1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đồng dao trẻ em hát trẻ em chơi với việc giáo dục học sinh tiểu học (2014)

61 222 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 710,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác dụng của đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi với việc giáo dục nhận thức cho học sinh tiểu học .... Với những lý do trên, với tư cách là một nhà giáo dục, tôi mạnh dạn đi nghiên cứu tì

Trang 1

-

TRẦN THỊ THẢO

ĐỒNG DAO TRẺ EM HÁT – TRẺ EM CHƠI VỚI VIỆC GIÁO DỤC HỌC SINH TIỂU HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Thiếu nhi

Người hướng dẫn khoa học

Th.S GVC NGUYỄN NGỌC THI

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm

Hà Nội 2, các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học đã giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp này

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo – Th.s GVC Nguyễn Ngọc Thi, người đã tận tình hướng dẫn em, chỉ bảo em trong quá trình học tập, nghiên cứu hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Sinh viên

Trần Thị Thảo

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng mình Những kết quả và số liệu trong khóa luận chưa được công bố dưới bất kì hình thức nào

Tôi xin chịu trách nhiệm về sự cam đoan này

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Sinh viên

Trần Thị Thảo

Trang 4

MỤC LỤC

Phần Mở đầu 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 3

3 Mục đích nghiên cứu 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

6 Phương pháp nghiên cứu 7

7 Cấu trúc khóa luận 7

Phần Nội dung 8

Chương I ĐỒNG DAO VÀ ĐỒNG DAO TRẺ EM HÁT – TRẺ EM CHƠI TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN TRUYỀN THỐNG 8

1.1 Cơ sở lí luận của đề tài 8

1.1.1 Vài nét về đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh tiểu học 8

1.1.1.1 Đặc điểm về hoạt động và môi trường sống 8

1.1.1.2 Đặc điểm về sự phát triển trí tuệ 9

1.1.2 Vài nét về nhận thức, thẩm mỹ và nhân cách của học sinh tiểu học 11

1.1.2.1 Về nhận thức 11

1.1.2.2 Về thẩm mỹ 12

1.1.2.3 Về nhân cách 13

1.2 Đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi 14

1.2.1 Định nghĩa đồng dao 14

1.2.2 Định nghĩa đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi 14

1.2.3 Ngôn ngữ đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi 16

1.2.4 Kết cấu đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi 17

1.2.5 Tính chất, chức năng và tác dụng của đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi 18

Trang 5

1.2.5.1 Tính chất 18

1.2.5.2 Chức năng và tác dụng 19

1.2.6 Tổ chức trò chơi cho học sinh tiểu học thông qua đồng dao 20

Chương II: TÁC DỤNG CỦA ĐỒNG DAO TRẺ EM HÁT – TRẺ EM CHƠI VỚI VIỆC GIÁO DỤC HỌC SINH TIỂU HỌC 22

2.1 Tác dụng của đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi với việc giáo dục nhận thức cho học sinh tiểu học 22

2.1.1 Đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi giúp học sinh tiểu học nhận thức những sự vật hiện tượng trong tự nhiên 22

2.1.2 Đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi giúp học sinh tiểu học nhận thức những kiến thức về đời sống xã hội 27

2.1.3 Đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi giúp học sinh tiểu học nhận thức những kiến thức trường học đơn giản 29

2.2 Đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi với việc giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học 34

2.2.1 Học sinh biết yêu, biết hòa hợp với thiên nhiên 34

2.2.2 Học sinh biết yêu quý cái đẹp và tạo ra cái đẹp 37

2.3 Đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi với việc giáo dục nhân cách cho học sinh tiểu học 40

2.4 Đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi với việc rèn luyện thể chất cho học sinh tiểu học 44

2.5 Đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi giúp bồi dưỡng năng lực Văn – Tiếng Việt cho học sinh tiểu học 48

PHẦN KẾT LUẬN 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ ngàn xưa, trên khắp các miền quê, trẻ em lớn lên không chỉ nhờ dòng sữa thơm mát và những lời ru ngọt ngào của bà, của mẹ mà còn xuất phát từ nhu cầu tự thân của đời sống tinh thần, tuổi thơ của các em đã không thể thiếu được những bài đồng dao mang đậm hơi ấm của làng quê, con người Việt Nam

Những bài hát đồng dao đã dựng lên một cuốn phim quay chậm về thiên nhiên, con người và xã hội Việt Nam xưa, gắn với nền kinh tế nông nghiệp lâu đời mà tác giả và đạo diễn, người ca hát và diễn xuất không ai khác chính là tập thể trẻ em Với những suy nghĩ hồn nhiên, tư duy ngộ nghĩnh nhưng cũng rất thông minh và sáng tạo ấy; biết bao màu sắc tươi sáng của đất trời, đồng ruộng, cỏ cây đã quyện lẫn cùng âm thanh vui tai của muông thú, âm điệu ngọt ngào từ lời ru êm dịu của mẹ hiền; biết bao hoạt động sản xuất cùng những thuần phong mỹ tục, những lễ hội tưng bừng… cũng tự nhiên đi vào lời hát của những trí óc non tơ Thế giới của những lời

ca, tiếng hát, trò chơi ấy tựa như những dòng suối trong lành mà mạch nguồn của nó không hề xa lạ: mạch nguồn truyền thống lao động, truyền thống nhân đạo lâu đời của dân tộc Việt tự ngàn năm nay, góp phần hình thành phát triển nhân cách con người Việt Nam qua bao thế hệ

Cũng như các thể loại văn học dân gian khác, đồng dao là một bộ phận quan trọng trong kho tàng thơ ca dân gian, ra đời sớm và được lưu truyền khá rộng rãi Trong tâm hồn của mỗi con người Việt Nam, những khúc đồng dao

có thể vẫn mãi gắn liền với họ, từ khi thơ bé tới lúc trưởng thành Đó có thể là những kỷ niệm gắn liền với những trò chơi cùng bạn bè ngay dưới mái trường quen thuộc, trên cánh đồng làng khi cùng chăn trâu, cắt cỏ hay dưới bãi sông

Trang 7

trong một đêm trăng sáng … Những cây chuyền nhỏ trong trò chơi Chuyền

thẻ, với những viên sỏi trong trò chơi Ô ăn quan, hay cả những tiếng reo hò,

tiếng la hét vang một góc sân của trò chơi Rồng rắn lên mây, Thả đỉa ba ba…

tất cả đều đủ sức gọi về những ngày xưa thơ bé

Những khúc đồng dao chẳng những cung cấp kiến thức tự nhiên, kiến thức xã hội mà đồng dao còn là những người bạn đồng hành, là dưỡng chất quý báu bồi bổ đời sống tinh thần cho trẻ em Cũng từ đây những khúc đồng dao xưa đã nâng cánh cho những ước mơ bay bổng của trẻ em

Đồng dao được các em hát trong lúc tổ chức trò chơi hay vui chơi, trình bày theo lối liệt kê, dễ nhớ, dễ phân biệt nên càng kích thích trí tò mò của trẻ Đồng thời nếu biết tận dụng, nó còn là kho kiến thức để giáo dục nhận thức, thẩm mỹ, nhân cách cho học sinh tiểu học

Là một người giáo viên tiểu học tương lai, tôi đã được nghiên cứu, tìm hiểu về tâm lý cũng như đặc điểm phát triển của học sinh tiểu học Hơn nữa, những trải nghiệm của tuổi thơ ở một vùng quê yên bình với bầu sữa mẹ, với những tiếng ru ngọt ngào của bà bên cánh võng, những cây chuyền, cây chắt, những hòn đá ô ăn quan, những buổi chiều chăn trâu cắt cỏ cùng bạn bè… tôi càng nhận thức được ý nghĩa của những khúc đồng dao trong đời sống tâm hồn mỗi con người

Những khúc đồng dao chứa đựng những bài học vô cùng quý báu, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học, đưa các em đến với những trò chơi lý thú và bổ ích Đồng dao dẫn dắt các em vào thế giới tự nhiên xung quanh với bao điều thú vị, giới thiệu cho các em cả một bức tranh

về đời sống xã hội của con người Việt Nam xưa Không chỉ đơn thuần là những câu hát giản dị, mộc mạc được sử dụng trong lúc vui chơi, đồng dao còn chứa đựng những giá trị nhận thức, giá trị thẩm mỹ vô vùng to lớn và sâu sắc Đằng sau những câu hát ngộ nghĩnh tưởng chỉ để giải trí là cả một kho kiến thức khổng lồ làm hành trang tri thức cho các em bước vào đời

Trang 8

Như vậy, khi được tiếp cận với đồng dao các em không chỉ được vui chơi mà các em còn nhận biết cái hay cái đẹp trong cuộc sống, được tiếp thu những kiến thức trong đời sống xã hội

Với những lý do trên, với tư cách là một nhà giáo dục, tôi mạnh dạn đi nghiên cứu tìm hiểu tác dụng của đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi với việc giáo dục học sinh tiểu học nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục học sinh phát triển toàn diện

2 Lịch sử nghiên cứu

Đồng dao có giá trị to lớn trong đời sống văn hóa của trẻ em từ xưa và trong thời đại ngày nay, nó vẫn còn nguyên giá trị nếu như chúng ta biết phát huy vai trò của nó

Với tinh thần đó, không ít những nhà nghiên cứu văn hóa và các nhà sư phạm đã bỏ nhiều công sức thời gian tìm hiểu về giá trị của đồng dao và ở họ đều có những tiếng nói chung khi tìm hiều về đồng dao Việt Nam

Trước cách mạng tháng Tám (1945), tác giả Nguyễn Văn Vĩnh viết tập

Trẻ con hát trẻ con chơi chủ yếu giới thiệu các trò chơi có kèm theo các bài

đồng dao

Năm 1967, tác giả Võ Văn Trực viết cuốn Gọi nghé trong đó giới thiệu

một số bài đồng dao của trẻ chăn trâu

Năm 1971, trong cuốn Thi ca bình dân Việt Nam Nguyễn Tấn Long, Phan Canh phát biểu: “Chúng ta đừng đòi hỏi ở những câu đồng dao một ý

nghĩa nào cả Nếu phải có ý nghĩa thì không còn tính chất của đồng dao nữa”[8,229] Rõ ràng đây là một ý kiến xác đáng tuy nhiên tác giả mới chỉ

dừng lại ở việc đưa ra vấn đề mà chưa chứng minh, giải thích được cặn kẽ

Trong Tạp chí Văn học số 4 năm 1977, tác giả Vũ Ngọc Khánh viết

“Mấy điều ghi nhận về đồng dao Việt Nam” để tìm hiểu ý nghĩa lịch sử của

bài đồng dao Chi chi chành chành

Trang 9

Tác giả Nguyễn Thu Thủy trong cuốn Giáo dục trẻ mẫu giáo qua

truyện và thơ, nhà xuất bản Giáo dục năm 1995 tiếp tục đưa ra một số ý kiến

về đồng dao và khẳng định đồng dao có tác dụng tốt trong việc giúp trẻ em cảm nhận được nhịp điệu gợi cảm xúc vui tươi phù hợp với tâm hồn và cuộc sống của trẻ thơ

Năm 1990, khi biên soạn giáo trình Văn học dân gian Việt Nam Hoàng Tiến Tựu đã chia hệ thống đồng dao thành bốn bộ phận: bộ phận đồng dao

gắn với công việc mà trẻ em đảm nhận, bộ phận đồng dao gắn với trò chơi của trẻ em, bộ phận đồng dao gắn với nhu cầu hiểu biết học hỏi, mở mang trí tuệ của trẻ em, và những lời sấm truyền, sấm kí[16,114] Cách chia dựa vào

chức năng của thể loại đã dẫn tới việc một số bài đồng dao có thể thuộc nhiều hơn một bộ phận, dẫn tới sự phức tạp và khó hiểu

Năm 1992, tác giả Phan Đăng Nhật với Lời đồng dao trong trò chơi cổ

truyền của trẻ em đã khẳng định: “chúng ta có thể kết luận lời đồng dao có những đóng góp quan trọng để thực hiện chức năng giáo dục và chức năng vui chơi với những nhiệm vụ rất đa dạng: luyện phát âm, cung cấp từ ngữ, giáo dục nhận thức, bồi dưỡng tình cảm, giữ nhịp cho thao tác chơi, thay hiệu lệnh kết thúc và hiệu lệnh xuất phát, chọn người đóng vai chính” [11,15] Tuy

vậy, tác giả cũng mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra lời giới thiệu mang tính chất dẫn dắt, khơi gợi mà chưa đặt vấn đề nghiên cứu, xem xét giá trị nội dung của các bài đồng dao một cách cụ thể, toàn diện và có hệ thống

Năm 1997, Vũ Ngọc Khánh trong bài viết “Thi pháp đồng dao” đã có

những phát hiện rất lí thú: “Những bài đồng dao thường bị xem là lung tung,

tản mạn, giá trị tư tưởng nghệ thuật thường bị đánh giá thấp, hoặc cho là không có gì, vốn có yêu cầu riêng, phương pháp riêng nên mới có thể tồn tại lâu dài”[6,20] Đây cũng chỉ là bài viết với quy mô nhỏ được tác giả nêu vấn

đề mà chưa đi vào chứng minh

Trang 10

Năm 1997, cuốn giáo trình Văn học dân gian Việt Nam các tác giả Đinh

Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn khi nói về đồng dao đã nhận

định: “Những bài hát trò chơi hay những trò chơi có bài hát như: Chi chi

chành chành, Dung dăng dung dẻ, Nu na nu nống,… có thể do người lớn tạo

ra, cũng có thể do trẻ em nghĩ ra Những sinh hoạt hát vui chơi, sinh hoạt vừa chơi vừa hát là một sinh hoạt của các em”[4,410] Ở đây, các tác giả chỉ đi vào

việc khai thác nội dung của những bài đồng dao một cách sơ lược ngắn gọn

Năm 2002, ở cuốn giáo trình Văn học dân gian (dành cho hệ đào tạo tại chức, đào tạo từ xa) Phạm Thu Yến đã nhận xét: “Đồng dao đã thể hiện rõ

tính chất nguyên hợp về chức năng, về nghệ thuật của Văn học dân gian Lời

ca gắn bó một cách hài hòa, chặt chẽ với âm nhạc, với trò chơi, thể hiện tính chất hồn nhiên chất phác, phù hợp với nhu cầu vui chơi, sinh lí trẻ nhỏ”

[17,32] Cuối cuốn giáo trình này tác giả cũng chỉ nghiên cứu về đồng dao dưới dạng một chuyên mục ngắn gọn

Tác giả Trần Gia Linh với cuốn Đồng dao Việt Nam (dành cho học sinh

tiểu học) nhà xuất bản Giáo dục tái bản lần thứ hai năm 2004 đã tuyển chọn

176 bài đồng dao và chia thành năm chủ đề lớn bao gồm: đồng dao về thiên

nhiên, đất nước; đồng dao gắn với trò chơi lứa tuổi nhỏ; đồng dao mô phỏng các hoạt động sản xuất tập cho trẻ em thành người lao động; đồng dao chứa đựng những tư duy ngộ nghĩnh và trí thông minh của trẻ em; và cuối cùng là những bài hát ru

Cùng tên Đồng dao Việt Nam của tác giả Nguyễn Nghĩa Dân, nhà xuất bản Văn học, xuất bản năm 2008 lại chia đồng dao thành năm bộ phận: đồng

dao trẻ em hát, đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi, đồng dao hát ru, đồng dao trẻ em đố vui và ca dao cho trẻ em[2,13]

Năm 2008, tác giả Triều Nguyên viết cuốn Tìm hiểu về đồng dao người

Việt rất công phu nghiên cứu kỹ lưỡng về cấu trúc những bài đồng dao

Trang 11

Nhắc đến đồng dao cũng không thể không kể đến những trò chơi trẻ

em Trong cuốn Đồng dao và trò chơi trẻ em, nhà xuất bản Văn học 2009, hai

tác giả Trần Thị Ngân và Nguyễn Thị Thu đã đưa ra những bài đồng dao hết sức dí dỏm với hai phần: đồng dao và trò chơi trẻ em, tuyển chọn những câu đồng dao cho trẻ em Tác giả đã liệt kê cách chơi của một số trò chơi dân gian quen thuộc và những câu đồng dao ngắn gọn, phản ánh một cách sinh động về

tự nhiên và cuộc sống

Trên trang web w.w.w.vanhoaviet-cadao.com với bài viết Đồng dao và

trò chơi trẻ em – những hình thức giáo dục dần bị lãng quên tác giả Trần

Xuân Toàn đã nhắc nhở: “Có lẽ hầu như chúng ta quên một phương pháp

giáo dục đầy hiệu quả mà chúng ta có sẵn Đó là kho tàng đồng dao và trò chơi trẻ em Riêng về lĩnh vực giáo dục, kho tàng này cung cấp nội dung và hình thức giáo dục “không thầy, không sách” tương đối rõ ràng và đầy đủ hơn cả”[15] Tuy đây chỉ là bài viết ngắn nhưng tác giả đã nói lên tầm quan

trọng của đồng dao trong sự phát triển của trẻ

Ngoài ra, còn một số tác giả cũng có những bài viết tâm huyết về đồng dao và trò chơi dân gian trẻ em Việt Nam trên các tạp chí khoa học, tạp chí giáo dục hoặc trong các báo điện tử… Song nhìn chung qua quá trình khảo sát

các tài liệu tham khảo, chúng tôi nhận thấy đồng dao vẫn còn là “mảnh đất”

cần được khai thác kĩ lưỡng và toàn diện hơn nữa

Các công trình nghiên cứu đều ít nhiều đề cập đến nội dung, ý nghĩa và giá trị quý báu của đồng dao đem lại cho lứa tuổi thiếu nhi Dựa trên cơ sở những gợi ý quý báu, cần thiết và bổ ích từ các công trình nghiên cứu của

những người đi trước, chúng tôi mạnh dạn triển khai đề tài “Đồng dao trẻ em

hát – trẻ em chơi với việc giáo dục học sinh tiểu học” với mong muốn góp

chút công sức của mình vào việc tìm hiểu đồng dao và giá trị quý báu đồng dao mang lại với việc giáo dục học sinh tiểu học

Trang 12

3 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu tác dụng của đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi với việc giáo dục học sinh tiểu học, thông qua đó góp phần thực hiện được mục tiêu giáo dục

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi với việc giáo dục học sinh tiểu học

Để thực hiện khóa luận chúng tôi khảo sát cuốn Đồng dao Việt Nam

của tác giả Nguyễn Nghĩa Dân

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu đồng dao và đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi trong văn học dân gian truyền thống

- Tìm hiểu tác dụng của đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi với việc giáo dục học sinh tiểu học

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê phân loại

- Phương pháp so sánh đối chiếu

- Phương pháp phân tích tổng hợp

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Nội dung khóa luận gồm 2 chương:

Chương 1: Đồng dao và đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi trong văn học dân gian truyền thống

Chương 2: Tác dụng của đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi với việc giáo dục học sinh tiểu học

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG

Chương I: ĐỒNG DAO VÀ ĐỒNG DAO TRẺ EM HÁT – TRẺ EM CHƠI TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN TRUYỀN THỐNG

1.1 Cơ sở lí luận của đề tài

1.1.1 Vài nét về đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh tiểu học

Học sinh tiểu học là lứa tuổi thiếu nhi từ 6 đến 11 tuổi Ở lứa tuổi này

có thể nhận thấy các em có những đặc điểm sau:

1.1.1.1 Đặc điểm về hoạt động và môi trường sống

Về hoạt động: Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi thì đến tuổi tiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập Sinh hoạt học tập của các em rất hào hứng để cuốn theo các ý tưởng, các kiến thức mới lạ và không ngừng đặt ra những câu hỏi tò mò, thắc mắc để tìm ra tri thức mới Tuy nhiên song song với hoạt động học tập ở các em còn diễn ra các hoạt động khác như:

+ Hoạt động vui chơi: Trẻ thay đổi đối tượng vui chơi từ chơi với đồ vật sang chơi các trò chơi vận động

+ Hoạt động lao động: Trẻ bắt đầu tham gia vào các hoạt động lao động đơn giản của gia đình và nhà trường

+ Hoạt động xã hội: Các em bắt đầu tham gia vào các phong trào của trường, lớp và của cộng đồng dân cư

Về môi trường sống: Khác với lứa tuổi mầm non, ở lứa tuổi tiểu học các em có sự thay đổi rõ rệt môi trường sống Các em không còn nhút nhát, rụt rè mà thích tìm tòi, khám phá thế giới xung quanh Các em bạo dạn hơn trong các hoạt động ở gia đình, nhà trường và ngoài xã hội Môi trường thay

Trang 14

đổi đòi hỏi các em phải tập trung chú ý trong thời gian liên tục từ 30 – 35 phút Chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá Bước đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển thành kỷ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập Phát triển độ tinh nhạy và sức bền vững của các thao tác tinh khéo léo của đôi bàn tay để học tập Tất cả đều là thử thách của trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những điều này thì cần phải có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học

1.1.1.2 Đặc điểm về sự phát triển trí tuệ

Nhận thức cảm tính: Các cơ quan cảm giác đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện Tri giác của các em lứa tuổi này mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính ổn định Ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp dẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng – tri giác có chủ định (Trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập

từ dễ đến khó…)

Nhận thức lý tính:

Tư duy: Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi Lớp 4, 5 các em bắt đầu biết khái quát hóa lý luận Tuy nhiên hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học

Tưởng tượng: Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dày dặn Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi Ở cuối tiểu học tưởng tượng tái tạo đã bắt

Trang 15

đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh,… Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn với các rung động tình cảm của các em

Trí nhớ: Giai đoạn lớp 1, 2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các đặc điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu Giai đoạn lớp 4,

5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ có chủ định

đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em

Chú ý: Ở đầu tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm

soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến các môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh,… Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập

Ở cuối tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài… Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định

Trang 16

Trên đây là những đặc điểm tâm lí cơ bản của học sinh tiểu học, hiểu được đặc điểm tâm lí này để giáo dục các em cần phải sử dụng nhiều phương pháp, phương tiện dạy học khác nhau một cách phù hợp để đạt hiệu quả cao

1.1.2 Vài nét về nhận thức, thẩm mỹ và nhân cách của học sinh tiểu học

1.1.2.1 Về nhận thức

Ở bậc tiểu học nhu cầu nhận thức của học sinh phát triển rất rõ nét, đặc biệt là nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh, khát vọng hiểu biết Tuy nhiên, mức độ nhận thức của học sinh tiểu học còn đơn giản, các em chủ yếu nhận thức cảm tính, có thể quan sát, tiếp cận với môi trường sống xung quanh để thấy được, nghe được các sự vật, hiện tượng cụ thể nhưng các em lại chưa thể phân tích, suy luận một cách logic

Lứa tuổi tiểu học các em có nhu cầu tìm hiểu, khám phá những sự vật hiện tượng xung quanh, bên ngoài thiên nhiên, những sự vật diễn ra trong cuộc sống rất mãnh liệt Đầu tiểu học nhu cầu tìm hiểu những sự vật hiện tượng riêng lẻ, nhưng đến cuối cấp nhu cầu đó gắn liền với sự phát hiện nguyên nhân, quy luật, các mối quan hệ phụ thuộc giữa các sự vật hiện tượng

Các em luôn đặt ra những câu hỏi để tìm hiểu về thế giới quanh mình như “Cái đó là cái gì? Nó được sinh ra ở đâu? Như thế nào? Và tại sao lại như vậy?” Đồng thời các em luôn tìm mọi cách để giải quyết những câu hỏi đó Khi trả lời những thắc mắc mà bản thân các em đặt ra thì các em sẽ nhận thức, lĩnh hội được tri thức của những sự vật, hiện tượng đó

Nhận thức là nguồn năng lượng tinh thần để định hướng và tiến lên trong nhiều tình huống trên còn đường khám phá kho tàng tri thức của nhân loại Quá trình nhận thức không tách khỏi hoạt động thực tiễn của trẻ em.Vì thế nhu cầu nhận thức của học sinh được thỏa mãn tư duy trong hành động và

tư duy bằng hành động Cho nên nhận thức của học sinh tiểu học được hình thành và phát triển như các hoạt động muôn màu, muôn vẻ trong gia đình, nhà trường, xã hội và trong chính cuộc sống của các em

Trang 17

1.1.2.2 Về thẩm mỹ

Thẩm mỹ là sự cảm thụ và hiểu biết cái đẹp Giáo dục thẩm mỹ là một quá trình tác động có hệ thống và có mục đích vào nhân cách của cá nhân nhằm phát triển năng lực cảm thụ và nhận biết cái đẹp trong nghệ thuật, trong

tự nhiên và trong đời sống xã hội Giáo dục lòng yêu cái đẹp vào trong đời sống một cách sáng tạo

Giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận quan trọng của giáo dục phát triển toàn diện đối với thế hệ trẻ và cần được tiến hành ở lứa tuổi tiểu học

Giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học có mối quan hệ mật thiết với giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ và lao động

Với giáo dục đạo đức: cảm xúc thẩm mỹ không những xây dựng trên

cơ sở cảm thụ cái đẹp mà còn trên cơ sở nắm chắc nội dung, tư tưởng của các tác phẩm nghệ thuật Những cảm xúc thẩm mỹ có ảnh hưởng đến tâm lý của học sinh tiểu học làm cho tính cách các trẻ thêm cao thượng

Ví dụ: Qua vẻ đẹp thiên nhiên học sinh sẽ có thái độ yêu mến, quý trọng và mong muốn bảo vệ thiên nhiên Từ đó gợi lên sự rung động trong lòng các em, khiến cho các em hình thành những hành vi văn minh cho mình

Cảm xúc thẩm mỹ làm cho phong phú cuộc sống của học sinh tiểu học

Nó góp phần giáo dục tính lạc quan, yêu đời cho các em

Với giáo dục trí tuệ: Giáo dục thẩm mỹ là cơ sở, tiền đề để phát triển trí tuệ cho học sinh tiểu học Học sinh ở lứa tuổi này không thể tiếp nhận những

lí sự khô khan về lẽ phải và cũng dễ khước từ sự buồn tẻ Trái lại học sinh sẽ rất nhạy cảm với những điều đó nếu chúng được biểu hiện dưới những hình thức, hình tượng sinh động và giàu màu sắc xúc cảm Giáo dục thẩm mỹ khơi dậy ở các em tính tích cực, sáng tạo và sự tự giác sắc bén hơn Qua giáo dục cái đẹp học sinh được tiếp xúc, khám phá môi trường xung quanh sẽ làm cho trí tưởng tượng của các em thêm phong phú Học sinh sẽ chú ý, ghi nhớ, tư

Trang 18

duy sâu sắc hơn để đưa những hình ảnh mà các em thấy được vào tác phẩm tạo hình của mình, góp phần phát triển năng lực nhận thức

Với giáo dục lao động: Giáo dục thẩm mỹ có thể liên hệ trực tiếp với giáo dục lao động và thể dục Toàn bộ vẻ đẹp của hoàn cảnh và sự tổ chức quá trình lao động có tác dụng tăng năng suất lao động Qua việc tiếp xúc, khám phá, tìm hiểu cái đẹp học sinh hứng thú và làm việc say mê hơn Sức khỏe phát triển, thể lực tốt có tác dụng thẩm mỹ đến sự phát triển chung về mặt tinh thần

Như vây, giáo dục thẩm mỹ góp phần quan trọng vào viêc hình thành nhân cách, phát triển toàn diện cho học sinh tiểu học

1.1.2.3 Về nhân cách

Khi nói đến nhân cách người ta thường nhấn mạnh vào cốt cách làm người và giá trị xã hội của mỗi cá nhân Nhân cách là toàn bộ những đặc điểm tâm lý, những thuộc tính tâm lý quy định con người như là một thành viên của

xã hội Hay nói cách khác, nhân cách chính là tư cách và phẩm chất đạo đức của con người

Ở lứa tuổi học sinh tiểu học, nét tính cách đang dần được hình thành, đặc biệt trong môi trường nhà trường còn mới lạ, các em có thể nhút nhát, rụt

rè, cũng có thể sôi nổi, mạnh dạn,… Sau 5 năm “tính cách học đường” mới dần ổn định và bền vững ở trẻ

Nhìn chung việc hình thành nhân cách của học sinh tiểu học mang những đặc điểm cơ bản sau:

Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, trong quá trình phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng

Nhân cách của các em lúc này còn mang tính tiềm ẩn, những năng lực,

tố chất của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển

Trang 19

Và đặc biệt nhân cách của các em còn mang tính đang hình thành, việc hình thành nhân cách không thể diễn ra một sớm một chiều, với học sinh tiểu học còn đang trong qua trình phát triển toàn diện về mọi mặt, vì thế mà nhân cách của các em sẽ được hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát triển của mình

1.2 Đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi

1.2.1 Định nghĩa đồng dao

Theo Nguyễn Nghĩa Dân trong cuốn Đồng dao Việt Nam thì “đồng dao

là những lời mộc mạc hồn nhiên, có vần, được trẻ em truyền miệng cho nhau hoặc hát đồng thanh theo nhịp điệu đơn giản trong lúc vui chơi hoặc tiến hành các trò chơi dân gian của lứa tuổi thiếu nhi”[2,12] Nguyễn Tấn Long, Phan

Canh trong Thi ca bình dân Việt Nam cho rằng “đồng dao là ca dao nhi đồng”

[8,15] Cùng tên Đồng dao Việt Nam, tác giả Trần Gia Linh đưa ra định nghĩa

“đồng dao là những bài hát dân gian phù hợp với trẻ em, một số bài gắn với một trò chơi nhất định, các em vừa làm trò, vừa hát”[7,13] Tác giả Triều

Nguyên trong cuốn Tìm hiểu về đồng dao người Việt nhận định “đồng dao là

một thể loại của văn học dân gian, thuộc phương thức biểu đạt tự sự bằng văn vần, gồm phần lớn của những bài hát dân gian trẻ em (những bài hát ấy có thể làm trò chơi hay không)[10,15]

1.2.2 Định nghĩa đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi

Đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi là một bộ phận quan trọng của hệ thống đồng dao, là môi trường văn hóa, văn nghệ trẻ em vừa hát, vừa chơi, vừa chơi vừa học của lứa tuổi thiếu nhi Đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi còn là “môi trường văn nghệ chơi mà học, học mà chơi của trẻ em”

Đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi đã được trẻ em sáng tạo, truyền miệng, kế thừa và phát triển phong phú từ thế hệ này sang thế hệ khác với sự hướng dẫn của người lớn theo tinh thần chơi mà học, học trong chơi nhằm phát triển tình cảm, tư duy từ thấp đến cao một cách tự nhiên phù hợp sinh lí trẻ em

Trang 20

Đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi có thể phân biệt lời đồng dao hát chơi và đồng dao hát trong các trò chơi Đồng dao hát chơi có nội dung rất đa dạng, phong phú với hàng nghìn lời Khi chơi, các em hát câu hát đó và nhớ câu hát đó

Những trò chơi dân gian trẻ em có lời đồng dao kèm theo chiếm một tỷ

lệ khá lớn Theo Phan Đăng Nhật trong “Lời đồng dao trong trò chơi cổ

truyền trẻ em” thì trong số 82 trò chơi dân gian mà tác giả đã sưu tầm có đến

51 trò chơi đó là “lời có vần”, “có tính nhạc rất cao” giúp trẻ rèn luyện bồi dưỡng tiếng nói, thao tác trò chơi đều đặn và đồng loạt Lời đồng dao kèm theo các trò chơi giúp trẻ em khi chơi có thể luyện phát âm hay cung cấp từ ngữ, giáo dục nhận thức, giữ nhịp cho thao tác chơi,… Đồng dao còn được các em coi là công cụ, phương tiện để hát, để tạo sự cân bằng, hứng khởi cho cuộc chơi Lời đồng dao giống như một tiếng còi hiệu lệnh tập hợp các em chuẩn bị tư thế sẵn sàng tham gia vào cuộc chơi, nó cũng giống như một người nhạc trưởng bắt nhịp cho các trò chơi mà ở đó lời hát của bài đồng dao

có liên quan mật thiết đến trò chơi Các em cùng tham gia hát các bài đồng dao kết hợp với các trò chơi một cách hăng say, vui vẻ Đồng dao và trò chơi dân gian giống như một chất men có sức hấp dẫn trẻ em khiến cho các em yêu

thích Đúng như Nguyễn Tấn Long, Phan Canh đã nhận định trong Thi ca

bình dân Việt Nam: “Đồng dao có tác dụng trong sinh hoạt nhi đồng cũng

chẳng kém gì ca dao tác động trong sinh hoạt người lớn”[8,240]

Trong đồng dao các dân tộc thiểu số trò chơi có lời đồng dao cũng có tỉ

lệ khá cao như đồng dao dân tộc Thái (Tây Bắc), dân tộc Tày, dân tộc Nùng…

Tìm hiểu cuốn Đồng dao Việt Nam của tác giả Nguyễn Nghĩa Dân

chúng tôi có bảng thống kê về những bài đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi

(Xin xem phụ lục)

Trang 21

Qua bảng thống kê ta thấy được bộ phận đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi chiếm số lượng khá lớn trong hệ thống đồng dao Với lời đồng dao giản

dị, vui tươi bộ phận đồng dao này có tác dụng rất lớn đối với lứa tuổi học sinh tiểu học Thông qua những trò chơi và lời đồng dao rèn cho học sinh trí tưởng tượng, suy đoán; rèn luyện sức khỏe và sự nhanh tay nhanh mắt, đem lại nhiều lợi ích trong sự phát triển cả về sức khỏe lẫn trí tuệ cho các em

1.2.3 Ngôn ngữ đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi

Đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi phần lớn do trẻ em sáng tạo nhưng trong nhiều lời, người lớn góp phần sửa chữa, chỉnh lý Những bài đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi được truyền miệng hoặc ghi thành văn bản mà ngày nay chúng ta có được đều đã có quá trình hình thành như vậy Tính chất dị bản cũng từ thực trạng đó mà thành Tìm hiểu những lời đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi có thể nêu được đặc điểm của ngôn ngữ bộ phận đồng dao là: giản dị, mộc mạc, vô tư, hồn nhiên, vui tươi, ngộ nghĩnh Những tính chất đó của ngôn ngữ đồng dao có thể bắt gặp trong nhiều lời đồng dao ngắn hoặc dài, trong lời vè hoặc lục bát,… từ đặc điểm chung và cơ bản đó, có thể thấy những biểu hiện sau đây:

Đó là ngôn ngữ gồm từ vựng cụ thể về tự nhiên và xã hội gần gũi với đời sống, sinh hoạt hằng ngày của trẻ em Điều này hoàn toàn phù hợp với tâm lý tuổi thơ Có thể đó là những người gần với trẻ như bà, mẹ,… là những cây cối quen thuộc như cây dừa, cây mận, cây cải,… các vật nuôi trong nhà như con chó, gà, mèo,… rồi đến thời gian cụ thể: chiều, ban đêm đến không gian cụ thể: trời, trăng, sao các hiện tượng thiên nhiên như mưa, nắng, gió

Ngôn ngữ đồng dao tuy giản dị mộc mạc nhưng cũng giàu âm thanh đặc biệt là trong khả năng bắt chước, mô phỏng âm thanh phát ra từ đồ vật hoặc động vật Theo tâm lý học trẻ em thì thính giác và thị giác của trẻ em phát triển rất sớm từ khi trẻ còn dưới 1 tuổi, nhưng thính giác phát triển mạnh

Trang 22

hơn trong khi thị giác phát triển có tính định hướng (ví dụ theo hướng ánh

sáng hoặc màu sắc) Lời đồng dao kèm trò chơi như Dệt vải, Rán mỡ, Bỏ tiền

vào ống, Xúc xắc xúc xẻ… Lại có những âm thanh đưa đẩy cho vui không liên

quan gì đến trò chơi… Những lời này được trẻ em chú ý nhiều hơn về ngữ âm hơn là ngữ nghĩa Nhiều khi đó như một mệnh lệnh bắt đầu hoặc kết thúc một trò chơi: “Dung dăng dung dẻ / Dắt trẻ đi chơi…”; “Nu na nu nống / Thằng cống cái vạc…”; “Ô nô ô nốc / Thằng cộc cái vạc…”

Ấn tượng rõ nét nhất là ngôn ngữ đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi bao giờ cũng vui tươi ngộ nghĩnh, mang rõ bản sắc ngôn ngữ trẻ em Có thể

đó là ngôn ngữ có lời mà không có nghĩa (hoặc nghĩa theo suy nghĩ chủ quan

của trẻ mà người lớn không “tài nào” hiểu được) như Chồng lộng chồng cà,

Nu na nu nống… Trong lời đồng dao Việt Nam, những lời không có nghĩa đó

thường mở vần cho lời hát (Chồng lộng chồng cà / Mày xòa hoa khế…)

Tóm lại, ngôn ngữ đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi thực sự là ngôn ngữ của trẻ, trong khi chơi trẻ em hát cùng thế giới tự nhiên, xã hội xung quanh mình, qua đó làm cho tiếng nói của các em phát triển phong phú đặc biệt về từ vựng Hát vui, nói xuôi, nói ngược, nói lái, dùng lời có nghĩa, dùng lời mô phỏng, dùng lời không có nghĩa,… xét đến cùng để các em được vui chơi, được giao tiếp với nhau và cũng để nắm bắt tốt hơn tiếng mẹ đẻ

1.2.4 Kết cấu đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi

Nhìn chung đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi có kết cấu đa dạng, đơn giản, tự nhiên, vần vè nhằm mục đích vui chơi, kết hợp phần nào với cảm nhận theo tư duy tưởng tượng của trẻ thơ Có thể thấy những biểu hiện sau:

Kết cấu “dắt dây” từ vật này chuyển sang vật khác, từ chuyện này chuyển sang chuyện khác, liên kết với nhau bằng vần của ngôn ngữ Ví dụ

như bài Vấn đáp bắt đầu bằng “Chú gì, chú chuột / chốt gì, chốt tre / bè gì, bè

muống / ruộng gì, ruộng nương…” sau đó lại “Chơi gì, chơi tán / tháng gì,

Trang 23

tháng chầu / chầu gì, chầu bụt” Đúng là chuyện nọ “dắt dây” chuyện kia,

không ăn nhập gì với nhau, chỉ liên kết với nhau một cách bâng quơ Như bài

Đúc nậm đúc nị “Đúc nậm đúc nị / cây tí cây tiên / đồng tiền, chiếc đũa / cái

búa thợ rèn / cái kèn ông phủ / cái mũ bà đa / cái cốc cái ca / thì ra tay này”

Kết cấu xâu chuỗi kết các vật hoặc sự kiện cùng loại với nhau, có liên kết nhưng không lỏng lẻo, tiện đâu xâu đấy, tuy nhiên nói, hát theo một chủ đề Đó là “ Mỏ dính cát / thì xuống sông / bùn dính lông / thì đi rửa /chân

dẫm lúa / thì phải treo” Bài Nu na nu nống trừ dòng đầu và dòng cuối, hai

dòng 3 - 4, “cái cống” và “cái ong” có quan hệ về vị trí (vật “nằm trong”, vật

“nằm ngoài”), chúng không liên quan gì đến các sự vật, sự việc tiếp sau, và bản thân mỗi sự vật, sự việc ấy cũng tồn tại độc lập (trừ hai dòng 8 - 9 có quan hệ tương ứng: “nhà mụ thổi xôi” – “nhà tôi nấu chè”)

Kết cấu đối đáp nôm na là hỏi và trả lời: trò chơi Xỉa cá mè là đối đáp trong buôn men, trò chơi Rồng rắn lên mây là đối đáp giữa “rồng rắn” và “ thầy thuốc”, trò Vấn đáp là lời đối đáp về những thứ mà trẻ em nhìn thấy, trẻ

quan sát những thứ xung quanh và trước mắt của trẻ để trả lời sao cho đúng vần với câu hỏi

1.2.5 Tính chất, chức năng và tác dụng của đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi

1.2.5.1 Tính chất

Đồng dao là một bộ phận của văn học dân gian, gần gũi với ca dao nên

có đầy đủ các tính chất truyền miệng, nhiều dị bản và tập thể.Vì đồng dao là của trẻ em nên đồng dao còn có tính chất vui chơi phù hợp với tâm sinh lý trẻ

em Đó là những tính chất cơ bản của đồng dao Phần lớn đồng dao do trẻ em sáng tạo trong lúc vui chơi, cùng hát đồng thanh, truyền miệng cho nhau từ thôn xóm này, vùng này qua thôn xóm khác, vùng khác Người lớn có khi cũng tham gia vào quá trình hình thành lời đồng dao và cũng có khi sáng tạo đồng dao cho trẻ em hát để thực hiện mục đích nào đó của người lớn Tất

Trang 24

nhiên do truyền miệng và nhất là do trẻ em truyền đi nên tính nhiều dị bản của đồng dao rất rõ Ví dụ những bài đồng dao về chim, về cá, về hoa, về trái, lời

hát Nu na nu nống, Chi chi chành chành có ít nhất từ năm đến bảy dị bản, có

dị bản khác nhau về dòng, có dị bản khác nhau về lời hát, lại có dị bản khác nhau tiếng từng địa phương Tính tập thể của đồng dao thể hiện quan hệ giữa trẻ em với trẻ em trong vui chơi, quan hệ giữa trẻ em và người lớn (trẻ em đặt lời người lớn bổ sung hoặc người lớn đặt ra cho trẻ em hát) Ngoài ra đồng dao còn có tính chất gắn liền với trò chơi Tính chất này là đặc trưng của đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi Lời hát của các đồng dao này có quan hệ mật

thiết với trò chơi (như trò chơi Chuyền thẻ, Lộn cầu vồng, Dệt vải,…) nhưng

cũng có đồng dao với lời bài hát không liên quan gì đến trò chơi, nói đúng

hơn, chỉ mấy lời cuối vang lên như một mệnh lệnh (như Chi chi chành chành, mệnh lệnh đối với các em đang chơi là “Ù à ù ập”, như Chồng lộng trồng cà,

mệnh lệnh là “Ai có chân, có tay thì rụt”,…

1.2.5.2 Chức năng và tác dụng

Chức năng chính của đồng dao là: nhận thức, thẩm mỹ và giáo dục Nhận thức của trẻ em qua đồng dao là nhận thức cảm tính, quan sát, tiếp cận môi trường tự nhiên xã hội gần mình, có thể thấy được, nghe được nhưng chưa phân tích được Như một số bài có kết cấu tự do, không có liên kết logic: Cái mốt / cái mai / con chai / con hến / con nhện /… Về thẩm mỹ, trong đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi cái hài được đề cập tới nhiều nhất Không chỉ cho các em cười mà người lớn cũng cười Như vậy, bằng phương thức “chơi mà học, học mà chơi” đồng dao có chức năng giáo dục trẻ một cách nhẹ nhàng sinh động qua trò chơi kèm theo lời hát

Nếu các lời hát ru có tác dụng giáo dục tình cảm cho trẻ không phải bằng lời mà chủ yếu bằng âm nhạc qua giai điệu hát thì đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi, những câu đố vui lại có tác dụng rèn luyện trí tưởng tượng, trí

Trang 25

thông minh, kỹ năng suy đoán, liên tưởng, rèn luyện sức khỏe, nhanh tay, nhanh mắt Ngoài ra các em còn được giáo dục về lòng kiên trì, tính trung thực, lòng dũng cảm,

Tùy theo lứa tuổi, với phương thức “chơi mà học, học mà chơi”, theo thang bậc từ thấp đến cao, từ xa đến gần, từ dễ đến khó, tác dụng đồng dao đối với trẻ em là khác nhau Ở học sinh tiểu học, đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi có tác động rất mạnh đến nhân cách các em

1.2.6 Tổ chức trò chơi cho học sinh tiểu học thông qua đồng dao

Nói đến đồng dao thì không thể thiếu trò chơi dân gian Việt Nam, vì khá nhiều trò chơi dân gian gắn liền với những bài đồng dao Nhân dân ta có kho tàng trò chơi dân gian hết sức phong phú mà điều đặc biệt thú vị là phần lớn các trò chơi đều đi kèm với lời đồng dao ngộ nghĩnh làm tăng thêm sự cuốn hút của trò chơi đối với trẻ em Những trò chơi này được truyền tụng

qua nhiều thế hệ cho đến ngày nay như trò chơi Kéo cưa lừa xẻ, Chi chi

chành chành, Rồng rắn lên mây,… Các trò chơi phần lớn là đơn giản, dễ thực

hiện lại vui nhộn Ngoài ra còn những trò chơi vận động như Dung dăng dung

dẻ, Bịt mắt bắt dê, Kéo co,… Trò chơi học tập Chuyền thẻ đều là những trò

chơi hết sức phù hợp với đạc điểm tâm lý lứa tuổi tiểu học Cả kho tàng phong phú ấy là phương tiện giáo dục đức – trí – thể - mỹ cho học sinh tiểu học, qua đó phát triển tâm lý, thể chất, trí tuệ trước mắt và nhân cách cho các

em trong tương lai Vì vậy thông qua đồng dao cần tổ chức các trò chơi và hoạt động vui chơi cho các em để thu hút các em và tạo tiền đề cho các em tiếp thu những tri thức của thế giới xung quanh

Với nội dung và hình thức phong phú đồng dao cùng với trò chơi dân gian đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của học sinh tiểu học đồng thời giáo dục nhân cách, thẩm mỹ, nhận thức cho các em

Trang 26

Như vậy, tổ chức các trò chơi cho lứa tuổi học sinh tiểu học thông qua đồng dao sẽ góp phần giúp học sinh tiểu học phát triển toàn diện về đức – trí – thể - mỹ Từ đó đồng dao góp phần vào việc giáo dục học sinh đạt hiệu quả cao

Trang 27

CHƯƠNG 2 TÁC DỤNG CỦA ĐỒNG DAO TRẺ EM HÁT – TRẺ EM

CHƠI VỚI VIỆC GIÁO DỤC HỌC SINH TIỂU HỌC

2.1 Tác dụng của đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi với việc giáo dục nhận thức cho học sinh tiểu học

2.1.1 Đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi giúp học sinh tiểu học nhận thức những sự vật hiện tượng trong tự nhiên

Tuổi thơ ở làng quê gắn bó mật thiết với đồng dao Từ thuở lọt lòng, các em bé đã được bà và mẹ ru hời, cho tập đi tập nói trong những khúc hát đồng dao, lớn lên cũng vui chơi nô đùa bằng lời hát đồng dao Không ngày nào trẻ quê không tụ tập ca hát Dù nắng hay mưa, ở nhà hay ngoài trời, khi đi chăn trâu, cắt cỏ hay đánh đáo, chơi chuyền, dung dăng dung dẻ mọi hoạt động của các em đều lóng lánh đồng dao Hát và chơi cùng đồng dao từ lâu đã

là một thú vui, ngoài đem lại kiến thức phong phú về cuộc sống, còn nuôi dưỡng ở các em một tâm hồn trong sáng, thánh thiện với những ký ức đẹp xinh về thời niên thiếu và tình yêu quê hương, đất nước

Trẻ em sống trong lòng của thiên nhiên – nơi ban ngày có ánh nắng mặt trời, ban đêm có trăng thanh gió mát, xung quanh tràn đầy các sắc màu vui nhộn Bao nhiêu là tiếng chim ca véo von, muôn hoa đua nở, thiên nhiên kỳ lạ thiết tha, lộng lẫy mà vẫn bình dị Khi các em biết cảm nhận về thế giới xung quanh mình thì biết bao sự vật, con vật cũng hiện ra trước mắt, các em cảm nhận hòa vào chúng để cùng múa hát, vui chơi với chúng Thế rồi cây cối, con vật cũng đã đến với các em thông qua chính lời đồng dao đó Đồng dao đã giúp các em nhận thức cả một thiên nhiên sinh động và kỳ diệu dưới bể sâu, trên trời cao và ở xung quanh mình Nguồn tri thức dồi dào mà đồng dao đem lại cho các em không phải là những kiến thức hệ thống như tư duy người lớn

mà với hình thức trình bày liệt kê dừng lại ở những nét bề ngoài dễ nhớ, dễ

Trang 28

phân biệt, từ đó kích thích trí tò mò của trẻ em, giúp các em ham mê khám phá, tìm hiểu thế giới tự nhiên rộng lớn

Trong bài Trồng đậu, trồng cà:

Trồng đậu, trồng cà Hoa hòe, hoa khế Khế ngọt, khế chua Cột đình, cột chùa Hai ta ôm cột Cây cam, cây quýt Cây mít cây hồng Cành đa, lá nhãn

Ai có chân, ai có tay thì rụt!

Các em có thể nhận biết được hai loại khế ngọt, khế chua, cũng có thể nhận ra bốn loại cây ăn quả rất gần gũi với chúng như cây cam, cây quýt, cây mít, cây hồng rồi cả cột đình, cột chùa, cành đa, lá nhãn cũng ở trong câu hát Trẻ em nhận biết một cách rất tự nhiên

Rồi bao nhiêu con vật và cây cối được nhắc đến trong bài Chuyền thẻ:

Chuyền thẻ Cái mốt Cái mai Con trai Con hến Con nhện Chăng tơ Quả mơ Quả táo Cái gáo Lên đôi…

Trang 29

Với 64 câu trong bài chuyền thẻ, thế giới tự nhiên như mở ra vô cùng: nào con trai, con hến, con nhện nào quả mơ, quả táo,quả cà, nào là cái gáo Rồi còn bao nhiêu loại bánh như bánh trôi, bánh chay, bánh dày, bánh đa Mỗi câu là trẻ em lại biết thêm được một con vật, một loại quả, một thứ bánh hay những sự vật không đâu vào đâu nhưng trẻ em cứ thấy là miêu tả một cách rất

Bẻ cành sung Lung tung, quét lá bàng Vào làng xin thịt

Ra làng xin xôi

Ới các chị em ơi Cho tôi xin một ván …ù

Trong con mắt của trẻ thơ các sự vật thật sinh động, nhìn thấy gì là tả cái đó không theo một trật tự nào cả Đang ổi xanh, hành bóc vỏ thì lại trứng

đỏ lòng xong rồi tôm con đít vịt Thật buồn cười!

Hay bài * Ếch ở dưới ao:

Ếch ở dưới ao Vừa ngớt mưa rào Nhảy ra bì bọp Ếch kêu “ộp ộp”

Trang 30

Ếch kêu “ặp ặp”

Thấy bác đi câu

Rủ nhau trốn mau Ếch kêu “ộp ộp”

Ếch kêu “ặp ặp”

Trong bài đồng dao tiếng ếch kêu được miêu tả một cách rất chi tiết đó,

có em thì nghe thấy tiếng ếch kêu “ộp ộp” nhưng có em lại thấy tiếng kêu của ếch là “ặp ặp” và một sự vật được nói đến trong bài đồng dao đó là khi mưa rào vừa ngớt thì ếch ở ao hồ đua nhau kêu - đây chính là thời điểm để đi câu ếch Dưới con mắt của trẻ thơ thì những chú ếch cũng giống như con người “

rủ nhau trốn mau” khi biết bị nguy hiểm

Tuy nhiên cũng có những trò chơi mang lại sự thích thú với những trẻ

có lòng gan dạ và dũng cảm như trò Hú ma trơi:

Hú ma trơi!

Mặt trời chưa lặn Con rắn bò ra Con ma thập thò

Đây thực sự là một trò chơi hấp dẫn với không chỉ với em nhỏ mà với

cả các em ở độ tuổi thiếu niên Vào lúc chập tối, một em bạo dạn có thể làm trưởng trò dẫn một vài em ra bãi tha ma và hát bài đồng dao trên Nếu có lân tinh bay lên thì các em chạy cho nhanh về ngõ xóm Khi chưa hiểu, người ta cho lân tinh là ma hiện lên nhưng thực chất, đây là một hiện tượng của tự nhiên rất thú vị và độc đáo với những đám lửa màu xanh lập lòe và càng chạy thì những đốm lửa đó càng đuổi theo

Cả sự việc mèo đuổi chuột cũng được các em đưa vào trò chơi của mình:

Ngày đăng: 18/04/2018, 09:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w