Luận văn đánh giá các loại hình sử dụng đất phục vụ sản xuất nông nghiệp huyện phổ yên tỉnh thái nguyên
Trang 11 mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, không thể tái tạo
được đối với mỗi quốc gia Đặc biệt là đất nông nghiệp có hạn về diện tích, có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và sự thiếu hiểu biết của con người trong quá trình hoạt động sản xuất Khi xã hội phát triển, dân số tăng nhanh, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh, kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về lương thực, thực phẩm, nhu cầu sinh hoạt, nhu cầu về đất sử dụng vào mục đích chuyên dùng Điều này đã tạo nên áp lực ngày càng lớn đối với đất sản xuất nông nghiệp, làm cho quỹ
đất nông nghiệp luôn có nguy cơ bị suy giảm diện tích, trong khi khả năng khai hoang đất mới và các loại đất khác chuyển sang đất nông nghiệp rất hạn chế Do vậy, việc nghiên cứu đánh giá tiềm năng đất đai, đặc biệt là
đất sản xuất nông nghiệp để tổ chức sử dụng hợp lý, có hiệu quả trên quan
điểm sinh thái và phát triển bền vững ngày càng trở nên cấp thiết, quan trọng đối với mỗi quốc gia
Đánh giá đất đai là một nội dung nghiên cứu không thể thiếu được trong chương trình phát triển một nền nông lâm nghiệp bền vững và có hiệu quả, vì đất đai là tư liệu sản xuất cơ bản nhất của người nông dân, họ phải tự tích lũy những hiểu biết hạn chế trong sử dụng đất của mình, đồng thời nắm được những phương thức sử dụng đất thích hợp Trong nền nông nghiệp ổn định và phát triển bền vững thì công tác đánh giá đất đai là công việc đầu tiên mang tính nền tảng cho qui hoạch sử dụng đất hợp lý,
có hiệu quả cao
Việc đánh giá đúng mức độ thích hợp của các loại hình sử dụng đất
Trang 2để tổ chức sử dụng hợp lý, có hiệu quả đang trở thành một vấn đề có tính thiết thực với tất cả các địa phương Từ kết quả đánh giá tiềm năng đất đai phải đưa ra được các giải pháp mang tính chiến lược để tổ chức sử dụng
đất hiệu quả và lâu bền ở Việt Nam, trong những thập kỷ qua chúng ta đã
có nhiều bài học về sử dụng đất không hợp lý dẫn đến nhiều vùng sản xuất kém hiệu quả, đất bị suy thoái
Phổ Yên nằm ở phía Nam của tỉnh Thái Nguyên với tổng diện tích đất
tự nhiên 25.668 ha, là huyện có vị trí quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên Nền kinh tế của huyện còn chậm phát triển, mức thu nhập thấp, đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn Tuy vậy, huyện Phổ Yên có quỹ đất nông nghiệp khá lớn, điều kiện thiên nhiên ở đây tương đối thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp Để hội nhập với nền kinh tế của tỉnh và khu vực, Phổ Yên cần phải có định hướng cụ thể trong phát triển kinh tế - xã hội toàn diện, ổn định và vững chắc từ nay đến năm 2010, nhằm tạo đà cho những năm tiếp theo Vì vậy vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu đánh giá được tiềm năng đất đai và các tài nguyên thiên nhiên của huyện để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
đa dạng hóa sản phẩm, đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, từng bước nâng cao
đời sống của nhân dân trong huyện
Việc đánh giá các loại hình sử dụng đất thích hợp nhằm sử dụng đất hiệu quả và lâu bền trên cơ sở xây dựng một nền nông nghiệp đa canh và mang tính thương mại là nhu cầu bức thiết trong phát triển nông nghiệp nông thôn ở huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
Xuất phát từ thực tiễn đó, được sự hướng dẫn của PGS.TS Đào Châu
Thu tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá các loại hình sử dụng đất phục vụ sản xuất nông nghiệp huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên”
Trang 31.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích của đề tài
Đánh giá các loại hình sử dụng đất làm cơ sở phân hạng thích hợp đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp ở huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên theo hướng dẫn của FAO
Kết quả nghiên cứu là căn cứ khoa học để xây dựng phương án sử dụng đất nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa cây trồng, tạo đà cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện Phổ Yên
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên về đất đai, đặc điểm kinh tế - xã hội của vùng nghiên cứu, phát hiện những tiềm năng và tồn tại trong sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của huyện
- Xác định hướng phát triển trong sử dụng đất nông nghiệp của huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên thông qua yêu cầu sử dụng đất của các LUT
- Trên cơ sở kết quả đánh giá các LUT, đề xuất được các LUT thích hợp phục vụ sản xuất nông nghiệp huyện Phổ Yên
Trang 42 Tổng quan tài liệu
2.1 Sự cần thiết phải đánh giá đất
Đất đai là nguồn nội lực và là nguồn vốn to lớn của đất nước, là tài nguyên thiên nhiên không tái tạo được và vô cùng quý giá đối với đời sống con người [35] Đất được xác định vừa là tư liệu sản xuất vừa là đối tượng sản xuất trong nông nghiệp Khi dân số tăng nhanh, đất chật, người đông, nhu cầu
về lương thực thực phẩm đòi hỏi nhiều, nhịp độ phát triển mạnh về kinh tế - xã hội đã dẫn đến tàn phá môi trường tự nhiên và khai thác triệt để các nguồn tài nguyên, đặc biệt là nguồn tài nguyên đất đai Trên thực tế đã có khá nhiều bài học về sử dụng đất không thành công do thiếu hiểu biết về đất và điều kiện sinh thái, dẫn đến đất đai bị thoái hóa Để ngăn chặn những suy thoái tài nguyên đất gây ra do sự thiếu hiểu biết của con người và đưa ra được những quyết định đúng đắn về quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả tốt mà vẫn có thể bảo vệ được những tài nguyên trong tương lai thì cần thiết phải nghiên cứu về
đánh giá đất [7]
Đánh giá đất đai ra đời từ rất lâu, từ những cảm nhận đơn giản, chủ quan, cách thức phân nhóm đất thành các mức “tốt”, “xấu” đến những phân tích có cơ sở khoa học nhằm giúp con người đạt được mục đích quản
lý sử dụng đất chặt chẽ, tiết kiệm và có hiệu quả Khoa học đánh giá đất ra
đời và phát triển cùng với sự phát triển của khoa học nông nghiệp và các lĩnh vực khoa học khác Đánh giá đất đai là một bộ phận quan trọng của việc đánh giá tài nguyên thiên nhiên được sử dụng trong nền kinh tế quốc dân và cũng là bộ phận quan trọng của quá trình quy hoạch sử dụng đất, là cơ sở để đưa ra những quyết định sử dụng đất hợp lý, hiệu quả và bền vững (Vũ Thị Bình, 1995) [2]
Trang 5Như vậy đánh giá đất đai gắn liền với sự tồn tại của loài người và khoa học công nghệ; gắn liền với việc sử dụng đất hiện tại và tương lai; là cơ sở cốt lõi để sử dụng đất bền vững Việc đánh giá đất phải được xem xét trên phạm vi rất rộng, bao gồm cả không gian, thời gian, các yếu tố tự nhiên và xã hội Đánh giá đất đai không chỉ là lĩnh vực khoa học tự nhiên
mà còn mang tính kinh tế và kỹ thuật nữa (Đoàn Công Quỳ, 2000) [27] Vì vậy, cần kết hợp chuyên gia của nhiều ngành tham gia đánh giá đất [4] Một quốc gia hay một dân tộc sử dụng đất đai của họ như thế nào là tùy thuộc vào những nhân tố tổng hợp có quan hệ mật thiết với nhau, bao gồm cả các đặc tính của đất, các yếu tố kinh tế, xã hội, hành chính và những hạn chế về chính trị cũng như các nhu cầu và mục tiêu của con người (FAO, 1986) [37]
2.2 Nghiên cứu về đánh giá đất trên thế giới
Theo Julian Dumanski (1998) [48]: “Đất canh tác phải chịu tác động của các quá trình thâm canh cao trong khi sử dụng lại không còn giai đoạn
bỏ hóa, do đó các hệ thống duy trì độ phì đất có hiệu quả cùng với quá trình sử dụng đất theo kiểu tự nhiên trước đây không còn áp dụng nữa” Như vậy nhờ kết quả của quá trình thâm canh, quay vòng sử dụng đất mà chúng ta giải quyết được một cách đáng kể những nhu cầu cấp thiết của con người Nhưng quá trình sử dụng tài nguyên một cách quá mức đã làm không ít diện tích đất canh tác bị thoái hóa và suy kiệt trên phạm vi rộng Trong thực tế việc sử dụng đất phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như các nhu cầu và mục đích sử dụng, đặc tính đất đai (thổ nhưỡng, địa hình, chế độ nước ), yếu tố kinh tế và những trở ngại về điều kiện tự nhiên, xã hội Do
đó để đưa ra được các quyết định sử dụng đất một cách đúng đắn, rõ ràng cần phải thu thập và xử lý được một cách đầy đủ các thông tin về điều
Trang 6kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội có liên quan đến mục đích sử dụng từ đó đưa ra được những lựa chọn trong việc sử dụng đất cho người
sử dụng, quá trình thực hiện này được người ta biết đến như là một quá trình đánh giá khả năng sử dụng đất thích hợp Việc đánh giá đất đai thực
sự mới ra đời từ những thập niên 50 và nó đã được nhìn nhận như một sự
nỗ lực quan trọng, đúng lúc của con người nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên
đất đai quý báu và hướng đến mục tiêu phát triển bền vững cho sản xuất nông nghiệp (Đỗ Nguyên Hải, 2000) [9]
Vấn đề sử dụng đất đai tiết kiệm, cải tạo và bảo vệ tài nguyên đất đai
đã được nhiều nước đặt thành nội dung chính trong chương trình bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Sử dụng đất trên cơ sở điều tra, nghiên cứu để nắm chắc số lượng và chất lượng, đánh giá đất đai và quy hoạch sử dụng đất hợp lý là yêu cầu thiết thực không thể thiếu được của các chủ sử dụng đất (Đoàn Công Quỳ, 2000) [27]
Đánh giá đất đai đã được nhiều nhà khoa học, nhiều cơ quan thuộc các tổ chức quốc tế và các nước trên thế giới quan tâm và tiến hành nghiên cứu, do vậy trở thành một trong những chuyên ngành nghiên cứu quan trọng và đặc biệt gần gũi với những nhà quy hoạch, người hoạch định chính sách đất đai và người sử dụng Các kết quả đánh giá đất đai đã thực
sự được sử dụng trong quy hoạch sử dụng đất, do việc nghiên cứu các đặc
điểm, tính chất của đất đã giúp cho con người hiểu rõ được bản chất của
đất để khai thác nó một cách có hiệu quả nhất
Theo Stewart (1968): “Đánh giá đất đai là sự đánh giá khả năng thích hợp của đất đai cho việc sử dụng của con người vào nông nghiệp, lâm nghiệp, thiết kế thủy lợi, quy hoạch sử dụng đất ” Hay có thể nói khác đi
là “Đánh giá đất đai nhằm mục tiêu cung cấp những thông tin về sự thuận
Trang 7lợi và khó khăn cho việc sử dụng đất, làm căn cứ cho việc đưa ra quyết
định về sử dụng và quản lý đất đai”
Theo A.Young: Đánh giá đất đai là quá trình đoán định tiềm năng của đất đai cho một hoặc một số loại sử dụng đất đai được đưa ra để lựa chọn
Có nhiều định nghĩa về đánh giá đất đai, tuy nhiên định nghĩa về
đánh giá đất đai của FAO (1976) [41] được nhiều nhà khoa học trên thế giới thống nhất: “Đánh giá đất đai là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của vạt đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại sử dụng yêu cầu phải có”
Hiện nay, có nhiều trường phái và quan điểm đánh giá đất khác nhau trên thế giới, trong đó đáng chú ý một số trường phái sau:
2.2.1 Đánh giá đất đai ở Mỹ
Khái niệm chủ yếu nêu lên trong hệ thống phân loại tiềm năng đất
đai của Mỹ là khái niệm về những hạn chế, đó là những tính chất đất đai gây trở ngại cho việc sử dụng đất Có những loại hạn chế lâu dài và những loại hạn chế tạm thời Những hạn chế lâu dài là những hạn chế nếu chỉ tác
động bằng những cải tạo nhỏ thì không giải quyết được Những hạn chế tạm thời là những hạn chế có thể cải tạo bằng những biện pháp kỹ thuật và quản lý Nghĩa là các yếu tố nào có mức độ hạn chế lớn và khả năng chi phối mạnh đến sử dụng đất là yếu tố quyết định mức độ thích hợp mà không cần tính đến những khả năng thuận lợi của các yếu tố khác có trong
Trang 8lên) Khi tiến hành đánh giá đất đai, các nhà khoa học đã tiến hành phân hạng đất đai cho từng loại cây trồng chính, đặc biệt là cây lúa mì và xác
định mối tương quan giữa đất đai với các giống lúa mì được trồng trên đó
để đề ra những biện pháp thâm canh tăng năng suất (Đoàn Công Quỳ, 2000) [27]
2- Phương pháp yếu tố: Bằng cách thống kê yếu tố tự nhiên và kinh tế
để so sánh, lấy lợi nhuận tối đa là 100 điểm để làm mốc so sánh với các
đất khác (Nguyễn Huy Phồn, 1996) [23]
ở mức tổng quát, Mỹ đã phân hạng đất đai bằng phương pháp quy nhóm đất phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp gọi là đánh giá tiềm năng
đất Người ta chia đất đai trong lãnh thổ Mỹ thành 8 nhóm khác nhau: Bốn nhóm đầu là thích hợp cho sản xuất nông nghiệp và bốn nhóm sau là những nhóm không thích hợp cho sản xuất nông nghiệp được dùng vào các mục đích sử dụng khác
Bốn nhóm đầu thích hợp cho sản xuất nông nghiệp (từ thích hợp cao đến thấp) gồm:
- Nhóm 1: Bao gồm những loại đất không có trở ngại gì trong khi sử dụng, thích hợp với nhiều loại cây trồng Đặc điểm là tầng đất dày, không
bị xói mòn, dễ canh tác, không đòi hỏi nhiều biện pháp chống xói mòn bảo vệ đất
- Nhóm 2: Bao gồm những loại đất cũng thích hợp với nhiều loại cây trồng, nhưng có chất lượng kém hơn nhóm 1, thể hiện một số hạn chế nhỏ
- Nhóm 3: Thích hợp với nhiều loại cây trồng, nhưng khi sản xuất phải tuân thủ một số biện pháp bảo vệ đất, mức độ hạn chế của các yếu tố
đã tăng lên
- Nhóm 4: Gồm những loại đất thích hợp với một số loại cây trồng
Trang 9nhưng không thường xuyên, do đó phải có nhiều biện pháp cải tạo mới sử dụng có hiệu quả
Phương pháp đánh giá đất của Mỹ có hạn chế đó là không đi sâu vào nghiên cứu từng loại sử dụng đất cụ thể đối với sản xuất nông nghiệp và hiệu quả kinh tế, xã hội Tuy nhiên phương pháp này rất quan tâm đến những yếu tố hạn chế trong quản lý và sử dụng đất có tính đến các vấn đề
về môi trường, đây cũng chính là điểm mạnh của phương pháp nhằm mục
đích duy trì và sử dụng đất bền vững (Đỗ Nguyên Hải, 2000) [9]
2.2.2 Đánh giá đất theo Liên Xô (cũ)
Đây là trường phái đánh giá đất theo quan điểm phát sinh, phát triển của Docuchaep V.V Đánh giá đất dựa trên cơ sở các đặc tính khí hậu, địa hình, địa mạo, thổ nhưỡng, nước ngầm và thực vật Phương pháp đánh giá
được hình thành từ đầu những năm 50, sau đó đã được phát triển và hoàn thiện vào năm 1986 để tiến hành đánh giá và thống kê chất lượng tài nguyên đất đai nhằm phục vụ cho mục đích xây dựng chiến lược quản lý
và sử dụng đất cho các đơn vị hành chính và sản xuất trên lãnh thổ Liên bang Xô viết Trong đánh giá đất thường áp dụng phương pháp cho điểm các yếu tố trên cơ sở thang điểm chuẩn đã được xây dựng thống nhất Đối chiếu giữa tính chất đất và điều kiện tự nhiên với yêu cầu của hệ thống cây trồng được lựa chọn để phân hạng đánh giá đất Đơn vị đánh giá đất là các chủng loại đất, quy định đánh giá đất cho cây có tưới, đất được tiêu úng,
đất trồng cây lâu năm, đất đồng cỏ Chỉ tiêu đánh giá đất là năng suất, giá thành sản phẩm, mức hoàn vốn, địa tô cấp sai (phần lãi thuần túy) (Đào Châu Thu, Nguyễn Khang, 1998) [31]
Nguyên tắc đánh giá mức độ sử dụng đất thích hợp là phân chia khả năng sử dụng đất đai trên toàn lãnh thổ theo các nhóm và các lớp thích
Trang 10vệ đất
Việc phân hạng và đánh giá đất đai được thực hiện theo 3 bước : 1- Đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng (so sánh các loại thổ nhưỡng theo tính chất tự nhiên)
2- Đánh giá khả năng sản xuất của đất đai (yếu tố được xem xét kết hợp với khí hậu, độ ẩm, địa hình…)
3- Đánh giá kinh tế đất (chủ yếu đánh giá khả năng sản xuất hiện tại của đất đai)
Đánh giá đất đai theo quan điểm phát sinh của Liên Xô cũ đã được sử dụng rộng rãi ở các nước thuộc hệ thống XHCN cũ ở Đông âu và một vài nước khác ở châu á, châu Phi Kết quả đánh giá đất đã giúp cho việc hoạch định chiến lược sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên đất theo các phân vùng nông nghiệp tự nhiên hướng tới mục đích sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất hợp lý
Tuy nhiên phương pháp này thuần túy quan tâm đến các yếu tố tự nhiên của đối tượng đất đai, mà chưa xem xét đầy đủ đến yếu tố kinh tế, xã hội Đối với các loại hình sử dụng đất nông nghiệp việc phân hạng thích hợp chưa đi sâu đánh giá phân loại riêng rẽ cho từng loại hình sử dụng, do đó sẽ không tránh khỏi chủ quan trong đánh giá
Trang 112.2.3 Đánh giá đất đai ở Canada
Tại Canada, người ta đánh giá đất theo các tính chất tự nhiên của đất
và năng suất ngũ cốc nhiều năm Lấy cây lúa mì làm tiêu chuẩn, khi có nhiều loại cây thì quy đổi ra lúa mì Các chỉ tiêu được sử dụng trong đánh giá đất đai ở Canada là thành phần cơ giới, cấu trúc đất, mức độ muối độc trong đất, xói mòn và đá lẫn
Đất đai được đánh giá bằng thang điểm 100 theo tiêu chuẩn trồng lúa mì Người ta chia đất đai trên lãnh thổ Canada thành 7 nhóm : Nhóm 1 và nhóm 2 thích hợp cho nhiều loại cây trồng, địa hình bằng phẳng, tầng đất dày, ít bị xói mòn; nhóm 3 và nhóm 4 chỉ thích hợp cho một số cây trồng, tầng đất mỏng, dễ bị xói mòn; nhóm 5 không thích hợp cho trồng cây hàng năm mà phải trồng cây lâu năm; nhóm 6 thích hợp cho việc chăn thả gia súc; nhóm 7 là những loại đất không thể sản xuất nông nghiệp được
2.2.4 Đánh giá đất đai ở Anh
ở Anh có hai phương pháp đánh giá đất là dựa vào sức sản xuất tiềm tàng của đất hoặc dựa vào sức sản xuất thực tế của đất
- Phương pháp đánh giá đất dựa vào thống kê sức sản xuất tiềm tàng của đất: Phương pháp này chia đất làm các hạng, mô tả mỗi hạng trong quan hệ bị ảnh hưởng bởi những yếu tố hạn chế của đất đối với việc sử dụng trong sản xuất
- Phương pháp đánh giá đất dựa vào thống kê sức sản xuất thực tế của
đất đai: Cơ sở của phương pháp này là dựa vào năng suất bình quân nhiều năm so với năng suất thực tế trên đất được lấy làm chuẩn Tuy vậy phương pháp này có hạn chế là số liệu điều tra về năng suất cây trồng hằng năm gặp nhiều khó khăn vì sản lượng, năng suất còn phụ thuộc vào cây trồng được chọn và phụ thuộc vào khả năng đầu tư, cải tạo của người sử dụng đất
Trang 12Trên cơ sở các phương pháp đánh giá đất này, đất đai của Anh được chia thành 5 nhóm: Nhóm 1 và nhóm 2 thích hợp cho trồng cây lương thực, đem lại năng suất cao, ít phải dùng các biện pháp cải tạo đất; nhóm
3, nhóm 4 và nhóm 5 không thích hợp cho trồng cây lương thực, chỉ thích hợp cho trồng cỏ và các loại cây trồng ít đòi hỏi đầu tư thâm canh
2.2.5 Đánh giá đất đai ở Bungari
Đánh giá đất đai ở Bungari được tiến hành theo từng loại cây trồng (lúa mì, khoai tây…) Đối với mỗi loại cây trồng tiến hành xác định các tính chất có ảnh hưởng đến năng suất cây trồng (thành phần cơ giới đất, mức độ mùn, độ dày tầng đất và tính chất lý học, hóa học của đất…) Trên cơ sở đó xác định các yêu cầu thích hợp cho từng loại cây trồng bằng cách xây dựng các thang điểm đánh giá (tối ưu là 100 điểm)
2.2.6 Đánh giá đất đai ở ấn Độ
ở ấn Độ đã tiến hành đánh giá đất đai áp dụng các phương pháp tham biến, biểu thị mối quan hệ của các yếu tố dưới dạng các phương trình toán học sau:
Trang 13- Nhóm thượng hảo hạng: Đất đạt 80%-100%, có thể trồng bất kỳ loại cây gì cũng cho năng suất cao
- Nhóm tốt: Đất đạt 60%-79%, có thể trồng bất kỳ cây gì nhưng cho năng suất thấp hơn
- Bốn nhóm còn lại là nhóm trung bình, nhóm nghèo, nhóm rất nghèo
và nhóm không thể dùng vào sản xuất nông nghiệp
2.2.7 Đánh giá đất đai ở vùng nhiệt đới ẩm châu Phi
Tại châu Phi, người ta cũng áp dụng phương pháp tham biến trong
đánh giá đất đai, nhưng có tính đến sự phụ thuộc vào một số tính chất sức sản xuất của đất Sức sản xuất của đất phụ thuộc vào đặc tính thổ nhưỡng như: Sự phát triển của phẫu diện đất; sự có mặt của tầng đất chặt trong phẫu diện đất; màu sắc của đất và điều kiện thoát nước; độ chua và độ no bazơ; mức phát triển của tầng mùn trong đất Tất cả những đặc tính trên
được thể hiện bằng các phương trình toán học và từ đó tính ra được sức sản xuất của đất đai
2.2.8 Nhận xét về đánh giá đất đai trên thế giới
Đánh giá đất đai đã được nghiên cứu từ lâu trên thế giới và trở thành một khâu trọng yếu trong các hoạt động đánh giá tài nguyên hay quy hoạch sử dụng đất Công tác đánh giá đất đai có vai trò rất lớn trong việc
sử dụng tài nguyên đất đai bền vững và trở thành công cụ cần thiết cho việc quy hoạch, bố trí sử dụng đất hợp lý (Trần An Phong, 1995) [26] Các phương pháp đánh giá đất đai trên thế giới có những ưu điểm và hạn chế
cụ thể sau:
2.2.9.1 Ưu điểm
- Các phương pháp đánh giá đất đai trên thế giới đều xác định đối tượng đánh giá đất đai là toàn bộ quỹ đất của vùng lãnh thổ nghiên cứu và
Trang 14mục đích chung của các phương pháp là nhằm phục vụ cho quy hoạch sử dụng đất thích hợp, hiệu quả và lâu bền
- Mỗi phương pháp đánh giá đều có những thích ứng linh hoạt trong việc xác định các đặc tính và các yếu tố hạn chế có liên quan trong quá trình đánh giá đất đai, do đó có thể điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng địa phương (Đỗ Nguyên Hải, 2000) [9]
- Đánh giá đất đai gắn với mục đích sử dụng đất nông nghiệp theo nghĩa rộng (bao gồm trồng trọt và chăn nuôi) Khi nghiên cứu, các phương pháp đều cung cấp các thông tin liên quan đến các yếu tố thổ nhưỡng, môi trường đất và các kỹ thuật thâm canh, cải tạo đất, nâng cao năng suất cây trồng nhằm giúp cho các nhà quản lý đất đai đưa ra những quyết định sử dụng đất hợp lý
- Hệ thống phân vị khép kín cho phép đánh giá đất từ khái quát đến chi tiết trên quy mô lãnh thổ quốc gia, vùng, các đơn vị hành chính và cơ
sở sản xuất (Nguyễn Đình Bồng, 1995) [5]
- Việc nhấn mạnh những yếu tố hạn chế bất lợi của đất và xác định các biện pháp bảo vệ đất trong phương pháp đánh giá đất của Mỹ là hết sức có ý nghĩa trong việc tăng cường bảo vệ môi trường sinh thái, sử dụng
đất bền vững
2.2.9.2 Hạn chế
- Các phương pháp đánh giá đất đã nghiên cứu ở trên chưa khắc phục
được yếu tố chủ quan trong đánh giá Cụ thể: Trong các phương pháp đánh giá đất của Mỹ và Liên xô (cũ) đều thiếu những giới hạn phân chia giá trị cho các tiêu chuẩn phân loại sử dụng riêng rẽ, điều này sẽ không tránh khỏi dẫn đến ý thức chủ quan trong đánh giá hay các phương pháp đánh giá đất của Canada, Bungari, ấn Độ, vùng nhiệt đới ẩm châu Phi đưa ra
Trang 15kết quả đánh giá bằng cách cho điểm cũng sẽ không tránh khỏi chủ quan trong quá trình cho điểm
- Các phương pháp đánh giá đất đều dựa chủ yếu vào khả năng thích hợp về các điều kiện tự nhiên đối với các loại hình sử dụng, trong khi quan tâm rất ít hoặc không quan tâm đến những yếu tố kinh tế - xã hội Vì vậy
có thể dẫn đến sai lệch trong kết quả đánh giá vì chúng chỉ phù hợp với
điều kiện tự nhiên của vùng nghiên cứu mà không phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội
- Việc chỉ xác định chung đối với các loại hình sử dụng đất mà chưa
có những chỉ dẫn thích hợp về đất đai cho những hệ thống cây trồng riêng
rẽ và những yêu cầu của các loại hình sử dụng đất cụ thể trong sản xuất của các phương pháp đánh giá đất đã nghiên cứu sẽ dẫn đến khó khăn cho việc vận dụng đánh giá đất ở mức độ chi tiết đối với sản xuất nông nghiệp Bởi vì một số yếu tố được xác định trong đánh giá có thể coi là yếu tố hạn chế hay không thích hợp cho loại hình sử dụng này, song lại không phải là yếu tố hạn chế cho các loại hình sử dụng khác
2.3 Nghiên cứu về đánh giá đất của FAO
Trước tình hình suy thoái đất diễn ra mạnh mẽ và ngày một tăng (đặc biệt là đất nông nghiệp), tổ chức FAO đã có quá trình thử nghiệm đánh giá đất tại nhiều vùng khác nhau trên thế giới và đã thu được những kết quả nhất định Từ những năm 70, nhiều quốc gia trên thế giới đã cố gắng phát triển hệ thống đánh giá đất đai của họ, và người ta nhận thức được tầm quan trọng xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của thực tiễn sản xuất đặt ra
là phải có những giải pháp hợp lý trong sử dụng đất nhằm hạn chế và ngăn chặn những tổn thất đối với tài nguyên đất đai Các nhà khoa học nghiên cứu về đánh giá đất trên thế giới nhận thấy phải có một sự nỗ lực không
Trang 16chỉ đơn phương ở một quốc gia riêng rẽ, mà phải thống nhất và tiêu chuẩn hóa việc đánh giá đất đai trên phạm vi toàn cầu Kết quả là ủy ban Quốc tế nghiên cứu đánh giá đất đã được thành lập tại Rome (ý) của tổ chức FAO
và cho ra đời bản dự thảo đánh giá đất lần đầu tiên vào năm 1972 Sau đó
được BlinKman và Smyth soạn thảo lại và in ấn năm 1973 Năm 1975, tại hội nghị Rome, những ý kiến đóng góp cho bản dự thảo năm 1973 đã được các chuyên gia hàng đầu về đánh giá đất đai của FAO (K.J.Beek, J.Berema, P.J.Mabiler, G.A.Smyth ) biên soạn lại để hình thành nội dung phương pháp đánh giá đất đai đầu tiên của tổ chức FAO công bố năm
1976 (A Framework for Land Evaluation, 1976) [41] Tài liệu này được thử nghiệm ban đầu ở các nước đang phát triển và tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện vào các năm sau đó để áp dụng đánh giá đất cho từng đối tượng chuyên biệt cụ thể như:
- Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp nhờ mưa [42]
- Đánh giá đất đai vì sự phát triển [43]
- Đánh giá đất cho nền nông nghiệp được tưới [44]
- Đánh giá đất đai cho phát triển nông thôn [45]
- Đánh giá đất cho trồng trọt đồng cỏ quảng canh [46]
- Đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác phục vụ cho quy hoạch sử dụng đất [47]
Theo FAO (1976) [41] thì đánh giá đất đai được định nghĩa như sau:
“Đánh giá đất đai là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của vạt đất, khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại yêu cầu sử dụng đất cần phải có” Đánh giá đất đai là một phần trong tiến trình quy hoạch sử dụng đất (Beek K.I and Berema J, 1972) [39] Khi tiến hành đánh giá đất cụ thể cho các đối tượng sản xuất nông, lâm kết hợp thì
Trang 17đất đai được nhìn nhận như là một vạt đất xác định về mặt địa lý, là một diện tích bề mặt của trái đất với những thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của môi trường bên trong, bên trên và bên dưới như không khí, loại đất, hình dạng, điều kiện
địa chất, thủy văn, động vật, thực vật, những hoạt động tác động từ trước
và hiện tại của con người phát triển ở chừng mực mà những thuộc tính này
có ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng vạt đất đó trong hiện tại và tương lai Như vậy, đánh giá đất đai phải được xem xét trên phạm vi rộng rãi bao gồm cả về không gian, thời gian và điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
Đặc điểm đánh giá đất đai của FAO là những tính chất của đất có thể đo lường hoặc ước lượng được Vì vậy cần có sự lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá mà có sự tác động đến vùng đất hay khu vực nghiên cứu [40]
Ngoài việc xem xét xét kỹ về điều kiện tự nhiên thì phương pháp
đánh giá đất theo FAO rất chú trọng tới điều kiện kinh tế - xã hội Các số liệu sinh học cùng các yếu tố kinh tế - xã hội như sở hữu đất đai, khả năng lao động, những quyết định về mặt chính sách, luật pháp, hệ thống giao thông, thủy lợi, các cơ sở chế biến, thị trường, vốn là những kết quả để giúp cho việc đánh giá đất đai mang tính thực tiễn hơn (Julian Dumanski, 1998) [48]
Quy hoạch sử dụng đất kế tục công việc của đánh giá đất sau khi
đánh giá đất đã đưa ra những khuyến cáo đó là những loại hình sử dụng
đất thích hợp nhất đối với các đơn vị đất đai trong vùng Các nhà Quy hoạch phải xác định ở đâu và làm như thế nào để các phương án sử dụng
đất có thể được thực thi tốt nhất và đáp ứng yêu cầu kinh tế xã hội và môi trường bền vững của cả cộng đồng trên toàn vùng nghiên cứu (Vũ Thị Bình, 1995) [2] Trong khi đánh giá đất đai được tập trung vào khả năng
Trang 18của các đơn vị đất cụ thể, vận dụng các loại hình sử dụng đất khác nhau thì quy hoạch sử dụng đất phải xác định mối quan hệ giữa các loại hình sử dụng đất Để đảm bảo cho quy hoạch sử dụng đất thành công cần phải phát triển nó trong khuôn khổ rộng hơn của vùng và của cả nước, đồng thời quy hoạch cũng phải bao gồm cả các giải pháp kinh tế kỹ thuật hợp
lý, có thể chấp nhận theo khuôn mẫu sử dụng đất được đề xuất [17]
2.3.1 Những nguyên tắc cơ bản trong đánh giá đất của FAO
- Đánh giá mức độ thích hợp của đất đai được đánh giá và phân hạng cho các loại hình sử dụng đất cụ thể Việc đánh giá đất đai đòi hỏi phải có
sự so sánh giữa lợi nhuận thu được và đầu tư cần thiết trên các loại hình sử dụng đất LUT khác nhau (phân bón, lao động, thuốc trừ sâu, chi phí máy móc )
- Yêu cầu phải có quan điểm tổng hợp trong đánh giá đất, nghĩa là phải có sự phối hợp và tham gia đầy đủ của các nhà nông học, lâm nghiệp, kinh tế và xã hội học Việc đánh giá đất đai phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng/ khu vực cần nghiên cứu
- Khả năng thích hợp của các LUT đưa vào sử dụng phải dựa trên cơ
sở bền vững, các nhân tố sinh thái trong sử dụng đất phải được cân nhắc
để quyết định Đánh giá đất tập trung so sánh giữa các sử dụng đất của các LUT khác nhau
2.3.2 Quy trình đánh giá đất đai của FAO
Theo tài liệu “Đánh giá đất đai vì sự nghiệp phát triển”, FAO đã chỉ dẫn các bước thực hiện đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất bao gồm 9 bước (sơ đồ 1) Yêu cầu chính trong đánh giá đất của FAO là gắn liền
đánh giá đất với quy hoạch sử dụng đất, coi đánh giá đất là một phần của quy hoạch sử dụng đất
Trang 199 áp dụng
của việc đánh
giá đất
8 Quy hoạch sử dụng đất
7 Xác định
LH sử dụng đất thích hợp nhất
6 Xác định hiện trạng KT – XH và môi trường
5 Đánh giá khả năng thích hợp
Sơ đồ 1: Các b ước chính trong đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất
Trong quy trình đánh giá đất của FAO thì bước điều tra xác định các loại hình sử dụng đất được xem là một phần thiết yếu, quan trọng của công việc đánh giá đất và đánh giá đất đai là kết quả của việc cân nhắc đánh giá các tiềm năng của đất đai cho một hay nhiều loại hình sử dụng Vì thế đánh giá
đất yêu cầu thu thập những thông tin từ nhiều phương diện của đất đai gồm thổ nhưỡng, địa hình, địa mạo, các điều kiện địa chất, khí hậu, thủy văn, lớp phủ thực vật và các điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường có liên quan đến mục đích sử dụng đất (Phạm Quang Khánh, 1994) [12]
2.3.3 Đánh giá khả năng thích hợp
Theo FAO khả năng thích hợp đất đai là sự phản ánh mức độ thích hợp như thế nào (cao hay thấp) của một đơn vị đất đai đối với một loại hình sử dụng đất được xác định Khả năng này có thể xem xét ở điều kiện hiện tại hoặc trong tương lai sau khi áp dụng những biện pháp cải tạo (thủy lợi, bón phân, kỹ thuật thâm canh, các biện pháp cải tạo khác) đối
Trang 20Cấu trúc phân loại khả năng thích hợp đất đai: Hệ thống phân loại khả năng thích hợp đất đai được sử dụng theo phương pháp của FAO gồm
4 cấp như sau:
1- Cấp thích hợp (Land Suitability Order): Phản ánh loại thích hợp
Nó chỉ ra đất đai là thích hợp hay không thích hợp với loại hình sử dụng
đất được xem xét (trong đó ký hiệu là S: thích hợp; N: không thích hợp) 2- Hạng thích hợp (Land Suitability Class): Phản ánh các mức độ thích hợp đối với các LUT Hạng được ký hiệu bằng chữ số ả Rập, bao gồm 3 mức sau:
S1 thích hợp cao: Cho thấy các đơn vị đất đai không thể hiện những yếu
tố hạn chế hoặc chỉ thể hiện ở mức độ nhẹ, dễ khắc phục và không làm ảnh hưởng đến năng suất, lợi nhuận thu được của loại hình sử dụng đất cần đánh giá
S2 thích hợp trung bình: Chỉ các đơn vị đất đai có những hạn chế ở mức độ trung bình đối với việc phát triển bền vững một loại hình sử dụng
đất được đề nghị Những hạn chế này sẽ làm giảm sức sản xuất hay lợi nhuận hoặc làm tăng mức đầu tư để đạt được những lợi nhuận cần thiết khi
sử dụng
S3 thích hợp thấp: Đặc tính đơn vị đất đai xuất hiện nhiều yếu tố hạn chế hoặc một số yếu tố hạn chế nghiêm trọng khó khắc phục đối với các loại hình sử dụng đất được đưa vào đánh giá, lợi nhuận thu được thấp và phí đầu tư cao Tuy nhiên chưa đến mức phải loại bỏ các loại hình sử dụng
đất này
Hạng của cấp không thích hợp được chia ra làm hai loại:
N1 không thích hợp hiện tại: Đặc tính của đơn vị đất đai không thích hợp với LUT hiện tại vì có các yếu tố hạn chế nghiêm trọng Tuy nhiên
Trang 21các yếu tố hạn chế đó có thể được khắc phục bằng các biện pháp đầu tư rất lớn hay các giải pháp về khoa học và kỹ thuật trong tương lai để cải tạo
đất đai nhằm nâng hạng thích hợp lên
N2 không thích hợp vĩnh viễn: Đặc điểm của đất có những yếu tố hạn chế rất nghiêm trọng không thể khắc phục được bằng bất cứ biện pháp kỹ thuật hoặc kinh tế nào trong hiện tại cũng như trong tương lai
3- Hạng phụ (Subclass): Hạng phụ thích hợp phản ánh các yếu tố
đang hạn chế đến khả năng sử dụng đất của vùng nghiên cứu Các yếu tố hạn chế ở hạng phụ chủ yếu là các điều kiện tự nhiên như: khí hậu (lũ lụt:
f, hạn hán: d); điều kiện đất đai (địa hình: t, độ dốc: s…); tính chất đất (mặn: s, được tưới: i…) Hạng phụ thích hợp thường đi kèm các ký hiệu của yếu tố hạn chế đối với kiểu sử dụng đất nào đó (ví dụ: S2i, S2t ) Tuy nhiên không có hạng phụ ở lớp thích hợp cao như S1 Những hạng thuộc cấp không thích hợp N có thể được chia ra các hạng phụ tuỳ thuộc vào loại hạn chế chẳng hạn như N1i, N1e
4- Đơn vị thích hợp (Unit): Đơn vị đất được phân ra theo yếu tố hạn chế ở hạng phụ trong quản lý sản xuất và đầu tư sản xuất Các yếu tố hạn chế về quản lý kinh tế phụ thuộc vào các nông hộ/nông trại Để nhận biết các đơn vị thích hợp đất đai, việc quản lý chi tiết có thể được điều tra cụ thể trên đồng ruộng và cho từng nông hộ Ví dụ phân hạng thích hợp đơn
vị đất đai là S2d-2: thích hợp trung bình, có khoảng cách từ ruộng đến kênh mương tưới nước trung bình
Khi đánh giá riêng biệt từng đặc tính đất đai thì kết quả sẽ là số “các thích hợp từng phần” của các LMU đối với các LUT Để phân hạng thích hợp đất đai, số các thích hợp từng phần này phải được kết hợp lại thành tính thích hợp chung (yêu cầu sử dụng đất) của mỗi LMU cho các LUT rồi
Trang 22tiến hành đối chiếu, so sánh Đánh giá khả năng thích hợp đất đai là sự kết hợp các tính thích hợp từng phần của từng đặc tính đất đai vào lớp thích hợp tổng thể của LMU cho một LUT nhất định (Phạm Dương Ưng và các cộng sự, 1997) [36] Như vậy đánh giá khả năng thích hợp đất đai sẽ xác
định được cấp phân hạng chung nhất về sự thích hợp của một LMU đối với một LUT nào đó
Kết quả đánh giá phân hạng đất đai cần phải được kiểm tra lại bằng cách so sánh với số liệu đồng ruộng và mức đầu tư thực tế Đây là vấn đề
so sánh các yếu tố đầu vào và đầu ra của một hệ thống sử dụng đất (phân tích kinh tế) Đầu vào chính là chi phí cho các cải tạo đất lớn hoặc nhỏ và
đầu ra chính là mức năng suất hoặc mức tin cậy của năng suất (Đào Châu Thu, Nguyễn Khang, 1998) [31] Cấu trúc của phân hạng thích hợp đất đai theo FAO được thể hiện theo sơ đồ:
N2eN1iS2sS2i
Sơ đồ 2: Cấu trúc của phân hạng thích hợp đất đai theo FAO
2.3.4 ưu điểm của phương pháp đánh giá đất theo FAO
- Phương pháp đánh giá đất theo FAO là sự kế thừa, kết hợp được những
điểm mạnh của các phương pháp đánh giá đất trên thế giới (đặc biệt là hai phương pháp tiêu biểu của Mỹ và Liên Xô cũ) Cơ sở của phương pháp đánh
Trang 23giá đất theo FAO là dựa trên sự so sánh, đối chiếu mức độ thích hợp giữa yêu cầu của các loại hình sử dụng đất với chất lượng và các đặc tính vốn có của
đơn vị bản đồ đất đai, kết hợp với các điều kiện kinh tế và xã hội có liên quan
đến hiệu quả sử dụng đất Do đó phương pháp đánh giá đất theo FAO khắc phục được những nhược điểm chủ quan trong đánh giá, vì có sự bổ sung hoàn chỉnh về phương pháp đánh giá thích hợp đất đai cho các mục đích sử dụng khác nhau
- Các nhà khoa học trên thế giới đã có tiếng nói chung trong việc nghiên cứu và đưa ra phương pháp đánh giá đất đai mang tính quốc tế, đó
là phương pháp đánh giá đất theo FAO Vì vậy sẽ hạn chế được sự tranh cãi về phương pháp đánh giá đất khoa học, thuận lợi cho việc trao đổi thông tin trong đánh giá sử dụng đất giữa các quốc gia trên thế giới, tiến tới đánh giá khả năng duy trì và bảo vệ tài nguyên đất đai nhằm xây dựng một nền nông nghiệp đa canh, bền vững trong từng quốc gia và trên phạm
vi toàn cầu
- Phương pháp đánh giá đất theo FAO ngoài việc đề cập đến các chỉ tiêu điều kiện tự nhiên của đất đai như các phương pháp khác trên thế giới còn đề cập đến các chỉ tiêu kinh tế, xã hội có liên quan đến khả năng sử dụng đất và khả năng sinh lợi của chúng, do đó kết quả đánh giá đất mang tính thực tiễn hơn
- Việc nhấn mạnh các yếu tố hạn chế trong trong sử dụng đất có tính
đến các vấn đề môi trường và đánh giá riêng rẽ, chi tiết đối với từng loại hình sử dụng đất cho phép phương pháp đánh giá đất của FAO đánh giá các yếu tố được rõ ràng hơn, kết quả đánh giá được khách quan hơn và có
ý nghĩa rất lớn trong việc tăng cường bảo vệ môi trường sinh thái trên những vùng đất dễ bị suy thoái (Đỗ Nguyên Hải, 2000) [9]
Trang 24Tóm lại, đánh giá đất theo FAO là nhằm tăng cường nhận thức và hiểu biết phương pháp đánh giá đất đai trong khuôn khổ quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm giữ gìn nguồn tài nguyên đất không bị thoái hóa,
sử dụng đất được lâu bền Phương pháp đánh giá đất theo FAO dựa trên cơ
sở phân hạng đất thích hợp Nền tảng của phương pháp này là sự so sánh giữa yêu cầu sử dụng đất với chất lượng đất, gắn với việc phân tích các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường để lựa chọn phương án sử dụng đất tốt nhất
2.4 Nghiên cứu về đánh giá đất của FAO ở Việt Nam
Những nghiên cứu về đánh giá đất đai ở Việt Nam mới thực sự được bắt đầu ở những năm đầu thập kỷ 70, Bùi Quang Toản cùng một số cán bộ khoa học của Viện thổ nhưỡng nông hóa như Vũ Cao Thái, Nguyễn Văn Thân, Đinh Văn Tỉnh đã thực hiện công tác nghiên cứu đánh giá đất và phân hạng đất ở 23 huyện, 286 HTX và 9 vùng chuyên canh Kết quả bước
đầu rất thiết thực cho công tác tổ chức lại sản xuất [33] Từ kết quả nghiên cứu đó, Bùi Quang Toản đã đề xuất quy trình phân hạng đất đai áp dụng cho các HTX và các vùng chuyên canh gồm 4 bước, các yếu tố chất lượng
đất được chia ra thành yếu tố thuận và yếu tố nghịch, đất đai được chia thành 4 hạng: rất tốt, tốt, trung bình và kém Quy trình này đã được áp dụng trong một thời gian dài ở nhiều nơi Tuy nhiên khía cạnh kinh tế, xã hội và các sự tác động tới môi trường vẫn chưa được nghiên cứu sâu Năm
1983, Tổng cục Quản lý ruộng đất đã ban hành dự thảo “Phương pháp phân hạng đất lúa nước cấp huyện” Tài liệu hướng dẫn phân đất đai thành
8 hạng, chủ yếu dựa vào năng suất cây trồng là chính, ngoài ra còn sử dụng các chỉ tiêu như độ dày tầng canh tác, địa hình, thành phần cơ giới,
độ nhiễm mặn, nhiễm phèn [34] Tuy vậy việc đánh giá phân hạng đất chỉ
Trang 25đi sâu vào nghiên cứu các yếu tố thổ nhưỡng và chế độ nước mà chưa đề cập một cách đầy đủ đến các đặc tính sinh thái môi trường và các điều kiện kinh tế, xã hội trong đánh giá
Năm 1986 Tôn Thất Chiểu [6] đã nghiên cứu đánh giá, phân hạng đất khái quát toàn quốc trên tỷ lệ bản đồ 1/500.000, tác giả đã áp dụng đánh giá phân loại khả năng đất đai của Bộ Nông nghiệp Mỹ, kết quả là đã phân lập ra các nhóm khả năng thích hợp đất đai trên toàn quốc Trong đó có 4 nhóm được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp, 2 nhóm có khả năng sử dụng cho sản xuất lâm nghiệp và 2 nhóm được sử dụng vào các mục đích
sử dụng khác
Phương pháp đánh giá sử dụng đất thích hợp của FAO bắt đầu được nghiên cứu ứng dụng ở Việt Nam vào những năm cuối của thập kỷ 80 Bước đầu vận dụng thử nghiệm phương pháp đánh giá đất của FAO ở nước
ta đã thu được kết quả nhất định
Sau đó phương pháp đánh giá đất của FAO dần được hoàn thiện, lần lượt được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trên các phạm vi đánh giá khác nhau:
2.4.1 Đánh giá đất theo FAO trên phạm vi toàn quốc
Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng (1995) [11] là các tác giả bước
đầu nghiên cứu đánh giá tài nguyên đất đai Việt Nam (bản đồ tỷ lệ 1/250.000) Kết quả đã xác định 372 đơn vị bản đồ đất đai, 90 loại hình sử dụng đất chính và phân chia 41 loại thích hợp đất đai cho 9 vùng sinh thái khác nhau trên phạm vi toàn quốc Năm 1995, Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp bằng phương pháp tổ hợp các yếu tố đất đai và sử dụng đất từ bản đồ tỷ lệ 1/25.000 của các vùng sinh thái nông nghiệp lên bản đồ tỷ lệ 1/500.000 của toàn quốc đã xây dựng và hoàn thành bản đồ đơn vị đất đai
Trang 26và bản đồ các loại hình sử dụng đất chính ở Việt Nam theo FAO để làm cơ
sở cho chiến lược khai thác và sử dụng tiềm năng đất đai một cách bền vững [8] Việc đánh giá đất đai theo FAO trên phạm vi toàn quốc bước
đầu đã đem lại những kết quả thiết thực đó là phân lập được các vùng chuyên canh cây trồng tập trung cho sản xuất hàng hóa như vùng phát triển cây công nghiệp ở Tây Nguyên, vùng sản xuất lúa ở đồng bằng sông Cửu Long
2.4.2 Đánh giá đất thích hợp theo FAO trên phạm vi vùng sinh thái và các tỉnh
- Vùng Tây Nguyên: Năm 1989 Vũ Cao Thái [30] đã lần đầu tiên thử nghiệm đánh giá sử dụng đất thích hợp cho một số cây trồng như cà phê, cao su, chè, dâu tằm Tây Nguyên, trên cơ sở vận dụng phương pháp phân hạng thích hợp của FAO để đánh giá định tính và đánh giá khái quát tiềm năng đất Kết quả nghiên cứu tác giả đã đưa ra những tiêu chuẩn đánh giá, phân hạng đất cho từng loại cây trồng Tuy nhiên các chỉ tiêu chỉ thiên về yếu tố thổ nhưỡng mà chưa đề cập đến các yếu tố sinh thái và xã hội
Các nghiên cứu của Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng, Nguyễn Văn Tân, Đỗ Đình Đài, Nguyễn Văn Tuyên (1995) đã xác định Tây Nguyên có
3 vùng, 18 tiểu vùng, 54 đơn vị sinh thái nông nghiệp và 195 đơn vị đất
đai Trên bản đồ hiện trạng sử dụng đất tỷ lệ 1/250.000 cho thấy Tây Nguyên có 5 hệ thống sử dụng đất chính và 29 loại hình sử dụng đất hiện tại Tiến hành phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội, hiệu quả môi trường, mối quan hệ của các loại hình sử dụng đất với tiềm năng phát triển nông nghiệp của vùng và mục tiêu của cả nước đã xác định các loại hình sử dụng đất sau đây thỏa mãn yêu cầu, đó là: lúa nước 2 vụ có tưới, hoa màu
và cây công nghiệp ngắn ngày, điều, cà phê, tiêu, chè, cao su và dâu tằm
Trang 27- Vùng đồng bằng sông Hồng: Nguyễn Công Pho (1995) [22] đã tiến hành “Đánh giá đất vùng đồng bằng sông Hồng trên quan điểm sinh thái
và phát triển lâu bền” theo phương pháp của FAO thành lập bản đồ tỷ lệ 1/250.000 đã xây dựng hướng sử dụng đất trên quan điểm sinh thái lâu bền, phục vụ cho công tác quy hoạch tổng thể của vùng Kết quả đánh giá
đất đã xác định: đồng bằng sông Hồng có 33 đơn vị đất đai (trong đó có
22 đơn vị đất thuộc đồng bằng, 11 đơn vị đất đai thuộc vùng đồi núi) Loại hình sử dụng đất rất đa dạng với 3 vụ sản xuất chính là vụ xuân, vụ mùa
và vụ đông Cây trồng bao gồm cây lúa nước, cây trồng cạn ngắn ngày, cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm, tổng cộng có 28 loại hình sử dụng
đất Kết quả phân hạng đất thích hợp hiện tại và tương lai dựa trên cơ sở
đầu tư thủy lợi cho thấy tiềm năng đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp ở vùng đồng bằng sông Hồng là rất lớn Về hiệu quả kinh tế, nếu chỉ chuyên canh lúa thì cho mức thu nhập thấp, luân canh lúa với cây trồng cạn ngắn ngày thì cho thu nhập cao hơn [16], [18]
Lê Hồng Sơn (1995) [28] với nghiên cứu “ứng dụng kết quả đánh giá
đất vào đa dạng hóa cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng” đã xác định và
đề xuất các hệ thống cây trồng trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền cho 100.000 ha đất bãi ven sông vùng đồng bằng sông Hồng
- Vùng đồi núi phía Bắc: Lê Duy Thước (1992) [32], Lê Văn Khoa (1993) [15], Lê Thái Bạt (1995) [1] khi nghiên cứu đánh giá đất vùng núi phía Bắc đã có những nhận định tổng quát về quỹ đất của vùng: Nét nổi bật là sự hình thành đất theo đai cao gồm 6 nhóm và 24 loại đất với đặc
điểm phát sinh và sử dụng đa dạng Các nhóm đất chính được nghiên cứu
là đất đỏ vàng và đất mùn vàng đỏ trên núi đều suy giảm về độ phì Trong vùng có 4 loại hình sử dụng đất chính (đất ruộng lúa, đất chuyên màu và
Trang 28cây công nghiệp ngắn ngày, đất trồng cây lâu năm và đất rừng) Kết quả
đánh giá đất thích hợp cho thấy đất thích hợp cao chiếm 0,4%, đất thích hợp trung bình 17,2%, đất thích hợp thấp 33,0% và không thích hợp 49,4% Việc tổ chức sử dụng đất hợp lý trong nông nghiệp cần đặt ra theo hướng bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp với từng tiểu vùng sinh thái, loại hình và hệ thống sử dụng đất được chọn phù hợp với mức độ thích hợp theo tiêu chuẩn sử dụng đất bền vững
Nguyễn Đình Bồng (1995) [5] đã vận dụng phương pháp đánh giá đất thích hợp của FAO để đánh giá tiềm năng sản xuất nông, lâm nghiệp cho
đất trống đồi núi trọc ở Tuyên Quang (bản đồ tỷ lệ 1/500.000) Kết quả
đánh giá đã xác định và đề xuất 153.172 ha đất trống đồi núi trọc có khả năng sử dụng vào sản xuất nông, lâm nghiệp Việc khai thác diện tích đất trống đồi núi trọc có ý nghĩa rất lớn về mặt kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái tỉnh Tuyên Quang [3]
- Vùng đồng bằng sông Cửu Long: Nguyễn Văn Nhân (1996) [21] đã ứng dụng kỹ thuật GIS vào việc đánh giá đất thích hợp của FAO trên phạm
vi toàn vùng (bản đồ tỷ lệ 1/250.000) với tổng diện tích 3,9 triệu ha Kết quả đánh giá đã xác định 123 đơn vị bản đồ đơn vị đất đai, với 25 loại hình sử dụng đất chính (trong đó có 21 loại hình sử dụng đất nông nghiệp,
3 loại hình sử dụng đất lâm nghiệp và 1 loại hình thủy sản) Tác giả phân lập được 57 hệ thống sử dụng đất trên 6 tiểu vùng đại diện chính và lựa chọn được 12 loại hình sử dụng đất có triển vọng cho vùng
Các kết quả nghiên cứu đánh giá đất ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đã khẳng định: trong việc sử dụng đất ở đồng bằng sông Cửu Long tài nguyên đất và nước là hai yếu tố chủ yếu khống chế khả năng sử dụng
đất [20], [24], [29]
Trang 29- Vùng Đông Nam bộ: Các công trình nghiên cứu của Phạm Quang Khánh, Trần An Phong, Vũ Cao Thái (1994) về đánh giá đất thích hợp đã chia vùng nghiên cứu thành 54 đơn vị đất đai (bản đồ tỷ lệ 1/250.000) với
602 khoanh, có 7 loại hình sử dụng đất chính, 49 loại hình sử dụng đất chi tiết, 94 hệ thống sử dụng đất nông nghiệp, trong đó có 50 hệ thống sử dụng đất được chọn [13], [14]
2.4.3 Đánh giá đất thích hợp theo FAO trong phạm vi vùng chuyên canh hẹp và ở phạm vi cấp huyện
- Nguyễn Khang, Nguyễn Văn Tân (1995) [10] với nghiên cứu “Đánh giá đất đai vùng dự án đa mục tiêu EaSoup, DakLak” đã thông qua cải tạo thủy lợi để phân hạng sử dụng thích hợp đất hiện tại và tương lai cho hơn 8.000 ha đất lúa nước, có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc đảm bảo an ninh lương thực cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ huyện EaSoup và huyện Buôn Đôn (tỉnh DakLak)
- Nghiên cứu “Đánh giá đất đai phục vụ định hướng quy hoạch nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Gia Lâm vùng đồng bằng sông Hồng” (Vũ Thị Bình, 1995) [2] là một trong những ứng dụng đầu tiên về phương pháp đánh giá đất của FAO cho đánh giá chi tiết ở phạm vi cấp huyện nhằm mục đích phục vụ cho quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp Kết quả đánh giá đất thích hợp được sử dụng làm cơ sở để xây dựng quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Gia Lâm
- Đỗ Nguyên Hải (2000) [9] với đề tài “Đánh giá đất và hướng sử dụng đất bền vững trong sản xuất nông nghiệp của huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh” đã xác định đất canh tác huyện Tiên Sơn được phân chia thành 25
đơn vị đất đai (bản đồ tỷ lệ 1/25.000), có 5 nhóm đất khác nhau và 8 đơn
Trang 30vị phụ (trong đó có 7 đơn vị phụ được sử dụng vào mục đích nông nghiệp) Kết quả đánh giá sử dụng đất thích hợp hiện tại và tương lai đã cho thấy bằng biện pháp cải tạo thủy lợi và cải thiện độ phì đất có thể làm thay đổi mức độ thích hợp của các LUT Những đề xuất sử dụng đất thích hợp có thể khai thác một cách có hiệu quả thế mạnh tiềm năng đất đai và duy trì khả năng sử dụng đất bền vững cho huyện Tiên Sơn
- Nghiên cứu “Đánh giá đất đai phục vụ quy hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” của Đoàn Công Quỳ (2000) [27] đã đánh giá trên diện tích đất 48.801,20 ha gồm 680 khoanh được chia thành 52 đơn vị đất đai và 9 loại hình sử dụng đất chính Kết quả nghiên cứu đã khẳng định: Để phát triển nông lâm nghiệp theo quan điểm sinh thái và bền vững, trong tương lai huyện Đại Từ cần tổ chức khai thác tiềm năng đất đai theo phương thức đa dạng hóa sản phẩm, tăng cường sản xuất sản phẩm hàng hóa, đặc biệt là cây chè, đồng thời đẩy mạnh công tác trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, tạo điều kiện bảo vệ đất chống xói mòn, cải thiện môi trường sinh thái
Những nghiên cứu đánh giá đất theo FAO ở tầm vĩ mô của nhiều tác giả đã có những đóng góp rất lớn trong việc hoàn thiện quy trình đánh giá
đất đai ở Việt Nam làm cơ sở cho những định hướng chiến lược về quy hoạch sử dụng đất toàn quốc và các vùng sinh thái Tuy vậy các nông hộ
là những đơn vị sản xuất độc lập và sản xuất nông nghiệp đang phát triển theo cơ chế thị trường, do đó để định hướng đúng cho việc quản lý và sử dụng đất đai đòi hỏi đánh giá đất còn phải tiếp cận ở phạm vi vùng chuyên canh hẹp và phạm vi cấp huyện là những địa bàn gần gũi với thực tiễn sản xuất nông nghiệp ở nước ta Và như vậy công tác đánh giá đất theo FAO mới được triển khai đồng bộ trên địa bàn toàn quốc từ cấp vĩ mô đến cấp
Trang 31vi mô Với những kinh nghiệm có được trong đánh giá đất từ các vùng nghiên cứu cụ thể, chúng ta có thể đúc rút thành những lý luận cơ bản của công tác đánh giá đất theo FAO và áp dụng sáng tạo trong điều kiện thực tiễn Việt Nam
Đề tài được thực hiện tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, một huyện có nền sản xuất nông nghiệp là chủ yếu Để đưa ra được những quyết định sử dụng đất đúng đắn đáp ứng được yêu cầu sử dụng đất nông nghiệp trong tương lai của vùng nghiên cứu đòi hỏi không chỉ dừng lại ở mức độ đánh giá sử dụng thích hợp mà còn cần thiết đi sâu phân tích hiệu quả kinh tế và tác động của môi trường ảnh hưởng đến việc sử dụng đất nông nghiệp nhằm tìm ra các giải pháp cho mục tiêu sử dụng đất bền vững huyện Phổ Yên
Trang 323 Đối t ượng, Địa Điểm, nội dung
và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống cây trồng và các yếu tố kinh tế, xã hội tác động đến các loại hình sử dụng đất thuộc tiểu vùng sinh thái đất bạc màu huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là đất trồng các loại cây hàng năm của huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
3.2 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện ở địa bàn huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, trên các xã đại diện điển hình cho ba tiểu vùng khác nhau của huyện
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá các điều kiện tự nhiên đất đai, đặc điểm kinh tế - xã hội của vùng nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp, xác định tiềm năng và những yếu tố hạn chế trong sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của huyện thông qua yêu cầu sử dụng đất của các LUT
- Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất trong vùng trên các phương diện: Hiệu quả kinh tế; hiệu quả xã hội; hiệu quả bảo vệ và cải thiện môi trường đất đai
- Trên cơ sở đánh giá, đề xuất những LUT có triển vọng để phân hạng thích hợp đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp của huyện Phổ Yên
Trang 333.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Ph ương pháp đánh giá đất đai
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài này, chúng tôi áp dụng phương pháp đánh giá đất của FAO (1976) có chỉnh sửa năm 1983 Nghiên cứu kế thừa các kinh nghiệm và các kết quả đã áp dụng ở phạm vi
đánh giá đất cấp huyện, vận dụng một cách phù hợp với điều kiện thực tế của huyện Phổ Yên
3.4.2 Ph ương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp
Các số liệu về điều kiện đất đai (đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng, tình hình sử dụng đất đai ), điều kiện kinh tế - xã hội (tình hình phát triển kinh tế, hạ tầng cơ sở phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, dân số và lao
động, tập quán canh tác, định hướng thị trường ) của vùng nghiên cứu
được thu thập từ nguồn tư liệu có sẵn tại sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên, phòng Nông nghiệp, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống kê, phòng Kinh tế, Trạm khí tượng thủy văn và một số cơ quan khác của huyện Phổ Yên
Kế thừa nguồn tài liệu về bản đồ đơn vị đất đai của huyện Phổ Yên
được thành lập năm 2003 để đánh giá đất sản xuất nông nghiệp
3.4.3 Ph ương pháp điều tra số liệu sơ cấp
Tiến hành qua điều tra phỏng vấn các nông hộ canh tác trên các đơn
vị đất đai khác nhau theo 3 tiểu vùng (xã Thành Công, xã Đồng Tiến và xã Tiên Phong) đại diện cho các địa hình khác nhau về đặc điểm, điều kiện
đất đai và khả năng sản xuất nông nghiệp, cụ thể:
- Điểm lấy mẫu tại xã Thành Công đại diện cho tiểu vùng địa hình cao, có tỷ lệ diện tích đất canh tác/người thấp và nằm ở vị trí gần đầu nguồn tưới
Trang 34- Điểm lấy mẫu tại xã Đồng Tiến đại diện cho tiểu vùng có địa hình vàn, có tỷ lệ diện tích đất canh tác/người trung bình và nằm ở vị trí trung gian chuyển tiếp giữa địa hình cao và thấp trong hệ thống tưới
- Điểm lấy mẫu tại xã Tiên Phong đại diện cho tiểu vùng có địa hình thấp trũng nhất trong vùng, có tỷ lệ diện tích đất canh tác/người cao và nằm ở vị trí gần cuối nguồn tưới
3.4.4 Ph ương pháp phân tích, xử lý số liệu
- Các số liệu về điều tra về tình hình sử dụng đất (phiếu điều tra nông hộ) sau khi thu thập được tổng hợp, xử lý theo phương pháp thống kê trên phần mềm Excel
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của các LUT qua các chỉ tiêu: giá trị sản xuất (GO); chi phí trực tiếp (Dc); thu nhập hỗn hợp (NVA) và hiệu quả
đồng vốn
- Xây dựng bản đồ phân hạng thích hợp đất đai hiện tại và bản đồ
định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Phổ Yên tỷ lệ 1/25.000 bằng các phần mềm Microstation và Mapinfo
Trang 354 KếT QUả nghiên cứu Và THảO LUậN
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Phổ Yên
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Phổ Yên nằm ở phía Nam tỉnh Thái Nguyên là huyện trung du miền núi với tổng diện tích đất tự nhiên 25.667,63 ha Phía Bắc giáp thị xã Sông Công (Thái Nguyên), phía Nam giáp huyện Sóc Sơn (Hà Nội), phía Đông giáp huyện Phú Bình (Thái Nguyên) và huyện Hiệp Hòa (Bắc Giang), phía Tây giáp huyện Đại Từ (Thái Nguyên) và dãy núi Tam Đảo của tỉnh Vĩnh Phúc Trung tâm huyện lỵ của Phổ Yên (thị trấn Ba Hàng) cách thành phố Thái Nguyên 26 km về phía Bắc và cách thủ đô Hà Nội 55 km về phía Nam (theo Quốc lộ 3) Huyện Phổ Yên được xếp vào loại huyện trung du của tỉnh Thái Nguyên với 18 đơn vị hành chính, gồm 15 xã và 3 thị trấn (trong đó có 5 xã thuộc diện xã miền núi) Phổ Yên là cửa ngõ từ Hà Nội
đi các tỉnh phía Bắc, nằm dọc theo Quốc lộ 3 và gần các khu công nghiệp lớn như khu công nghiệp Sông Công (Thái Nguyên), các khu công nghiệp của Hà Nội nên có điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp theo xu hướng sản xuất hàng hóa phục vụ công nghiệp chế biến và xuất khẩu để nâng cao đời sống nhân dân, giải quyết việc làm ở nông thôn
Trang 36cho nên Phổ Yên vừa mang tính chất miền núi, vừa mang tình chất miền trung du Nhìn khái quát Phổ Yên có 2 vùng địa hình chủ yếu:
- Dạng địa hình vùng đồi núi thấp: Gồm các xã phía Tây của huyện, vùng này mang tính chất điển hình của vùng trung du nhiều đồi ít ruộng
Địa hình chủ yếu là những dãy đồi đỉnh tròn bát úp Càng về phía Nam thì
độ cao giảm dần và địa hình càng dốc thoải
- Dạng địa hình vùng đồng bằng: Gồm các xã phía Đông của huyện,
có độ cao thấp hơn so với vùng đồi núi thấp, tuy còn một số nét mang dáng dấp của miền trung du do các đồi sót xen kẽ nhưng diện tích đất ruộng đã tập trung hơn, rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
Do cấu tạo địa hình, nên vùng đồi núi thấp của Phổ Yên thường bị xói mòn, rửa trôi rất mạnh Theo số liệu quan trắc của Trạm chống xói mòn sông Cầu thì lượng đất bị cuốn trôi đi trung bình khoảng từ 5,23-12,70 tấn/ha/năm, hiện tượng xói mòn xảy ra trên toàn bộ sườn dốc nhất là những nơi đồi dốc và núi trọc Xói mòn bị xâm thực đã cuốn trôi lượng vật chất đổ xuống các lòng chảo và sông ngòi tạo ra những sản phẩm bồi tụ phù sa của sông suối hình thành nên những cánh đồng phù sa màu mỡ ở phía Nam của huyện Phổ Yên
So sánh về địa hình tuyệt đối của đất đồng bằng trong huyện, nơi có
địa hình cao đạt trung bình khoảng 30 m so với mặt nước biển trong khi nơi thấp nhất có địa hình trung bình từ 13-15 m so với mặt nước biển Sự chênh lệch về địa hình đã gây ra khó khăn, trở ngại không nhỏ cho việc sản xuất tập trung và quản lý tưới tiêu trong vùng, có thể chia địa hình vùng sản xuất nông nghiệp ở Phổ Yên thành các tiểu vùng sau:
- Tiểu vùng có địa hình cao với độ cao tuyệt đối của địa hình >25 m gồm các xã thuộc phía Tây Bắc của huyện như Phúc Thuận, Phúc Tân, thị
Trang 37trấn Bắc Sơn, Minhh Đức, Thành Công
- Tiểu vùng có địa hình trung bình với độ cao tuyệt đối của địa hình
từ 15-25 m ở khu vực phía Đông Nam của huyện như Hồng Tiến, Đắc Sơn, Vạn Phái, Nam Tiến, Đồng Tiến, thị trấn Ba Hàng, thị trấn Bãi Bông, Tân Hương
- Tiểu vùng có địa hình thấp với độ cao tuyệt đối < 15 m ở khu vực phía Đông Nam của huyện gồm các xã như Tiên Phong, Đông Cao, Tân Phú, Trung Thành, Thuận Thành
Biểu đồ 1: Lát cắt địa hình từ Tây sang Đông huyện Phổ Yên
Như vậy địa hình của Phổ Yên là rất đa dạng và khá phức tạp do sự xen kẽ giữa những vùng đất đai có địa hình khác nhau từ đồi núi đến thấp trũng Sự đa dạng về địa hình là yếu tố thuận lợi cho việc đa dạng hóa cây trồng, nhất là cây trồng cạn phục vụ cho đô thị Tuy nhiên cũng gây nhiều khó khăn cho việc thiết kế đồng ruộng, quản lý sản xuất tập trung và cải tạo thủy lợi
Trang 384.1.1.3 Đặc điểm khí hậu
Do nằm ở Bắc chí tuyến trong vành đai Bắc bán cầu nên khí hậu Phổ Yên mang tính chất của khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàng năm chia làm hai mùa rõ rệt (phục lục 1) Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10 và mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Sự chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng lạnh nhất (tháng 1) và tháng nóng nhất (tháng 7) khoảng 11-12 0C, nhiệt độ chênh lệch ngày đêm các tháng mùa hạ 5-6 0C, trong mùa khô hanh 7-8 0C Nhiệt độ trung bình ngày 23 0C, tổng nhiệt độ trung bình năm khoảng 8395 0C Nhiệt
độ trung bình các tháng trong mùa hạ > 24 0C, các tháng mùa đông < 17 0C Phổ Yên có l−ợng m−a trung bình năm 2185,2 mm, l−ợng m−a năm cao nhất đã gặp là 2476 mm, năm thấp nhất là 973 mm L−ợng m−a phân
bổ không đều theo các tháng trong năm, trung bình tháng cao nhất là 439,5 mm (tháng 7), l−ợng m−a trung bình tháng thấp nhất là 19,6 mm (tháng 12) Do l−ợng m−a trung bình năm cao, m−a tập trung vì vậy có thể gây ngập úng cục bộ trong vùng nhất là đối với các vùng thấp trũng phía Nam của huyện L−ợng bốc hơi trung bình hàng năm 1095,9 mm, bằng 50,15% tổng l−ợng m−a cả năm Những tháng có l−ợng bốc hơi cao là tháng 5, 6, 7 và tháng 10, trung bình đạt trên 100 mm
Số giờ nắng trung bình hàng năm là 1558,2 giờ Tháng có số giờ nắng trung bình cao nhất là tháng 9, đạt 197,4 giờ
Nh− vậy xét về yếu tố khí hậu vùng Phổ Yên có thể trồng đ−ợc 3 vụ/năm (2 vụ cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới và 1 vụ cây trồng có nguồn gốc ôn đới) Nhờ đặc tính này mà Phổ Yên có thể trồng đ−ợc nhiều loại cây trồng có nguồn gốc khác nhau, từ cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới
đến cây trồng có nguồn gốc ôn đới, tạo ra sự đa dạng, phong phú về chủng loại sản phẩm hàng hóa nông nghiệp và có thể trồng trọt quanh năm
Trang 39130,2 250,7
110,5 72,1
86,8 99,6
101,7 89
84,7 66,9
67,5 75,6
0 50 100 150 200 250 300 350 400 450 500
Biểu đồ 2: Diễn biến một số yếu tố khí hậu huyện Phổ Yên (1993-2003)
Trang 404.1.1.4 Điều kiện thủy văn, thủy lợi
Hệ thống sông trong địa phận tỉnh Thái Nguyên chủ yếu thuộc lưu vực sông Cầu, chiếm khoảng 90% diện tích tỉnh Thái Nguyên Phần còn lại phía Tây của tỉnh thuộc lưu vực sông Công, chảy vào hệ thống sông Thương Sông Cầu bắt nguồn từ huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn và chảy vào địa phận tỉnh Thái Nguyên tại xã Văn Lãng, huyện Đồng Hỷ Trên suốt chiều dài hơn 100 km qua tỉnh Thái Nguyên, sông Cầu đón nhận
được nước từ một số nhánh sông chính như sông Chợ Chu, sông Nghinh Tường, sông Đu, sông Mo Linh và sông Công Trong đó, nhánh lớn nhất là sông Công Lượng nước sông Công chiếm khoảng 40% lượng nước sông Cầu và đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước tưới và điện năng cho vùng hạ lưu tả ngạn sông Cầu thuộc thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công và huyện Phổ Yên
Về thủy văn, Phổ Yên có hai con sông chính là sông Cầu và sông Công:
- Sông Công có lưu vực 951 km2, bắt nguồn từ vùng núi Ba Lá, huyện
Định Hóa (Thái Nguyên), chạy dọc theo chân núi Tam Đảo, nằm trong vùng mưa lớn nhất của tỉnh Vào mùa mưa sông Công có lưu lượng lớn, dòng chảy mạnh, lưu lượng đạt tới 313 m3/s Vào mùa khô, dòng nước sông Công chảy yếu, lưu lượng nước chỉ đạt 4 m3/s Chế độ thủy văn sông Công có đặc trưng hai mùa rõ rệt, mùa lũ và mùa cạn Mùa lũ kéo dài 5 tháng, từ tháng 6 đến tháng 10, với tổng lượng dòng chảy chiếm khoảng 75% tổng lượng dòng chảy năm Trong đó có tháng lũ lớn nhất trong năm
là tháng 8, chiếm khoảng 20% tổng lượng cả năm Mùa cạn kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 5 năm sau Ba tháng liên tục có dòng chảy thấp nhất là các tháng 1, 2, 3 Tháng có dòng chảy kiệt nhất thường xảy ra