tập hợp các nhà khoa học đất và các chuyên gia đầu nghành về nông nghiệp để tổng hợp các kết quả và kinh nghiệm đánh giá đất đai của các nước, xây dựng nên tài liệu

"Đề cương đánh giá đất đai" (FAO, 1976) Tiếp theo tài liệu này, hàng loạt các tài liệu hướng dẫn đánh giá đất đai cho các đối tượng cụ thể được công bố như:

- Đánh giá đất đai cho Nông nghiệp nhờ nước trời (FAO, 1983)

- Đánh giá đất đai cho Lâm nghiệp (FAO, 1984)

- Đánh giá đất đai cho nông nghiệp có tưới (FAO, 1985)

- Đánh giá đất đai vì sự nghiệp phát triển (FAO, 1986)

- Đánh giá đất đai cho đồng cỏ chăn thả (FAO, 1989)

- Đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất (FAO, 1994)

- Đánh giá và phân tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất (1992)

Mục đích của các tài liệu hướng dẫn đánh giá đất của FAO nhằm tăng cường nhận thức hiểu biết về phương pháp đánh giá đất phục vụ quy hoạch, sử dụng đất hợp lý trên quan điểm tăng cường lương thực cho các nước đang phát

Trang 9

triển và đồng thời giữ gìn bảo vệ tài nguyên đất đai không bị suy thoái theo hướng sử dụng đất bền vững

Nguyên tắc đánh giá đất của FAO là đánh giá đất luôn gắn liền với loại hình sử dụng đất xác định, có sự so sánh giữa lợi nhuận và đầu tư cần thiết

Đánh giá đất của FAO dựa trên cơ sở so sánh, đối chiếu mức độ thích hợp giữa yêu cầu của các loại hình sử dụng đất với chất lượng đất, kết hợp với điều tra phân tích kinh tế - xã hội, môi trường để từ đó đưa ra hướng sử dụng đất hợp lý nhất

Nội dung chính trong đánh giá đất theo FAO gồm 4 vấn đề chính:

- Xác định các chỉ tiêu và quy trình xây dựng bản đồ đơn vị đất đai

- Xác định, mô ta các loại hình sử dụng đất và các yêu cầu sử dụng đất

- Xác định hệ thống cấu trúc phân hạng đất đai

Những yêu cầu cần phải đạt được trong đánh giá đất theo FAO

- Thu thập được những thông tin phù hợp về tự nhiên - kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu

- Đánh giá sử dụng đất thích hợp cho các mục tiêu sử dụng khác nhau theo mục đích và nhu cầu của người sử dụng

- Phải xác định được mức độ chi tiết đánh giá đất theo các quy mô và phạm vi quy hoạch khác nhau ở mức toàn quốc, tỉnh, huyện hoặc cơ sở sản xuất theo các tỷ lệ bản đồ khác nhau

Trang 10

Quy trình đánh giá đất theo FAO gồm 9 bước được thể hiện như sau:

Thu thập tài liệu

Xác định loại hình

Xác định hiện trạng

KT-XH-MT

Xác định LUT thích hợp nhất

Quy hoạch sử dụng đất

áp dụng của việc

B1 Gồm đánh giá điều kiện tự nhiên của đất đai

B2 Phân tích về kinh tế - xã hội trong sử dụng đất

- Phương pháp song song: Các bước đánh giá điều kiện tự nhiên của

đất đai đồng thời với những phân tích kinh tế - xã hội trong sử dụng đất

Trên thực tế sự khác nhau giữa hai phương pháp không rõ nét, tuỳ theo

điều kiện cụ thể mà vận dụng, có thể kết hợp hai phương pháp này Tuy nhiên phương pháp song song thường áp dụng trong đánh giá chi tiết và bán chi tiết

Cấu trúc phân hạng thích hợp theo 4 cấp:

* Cấp Bộ: Được chia thành bộ thích hợp S (thích hợp) và bộ không thích hợp N (không thích hợp)

* Cấp Hạng: Cấp này chỉ ra các mức độ thích hợp của loại, được chia thành:

+ Các hạng thích hợp đất đai: S1, S2, S3 và Sc

Trang 11

- Hạng rất thích hợp (S1): Đặc tính đất đai có thể hiện một số yếu tố hạn chế ở mức trung bình có thể khắc phục được bằng các biện pháp kỹ thuật hoặc tăng mức đầu tư cho loại hình sử dụng đất Nếu có đầu tư cao và cải tạo

đất thì một số hàng S2 có thể đạt được hiệu quả như hạng S1 cho những loại hình sử dụng đất nhất định

- Hạng ít thích hợp (S3): Đặc tính đất đai đã xuất hiện nhiều yếu tố hạn chế hoặc một số yếu tố hạn chế nghiêm trọng khó khắc phục

- Hạng thích hợp có điều kiện (Sc): Chỉ áp dụng với quy mô hẹp bằng các biện pháp cải tạo nhỏ

+ Các hạng không thích hợp (N) chia thành 2 mức:

- Hạng không thích hợp hiện tại (N1): Đặc tính đất đai không thích hợp với loại hình sử dụng đất hiện tại và có một hoặc nhiều yếu tố hạn chế nghiệm trọng song có thể khắc phục được nếu sử dụng các biện pháp cải tạo đất để nâng hạng lên thích hợp

- Hạng không thích hợp vĩnh viễn (N2): Đất có những yếu tố hạn chế rất nghiêm trọng không thể khắc phục được bằng bất cứ biện pháp kỹ thuật hoặc kinh tế để trở thành hạng thích hợp đối với các loại hình sử dụng đất trong tương lai

* Hạng phụ thích hợp: Phản ánh các yếu tố hạn chế khả năng sử dụng

đất của vùng nghiên cứu Hạng phụ thích hợp thường được đi kèm theo các ký hiệu, các yếu tố hạn chế đối với một kiểu sử dụng đất nào đó Ví dụ:S2t, S2i, S2f (Trong đó: t: độ dày tầng đất, i: chế độ tưới, f: thành phần cơ giới)

* Đơn vị thích hợp: Phản ánh sự khác biệt nhỏ trong quản lý và đầu tư sản xuất của cùng một hạng phụ

Phương pháp đánh giá đất của FAO dựa trên cơ sở sự so sánh giữa yêu cầu của loại hình sử dụng đất để xác định được các mức độ thích hợp trong sử dụng đất

Trang 12

Đánh giá đất sử dụng cả phân hạng thích hợp đất đai định tính và định lượng:

- Phân hạng đất đai định tính: Các kết quả ghi nhận được chỉ trong phạm vi định tính, không có các tính toán hay dự đoán về đầu vào và đầu ra Các hạn chế giữa các hạng thích hợp được xác nhận trong phạm vi định tính

- Phân hạng thích hợp đất đai định lượng: Các kết quả được ghi nhận trong tính toán cụ thể về số lượng đầu vào và đầu ra, cho phép so sánh sự khác biệt giữa các mức độ thích hợp đối với các loại hình sử dụng khác nhau về sản phẩm hoặc tiền

Phương pháp phân hạng thích hợp đất đai

Phân hạng thích hợp đất đai là sự kết hợp tính thích hợp từng phần của từng đặc tính đất đai vào thành lớp thích hợp tổng thể của đơn vị bản đồ đất cho một loại hình sử dụng đất nhất định, từ đó xác định cấp thích hợp của một

đơn vị bản đồ đất đối với một loại hình sử dụng đất nào đó Để đánh giá phân hạng thích hợp, có thể áp dụng các phương pháp sau:

* Phương pháp kết hợp các điều kiện hạn chế

Đây là phương pháp logic và đơn giản nhất, lấy các yếu tố được đánh giá là thích hợp nhất làm yếu tố hạn chế Mức độ thích hợp tổng quát của một

đơn vị bản đồ đất đối với mỗi loại hình sử dụng đất là mức thích hợp thấp nhất

đã được xếp hạng của các đặc tính đất đai Ưu điểm của phương pháp này là tính đơn giản và hướng vào việc đánh giá tổng thể một cách thận trọng bởi có

sự dự đoán chính xác hoặc đánh giá thấp một vài khía cạnh nào đó tính thích hợp tổng thể Nhược điểm của phương pháp là không thể tính được mức độ

ảnh hưởng của các đặc tính đất đai khi chúng tác động tương hỗ lân nhau

* Phương pháp kết hợp chủ quan

Đánh giá phân hạng đất đai thông qua các nhận xét, đánh giá chủ quan của các cá nhân kết hợp lại thành phân hạng thích hợp tổng thể Nếu các ý

Trang 13

kiến cá nhân nhận xét đó là các chuyên gia có trình độ cao, có kinh nghiệm thực tế về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và đặc tính đất đai của vùng thì phương pháp kết hợp chủ quan này rất tốt, đơn giản, nhanh và đảm bảo chính xác Tuy nhiên hạn chế của phương pháp này là khó thu được những ý kiến

đặc biệt trùng nhau từ hai hoặc nhiều chuyên gia đánh giá và hiếm khi có đủ chuyên gia có trình độ hiểu biết và kinh nghiệm thực tế về tất cả các loại hình

sử dụng đất cần nghiên cứu trong vùng

* Phương pháp tham số:

Phương pháp phân hạng này mang tính định lượng, có thể sử dụng máy

vi tính dễ dàng Tuy nhiên, để đảm bảo độ chính xác và có thể áp dụng thực

tế, cần phải có nhiều dữ liệu đánh giá tin cậy để lập trình và phải áp dụng phân cấp các yếu tố xếp hạng cho từng vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau Theo phương pháp này, hạng đất có thể được xếp bằng cách tính cộng, nhân theo % hoặc cho điểm theo các hệ số và thang bậc quy định Phân hạng đất theo phương pháp này dễ hiểu, dễ ứng dụng với sự hỗ trợ của máy tính, những chỉ

đúng khi phân hạng đất trong phạm vi cùng, không áp dụng được hạng điểm tính ở vùng này sang vùng khác

Đánh giá đất của FAO luôn tiến hành đồng thời với sự phân tích đầy đủ các yếu tố sinh thái như khí hậu, lớp phủ thực bì và ảnh hưởng của quần thể sinh vật (FAO, 1985) [21]

Như vậy, đề cương đánh giá đất của FAO vừa có thể áp dụng cho đánh giá phân hạng đất đai khái quát ở mức độ một quốc gia hay mức độ chi tiết cho một vùng kinh tế, đồng thời có thể đánh giá phân hạng rất chi tiết cho một

đơn vị hay một vùng chuyên canh

Sử dụng đất một cách hiệu quả và bền vững luôn là mong muốn cho sự tồn tại tương lai phát triển của con người Chính vì vậy, việc tìm kiếm các giải pháp

sử dụng đất thích hợp, bền vững đã được nhiều nhà nghiên cứu đất và các tổ

Trang 14

chức quốc tế rất quan tâm và không ngừng hoàn thiện theo sự phát triển của khoa học [6]

Sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền là cơ sở vật chất tất yếu của nền nông nghiệp bền vững cho mọi quốc gia Cũng như nhiều nước đang phát triển trên thế giới, sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam cũng

đang phải đối đầu với tình trạng thiếu đất canh tác do sức ép về gia tăng dân

số, việc khai thác quá mức đối với tài nguyên đất đai, đặc biệt vùng đồi núi đã làm đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thoái hoá Do đó cần thiết phải nhìn nhận một cách đúng mức những hậu quả của việc sử dụng đất và vấn đề môi trường sẽ xảy ra để có những biện pháp hạn chế nhằm giảm nhẹ hậu quả của chúng đối với nguồn tài nguyên đất đai Sử dụng đất bền vững đang trở thành vấn đề mấu chốt để quản lý các nguồn tài nguyên đất đai cho sản xuất nông lâm nghiệp nhằm thay đổi nhanh chóng của xã hội đồng thời cũng duy trì hay cải thiện được môi trường và bảo tồn tài nguyên tự nhiên [20, 12]

Để đáp ứng nhu cầu về lương thực và thực phẩm con người đã tìm mọi cách để khai thác chúng từ nguồn tài nguyên đất đai Mục đích chung của sử dụng đất trong sản xuất là sử dụng đất một cách hợp lý và có khoa học nhằm vừa khai thác, vừa bảo vệ được nguồn tài nguyên đất đai, song trong thực tế cho thấy do thiếu hiểu biết về khoa học, kỹ thuật và do nhận thức về sử dụng

đất còn rất hạn chế đã dẫn tới nhiều vùng đất canh tác đã và đang bị thoái hoá, suy kiệt nghiêm trọng Do diện tích đất thích hợp dành cho mục đích sản xuất nông nghiệp ngày càng giảm, nhằm đáp ứng được nhu cầu về lương thực, con người đã phải mở rộng diện tích đất canh tác trên những vùng đất không thích hợp cho canh tác như đất dốc, đất đồi núi, hậu quả là đã làm cho quá trình rửa trôi, xói mòn đất và quá trình thoái hoá đất diễn ra mạnh mẽ Quá trình thâm canh tăng năng suất cây trồng ở những vùng đất có khả năng với hệ số sử dụng đất từ 2 đến 3 lần trong năm đã lấy đi một lượng lớn chất dinh dưỡng từ

đất, điều này cũng làm cho đất ngày càng giảm độ phì Các loại hình sử dụng

Trang 15

đất không hợp lý, các công thức luân canh không phù hợp với điều kiện tự nhiên cũng là nguyên nhân làm cho đất bị thoái hoá Vì vậy, để bảo vệ nguồn tài nguyên đất cần phải biết sử dụng đất một cách hợp lý và bền vững [3] Hiện nay quan điểm phát triển nông nghiệp bền vững chiếm một vị trí quan trọng và có tính quyết định trong sự nghiệp phát triển chung của xã hội Mục tiêu cơ bản nhất của phát triển nông nghiệp bền vững là phát triển sản xuất một cách hài hoà với điều kiện môi trường để duy trì những nguồn tài nguyên cơ bản cho thế hệ mai sau

Theo định nghĩa của FAO nông nghiệp bền vững bao gồm: "Việc sử dụng, quản lý có hiệu quả nguồn tài nguyên cho nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống của con người, đồng thời giữ gìn, cải thiện tài nguyên thiên nhiên môi trường và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên" (FAO, 1990) [26]

Hiện nay một loại hình sử dụng đất được xem là bền vững phải đạt

được 3 yêu cầu sau:

* Bền vững về kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị trường chấp nhận

* Bền vững về môi trường: Loại hình sử dụng bảo vệ được đất đai, ngăn chặn sự thoái hoá đất và bảo về được môi trường từ nhiên

* Bền vững về xã hội: Thu hút được lao động đảm bảo đời sống xã hội phát triển

Cả 3 yêu cầu trên được sử dụng để xem xét và đánh giá các loại hình sử dụng đất, giúp cho định hướng phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp ở từng vùng sinh thái

Điều quan trọng trong phát triển nông nghiệp bền vững là biết sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất đai, giữ gìn và cải thiện chất lượng môi trường, có hiệu quả kinh tế, năng suất cao và ổn định, tăng cường chất lượng cuộc sống

và hạn chế rủi ro

Trang 16

Mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững là xây dựng một hệ thống ổn

định về mặt sinh thái, có tiềm lực về kinh tế, có khả năng thoả mãn nhu cầu của con người mà không làm suy kiệt đất và không gây ô nhiễm môi trường Nông nghiệp bền vững sử dụng những đặc tính vốn có của cây trồng, vật nuôi, kết hợp với đặc trưng của cảnh quan và cấu trúc trên diện tích đất sử dụng thống nhất

Nông nghiệp bền vững là một hệ thống mà nhờ đó con người có thể tồn tại và phát triển được, sử dụng nguồn tài nguyên phong phú của thiên nhiên

mà không huỷ diệt sự sống của trái đất [2]

2.2.4 Nhận xét chung về các phương pháp đánh giá đất trên thế giới

Các phương pháp được trình bày trên là tiêu biểu cho những xu hướng

đánh giá đất đai đang được áp dụng trên thế giới

* Điểm giống nhau của các phương pháp đánh giá đất:

- Xác định đối tượng đánh giá đất đai là toàn bộ tài nguyên đất của lãnh thổ nghiên cứu

- Quan niệm về đất đai là một thể tự nhiên bao gồm thổ nhưỡng và các yếu tố khác như địa hình, mẫu chất, khí hậu, thuỷ văn, thảm thực vật, động vật

- Đánh giá đất đai gắn liền với mục đích sử dụng nông nghiệp theo nghĩa rộng (bao gồm cả trồng trọt và chăn nuôi)

- Trong khi đánh giá đất đai, chú trọng tất cả các thành phần của đất có

ảnh hưởng thực tế nhất đối với phẩm chất tự nhiên và khả năng sử dụng chúng trong sản xuất, biện pháp sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất và môi trường, đồng thời cũng chú trọng đến các yếu tố vật lý khó khắc phục

- Hệ thống phân vị khép kín cho phép đánh giá từ khái quát đến chi tiết, trên quy mô lãnh thổ quốc gia, vùng, các đơn vị hành chính và cơ sở sản xuất

Trang 17

* Điểm khác nhau giữa các phương pháp:

- Phương pháp đánh giá đất của Mỹ thiên về đánh giá hệ thống cây trồng, về loại sử dụng đất, lấy lợi nhuận tối đa làm mốc để so sánh, phân loại thích nghi đất đai

- Phương pháp đánh giá đất của Liên Xô quan tâm chủ yếu đến các điều kiện tự nhiên của đất đai như: Thổ nhưỡng, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, thảm thực vật, chưa thực sự đi sâu đánh giá các vấn đề kinh tế - xã hội

- Phương pháp đánh giá đất theo FAO: Có sự kết hợp hài hoà của các ưu

điểm của hai phương pháp được trình bày trên, vừa quan tâm đến điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng đất đai, vừa quan tâm đến điều kiện kinh tế - xã hội tác

động đến khả năng sử dụng đất Đánh giá đất của FAO nhằm vào từng loại hình sử dụng đất riêng rẽ nên kết quả nhìn nhận, đánh giá các yếu tố được thể hiện một cách rõ ràng, cụ thể hơn đồng thời có sự quan tâm đến vấn đề bảo vệ

đất, bảo vệ môi trường trong quá trình sử dụng đất

2.3 Nghiên cứu đánh giá đất ở Việt Nam

Từ đầu những năm 1970, Bùi Quang Toản cùng một số cán bộ khoa học của Viện Thổ nhưỡng Nông hoá như Vũ Cao Thái, Đinh Văn Tĩnh, Nguyễn Văn Thân đã thực hiện công tác nghiên cứu đánh giá đất và phân hạng đất ở

23 huyện, 286 HTX và 9 vùng chuyên canh Các kết quả bước đầu đã phục vụ thiết thực cho công tác tổ chức lại sản xuất [10, 14] Từ các kết quả nghiên cứu đó, Bùi Quang Toản đã đề xuất quy trình phân hạng đất đai áp dụng cho các HTX và các cùng chuyên canh gồm 4 bước, các yếu tố chất lượng đất

được chia thành yếu tố thuận và yếu tố nghịch, đất đai được chia thành 4 hạng: Rất tốt, tốt, trung bình và kém Quy trình này đã được áp dụng trong một thời gian dài ở nhiều nơi Tuy nhiên, khía cạnh kinh tế, xã hội và sự tác động tới môi trường vẫn chưa được nghiên cứu sâu [18]

Trang 18

Năm 1983, Tổng cục Quản lý ruộng đất đã ban hành "Dự thảo phương pháp phân hạng đất lúa nước cấp huyện" Theo phương pháp này đất được chia thành 8 hạng, chủ yếu dựa vào năng suất cây trồng, ngoài ra còn sử dụng các chỉ tiêu như độ dày tầng canh tác, địa hình, thành phần cơ giới, độ nhiễm mặn, nhiễm phèn [14]

Vũ Cao Thái và một số tác giả (1989) đã nghiên cứu, xác định độ thích hợp của đất Tây Nguyên với cây cao su, cà phê, chè, dâu tằm trên cơ sở vận dụng các phương pháp phân hạng đất thích hợp của FAO để đánh giá định tính và đánh giá khái quát tiềm năng của đất [15] Với kết quả nghiên cứu đạt

được, đề tài đã đưa ra những tiêu chuẩn đánh giá, phân hạng đất cho từng loại cây trồng Tuy nhiên các chỉ tiêu nghiên cứu thiên về các yếu tố thổ nhưỡng

mà chưa đề cập đến các yếu tố sinh thái và xã hội

Phương pháp đánh giá đất của FAO đã được nhiều nhà khoa học đất Việt Nam bước đầu vận dụng thử nghiệm và đã có những kết quả đóng góp để hoàn thiện từng bước

- Năm 1995, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu đánh giá đất trên phạm vi toàn quốc với 9 vùng sinh thái của cả nước với bản đồ tỷ lệ 1 / 250 000 bằng phương pháp đánh giá

đất của FAO Kết quả đã xác định 372 đơn vị bản đồ đất, 90 loại hình sử dụng

đất chính Bước đầu đã xác định được tiềm năng đất đai của các vùng sinh thái

và khẳng định: "Việc vận dụng nội dung, phương pháp đánh giá đất của FAO theo tiêu chuẩn và điều kiện cụ thể của Việt Nam là phù hợp trong hoàn cảnh hiện nay" [10]

- Nghiên cứu đất vùng đồi núi Tây Bắc và trung du phía Bắc, các tác giả

Lê Duy Thước (1992), Lê Văn Khoa (1993), Lê Thái Bạt (1995) đã có những nhân định tổng quát về quỹ đất của vùng, phân chia đất đai theo các dạng địa hình gồm 6 nhóm và 24 loại đất với đặc điểm phát sinh và sử dụng rất đa dạng "Đánh giá tiềm năng sản xuất nông lâm nghiệp của đất trống đồi núi

Trang 19

trọc tỉnh Tuyên Quang theo phương pháp phân loại đất thích hợp" - Nguyễn Đình Bồng, 1995

- Vùng đồng bằng Sông Hồng với những công trình nghiên cứu của Nguyễn Công Pho, Lê Hồng Sơn (1995), Cao Liêm, Vũ Thị Bình (1992, 1993), Phạm Văn Lăng (1992), Đỗ Nguyên Hải (2000) Trong chương trình nghiên cứu đã vận dụng phương pháp đánh giá đất của FAO thực hiện đánh giá ở mức độ chi tiết trên bản đồ tỷ lệ 1 / 250 000 cho phép đánh giá ở mức độ tổng hợp đến chi tiết phục vụ cho quy hoạch tổng thể vùng đồng bằng Sông Hồng

- Vùng Tây Nguyên có các công trình nghiên cứu của Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng, Nguyên Văn Tân, Đỗ Đình Đài, Nguyễn Văn Tuyên (1995) Kết quả nghiên cứu đã xác định được Tây Nguyên có 3 vùng, 18 tiểu vùng, 54 đơn vị sinh thái nông nghiệp [11]

- Vùng đồng bằng Nam Bộ có các công trình nghiên cứu của Trần An Phong, Phạm Quang Khánh, Vũ Cao Thái (1995) Kết quả cho thấy vùng

đồng bằng Nam Bộ có 54 đơn vị đất đai và 7 loại hình sử dụng đất chính [8, 9]

- Vùng đồng bằng Sông Cửu Long có các công trình nghiên cứu của Trần An Phong, Nguyễn Văn Nhân (1991, 1995) Những nghiên cứu này đã khẳng định: Trong sử dụng đất ở đồng bằng Sông Cửu Long, tài nguyên đất và nước là hai yếu tố chủ yếu khống chế khả năng sử dụng đất [12]

Những nghiên cứu đánh giá đất ở tầm vĩ mô của các tác giả trên có ý nghĩa to lớn trong việc hoàn thiện dần quy trình đánh giá đất đai ở Việt Nam, làm cơ sở cho những định hướng chiến lược về quy hoạch sử dụng đất toàn quốc và các vùng sinh thái lớn Các nghiên cứu đã góp phần đánh giá tiềm năng đất đai, phân tích hệ thống cây trồng hiện tại, xác định khả năng thích nghi đất đai cho các loại hình sử dụng đất, đề xuất phương án sử dụng đất thích hợp với đặc điểm đất đai, các yếu tố kinh tế - xã hội và bảo vệ môi

Trang 20

trường trên quan điểm sử dụng đất bền vững trong điều kiện thực tiễn ở Việt Nam

Song song với những thành tựu lớn đối với vùng, lãnh thổ lớn (phạm vi tỉnh và lớn hơn) thì công tác nghiên cứu đánh giá đất đai với quy mô lãnh thổ hẹp (phạm vi cấp huyện) trong những năm gần đây cũng đang được đẩy mạnh nhằm phục vụ mục tiêu phát triển nông lâm nghiệp theo hướng đa dạng hoá sản phẩm như: "Đánh giá đất và hướng sử dụng đất bền vững trong sản xuất Nông nghiệp của huyện Tiên Sơn - Tỉnh Bắc Ninh" - Đỗ Nguyên Hải, 2000

"Đánh giá đất đai phục vụ quy hoạch sử dụng đất huyện Đại Từ - Tỉnh Thái Nguyên" - Đoàn Công Quỳ, 2000 tuy nhiên hướng phân tích sử dụng bền vững trong đánh giá ở cấp huyện dựa trên cơ sở mối quan hệ: tiềm năng đất

đai - khả năng sử dụng đất và vấn đề duy trì độ phì đất và môi trường cần phải quan tâm nhiều hơn nữa

Từ những vấn đề trên, việc đặt vấn đề nghiên cứu của bản luận văn này nhằm góp phần vào hệ thống các công trình nghiên cứu đánh giá đất đai phục

vụ quy hoạch sử dụng đất trong một điều kiện một huyện cụ thể Đề tài được thực hiện tại huyện Định Hoá - Tỉnh Thái Nguyên, đây là một huyện miền núi

có nền sản xuất nông - lâm nghiệp đặc trưng bởi cây chè Đề tài nghiên cứu các tính chất thổ nhưỡng, tính chất đất đai, điều kiện sinh thái trong mối quan

hệ với loại hình sử dụng đất, đánh giá hiệu quả kinh tế của các hệ thống sử dụng đất, làm căn cứ xây dựng những định hướng đúng đắn trong quy hoạch

sử dụng đất nông nghiệp của huyện trong tương lai

Trang 21

3 Nội dung nghiên cứu

3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng

- Toàn bộ các loại đất (thổ nhưỡng), các yếu tố sinh thái nông nghiệp, các điều kiện kinh tế - xã hội liên quan đến sử dụng đất và phát triển nông nghiệp của huyện Định Hoá - Tỉnh Thái Nguyên

- Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện Định Hoá

3.1.2 Phạm vi:

- Nghiên cứu đánh giá đất nông nghiệp của huyện Định Hoá

3.2 Nội dung nghiên cứu:

- Điều tra, thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện có sự liên quan đến sử dụng đất nói chung và ảnh hưởng đến sử dụng

đất nông nghiệp nói riêng

- Điều tra hiện trạng sử dụng đất huyện Định Hoá

- Điều tra, phân loại các loại hình sử dụng đất chính của huyện theo FAO để xác định đặc tính và tính chất của các loại đất có liên qua đến đánh giá đất

- Xác định và phân cấp các chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai

- Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai

- Xác định các loại hình sử dụng đất phổ biến

- Phân hạng mức độ thích hợp của loại hình sử dụng đất được lựa chọn

- Phân tích đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sử dụng đất nông nghiệp và xác định tiềm năng đất nông nghiệp

- Định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Định Hoá

3.3 Phương pháp nghiên cứu

Trang 22

* Điều tra, thu thập các tài liệu, số liệu sẵn có ở phòng Tài nguyên & Môi trường (Phòng Địa chính cũ) huyện Định Hoá - Tỉnh Thái Nguyên

* Điều tra, phỏng vấn hộ nông dân về tình hình sản xuất, mức độ đầu tư thâm canh, kết quả sản xuất trên các loại hình sử dụng đất khác nhau theo mẫu biểu điều tra

* Đánh giá đất thích hợp theo FAO

- Chồng ghép các bản đồ đơn tính bằng kỹ thuật GIS (Geographic Information System) để xây dựng bản đồ đơn vị đất (Land Mapping Units - LMU)

- Nghiên cứu lựa chọn các loại hình sử dụng đất dựa trên cơ sở đặc tính của các loại hình sử dụng đất và theo yêu cầu sử dụng đất

- Phân hạng thích hợp đất đai theo cấu trúc phân hạng đất của FAO

* Đánh giá khả năng sử dụng đất bền vững qua 3 vấn đề:

- Bền vững về mặt kinh tế: Các cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao

- Bền vững về mặt xã hội: Các cây trồng thu hút được nhiều lao động,

đáp ứng được mong muốn của người dân

- Bền vững về môi trường: Cải thiện và giữ vững độ phì nhiêu trong đất,

ổn định môi trường đất nông nghiệp

* Xử lý số liệu: Các số liệu thu thập được xử lý bằng các phần mềm như: MS Excel, MS Word, MapInfo

Trang 23

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

4.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội

4.1.1 Đặc điểm tự nhiên

4.1.1.1 Vị trí địa lý

Định Hoá là một huyện miền núi nằm ở phía Tây - Tây Bắc của tỉnh Thái Nguyên, huyện có đương quốc lộ 245 chạy qua và cách thành phố Thái Nguyên 50km

- Phía Đông giáp huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên và huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn

- Phía Tây giáp huyện Yên Sơn và huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang

- Phía Nam giáp huyện Đại Từ và huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên

- Phía Bắc giáp huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn

4.1.1.2. Địa hình, địa mạo

Địa hình của huyện thấp dần về phía Nam, được chia thành 3 tiểu vùng:

- Tiểu vùng 1 (vùng phía Bắc gồm 8 xã): Linh Thông, Quy Kỳ, Lam

Vỹ, Tân Thịnh, Bảo Linh, Kim Sơn, Kim Phượng và Tân Dương, với đặc điểm

được đặc trưng là núi cao, đất lâm nghiệp chiếm ưu thế do đó diện tích đất nông nghiệp ở đây phân tán

- Tiểu vùng 2 (vùng trung tâm gồm 7 xã): Phúc Chu, TT Chợ Chu, Định

Biên, Đồng Thịnh, Bảo Cường, Phượng Tiến, Trung Hội, với địa hình bằng phẳng, đất đai màu mỡ, đây là vùng sản xuất lúa trọng điểm của huyện Có xen lẫn núi đá vôi

- Tiểu vùng 3 (vùng phía Nam gồm 9 xã): Thanh Định, Bình Yên,

Trung Lương, Điềm Mặc, Phú Tiến, Phú Đình, Sơn Phú, Bộc Nhiêu, Bình Thành, vùng này chủ yếu là đất đồi gò xen kẽ, là vùng trọng điểm phát triển cây công nghiệp

Trang 24

4.1.1.3 Khí hậu

Mặc dù điều kiện địa hình phức tạp bởi có 3 tiểu vùng khác nhau nhưng

điều kiện khí hậu tương đối đồng nhất

Nhiệt độ trung bình lạnh nhất trong năm vào tháng 1 (150 C), nhiệt độ trung bình nóng nhất vào tháng 7 (28,10 C)

Mùa đông ở Định hoá có xuất hiện sương muối, tuy nhiện chưa thấy xuất hiện tuyết rơi hoặc nước đóng băng Biên độ nhiệt độ giữa ngày và đêm khá lớn do có dãy núi đã vôi chạy theo chiều dài của huyện

Lượng mưa, số giờ nắng, ẩm độ tương đối trong năm phản ánh rõ nét khí hậu nhiệt đới gió mùa Lượng mưa hàng năm khoảng 1718.9mm, tập trung chủ yếu từ tháng 7 đến tháng 9 Mùa khô hanh kéo dài 4 tháng ( Từ tháng 11

đến tháng 2 năm sau), những tháng mưa nhiều nhất là tháng 7, 8 (trung bình 336.6 - 368mm) còn lại các tháng có lượng mưa trung bình trên 50mm

4.1.1.4 Thuỷ văn

Trên địa bàn Huyện Định Hoá có 3 hệ thống sông chính:

+ Hệ thống sông Chợ Chu: Bắt nguồn từ xã Bảo Linh, Quy Kỳ chảy qua xã Tân Dương, thị trấn Chợ Chu rồi chảy sang huyện Bạch Thông (Tỉnh Bắc Kạn)

- Tổng diện tích lưu vực: 437km2

- Tổng dòng chảy bình quân: 4,4 x 106 m3/s

- Lưu lượng bình quân năm: 3,06m3

- Lưu lượng mùa kiệt: 1,52 - 3,57 m3/s

+ Hệ thống sông Công: Thuộc địa phận xã Phú Đình chảy qua xã Bình Thành rồi chảy sang huyện Đại Từ

Trang 25

+ Hệ thống sông Đu: Thuộc địa phận xã Bộc Nhiêu chảy qua xã Phú Tiến rồi chảy sang huyện Phú Lương

Dựa trên bản đồ thổ nhưỡng được xây dựng năm 1985 và thuyết minh

bản đồ của tỉnh Thái Nguyên, huyện Định Hoá có 9 loại đất chính như sau:

1 Đất phù sa: Diện tích 2224,00ha phân bố dọc theo các triền suối, tập trung nhiều ở các xã: Lam Vỹ, Kim Phượng, Tân Dương, TT Chợ Chu, Đồng Thịnh, Bảo Cường

2 Đất dốc tụ: Diện tích 4614,00ha phân bố hầu hết ở các xã: Linh Thông, Quy Kỳ, Lam Vỹ, Tân Thịnh, Bảo Linh, Phúc Chu, Kim Sơn, Kim Phượng, Tân Dương, Định Biên, Đồng Thịnh, Bảo Cường, Phượng Tiến, Thanh Định, Trung Hội, Bình Yên, Trung Lương, Điềm Mặc, Phú Tiến, Phú

Đình, Sơn Phú, Bộc Nhiêu, Bình Thành

3 Đất Feralit trên phù sa cổ: Diện tích 448,00ha phân bố ở các xã Tân Thịnh, Kim Phượng, Trung Hội, Phú Tiến, Đồng Thịnh, Thanh Định, Định Biên

4 Đất Feralit trên đá Macma axit: Diện tích 25392,00ha phân bố ở các xã Linh Thông, Quy Kỳ, Kim Sơn, Kim Phượng, Phúc Chu, TT Chợ Chu, Bảo Cường, Thanh Định, Đồng Thịnh, Phú Tiến, Trung Hội, Sơn Phú, Trung Lương, Bình Yên, Điềm Mặc, Phú Đình

5 Đất Feralit trên phiến thạch sét: Diện tích 1338,20ha phân bố ở các xã Linh Thông, Lam Vỹ, Tân Dương, Phượng Tiến, Phú Tiến

Trang 26

6 Đất Feralit trên đá cát: Diện tích 739,00ha phân bố ở các xã Bảo Linh, Thanh Định, Định Biên, Bình Thành

7 Đất Feralit trên đá biến chất: Diện tích 12768,00ha phân bố ở các xã Quy Kỳ, Tân Thịnh, Tân Dương, Phượng Tiến, Bộc Nhiêu

8 Đất Feralit trên đá Macma trung tính: Diện tích 383,30ha phân bố ở các xã Linh Thông, Lam Vỹ, Bảo Linh, Trung Hội, Sơn Phú, Bình Thành

9 Đất Feralit trên đá vôi: Diện tích 115,00ha phân bố ở xã Phú Tiến, Tân Dương

4.1.1.7 Tài nguyên khoáng sản

Trong huyện có nguồn đá vôi để sản xuất nguyên vật liệu xây dựng và

có thể khai thác cát sỏi để phục vụ xây dựng Ngoài ra chưa có tài liệu điều tra nào cho biết trong lòng đất Định Hoá có các mỏ khoáng sản

4.1.1.8 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên

Với điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của huyện như đã nêu

ở trên, về quy hoạch sử dụng đất của huyện cần chú ý giải quyết một số vấn về sau đây nhằm khai thác những thuận lợi và khắc phục những hạn chế về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên thiên của huyện

- Với nguồn thổ nhưỡng nêu trên, cần có những biện pháp sử dụng và cải tạo đất hợp lý nhằm tạo ra một sức sản xuất mới, đa dạng hoá cây trồng,

ổn định, bền vững và hợp lý

- Chế độ nhiệt phong phú, độ ẩm tương đối khá, quy hoạch sử dụng đất cần tận dụng ưu thế này để bố trí đa dạng hoá cây trồng nâng cao hiệu quả sử

Trang 27

dụng đất Tuy nhiên, do lượng mưa phân bố không đều, về mùa mưa lượng mưa

lớn thường gây ra lũ lụt, ách tắc giao thông Do vậy cần cố biện pháp bố trí hệ thống cây trồng phù hợp, tránh được lũ quét ở vùng thấp và hạn chế được rửa trôi xói mòn ở vùng đồi núi có độ dốc cao

- Tỷ lệ che phủ thảm thực vật hiện nay trong huyện tương đối khá nhưng vẫn còn nhiều đồi núi trọc, cần tổ chức giao đất giao rừng cho hộ gia

đình, tổ chức trồng , khoanh nuôi bảo vệ để tăng độ che phủ

4.1.2 Thực trạng phát triển KT - XH

4.1.2.1 Tăng trưởng về kinh tế

Nền kinh tế Định Hoá về cơ bản vẫn là nền kinh tế nông nghiệp Tốc độ

tăng trưởng kinh tế trong những năm qua của huyện đạt từ 5% đến 7% năm

Tổng sản lượng lương thực quy thóc cả năm đạt 30357,60 tấn

+ Chăn nuôi

Trong những năm qua tình hình dịch bệnh tương đối ổn định Năm

2003

hướng phát triển chăn nuôi của huyện tăng cả về số lượng lẫn chất lượng

- Đàn trâu 14842 con, trong đó cày kéo 12611 con

- Đàn bò 1159 con

- Đàn lợn 36683 con, trong đó lợn nái 2016 con, lợn thịt 34667 con, sản lượng thịt xuất chuồng 1017 tấn

Trang 28

- Đàn gia cầm 455724 con, trong đó gà 381355 con, vịt ngan ngỗng

74369 con

- Đàn dê 3500 con

Lâm nghiệp

Uỷ ban nhân huyện đã tổ chức giám sát việc thực hiện luật bảo vệ rừng

và phát triển rừng trên địa bàn huyện; đồng thời tập trung các nguồn vốn để trồng mới, khoanh nuôi, tái sinh, khoán bảo vệ rừng theo các dự án 327, 135,

611, xoá đói giảm nghèo, định canh định cư v.v

Hiện nay toàn huyện đất lâm nghiệp có rừng hiện có 20083,86 ha

Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chủ yếu chỉ có xưởng đũa và nhà máy chè của công ty chè Kim Anh Ngoài ra, còn một số cơ sở nhỏ bé và do tư nhân

đảm nhận, tập trung ở một số nghề truyền thống như rèn, mộc, xay xát, sản xuất nguyên vật liệu và khai thác cát sỏi

lâm

Du lịch gắn liền với các di tích lịch sử cách mạng đã hình thành những vẫn là sơ khai ban đầu, hiện nay mới chỉ có ở xã Phú đình

Cơ sở hạ tầng

Trang 29

Trong những năm qua, cơ chế quản lý được cải tiến, với phương châm

sử dụng kết hợp và tranh thủ mọi nguồn vốn đầu tư, trên địa bàn huyện đã xây dựng được một số công trình phục vụ cho sản xuất và đời sống của đồng bào

Về xây dựng, huyện đã chủ động thu hút các nguồn vốn để xây dựng cơ

sở hạ tầng như trường học, trạm xá xã, trụ sở UBND của một số xã, xây dựng các công trình công cộng ; Dự án quy hoạch thị trấn Chợ Chu đã được phê duyệt, hiện nay đang bước vào giai đoạn thi công

Giao thông

Được sự hỗ trợ của Nhà nước, tỉnh, các tuyến giao thông chính thường xuyên được tu bổ, sửa chữa Trên địa bàn huyện có: đường 254 dài 37 km,

đường liên huyện, liên xã dài 158 km, đường liên xóm dài khoảng 525 km,

đường trong khu dân cư dài khoảng 130 km Diện tích chiếm đất 277,01 ha Trong những năm qua huyện đã huy động mỗi năm hàng vạn ngày công lao

động xã hội để làm giao thông nông thôn Do đó đến nay các tuyến đường liên thôn, liên xã, liên huyện được nâng cấp, sửa chữa, việc đi lại vận chuyển hàng hoá trên địa bàn huyện được cải tiến một bước Tạo điều kiện góp phần phát triển kinh tế - xã hội nông thôn Nhưng cũng đã đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết trong công tác quy hoạch, quản lý đất đai

Thuỷ lợi

Trên địa bàn huyện có: 243 công trình, trong đó có 52 hồ, 187 phai đập dâng nước và hàng ngàn km kênh chính, kênh phụ và mương nội đồng Năng lực thiết kế tưới 3.560 ha, thực tế tưới đạt 2.448 ha Diện tích chiếm đất 243,09ha

Nhìn chung trong những năm qua huyện đã chú ý đến việc đầu tư sửa chữa nâng cấp các công trình, nên hầu hết các công trình thuỷ lợi đều phát huy tác dụng tốt, đảm bảo diện tích được tưới ổn định

Trường học, trạm xá

Trang 30

Với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, trong những năm qua phong trào đầu tư xây dựng trường học, trạm y tế đã được phát triển rộng khắp ở các xã trong huyện Nhưng do điều kiện nguồn thu ngân sách của huyện rất hạn hẹp, nên việc xây dựng chưa đảm bảo được nhu cầu học tập, khám chữa bệnh của đồng bào, nhất là những xã vùng sâu vùng xa

Hiện nay trên địa bàn huyện đã có trường học nội trú, trường học phổ thông trung học, các xã đều có trường tiểu học và trường trung học cơ sở, nhìn chung ở cấp xã còn rất thiếu các lớp học đủ tiêu chuẩn và các cơ sở giáo dục

Theo số liệu thống kê có đến đầu năm 2004, toàn huyện có 88019 khẩu,

35729 lao động và 19875 hộ gia đình, trong đó: khu vực nông thôn 82043 khẩu 34327 lao động và 18288 hộ gồm các dân tộc: Tày, Kinh, Sán Chỉ, Nùng, Dao, Hoa, Cao Lan, San Chù, Mông, Mường, Pà Thén, Thác, Flăng, Khơ Me, Dáy và HRÊ Đa số là dân tộc Tày, chiếm tới 49,23% dân số

Mật độ dân số bình quân 176 người/km2 Tỷ lệ phát triển dân số bình quân toàn huyện đạt khoảng 0,96%

Lao động và việc làm

Toàn huyện có 35729 lao động chiếm khoảng 40,59% dân số Việc làm chủ yếu mang đặc thù của sản xuất nông nghiệp, có tính chất thời vụ là chính

Thu nhập và mức sống

Trang 31

Thu nhập bình quân đầu người về lương thực đạt: 345 kg/người/năm Mức sống theo số liệu điều tra đến hết năm 2003 toàn huyện có:

4.1.3 Hiện trạng sử dụng đất đai

Trên cơ sở tổng hợp,- phân tích đánh giá về tài liệu thống kê sử dụng

đất của 24 đơn vị hành chính trên địa bàn huyện và kết quả điều tra bổ sung tại thực địa ở tất cả các xã trong huyện Chúng tôi rút ra một số vấn đề về hiện trạng sử dụng đất đai của huyện như sau:

Huyện Định Hoá có tổng diện tích tự nhiên là 50.082 ha, hiện nay đã sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế - xã hội của huyện là 30.541 ,37 ha, chiếm 60,99% tổng quỹ đất, trong đó:

Đất Nông nghiệp : 8.991,72 ha chiếm 17,96% diện tích tự nhiên

Đất Lâm nghiệp : 20.083,86 ha chiếm 40,10% diện tích tự nhiên

Đất Chuyên dùng : 764,04 ha chiếm 1,53% diện tích tự nhiên

Đất ở : 701,75 ha chiếm 1 ,40% diện tích tụ nhiên

Đất Chưa sử dụng : 19.540,63 ha chiếm 39,01% diện tích tự nhiên

Trang 32

Từ thực trạng về quản lý đất đai và tình hình sử dụng các loại đất của huyện trong những năm qua, cho phép rút ra một số vấn đề sau:

- Sản xuất nông, lâm nghiệp là hai ngành sản xuất chính của huyện Đất

đai đ−ợc khai thác chủ yếu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp, tuy nhiên hiện nay việc sử dụng hai loại đất này hiệu quả ch−a cao, giá trị sản l−ợng thu đ−ợc trên 1 ha đất nông nghiệp, nhất là trên đất lâm nghiệp còn thấp, hệ số sử dụng đất canh tác ch−a cao

- Với đặc điểm là một huyện miền núi, đất dốc chiếm tỷ lệ lớn Nh−ng hiện nay diện tích đất đồi dốc đ−ợc sử dụng vào các mục đích phát triển kinh tếcòn ít so với tiềm năng, đất đồi núi ch−a sử dụng còn nhiều Trong thời gian tới cần đầu t− và lựa chọn cơ cấu cây trồng phù hợp để đ−a các diện tích đất dốc hiện ch−a sử đụng vào sản xuất, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của

huyện

Trang 33

Bảng 4.1 Hiện trạng sử dụng các loại đất theo đơn vị hành chính

Đất Lâm nghiệp

Đất Chuyên dùng

Đất ở nông thôn

Đất ở đô thị

Đất ch−a sử dụng

Trang 34

Bảng 4.2 Cơ cấu hiện trạng sử dụng đất năm 2003

Đơn vị tính: ha

Đất đã giao, cho thuê phân theo đối t−ợng sử dụng Loại đất Tổng số

Tổng diện tích gia đình Hộ

cá nhân

Các

Tổ chức Kinh tế

Đất ch−a giao cho thuê

sử dụng 1=2=8 2=3+ +7 3 4 6 7 8

1 Đất bằng ch−a sử dụng 43.72 43.72

2 Đất đồi núi CSD 15273.85 15273.85

Trang 35

4.2 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai

4.2.1 Khái niệm về đơn vị bản đồ đất đai

Đơn vị bản đồ đất đai (Land Mapping Unit - LMU) là một thành phần của hệ thống sử dụng đất trong đánh giá đất đai Đơn vị bản đồ đất là một khoanh đất được xác định cụ thể trên bản đồ đơn vị đất đai với những đặc tính

và tính chất đất đai riêng biệt thích hợp đồng nhất cho từng loại hình sử dụng

đất, có cùng một điều kiện quản lý đất, có cùng một khả năng sản xuất và cải tạo đất Mỗi đơn vị đất đai có đặc tính và tính chất riêng và nó thích hợp với một loại hình sử dụng đất nhất định (FAO, 1983) Tập hợp các đơn vị bản đồ

đất đai trong vùng đánh giá đất được thể hiện bằng bản đồ đơn vị đất đai Bản

đồ đơn vị đất đai được xây dựng trên cơ sở tuân thủ các chỉ dẫn sau đây:

- LMU cần đảm bảo tính đồng nhất tối đa hoặc các chỉ tiêu phân cấp phải được xác định rõ

- LMU phải có ý nghĩa thực tiễn cho các loại hình sử dụng đất và được lựa chọn

- LMU phải được thể hiện trên bản đồ

- LMU phải được xác định một cách đơn giản dựa trên những kết quả

điều tra thực tiễn

- LMU phải có các đặc tính và tính chất khá ổn định và chúng là cơ sở cho việc so sánh và đối chiếu với các yêu cầu của từng loại hình sử dụng trong

đánh giá thích hợp

Các đơn vị bản đồ đất đai được xác định theo phương pháp tổng hợp nhiều loại bản đồ thể hiện các đặc tính và tính chất khác nhau của đất gọi là các bản đồ đơn tính Các đơn vị bản đồ đất được xác định thông qua việc chồng ghép các bản đồ đơn tính đó Các bản đồ đơn tính được sử dụng ở đây

là bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ địa hình, độ dốc, bản đồ chế độ nước, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ khí hậu

Trang 36

Việc lựa chọn các chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai là rất quan trọng, nó không những đảm bảo tính chính xác của kết quả thu được mà còn phản ánh đúng các nhu cầu sử dụng đất cho các loại sử dụng đất và điều kiện

đất đai trong hệ thống sử dụng đất Cơ sở lựa chọn các chỉ tiêu xây dựng bản

đồ đơn vị đất đai là tuỳ thuộc vào mục đích, yêu cầu và phạm vi sử dụng của chương trình đánh giá đất đai

4.2.2 Xác định các chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai

Theo FAO, để đánh giá các đặc tính đất có thể sử dụng các yếu tố như: Tính chất của đất (loại đất, các tính chất vật lý, hoá học của đất), các đặc tính

về địa hình (độ dốc, dáng đất, địa hình tương đối, độ cao), các tính chất về nước (tình hình tưới, tiêu, ngập úng), các tính chất về khí hậu (lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ), tính chất của thực vật và động vật, vị trí địa lý [1] ở những vùng địa lý khác nhau, các yếu tố có ảnh hưởng không giống nhau đến mức sản xuất và khả năng sử dụng đất Có những yếu tố ảnh hưởng rất mạnh nhưng có những yếu tố ảnh hưởng không đáng kể tới khả năng khai thác có hiệu quả đất đai Do đó vấn đề cần đặt ra là căn cứ vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của vùng nghiên cứu mà xác định một bộ chỉ tiêu có ảnh hưởng quyết định đến khả năng sử dụng đất hợp lý và có hiệu quả cao, sao cho kết quả đánh giá đất đạt được độ tin cậy, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn sản xuất, phù hợp với trình độ phát triển và quản lý xã hội

Xuất phát từ điều kiện thực tế của huyện Định Hoá tỉnh Thái Nguyên, là một huyện miền núi với đặc điểm thổ nhưỡng, địa hình, khí hậu, hiện trạng sử dụng đất và hệ thống thuỷ lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp mang đặc trưng cơ bản của vùng đồi núi cho nên chúng tôi lựa chọn 6 chỉ tiêu phân cấp

để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai đó là: Loại đất, độ dốc, địa hình tương đối,

độ dày tầng đất, thành phần cơ giới đất và chế độ tưới

Lý do lựa chọn các chỉ tiêu trên:

Trang 37

- Loại đất có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây trồng Do các loại đất được hình thành từ nhiều loại đá mẹ khác nhau nên đất có độ dày và các tính chất ảnh hưởng khác nhau đến khả năng đến khả năng sản xuất nông nghiệp và thâm canh trong vùng Mỗi loại cây trồng chỉ thích hợp với một số loại đất nhất định

- Địa hình là yếu tố chi phối mạnh đến quá trình hình thành đất, trên các loại địa hình khác nhau hình thành các loại đất khác nhau Địa hình có

ảnh hưởng đến các tính chất của đất như: tiểu khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ), chế độ nước, chế độ gió Độ dốc và độ cao tuyệt đối là những yếu tố địa hình quan trọng cần được nghiên cứu vì chúng có ảnh hưởng lớn tới khả năng trồng các loại cây, tới hiệu quả kinh tế và vấn đề bảo vệ đất chống xói mòn

- Độ dày tầng đất, thành phần cơ giới, chế độ tưới là những yếu tố quan trọng, có ảnh hưởng lớn tới khả năng sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng khác nhau, tới điều kiện canh tác và hiệu quả kinh tế

4.2.3 Phân cấp các chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai

* Loại đất: Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, đất của huyện Định Hoá

được phân thành 9 loại đất sau:

5 Đất Feralit trên đá macma axit 1338,20

6 Đất Feralit trên đá macma trung tính 739,00

7 Đất Feralit trên phiến thạch sét 12768,00

8 Đất Feralit trên đá biến chất 383,30

Trang 38

Đối với loại đất Feralit trên đá vôi do phần lớn diện tích của loại đất này

có độ dốc lớn hơn 250, hiện đang sử dụng cho lâm nghiệp nên ở phần dưới

chúng tôi không đưa loại đất này vào bảng phân cấp các chỉ tiêu xây dựng bản

Do đất có độ dốc > 250 hiện nay chỉ dùng cho lâm nghiệp vì vậy chúng

tôi không dùng cấp độ này để xác định các đơn vị đất đai

* Địa hình tương đối: Được phân làm 4 cấp như sau

* Độ dày tầng đất: Theo kết quả điều tra của Bản đồ thổ nhưỡng huyện

Trang 39

* Thành phần cơ giới: Thành phần cơ giới đất được chia thành 3 cấp:

Thành phần cơ giới Diện tích (ha)

2 Trung bình Thịt nhẹ, thịt trung bình 16786,00

* Chế độ tưới: Mặc dù có địa hình phức tạp những nhờ có 3 con sông

(sông Đu, sông Công, sông Chợ Chu) và hệ thống kênh mương tương đối hoàn chỉnh nên việc cung cấp nước tưới cho đất canh tác tương đối tốt ở các xã vùng thấp Tuy nhiên đối với các xã vùng cao điều kiện tưới chủ yếu là nhờ vào nước trời và chỉ canh tác một vụ và bỏ hoá do không được tưới Vì vậy chế

độ tưới được chia thành 3 cấp:

Tưới chủ động Điều tiết nước dễ dàng 3624,00

Tưới hạn chế Điều tiết nước khó khăn 8079,00

Tưới nhờ nước trời Điều tiết nước quá khó khăn 38379,00

1 Chế độ tưới chủ động: Điều tiết nước dễ dàng, tập trung trên những diện tích đất có địa hình bằng phẳng, độ dốc dưới 80, nước tưới được bơm trực tiếp từ các trạm bơm đầu nguồn đến các hệ thông kênh mương tưới, tiêu theo hình thức tự chảy

2 Chế độ tưới hạn chế: Điều tiết nước tưới khó khăn do các khu ruộng

có địa hình cao hoặc phân bố ở những nơi có địa hình phức tạp, các trạm bơm

đầu nguồn không thể cung cấp nước trực tiếp đến ruộng mà phải dựa vào các trạm bơm nhỏ kết hợp với tát nước của người dân

3 Chế độ tưới nhờ nước trời: Chế độ canh tác hoàn toàn phụ thuộc vào nước trời, phân bố chủ yếu ở những nơi có địa hình cao, đất dốc, các nương rẫy hoặc đồi núi trồng các loại như: lúa nương, ngô, sắn, cây ăn quả và cây công nghiệp lâu năm

Trang 40

Bảng 4.3 Phân cấp các chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai

Đất Feralit trên phù sa cổ G3

Đất Feralit trên đá macma axit G4

Đất Feralit trên phiến thạch sét G5

pháp chồng ghép, chúng tôi xây dựng đ−ợc bản đồ đơn vị đất đai cho huyện

Đinh Hoá, kết quả tổng hợp đ−ợc thể hiện ở bảng 4.4

Ngày đăng: 02/08/2013, 13:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1  Hiện trạng sử dụng các loại đất theo đơn vị hành chính - Luận văn đánh giá đất nông nghiệp phục vụ công tác định hướng quy hoạch sử dụng đất huyện định hoá tỉnh thái nguyên
Bảng 4.1 Hiện trạng sử dụng các loại đất theo đơn vị hành chính (Trang 33)
Bảng 4.2  Cơ cấu hiện trạng sử dụng đất năm 2003 - Luận văn đánh giá đất nông nghiệp phục vụ công tác định hướng quy hoạch sử dụng đất huyện định hoá tỉnh thái nguyên
Bảng 4.2 Cơ cấu hiện trạng sử dụng đất năm 2003 (Trang 34)
Bảng 4.5 Phân cấp mức độ đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất đai - Luận văn đánh giá đất nông nghiệp phục vụ công tác định hướng quy hoạch sử dụng đất huyện định hoá tỉnh thái nguyên
Bảng 4.5 Phân cấp mức độ đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất đai (Trang 50)
Bảng 4.6 Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất trên 1ha - Luận văn đánh giá đất nông nghiệp phục vụ công tác định hướng quy hoạch sử dụng đất huyện định hoá tỉnh thái nguyên
Bảng 4.6 Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất trên 1ha (Trang 51)
Bảng 4.7 Hạch toán hiệu quả KT của các LUT tính trung bình trên 1 ha - Luận văn đánh giá đất nông nghiệp phục vụ công tác định hướng quy hoạch sử dụng đất huyện định hoá tỉnh thái nguyên
Bảng 4.7 Hạch toán hiệu quả KT của các LUT tính trung bình trên 1 ha (Trang 52)
Bảng 4.8  Yêu cầu sử dụng đất của các loại hình sử dụng đất - Luận văn đánh giá đất nông nghiệp phục vụ công tác định hướng quy hoạch sử dụng đất huyện định hoá tỉnh thái nguyên
Bảng 4.8 Yêu cầu sử dụng đất của các loại hình sử dụng đất (Trang 57)
Bảng 4.9 Diện tích mức độ thích hợp hiện tại của các LUT - Luận văn đánh giá đất nông nghiệp phục vụ công tác định hướng quy hoạch sử dụng đất huyện định hoá tỉnh thái nguyên
Bảng 4.9 Diện tích mức độ thích hợp hiện tại của các LUT (Trang 60)
Bảng 4.10 Tổng hợp diện tích mức độ thích hợp hiện tại của các LUT - Luận văn đánh giá đất nông nghiệp phục vụ công tác định hướng quy hoạch sử dụng đất huyện định hoá tỉnh thái nguyên
Bảng 4.10 Tổng hợp diện tích mức độ thích hợp hiện tại của các LUT (Trang 61)
Bảng 4.12  Diện tích mức độ thích hợp tương lai của các LUT - Luận văn đánh giá đất nông nghiệp phục vụ công tác định hướng quy hoạch sử dụng đất huyện định hoá tỉnh thái nguyên
Bảng 4.12 Diện tích mức độ thích hợp tương lai của các LUT (Trang 65)
Bảng 4.14 So sánh mức độ thích hợp hiện tại & tương lai của các LUT - Luận văn đánh giá đất nông nghiệp phục vụ công tác định hướng quy hoạch sử dụng đất huyện định hoá tỉnh thái nguyên
Bảng 4.14 So sánh mức độ thích hợp hiện tại & tương lai của các LUT (Trang 67)
Bảng 4.15  Đề xuất sử dụng đất nông nghiệp - Luận văn đánh giá đất nông nghiệp phục vụ công tác định hướng quy hoạch sử dụng đất huyện định hoá tỉnh thái nguyên
Bảng 4.15 Đề xuất sử dụng đất nông nghiệp (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w