1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Rèn kĩ năng nhận biết biện pháp tu từ nhân hóa và so sánh cho học sinh lớp 3 (2014)

72 241 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 729,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song song với biện pháp tu từ so sánh, nhân hoá là một biện pháp tu từ có khả năng khắc họa hình ảnh và gây ấn tượng mạnh mẽ làm nên một hình thức miêu tả sinh động, diễn đạt mọi sắc thá

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Tiếng Việt

Người hướng dẫn khoa học

Th.S LÊ BÁ MIÊN

Trang 2

LỜI CẢM ƠN!

Bằng những kiến thức được thầy cô trong nhà trường trang bị trong suốt thời gian học, với sự nỗ lực của bản thân cùng với sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo chúng tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp này Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc tới các thầy cô, đặc biệt là thầy giáo Lê Bá Miên đã hết lòng giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là kết quả riêng của bản thân, không trùng với bất cứ một kết quả nào khác

Xuân Hòa, ngày 05 tháng 05 năm 2014

Sinh viên

Đặng Thị Bích Ngọc

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC 4

PHẦN THỨ NHẤT 1

Những vấn đề chung 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích ,yêu cầu 3

3.1 Mục đích 3

3.2 Yêu cầu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

4 1 Phương pháp phân tích ngôn ngữ học 4

4 2 Phương pháp khảo sát thực tế và thống kê số liệu 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

6.1 Đối tượng nghiên cứu 4

6.2 Phạm vi nghiên cứu 5

7 Kế hoạch nghiên cứu 5

PHẦN THỨ HAI 6

Nội dung của khoá luận 6

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn 6

1 Cơ sở lí luận 6

1.1 Phép tu từ so sánh 7

1.2 Phép tu từ nhân hoá 10

1.3.Khái niệm về kĩ năng 11

2 Cơ sở thực tiễn 14

2.1 Chương trình và sách giáo khoa Tiếng Việt 3 14

2.2 Về việc dạy và học của giáo viên và học sinh 16

Chương 2: Các kĩ năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh và nhân hoá 18

Trang 5

1.Rèn kĩ năng đọc văn bản để nhận biết các biện pháp tu từ 18

1.1 Đọc thầm 19

1.2 Đọc thành tiếng 20

2.Kĩ năng dựa vào ngôn ngữ để nhận biết các biện pháp tu từ 21

2.1 Kĩ năng dựa vào ngôn ngữ để nhận biết cấu trúc của các biện pháp tu từ 21

2.1.1 Cấu trúc của biện pháp nghệ thuật so sánh 22

2.1.2 Cấu trúc của biện pháp nghệ thuật nhân hoá 29

2.2 Kĩ năng dựa vào từ ngữ để nhận biết các biện pháp tu từ nhân hóa và so sánh 32

2.2.1 Dựa vào từ ngữ để nhận biết biện pháp nghệ thuật so sánh 33

2.2.2.Dựa vào từ ngữ để nhận biết biện pháp tu từ nhân hoá 34

3.Kĩ năng nhận biết hiệu quả sử dụng của các biện pháp tu từ nhân hoá và so sánh 39

3.1 Hiệu quả nhận thức 48

3.2 Hiệu quả biểu cảm 53

3.3 Hiệu quả thẩm mỹ 58

PHẦN KẾT LUẬN 64

Tài liệu tham khảo 66

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Bảng thống kê chất lượng về kĩ năng nhận biết biện pháp tu từ

so sánh 29 Bảng 2: Bảng thống kê chất lượng kĩ năng nhận biết biện pháp tu từ

nhân hoá 32 Bảng 3: Thống kê các hình ảnh so sánh trong các văn bản Tập đọc

ở lớp 3 39 Bảng 4: Thống kê các hình ảnh nhân hoá trong các văn bản Tập đọc

lớp 3 44 Bảng 5: Bảng thống kê kết quả khảo sát học sinh lĩnh hội biện pháp tu từ so sánh 57 Bảng 6: Bảng thống kê kết quả khảo sát học sinh lĩnh hội biện pháp tu từ nhân hoá 61

Trang 7

PHẦN THỨ NHẤT Những vấn đề chung

1 Lí do chọn đề tài:

Xuất phát từ yêu cầu đổi mới của đất nước, trong những năm qua Đảng, Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm đến phát triển giáo dục Một trong những nhiệm vụ cơ bản của giáo dục đào tạo hiện nay là hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh một cách toàn diện theo mục tiêu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa Đặc biệt quan trọng đó là giáo giục những mầm non, những thế hệ trẻ tương lai của đất nước Bởi vậy, giáo dục ngay từ những cấp tiểu học là rất quan trọng

Văn học là một loại hình nghệ thuật lấy ngôn từ làm phương tiện thể hiện Có khả năng tác động đến đời sống tâm hồn của con người Chính và thế

mà trong chương trình dạy học ở cấp tiểu học có rất nhiều các biện pháp tu từ nhằm nâng cao khả năng cảm thụ của các em đồng thời giúp các em thấy được cái hay, cái đẹp của cuộc sống Trong đó biện pháp tu từ so sánh và nhân hoá góp một phần không nhỏ làm lên điều này

Một mặt, so sánh có khả năng khắc hoạ hình ảnh và gây ấn tượng mạnh

mẽ làm nên một hình thức miêu tả sinh động, mặt khác so sánh còn có tác dụng làm cho lời nói rõ ràng, cụ thể sinh động, diễn đạt được mọi sắc thái biểu cảm So sánh tu từ còn là phương thức bộc lộ tâm tư tình cảm một cách kín đáo và tế nhị Như vậy đối với tác phẩm văn học nói chung so sánh mang chức năng nhận thức và biểu cảm

Nhờ những hình ảnh bóng bảy, ước lệ, dùng cái này để đối chiếu cái kia nhằm diễn tả những ngụ ý nghệ thuật mà so sánh tu từ được sử dụng phổ biến trong thơ ca, đặc biệt là thơ viết cho thiếu nhi So sánh tu từ giúp các em hiểu và cảm nhận được những bài thơ, bài văn hay, từ đó góp phần mở mang

Trang 8

tri thức làm phong phú về tâm hồn, tạo hứng thú khi viết văn, rèn luyện ý thức, yêu quý Tiếng Việt giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt cho học sinh Song song với biện pháp tu từ so sánh, nhân hoá là một biện pháp tu từ có khả năng khắc họa hình ảnh và gây ấn tượng mạnh mẽ làm nên một hình thức miêu tả sinh động, diễn đạt mọi sắc thái biểu cảm của sự vật được liên tưởng giống như con người.Nhờ những hình ảnh nhân hoá trong thơ ca, đặc biệt là văn, thơ viết cho thiếu nhi Biện pháp tu từ nhân hoá giúp các em cảm nhận được những cái hay, cái đẹp của phép liên tưởng nhằm đi đến phát hiện ra nét

cá biệt giống nhau (nét tương đồng)về thuộc tính, hoạt động giữa con người

và các đối tượng không phải là người từ đó góp phần mở mang tri thức làm phong phú về tâm hồn, tạo hứng thú khi viết văn, rèn luyện ý thức, yêu quý Tiếng Việt và gìn giữ sự trong sáng Tiếng Việt cho học sinh

2 Lịch sử vấn đề:

So sánh và nhân hóa là hai biện pháp tu từ khá phổ biến, được dùng nhiều trong lời ăn tiếng nói hàng ngày cũng như trong các tác phẩm văn chương nghệ thuật Chính vì vậy đã có rất nhiều nhà nghiên cứu, nhiều luận văn nghiên cứu vấn đề này

Điểm qua các tác giả có nghiên cứu về hai biện pháp tu từ nhân hoá và

so sánh có những tác giả sau:

Tác giả Đinh Trọng Lạc trong Phong cách học Tiếng Việt có nghiên

cứu về so sánh và nhân hoá, cấu trúc của biện pháp tu từ nhân hoá, mối quan

hệ giữa các dạng nhận diện của biện pháp nghệ thuật so sánh

Tác giả Cù Đình Tú trong 99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng

Việt, tác giả nghiên cứu về so sánh và nhân hoá, mối quan hệ giữa các vế

Tác giả Nguyễn Thái Hoà trong Từ điển tu từ - Phong cách thi pháp

học có nghiên cứu về 2 biện pháp nghệ thuật nhân hoá và so sánh

Trang 9

Qua nghiên cứu tài liệu, chúng tôi thấy rằng biện pháp tu từ so sánh và nhân hoá trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học đã rất nhiều tác giả đề cập đến ở nhiều phương diện nhưng chưa có tác giả nào hệ thống các kĩ năng nhận biết các biện pháp tu từ nhân hoá và so sánh, đồng thời tìm hiểu năng lực phân tích, cảm thụ và sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá và so sánh Nhằm mục đích khai thác triệt để hiệu quả của biện pháp nghệ thuật nhân hoá

và so sánh trong dạy học Tiếng Việt cho học sinh khối lớp 3 theo chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt

3 Mục đích ,yêu cầu:

3.1 Mục đích

Đề tài này của chúng tôi nhằm ba mục đích:

Thứ nhất thông qua đề tài giúp học sinh nhận biết một cách rõ ràng và chính xác các biện pháp tu từ nhân hoá và so sánh trong các bài Tập Đọc, Tập Làm Văn cũng như trong các văn bản khác

Thứ hai giúp học sinh sử dụng và cảm thụ các biện pháp trong khi viết văn bản, từ đó cung cấp cho giáo viên những phương pháp, cơ sở để giảng dạy dạng bài tập này

Thứ ba là nhằm nâng cao hiệu quả của việc học biện pháp tu từ so sánh

và nhân hoá ở Tiểu học, đặc biệt là lớp 3

Trang 10

4 Phương pháp nghiên cứu:

Để giải quyết tốt mục đích cũng như những nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

4 1 Phương pháp phân tích ngôn ngữ học

Phương pháp này được sử dụng để xem xét và phân tích cơ chế, cấu

tạo của hai biện pháp này

4 2 Phương pháp khảo sát thực tế và thống kê số liệu

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để khảo sát và thống kê bài làm của học sinh Từ đó tìm hiểu xem khả năng nhận biết và tổng hợp các tư liệu khảo sát qua bài làm của học sinh, tìm ra những lỗi sai, thống kê, phân loại lỗi sai trong việc sử dụng biện pháp so sánh và nhân hoá cho học sinh Cụ thể các bước tiến hành như sau:

Bước 1: Đọc tài liệu lí luận liên quan đến đề tài

Bước 2 : Tiến hành thống kê, thu thập tư liệu nghiên cứu

Bước 3: Vận dụng lí luận để phân tích, xử lí các tư liệu thống kê

Bước 4: Viết khoá luận

5 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Giúp học sinh có kĩ năng nhận diện các biện pháp tu từ, đồng thời rèn luyện những kĩ năng nhận biết, phân biệt, biết các cách so sánh và nhân hoá tu từ.Giúp học sinh tiếp cận kịp thời với sách giáo khoa đồng thời giúp giáo viên

có các phương pháp rèn luyện kĩ năng nhận biết và sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hoá ở lớp 3

6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

6.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là hình thành và rèn kĩ năng nhận biết các biện pháp tu từ nhân hoá và so sánh cho học sinh lớp 3

Trang 11

6.2 Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài tập trung nghiên cứu việc rèn kĩ năng nhận biết biện pháp tu từ

so sánh và nhân hoá cho học sinh lớp 3

7 Kế hoạch nghiên cứu:

Tháng 10-2013 đến tháng 11-2013 : Nhận đề tài và hoàn thành đề cương Tháng 12-2013 đến tháng 01-2014 : Tìm hiểu cơ sở lí luận

Tháng 01-2014 đến tháng 03-2014 : Thu thập số liệu và tài liệu

Tháng 03-2014 đến tháng 05-2014 : Xử lí số liệu và tài liệu

Trang 12

PHẦN THỨ HAI Nội dung của khoá luận Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn

1 Cơ sở lí luận:

So sánh và nhân hoá là hai biện pháp tu từ rất quan trọng trong quá trình hình thành nhận thức, tình cảm và thẩm mỹ cho học sinh Qua đó, học sinh sẽ hiểu sâu hơn về thế giới nhân sinh quan cũng như có thể có cái nhìn sâu sắc và tình cảm đúng đắn về cái đẹp, cái thiện hay cái xấu của cuộc sống Hai biện pháp tu từ này đã được rất nhiều các tác giả nghiên cứu

Theo tác giả Đinh Trọng Lạc [ 5 ] so sánh (còn gọi là so sánh hình ảnh, so sánh tu từ) là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối chiếu hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng

Mô hình cấu tạo so sánh hoàn chỉnh gồm bốn yếu tố:

Yếu tố 1: yếu tố được hoặc bị so sánh

Yếu tố 2: yếu tố chỉ tính chất của sự vật hay trạng thái của hành động

Yếu tố 3: yếu tố thể hiện quan hệ so sánh

Yếu tố 4: yếu tố được đưa ra làm chuẩn để so sánh

Theo tác giả Cù Đình Tú [ 7 ] so sánh tu từ là cách công khai đối chiếu hai đối tượng cùng có một dấu hiệu chung nào đấy nhằm biểu hiện một cách hình tượng phẩm chất bên trong của một đối tượng So sánh tu từ bao giờ cũng gồm hai vế: vế được so sánh (vế A) và vế so sánh (vế B) Mối quan hệ giữa vế A và vế B được gắn với nhau theo công thức sau:

A như B (tựa, dường như)

B (hoặc A) bao nhiêu A (hoặc B) bấy nhiêu

A là B

Trang 13

Theo tác giả Nguyễn Thái Hoà [ 1 ]so sánh là hình thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai đối tượng có một tương đồng nào đó để gợi ra hình ảnh cụ thể, những xúc cảm thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc, người nghe So sánh gồm bốn yếu tố: cái so sánh, cơ sở so sánh, từ so sánh và cái được so sánh

Về biện pháp nhân hóa :

Theo GS Đinh Trọng Lạc [ 6 ] nhân hóa (còn gọi nhân cách hóa) là một biến thể của ẩn dụ, trong đó người ta lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của con người để biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của đối tượng không phải là con người, nhằm làm cho đối tượng được miêu tả trở nên gần gũi, dễ hiểu hơn, đồng thời làm cho người nói có khả năng bày tỏ kín đáo tâm

tư, thái độ của mình

Về mặt hình thức, nhân hóa có thể được cấu tạo theo hai cách:

Dùng những từ chỉ tính chất, hoạt động của con người để biểu thị tính chất, hoạt động của đối tượng không phải con người

Coi đối tượng như con người và tâm tình trò chuyện với nhau

Cụ thể, trước hết, về biện pháp so sánh

1.1 Phép tu từ so sánh:

a Khái niệm:

So sánh logic là một biện pháp nhận thức trong tư duy của con người,

là việc đặt hai hay nhiều sự vật, hiện tượng vào các mối quan hệ nhất định nhằm tìm ra sự giống nhau và khác biệt giữa chúng

Trang 14

Các cách so sánh này gọi là so sánh logic Cơ sở của phép so sánh logic dựa trên tính đồng nhất, đồng loại của các sự vật, hiện tượng và mục đích của sự so sánh là xác lập sự tương đương giữa hai đối tượng

So sánh tu từ (còn gọi là so sánh hình ảnh) là một biện pháp tu từ trong

đó người ta đối chiếu các sự vật với nhau miễn là giữa các sự vật có một nét tương đồng nào đó để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mỹ trong nhận thức người đọc, người nghe

Ví dụ:

Bà như quả ngọt chín rồi Càng thêm tuổi tác ,càng tươi lòng vàng

(TV3, T1, Tr.7)

Ở ví dụ trên, “bà” được ví như quả ngọt đã chín, bà càng có tuổi thì

tình cảm của bà càng sâu sắc, càng ngọt ngào như quả chín cây Với sự so sánh này, người cháu đã thể hiện được tình cảm yêu thương, quý trọng của mình đối với bà

Như vậy, so sánh tu từ khác với so sánh logic ở tính hình tượng, tính biểu cảm và tính dị loại của sự vật Nếu như giá trị của so sánh logic là xác lập được sự tương đương giữa hai đối tượng thì giá trị của so sánh tu từ là ở

sự liên tưởng, sự phát hiện và gợi cảm xúc thẩm mỹ ở người đọc, người nghe Hình thức đầy đủ nhất của so sánh gồm 4 yếu tố:

- Yếu tố (1) là cái so sánh, đây là yếu tố được hoặc bị so sánh tuỳ theo việc so

sánh là tích cực hay tiêu cực

- Yếu tố (2) là cơ sở so sánh, đây là yếu tố chỉ tính chất sự vật hay trạng thái

của hành động được nhìn nhận theo một cách nào đó có vai trò nêu rõ phương diện so sánh

Trang 15

- Yếu tố (3) là mức độ so sánh thường được diễn ra ở mức độ ngang bằng như

nhau Ngoài từ “như” còn có các từ “tựa”, “tựa như”, “giống”, “giống như”,

“là”, “như là”, “như thể”…

- Yếu tố (4) là cái được so sánh tức là cái đưa ra để làm chuẩn so sánh

Khi xem xét phép so sánh, có thể dựa vào mặt cấu trúc hoặc dựa vào mặt ngữ nghĩa của nó

b.Chức năng của so sánh tu từ

- Chức năng nhận thức

Có ai đó cho rằng “Sức mạnh của so sánh là nhận thức” Thật vậy, bản chất

của sự so sánh là lấy một hình ảnh cụ thể để miêu tả một hình ảnh chưa được

cụ thể

Chẳng hạn:

- Gầy như cò hương

- Vui như hội

hoặc:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa Cảnh khuya như vẽ người chua ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà

(Hồ Chí Minh)

Nhờ “tiếng hát xa” mà người đọc có thể hình dung ra âm thanh của tiếng suối

và có tình cảm với tiếng suối Nhờ “vẽ” mà người đọc hình dung ra rõ rệt độ

sáng và đường nét của cảnh rừng với đêm trăng

- Chức năng biểu cảm - cảm xúc

Bên cạnh chức năng nhận thức, phép so sánh còn có chức năng biểu cảm - cảm xúc Trong lời nói này, chúng ta gặp rất nhiều cách ví von rất hay, rất có hình ảnh, rất thấm thía Mỗi một sự so sánh là một lời nhận xét mà ít có

Trang 16

cách nói nào diễn đạt hiệu quả hơn gầy như mắm, béo như lợn, hôi như cú,

gầy như quỷ…

Rõ ràng cũng nói về biển nhưng nói theo cách bình thường là “Biển rất

rộng và nước có màu xanh thẳm” thì sẽ không tác động nhiều đến người nghe

bằng cách nói ví von của Vũ Tú Nam “Mặt biển sáng trong như tấm thảm

khổng lồ bằng ngọc thạch” (TV3, tr.8) Bởi vì, ở cách nói thứ hai không chỉ

đơn thuần là thông tin, sự kiện mà nó còn thể hiện thái độ của người nói đối với sự kiện đó Đúng là cũng nói về biển nhưng qua xúc cảm của nhà văn, biển trở nên đẹp và có hồn hơn bởi vì nhà văn đã sử dụng phép so sánh trong khi miêu tả

Với chức năng biểu cảm, so sánh là “cách nói” dễ đi vào lòng người, dễ chiếm được lòng người, làm cho người ta dễ nhớ, dễ thuộc và nhớ lâu So sánh tu từ chính là một phương thức tạo hình, gợi cảm, là đôi cánh giúp cho chúng ta bay vào thế giới của cái đẹp, của trí tưởng tượng vô cùng phong phú Tóm lại, so sánh tu từ có ý nghĩa rất quan trọng Nó là một phương pháp làm tăng hiệu quả trong việc sử dụng ngôn ngữ Tất nhiên, mức độ hiệu quả tuỳ thuộc vào khả năng cụ thể, vào vốn ngôn ngữ và sự rèn kĩ năng thường xuyên

Ví dụ :

- Con gà trống biết tán tỉnh láo khoét, biết mời gà mái đến để đãi giun

- Bác xe biết ngửi thấy mùi đất mới

Trang 17

b Các hình thức nhân hóa

- Nhân hóa để tả hình dáng

Ví dụ : Dòng sông uốn mình qua cánh đồng xanh ngắt lúa khoai

- Nhân hóa để tả hoạt động

Ví dụ:

Bão bùng thân bọc lấy thân Tay ôm tây níu tre gần nhau thêm

( Tre Việt Nam – Nguyễn Duy)

- Nhân hóa để tả tâm trạng

Ví dụ : Hết mùa hoa, chim chóc cũng vãn.Cây gạo chấm dứt

những ngày tưng bừng, ồn ã, lại trở về với dáng vẻ xanh mát, trầm tư

1.3.Khái niệm về kĩ năng:

Theo GS TS Đặng Vũ Hoạt và TS Phó Đức Hoà [ 3 ], trong quá trình

học tập, học sinh tiểu học độc lập di chuyển tri thức thành kĩ năng kĩ xảo Có

như vậy, các em mới có khả năng vận dụng những điều đã học vào thưc tiễn

Ở đây , giữa tri thức và kĩ năng, kĩ xảo có mối quan hệ mật thiết với

nhau Tri thức là cơ sở để hình thành kĩ năng kĩ xảo Nếu chỉ dừng lại ở chỗ

nắm tri thức thì học sinh sẽ rơi vào tình trạng lí luận suông; tri thức của loài

người sẽ biến thành của người học khi và chỉ khi tri thức đó đã rở thành kĩ

năng kĩ xảo; tuy nhiên nếu chỉ chú ý rèn luyễn kĩ năng , kĩ xảo mà không dựa

vào tri thức thì kĩ năng kĩ xảo đó khó hình thành và nếu có hình thành thì

Trang 18

chúng sẽ có tính chất kinh nghiệm chủ nghĩa, khó có thể vận dụng sáng tạo linh hoạt được

Vì vậy, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh luyện tập một cách có

hệ thống , trong đó chú ý uốn nắn các động tác sai lệch và ứng dụng tri thức vào thực tiễn nhằm giải thích các hiện tượng, nhất là góp phần giải quyết những vận động do thực tiễn đặt ra một cách sâu sắc Trong khi luyện tập và ứng dụng tư duy, giáo viên cần giúp cho học sinh nắm được tri thức khoa học cũng như tri thức về các tháo tác để có thể rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo có cơ sở khoa học Ở bậc Tiểu học, các phương thức nhằm hoàn thiện tri thức ( củng

cố, ôn tập thường xuyên, luyện tập…) có tác động qua lại với nhau và có ý nghĩa rất quan trọng để đạt được tính bền vững và sự hoàn thiện tri thức đã học

- Ôn tập thường xuyên là quá trình liên tục nhắc lại những tri thức đã học, được thực hiện ngay trong mỗi giờ học, giữ vai trò chủ chốt trong việc học sinh lĩnh hội vững chắc tri thức

- Ôn tập khái quát có ý nghĩa đối với tính bền vững tri thức và phát triển trí tuệ cho học sinh Kết quả này nhằm giúp cho học sinh nhìn thấy tư tưởng chủ đạo, tầm bao quát rộng của tài liệu và tính chất sống động của nó

Các tri thức khi vận dụng sẽ được chuyển hóc thành kĩ năng, kĩ xảo

Kĩ năng là tri thức về hành động Trong kĩ năng cần phân biệt rõ hai mặt: kĩ

năng được xem như sự sẵn sang về năng lực áp dụng tri thức vào thực tiễn, và

kĩ năng được xem như hệ thống thủ thuật ( vận động hay trí tuệ ) đảm bảo năng lực đó Như vậy, kĩ năng là hệ thống thủ thuật bảo đảm cho người ta sẵn sang và có năng lực hoàn thành công việc một cách có ý thức và độc lập, với chất lượng cần thiết và trong thời gian tương ứng trong những điều kiện mới Những kĩ năng mà học sinh tiểu học nắm trong quá trình học tập là rất đa dạng kĩ năng quan sát và rút ra kết luận đúng đắn từ quan sát,kĩ năng trình bày

Trang 19

miệng, kĩ năng đọc và viết ý nghĩ của mình, kĩ năng suy nghĩ, so sánh, khái quát hoá, kĩ năng giải các bài toán, kĩ năng vẽ, nặn thủ công…

Như vậy, “kĩ năng là hành động thực hành mà học sinh có thể thực

hiện trên cơ sở những tri thức thu nhận được và về sau, những hành động thực hành này lại giúp cho học sinh thu nhận được tri thức mới” [2,tr.114]

Kĩ xảo là năng lực hoạt động có mục đích nhằm hoàn thành một cách tự động

những hành động riêng biệt hợp thành hoạt động đó, không cần chú ý đặc biệt đến chúng nhưng dưới sự giám sát của ý thức Kĩ xảo là những hành động được hình thành trong quá trình luyện tập ( hành động được lặp đi lặp lại nhiều lần ) nằm trong cấu trúc của hành động phức tạp hơn ( tình huống đã

được biến đổi ) Nói cách khác, kĩ xảo là hành động đã được tự động hoá của

kĩ năng, đảm bảo hoàn thành kĩ năng đó một cách tốt đẹp và nhẹ nhàng Chẳng hạn, trong kĩ năng trình bày viết những ý nghĩ, thì bản thân việc viết các chữ, tức là kĩ thuật viết, nhờ luyện tập đi luyện tập lại nhiều lần, sẽ trở

thành kĩ xảo

Ở các lớp tiểu học , học sinh được luyện tập nhiều kĩ năng, kĩ xảo khác nhau Cũng như tri thức, các kĩ năng , kĩ xảo được phát triển dần, đào sâu thêm, phong phú thêm Chẳng hạn, kĩ năng giải những bài toán phức hợp bắt đầu hình thành từ những lớp đầu cấp ( lớp 1-2 ) Lúc này học sinh chỉ sử dụng cả

4 phép tính học sinh lớp 4-5 khi giải các bài toán phải biết thuyết minh tóm tắt

đề bài…

Như vậy, Kĩ xảo bao gồm những hành động đã được tự động hoá Nó

là những hành động thực hành, được áp dụng trong các tình huống khác nhau

đã biến đổi [2,tr.115]

Dựa trên những lí luận có trên, giáo viên cần hướng dẫn học sinh luyện tập một cách có hệ thống, trong đó chú ý uốn nắn các kĩ năng và kĩ xảo đảm bảo việc thực hành phải làm đi làm lại nhiều lần để học sinh có thể tiếp thu

Trang 20

nhanh và có hiệu quả các biện pháp tu từ cũng như các dạng bài tập khác Ở bậc tiểu học, học sinh cần được củng cố, ôn tập thường xuyên và luyện tập thực hành các dạng bài tập nhiều lần, lặp đi lặp lại để những tri thức ấy trở thành kĩ năng, kĩ xảo cần có

Ở đề tài này, chúng tôi hướng tới các kĩ năng nhận biết các biện pháp

tu từ trong đó có kĩ năng đọc hiểu văn bản và kĩ năng dựa vào ngôn ngữ để phân tích nhận ra cấu trúc của hai biện pháp tu từ nhân hoá và so sánh, kĩ năng nhận biết hiệu quả sử dụng của hai biện pháp tu từ này

Những hiểu biết về kĩ năng kĩ xảo mà chúng tôi vừa trình bày sẽ là cơ sở để chúng tôi rèn kĩ năng nhận biết các biện pháp tu từ nhân hoá và so sánh cho học sinh lớp 3

2 Cơ sở thực tiễn:

2.1 Chương trình và sách giáo khoa Tiếng Việt 3

Về sách giáo khoa, sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 hiện nay đã chú trọng phương pháp thực hành nhưng những bài tập cấu tạo vẫn còn ít, đơn điệu, kiến thức dạy học sinh còn mang tính trừu tượng nên học sinh còn gặp nhiều

khó khăn trong quá trình lĩnh hội các kiến thức mới

Về chương trình dạy học lớp 3, có tới 32 văn bản chứa các hình ảnh so sánh như:

- Mùa thu của em

- Nhớ lại buổi đầu tiên đi học

Trang 21

- Ông tổ nghề thêu

- Cái cầu

- Hội vật

- Hội đua voi ở Tây Nguyên

- Buổi học thể dục

- Con cò

- Mặt trời xanh của tôi

Và 18 văn bản chứa các hình ảnh nhân hoá:

- Quạt cho bà ngủ

- Chú sẻ và bông hoa bằng lăng

Trang 22

- Cuộc họp của chữ viết

- Nhớ lại buổi đầu đi học

- Ngày hội rừng xanh

- Cuộc chạy đua trong rừng

2.2 Về việc dạy và học của giáo viên và học sinh

Về phía giáo viên:

Người giáo viên còn gặp không ít khó khăn như cơ sở vật chất, phương tiện dạy học và tài liệu tham khảo còn ít Một số bộ phận nhỏ giáo viên vẫn chú trọng quan tâm đến việc lồng ghép trong quá trình dạy học giữa các phân môn của môn

Tiếng Việt với nhau, để khơi dậy sự hứng thú học tập và sự tò mò của phân môn này với phân môn khác trong môn Tiếng Việt

Hiện nay giáo viên được tập huấn, bồi dưỡng về chuyên môn rất nhiều Đặc biệt trong sinh hoạt chuyên môn giáo viên đủ mạnh dạn đề ra những câu hỏi, những phương pháp để dạy tốt hơn Nhiều tiết dạy thể hiện năng lực tốt, phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh Song bên cạnh đó vẫn có

Trang 23

những tiết dạy Tiếng Việt còn nhiều hạn chế - giáo viên lúng túng chưa phát huy được tính tích cực của học sinh do vậy học sinh không hứng thú trong học tập vì vậy hiệu quả còn hạn chế

Về phía học sinh:

Do khả năng tư duy của học sinh còn dừng lại ở mức độ tư duy đơn giản, trực quan nên việc cảm thụ nghệ thuật tu từ so sánh và nhân hoá còn hạn chế Vốn kiến thức văn học của học sinh, nhất là học sinh vùng thôn quê của chúng tôi còn rất hạn chế do nguồn sách báo, tài liệu văn học còn ít ỏi Vì

đa số các em đều là con em gia đình thuần nông Một số em nhận biết về nghệ thuật còn hạn chế, học sinh chỉ mới biết một cách cụ thể Nên khi tiếp thu về nghệ thuật so sánh và nhân hoá tu từ rất khó khăn.Vì vậy đòi hỏi trẻ phải hiểu

và có những kiến thức cơ bản về các biện pháp tu từ nhân hoá và so sánh, hơn nữa là các kĩ năng nhận biết các biện pháp tu từ Những kĩ năng ấy là những

kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, kĩ năng dựa vào ngôn ngữ, từ ngữ để nhận biết được những biện pháp tu từ nhân hoá và nhận biết được hiệu quả sử dụng của hai biện pháp tu từ này

Trang 24

Chương 2: Các kĩ năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh và nhân hoá 1.Rèn kĩ năng đọc văn bản để nhận biết các biện pháp tu từ :

Giáo sư Hoàng Tuệ lúc sinh thời có nói rất đúng “ Kỹ năng nghe, nói, đọc, viết không hề giản đơn là kỹ năng của người có văn hóa mà là kỹ năng lao động của con người Phải có kỹ năng ấy con người mới có thể tham gia thực sự vào hoạt động lao động xã hội hiện đại”

Giáo sư Trần Đình Sử có viết “Đọc là hoạt động cơ bản của con người

để chiếm lĩnh văn hóa” Bản thân việc đọc đã có nhiều mức độ từ đọc thông,

đọc thuộc, không vấp váp về ngữ âm, nghĩa từ, biết ngừng giọng đúng chỗ là một trình độ Bước hai đọc kỹ, đọc sâu để biết được cách hành văn, sắp xếp ý, dụng ý trong dùng từ, ngắt câu, chơi chữ lại là một trình độ khác Bước thứ ba

là đọc hiểu cái thông điệp mà văn bản gửi đến cho người đọc là một mức rất cao Nhưng đọc văn là để cảm, đế sống, để thưởng thức, để dùng, để tự phát triển bản thân, cho nên đọc sáng tạo và đọc sử dụng là khâu cao nhất Người đọc phải tìm được cái nghĩa mà người đọc trước chưa thấy, thậm chí hiểu cái nghĩa ngoài tầm kiểm soát của tác giả

Việc đọc hiểu được sử dụng để tìm hiểu nội dung bài mới.Rèn đọc hiểu giúp việc nâng cao năng lực tư duy của học sinh, từ đó các em tự chiếm lĩnh kiến thức mới và vận dụng kiến thức đó theo năng lực bản thân Những yêu cầu về kĩ năng đọc đó là phải đọc đúng và đọc rõ ràng bài văn, bài thơ đơn giản, hiểu được nghĩa các từ thông thường và ý của câu Bên cạnh đó còn kết hợp ôn luyện vần và luyện nói

Trong những năm đầu bậc tiểu học quá trình đọc, ngày càng

nâng cao Học sinh cần phải chiếm lĩnh văn bản cả về nội dung và nghệ thuật

Vì thế, cần hình thành cho học sinh các bước tìm hiểu văn bản

- Hiểu các từ, các cụm từ

- Hiểu các câu

Trang 25

- Hiểu các đoạn, những tập hợp câu dùng để phát biểu một ý kiến trọn

vẹn

- Hiểu được cả bài thơ hay bài văn

Trong kĩ năng đọc có nhiều loại đọc khác nhau như: đọc thầm và đọc thành tiếng

Luyện kĩ năng đọc thầm, đọc lướt để nhận ra biện pháp tu từ:

Đọc thầm ( đọc lướt bằng mắt) để nhận biết nội dung thông tin có trong văn bản Đọc thầm vì không cần phát âm thành tiếng nên tốc độ đọc thường nhanh hơn so với đọc thành tiếng

Đọc thầm có thể giúp các em tư duy một cách có hệ thống, phân tích được đâu là những hình ảnh nhân hoá hay so sánh, những hình ảnh ấy có ý nghĩa như thế nào trong bài

Vì vậy , việc rèn luyện kĩ năng đọc lướt giữ vai trò hết sức quan trọng

Ví dụ: Khi dạy trẻ nhận biết biện pháp tu từ so sánh có trong bài “ Hai bàn

tay em” của tác giả Huy Cận, Tiếng Việt 3, tập 1, giáo viên gọi 1 đến 2 học

sinh đọc khổ thơ đầu của bài, yêu cầu cả lớp đọc thầm để tìm hiểu bài qua câu

Trang 26

hỏi:

- Hai bàn tay của bé được so sánh với gì?

Giáo viên gọi học sinh trả lời

Giáo viên gọi 2 học sinh đọc các khổ thơ còn lại, cả lớp đọc thầm để tìm hiểu bài

- Hai bàn tay thân thiết với bé như thế nào?

Qua bài thơ các em đã tìm hiểu, giáo viên yêu cầu học sinh nói đại ý / nội dung chính của bài

1.2 Đọc thành tiếng:

Trong kĩ năng đọc, có cách đọc thành tiếng

Đọc một cách có ý nghĩa là hiểu nội dung có ý nghĩa văn bản mình đọc, hiểu được chiều sâu của văn bản và những điều mà văn bản muốn đề cập đến đằng sau những câu chữ được thể hiện trực tiếp, tường minh trong văn bản ấy Trong nhà trường, học sinh đọc các tài liệu học tập Qua việc tiếp xúc với các loại văn bản vốn từ vựng và ngữ pháp của các em ngày một phong phú, vững vàng, có tác dụng tích cực cho việc rèn luyện tư duy, rèn luyện kĩ năng diễn đạt gọn gàng, trong sáng

Luyện kĩ năng đọc và tìm hiểu ý nghĩa của bài văn, bài thơ:

Việc đọc để đạt được chất lượng cao phải được học sinh thực hiện một cách

có ý thức Đó là việc đọc và hiểu một cách sâu sắc về nội dung của bài văn

Kĩ năng này được hình thành trên cơ sở hiểu biết ý nghĩa của từng từ, ý của từng câu, xác định được các quan hệ logic và tâm lí giữa các phần của văn bản đọc Các yêu cầu có thể luyện cho học sinh là:

+ Đọc và phát hiện các từ ngữ, hình ảnh, hoặc chi tiết có ý nghĩa trong bài văn, bài thơ, trích đoạn kịch ; chi tiết có giá trị nghệ thuật

+ Đọc và nhận xét về nhân vật, về hình ảnh, hoặc cách sử dụng từ ngữ cũng như tình cảm và thái độ của tác giả

Trang 27

Luyện kĩ năng đọc và tra từ điển, một số sách công cụ như sổ tay từ ngữ, ngữ pháp… để tìm và ghi chép thông tin

Luyện kĩ năng đọc và nhận biết nội dung ý nghĩa của các kí hiệu, số liệu, biểu

đồ trong văn bản

Ví dụ: Khi dạytrẻ nhận biết biện pháp tu từ nhân hoá có trong bài “ Bận” của

nhà thơ Trinh Đường, Tiếng Việt 3, tập 1, Giáo viên gọi 1 đến 2 học sinh đọc

cả bài để trả lời câu hỏi :

- Mọi vật, mọi người xung quanh bé bận những việc gì?

Giáo viên giúp học sinh tìm ra những từ ngữ, hình ảnh nhân hoá nói lên mọi

vật, mọi người trong bài đều bận như “Trời thu bận xanh - Sông Hồng bận

chảy - Cái xe bận chạy - Lịch bận tính ngày – con chim bận bay - Cái hoa bận đỏ - Cờ bận vẫy gió - Chữ bận thành thơ - Hạt bận vào mùa – Than bận làm lửa- Cô bận cấy lúa - Chú bận đánh thù - Mẹ bận hát ru - Bà bận thổi nấu - Còn con bận bú - Bận ngủ bận chơi - Bận khóc bận cười - Bận nhìn ánh sáng …”

Sau đó giáo viên gọi học sinh nhận xét về các hình ảnh và gọi 1 bạn trả lời câu hỏi:

- Bé bận những việc gì?

Giáo viên gọi 1 học sinh rút ra được điều gì qua bài thơ này?

2.Kĩ năng dựa vào ngôn ngữ để nhận biết các biện pháp tu từ:

2.1 Kĩ năng dựa vào ngôn ngữ để nhận biết cấu trúc của các biện pháp

Trang 28

mỹ, thể lực, trí tuệ Trong chương trình dạy học thì ngôn ngữ góp phần không nhỏ để nhận biết cấu trúc của các biện pháp tu từ nhân hoá và so sánh

2.1.1 Cấu trúc của biện pháp nghệ thuật so sánh

Dựa vào hình thức ngôn ngữ của phép so sánh , so sánh gồm 4 yếu tố:

1 Cái so sánh 2 Cơ sở so sánh 3 Từ so sánh 4 Cái được so sánh

Trong đó:

- Yếu tố (1) là cái so sánh, đây là yếu tố được hoặc bị so sánh tuỳ theo việc

so sánh là tích cực hay tiêu cực

- Yếu tố (2) là cơ sở so sánh, đây là yếu tố chỉ tính chất sự vật hay trạng thái

của hành động được nhìn nhận theo một cách nào đó có vai trò nêu rõ phương diện so sánh

- Yếu tố (3) là mức độ so sánh thường được diễn ra ở mức độ ngang bằng

như nhau Ngoài từ “như” còn có các từ “tựa”, “tựa như”, “giống”, “giống

như”, “là”, “như là”, “như thể”…

- Yếu tố (4) là cái được so sánh tức là cái đưa ra để làm chuẩn so sánh

Khi xem xét phép so sánh, có thể dựa vào mặt cấu trúc hoặc dựa vào mặt ngữ nghĩa của nó

Dựa vào cấu trúc, học sinh có thể dựa vào và nhận ra các dạng so sánh như sau:

Dạng 1: Phép so sánh đầy đủ cả 4 yếu tố: cái so sánh, cơ sở so sánh, mức độ

so sánh và cái được so sánh

Ví dụ:

Ông/ hiền/ như/ hạt gạo

1 2 3 4 Bà/ hiền /như /suối trong

1 2 3 4

(TV3, t1, tr.117)

Trang 29

Dạng 2: So sánh vắng yếu tố (1):

Đây là dạng so sánh khuyết yếu số (1), tức là không có cái so sánh Cái

so sánh là gì, điều đó phụ thuộc vào khả năng liên tưởng của người đọc,người nghe

Ví dụ:

Chòng chành như nón không quai Như thuyền không lái như ai không chồng

(Ca dao)

Dạng so sánh này có rất nhiều trong thành ngữ so sánh đông như hội, xấu như

ma, lặng như tờ, ngọt như đường, sầu như da, trong như thạch, sạch như sương

Dạng 3: So sánh vắng yếu tố (2)

So sánh vắng yếu tố 2 còn gọi là so sánh chìm, tức là so sánh không có

cơ sở so sánh Thông thường, khi bớt cơ sở so sánh thì phần thuyết minh miêu

tả ở cái được so sánh sẽ rõ ràng hơn Ngoài ra, nó còn tạo điều kiện cho sự liên tưởng rộng rãi, phát huy sự sáng tạo của người đọc, người nghe hơn là so sánh có đủ 4 yếu tố

Dạng so sánh này kích thích sự làm việc của trí tuệ và tình cảm nhiều hơn để

có thể xác định được những nét giống nhau giữa hai đối tượng ở hai vế và từ

đó nhận ra đặc điểm của đối tượng miêu tả

Ví dụ: Đây con sông như dòng sữa mẹ

(TV3, t1, tr.106)

“con sông” được so sánh như “dòng sữa mẹ” và từ hình ảnh so sánh này

người đọc có thể suy nghĩ, liên tưởng tới nhiều hình ảnh khác nhau

Chẳng hạn:

Con sông đầy ăm ắp như dòng sữa mẹ Con sông ngọt ngào như dòng sữa mẹ

Trang 30

Con sông tốt lành như dòng sữa mẹ

Dạng 4: So sánh vắng yếu tố (2) và yếu tố (3)

Đây là dạng so sánh không đầy đủ, chỉ có cái so sánh và cái được so sánh Yếu tố (2) và (3) được thay thế bằng chỗ ngắt giọng, dấu gạch ngang hoặc là hình thức đối chọi

Ví dụ:

Thân dừa bạc phếch tháng năm Quả dừa - đàn lợn con nằm trên cao Đêm hè hoa nở cùng sao

Tàu dừa - chiếc lược chải vào mây xanh

(TV3, t1, tr.43) Tác giả đã rất thành công khi sử dụng hình thức so sánh này Trong đoạn thơ trên, nhà thơ đã dùng chỗ ngắt giọng (được ghi lại bằng gạch ngang)

và đối tượng (giữa quả dừa và quả dừa) để tạo nên một hình thức so sánh có

âm điệu nhịp nhàng Cách so sánh vừa đúng vừa lạ những quả dừa có khác gì đàn lợn con này lại nằm trên cao Cách so sánh thứ hai vừa đẹp vừa lạ tàu dừa

mà thành chiếc lược, mây xanh mà thành suối tóc thì thật kì diệu và thơ mộng

Ngoài ra, còn có trường hợp yếu tố (1) và yếu tố (4) đổi chỗ cho nhau, còn gọi

là so sánh đổi chỗ

Ví dụ:

Trên trời mây trắng như bông

Ở giữa cánh đồng bông trắng như mây

(Ca dao)

Có khi dùng cặp từ “bao nhiêu…”, “bấy nhiêu…” để so sánh

Trang 31

Ví dụ:

Qua đình ngả nón trông đình

Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu

(Ca dao) Trong so sánh tu từ, còn có hình thức kết hợp một vế so sánh, một đối tượng

so sánh với nhiều đối tượng được so sánh

Ví dụ: Đất Ê-ti- ô-pi-a là cha, là mẹ, là anh em ruột thịt của chúng tôi

( TV3, t1, tr.85) Dựa vào mặt ngữ nghĩa ta có thể chia phép so sánh thành các dạng:

Trang 32

nhanh hơn cả và không có cách nào miêu tả sự chạy nhanh của thần chết hay hơn bằng một sự so sánh như thế Tuy nhiên, người mẹ vẫn đuổi kịp thần chết, bởi một điều không có gì chiến thắng được trái tim người mẹ, không có

gì so sánh được với tình yêu của mẹ dành cho con

Dạng 3: So sánh bậc cao nhất (bậc tuyệt đối)

Đây là dạng so sánh dùng để khẳng định một việc gì đó theo cách nhìn nhận, cách đánh giá riêng của người so sánh

(Viễn Phương) Cũng có thể so sánh bậc cao nhất được thể hiện bằng câu hỏi tu từ

Ví dụ:

Gì sâu bằng những trưa thương nhớ Hiu quạnh bên trong một tiếng hò?

(Tố Hữu) Những ví dụ trên cho ta thấy các đối tượng đưa ra để so sánh khác nhau

về bản chất Nhưng do một cách nhìn đặc biệt, các đối tượng vốn là khác loại, khác bản chất có thể chuyển hoá được cho nhau, có những đặc điểm, những nét giống nhau Một so sánh đẹp là một so sánh phát hiện, phát hiện ra những

gì nhiều người không nhìn ra, không nhận thấy

Dựa vào cấu trúc chung của so sánh thì cấu trúc so sánh được phát triển như sau:

Trang 33

Cấu trúc của phép tu từ so sánh luôn luôn vận động và phát triển theo quá trình phát triển của tư duy và quá trình hoàn thiện các phong cách chức năng trong tiếng Tiếng Việt Quá trình này được thể hiện qua sự biến đổi về cấu trúc hình thức và nội dung ngữ nghĩa bên trong của phép so sánh

Thứ nhất, về mặt hình thức, trong thời kì hiện đại, phép so sánh có chiều

hướng phát triển về độ dài cấu trúc dưới các dạng sau:

A x B (ca dao)  A x B x C (thơ hiện đại)

(ca dao)

Ví dụ 2: A x B x C

Nhớ em như một vết thương Trong lòng như vỡ mảnh gương trong lòng

(Xuân Diệu)

Ví dụ 3: A x B1 x B2 x B3

Một dãy núi mà hai màu mây Nơi nắng nơi mưa khí trời cũng khác Như anh với em, như Nam với Bắc Như Đông với Tây một dải rừng liền

(Phạm Tiến Duật)

Trang 34

Thứ hai, về mặt nội dung ngữ nghĩa, sự thay đổi cấu trúc A x B còn

được biểu hiện qua sự biến đổi về quan hệ ngữ nghĩa giữa hai vế Xét về mức

độ ý nghĩa, mô hình so sánh thường gặp trong ca dao là

Ví dụ: A – B : Trừu tượng - trừu tượng

Anh nhớ em như đông về nhớ rét Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng Nghe xuân đến chim rừng lông trở biếc Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương

Trang 35

Nghe như lời cây cỏ gió mưa Đang hát tiếp bài ca bất khuất ngàn xa …

(Lê Anh Xuân) Dựa vào ngôn ngữ để phát hiện cấu trúc của so sánh, học sinh thường nhận ra

được biện pháp so sánh qua các từ so sánh như, như là, chẳng bằng… Số ít

học sinh chưa nhận ra được biện pháp nghệ thuật so sánh

Qua khảo sát chất lượng về kĩ năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh của học sinh lớp 3 trong học kỳ I năm học 2013-2014 trường Tiểu Học Cổ Loa, tôi thu được kết quả như sau:

Bảng 1: Bảng thống kê chất lượng về kĩ năng nhận biết biện pháp tu từ

- Do nhận thức của học sinh con chưa cao nên kĩ năng nhận biết biện pháp tu

từ so sánh cũng giảm, đặc biệt là ở những lớp thường không phải lớp chọn

- Học sinh số ít chưa nhận ra được vế B, đa số đều nhận ra được vế A

2.1.2 Cấu trúc của biện pháp nghệ thuật nhân hoá:

Cấu trúc của biện pháp nghệ thuật nhân hoá được hình thức hoá qua các mô hình sau:

a.Mô hình 1

Dùng những từ vốn gọi người ( cô, dì, chú, bác, anh, chị) để gọi sự vật

Mô hình này gồm có hai yếu tố:

Trang 36

A (các từ chỉ người cô, dì, chú ) – B (sự vật, vật vô tri vô giác)

Trong đó:

- Yếu tố A là từ vốn gọi người (cô, dì, chú, bác, anh, chị)

- Yếu tố B là những sự vật, vật vô tri vô giác

Hai yếu tố này có mối quan hệ mật thiết với nhau, thể hiện rõ đặc điểm và tính chất của nhau

Thí dụ:

Có con chim vành khuyên nhỏ

Dáng trông thật ngoan ngoãn quá

Gọi “dạ” bảo “vâng”

Lễ phép ngoan nhất nhà

Chim gặp bác chào mào, “chào bác!”

Chim gặp cô Sơn Ca, “ chào cô!”

Chim gặp anh chích choè, “ chào anh!”

Chim gặp chị Sáo Nâu, “chào chị!”

( Lời bài hát )

b.Mô hình 2

Mô hình này gồm 2 yếu tố:

A( là những từ chỉ sự vật, vật vô tri vô giác) – B ( là những từ chỉ hoạt động, hành vi, tính chất của con người)

Ví dụ:

Dùng các động từ thuộc về hoạt động của con người để miêu tả sự tồn tại và vận động của trời – núi – trăng- hoa:

Vì mây cho núi lên trời

Vì chưng gió thổi hoa cười với trăng

Dùng các tình từ miêu tả, các động từ hành vi của người, khoác lên cho các đối tượng không phải người:

Ngày đăng: 18/04/2018, 09:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w