Bộ GD & ĐT cũng có chỉ thị số 15/1999/CT - Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các trường sư phạm phải “ đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập trong trường sư phạm nhằm tích cực hóa hoạt đ
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục học
Người hướng dẫn khoa học
Th.S NGUYỄN THỊ XUÂN LAN
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới cô giáo – ThS Nguyễn Thị Xuân Lan, người đã luôn tận tình hướng dẫn, động viên và giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Qua đây, tôi xin gửi lời cám ơn tới Ban giám hiệu, các thầy cô giáo cùng các em học sinh trường Tiểu học Đồng Xuân, trường Tiểu học Phúc Thắng và trường Tiểu học Cao Minh A đã nhiệt tình cộng tác, tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn bên tôi, động viên, khích lệ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành đề tài !
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Tác giả
Phạm Thanh Mai
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện
Các số liệu và kết luận nghiên cứu trình bày trong luận văn chƣa từng đƣợc công bố ở các nghiên cứu khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Tác giả
Phạm Thanh Mai
Trang 4DANH MỤC CHÚ GIẢI CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài……… 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……… 3
3 Mục đích nghiên cứu……… 4
4 Đối tượng nghiên cứu……… 4
5 Khách thể nghiên cứu……… 5
6 Nhiệm vụ nghiên cứu……… 5
7 Giả thuyết khoa học……… 5
8 Phương pháp nghiên cứu……… 5
9 Phạm vi nghiên cứu……… 6
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1.Một số vấn đề về PPDH……… 7
1.1.1.Khái niệm về PPDH……… 7
1.1.2.Phân loại PPDH……… 9
1.1.3.Vấn đề lựa chọn, vận dụng các PPDH……… 10
1.2.Một số vấn đề lí luận về PPDH tích cực……… 12
1.2.1.Khái niệm PPDH tích cực ……… 12
1.2.1.1.Tính tích cực nhận thức……… 12
1.2.1.2.Khái niệm PPDH tích cực……… 13
1.2.2.Cơ sở của việc vận dụng PPDH tích cực……… 16
1.2.2.1.Cơ sở triết học……… 16
1.2.2.2.Cơ sở tâm lí học……… 17
1.2.2.3.Cơ sở giáo dục học……… 17
1.2.3.Đặc điểm của PPDH tích cực……… 17
1.2.4.Những dấu hiệu đặc trưng của các PPDH tích cực………… 18
Trang 61.2.5.Một số PPDH tích cực được sử dụng trong dạy học ở tiểu học hiện
nay……… 21
1.3.Môn Toán ở tiểu học và vấn đề sử dụng phối hợp các PPDH tích cực……… 30
1.3.1.Môn Toán ở tiểu học……… 30
1.3.2.Vấn đề sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn Toán… 32
TỔNG KẾT CHƯƠNG 1 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN SỬ DỤNG PHỐI HỢP CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC KHU VỰC THỊ XÃ PHÚC YÊN 2.1 Khái quát về các trường tiểu học khu cực thị xã Phúc Yên…… 37
2.2 Thực trạng và nguyên nhân sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực trong quá trình dạy học môn Toán ở một số trường Tiểu học khu vực thị xã Phúc Yên - Vĩnh Phúc……… 39
2.2.1 Mục đích nghiên cứu……… 39
2.2.2 Đối tượng điều tra……… 39
2.2.3 Nội dung nghiên cứu……… 39
2.2.4 Phương pháp nghiên cứu……… 40
2.2.5 Kết quả nghiên cứu……… ……41
2.2.5.1 Thực trạng mức độ nhận thức của GV về PPDH tích cực ở môn Toán……… 41
2.2.5.2 Thực trạng sử dụng và mức độ sử dụng các PPDH tích cực trong giờ lên lớp môn Toán ở một số trường tiểu học tiến hành điều tra……… 43
Trang 72.2.5.3 Những thuận lợi và khó khăn mà giáo viên gặp phải khi sử dụng phối hợp các PPDH tích cực trong giờ lên lớp ở môn Toán
……… 47
2.2.5.4 Thực trạng sử dụng phối hợp các PPDH tích cực trong quá trình dạy học môn Toán của giáo viên tiểu học……… 49
2.2.5.5 Cơ sở vật chất và phương tiện dạy học hiện có của một số trường tiểu học tiến hành điều tra……… 50
2.3 Các nguyên nhân chủ quan, khách quan của thực trạng 51
2.3.1 Nguyên nhân chủ quan 51
2.3.2 Nguyên nhân khách quan 51
CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT THỰC TRẠNG NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHỐI HỢP CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG NHÀ TRƯỜNG TIỂU HỌC 3.1 Các biện pháp nâng cao nhận thức của giáo viên tiểu học về các vấn đề liên quan đến các PPDH tích cực……… 53
3.2 Các biện pháp nâng cao thái độ của giáo viên tiểu học đối với việc sử dụng các PPDH tích cực……… 54
3.3 Các biện pháp nâng cao kĩ thuật sử dụng các phương pháp dạy học tích cực của giáo viên tiểu học……… 54
3.4 Các biện pháp hỗ trợ giáo viên sử dụng các phương pháp dạy học tích cực……… 54
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1 Kết luận……… 56
2 Kiến nghị……… 57
Trang 8Chúng ta đều biết rằng thế kỉ XXI là thế kỉ của khoa học, công nghệ thông tin, của những phát minh, sáng kiến làm thay đổi hầu hết mọi mặt của đời sống xã hội với tốc độ đáng kinh ngạc Con người trong xã hội hiện nay nói chung, đặc biệt là trẻ em đang hàng ngày, hàng giờ tiếp nhận những lượng thông tin khổng lồ từ nhiều nguồn: Trường học, gia đình, các phương tiện thông tin đại chúng… Vì thế ngay từ năm đầu tiên của bậc tiểu học, trẻ em đã
có một vốn sống, vốn kinh nghiệm khá phong phú
Tình hình đó đã làm thay đổi những quan niệm về giáo dục Ngày nay
GD được xem là chìa khóa vàng để mỗi người, mỗi quốc gia tiến bước vào tương lai, là ngành sản xuất mà lợi nhuận của nó khó có thể đong đếm được
GD không chỉ có chức năng truyền tải những kinh nghiệm lịch sử xã hội của thế hệ trước cho thế hệ sau, mà quan trọng là trang bị cho mỗi người phương pháp học tập, tìm cách phát triển năng lực nội sinh, phát triển tư duy nội tại, thích ứng được với một xã hội học tập thường xuyên, học tập suốt đời Để giúp người học đáp ứng được những yêu cầu đó, việc cải cách, đổi mới GD là một việc làm hết sức cần thiết và cấp bách Trong đó, đổi mới phương pháp giáo dục là khâu then chốt nhất trong quá trình đạt đến mục tiêu đổi mới GD
Luật giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005 (điều 5, khoản 2) đã ghi: “Phương pháp Giáo dục phải phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học
Trang 92
năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” [6;9] Bộ GD & ĐT cũng có chỉ thị số 15/1999/CT - Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các trường sư phạm phải “ đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập trong trường sư phạm nhằm tích cực hóa hoạt động học tập, phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo và năng lực tự học, tự nghiên cứu của người học, sinh viên Nhà giáo giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức, điều khiển, định hướng quá trình dạy học, còn người học giữ vai trò chủ động trong quá trình học tập
và tham gia nghiên cứu khoa học “ [2]
Trong giai đoạn hiện nay khi Việt Nam chính thức tham gia chương trình đánh giá HS quốc tế (PISA) và đang triển khai dự án mô hình trường học kiểu mới VN (VNEN) thì dạy học tích cực càng phát huy thế mạnh trong việc đáp ứng cho HS tiêu chuẩn các nhóm năng lực nhằm hội nhập theo thang đánh giá của PISA cũng như yêu cầu của VNEN Chương trình và nội dung dạy học tiểu học thay đổi nhiều Chương trình thay đổi theo hướng để HS hoạt động nhiều hơn Vì vậy GV có cơ hội thuận lợi để sử dụng PPDH tích cực Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng các PPDH tích cực đã được thực hiện như thế nào? Hiệu quả của phối hợp các PPDH nói chung và dạy học tích cực nói riêng trong dạy học Toán ra sao Đây là một câu hỏi, một vấn đề chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, có thể nói PPDH ở
cả chương trình mới và chương trình cũ vẫn đang là một vấn đề cấp thiết cần
có sự đầu tư nghiên cứu, tìm lời giải Điều này thúc đẩy tôi chọn nghiên cứu
đề tài :
Thực trạng sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn Toán ở một số trường Tiểu học khu vực thị xã Phúc Yên – Vĩnh Phúc
Trang 103
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Dạy học tích cực đã được các nhà giáo dục bàn đến từ lâu, trong các sách lý luận dạy học cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về PPDH, mỗi định nghĩa lại nhấn mạnh một vài khía cạnh vào đó, phản ánh sự phát triển nhận thức của các nhà khoa học, các nhà sư phạm về bản chất khái niệm PPDH ở một thời kì xác định
PPDH tích cực đã được bàn đến trong nhiều quan điểm dạy học từ xưa đến nay Từ thời cổ đại các nhà sư phạm tiền bối đã từng nói đến tầm quan trọng to lớn của việc phát huy tính tích cực, chủ động của HS và nói nhiều đến phương pháp và biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức
Khổng Tử (551– 479 TCN) nhà triết học, nhà giáo dục vĩ đại của Trung Hoa Cổ đại đòi hỏi người ta phải học và tìm tòi, suy nghĩ, đào sâu trong quá trình học, ông nói: “Không tức giận vì muốn biết, thì không gợi mở cho, không bực tức vì không rõ được thì không bày vẽ cho Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góc kia thì không dạy nữa…” [5;15]
Montagne (1533 – 1592) nhà quý tộc Pháp, người chuyên nghiên cứu
lý luận, đặc biệt là về giáo dục, ông đề ra phương pháp giáo dục “học qua hành” Ông cho rằng: “Muốn đạt được mục tiêu này, tốt nhất, kiến hiệu nhất là bắt trò liên tục hành để học, học qua hành Vậy vấn đề không phải là giảng dạy một cách giáo điều, thầy nói liên tục, thao thao bất tuyệt Trái lại, chủ yếu
là bắt trò hoạt động, vận dụng khả năng xét đoán của mình…”
Trong thế kỉ XX, các nhà giáo dục Đông, Tây đều tìm đến con đường phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học cụ thể như: Kharlamop, nhà giáo dục Xô Viết, trong cuốn “Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào” đã viết trong phần lời nói đầu: “Một trong những vấn đề căn bản mà nhà trường Xô Viết hiện đang lo lắng và giải quyết là việc phát
Trang 11“ Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” Có thể kể đến một vài tác giả Việt Nam đã có những cuốn sách nghiên cứu về vấn đề này như : Trần Bá Hoành (2001) với cuốn “Bàn về phương pháp dạy học tích cực hiện nay” Nguyễn Ngọc Bảo (1995) “Phát triển tính tích cực, tự lực của học sinh trong quá trình dạy học”, hay Trần Bá Hoành (2002) Những đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực Tạp chí Giáo dục số 32…
Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về PPDH tích cực nhưng chưa
có công trình nào nghiên cứu về “ Thực trạng sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn Toán ở một số trường Tiểu học khu vực thị xã Phúc Yên - Vĩnh Phúc”
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lí luận về PPDH tích cực, đề tài tìm hiểu và phát hiện thực trạng về việc sử dụng PPDH tích cực trong dạy học môn Toán ở một số trường Tiểu học thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Từ đó, phân tích nguyên nhân của thực trạng và đề xuất biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả của việc sử dụng PPDH tích cực trong dạy học ở tiểu học nói chung
và dạy Toán ở tiểu học nói riêng
4 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng về việc sử dụng phối hợp các PPDH tích cực trong dạy Toán ở tiểu học
Trang 125
5 Khách thể nghiên cứu:
Thực trạng sử dụng PPDH trong dạy học Toán ở Tiểu học
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài này, để đạt được các mục đích nghiên cứu, tôi đặt ra một số nhiệm vụ sau:
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận của PPDH nói chung, PPDH tích cực nói riêng + Nghiên cứu thực trạng sử dụng phối hợp các PPDH tích cực ở một số trường tiểu học khu vực thị xã Phúc Yên – Vĩnh Phúc
+ Tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng và đề xuất một số biện pháp để giải quyết thực trạng
7 Giả thuyết khoa học
Hiện nay, việc sử dụng phối hợp các PPDH tích cực trong dạy học môn Toán ở tiểu học chưa đạt hiệu quả cao Nếu phát hiện đúng thực trạng và đề xuất được những biện pháp hợp lí để giải quyết thực trạng thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của việc sử dụng phối hợp các PPDH trong dạy học ở tiểu học nói chung và dạy học Toán nói riêng
8 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu đã nêu, chúng tôi sử dụng một
số phương pháp sau đây:
8.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc và phân tích, hệ thống hóa, khái quát hóa những tài liệu có liên quan đến phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài để thu thập thông tin cơ sở lý luận cho đề tài
8.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
a Phương pháp quan sát sư phạm: Dự giờ, chủ động quan sát việc dạy
và học môn Toán của học sinh ở một số trường tiểu học khu vực thị xã Phúc Yên – Vĩnh Phúc
Trang 13ở một số trường tiểu học khu vực thị xã Phúc Yên – Vĩnh Phúc
8.3 Các phương pháp thống kê toán học: Sử dụng toán thống kê để phân tích kết quả điều tra thực trạng
9 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài của tôi được thực hiện trong phạm vi:
9.1 Môn học: Môn Toán
9.2 Thời gian: Học kỳ 2 – năm học 2013-2014
9.3 Địa điểm: Một số trường tiểu học ở khu vực thị xã Phúc Yên – Vĩnh Phúc
Trang 147
NỘI DUNG CHƯƠNG 1
+ Phương pháp theo Hegel “ là ý thức về hình thức của sự tự vận động bên trong của nội dung”
+ Theo G.S Hà Thị Ngữ - G.S Đặng Vũ Hoạt – P.G.S Hà Thị Đức: thuật ngữ “Phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “ Metdos ” có nghĩa là con đường, cách thức để đạt tới mục đích nhất định
+ Theo G.S TSKH Nguyễn Văn Hộ: Phương pháp là cách thức; con đường, phương tiện để đạt tới một mục đích nhất định, để giải quyết những nhiệm vụ nhất định
+ Theo PGS.TS Lưu Xuân Mới: Phương pháp là cách thức đạt tới mục đích và bằng một hình ảnh nhất định, nghĩa là một hoạt động được điều chỉnh
+ Theo Nguyễn Như An: Phương pháp là cách đạt tới mục đích, tức là tổng hợp những thủ thuật và thao tác dùng để đạt mục đích
- Phương pháp dạy học:
Trang 158
+ Có rất nhiều định nghĩa về PPDH nhưng có một cách định nghĩa phù hợp với đổi mới PPDH là một hệ thống tác động liên tục của GV nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của HS để HS lĩnh hội vững chắc các thành phần của nội dung GD nhằm đạt được mục tiêu đã định
+ PPDH bao gồm 2 mặt hoạt động: Hoạt động của thầy và hoạt động của trò, trong đó thầy giữ vai trò chỉ đạo còn trò giữ vai trò chủ động, tích cực PPDH luôn được đặt trong mối quan hệ giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện và những điều kiện khác
+ Trên cơ sở phương pháp chung, người ta đã xây dựng khái niệm PPDH Theo các nhà giáo dục học trên thế giới và các nhà giáo dục học Việt Nam, cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau về PPDH
Theo Iu Babanxki “ Phương pháp dạy học là cách thức tương tác giữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học”
I.Ia Lecne cho rằng : Phương pháp dạy học là một hệ thống những hành động có mục đích của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức, thực hành của HS, đảm bảo cho các em lĩnh hội nội dung học vấn
Theo GS Nguyễn Văn Hộ: PPDH là tổng hợp các cách thức làm việc phối hợp thống nhất của thầy và trò (trong đó thầy đống vai trò chủ đạo, trò đóng vai trò tích cực , chủ động) nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “ PPDH là cách thức làm việc của thầy và trò trong sự phối hợp thống nhất dưới sự chỉ đạo của thầy, nhằm làm cho trò tự giác, tích cực, tự lực đạt tới mục đích dạy học”
Như vậy chúng ta có thể nhận thấy rằng tất cả các tác giả đều thừa nhận rằng PPDH có những dấu hiệu sau:
Phản ánh sự vận động của quá trình nhận thức của HS nhằm đạt được mục đích đề ra
Trang 169
Phản ánh sự vận động của nội dung học vấn đã được nhà trường quy định
Phản ánh cách thức trao đổi thông tin giữa thầy và trò
Phản ánh cách thức điều khiển hoạt động nhận thức, kích thích và xây dựng động cơ, tổ chức hoạt động nhận thức và kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động
1.1.2 Phân loại phương pháp dạy học
Chúng ta cùng xem xét lại hệ thống PPDH đã được các tác giả trên thế giới và ở Việt Nam phân loại dựa trên các tiêu chí khác nhau:
Ở Liên Xô trước đây có rất nhiều quan điểm khác nhau về phân loại hệ thống PPDH, có thể kể ra một số hệ thống phổ biến nhất [7;227]
Phân loại theo nguồn kiến thức và theo đặc điểm tri giác (S.I Petrovski và E Ia Golan ): dùng lời, trực quan, thực hành
Phân loại theo các nhiệm vụ cơ bản lý luận dạy học (M.A Danhilo V, B.P Exipov ) các phương pháp truyền thụ kiến thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo ứng dụng tri thức; hoạt động sáng tạo; củng cố; kiểm tra
Phân loại theo đặc điểm hoạt động nhận thức của HS: giải thích, minh họa, tái hiện, giới thiệu vấn đề, tìm kiếm từng phần (hay ơristic ), nghiên cứu (M.N Stakin, I Ia Lecne )
Phân loại theo hoạt động dạy học: thông báo và thu nhận, giải thích
và tái hiện, thiết kế thực hành và tái hiện thực hành, giải thích, kích thích và tìm hiểu (M.I Macmutov )
Năm 1983 Iu K Babanxki đã đề xuất một hệ thống PPDH khác, phổ biến rộng rãi ở Liên Xô; bao gồm: Các phương pháp tổ chức và thực hiện hoạt động học tập nhận thức; các phương pháp kích thích và xây dựng động
cơ học tập, các phương pháp kiểm tra
Trang 17+ Phương pháp dạy học thông báo tái hiện
+ Phương pháp dạy học nêu vấn đề
+ Phương pháp dạy học nghiên cứu
- Dựa vào dấu hiệu về nguồn tri thức, tác giả Đặng Vũ Hoạt đã chia hệ thống PPDH thành 3 nhóm:
+ Nhóm phương pháp dùng lời
+ Nhóm phương pháp dạy học trực quan
+ Nhóm Phương pháp dạy học thực tiễn
Sự đa dạng và phong phú về việc phân loại hệ thống các PPDH trên đây cho thấy, PPDH là một vấn đề vô cùng phức tạp và có nhiều khía cạnh nhìn nhận, là trung tâm chú ý của các nhà giáo dục các nước Có thể nói cho đến nay đây vẫn là một hiện tượng sư phạm nhiều quan điểm, còn nhiều vấn
đề đang được tranh luận, chưa có ý kiến thống nhất
1.1.3 Vấn đề lựa chọn, vận dụng các phương pháp dạy học
+ Vấn đề lựa chọn các phương pháp dạy học:
Chọn những PPDH có khả năng cao nhất đối với việc thực hiện mục tiêu dạy học: Mỗi mô hình LLDH, PPDH đều có điểm mạnh, điểm hạn chế nhất định Nhưng khi xét thực hiện một mục tiêu dạy học nhất định thì có một số PPDH có khả năng cao hơn các PPDH khác Chẳng hạn nếu đặt mục tiêu nhanh chóng truyền thụ cho xong nội dung quy định thì PPDH thuyết trình có vị trí quan trọng Nhưng nếu đặt mục tiêu phát triển năng lực tìm tòi sáng tạo của HS thì vấn đề sẽ khác đi
Lựa chọn các phương pháp dạy học tương thích với nội dung học tập
Trang 1811
Giữa nội dung và PPDH có mối quan hệ tác động lẫn nhau, trong nhiều trường hợp quy định lẫn nhau Ở bình diện kĩ thuật dạy học, PPDH cần tương thích với nội dung dạy học Mỗi nội dung dạy học đều liên hệ mật thiết với những hoạt động nhất định
Lựa chọn PPDH cần chú ý đến hứng thú, thói quen của HS, kinh nghiệm sư phạm của GV
+ Cần chuẩn đoán nhu cầu, hứng thú của HS khi lựa chọn các PPDH:
- Đối với việc trình bày thông tin cần ưu tiên lựa chọn các PP sử dụng phương tiện nghe nhìn, sử dụng truyền thông đa phương tiện càng tốt
- Đối với hoạt động chế biến thông tin cần tổ chức các hoạt động tự phát hiện, phối hợp làm việc theo nhóm, phát huy càng tối đa tính tích cực, sáng tạo của HS càng tốt
+ Chú ý thay đổi PPDH và hình thức tổ chức dạy học tránh nhàm chán, gây hứng thú cho HS, cần thay đổi PPDH sau 15,20 phút
+ Ưu tiên lựa chọn các phương pháp dạy học mà HS, GV đã thành thạo: Với các PPDH có ưu điểm tương đương, cần ưu tiên lựa chọn PPDH mà
GV và HS đã thành thạo, bởi thực hiện dễ dàng hơn Không vì với tiêu chí này mà quay lại với phương pháp truyền thụ một chiều Hiện nay, rất cần thiết phải cho GV và HS trở nên quen thuộc với các kĩ thuật dạy học mới có hiệu quả trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục Để nâng cao tay nghề cần:
- Nghiên cứu các vấn đề đổi mới PPDH qua sách, vở, giáo trình, tạp chí chuyên môn, các lớp tập huấn…
- Rút kinh nghiệm các giờ dạy của bản thân kết hợp với tiến hành dự giờ, trao đổi chuyên môn với đồng nghiệp…
Lựa chọn PPDH phù hợp với điều kiện dạy học
+ Ở đây cần đề cập đến PPDH diễn ra trong mối quan hệ với các điều kiện vật chất, đặc biệt là thiết bị dạy học Đương nhiên là cần phải lựa chọn
Trang 19Tóm lại, trên đây là 4 cơ sở quan trọng nhất, là căn cứ xuất phát khi tiến hành lựa chon các PPDH, điều quan trọng nhất là cần xác định lựa chọn
PP và hình thức tổ chức dạy học có thể giúp HS:
Học tập với niềm say mê, hứng thú, khao khát tìm tòi khám phá
Lĩnh hội tri thức trong các hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo theo phương pháp khoa học
Học trong tương tác, trong việc hình thành các quan hệ hợp tác, thân thiện, cùng nhau giải quyết các nhiệm vụ học tập
1.2 Một số vấn đề lí luận về phương pháp dạy học tích cực
1.2.1 Khái niệm : Phương pháp dạy học tích cực (Active teaching and learning methods)
1.2.1.1.Tính tích cực nhận thức
a, Tính tích cực: Là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội Khác với động vật, con người không chỉ tiêu thụ những gì có sẵn trong thiên nhiên mà còn chủ động sản xuất ra những của cải vật chất cho sự tồn tại của xã hội, sáng tạo ra nền văn hóa ở mỗi thời đại Hình thành và phát triển tính tích cực xã hội đã là củng cố một trong những nhiệm vụ chủ yếu của
GD nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp phần phát
Trang 20TTC trong nhận thức trong học tập liên quan trước hết với động cơ học
tập Động cơ đúng tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền đề của tự giác Hứng thú
và tự giác là 2 yếu tố tâm lí tạo nên tính tích cực Tính tích cực sản sinh nếp
tư duy độc lập Suy nghĩ độc lập là mầm móng của sáng tạo Ngược lại,
phong cách học tập tích cực độc lập sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú bồi dưỡng động cơ học tập
TTC thể hiện ở những biểu hiện cụ thể như: hăng hái trả lời các câu hỏi của GV, bổ sung câu trả lời của các bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa rõ; chủ động vận dụng kiến thức kĩ năng học để nhận thức vấn đề mới; tập trung chú ý vào vấn đề đang học kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản chí trước những tình huống khó khăn…
TTC đạt cấp độ từ thấp đến cao như:
+ Bắt chước: gắng sức làm theo các mẫu hành động của thầy, của bạn + Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm những cách giải quyết khác nhau về vấn đề…
+ Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu
1.2.1.2 Khái niệm PPDH tích cực
Trước tiên, chúng ta khẳng định, tính tích cực (TTC) là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội Hình thành và phát triển TTC
Trang 21Ngay từ thời cổ đại, các nhà sư phạm tiền bối như Khổng Tử, Aristot
đã từng nói đến tầm quan trọng to lớn của việc phát huy TTC, chủ động của
HS và đã chỉ ra nhiều biện pháp phát huy TTC nhận thức
J.A Komenxki nhà sư phạm lỗi lạc của thế kỉ XVII đã đưa ra những biện pháp dạy học bắt HS phải tìm tòi, suy nghĩ, để tự nắm bắt được bản thân của sự vật, hiện tượng Trong tác phẩm “ Lý luận dạy học” của mình, ông đã khẳng định “Tính tự giác, tính tích cực” là một trong những nguyên tắc dạy học quan trọng nhất và cơ bản nhất
Đầu thế kỉ XIX nhà giáo K.D Usinxki đã khẳng định TTC trong quá trình học tập của HS Ông coi TTC là “cơ sở vững chắc cho mọi sự học tập có hiệu quả” Ông đặc biệt nhấn mạnh tới tầm quan trọng của việc điều khiển, dẫn dắt HS của các thầy cô giáo
Sang thế kỉ XX, TTC thực sự được sự quan tâm, chú ý của các nhà giáo dục P.V Erdơniev (1974) đã cho rằng: “nói đến tính tích cực học tập thực chất là nói tới tính tích cực nhận thức”, “một sự nhận thức đã được làm cho dễ dàng và được thực hiện dưới sự chỉ đạo của GV”
GS Trần Bá Hoành cũng có những quan điểm rõ ràng về Phương pháp dạy học tích cực khẳng định, tính tích cực học tập của HS là một hiện tượng
sư phạm Biểu hiện sự cố gắng cao về nhiều mặt trong hoạt động của trẻ
Xét về mức độ bền vững, TTC học tập xuất hiện như một trạng thái hoạt động Nó tồn tại trong một thời gian với hoạt động học tập, khi kích
Trang 22Tóm lại, có thể nói : Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học
theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học “Tích cực” trong Phương pháp dạy học – tích cực được dùng với nhiều nghĩa là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không
dùng theo nghĩa trái với tiêu cực
Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực chứ không phải là tập trung vào phát huy TTC của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì GV phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động
Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy Cách dạy chỉ đạo cách học, nhưng ngược lại thói quen học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách dạy của thầy Chẳng hạn, có trường hợp HS đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng GV chưa đáp ứng được, hoặc có trường hợp GV hăng hái áp dụng PPDH tích cực nhưng không thành công vì HS chưa thích ứng, vẫn quen với lối học tập thụ động Vì vậy, GV phải kiên trì dùng cách dạy hoạt động để dần dần xây dựng cho HS phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ
Trang 2316
thấp lên cao Trong đổi mới PPDH phải có sự hợp tác của cả thầy và trò, sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công Nhƣ vậy, việc dùng thuật ngữ “Dạy và học tích cực” để phân biệt với “Dạy
T – duy tích cực
T – duy độc lập
T – duy sáng tạo
Trang 2417
1.2.2.2 Cơ sở tâm lí học
Dạy học phát huy tính tích cực học tập cho HS dựa trên cơ sở tâm lí học cho rằng nhân cách của con người được hình thành thông qua các hoạt động chủ đạo và sáng tạo, thông qua các hoạt động có ý thức Theo X.L Rubinstein (1902 – 1960) “Con người chỉ thực sự nắm vững cái mà chính bản thân dành được bằng lao động của mình”, HS sẽ thông hiểu và ghi nhớ những gì đã trải qua trong quá trình hoạt động nhận thức của bản thân bằng cách này hay cách khác, con người chỉ bắt đầu tư duy tích cực khi đứng trước một khó khăn về nhận thức cần phải khắc phục, một tình huống gợi vấn đề
1.2.2.3 Cơ sở giáo dục học
Dạy – học, phát huy tính tích cực của HS phù hợp với nguyên tắc phát huy tính tích cực và tự giác trong GD, vì nó gợi được động cơ học tập của chủ thể, phát huy nội lực bên trong, giúp người học có năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề không chỉ nằm trong phạm trù của PPDH mà còn mang sắc thái phạm trù mục tiêu, góp phần phát triển nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
1.2.3 Đặc điểm của phương pháp dạy học tích cực
- PPDHTC là hệ thống PP trong đó phương pháp tự học là trung tâm chỉ đạo, có tác dụng gắn bó các phương pháp khác thành một hệ thống toàn vẹn
- PPDHTC có tác dụng tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học Người học được đặt vào tình huống có vấn đề trong đó có mâu thuẫn nhận thức giữa cái đã biết và cái phải tìm, tức là trong trạng thái có nhu cầu bức thiết muốn giải quyết bằng được mâu thuẫn đó Qua việc giải quyết vấn
đề người học lĩnh hội kiến thức một cách tự giác và tích cực, trong đó có niềm vui cảm nhận thức sáng tạo
- PPDHTC có những nét cơ bản của sự tìm tòi khoa học mà trong đó tư duy độc lập sáng tạo vừa là phương diện vừa là mục đích của quá trình dạy học
- PPDHTC có yêu cầu cao đối với người dạy và người học
Trang 251.2.4 Những dấu hiệu đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực
* Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS
- Trong phương pháp tích cực, người học – đối tượng của hoạt động
“dạy”, đồng thời là chủ thể của “hoạt động học” – được cuốn hút vào các hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được GV sắp đặt Được đặt vào những tình huống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo hướng suy nghĩ của riêng mình, từ đó vừa nắm vững được kiến thức mới, vừa nắm được phương pháp “làm ra” kiến thức, kĩ năng đó, không rập khuôn theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tài năng sáng tạo
- Dạy học theo cách này thì GV không chỉ đơn giản truyền đạt tri thức
mà còn hướng dẫn hành động Chương trình dạy học phải giúp cho từng HS biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng
* Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
- Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho
HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học
- Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kĩ thuật công nghệ thông tin phát triển như vũ bão – thì không thể nhồi nhét vào đầu óc trẻ phương pháp học ngay từ bậc tiểu học và càng lên bậc cao hơn càng phải được chú trọng
Trang 2619
- Trong phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn
luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học
thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dạy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn
mạnh mặt hoạt động trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong
trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà còn tự học có sự hướng dẫn của GV
* Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
- Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của HS không thể đồng đều tuyệt đối khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập
- Áp dụng PPDHTC ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi HS
- Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ, đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập của cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy – trò, trò – trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm của mỗi HS và của cả lớp chứ không phải chỉ dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm của GV
- Trong nhà trường, phương pháp học tập theo nhóm được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4- 6 người Học tập theo nhóm làm tăng hiệu
Trang 27- Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quan tâm dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội
- Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia, năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho HS
* Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
- Trong hoạt động học, việc đánh giá HS không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy
- Trước đây quan niệm GV giữ độc quyền đánh giá HS Trong phương pháp tích cực, GV phải hướng dẫn HS phát triển kĩ năng tự đánh giá điều chỉnh cách học Liên quan điều này, GV cần tạo điều kiện thuận lợi để HS được tự đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời
là một năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho HS
- Theo hướng phát triển của phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học, phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế
Trang 2821
- Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là công việc nặng nhọc đối với GV, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học
- Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, GV không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, GV trở thành người
thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để
HS tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức,
kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Trên lớp HS hoạt động là chính, GV có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó khi soạn giáo án, GV đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động, mới có
thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong hoạt động tìm tòi hào hứng tranh luận sôi nổi của HS GV
phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức hướng dẫn các hoạt động của HS mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của GV
1.2.5 Một số PPDHTC được sử dụng trong dạy học ở tiểu học hiện nay
Phương pháp vấn đáp:
+ Vấn đáp: Là PP trong đó GV nêu ra câu hỏi để HS trả lời, hoặc HS
có thể tranh luận với nhau và với cả GV; qua đó HS lĩnh hội được nội dung bài học Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, người ta phân biệt các loại
PP vấn đáp:
- Vấn đáp tái hiện: GV đặt câu hỏi chỉ yêu cầu HS nhớ lại kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận Vấn đáp tái hiện không được xem là phương pháp có giá trị sư phạm Đó là biện pháp được dùng khi cần đặt mối liên hệ giữa các kiến thức vừa mới học
- Vấn đáp giải thích – minh họa: Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào đó, GV lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh họa để
Trang 29 Phương pháp dạy học nêu vấn đề:
+ Nguồn gốc – khái niệm:
Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng lực đảm bảo sự thành công trong cuộc sống Vì vậy, tập dượt cho HS biết phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong học tập, không chỉ có ý nghĩa ở tầm PPDH mà phải được đặt như một mục tiêu GD & ĐT
Thuật ngữ “nêu vấn đề” đã có cách đây tới gần một thế kỉ Vào những năm 50 của thế kỉ XX, người ta đã thấy nổi lên một mâu thuẫn giữa một bên
là yêu cầu dạy học ngày càng cao, khả năng sáng tạo của HS ngày càng tăng, trong khi tổ chức dạy học lại quá lạc hậu Sau quá trình nghiên cứu, người ta
đã đưa ra được những kết quả sau:
Kết quả 1: Tìm ra quy luật bên ngoài của tích cực hóa hoạt động nhận
thức của HS nhờ những tác động bên ngoài, chủ yếu là từ phía thầy Ở đây muốn nói tới việc thay đổi hoạt động dạy hay phương pháp dạy
Kết quả 2: Tìm ra quy luật bên trong của tích cực hóa hoạt động nhận
thức nhờ giải quyết một loạt bài tập độc lập do bản thân HS giải quyết Từ đó, tạo ra lực phát triển từ bên trong Như vậy, kết quả 2 đề cập tới việc HS phải
Trang 3023
tự tích cực hóa hoạt động của mình bằng cách giải quyết các tình huống có vấn đề
Kết quả 3: Tìm ra quy luật chung của tích cực hóa hoạt động nhận
thức Hoạt động nhận thức của HS được tích cực hóa nhờ việc giải quyết một cách độc lập các tình huống có vấn đề
Quy luật chung, xét về bản chất là tổng hợp của cả 2 quy luật trên Điều này có nghĩa là cần phải thay đổi cả 2 quá trình: quá trình học: HS phải tích cực hóa bằng cách giải quyết các tình huống có vấn đề ở đây chính là GV (quá trình dạy)
Từ đây, thuật ngữ Dạy học nêu vấn đề xuất hiện với tư cách là một PPDH mới
Có thể định nghĩa như sau về dạy học nêu vấn đề: “Dạy học nêu vấn đề
là một hoạt động có chủ định của GV bằng cách đặt ra vấn đề học tập và tạo
ra những tình huống có vấn đề, hướng dẫn HS học tập nhằm diễn đạt và giải quyết các vấn đề học tập, tạo điều kiện cho sự lĩnh hội các tri thức mới và các cách thức hành động mới hình thành năng lực sáng tạo của học sinh” [4;242]
+ Các kiểu dạy học nêu vấn đề:
Trình bày nêu vấn đề
Nghiên cứu một phần
Nghiên cứu toàn phần
Theo những tài liệu mới đây, đặc biệt là những tài liệu về “Dạy và học tích cực” của GS Trần Bá Hoành cũng như dự án Việt – Bỉ (2001-2003) của
Bộ Giáo dục và đào tạo, có 4 mức độ của dạy học nêu vấn đề:
Mức độ 1: GV đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề, HS thực hiện cách giải quyết vấn đề theo sự hướng dẫn của GV, GV đánh giả kết quả làm việc của HS
Trang 3124
Mức độ 2: GV nêu vấn đề, gợi ý để HS tìm ra cách giải quyết vấn đề
HS thực hiện giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của GV khi cần GV và HS cùng đánh giá
Mức độ 3: GV cung cấp thông tin tạo tình huống HS thực hiện, nhận dạng, phát biểu vấn đề nảy sinh cần giải quyết, tự lực đề xuất các giả thuyết
và lựa chọn giải pháp HS thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề GV và HS cùng đánh giá
Mức độ 4: HS phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình
và cộng đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết, tự đề xuất ra giả thiết, tự xây dựng
kế hoạch giải, thực hiện kế hoạch giải, tự đánh giá chất lượng và hiệu quả việc giải quyết vấn đề
Ở đây, mức độ 1, 2 được GV sử dụng khá phổ biến, trải đều từ lớp 1 đến lớp 5 của bậc tiểu học Song với mức độ 3, 4 sự áp dụng còn nhiều hạn chế bởi lẽ sự thành công khi áp dụng PPDH nêu vấn đề ở mức độ này phụ thuộc nhiều vào trình độ, kinh nghiệm, cũng như tính tích cực, tư duy sáng tạo của HS Do đó, với HS ở đầu bậc tiểu học, khả năng áp dụng các mức độ này là chưa khả thi cao
+ Cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theo phương pháp dạy học nêu vấn đề thường như sau:
1.Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức
- Tạo tình huống có vấn đề;
- Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh;
- Phát hiện vấn đề cần giải quyết;
2.Giải quyết vấn đề đặt ra
- Đề xuất cách giải quyết;
- Lập kế hoạch giải quyết;
- Thực hiện kế hoạch giải quyết
Trang 3225
3.Kết luận
- Thảo luận kết quả và đánh giá;
- Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra;
- Phát biểu kết luận;
- Đề xuất vấn đề mới
+ Ưu điểm và nhược điểm của PPDH nêu vấn đề
Xét trên cơ sở lý luận của PPDH nêu vấn đề, ta nhận thấy PP này có những ưu nhược điểm sau:
Ưu điểm : - Tạo điều kiện tốt để đưa HS vào vị trí trung tâm, phát triển kỹ năng hoạt động nhận thức sáng tạo, kỹ năng nắm kiến thức độc lập ở
- Tiết học sôi nổi, hứng thú
Nhược điểm: - Cần nhiều thời gian, không dùng được khi dạy các bài rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, thực hành
- Không dạy được các bài có nội dung kiến thức mới mang tính chất nguyên tắc, tiên đề
- Người GV cần phải có vốn kiến thức rộng và toàn diện để không bị bất ngờ trước những kết luận mà HS nêu ra
- Giáo viên soạn bài vất vả hơn
Phương pháp dạy học thảo luận nhóm
a Khái niệm:
Trang 3326
Theo W King Robert (Tạp chí giáo viên Toán số 5 – 1969) nhóm là hiện tượng xã hội, một tập hợp của hai hay trên hai người có sự tác động lẫn nhau
Theo GS Trần Bá Hoành, nhóm (đội) là một tập thể nhỏ được hình thành được thực hiện một nhiệm vụ nhất định trong khoảng thời gian nhất định
Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người Tùy mục đích yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định, được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau
Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần Trong nhóm có thể phân công mỗi người một phần việc Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, không thể ỷ lại vào một vài người hiểu biết và năng động hơn Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vẫn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc phân mỗi thành viên trình bày một phần nếu nhiệm vụ giao cho nhóm là khá phước tạp
Do đó, ta có thể hiểu Phương pháp dạy học thảo luận nhóm là một phương pháp dạy học trong đó lớp học phân chia thành các nhóm nhỏ(ngẫu nhiên hoặc có chủ định), được duy trì ổn định trong cả tiết hay được thay đổi trong từng hoạt động, từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm vụ hoặc nhiều nhiệm vụ khác nhau, thực hiện trong một thời gian nhất định để đạt được hiệu quả học tập nhất định Nhóm ở đây
được đặc trưng bởi 3 yếu tố sau:
+ Số người trong nhóm
+ Nhiệm vụ của nhóm
+ Phản ứng tương hỗ trợ của các cá nhân trong nhóm
Trang 3427
Hiệu quả hoạt động của nhóm phụ thuộc vào GV và bản thân HS cũng như điều kiện thực hiện PPDH này Thảo luận nhóm đặc biệt thích hợp khi
GV muốn làm những việc sau đây:
+ Giúp HS học cách suy nghĩ về những vấn đề của môn học bằng cách cho các em thực hành suy nghĩ
+ Giúp HS đánh giá tính logic và quan điểm của người khác và của chính mình
+ Tạo cơ hội cho HS đưa ra những PP áp dụng các nguyên tắc
+ Giúp HS nâng cao nhận thức và nêu vấn đề sử dụng thông tin từ các bài đọc và bài giảng của GV
+ Tạo động cơ để HS tìm hiểu sâu vấn đề hơn nữa
+ Đưa ra phản hồi nhanh về sự hiểu biết hoặc hiểu sai của HS
* Phương pháp dạy học thảo luận nhóm có thể tiến hành:
- Phân công trong nhóm
- Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm
- Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm
Tổng kết trước lớp
- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
- Thảo luận chung
- GV tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong bài