Luận văn đánh giá chất lượng của ngọn lá mía sau khi xử lý để chăn nuôi bò thịt
Trang 11 Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, với chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển, đời sống của nhân dân ngày một nâng cao, nhu cầu người dân về chất lượng lương thực thực phẩm cũng tăng Các ngành chăn nuôi, trồng trọt cũng được chú trọng và đang trên đà phát triển mạnh Nhưng theo niên giám thống kê 1996 thì nước ta có diện tích đất nông nghiệp tính theo đầu người rất thấp chỉ khoảng 0,1 ha/người Bình quân lương thực chưa cao 360 kg/người/năm Vì vậy, lương thực dành cho chăn nuôi còn rất hạn chế
Việc sử dụng các phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho gia súc, góp phần tạo thêm nguồn thức ăn và làm cho sự bền vững trong hệ thống sản xuất nông nghiệp đã và đang được các nhà khoa học quan tâm Thực tế cho thấy vẫn còn một lượng lớn phụ phẩm nông nhiệp như: rơm, lúa, thân cây ngô đã thu bắp, ngọn lá sắn, ngọn lá mía, dây khoai lang, dây lạc… chưa được tận dụng và chế biến làm thức ăn cho gia súc nhai lại vào mùa đông khan hiếm thức ăn Việc sử dụng các phụ phẩm làm thức ăn cho gia súc nhai lại ở mỗi vùng, mỗi khu vực có tính đặc thù riêng Có những vùng chỉ sử dụng một phần nhỏ rơm, lúa, thân cây ngô đã thu bắp, dây khoai lang, ngọn lá mía, cây lạc… cho bò ăn còn phần lớn bỏ lại ngoài ruộng, nhưng có vùng lại sử dụng chúng làm nguồn thức ăn cho gia súc quan trọng vào mùa đông
Trong các phụ phẩm nông nghiệp có ngọn lá mía, cây mía (Saccharum officinarum L) là một trong những cây trồng nhiệt đới có năng suất sinh khối
cao nhất Brown et at (1987), Alexander (1988), Sansoucy, Aart Preston (1988) Golh (1993) Những vùng trồng mía thường có tiềm năng phát triển bò, đồng thời đất trồng mía ở nước ta đòi hỏi phải được bón phân hữu cơ để giữ độ phì
Trang 2cho đất Vì vậy việc nghiên cứu chế biến, dự trữ và sử dụng ngọn lá mía làm thức ăn cho bò là một vấn đề cần thiết Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi thực
hiện đề tài: “Đánh giá chất lượng của ngọn lá mía sau khi xử lý để chăn
- Khuyến cáo cho các hộ nông dân chăn nuôi bò cách sử dụng ngọn lá mía
đã được xử lý để thay thế một phần thức ăn tinh trong khẩu phần của bò thịt
1.2.2 Yêu cầu
- Lấy mẫu ngọn lá mía phân tích khách quan đúng qui định
- Tiến hành xử lý ngọn lá mía với các công thức chế biến khác nhau
- Phân tích các chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng của ngọn lá mía sử dụng cho bò thịt
- Theo dõi ảnh hưởng của khẩu phần ăn có ngọn lá mía đến tăng khối lượng của bò thịt
- Hạch toán kinh tế về việc sử dụng ngọn lá mía ủ chua dùng chăn nuôi bò thịt
Trang 32 Tổng quan tài liệu
2.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hoá của bò
2.1.1 Cấu tạo của dạ dày bò
Dạ dày của bò là dạ dày kép gồm có 4 túi: dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách, dạ múi khế
Dạ cỏ là dạ đặc trưng tiêu hoá thức ăn thô xanh của bò Nó chiếm 2/3 dung tích của dạ dày có rãnh thực quản hình lòng máng chạy băng qua dạ tổ ong và dạ cỏ vào dạ lá sách Dạ lá sách gồm nhiều lá to nhỏ khác nhau như những trang sách để dễ ép thức ăn lỏng xuống dạ múi khế Dạ múi khế có nhiều nếp gấp trong để tăng thêm diện tích hấp thu và có tuyến tiêu hoá như dạ dày đơn của lợn Trong tất cả 4 túi thì quan trọng nhất là túi dạ cỏ Vì dạ cỏ có một quần thể vi sinh vật rất lớn, sống cộng sinh mà nhờ đó loài nhai lại có khả năng độc đáo so với các gia súc khác, đó là khả năng tiêu hoá chất xơ Dạ cỏ chiếm 80% tổng dung tích dạ dày, dạ tổ ong 5%, dạ múi sách và dạ múi khế
đều chiếm 7 - 8%
2.1.1.1 Tiêu hoá ở dạ cỏ
Dạ cỏ được coi như một thùng lên men lớn Tiêu hoá ở dạ cỏ đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tiêu hoá của gia súc nhai lại, 50 - 80% vật chất khô của thức ăn được tiêu hoá mà không có sự tham gia của enzim vật chủ Trong dạ cỏ có hệ vi sinh vật cực kỳ phát triển nên quá trình tiêu hoá của loài
nhai lại cũng khác loài dạ dày đơn
Hệ vi sinh vật dạ cỏ phát triển tốt nhờ những điều kiện thích hợp như: nhiệt
độ, độ ẩm, pH, môi trường yếm khí… môi trường trong dạ cỏ gần như trung
Trang 4tính (pH = 6,5 - 7,4) và tương đối ổn định nhờ tác dụng trung hoà axit của các muối phôtphat và bicacbonat trong nưóc bọt theo thức ăn vào dạ cỏ Nhiệt độ trong dạ cỏ 38 - 420C, ẩm độ 85 - 90% và luôn luôn ở trong trạng thái yếm khí Nhu động dạ cỏ yếu 2 - 5 lần/phút, do đó thức ăn dừng lâu trong dạ cỏ Với điều kiện trên, dạ cỏ là môi trường thuận lợi cho khu hệ vi sinh vật sinh sản và phát triển
2.1.1.2 Hệ vi sinh vật trong dạ cỏ
Hệ sinh thái vi sinh vật ở dạ cỏ rất phức tạp, sự có mặt và hoạt động của chúng rất quan trọng vì chúng có quan hệ với quá trình tiêu hoá, trao đổi chất của loài nhai lại, mối quan hệ của chúng đối với vật chủ là sự cộng sinh Hệ vi sinh vật luôn biến đổi phụ thuộc vào cấu trúc khẩu phần của gia súc chủ gồm
ba nhóm chính sau
2.1.1.2.1 Nấm (Fungi)
Nấm trong dạ cỏ gồm có nấm mốc và nấm men với số lượng khoảng 1000 bào tử/1 gam chất chứa dạ cỏ Nấm yếm khí trong dạ cỏ cũng mới được phát hiện, phân lập nhờ ống cuộn yếm khí Nấm tiết ra các loại men làm tăng quá trình tiêu hoá xơ, Orprin (1975 - 1977) [6]
Nấm là vi sinh vật đầu tiên xâm nhập và tiêu hoá thành phần, cấu trúc thực vật của thức ăn Chúng làm giảm độ bền chắc của cấu trúc này (mọc xuyên vào các tế bào thực vật, mọc trồi làm vỡ tế bào để quá trình tiêu hoá xơ được
dễ dàng, Preston và Leng (1991) [34] Nấm phá vỡ phức chất hemixelluloza - lignin nên nó có vai trò quan trọng là bước khởi đầu của quá trình công phá lên men các nguyên liệu không hoà tan của thành phần tế bào thực vật, nhưng thực tế chúng không phân huỷ được lignin, như vậy xơ mà có lignin chỉ có thể
được tiêu hoá bởi vi sinh vật
2.1.1.2.2 Động vật nguyên sinh (Protozoa)
Trang 5ở gia súc mới sinh và trong thời gian bú sữa dạ dày trước không có Protozoa Protozoa xuất hiện khi gia súc bắt đầu ăn thức ăn thô, điều này là do ảnh hưởng của thức ăn trong dạ cỏ hình thành môi trường axit thuận lợi cho sự phát triển của protozoa
Protozoa có mặt trong dạ cỏ biến động 105- 106 trên 1 gam chất chứa dạ cỏ, với 120 loài khác nhau Cấu trúc khẩu phần quyết định số lượng protozoa trong dạ cỏ: thức ăn nhiều xơ số lượng protozoa ít hơn so với thức ăn giàu chất
đường và tinh bột
Protozoa trong dạ cỏ chia làm hai nhóm chính: Entodineomorphs và Holatrich Protozoa tiêu hoá tinh bột và đường là chính, ngoài ra tiêu hóa cả xenluloza Khi gia súc ăn nhiều khẩu phần tinh bột thì số lượng prototzoa tăng lên đáng kể, Bùi Văn Chính, (1995) [6] Các loại đường và tinh bột được protozoa nuốt và dự trữ dưới dạng polydextran tham gia và khả năng đệm ở dạ
cỏ vì nó tạo ra nồng độ thấp của axit béo bay hơi và chuyển tỷ lệ E/P từ 0,5 - 1,7 Nguyễn Trọng Tiến, (1996) [35] Protozoa có tác dụng tiêu hoá cơ học đó
là làm rách màng tế bào thực vật nên làm tăng diện tiếp xúc của thức ăn với các men của vi khuẩn tiết ra Protozoa còn có tác dụng biến đổi prôtêin, tinh bột, đường và một phần xenluloza của thức ăn thành protêin, polysaccarit của bản thân chúng Polysaccarit này không bị lên men ở dạ cỏ mà được phân giải thành đường đơn và hấp thu vào máu ở phần sau đường tiêu hoá
Với những tác động có lợi thì protozoa cũng gây nhiều bất lợi cho loài nhai lại Protozoa cạnh tranh với vi khuẩn vì cả hai sử dụng chung nguồn thức ăn, chúng còn sử dụng prôtêin của vi khuẩn để tổng hợp thành prôtêin của bản thân chúng, ngoài ra protozoa còn sử dụng vitamin ở dạ cỏ nên làm giảm nguồn vitamin cung cấp cho vật chủ Nhiều thí nghiệm cho thấy những con vật được loại bỏ protozoa khỏi dạ cỏ cho năng suất cao hơn những con còn protozoa
Trang 6có những nhóm vi khuẩn sau:
- Nhóm phân giải hemixenlulôza gồm: butyrivibro, fibrisolvens, lachnospira multiparus…
- Nhóm phân giải bột đường: barteoides anynophylus succino mo nas …
- Nhóm phân giải prôtêin và các sản phẩm prôtêin
- Nhóm sử dụng axit sinh ra trong dạ cỏ gồm vi khuẩn sử dụng axit lactic, axit axêtic, axit propionic, axit pyruvic
- Nhóm phân giải urê
- Nhóm tổng hợp vitamin
Tỷ lệ và thành phần vi khuẩn trong dạ cỏ chịu ảnh hưởng khá lớn vào khẩu phần gia súc ăn vào Có rất nhiều loại vi khuẩn làm nhiệm vụ tấn công phân giải xenluloza Có loại thiên về phân giải xenluloza gọi là xelulolizic hay thiên
về phân giải thành tế bào gọi là phibrolific Đây là nhóm vi khuẩn đóng vai trò không thể thiếu được trong việc tấn công phân giải thành tế bào Để sống và phát triển, các loại vi khuẩn này cần được cung cấp các chất dinh dưỡng như amoniac, các mạch có cấu trúc C, P, S và các nguyên tố vi lượng Trong dạ cỏ
để có thể tổng hợp được prôtêin của bản thân chúng, các loại vi khuẩn này đã
sử dụng ngay amoniac và các loại axit béo bay hơi khác nhau như: axit isobutyric, axit valerianic, axit metyl butiric Sự tổng hợp prôtêin vi sinh vật
Trang 7phụ thuộc vào tốc độ phân giải nitơ thức ăn, tốc độ chuyển dời thức ăn khỏi dạ
cỏ, tốc độ hấp thụ amoniac và axit amin ở vách dạ cỏ, nhu cầu của vi sinh vật
về amino axit và kiểu lên men trong dạ cỏ Đa số vi khuẩn sử dụng amoniac như nguồn nitơ, khoảng 82% vi sinh vật dạ cỏ sử dụng amoniac để tổng hợp nên prôtêin mô bào Nhờ hoạt động của vi sinh vật nên urê, các muối anion trong dạ cỏ được biến đổi thành prôtêin của vi sinh vật có giá trị sinh học cao cung cấp cho vật chủ nhờ quá trình tiêu hoá chính bản thân các vi sinh vật ở phần sau đường tiêu hoá Sự tiêu hoá này thường xuyên dẫn tới sự hao hụt của
vi khuẩn trong dạ cỏ, hao hụt này được bù đắp thường xuyên thông qua sự phát triển của vi sinh vật trong dạ cỏ nên luôn luôn đảm bảo sự cân bằng của quần thể Vi sinh vật trong dạ cỏ có mối quan hệ khăng khít với nhau
2.1.1.3 Quá trình tiêu hoá thức ăn trong dạ cỏ
2.1.1.3.1 Quá trình tiêu hoá hydratcacbon
Hydratcacbon là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho vi sinh vật dạ cỏ
và vật chủ, bao gồm đường, tinh bột, xenluloza và các chất hữu cơ có liên quan Hydratcacbon trong thành phần của thức ăn gia súc rất cao nhưng trong cơ thể động vật hàm lượng chứa đường và glucoza rất ít Hydratcacbon có thể phân loại như sau:
- Monosaccarit
- Pentoza (C5H10O5) arabinoza, xyloza, riboza
- Hexoza (C6H12O6) glucoza, fructoza, galactoza, mantoza
- Disaccarit (C12H22O11) saccaroza, maltoza
- Trisaccarit (C18H30O16) raffinoza, lactoza, xellobioza - Plysaccarit pentozan (C5H8O4)11 uraban, xylan
- Hextozan (C6H10O5)11 dextrin, tinh bột, xselluloza, glycogen, inmulin
Trang 8+ Những hợp chất có quan hệ với hydratcacbon, lignin, uronic, axit hemicelluloza, polyuronit
Pentin Hemicelluloza Xelluloza Tinh bột Frutoza
Xyllobioza Dextrin
Uronat Hexoza Xellobioza Mantoza
Xyluoza Glucoz Sucroza
Oxalo axetat Pyruvat Fructoza
Malat Lactat Amyloza hay
Amylopectin Fumat Acrylat
Succinat Propyonat Axetat và Format
NL + CO2 + H2O Chu trình Creb Valerat Butyrat Capronat
Xeton
Sơ đồ 2.1 Quá trình phân giải hydratcacbon của vi sinh vật dạ cỏ
Cấu trúc của màng tế bào thực vật gồm các thành phần khác nhau của carbohydrat
Hệ thống phân tích Van Soest, (1994) [23], đ−a ra khái niệm NDF và ADF
NDF (Neutral Detergent Fibre) = ADF + Hemixelluloza
Trang 9ADF (Axit Detergent Fibre) = Lignin + Xelluloza + Silic + Các chất chứa nitơ + Pectin
Tiêu hoá xelluloza và hemixelluloza
Trong vách tế bào thực vật chứa 3 thành phần chính là xelluloza, hemixelluloza và lignin Xelluloza và heminxelluloza được tiêu hoá bởi men
vi khuẩn phân giải xơ Hệ vi sinh vật có men xellulaza phá vỡ liên kết 3 - 1,4 glucozit giải phóng glucoza và các bước lên men tiếp theo hình thành các sản phẩm cuối cùng là axit béo bay hơi Nhờ đó mà các loại thức ăn nhiều xơ là nguồn năng lượng tiềm tàng cho gia súc nhai lại, lượng lignin trong tế bào thực vật tạo ra sự bền vững của chúng đối với môi trường bên ngoài và gây trở ngại cho sự lên men vi sinh vật dạ cỏ Hầu như các loại vi sinh vật không thể lên men được lignin Lignin ảnh hưởng tới sự tiêu hoá chỉ khi nó nằm trong cấu trúc màng tế bào Có một số loại cỏ có hàm lượng lignin thấp nhưng màng
tế bào có hàm lượng lignin cao hơn sẽ có tỷ lệ tiêu hoá thấp hơn so với cây họ
đậu có lượng lignin cao gấp đôi nhưng tế bào có hàm lượng lignin thấp Dưới tác động của men
Tiêu hoá tinh bột và đường:
Protozoa và vi khuẩn phân giải, chuyển hoá tinh bột trong dạ cỏ rất nhanh Protozoa chuyển hoá tinh bột thành polydextrin dự trữ trong cơ thể chúng, vi khuẩn phân giải tinh bột và đường thành đường đơn Tạo thành các axit béo
Trang 10bay hơi CH4, CO2 và ATP
Quá trình phân giải tinh bột và đường như sau:
được hấp thu vào cơ thể, ở loài nhai lại glucoza là sản phẩm trung gian Glucoza tiếp tục được phân giải đến các sản phẩm cuối cùng là axit béo bay hơi như axit axêtic, axit butyric, axit propionic… những sản phẩm này sẽ được hấp thu hoàn ở dạ dày trước để sử dụng vào quá trình trao đổi chất của cơ thể
2.1.1.3.2 Sự phân giải và tiêu hoá protein trong dạ cỏ
ơ Sự phân giải protein trong dạ cỏ
Hầu hết protein thức ăn đều bị phân giải bởi vi sinh vật dạ cỏ Cường độ phân giải phụ thuộc vào mức độ hoà tan của chúng, pH = 6,5 ở dạ cỏ là thích hợp với sự phân giải protein, các chất đường dễ tan trong dạ cỏ sẽ được sử dụng như nguồn năng lượng cho vi sinh vật tổng hợp prôtêin và tăng sinh khối Cả hai loại protozoa và vi khuẩn dạ cỏ có thể thuỷ phân protein Entodinium và Ophryoseolex có hai enzym, vi khuẩn sử dụng protein trong dạ
Trang 11cỏ đã được phân lập và nhận dạng là bacteroidas, amylophilus, bruminicola, batyrivilbryo spp, selenomonas reeminatiun, lachnospiramulti paus và peptotreptococus elsdinil Hầu hết các loại vi khuẩn có hoạt lực exopeptidaza nhưng cũng có một số hoạt lực proteinaza
Sự phân giải protein thành các axit amin thường kèm theo quá trình khử amin để giải phóng NH3 Tốc độ khử amin thường chậm hơn tốc độ phân giải Bởi vậy ngay sau khi ăn, nồng độ amino thường cao hơn nồng độ NH3, nhưng chỉ sau 3 giờ đồng hồ NH3 đạt mức tương đương với nồng độ axit amin Valin, leucin và izoleucin được phân giải và khử carboxyl để giải phóng các axit amin tương ứng: iso butyric, izo zabriaic và methylbutyric Các axit amin được phân giải thông qua quá trình khử carboxyl và khử amin như sau:
Glicin → Axetic axit + NH3
L - Secin → Axetic axit + NH3 + CO2
L - Threonin → Propionic axit + NH3 + CO2
L - Triptophan → Intolzyl axetic axit + NH3
Những vi khuẩn có khả năng khử amin là: bacteroides ruminantium, selomonas ruminantium, peptostreptococus elsdenil, clo stridium và butyrivibryo specis Vi khuẩn dạ cỏ cũng giải phóng NH3 từ adenin guanin, hypoxanthin, axit uric, uracin và thinin Nguồn gốc khác của NH3 trong dạ cỏ
Trang 12là do sự thuỷ phân urê đi vào dạ cỏ cùng thức ăn hoặc từ nước bọt, NH3 xuống dạ múi khế và ruột sẽ không được sử dụng để tổng hợp protein
ơ Sự tổng hợp protein vi sinh vật
Amoniac giải phóng trong dạ cỏ một phần được vi sinh vật sử dụng để tổng hợp protein Trong dạ cỏ nhờ hoạt động của vi sinh vật, urê và các muối amon khác được biến đổi thành protein vi sinh vật Một nguồn protein có giá trị dinh dưỡng cao
Sự tổng hợp protein phụ thuộc vào tốc độ phân giải protein của thức ăn, tốc
độ hấp thu NH3 và axit amin vào máu, tốc độ chuyển dời thức ăn khỏi dạ cỏ, nhu cầu của vi sinh vật về các amino axit, kiểu lên men dạ cỏ và loại dinh dưỡng trong khẩu phần ăn Chất lượng của nguồn protein cũng là yếu tố quan trọng, nhiều thí nghiệm xác nhận rằng 40% zein – nitrogen và 90% cazein - nitrogen được chuyển thành protein vi sinh vật Khoảng 82% vi sinh vật sử dụng amoniac như là nguồn nitơ để tổng hợp thành protein vi sinh vật ruminococus feciogenes và lactabacobus bifilus, chỉ khoảng 6% chủng loại vi khuẩn sinh trưởng nhờ sự thuỷ phân cazein Tuy nhiên cần nhấn mạnh rằng giá trị sinh học của protein vi sinh vật nằm ở vị trí trung gian giữa protein thực vật và protein động vật Thậm chí Hatfiend (1976) phát hiện thấy rằng protein của đậu tương giàu lizin nhưng rất nghèo methionine, còn protein của vi sinh vật dạ cỏ chuyển protein động vật, thậm chí cả protein đậu tương thành protein vi sinh vật, sẽ giảm thấp giá trị sinh vật học protein này Hiệu quả thực
sự của sự tổng hợp protein là sự tạo thành protein vi sinh vật có giá trị sinh học cao hơn protein của thức ăn Vai trò của khu hệ vi sinh vật trong dạ cỏ là vai trò hai mặt, một phần cho phép sử dụng protein đơn giản, đối với gia súc dạ dày đơn không có ích hay không sử dụng được thậm chí có hại để tổng hợp nên protein vi sinh vật có giá trị sinh học cao Chúng phân giải làm giảm giá
Trang 13trị dinh dưỡng của protein thức ăn có giá trị sinh học cao Khi cung cấp protein trong khẩu phần cho loài nhai lại cần đạt những tiêu chuẩn về số lượng
mà không cần chú ý đến chất lượng (không tính đến các axit amin không thay thế được) chỉ thích hợp với gia súc thấp sản hay sản lượng trung bình
- Thiếu năng lượng để đảm bảo thuận lợi cho sự sinh trưởng và tăng sinh khối của vi sinh vật
- Số lượng nitơ trong thức ăn quá cao so với khả năng sử dụng của vi sinh vật Các tác giả kết luận rằng hiệu quả sử dụng amoniac không hằng định mà phụ thuộc vào nồng độ amoniac và tỷ lệ năng lượng- nitơ trong khẩu phần Khi cung cấp NPN (nitơ phiprotein) vào thức ăn thì số lượng protein bị thuỷ phân trong dạ cỏ tăng lên Sự tổng hợp protein vi sinh vật đạt đến mức tối đa thì lượng NH3 dư thừa sẽ thông qua vách dạ cỏ vào máu rồi vận chuyển đến gan tổng hợp thành urê của gan đạt tối đa thì nồng độ amoniac trong máu tăng cao đến mức con vật có thể ngộ độc Sinh trưởng của vi sinh vật và tỷ lệ tiêu hoá thức ăn bị hạn chế rõ rệt nếu hàm lượng NH3 trong dạ cỏ thấp dưới mức tối thiểu Ta có thể bổ sung urê, muối amon làm thức ăn cho bò đạt hiệu quả kinh tế cao nhưng chú ý liều lượng và chia đều làm nhiều lần/ngày cho ăn cùng với thức ăn thô xanh, phải bổ sung đầy đủ S, P và các nguyên tố khác
Trang 14Thức ăn Protein + NPN Nước bọt Urê
CP NPN Urê
Xeto axit Gan Peptit ABBH &các axit khác NH3
a.a(ngoài mô bào) Urê
a.a(Vi khuẩn) NH3 Máu Protein vi khuẩn Protein Protein Protozoa a.a
Mô Dạ khế, ruột non Protein a.a Protein bào
Ruột già Protein a.a NH3 Axit creatin
N phân Urê Benzoic
Nước Axit hippoic tiểu
Sơ đồ 2.2 Chu kỳ nitơ ở động vật nhai lại
2.1.1.3.3 Tiêu hoá mỡ ở dạ cỏ
Mỡ dự trữ ở loài nhai lại không phụ thuộc vào mỡ của thức ăn Hàm lượng axit s0tearic cũng như một số đồng phân không bão hoà và axit béo mạch nhánh rất cao, những loại axit này không thấy trong mỡ ở các loài gia súc
Trang 15khác hay có rất ít Đó là kết quả hoạt động sống cộng sinh của hệ vi sinh vật dạ cỏ
ơ Hydro hoá các axit béo không no ở dạ cỏ
Theo các nhà dinh dưỡng học nhận thấy mỡ trong các kho chứa mỡ của
động vật nhai lại chứa hầu hết các axit béo bão hoà, một lượng thấp các axit béo không no ở các loại mỡ động vật này mỡ khác với mỡ trong thức ăn thu nhận hằng ngày Reiser (1951) người đầu tiên phát hiện rằng hỗn hợp dung dịch dạ cỏ với dầu lanh trong các thí nghiệm in - vitro đã làm giảm thấp rõ rệt
Trang 16axit linolenic (C18:3) Khi các axit béo trong thức ăn được động vật nhai lại thu nhận vào trong dạ cỏ, hệ vi sinh vật trong dạ cỏ sẽ chuyển chúng thành các dạng thích ứng qua quá trình hydro hoá Wood và cộng sự (1963) đã phát hiện
ra điều trên ông bơm axit linoleic (C18 : 2) đánh dấu vào trong dạ cỏ cừu và phát hiện thấy 85 - 96% ở dạ lá sách trong đó 3 - 6% là axit linoleic, 45% đã
bị hydro hoá thành axit bão hoà, 35 - 50% bị hydro hoá đến olêic hay axit elaidic, Wright (1950), người đầu tiên xác nhận khả năng protozoa hydro hoá axit béo không no của lipit thực vật Williams và cộng sự (1963), phát hiện thấy rằng isotrichainfestinelio có thể hydro hoá axit béo như vi khuẩn dạ cỏ Shalupa và Kutches (1968), cho biết rằng hoạt tính hydro hoá cũng diễn ra ở các loại Oligotricha Những nghiên cứu của họ với hỗn hợp 2/3 hobotriccha và 1/3 oligotricha có hoạt tính hydro hoá rất thấp hay không có Họ cảm thấy rằng hydro hoá diễn ra ở oligotricha không giống như ở vi khuẩn và hydro hoá kém hoàn chỉnh ở cừu đã loại bỏ protozoa so với cừu bình thường Kết quả của các thí nghiệm tuy chưa có sự đồng nhất về ý kiến nhưng cũng cho thấy rằng, protozoa hay một nhóm của chúng có khả năng hydro hoá axit béo không no trong một số trạng thái nào đó Ví dụ: Klopfnotein và cộng sự (1965) đã phát hiện thấy rằng ở bò sữa không có protozoa trong dạ cỏ sẽ có lượng chứa axit béo không no trong sữa nhiều hơn
ơ Sự đồng phân của axit béo trong dạ cỏ
Các axit béo chưa no trong thức ăn thực vật hầu như ở dạng cis như C16 : 1(Plomit – Olêic) C18 : 1 (Olêic) C18 : 2 (Linoleic) và C18 : 3 (Linoleic) trong khi
đó mỡ động vật nhai lại chứa các đồng phân của chúng dạng trans Sự sai khác
đó chính là sự hoạt động của quần thể vi sinh vật tạo ra Hartman và cộng sự (1954) xác nhận các axit béo dạng trans là đặc trưng của mỡ động vật nhai lại Shorland và cộng sự, (1955 – 1957), cho biết sự lên men dạ cỏ là nguồn gốc
Trang 17chủ yếu của đồng phân dạng này Khi họ ủ oleic, linoleic và linolenic với chất chứa trong dạ cỏ trong thí nghiệm in - vitro thấy rằng khoảng 23%, 16% và 17% các axit trên đã chuyển thành axit strearic và tương ứng với 59%, 45% và 72% chuyển thành monoenoic, đồng phân monoenoic chiếm khoảng 17%, 48% và 67% của tổng số axit nghiên cứu Một số nhà khoa học đã đưa ra lý thuyết giải thích hiện tượng hydro hoá ở dạ cỏ Họ cho rằng sự hydro hoá là cách thuận lợi cho sự giảm thấp hydrogen thừa được tạo ra trong quá trình lên men dạ cỏ yếm khí Czerkawski và cộng sự (1966), đã nghiên cứu sự sinh mêtan ở cừu đã được khống chế bởi lượng axít béo khác nhau trong dạ cỏ Họ thấy rằng sự sinh sản ra khí mêtan giảm thấp khi bơm vào dạ cỏ những axit béo không no
ơ Tổng hợp các axít béo của vi sinh vật dạ cỏ
Có nhiều nghiên cứu về sự tổng hợp axit béo do vi sinh vật dạ cỏ liên quan tới axit mạch nhánh hay chuỗi lẻ cacbon Những tài liệu về axit béo trong vi sinh vật dạ cỏ còn rất hạn hẹp Một số dữ liệu của Wiliams và cộng sự (1963), nhận thấy rằng lượng chứa lipit của isotrichaintistimalis vào khoảng 9,1% và của Entodinium simplex khoảng 6,3% lượng chứa của vi sinh vật có liên quan tới protozoa khoảng 6,8%
2.1.1.4 Tiêu hoá ở dạ múi khế
Dạ múi khế của bò có dung tích 8- 20 lít là bộ phận dạ dày tuyến có hai phần là thân vị và hạ vị gồm 12 - 16 h có tác dụng tăng diện tích tiếp xúc của enzym tiêu hoá với thức ăn Quá trình tiêu hoá trong dạ múi khế giống như ở dạ dày đơn Dịch vị tiết liên tục vì thức ăn từ dạ dày trước thường xuyên vào dạ múi khế Động tác ăn cũng ảnh hưởng tới sự tiết dịch của dạ múi khế Mỗi lần cho ăn dịch múi khế tăng lên do phản xạ tác dụng lên tuyến múi khế Trong dịch múi khế có nhiều enzym pepxin, còn rất ít kimozin và lipaza Lượng HCl thay đổi theo tuổi trong khoảng 0,12 - 0,46% Dịch múi khế ở bò
Trang 182.1.2 Quá trình tiêu hoá ở ruột
2.1.2.1 Quá trình tiêu hoá ở ruột non
Thức ăn sau khi tiêu hoá ở dạ dày sẽ lần lượt xuống ruột non, ở ruột non thức ăn chịu tác dụng của dịch tụy, dịch mật và dịch ruột, sẽ được phân giải
đến sản phẩm cuối cùng và được hấp thu, do đó tiêu hoá ở ruột non chiếm một
vị trí vô cùng quan trọng
2.1.2.2 Dịch tụy
Dịch tụy do tuyến tụy tiết ra theo ống dẫn tụy Wirsung đổ vào tá tràng Dịch tụy có ý nghĩa rất quan trọng đối với tiêu hoá, dịch tụy có tác dụng phân giải từ 60 - 80% protein, gluxit, lipit của thức ăn
Dịch tụy tinh khiết là một chất lỏng trong suốt, không màu, tỷ trọng = 1,008 – 1,010; có phản ứng kiềm Thành phần của dịch tụy có 90% nước và 10% vật chất khô
* Tác dụng tiêu hoá của dịch tụy
+Nhóm enzym phân giải protein:
Tripxin: là enzym chủ yếu của dịch tụy Khi mới tiết ra nó ở dạng không hoạt động: tripxinogen Nhờ tác dụng của entokinaza của dịch ruột, tripxinogen biến thành tripxin hoạt động Tripxin tác dụng lên protein mạnh hơn pepsin Nó phân giải protein thành polypeptit và axitamin
Trang 19Entorokinaza Tripxinogen Tripxin
Tripxin
Tripxinogen Tripxin
Tripxin
Protein Peptit + Axitamin
Kimotripxin khi mới tiết ra ở dạng không hoạt động, kimotripxinogen sau
đó được hoạt hoá bởi tripxin
- Protaminaza chỉ thuỷ phân protamin thành peptit và axit amin
- Nuleaza thuỷ phân axit nuclêic thành mononucleotit
+ Nhóm enzym phân giải bột đường:
- Amilaza phân giải tinh bột và glycogen thành dextrin và đường mantoza Amilaza của dịch tụy hoạt động rất mạnh, nó có tên là amilopxin
Amilopepxin
Tinh bột Mantoza
- Mantaza thuỷ phân mantoza thành 2 phân tử glucoza
- Lactaza thuỷ phân lactoza thành glucoza và galactoza nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với tiêu hoá của gia súc bú sữa
- Saccaraza thuỷ phân saccaroza thành glucoza và fructoza
Trang 20+ Enzym phân giải mỡ:
- Lipaza thuỷ phân mỡ thành glyxerin và axit béo Lượng lipaza trong dịch tụy thường tăng lên khi tăng hàm lượng mỡ trong thức ăn Nhân tố hoạt hoá lipaza là xistein, muối canxi, axit tioglicoleic Dịch mật có tác dụng hoạt hoá lipaza đồng thời làm yếu các tác dụng của axit khác có ảnh hưởng đến lipaza
2.1.2.3 Dịch mật
Dịch mật không ngừng sinh ở gan Sự sinh dịch mật không đơn thuần là một quá trình tiết dịch tiêu hoá mà là một quá trình thải một số sản phẩm Dịch mật từ gan được giữ lại trong túi mật, chỉ khi cần tiêu hoá mới thải ra ở tá tràng một cách phản xạ Dịch mật do gan tiết ra sau đó trở lại túi mật, khi cần túi mật co bóp mới được đưa xuống tá tràng Thành phần của dịch mật gồm có nước và vật chất khô Dịch mật ở gan, nước chiếm 98%, chất khô 2% còn mật ở trong túi mật nước chỉ chiếm 90% còn chất khô là 10% Thành phần quan trọng nhất của chất khô là các axit mật và sắc tố mật
2.1.2.4 Dịch ruột non
Dịch ruột non do 2 tuyến ruột tiết ra tuyến Brunner chỉ phân bố ở tá tràng
và tuyến Lieberkun phân bố suốt dọc ruột non Ngoài ra dịch ruột còn có sản phẩm qua lại từ máu vào ruột Dịch ruột là một dịch thể không màu có phản ứng kiềm pH = 8,2 - 8,7 Thành phần nước chiếm 99 - 99,5%, chất khô chiếm
từ 0,5 – 1% Chất khô có các muối vô cơ, các cholestoron và các hợp chất protein Dịch ruột chứa nhiều niêm dịch và các hạt nổi lơ lửng do màng nhầy niêm mạc ruột non bong ra Protein của dịch ruột non chủ yếu là enzym
Tác dụng tiêu hoá của dịch ruột
+ Nhóm enzym phân giải protein:
- Etripxin thuỷ phân albumoz và pepton thành axamin erepxin không có tác dụng lên protein nguyên vẹn trừ casein của sữa
Trang 21- Aminopeptidaza cắt mạch peptit để giải phóng axit amin prolin
- Entorokinaza hoạt hoá tripsinogen của dịch tụy thành tripsin hoạt động, do bản chất của quá trình hoạt hoá tripsinogen là cắt một đoạn peptit ra khỏi phân
tử polypeptit tripsinogen
+ Nhóm phân giải axit nuclêic:
+ Nhóm này gồm nucleaza, nucleotidaza và nucleosidaza
+ Nhóm phân giải gluxit:
- Nhóm này gồm aminaza, mantaza, saccaraza và lactaza có tác dụng phân giải như trong dịch tụy
+ Nhóm phân giải lipit gồm lipaza, photpholipaza và cholesteron - esteraza
2.1.2.5 Tiêu hoá ruột già
Ruột già ở bò gồm manh tràng, kết tràng và trực tràng Manh tràng và kết tràng hạn chế sự vận chuyển thức ăn chưa được tiêu hoá Do vậy lượng thức ăn này tiếp tục được lên men vi sinh vật Nhung mao ở đây rất nhỏ làm tăng diện tích tiếp xúc bề mặt của chúng Tế bào Goplf (Tế bào hình chén) ở ruột già rất phát triển có thể để làm tăng tiết dịch thấm ướt, Gravum và Hecker (1973) Dịch khi phân tiết là gluco - protein trung hoà và polimer của L – fucos, D – galactos, nacetyl amino suger, sialic axit và mannoza, Draper và Kent (1963)
Vi sinh vật lên men các thành phần ở manh tràng tạo thành carbohydrat hoà tan, nitrogen và sulphua Sau đó được vi sinh vật sử dụng để tăng sinh khối của chúng Bird và Thonton (1972); Nolan và Leng (1972) Các vi sinh vật cư trú ở ruột già, thường thấy ở dạ cỏ như: bactroides, butyrivibrio, furo bacterium, steptococus, peptosteptococus, sleunomonas và micrococus
Quá trình phân giải xelluloza, các thành phần axit béo bay hơi và sự tạo thành mêtan ở ruột già cũng giống như sự lên men vi sinh vật ở dạ cỏ Tuy nhiên về số lượng thấp hơn 10 - 100 lần, Faichney (1968); Lathan và cộng sự (1971)
Trang 222.1.2.5.1 Tiêu hoá tinh bột
Số lượng tinh bột ở manh tràng và kết tràng phụ thuộc vào số lượng thức ăn chưa lên men ở dạ cỏ hoặc tiêu hoá ở ruột non
2.1.2.5.2 Tiêu hoá xenlluloza
Thành phần vách tế bào như xenlluloza và hemixelluloza tránh sự lên men ở dạ cỏ và tiêu hoá ở ruột non sẽ trở thành cơ chất cho tiêu hoá ở manh tràng Sự lên men ở đây tạo thành các axit béo bay hơi, sau đó được hấp thu theo kiểu thẩm thấu đơn giản dọc theo niêm mạc manh tràng Tốc độ lên men ở manh tràng rất cao, đặc biệt khi gia súc ăn khẩu phần có giá trị dinh dưỡng thấp
2.2.2.Thành phần của khẩu phần
Các chất dinh dưỡng trong khẩu phần có ảnh hưởng nhiều tới mức tiêu hoá của thức ăn trong khẩu phần
Trang 232.2.2.1 ảnh hưởng của chất xơ trong khẩu phần
Chất xơ là một thành phần khó tiêu hoá, có cấu tạo lên vách tế bào xung quanh chất hữu cơ bên trong, ngăn cản tác động của dịch tiêu hoá đối với các chất hữu cơ trong tế bào Thức ăn càng nhiều xơ thì tỷ lệ tiêu hoá càng giảm Để đảm bảo thức
ăn có tỷ lệ tiêu hoá cao yêu cầu tỷ lệ xơ trong khẩu phần thích hợp
2.2.2.2 ảnh hưởng của protein trong khẩu phần
Mức độ protein khác nhau trong khẩu phần có ảnh hưởng tới tỷ lệ tiêu hoá của thành phần protein khẩu phần Sở dĩ mức độ protein trong khẩu phần làm tăng tỷ lệ tiêu hoá các chất khác trong khẩu phần là vì: protein đã làm tăng hoạt động của các tuyến tiêu hoá, làm tăng men tripsin và men lipaza ở loài nhai lại protein trong khẩu phần làm tăng sự sinh trưởng, sinh sản của vi sinh vật, nhờ đó tác dụng phân giải chất hữu cơ tăng lên Tuy nhiên trong khẩu phần có quá nhiều protein với yêu cầu của con vật sẽ gây tác hại tới cơ năng tiêu hoá của nó
2.2.2.3 ảnh hưởng của chất bột đường trong khẩu phần
Nếu trong khẩu phần chứa nhiều tinh bột hay các loại đường dễ tan có thể làm giảm tỷ lệ tiêu hoá của các chất dinh dưỡng khác trong khẩu phần Nguyên nhân của hiện tượng này là khẩu phần có nhiều chất bột đường, vi sinh vật sẽ tập chung lên men phân giải những chất này và những chất bột
đường dễ tiêu hoá hơn cả
Chất bột đường cao trong quá trình lên men sản sinh nhiều axit hữu cơ Các axit này xúc tiến nhu động của ruột làm cho thức ăn trong đường tiêu hoá bị
đẩy nhanh, do đó thời gian hấp thu và cơ hội lên men thức ăn bị giảm Hiện tượng chất bột đường làm giảm tỷ lệ tiêu hoá của thức ăn chỉ thấy thể hiện ở loài nhai lại
2.2.2.4 ảnh hưởng của một số chất khác
Trang 24Một số chất khác như vitamin, chất làm tăng mùi vị, axit hữu cơ…ít nhiều
có ảnh hưởng tới tỷ lệ tiêu hoá của khẩu phần Các chất làm tăng tính thèm ăn, làm thay đổi tính ngon miệng của thức ăn: muối, thức ăn ủ men, ủ xanh… đều
có thể làm tăng tỷ lệ tiêu hoá của thức ăn Riêng đối với loài nhai lại thì các axít hữu cơ không có ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ tiêu hoá thức ăn
2.2.2.5 ảnh hưởng của khối lượng thức ăn
Khối lượng thức ăn mà bò ăn vào có ảnh hưởng rõ rệt tới tỷ lệ tiêu hoá, khi khối lượng khẩu phần tăng lên hơn mức bình thường thì tỷ lệ tiêu hoá của bò giảm đi Nguyên nhân làm giảm tỷ lệ tiêu hoá do khối lượng của thức ăn tăng lên ở bò là vì khối lượng của thức ăn lớn đã làm cho nhu động đường tiêu hoá mạnh, tốc độ di chuyển thức ăn trong đường tiêu hoá nhanh Vì vậy khả năng phân giải của men tiêu hoá đối với thức ăn không triệt để ở bò, khả năng tác
động của vi sinh vật dạ cỏ sẽ không hoàn toàn, khả năng hấp thu của đường tiêu hoá giảm
2.2.2.6 ảnh hưởng của sự vận động
Sự vận động hợp lý có thể làm tăng tính thèm ăn và tăng khả năng tiêu hoá thức ăn Nếu vận động quá sức có thể làm giảm tỷ lệ tiêu hoá
Ngoài những nhân tố trên, có thể còn nhiều nhân tố khác ảnh hưởng tới tỷ
lệ tiêu hoá của thức ăn như cách cho ăn, số lần cho ăn và những điều kiện ngoại cảnh như thời tiết, khí hậu, chăm sóc quản lý…
2.3 Tình hình nghiên cứu về cây mía
Một số giống mía chủ yếu được trồng ở nước ta
- Giống POJ 30/66
Là giống lai của hai giống POJ 28/78 và POJ 29/40 do Indonesia lai tạo và nhập vào Việt Nam Thích hợp điều kiện đất tốt, thâm canh cao, không trổ cờ
Trang 25Dễ đổ ngã, nhiều sâu bệnh, khả năng để gốc kém Chín sớm, tỷ lệ đường cao
- Giống FI 34
Là giống lai của 2 giống CO 290 và POJ 28/78 do Đài Loan lai tạo và
được nhập vào nước ta năm 1958 Sinh trưởng mạnh, thích ứng rộng, chịu hạn
và úng khá, năng suất cao, ổn định, để gốc tốt, lá to, hơi toả
- Giống Việt Đường 54/143
Là giống lai của hai giống F108 và F134, có nguồn gốc Trung Quốc và nhập vào Việt Nam năm 1961 Chín sớm, yêu cầu đất tốt, thâm canh
- Giống F156
Là giống lai của hai giống F141 và CP 34/79 Nguồn gốc từ Đài Loan và
được nhập vào Việt Nam năm 1970 Sinh trưởng mạnh, chịu hạn, để gốc khá, thích ứng nhiều loại đất, năng suất cao Được trồng nhiều ở Đông Nam Bộ, miền Trung
- Giống My 55/14
Là giống lai của hai giống CP3 34/79 và B 45/181 Nguồn gốc từ CuBa nhập vào Việt Nam năm 1974 thích ứng rộng năng suất cao, trổ cờ nhiều, ít sâu bệnh, là giống chủ lực hiện nay của vùng mía Quỳ Hợp - Nghệ An
- Giống NCO310
Là giống lai của hai giống CO421 và CO312 Nguồn gốc từ Natal, nhập vào Việt Nam năm 1950, chịu đất xấu khô hạn, năng suất khá, trổ cờ sớm để gốc tốt, chín sớm, tỷ lệ đường cao
- Giống ROC.1
Là giống lai của hai giống F164 và CP 58 - 48 Nguồn gốc từ Đài Loan, thân to trung bình, lóng hình trụ màu xanh nhạt Chín sớm, đẻ nhánh yếu, sinh trưởng mạnh và đều, trổ cờ nhiều Năng suất mía cây và tỷ lệ đường cao, thích hợp với đất cát pha, đất thịt, đất có độ mặn nhẹ
Trang 26- Giống ROC 10
Là giống lai của hai giống ROC 5 và F152 Nguồn gốc từ Đài Loan, thân
to, lóng hình chóp cụt nối nhau hình chữ chi, vỏ màu xanh nhạt, năng suất có thể đạt 100 tấn/ha trong điều kiện thâm canh thích hợp với vùng đất mầu mỡ
Có thể trồng trên đất đồi, đất mặn
- Giống ROC 16
Là giống lai của hai giống F171 với F74 - 575 Nguồn gốc từ Đài Loan, thân to mọc thẳng, lóng hình chóp cụt, vỏ màu xanh lẫn tím, sáp phủ dầy, bẹ lá không có lông, không tự bong, sinh trưởng khoẻ, tỷ lệ đường cao
2.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Cây mía (Saccharum officinarum L) là một trong những cây trồng nhiệt đới
có năng suất sinh khối cao, Brown et al (1987), Alexander (1988), Preston (1988), Golh (1993) Cây mía được các hộ nông dân trồng ở khắp Việt Nam Bởi vậy, sản phẩm phụ của công nghiệp mía còn có thể dùng làm thức ăn cho gia súc và thu được kết quả tốt, tuỳ thuộc vào giá cả cây mía ở từng vùng mà người ta sử dụng cây mía với tỷ lệ cao hay thấp trong khẩu phần ăn của bò Ngọn mía, thân mía, lá mía là có nguồn gốc thức ăn giàu hydratcarbon hoà tan thuận lợi cho quá trình lên men dạ cỏ, Perez (1988), Preston Leng (1991) [34], Golh (1993) [2]
Chỉ một phần nhỏ lá mía tươi được sử dụng cho bò trong một thời gian ngắn, còn phần lớn lá mía được bỏ lại ngoài đồng sau đó đốt làm phân bón Theo Golh (1993) [2], thì ngọn lá mía còn xanh Sau khi thu hoạch cây chiếm khoảng 10 – 12% tổng sinh khối cây mía Do đó ước tính khối lượng phụ phẩm ở nước ta khoảng 1,5 triệu tấn trong năm Ngọn, lá mía là nguồn phụ phẩm lớn ở các vùng trồng cây mía Theo tạp chí: “Thông tin và Khuyến nông” của Hiệp hội mía đường Việt Nam, (2002 – 2003) [24], mùa vụ 2002 –
Trang 272003 diện tích mía cả nước là 315.000 ha, dự kiến sản lượng đạt 15,7 triệu tấn, năng suất bình quân 50 tấn/ha Do đó ước tính phụ phẩm ngọn lá mía khoảng 1,5 – 1,9 triệu tấn/năm
ở nước ta trong những năm gần đây một số tác giả như: Bùi Văn Chính, Bùi
Đức Lũng, Vũ Duy Giảng, Hoàng Văn Tiến, (1995) [5], “ủ chua thức ăn thô xanh” Bùi Văn Chính, Lê Viết Ly, (1996) [7], “ Kết quả nghiên cứu chế biến
và sử dụng một số phụ phẩm nông nghiệp chính ở Việt Nam làm thức ăn cho gia súc” Bùi Văn Chính, Lê Viết Ly, (2003) [9], “Kết quả nghiên cứu chế biến nâng cao giá trị dinh dưỡng của một số phụ phẩm nông nghiệp quan trọng của Việt Nam cho bò”
Nhìn chung các tác giả đều có nhận xét chung rằng:
Nguồn phụ phẩm nông nghiệp ở nước ta phong phú, với khối lượng lớn Tuy nhiên hàm lượng xơ khá cao, rất cần được chế biến bằng các tác nhân hoá học hay sinh học, để nâng cao tỷ lệ tiêu hoá chất xơ và các chất hữu cơ khác Ngược lại hàm lượng protein thấp đặc biệt trong rơm lúa, ngọn lá mía do đó khi sử dụng làm thức ăn chính trong khẩu phần rất cần nghiên cứu bổ sung các loại thức ăn khác một cách hợp lý để tạo điều kiện cho quá trình lên men dạ
cỏ, góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng phụ phẩm nông nghiệp
Nhìn chung các loại phụ phẩm nông nghiệp đều chứa một nguồn năng lượng tiềm tàng khá cao, nhưng tổng các chất dinh dưỡng tiêu hoá được (TDN) còn khá thấp Vì vậy còn nhiều khả năng nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn năng lượng tiềm tàng này trong các phụ phẩm nông nhiệp nếu chúng ta tác động bằng khâu chế biến và phối hợp khẩu phần một cách hợp lý để nâng cao tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng
Vũ Duy Giảng, Bùi Quang Tuấn, (2003) [19] “Nghiên cứu sử dụng cây ngô già sau thu bắp làm thức ăn cho bò sữa” đã cho thấy rõ rằng:
Trang 28Trên cơ sở khẩu phần có tỷ lệ protein 14% và tỷ lệ thức ăn tinh 45%, việc thay thế 50% cỏ tươi (Tính theo vật chất khô) của khẩu phần bằng cây ngô già
xử lý urê đã đáp ứng tốt nhu cầu dinh dưỡng của bò sữa vì thế năng suất sữa vẫn giữ được ở mức cao và ổn định không thua kém nhiều so với bò ở khẩu phần đối chứng được cung cấp hoàn toàn cỏ tươi trong khẩu phần (9,83 kg/con/ngày so với 10,45 kg/con/ngày) giá trị lợi nhuận của chăn nuôi bò sữa cũng đạt mức tương đối cao (10.590đ/con/ngày so với 10.870đ/con/ngày) Ngoài ra một số tác giả khác cũng có những nghiên cứu cực kỳ quan trọng như Nguyễn Bá Mùi, (2002) [29] “Nghiên cứu phụ phẩm dứa ủ chua làm thức
ăn cho gia súc”
Tuy vậy, ở nước ta cũng như nhiều nước nhiệt đới có truyền thống trồng mía, còn có ít công trình nghiên cứu chế biến sử dụng ngọn lá mía làm thức ăn cho bò Mặc dù ngọn lá mía có hàm lượng xơ khá cao (40 – 42% tính theo vật chất khô), nhưng ngọn lá mía chứa một lượng đáng kể protein từ dẫn xuất không đạm Rõ ràng đây là nguồn thức ăn tiềm tàng của vùng trồng mía cần
được quan tâm nghiên cứu
2.5 Thành phần xơ thô của ngọn lá mía và ảnh hưởng của nó tới quá trình tiêu hoá
2.5.1.Thành phần hoá học của ngọn lá mía
Ngọn lá mía là loại thức ăn thô, đặc trưng bởi hàm lượng xơ cao, nghèo về: chất hữu cơ tiêu hoá được, các chất khoáng và vitamin Nếu không được xử lý, ngọn lá mía có giá trị dinh dưỡng thấp Sự hạn chế của ngọn lá mía là tỷ lệ tiêu hoá thấp và thậm chí khi bổ sung các chất dinh dưỡng cần thiết, thì khả năng ăn vào của bò vẫn thấp không đáp ứng nổi nhu cầu duy trì Tuy vậy, chúng thường được sử dụng như là nguồn chất độn và nguồn cung cấp xơ thô trong khẩu phần thức ăn tinh cao, Preston và Leng, (1991) [34]
Trang 29Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong ngọn lá mía phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố sau:
- Giống cây trồng
- Mức độ trưởng thành của thực vật và thời gian thu hoạch cây mía
- Chế độ phân bón và độ phì của đất
- Thất thoát do thời tiết
- Đặc biệt hàm lượng của các chất dinh dưỡng của ngọn lá mía phụ thuộc rất nhiều vào kỹ thuật và phương tiện cắt chặt ngọn lá mía
Preston và Leng, (1991) [34] cho biết rằng tất cả các loại thức ăn xơ thô đều
Trang 302.5.2.Thành phần xơ thô của ngọn lá mía và ảnh hưởng của nó tới quá trình tiêu hoá của bò
Chất xơ chủ yếu trong ngọn lá mía xelluloza, hemixelluloza và lignin Giữa chúng có các mối liên kết hoá học tạo nên sự bền vững của màng tế bào thực vật Ngoài ra trong thành phần xơ thô còn có silica khoảng 3,7% đã gây trở ngại cho quá trình tiêu hoá của vi sinh vật dạ cỏ Chính vì thế mà tỷ lệ tiêu hoá ngọn lá mía thấp
Nhiều tài liệu sinh hoá đã cho biết đặc điểm cấu trúc và tính chất của các thành phần trên,
- Xelluloza:
Xelluloza là poliose cấu trúc chủ yếu của tế bào thực vật Trong rơm có khoảng 31%, ngọn lá mía khoảng 40% Đối với những thân cây có sợi tiêu hoá hàm lượng xelluloza càng nhiều hơn Phân tử xelluloza có mạch thẳng,
được tạo bởi (3 – D – glucose bằng liên kết β - 1,4 – glucozit Số lượng các
đơn vị cấu tạo có thể lên tới vài chục vạn, nên phân tử trong của xelluloza có thể lên tới hàng triệu Theo nhiều tài liệu gần đây cho biết, gelluloza gồm nhiều chuỗi thẳng ghép với nhau thành bó dài nhờ mạch nối hydrogen tạo thành các Mixen bền vững, Lê Khắc Thận (1974) [37] Xelluloza chỉ hoà tan trong dung dịch amoniac của hydroxit đồng (thuốc thử schweitzer) và trong dung dịch sunfoxianua canxi đậm đặc khi đun nóng Trong dạ cỏ loài nhai lại, xelluloza được phân giải nhờ tác dụng của men xellulaza do vi sinh vật sống cộng sinh ở dạ cỏ tiết ra xelluloza được phân giải thành đường glucose hay lên men xellulobioza thành các axit béo bay hơi
- Hemixelluloza:
Hemixelluloza là những heteropolisaccarit, cùng với xelluloza nó có ở màng tế bào thực vật Hemixelluloza không hoà tan trong nước, nhưng hoà tan
Trang 31trong các dung dịch kiềm và bị thuỷ phân dễ dàng hơn xelluloza Khi bị thuỷ phân từ hemixelluloza sẽ tạo thành glucose, fructose, mantose, galactose, arabinose và xilose, Lê Doãn Diên, (1975) [14]
Lignin không hoà tan trong nước trong dung môi hữu cơ bình thường và trong axit đậm đặc Lignin còn bền vững bởi các enzym của hệ vi sinh vật dạ
cỏ Chỉ dưới tác dụng của kiềm bisunfit natri và axit sunfurơ, lignin một phần
bị phân giải chuyển vào dung dịch Trong thiên nhiên lignin không tồn tại độc lập mà nó thường liên kết với xelluloza, hemixelluloza và các chất khác ở màng tế bào
Xelluloza và hemixelluloza là những chất có thể tiêu hoá được, nhưng phần lớn chúng lại tham gia vào cấu tạo lớp trong của màng tế bào nên enzym của
vi sinh vật không dễ dàng tác dụng được Lớp ngoài màng tế bào thường được tạo thành từ các phức chất ligno – hemixelluloza, mà các enzym vi sinh vật phân giải vô cùng chậm Điều đó làm cản trở sự phân giải chất chứa tế bào, trong thức ăn xơ lignin còn liên kết với protein bằng các mạch nối hoá trị Laubuda và cộng sự, (1982) Các mối liên kết hoá học đó bền trong môi trường axit của dạ cỏ nên làm giảm thấp tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng có trong thức ăn xơ thô Blaba (1981) lignin hoá là giai đoạn cuối cùng của sự phát triển ở tế bào thực vật Do sự tích luỹ lignin làm cho thành tế bào bền vững và cứng Sự lignin hoá có ý nghĩa to lớn trong việc làm bền vững các cơ quan chống đỡ thực vật, nhưng nó lại gây khó khăn trong việc tiêu hoá xơ thô
Trang 32ở dạ cỏ loài nhai lại, Laubuda và cộng sự (1982)
ở bò, sự tiêu hoá chất xơ phụ thuộc vào mức lignin hoá của thực vật, vào hàm lượng đường dễ tan, vào nồng độ protein trong khẩu phần và phụ thuộc vào sự có mặt của các chất có hoạt tính sinh học khác
Nhưng quan trọng hơn cả là mức độ lignin hoá của tế bào thực vật, nó có
ảnh hưởng xấu đến sự tiêu hoá xelluloza là bức ngăn lý học ngăn ngừa sự tác
động của vi sinh vật dạ cỏ Thực vật càng trưởng thành, hàm lượng lignin càng cao, làm cho mức độ tiêu hoá xelluloza càng giảm Theo Chandra và cộng sự,
1971, thì sự tăng hàm lượng lignin cùng với sự trưởng thành của thực vật có thể làm giảm tỷ lệ tiêu hoá xelluloza xuống còn 30 – 50%
Về tỷ lệ tiêu hoá của lignin trong ống tiêu hoá của bò cho đến nay vẫn chưa
có ý kiến thống nhất Homb đã làm thí nghiệm nuôi cừu với khẩu phần ổn
định, gồm có rơm và cỏ khô Medicago trong thời gian vài tháng Các thức ăn tiêu thụ và phân thải ra được xác định với mức độ chính xác cao, thức ăn định lượng lignin trong các mẫu Qua thí nghiệm tác giả kết luận: lignin không
được tiêu hoá trong ống tiêu hoá của cừu Gupta, B.N (1986) cho rằng tỷ lệ tiêu hoá lignin của loài nhai lại là không đáng kể Nhưng Pigden và Stone, (1952), lại thông báo rằng trong một số điều kiện lignin có thể được tiêu hoá, sản phẩm tiêu hoá của nó là alhydrit thơm xuất hiện trong nước tiểu Song tỷ
lệ tiêu hoá lignin không lớn và không có ý nghĩa thực tế Vấn đề này các tác giả trên cũng cho thấy không có loại vi sinh vật dạ cỏ nào có thể làm lên men lignin
Theo Kirilov và Krotkova (1979), thông báo rằng mức độ giảm tỷ lệ tiêu hoá xơ của gia súc nhai lại có thể thông qua dẫn liệu sau: Nếu cỏ khô chứa 10 – 15% lignin thì 12 – 18% polisaccarit tiềm tàng đã trở thành vô dụng đối với
động vật vì vi sinh vật không tác dụng được lên polisaccarit Theo Lewis
Trang 33(1961) - Trích Michal Kovac và cộng sự (1989) thì mức tiêu hoá vật chất khô
ở loài nhai lại có thể biểu diễn bằng phương trình sau:
và cộng sự (1978) đã đưa ra đề nghị làm giảm kích thước, cấu trúc của xelluloza và hemixelluloza bằng quá trình vật lý, có nhiều phương pháp tiến hành
2.5.3.1.1 Nghiền nhỏ
Là phương pháp cơ giới để băm chặt, nghiền nhỏ ngọn lá mía để giảm kích thước của thức ăn vì kích cỡ của thức ăn đóng vai trò quan trọng trong thức ăn
Trang 34của bò Ưu điểm của phương pháp này là gia súc đỡ tốn năng lượng và thời gian lúc nhai, tăng lượng thức ăn thu nhận và quan trọng hơn là kích cỡ của thức ăn thích hợp cho sự hoạt động vi sinh vật dạ cỏ, Sudstol, F và cộng sự (1978), thấy rằng sự tiêu hoá của men xelluloza phụ thuộc vào số lượng bề mặt của xelluloza và sự tiếp xúc xelluloza và men Người ta cho rằng xử lý
đến mức ảnh hưởng tới cấu trúc polimer ở mức độ phân tử của chất xơ có thể làm tăng tỷ lệ tiêu hoá của carbohydrate, Stone cho rằng phương pháp này
được áp dụng chủ yếu đối với ngọn lá mía ở các trang trại Phương pháp này nên kết hợp với phương pháp xử lý hoá học, Jackson (1977), hay kết hợp xử lý sinh vật học và hoá học Han và cộng sự (1976)
2.6.3.1.2 Xử lý nhiệt
Xử lý nhiệt với áp suất cao với thức ăn nhiều xơ, để làm tăng tỷ lệ tiêu hoá
đã được khẳng định và áp dụng khi giá năng lượng xử lý thấp và quy trình đơn giản Cơ sở của phương pháp này là quá trình thuỷ phân thức ăn xơ bằng hơi nước ở áp suất cao để phá vỡ các mối liên kết giữa các thành phần của xơ và gây nên sự tách chuỗi khác nhau từ đó làm tăng tỷ lệ tiêu hoá Dùng hơi nước
ở áp suất 7 – 28 kg/cm2 và giữ trong thời gian 50 giây, F.Sundstol và E.owen (1986) Tuy nhiên Han và cộng sự (1978), lại có thể xử lý ở áp suất biến động
từ 7 – 42,2 kg/cm2 và giữ ở thời gian khác nhau từ 10 – 600 giây phụ thuộc vào áp suất hơi nước sử dụng Rangnekar và cộng sự (1982), đã xử lý rơm, bã mía bằng hơi nước áp suất 5 – 7 – 9 kg/cm2 và giữ trong thời gian 30 – 60 phút Kết quả đạt được cũng tương tự như khi xử lý ở áp suất cao, thời gian ngắn
Phương pháp này chủ yếu là sử dụng các nguồn nhiệt thừa ở các nhà máy nên thuận lợi, rẻ tiền, đặc biệt ở các nhà máy đường là nơi luôn luôn có hơi nước nóng dư thừa và luôn có sẵn ngọn lá mía
Trang 352.5.3.2 Phương pháp xử lý hoá học
Xử lý hoá học để cải thiện giá trị dinh dưỡng của ngọn lá mía được nghiên cứu từ cuối thế kỷ 19, Lehman (1895) Ngày nay được ứng dụng rộng rãi trong việc tận dụng phụ phẩm nông nghiệp, làm thức ăn cho bò ở mức độ công nghiệp và trang trại
2.5.3.2.1 Xử lý bằng NaOH
Lehman (1985), là người đầu tiên dùng NaOH để xử lý thức ăn xơ thô ở áp suất cao và nhiệt độ cao (dùng 100 kg rơm, 200 lít nước sôi và 4 kg NaOH) đã thu được kết quả tốt, tăng tỷ lệ tiêu hoá, nhưng phương pháp này tốn năng lượng và lao động Có thể dùng rơm băm nhỏ rồi chế biến với 100 – 400 lít dung dịch NaOH nồng độ 20 – 40%/1 tấn rơm, Bùi Văn Chính (1995) [5] Phương pháp này được ứng dụng nhiều trong sản xuất
2.5.3.2.2 Xử lý bằng urê hay dung dịch amoniac
Nguyên lý của phương pháp này là amoniac là loại khí thoát ra từ urê dưới tác động của men urêaza nguồn vi sinh vật hay thực vật trong quá trình ủ thức
ăn nó thuỷ phân mối liên kết hoá lý giữa lignin với xelllulaza và hemixelluloza mạnh hơn dẫn đến tăng quá trình lên men, Sundstol và Coxwarth (1984) có mấy hình thức sau:
* Xử lý bằng urê: phương pháp này có hai ưu điểm chính Từ urê, dưới tác dụng của men ủ eaza có nguồn gốc vi sinh vật hay thực vật trong quá trình ủ thức ăn sẽ giải phóng ra NH3 Một mặt urê cung cấp một lượng nitơ phi protein cho bò, mặt khác môi trường kiềm do NH3 tạo ra sẽ phá vỡ mối liên kết giữa lignin với hemixelluloza và xelluloza ở thành tế bào thực vật, giúp cho hệ vi sinh vật trong dạ cỏ tiêu hoá các chất xơ tốt hơn
- ủ ướt với urê:
Trang 36Ngọn lá mía trộn với urê ở các mức 3;4;5% urê theo khối lượng ngọn lá mía Sau đó cho hỗn hợp này vào hố ủ hay các túi nilon kín không cho không khí lọt vào Túi ủ hay hố ủ phải kín không cho không khí NH3 bay ra Ngọn lá mía được ủ trong khoảng 7 – 10 ngày rồi lấy ra cho gia súc ăn Chú ý sau khi lấy cho gia súc ăn cần đậy kín hố ủ lại
* Amôn hoá rơm với khí amoniac (NH3)
Người ta dẫn khí NH3 (khoảng 3kg/100kg rơm) vào trong một đống rơm đã phủ kín tấm nilon mầu đen bằng một ống kim loại dài có đục lỗ, đường kính 3 – 4 cm xuyên vào giữa đống rơm
* Amôn hoá bằng các loại hoá chất khô:
Phương pháp này có hiệu quả hơn so với các loại ủ urê đặc biệt là ở các nước Châu Âu, khi nhiệt độ quá lạnh làm giảm thấp cường độ thuỷ phân urê Phương pháp này như sau: Dùng các hoá chất khô trộn vào nhau, giữa chúng xảy ra phản ứng hoá học và sản sinh khí NH3, Mason và cộng sự (1985) Cụ thể ta có thể dùng 132 kg sulphat amon + 70 kg với bột thêm vào đó 120 kg nước và đựng hỗn hợp này trong thùng kín, sau đó dùng một vòi nhựa xuyên qua tấm nilon phủ một tấm rơm sao cho khí NH3 tản ra từ giữa đống rơm toả
ra xung quanh nhưng giá cả đắt
* Dùng nước tiểu để amôn hoá rơm:
Rơm trộn với nước tiểu theo tỷ lệ 1/1; 1/2; 1/3 cách ủ cũng tiến hành như ủ urê Chỉ lưu ý ở các nước Châu Âu do khẩu phần ăn cho gia súc giàu protein nên hàm lượng nitơ trong nước tiểu khá cao, cho nên người ta dùng nước tiểu gia súc để tiến hành ủ rơm các phụ phẩm khác Còn ở nước ta khẩu phần dinh dưỡng của gia súc thiếu protein nên hàm lượng nitơ trong nước tiểu quá thấp
Có thể dùng nước tiểu người và nước tiểu bò sữa để tiến hành ủ rơm và phụ phẩm làm thức ăn cho gia súc nhai lại
Trang 37* ủ ướt urê và rỉ đường:
Cứ một tấn rơm khô cần 30; 40; 50 kg urê + 800 – 1000 lít nước + 40 kg rỉ
đường Tiến hành như urê chỉ khác là thêm rỉ đường Ưu điểm: Thức ăn có mùi thơm của rỉ đường và cung cấp thêm năng lượng cho vi sinh vật và bản thân gia súc
* ủ rơm tươi với urê:
Rơm tươi có giá trị dinh dưỡng cao hơn rơm khô Tỷ lệ tiêu hoá rơm tươi cao hơn rơm khô và cao hơn cả rơm khô ủ urê (tỷ lệ này là 55% ở rơm tươi, 50% ở rơm khô ủ urê và 45% ở rơm khô), Nguyễn Hoài Hương (1995) Phương pháp tiến hành: urê không cần hoà nước mà có thể rải trực tiếp trên rơm theo từng lớp (vì rơm tươi có tỷ lệ nước cao khoảng trên 50% nếu thấp hơn phải bổ sung nước) Sau khi trải một lớp rơm ta rải một lớp urê, làm lần lượt đến khi đầy hố ủ thì phủ kín hố ủ bằng nilon
Cần lưu ý khi ủ rơm tươi với urê phải nén thật chặt và phủ thật kín nilon
để tránh tổn thất chất dinh dưỡng của quá trình oxy hoá và của vi sinh vật Rơm còn tươi nên còn chứa nhiều đường glucoz, nếu độ ẩm thấp và nhiệt độ cao, cho rơm ủ vào lúc trưa nắng, thì độc tố 4 methyl – imitazol sẽ được hình thành giữa Glucoz và NH3 phân giải từ urê có thể sẽ gây trúng độc cho bò, bò
sẽ có triệu chứng như bò điên
* ủ rơm và phụ phẩm với urê và Ca(OH)2:
Mục đích của phương pháp này là một mặt làm tăng độ kiềm do sự có mặt của Ca(OH)2, mặt khác nó làm tăng quá trình phân giải urê Làm tăng quá trình phân huỷ mối liên kết giữa lignin và các thành phần khác của màng tế bào Urê thường ủ tỷ lệ từ 1 – 5%, Ca(OH)2 từ 0,5 – 8% so với khối lượng phụ phẩm
Cách tiến hành
Trang 38* ủ rơm và phụ phẩm với urê và CaO:
Nguyên lý: Trong quá trình phản ứng giữa CaO và nước để tạo Ca(OH)2 sẽ sinh nhiệt Nhiệt độ sẽ làm tăng quá trình phân giải urê và tác dụng mang lại như đã nói trên Tác giả cũng giả thuyết rằng nhiệt độ và tính diệt khuẩn của CaO và Ca(OH)2 sẽ tiêu diệt vi khuẩn sinh men urêaza vì thế nó sẽ làm giảm quá trình phân giải urê Cho đến nay các tác giả vẫn chưa đưa ra kết luận nào Tuy nhiên phương pháp xử lý bằng urê/NH3 đã mang lại hiệu quả là:
- Cải thiện tính ngon miệng của khẩu phần
- Tăng tỷ lệ tiêu hoá, đặc biệt là protein tiêu hoá và xơ thô
- Tăng tốc độ sinh trưởng và tăng hiệu quả sử dụng thức ăn
Các nhà khoa học tập trung nghiên cứu nhiều về phương pháp xử lý rơm và phụ phẩm bằng urê/NH3 là vì ngoài những tác dụng trên, NH3 sản sinh ra từ các hợp chất Nitơ phi protein trong thức ăn xử lý sẽ rẻ hơn mà vẫn duy trì
được khả năng tăng trọng tiềm năng của gia súc Từ đó làm hạ giá thành sản phẩm chăn nuôi Sundstol (1982), Horton (1979), Jackson (1978), Nguyễn Trọng Tiến (1991) [36], Bùi Đức Chính (1995) [6]… các tác giả đều khẳng
định việc sử dụng urê/NH3 để xử lý các phụ phẩm làm thức ăn cho gia súc là một trong những phương pháp hữu hiệu, kỹ thuật đơn giản, có thể áp dụng dễ dàng trong chăn nuôi nông hộ
Bên cạnh các phương pháp xử lý trên, trên thực tế người ta còn dùng dung dịch NH4OH hay Ca(OH)2 và CaO để kiềm hoá thức ăn xơ thô Phương pháp như sau:
* Xử lý với Ca(OH)2:
Ca(OH)2 là chất kiềm nên nó cũng có khả năng phân huỷ mối liên kết hoá học giữa Lignin, Xelluloza và Hemixelluloza ở màng tế bào thực vật tạo điều kiện cho enzym vi sinh vật tác dụng trực tiếp lên Xelluloza, Hemixelluloza và
Trang 39các thành phần khác trong tế bào Người ta dùng Ca(OH)2 để xử lý rơm và phụ phẩm như một phương pháp hữu hiệu: công thức ủ: 8% Ca(OH)2 so với vật chất khô của phụ phẩm hoà tan trong 100% nước (so với vật chất khô) và trộn đều đem ủ yêu cầu che đậy không khắt khe như ủ rơm với urê
* Xử lý với CaO:
Tác dụng của CaO trong xử lý phụ phẩm cũng như Ca(OH)2 Tuy nhiên nhiệt lượng do phản ứng CaO + H2O sản sinh ra sẽ làm tăng tác dụng của Ca(OH)2 Như vậy quá trình xử lý sẽ diễn ra nhanh hơn và thu lại kết quả tốt hơn Công thức như sau: 6% CaO, 100% nước so với vật chất khô của phụ phẩm (yêu cầu các phụ phẩm phải được cắt ngắn 5 - 10 cm)
Tóm lại: phương pháp xử lý hoá học đối với các phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho gia súc nhai lại nhằm mục đích cuối cùng là nâng cao được tỷ lệ tiêu hoá và khả năng sử dụng thức ăn của con vật Kết quả của việc xử lý này
Trang 40Phương pháp xử lý các phụ phẩm nông nghiệp bằng vi khuẩn và nấm mốc
đã được phát triển khá đậm nét bởi các tác giả Han (1978), Prins (1979), Linko (1976) …
Hầu hết các phương pháp này đã sử dụng rơm để sản xuất các loại thức ăn mới Thí dụ sản xuất nấm rơm, Han (1978), protein đơn tế bào, Deniels và Hashim (1977)… đôi khi những sản phẩm còn lại đã được làm thức ăn cho bò; Han (1978) đã báo cáo rằng sản phẩm còn lại, sau khi sản xuất protein đơn bào bằng xelluloza sản phẩm và alcaligenes sản phẩm vi khuẩn, chứa 12% protein thô và 40% xơ thô
Rơm đã được lên men do trichoderma viride (nấm mốc) sản sinh ra sản phẩm hỗn hợp của Mycellium và rơm chưa lên men chứa 18 -24% protein thô
và 33% lignin Mặc dầu protein đã được tăng lên nhưng tỷ lệ tiêu hóa giảm đi vì phần carbonhydrat dễ lên men đã được sử dụng Lượng chứa lignin không giảm thấp Ngược lại nó tăng lên vì xelluloza và hemixelluloza đã được tách
ra Mục đích tạo ra thức ăn cho bò từ rơm, cần quan tâm đến vi khuẩn deligninfyring (tách lignin) Tất cả các nghiên cứu tiến hành trong lĩnh vực này dựa trên nguyên tắc “sản xuất” thức ăn động vật nhai lại từ các loại phụ phẩm nông nghiệp
+ Sự phân huỷ lignin
Lignin thường ít bị phân huỷ trong điều kiện yếm khí (như trong dạ cỏ) và như vậy những vi sinh vật yếm khí thường được dùng để phân huỷ lignin trong thức ăn nhiều xơ Bao gồm vi khuẩn actinomycetes và nấm mốc basidiomycetes
- Actinomycetes:
Đó là nhóm vi khuẩn thuộc dòng nocardia sản phẩm và anthobacte sản phẩm chúng có thể phân huỷ lignin Chưa có những thông tin đầy đủ về khả năng này nhưng nên sử dụng những vi sinh vật này để tách lignin ra khỏi rơm