HOẠT ĐỘNG CỦA TỔNG CÔNG TY HỢP TÁCKINH TẾ QUÂN KHU IV (VIỆT NAM) Ở LÀOTỪ NĂM 1985 ĐẾN NĂM 2010
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
TS BÙI VĂN HÀO
Trang 2NGHỆ AN - 2012
Trang 3Tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy giáo ,
TS Bùi Văn Hào , đã trực tiếp giảng dạy và hướng dẫn khoa học để tác giả hoàn thành bản luận văn này.
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử, khoa Đào tạo Sau Đại học, Trung tâm thư viện Nguyễn Thúc Hào trường Đại học Vinh đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, thu thập tài liệu để thực hiện luận văn.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới các đồng chí trong Phòng chính trị, Phòng lưu trữ, Phòng hợp tác kinh tế thuộc Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu IV, Hội hữu nghị Việt - Lào tỉnh Nghệ An đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình khai thác tư liệu và nghiên cứu đề tài.
Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ quý báu đó!
Tác giả xin gửi tới tất cả người thân và bạn bè lòng biết ơn sâu sắc Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả mong nhận được và biết ơn các ý kiến đóng góp của thầy cô giáo và các bạn.
Vinh, tháng 10 năm 2012
Tác giả
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8
4 Nguồn tài liệu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp của luận văn 9
7 Bố cục của luận văn 10
Chương 1 KHÁI QUÁT SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TỔNG CÔNG TY HỢP TÁC KINH TẾ QUÂN KHU IV (VIỆT NAM) 11
1.1 Sự ra đời của Tổng công ty hợp tác kinh tế Quân khu IV (Việt Nam) .11
1.2 Quá trình phát triển của Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu IV (Việt Nam) 17
1.2.1 Giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1991 17
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1992 đến năm 1997 21
1.2.3 Giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2004 24
1.2.4 Giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2010 27
Tiểu kết chương 1 29
Chương 2 HOẠT ĐỘNG CỦA TỔNG CÔNG TY HỢP TÁC KINH TẾ QUÂN KHU IV (VIỆT NAM) Ở LÀO TỪ NĂM 1985 ĐẾN NĂM 2010 31
2.1 Hoạt động của Tổng Công ty Hợp tác kinh tế Quân khu IV (Việt Nam) ở Lào từ năm 1985 đến năm 1997 31
2.1.1 Trong lĩnh vực nông nghiệp 31
Trang 52.1.2 Trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và giao thông vận tải 40 2.1.3 Trong lĩnh vực thương mại và các lĩnh vực khác 45
Trang 6Nam) ở Lào từ năm 1998 đến năm 2010 49
2.2.1 Trong lĩnh vực nông nghiệp 49
2.2.2 Trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và giao thông vận tải 58
2.2.3 Trong lĩnh vực thương mại 65
Tiểu kết chương 2 73
Chương 3 NHẬN XÉT VỀ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ CỦA TỔNG CÔNG TY HỢP TÁC KINH TẾ QUÂN KHU IV (VIỆT NAM) Ở LÀO TỪ NĂM 1985 ĐẾN NĂM 2010 75
3.1 Một số nhận xét 75
3.1.1 Thành tựu 75
3.1.2 Hạn chế 80
3.2 Những khó khăn, thách thức và bài học kinh nghiệm 82
3.2.1 Khó khăn, thách thức và triển vọng 82
3.2.2 Một số bài học kinh nghiệm 86
Tiểu kết chương 3 88
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC
Trang 7ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á
AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
CHDCND Cộng hoà dân chủ nhân dân
CHXHCN Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
CTQG Chính trị Quốc gia
COECCO Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu IV
WTO Tổ chức Thương mại thế giới
XHCN Xã hội chủ nghĩa
VNĐ Việt Nam đồng
USD Đô la Mỹ
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng, cùng dựa vào dãy Trường Sơnhùng vĩ, có nhiều nét tương đồng về lịch sử, văn hóa Thông qua quá trìnhdựng nước và giữ nước, quan hệ Lào - Việt Nam ngày càng được vun đắp, trởthành mối quan hệ hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn diện như hiện nay
Nằm trong mối quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam, Quân khu IV (ViệtNam) đã có sự hợp tác chặt chẽ với các tỉnh của Lào từ trong hai cuộc khángchiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Sau khi hòa bình lập lại, quan hệgiữa Quân khu IV với các tỉnh của Lào tiếp tục được tăng cường Quan hệgiữa hai bên trong giai đoạn cách mạng mới không chỉ nhằm tập trung vàonhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, mà còn hợp tác chặt chẽ với nhau để xây dựng vàphát triển kinh tế Vì vậy, đi đôi với quan hệ về chính trị, an ninh - quốcphòng, hợp tác kinh tế đã trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâmtrong quan hệ hợp tác giữa hai bên
Để thực hiện nhiệm vụ hợp tác kinh tế kết hợp với quốc phòng theotinh thần chỉ đạo của Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng, đồng thời đểgiúp các địa phương Lào khai thác những tiềm năng và thế mạnh của mìnhvào việc phát triển kinh tế Năm1985, Bộ tư lệnh Quân khu IV đã quyết địnhthành lập một đơn vị (Đoàn 74) chuyên hoạt động sản xuất, kinh doanh tạiLào Sau hơn 20 năm hoạt động, từ một đơn vị nhỏ, Đoàn 74 đã trở thànhCông ty và sau đó là Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu IV Hoạt độngcủa Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu IV (Việt Nam) ở Lào không chỉgóp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội, màcòn tạo điều kiện cho các tỉnh Lào phát triển kinh tế
Hiện nay, trước sự biến đổi của tình hình thế giới và khu vực ĐôngNam Á cũng như tác động ngày càng sâu sắc của quá trình toàn cầu hóa, quan
Trang 9hệ hợp tác giữa Việt Nam - Lào nói chung cũng như quan hệ giữa các địaphương, các doanh nghiệp của hai nước, trong đó có hoạt động hợp tác củaTổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu IV (Việt Nam) ở Lào đang có nhiều
cơ hội thuận lợi để tiếp tục phát triển, nhưng cũng phải đối mặt với không ítkhó khăn, thách thức Vì vậy, đi sâu tìm hiểu những thành tựu, hạn chế tronghoạt động của Tổng công ty này tại Lào, để trên cơ sở đó rút những bài họckinh nghiệm, nhằm tăng cường sự hợp tác trong các giai đoạn tiếp theo, làvấn đề có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn
1.1 Ý nghĩa khoa học
Tìm hiểu hoạt động sản xuất, kinh doanh của Tổng công ty Hợp táckinh tế Quân khu IV (Việt Nam) ở Lào từ năm 1985 đến năm 2010 không chỉlàm sáng tỏ những nội dung, thành tựu và hạn chế trong quan hệ hợp tác giữahai bên, mà còn bổ sung thêm tư liệu mới về quan hệ đặc biệt Lào - Việt Namtrong thời kỳ hai nước xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
1.2 Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua tìm hiểu những thành tựu, hạn chế trong hoạt động củaTổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu IV (Việt Nam) ở Lào từ năm 1985đến năm 2010, rút ra những kinh nghiệm cần thiết nhằm tăng cường quan hệgiữa hai bên trong các giai đoạn tiếp theo
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hoạt động của Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu IV (Việt Nam)
ở Lào từ năm 1985 đến năm 2010, một mặt đã được đề cập trong một số côngtrình nghiên cứu, bài viết và các cuộc Hội thảo khoa học về quan hệ Việt -Lào qua các thời kỳ lịch sử, mặt khác cũng đã được đề cập trực tiếp trong một
số tài liệu và công trình nghiên cứu về quan hệ giữa Quân khu IV với các tỉnhcủa Lào trong giai đoạn cách mạng mới
Trang 102.1 Các công trình nghiên cứu quan hệ Lào - Việt Nam đề cập đến hoạtđộng của Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu IV (Việt Nam) ở Lào
Cho đến nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, bài viết và một sốcuộc Hội thảo khoa học đi sâu tìm hiểu quan hệ hợp tác Lào - Việt Nam trongnhững năm từ 1985 đến 2010
Trong số các công trình chuyên sâu về quan hệ Lào - Việt, đáng chú ý có
các công trình “Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào (1930-2007)” của Ban
chỉ đạo nghiên cứu biên soạn lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào 2007) và Ban chỉ đạo nghiên cứu biên tập lịch sử quan hệ đặc biệt Lào - Việt
(1930-Nam, NXB CTQG, Hà Nội, 2010, “Quan hệ đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, trong giai đoạn từ năm 1954 dến năm 2000” của Lê Đình Chỉnh, NXB CTQG, HN, 2007; “Quan hệ Việt Nam - Lào từ năm 1975 đến năm 2005”, Luận án Tiến sĩ Sử học của Nguyễn Thị Phương Nam, ĐHSP HN
Phần thứ ba “Quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt, hợp táctoàn diện Việt Nam - Lào thời kỳ 1976 - 2007” của công trình nghiên cứu
“Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào (1930-2007)” (Ban chỉ đạo nghiên
cứu biên soạn lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào và Ban chỉ đạo nghiêncứu biên tập lịch sử quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam) đã phân tích nhữngthành tựu, hạn chế của quan hệ giữa hai nước trong giai đoạn khảo nghiệm,tìm tòi, mở đường đổi mới (1975 - 1985) cũng như trong thời kỳ hai nước đổimới và hội nhập quốc tế (1986 - 2007) Từ thực tiễn quan hệ hợp tác ViệtNam - Lào trên tất cả các lĩnh vực, các tác giả của công trình này đã đi đếnkết luận: Quan hệ hữu nghị đặc biệt và sự hợp tác toàn diện giữa Việt Nam -Lào là nhân tố quan trọng để hai nước vượt qua khó khăn, thử thách, thựchiện thắng lợi đường lối đổi mới do Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam vàĐại hội IV Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đề ra
Công trình nghiên cứu “Quan hệ đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam Lào, trong giai đoạn từ năm 1954 dến năm 2000” của Lê Đình Chỉnh vừa đi
Trang 11-sâu phân tích tình đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào trong cuộc kháng chiếnchống Mỹ cứu nước (1954 - 1975), vừa trình bày khá chi tiết sự hợp tác toàndiện giữa hai nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong côngtrình này, tác giả đã thu thập được khá nhiều tư liệu về sự giúp đỡ và hợp tácđầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam đối với các địa phương Lào.
Luận án Tiến sĩ Sử học: “Quan hệ Việt Nam - Lào từ năm 1975 đến năm 2005” của Nguyễn Thị Phương Nam, ĐHSP HN, đã đi sâu phân tích
quan hệ hợp tác Việt Nam Lào trên tất cả các lĩnh vực, từ chính trị, an ninh quốc phòng, kinh tế, văn hoá, giáo dục Riêng trong hợp tác kinh tế, tác giả đã
-đi sâu tìm hiểu các hoạt động giúp đỡ (từ năm 1975 đến năm 1985) và hợp tácđầu tư (từ năm 1986 đến năm 2005) của các Ban, Ngành, các địa phươngcũng như các doanh nghiệp Việt Nam đối với Lào
Đặc san của báo Thế giới: “Việt Nam - Lào: 40 năm hợp tác, hữu nghị”, (Hà Nội, 2007) đăng tải nhiều bài viết của lãnh đạo Đảng, Chính phủ,
Quốc hội, các Ban, Ngành Trung ương và các địa phương hai nước Việt Nam
- Lào Thông qua bài viết của mình, các tác giả đã phân tích ý nghĩa, tầmquan trọng của việc tăng cường quan hệ đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt - Làotrong thời kỳ cách mạng mới; điểm lại những thành tựu và hạn chế trong quan
hệ hợp tác giữa hai bên trên các lĩnh vực chính trị, quốc phòng - an ninh, kinh
tế, văn hoá - xã hội sau 30 năm thực hiện Hiếp ước Hữu nghị và Hợp tác giữahai nước (1977 - 2007); đồng thời nêu lên những giải pháp để tăng cườngquan hệ trong các giai đoạn tiếp theo
Các bài viết: “Hợp tác đầu tư Việt Nam và Lào- thực trạng và giải pháp” của Nguyễn Đình Bá (Tạp chí Kinh tế thế giới, số 5-2009”; “25 năm hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật Việt Nam - Lào” Vũ Công Quý (Nghiên cứu Đông Nam Á, số 5 - 2002 ); “Hợp tác Việt - Lào trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn” của Lê Văn Minh (Nghiên cứu Đông
Trang 12Nam Á, số 3- 2007); “Hợp tác kinh tế Việt - Lào 25 năm qua - thực trạng và triển vọng” của Trương Duy Hoà (Nghiên cứu Đông Nam Á, số 3-2003) đã
góp phần làm sáng tỏ thêm các hoạt động kinh tế chủ yếu của các cơ quan,doạnh nghiệp Việt Nam tại Lào
Trong số các Hội thảo khoa học về quan hệ hợp tác toàn diện Việt
Nam - Lào, đáng chú ý có Hội thảo khoa học Quốc gia: “40 năm quan hệ Việt Nam - Lào: nhìn lại và triển vọng” do Trung tâm Khoa học xã hội và
Nhân văn Quốc gia phối hợp với UBND tỉnh Nghệ An tổ chức tại thành phố
Vinh tháng 8 năm 2002 và Hội thảo khoa học Quốc tế “Tình đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu và sự hợp tác toàn diện giữa Việt Nam - Lào” do
UBKHXH Việt Nam UBKHXH Quốc gia Lào tổ chức tại thủ đô ViêngChăn tháng 6 năm 2007
Các bài viết: “Hợp tác Việt - Lào trong lĩnh vực giao thông vận tải” của Nguyễn Ngọc Lan; “Hợp tác Việt Nam - Lào trong lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hoá” của Từ Thanh Thuỷ trong Hội thảo khoa học “40 năm quan hệ Việt Nam - Lào: nhìn lại và triển vọng” đã đề cập đến hầu hết các
lĩnh vực hợp tác kinh tế, từ hợp tác nông - lâm nghiệp, công nghiệp, xâydựng, giao thông, xuất nhập khẩu cho đến hợp tác đầu tư bước đầu giữa hainước và các doanh nghiệp của hai nước
Các bài viết: “30 năm thực hiện Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Lào Việt Nam (18/7/1977 - 18/7/2007)” của Hiêm Phôn Mạ Chăn; “Thành tựu hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật và phương hướng hợp tác Lào - Việt Nam trong thời gian tới” của Thong Mi Phôm Vi Xay; “Hợp tác Việt - Lào trong bối cảnh quốc tế mới” của Nguyễn Xuân Thắng đã đề cập chi tiết
-và cụ thể những thành tựu cơ bản của quá trình hợp tác kinh tế giữa hai nước
và các địa phương, doanh nghiệp của hai nước Hầu hết các bài viết đều chorằng, mặc dù hai nước đang khẩn trương tham gia vào tiến trình hội nhập khu
Trang 13vực và quốc tế, nhưng vẫn giành sự ưu tiên, ưu đãi cho nhau trong quá trìnhhợp tác, đầu tư Hợp tác, đầu tư giữa hai nước đã đạt được nhiều thành tựuquan trọng nhưng vẫn chưa tương xứng với tiểm năng và mong muốn của cảhai bên
Trong khi phân tích quan hệ hợp tác giữa hai nước và các địa phương,doanh nghiệp của hai nước, các công trình nghiên cứu và tham luận các cuộcHội thảo khoa học đã ít nhiều đề cập đến các hoạt động sản xuất kinh doanhcủa Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu IV tại các tỉnh Xiêng Khoảng, Bô
Ly Khăm Xay, Khăm Muộn, thành phố Viêng Chăn của Lào
2.2 Các công trình nghiên cứu đề cập trực tiếp đến hoạt dộng của Tổng công
ty Hợp tác kinh tế Quân khu IV (Việt Nam) ở Lào
Đề cập trực tiếp đến hoạt động của Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân
khu IV (Việt Nam) ở Lào đáng chú ý có các tài liệu như: “Biên niên sử và sự kiện Tổng công ty Hợp tác kinh tế (từ 1985 đến 2007) của Văn phòng Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu IV, năm 2008; “Lịch sử Đảng bộ Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu IV (1985-210” của Đảng uỷ Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu IV, năm 2011; “Biên niên sự kiện Hữu nghị và hợp tác Nghệ An - Xiêng Khoảng” của Trần Kim Đôn (chủ biên), Nxb Nghệ An,
“Lịch sử Đảng bộ Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu IV 2010” đã đề cập đến sự lãnh đạo của Đảng uỷ và Ban giám đốc, sự phấn đấu
(1985-vươn lên của cán bộ chiến sĩ qua các thời kỳ lịch sử để không ngừng mở rộngqui mô hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty ở Lào
Trang 14“Biên niên sự kiện Hữu nghị và hợp tác Nghệ An - Xiêng Khoảng” của
Trần Kim Đôn (chủ biên) mặc dù chủ yếu đề cập đến các sự kiện quan trọngliên quan đến quan hệ hợp tác giữa tỉnh Nghệ An với tỉnh Xiêng Khoảng,nhưng cũng đã ít nhiều đề cập đến hoạt động của Tổng công ty Hợp tác kinh
tế Quân khu IV trên địa bàn tỉnh Xiêng Khoảng
Trong số các công trình nghiên cứu đề cập trực tiếp đến hoạt động củaTổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu IV (Việt Nam) ở Lào đáng chú ý có:
“Quan hệ giữa các tỉnh Hủa phăn, Xiêng Khoảng, Bô Ly Khăm Xay, Khăm Muộn của Lào với Nghệ An, Hà Tĩnh của Việt Nam từ năm 1976 đến năm 2000” của Bùi Văn Hào (Luận án Tiến sĩ Sử học, Viện KHXH Việt Nam, 2011); “Quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh Nghệ An (Việt Nam) và tỉnh Xiêng Khoảng (Lào)” của Đậu Quỳnh Mai, (Luận văn Thạc sĩ Sử học, Đại Học Vinh, 2004); “Quan hệ hợp tác Hà Tĩnh (CHXHCN Việt Nam) - Bô Ly Khăm Xay (CHDCND Lào) từ 1976 - 2003” của Dương Thị Kim Ly (Luận văn Thạc sĩ Sử học, Đại Học Vinh,2004); “Quan hệ giữa Quảng Bình và Khăm Muộn trong hợp tác giải quyết vấn đề an ninh biên giới và phát triển kinh tế -
xã hội” của Trần Hải Định (Luận văn Thạc sĩ Sử học, Đại Học Vinh, 2011)
Trong công trình “Quan hệ giữa các tỉnh Hủa phăn, Xiêng Khoảng, Bô
Ly Khăm Xay, Khăm Muộn của Lào với Nghệ An, Hà Tĩnh của Việt Nam từ năm 1976 đến năm 2000, tác giả đã đề cập đến cơ sở của quan hệ hợp tác,
những thành tựu trong quan hệ hợp tác cũng như những khó khăn, thách thức
và bài học kinh nghiệm trong quan hệ hợp tác giữa Nghệ An, Hà Tĩnh - lànhững tỉnh thuộc địa bàn Quân khu IV với các tỉnh Hủa Phăn, Xiêng Khoảng,
Bô Ly Khăm Xay, Khăm Muộn - là địa bàn hoạt động sản xuất, kinh doanhchính của Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu IV
Các luận văn Thạc sĩ Sử học: “Quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh Nghệ An (Việt Nam) và tỉnh Xiêng Khoảng (Lào)”; “Quan hệ hợp tác Hà Tĩnh
Trang 15(CHXHCN Việt Nam) - Bô Ly Khăm Xay (CHDCND Lào) từ 1976 - 2003”;
“Quan hệ giữa Quảng Bình và Khăm Muộn trong hợp tác giải quyết vấn đề
an ninh biên giới và phát triển kinh tế - xã hội” từ các góc độ khác nhau cũng
đã đề cập đến một số hoạt động kinh tế của Công ty Hợp tác kinh tế Quân khu
IV ở Lào trong những năm từ 1985 đến 2010
Như vậy, cho đến nay mặc dù đã có nhiều tài liệu và công trìnhnghiên cứu đề cập đến nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cáchtoàn diện, có hệ thống những thành tựu, hạn chế cũng như những khó khăn,thách thức và bài học kinh nghiệm trong hoạt động của Tổng công ty Hợptác kinh tế Quân khu IV (Việt Nam) ở Lào Để góp phần làm sáng rõ vấn
đề trên, chúng tôi chọn vấn đề: “Hoạt động của Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu IV (Việt Nam) ở Lào từ năm 1985 đến năm 2010” làm
đề tài nghiên cứu
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu mà luận văn hướng đến là những hoạt động hợptác trong lĩnh vực kinh tế giữa Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu IV(Việt Nam) với các tỉnh của Lào từ năm 1985 đến năm 2010
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1985 đến năm 2010.
- Phạm vi không gian: Các tỉnh thuộc địa bàn Quân khu IV (Việt Nam)
và các tỉnh của Lào (chủ yếu là các tỉnh Xiêng Khoảng, Bô Ly Khăm Xay,Khăm Muộn và thủ đô Viêng Chăn)
- Phạm vi nội dung:
Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu IV (Việt Nam) có nhiều hoạtđộng ở Lào Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứucác hoạt động về kinh tế
Trang 164 Nguồn tài liệu
- Các văn bản ký kết hợp tác kinh tế giữa Tổng công ty Hợp tác kinh tếQuân khu IV (Việt Nam) với các cơ quan, doanh nghiệp của Lào
- Biên niên sử và sự kiện Tổng công ty hợp tác kinh tế Quân khu IV (từ
1985 - 2007)
Lịch sử Đảng bộ Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu IV (1985 2010)
Ngoài ra, các công trình khảo cứu, các bài viết đăng trên tạp chí, báo,
kỷ yếu và các luận án Tiến sĩ, Thạc sĩ về quan hệ Lào - Việt và quan hệ giữacác địa phương hai nước qua các thời kỳ lịch sử đã được khảo cứu để gópphần giải quyết các nội dung của đề tài
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic,kết hợp với một số phương pháp khác như: thống kê, phân tích, tổng hợp vàđiền dã để giải quyết các vấn đề liên quan đến nội dung đề tài
6 Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa các hoạt động sản xuất, kinh doanh của Tổng công tyHợp tác kinh tế Quân khu IV (Việt Nam) ở Lào từ năm 1985 đến năm 2010
- Góp thêm tư liệu mới, cụ thể về mối quan hệ Lào - Việt trong thời kỳhai nước thực hiện đường lối đổi mới
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảotrong việc hoạch định chiến lược hợp tác kinh tế giữa các doanh nghiệp, công
ty của Việt Nam với các cơ quan, doanh nghiệp của Lào
- Các nhà nghiên cứu, giáo viên và học sinh có thể khai thác tư liệutrong luận văn để giảng dạy và học tập lịch sử địa phương
Trang 177 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dungcủa luận văn được trình bày qua 3 chương:
Chương 1 Khái quát sự ra đời và hoạt động của Tổng công ty Hợp
tác kinh tế Quân khu IV
Chương 2 Hoạt động của Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu IV
(Việt Nam) ở Lào từ năm 1985 đến năm 2010
Chương 3 Nhận xét hoạt động của Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân
khu IV (Việt Nam) ở Lào từ năm 1985 đến năm 2010
Trang 18Chương 1 KHÁI QUÁT SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TỔNG CÔNG TY
HỢP TÁC KINH TẾ QUÂN KHU IV (VIỆT NAM)
1.1 Sự ra đời của Tổng công ty hợp tác kinh tế Quân khu IV (Việt Nam)
Năm 1975 công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam
và Lào giành được thắng lợi hoàn toàn Thắng lợi này đã đưa lịch sử ViệtNam và Lào bước sang một trang mới, đất nước thống nhất, độc lập và bướcvào thời kì xây dựng, bảo vệ Tổ Quốc Đến năm 1985, mặc dù Việt Nam vàLào đều đã đạt nhiều thành tựu trong công cuộc khôi phục kinh tế, hàn gắnvết thương chiến tranh, ổn định tình hình sản xuất và đời sống, nhưng vẫn tiếptục duy trì cơ chế quan liêu bao cấp đã làm cho nền kinh tế hai nước rơi vàotình trạng khủng hoảng Trong khi đó, các thế lực thù địch ráo riết thực hiệnchính sách bao vây cấm vận, tiến hành chiến tranh phá hoại nhiều mặt, gâycho Việt Nam nhiều khó khăn trong việc khôi phục kinh tế, ổn định tình hìnhsản xuất và đời sống: “Đất nước ta vừa có hoà bình nhưng chiến tranh có thểxảy ra bất cứ lúc nào” Trong thời gian này, các lực lượng thù địch cũng ráoriết chống phá cách mạng Lào Chúng vừa huy động lực lượng quân sự gâyrối biên giới, kích động làm mất đoàn kết trong nội bộ, nhằm phá hoại cáchmạng Lào về mọi mặt
Nhằm đưa đất nước vượt qua khó khăn và tiếp tục tiến lên, Đảng,Chính phủ hai nước Lào - Việt Nam đã đề ra đường lối đổi mới nhằm khơidậy tiềm năng và phát huy nội lực của đại bộ phận nhân dân Đường lối đổimới đã tạo ra sự chuyển biến sâu sắc trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, văn hoácủa Việt Nam và Lào, trên cơ sở đó, quan hệ giữa hai nước tiếp tục được tăngcường về mọi mặt
Song song với việc thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, Việt Nam
và Lào vẫn tiếp tục ưu tiên củng cố và phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa
Trang 19hai nước Sự ưu tiên đó không chỉ bắt nguồn từ quan hệ truyền thống mà cònliên quan đến chiến lược phát triển của hai nước trong giai đoạn cách mạngmới Hơn nữa “Sự nghiệp đổi mới của hai nước có nhiều điểm tương đồng vàliên quan với nhau khá mật thiết Mọi diễn biến chính trị, xã hội, kinh tế củaLào đều có tác động trực tiếp và nhạy cảm với Việt Nam và ngược lại” [10; tr.275] Do vậy, tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế là nhiệm vụ quan trọng đặcbiệt giữa hai nước nói chung và giữa địa bàn Quân khu IV với các tỉnh củaLào nói riêng.
Địa bàn Quân khu IV gồm sáu tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh,Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế Đây là địa ku vực chịu hậu quảnặng nề của ba mươi năm chiến tranh, nên còn nhiều khó khăn về kinh tế.Nhưng được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, của Bộ tư lệnhQuân khu IV, cùng với tinh thần cần cù và sáng tạo thì quân và dân các tỉnhthuộc Quân khu IV đã vượt qua mọi gian khó hi sinh giữ vững và phát triểnthành quả cách mạng, từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạolập dần thế đi lên, củng cố được tiềm lực quốc phòng - an ninh Các tỉnhthuộc Quân khu IV luôn phối hợp với các tỉnh của Lào làm thất bại mọi âmmưu thủ đoạn chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch: “Luônluôn sẵn sàng phối hợp chiến đấu để đập tan âm mưu và hành động phá hoạicủa các lực lượng phản động, trao đổi kinh nghiệm phòng thủ đất nước, giúpnhau cải tiến, mua sắm vũ khí, trang thiết bị, phương tiện kĩ thuật, đẩy mạnhhợp tác đào tạo cán bộ quân sự [36; tr 288]
Bước sang đầu những năm 80 của thế kỷ XX, các lực lượng phản độngtrong và ngoài nước âm mưu cấu kết với nhau tiến hành nhiều cuộc bạo loạnnhằm lật đổ chính quyền ở một số địa phương Lào Để giữ vững chính quyềncách mạng còn non trẻ, Chính phủ Lào đã đề nghị Chính phủ Việt Nam đưaquân đội sang giúp đỡ Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, nhất là khó khăn kinh
tế trong những năm sau chiến tranh, nhưng được sự tin tưởng của Quân uỷ
Trang 20Trung ương và Bộ Quốc phòng, lực lượng vũ trang Quân khu IV đã khẩntrương triển khai lực lượng và viện trợ các phương tiện kỷ thuật để giúp cáctỉnh của Lào nhanh chóng ổn định tình hình Lực lượng vũ trang Quân khu IVmột mặt phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang Lào mở các đợt tấn côngvào các căn cứ của bọn phản động, mặt khác giúp các tỉnh Lào củng cố và xâydựng chính quyền cũng như lực lượng vũ trang vững mạnh
Với sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam, lực lượng vũ trang cáctỉnh của Lào từng bước lớn mạnh, chính quyền các địa phương Lào đượccủng cố Vì vậy, tình hữu nghị đặc biệt, đoàn kết liên minh chiến lược giữalực lượng vũ trang Quân khu IV với một số tỉnh của Lào tiếp tục được vunđắp, phát triển trong điều kiện hoàn cảnh, lịch sử mới
Sau khi tình hình an ninh - chính trị ở Lào đã dần ổn định, Bộ Quốcphòng Lào và Bộ Quốc phòng Việt Nam thống nhất đẩy mạnh sự hợp tác giữahai bên cả trong lĩnh vực quốc phòng lẫn kinh tế Trên tinh thần thoả thuận đãđược ký kết, Bộ Quốc phòng Việt Nam giao cho Quân khu IV phối hợp vớicác tỉnh của Lào làm nhiệm vụ kinh tế kết hợp quốc phòng an ninh, xây dựngquốc phòng trên đất Lào
Sau khi nhận nhiệm vụ Bộ Quốc phòng giao, Thường vụ Đảng uỷ, Bộ
tư lệnh Quân khu IV đã họp bàn và phân tích kĩ tình hình, từ đó đi đến thốngnhất nhận định: Trong những năm qua, toàn Quân khu đã vừa sẵn sàng chiếnđấu cao, vừa làm kinh tế, sản xuất lương thực, thực phẩm và một số mặt hàngxuất khẩu Những thành quả đạt được trong lao động sản xuất vừa qua rấtđáng trân trọng Tuy nhiên đó mới chỉ mang tính chất tự cung tự cấp giảiquyết một phần khó khăn cuộc sống hàng ngày, chưa thực sự tạo ra sức bật rõrệt, chưa mở được hướng đi có quy mô, có tính cơ bản lâu dài, bởi đây lànhiệm vụ cực kì khó khăn Nhưng được Bộ Quốc phòng Việt Nam giao vàcác tỉnh của Lào tin tưởng, lực lượng vũ trang Quân khu sẵn sàng nhận nhiệm
vụ với tinh thần ý chí như trong kháng chiến chống kẻ thù, đồng tâm hiệp lực
Trang 21đoàn kết cùng quân và dân Lào tìm đường đi tới, giành thắng lợi trên mặt trậnmới - mặt trận kinh tế
Lực lượng vũ trang Quân khu IV và lực lượng vũ trang các tỉnh củaLào đã gắn bó thuỷ chung son sắt trong các cuộc chiến đấu chống thực dânPháp và đế quốc Mỹ Ngày nay, khi hai nước đã hoà bình, thống nhất và độclập, thì nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế trở thành nhiệm vụ hàng đầu,
vì vậy, hai bên tiếp tục hợp tác chặt chẽ với nhau trong các hoạt động kinh tế
Thực hiện nhiệm vụ Bộ Quốc phòng giao và để đáp ứng nguyện vọngcủa nhân dân các tỉnh của Lào, Thường vụ Đảng uỷ - Bộ tư lệnh Quân khu
IV, đã động viên các chiến sĩ đón nhận nhiệm vụ mới và xác định rõ đâykhông chỉ là trách nhiệm chính trị của Quân khu mà là truyền thống gắn bómáu thịt, tình đoàn kết chiến đấu hữu nghị đặc biệt giữa hai Quân đội, hainước mang ý nghĩa chiến lược sâu sắc có tính quy luật sống còn
Ngày 23/3/1985 thượng tướng Hoàng Cầm - Tư lệnh Quân khu IV đãcông bố quyết định thành lập một đơn vị trực thuộc Quân khu để làm kinh tếtại Lào, đó là Đoàn 74 Đoàn 74 có nhiệm vụ hợp tác với Công ty hợp tácphát triển Miền Núi của bộ Quốc phòng Lào để tiến hành khai thác gỗ theoNghị định 52 của Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng Đây là sự kiện đánh dấu sự rađời của Tổng công ty hợp tác kinh tế Quân khu IV sau này
Dưới sự chỉ đạo của Bộ tư lệnh Quân khu, Đoàn 74 đã khẩn trương ổnđịnh lực lượng, tổ chức lãnh đạo quán triệt tình hình nhiệm vụ mới, tập huấncông tác điều hành, kĩ thuật khai thác vận chuyển, xây dựng cơ sở chính trị,
cử một số đồng chí sang Lào khảo sát nắm tình hình địa bàn, nghiên cứu họchỏi rút kinh nghiệm một số đơn vị kinh tế trên đất Lào
Hoạt động khai thác gỗ của Đoàn được bắt đầu tại Nậm Niên (tỉnhKhăm Muộn), theo phương pháp thủ công, khai thác gỗ bằng rìu, búa, cưa tay
và một số máy móc cùng xe cơ giới vận chuyển trong điều kiện rất thiếu thốn
về kĩ thuật, về đời sống giữa núi rừng Nhưng với sự quyết tâm và sức lao
Trang 22động của các chiến sĩ, các đồng chí lãnh đạo chỉ huy, cán bộ, nhân viênchuyên môn kĩ thuật đã tìm mọi biện pháp tháo gỡ khó khăn với tinh thần đã
ra quân là chiến thắng, khai thác gỗ thông tròn vượt chỉ tiêu vận chuyển vềcảng Xuân Hải - Nghi Xuân, Hà Tĩnh đúng kế hoạch
Kết quả khảo sát và làm thử khẳng định việc hợp tác với Lào làm kinh
tế khai thác gỗ xuất khẩu là đúng hướng phát triển, vừa có nguồn thu, vừaphối hợp được hoạt động của quân tình nguyện bảo đảm yêu cầu nhiệm vụchiến lược giữ thế chính trị - quốc phòng, an ninh Với kết quả bước đầu là cơ
sở để Quân khu và Lào thống nhất chủ trương tiến hành phát triển lực lượng,quy mô tổ chức tăng năng lực sản xuất kinh doanh, trước hết từ căn cứ chiếnlược Lạc Xao
Tháng 11 năm 1985 Đoàn 74 chính thức chuyển thành Công ty khaithác, chế biến gỗ xuất khẩu (còn được gọi là Công ty 85) Sang năm 1987,Công ty khai thác, chế biến gỗ xuất khẩu (Công ty 85) được nâng cấp và đổitên thành Công ty hợp tác kinh tế Quân khu IV Đây là cơ sở đầu tiên thuộcQuân khu trên đất Lào đảm đương sản xuất kinh doanh gắn với quốc phòng -
an ninh Sự ra đời, hoạt động của Công ty hợp tác kinh tế vào thời điểm nềnkinh tế của cả Ta và Lào trong tình trạng khủng hoảng, kẻ thù bao vây cấmvận tứ phía, đất nước đối đầu với muôn vàn khó khăn về kinh tế - xã hội vàcũng đương đầu chống lại muôn vàn thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc cùng cácthế lực thù địch bằng chiến tranh phá hoại nhiều mặt, lúc dữ dội, lúc âm thầmtinh vi, xảo quyệt Đó là chủ trương kịp thời, chính xác, quyết tâm lớn của cảlãnh đạo
Công ty hợp tác kinh tế Quân khu IV ra đời đúng vào thời điểm tìnhhình Lào và Việt Nam có nhiều thay đổi: Lào cũng như Việt Nam bắt đầuthực hiện đường lối đổi mới; phát triển kinh tế trở thành nhiệm vụ trọng tâmcủa mỗi nước; hợp tác kinh tế trở thành mũi nhọn có tính chiến lược Chính vìvậy, sự ra đời của Tổng công ty hợp tác kinh tế Quân khu IV góp phần quan
Trang 23trọng tăng cường sự hợp tác giữa Lào và Việt Nam trong điều kiện lịch sửmới Đó là bước đi sáng tạo trong thực hiện chính sách, nhiệm vụ quốc tế củalực lượng vũ trang Quân khu IV, nhằm tạo thế và lực mới của Việt Nam vàLào trên địa bàn trọng yếu có tính chiến lược trước mắt và lâu dài.
Từ giai đoạn đầu có tính đột phá của một công trường “Làm thử” mang
phân hiệu Đoàn 74, Công ty khai thác chế biến gỗ xuất khẩu (gọi tắt là Công
ty 85) đã ra đời và phát triển Trên cơ sở những thành tựu công ty này đạtđược, Bộ tư lệnh Quân khu IV đã nâng cấp nó thành Công ty hợp tác kinh tế.Đến năm 2004, Công ty hợp tác kinh tế đã phát triển lên Tổng công ty, hoạtđộng theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con Một chặng đường đầy khókhăn, thử thách, Ban Giám đốc Tổng công ty hợp tác kinh tế Quân khu IV đãlãnh đạo cán bộ viết nên trang sử hào hùng trên lĩnh vực sản xuất kinh doanhgắn với củng cố thế trận Quốc phòng an ninh, không ngừng tô thắm, pháttriển mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị đặc biệt trong sáng, mẫu mực giữa Quânkhu IV và Lào, giữa Quân đội Nhân dân Việt Nam, giữa Dân tộc Việt Namvới Quân đội nhân dân các bộ tộc Lào anh em, cùng nhau xây dựng và bảo vệđất nước hòa bình, văn minh giàu mạnh
Một phần tư thế kỉ hoạt động kinh tế gắn với làm nhiệm vụ quốc phòng
an ninh, Tổng công ty hợp tác kinh tế Quân khu IV đã trưởng thành qua cácgiai đoạn sau:
Từ 1985 - 1991: Tập trung xây dựng tổ chức, phát triển lực lượng; hợptác với Công ty phát triển Miền núi của Bộ Quốc phòng Lào để xây dựng hậuphương chiến lược Lạc Xao; liên kết sản xuất, tham gia xuất khẩu cùng vớiLào; từng bước hoạch toán kinh doanh trong sản xuất
Từ 1992 - 1997: Đổi mới phát triển kinh doanh, mở rộng đầu tư hợp tácchiều sâu, tạo thế đứng vững chắc trên đất Lào, đồng thời đẩy mạnh sản xuấtkinh doanh trong nước
Trang 24Từ 1998 - 2004: Mở rộng ngành nghề và địa bàn sản xuất kinh doanh;đẩy mạnh đầu tư cả trong và ngoài nước.
Từ 2005 - 2010: Sắp xếp đổi mới doanh nghiệp theo mô hình Công ty
mẹ - Công ty con; đẩy mạnh đầu tư, tăng cường sản xuất kinh doanh, pháttriển kinh tế gắn với quốc phòng an ninh, tạo thế và lực mới trong thời kì hộinhập phát triển, khẳng định thương hiệu Tổng công ty hợp tác kinh tế
1.2 Quá trình phát triển của Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu IV (Việt Nam)
1.2.1 Giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1991
Cuối thập kỉ 80, đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX, tình hình quốc tế cónhiều biến đổi sâu sắc, nhân loại đang phải đối phó với những vấn đề mangtính toàn cầu, cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật có những bước phát triểnnhanh chưa từng có Chủ nghĩa tư bản đang đẩy mạnh cải tổ kinh tế và giànhđược nhiều thành tựu quan trọng từng bước đưa các nước thoát ra khỏi khủnghoảng, tạo ra những đột phá lớn Góp phần đưa Trung Quốc vào danh sáchcác cường quốc trên thế giới Công cuộc cải tổ ở Liên Xô, cải cách ở TrungQuốc đã đem lại cho Việt Nam và Lào những bài học thực tiễn và lý luận sâusắc trong quá trình xây dựng đất nước
Các nước ở khu vực Đông Nam Á trong giai đoạn này cũng vươn lêngiành được nhiều thành tựu đáng kể trong mọi lĩnh vực Nhìn chung cuối thập
kỉ 80 đầu thập kỉ 90 của thế kỉ 20, thế giới đang diễn ra quá trình hội nhập đổimới Xu thế đối đầu chuyển sang đối thoại đang diễn ra mạnh mẽ
Tình hình Việt Nam, Lào sau 5 năm đổi mới và mở cửa cả hai nước đãgiành được nhiều thành tựu về kinh tế, văn hoá… đáng kể Việt Nam đã bắtđầu thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế Ở Lào, tình hình kinh tế có nhiềukhởi sắc Những thay đổi trên đây đã tác động sâu sắc đến quan hệ giữa hainước Với đường lối đổi mới, luật đầu tư nước ngoài, chính sách mở cửa đã
Trang 25tạo ra hành lang pháp lý môi trường cho quan hệ hợp tác giữa hai nước ViệtNam - Lào.
Địa bàn Quân khu IV là địa bàn giáp danh với Lào, sau hoà bình lập lạithì địa bàn này vẫn còn nghèo và một số tỉnh của Lào cũng chưa thoát ra khỏitình trạng khó khăn Với mối quan hệ truyền thống lâu đời trong quá khứ vàvới xu thế hội nhập thì hai khu vực đã hợp tác với nhau để cùng nhau pháttriển thoát ra khỏi khó khăn
Bộ quốc phòng Việt Nam đã giao nhiệm vụ cho công trường Quân khu
IV - C85 đột phá hợp tác với Lào để khai thác gỗ và tổ chức thành lập đơn vịsản xuất kinh tế gắn với an ninh quốc phòng
Trong giai đoạn (1985 - 1988), công trường khai thác gỗ đã xây dựng
tổ chức, phát triển lực lượng, mở rộng hợp tác với Lào bảo vệ an ninh chínhtrị trên các địa bàn và hình thành Công ty hợp tác kinh tế
Công ty đã mở rộng sản xuất, công trường C85 chủ động hợp đồngthống nhất về công tác bảo đảm an ninh chính trị và kế hoạch khai thác gỗxuất khẩu với Lào Vốn sản xuất, phương tiện kỹ thuật thiếu thốn, lạc hậu vàcon người chủ yếu từ những đơn vị thường trực, huấn luyện, chiến đấu bướcsang làm nhiệm vụ kinh tế nên trong quá trình hoạt động không tránh khỏinhững khó khăn Song với quyết tâm cao, bám sát thực tế, tạo hiệu quả ngaybước đầu “làm thử” toàn công trường nổ lực khai thác vượt chỉ tiêu 200m3 gỗthông xuất khẩu của Quân khu IV giao
Hoạt động hợp tác khai thác gỗ của công trường C85 với các tỉnh củaLào đã đạt được nhiều thành tựu Sản xuất kinh doanh khai thác gỗ thôngxuất khẩu gỗ ở Lào đúng hướng phát triển, có lãi vừa đảm bảo tính chiếnlược giữ vững Quốc phòng - an ninh trên địa bàn Quân khu IV và các tỉnhcủa Lào, vừa phát huy được tiềm năng thế mạnh của hai khu vực Phù hợpvới đường lối, chính sách của hai Nhà nước và nhiệm vụ chính trị Quân độiViệt Nam - Lào
Trang 26Từ công trường C85 đến Công ty 85 và Công ty Hợp tác kinh tế vàođầu năm 1988 Đó là một quá trình xây dựng và phát triển đầy khó khăn, thửthách nhưng phản ánh đúng, sâu sắc bản chất nhiệm vụ chính trị của Công ty
là sản xuất kinh doanh gắn với quốc phòng - an ninh và làm nhiệm vụ quốc tếtrong thời kì mới với phương châm “Giúp bạn là giúp mình”
Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại giữa hai bên và cũng là thuậnlợi cho hoạt động hợp tác kinh tế giữa Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu
IV với các tỉnh của Lào thì Công ty đã viện trợ cho Lào vật tư, hàng hoá, kỹthuật, cho vay không tính lãi hoặc lãi suất thấp và công tác chuyên gia Công
ty đã tạo điều kiện cho các tỉnh của Lào phục hồi và phát triển các ngành tiểuthủ công nghiệp đến các ngành xây dựng, giao thông vận tải, các ngành chếbiến nông sản, sản xuất vật liệu xây dựng, bước đầu được đáp ứng Một sốtuyến đường huyết mạch được hai bên phối hợp duy tu, sửa chữa, nâng cấp đãtạo điều kiện cho hai khu vực, hai nước đẩy mạnh quan hệ hợp tác toàn diện
Từ năm 1989 đến năm 1992 Công ty đã đẩy mạnh hợp tác kinh tế gắnvới quốc phòng - an ninh trên đất Lào Mở rộng liên doanh, liên kết, tham giaxuất khẩu, thực hiện hạch toán kinh doanh
Công ty Hợp tác kinh tế đã hơn ba năm sản xuất kinh doanh, phát triểnkinh tế, gắn với nhiệm vụ quốc phòng trên các tỉnh của Lào Để đưa Tổngcông ty phát triển hơn nữa và cũng là để tăng cường hơn nữa hoạt động kinh
tế của Tổng công ty tại Lào thì Công ty Quân khu IV đã triển khai mở rộngngành nghề như: Sản xuất gạch Nhôm Ma Lạt, ươm trồng giống cây thông,xây dựng mô hình cây ăn quả, dịch vụ du lịch… Nhờ triển khai kịp thời vànhờ chỉ đạo nhiệt tình, kiên quyết cùng với sự hợp tác của hai bên trên dướimột lòng cho nên mùa sản xuất kinh doanh 1990 đạt kết quả khá đều trongcác ngành, nhiều công trình đường giao thông hình thành như: Công trìnhđường giao thông 16km (có 1,2m qua đèo), hoàn thành và bàn giao trong dịpđón xuân Canh Ngọ, nối liền, khai thông 10 bản của nhân dân khu vực Na
Trang 27Tàn với các khu dân cư trong huyện [36; tr 62] Gỗ xuất khẩu đạt 6000m3,trồng thông đạt 20.000 cây, sản xuất gạch ở Nhôm Ma Lạt đạt 200.000 viên,các hướng vườn ươm, cây giống, mô hình vườn cây ăn quả, ao cá Na Pe đạtkết quả khả quan và được lãnh đạo các tỉnh của Lào đánh giá cao.
Chặng đường hình thành và phát triển của Công ty từ năm 1985 đếnnăm 1992 là quá trình vượt lên khó khăn và bằng quyết tâm, nghị lực củanhững người lính “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ đổi mới Công ty Hợp táckinh tế đã từng bước trưởng thành, khẳng định được khả năng nhiệm vụ sảnxuất kinh tế gắn với quốc phòng - an ninh và làm nhiệm vụ quốc tế trongđiều kiện mới Thành quả đạt được của Công ty là sự khẳng định thắng lợi
và hiệu quả của sự hợp tác hữu nghị với Lào trong sản xuất kinh doanh, pháttriển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh - chính trị, góp phần tích cực, quantrọng vào xây dựng khối đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào nóichung và Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu IV với các tỉnh của Làonói riêng
Để có được những thành tựu đó cũng là nhờ có những chính sách, biệnpháp phù hợp mà lãnh đạo các Ban, Ngành hai bên đã đưa ra, tạo những điềukiện thuận lợi cho hoạt động hợp tác như trong bài viết Mong muốn đẩymạnh hợp tác kinh tế với các tỉnh của Việt Nam của Phankhanviphavan đãnêu lên một số biện pháp nhằm tăng cường quan hệ hợp tác đầu tư giữa haibên: “Khuyến khích và thu hút đầu tư của Việt Nam vào việc sản xuất hànghoá, chế biến nông lâm sản, dịch vụ và du lịch, xây dựng trung tâm giống câytrồng, giống vật nuôi… hợp tác phát triển kinh tế trọng điểm dọc biên giới,đẩy mạnh thăm dò và khai thác khoáng sản” [3; tr 152 - 153]
Với những thành tựu đó, Tổng công ty Hợp tác kinh tế đã góp phầnthực hiện chủ trương “Tăng cường quan hệ hợp tác Việt - Lào” của các chiến
sỹ Quân khu IV để góp phần quan trọng vào xây dựng khu hậu phương chiếnlược Lạc Xao, tạo một khởi sắc mới, mở ra hướng mới trong quá trình phát
Trang 28triển kinh tế gắn với quốc phòng, tô thắm truyền thống đoàn kết, hợp tác hữunghị đặc biệt Việt - Lào.
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1992 đến năm 1997
Từ năm 1992 đến năm 1997, Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu
IV tiếp tục phát triển sản xuất kinh doanh, mở rộng đầu tư hợp tác chiều sâu,tạo thế vững chắc trên đất Lào và triển khai sản xuất kinh doanh trong nước
Năm 1992, Tổng công ty bắt đầu thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinhdoanh trong khi tình hình kinh tế - xã hội, nhất là địa bàn Quân khu còn rấtnhiều khó khăn Không chỉ thiếu vốn mà còn lệ thuộc vào thị trường tiêuthụ sản phẩm, hơn nữa lại bị các nước khác cạnh tranh mạnh mẽ như TháiLan, Trung Quốc Mặt khác vừa phát triển kinh tế lại vừa phải ngăn chặn,chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch phản động rất tinh
vi, xảo quyệt
Ngoài các ngành truyền thống, Tổng công ty mở rộng hợp tác cácngành nghề mới và tăng cường đầu tư hợp tác chiều sâu Đồng thời, Công ty
đã triển khai sản xuất kinh doanh trong nước Tháng 6/1992, Công ty Hợp táckinh tế bắt đầu hợp tác với Công ty thiếc Nghệ An lắp đặt dây chuyền sảnxuất thiếc ở Na Ca và tổ chức mở dịch vụ ở thị xã Hồng Lĩnh tạo ra ngànhnghề sản xuất mới [36; tr 198]
Tổng công ty hợp tác kinh tế Quân khu IV ngoài nhiệm vụ sản xuấtkinh doanh, phát triển kinh tế ở trong nước và ở các tỉnh ở Lào còn thực hiệnmột nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu chống lại những âm mưu của kẻ thù như
“diễn biến hoà bình”, “gây bạo loạn lật đổ” của các thế lực phản động trong
và ngoài nước
Công ty tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế vào cuối năm 1992 và bắtđầu hợp tác chiều sâu, thực hiện quyền tự chủ về vốn, về tổ chức nhân lực,xây dựng các mô hình sản xuất kinh doanh với nhiều ngành nghề theo phápluật của Nhà nước Tổng công ty đã bước vào thời kỳ chuyển mình, đẩy mạnh
Trang 29sản xuất cùng với Lào trên tất cả các ngành kinh tế và đặc biệt là tập trungvào giải quyết một số khó khăn về thị trường xuất khẩu gỗ.
Bước vào những năm 1993, Tổng công ty đã gặp phải những khó khăn
về vấn đề thị trường xuất khẩu gỗ Với xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh
mẽ, nhiều nước, nhiều Công ty đang cạnh tranh nhau rất gay gắt và quyết liệt.Nhưng không vì những khó khăn thử thách đó mà các chiến sỹ Tổng công tychịu lùi bước và bằng ý chí tinh thần các lãnh đạo, các Ban Ngành, các chiến
sỹ trong toàn Công ty đã tìm ra hướng phát triển mới như mở thêm các ngànhnghề Đặc biệt Tổng công ty quyết định mở rộng hoạt động dịch vụ du lịch tạiCửa Lò - đây là một ngành mới đem lại hiệu quả kinh tế cao, vừa khai thácđược tiềm năng thế mạnh của Cửa Lò (Nghệ An) Đồng thời cũng tháo gỡnhững khó khăn và củng cố thêm khả năng sản xuất kinh doanh trong nướcngày một vững chắc
Thực hiện Quyết định số 20/QĐ-CP ngày 12 tháng 1 năm 1993 của BộQuốc phòng giao cho Tổng công ty làm đại diện cho các tổ chức kinh tế phíaViệt Nam trong việc hợp tác với Bạn Lào tại khu vực Lạc Xao Theo quyếtđịnh số 20, Công ty hợp tác kinh tế chính thức được giao: Hợp tác toàn diệnvới Tổng công ty phát triển miền núi Bộ quốc phòng nước CHDCND Làotrên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, thực hiện chức năng đại diện cho phía ViệtNam quan hệ với Tổng công ty phát triển miền núi Bộ quốc phòng Lào, trựctiếp ký kết các hợp đồng và hướng dẫn giúp đỡ các tổ chức kinh tế khác củaViệt Nam ký kết hợp đồng với Bạn, hợp tác kinh tế rừng, gắn với quốc phòng,
an ninh, tham gia xuất khẩu đúng chính sách của hai Nhà nước Việt Nam vàLào, tạo nguồn vốn tự có để không ngừng tái sản xuất mở rộng, sản xuất kinhdoanh theo phương thức hạch toán xã hội chủ nghĩa
Với tinh thần vượt khó và cũng là để tăng cường hơn nữa mối quan hệhợp tác giữa Tổng công ty với các tỉnh của Lào nói riêng và giữa Chính phủLào - Việt Nam nói chung Tổng công ty đã phải trải qua nhiều khó khăn,
Trang 30thách thức và để bù đắp lại những vất vả mà các chiến sỹ trong Tổng công ty
đã trải qua thì vào năm 1993 đã đạt được nhiêu thành tựu to lớn như: Trongkhai thác gỗ đạt 8.088m3, xuất khẩu đạt 5.113m3; sản xuất gạch trên đất Làođạt 2,6 triệu viên Đặc biệt năm đầu tiên thực hiện nhiệm vụ khai thác quặngthiếc đã đạt được hiệu quả khá cao, với 120 tấn, tính tổng giá trị hàng hoátrong năm đạt được 13.529.054.315 đồng, tăng 41% so với năm 1992, lợinhuận 3.664.257.953 đồng, tăng 94% so với năm 1992, nộp ngân sách nướchơn 3tỷ đồng [36; tr 112], và được đánh giá là đơn vị có vườn ươm 2 vạn câythông và trồng rừng đạt hiệu quả nhất trong các đơn vị ở Lạc Xao
Đây cũng được coi là một bước phát triển mới của quan hệ hợp tác, hữunghị đặc biệt giữa Tổng công ty và Lào, liên doanh, liên kết cùng nhau xoáđói giảm nghèo xây dựng phát triển kinh tế kết hợp với quốc phòng nhằm bảo
vệ hoà bình độc lập cho hai dân tộc
Với những thành tựu đã đạt được năm 1993, đã tạo điều kiện thuận lợicho sự phát triển những năm tiếp theo Bước vào những tháng đầu năm 1994,toàn Công ty đã tập trung triển khai, khai thác các nguồn khoáng sản, kếhoạch xuất khẩu, đặc biệt tiến hành trồng rừng “Phủ xanh đất trống đồi trọc”.Đồng thời để đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, tăng năng suất lao động thìTổng công ty cũng đã có những chính sách, đẩy mạnh giúp đỡ Lào làm côngtác thuỷ lợi như: Xây dựng các công trình thuỷ lợi, cung cấp giống cây, xâydựng lại đường xá, trường học, đã tăng thêm tình hữu nghị đặc biệt giữa hainước Năm 1994 cũng đạt được nhiều thành tựu to lớn như: Sản xuất gạch đạt2.500.000 triệu viên, khai thác gỗ thông tròn 31.126m3 bằng 124% Tiếp tụcđẩy mạnh hoạt động kinh tế, cùng với nhiệm vụ sản xuất kinh tế trên đất Làothì từ năm 1995 - 1998 Tổng công ty cũng làm nhiệm vụ phát triển kinhdoanh trong nước, Công ty đã tiến hành đầu tư cho các xí nghiệp xây lắp, muathêm thiết bị triển khai công trình giao thông và đẩy mạnh hoạt động của xínghiệp lâm nghiệp, trồng rừng ở Hương Sơn - Hà Tĩnh Xí nghiệp khai
Trang 31khoáng tiếp tục thực hiện khai khoáng quặng sắt và đưa mỏ đá bazan ở QuỳnhLưu vào sản xuất, đẩy mạnh dịch vụ xăng dầu, hoạt động nhà khách, xuấtnhập khẩu hàng hoá.
Năm 1998, Bộ Quốc phòng đã phê duyệt dự án đầu tư năng lực sảnxuất, thực hiện nhiệm vụ hợp tác kinh tế với CHDCND Lào và thực hiện cácnhiệm vụ khác Đồng thời nâng cao khả năng hoạt động kinh tế kết hợp quốcphòng tại khu vực biên giới hai nước Việt - Lào Từ đây chặng đường pháttriển kinh tế của Tổng công ty đã bước sang thời kì mới, hợp tác gắn bó vớicác tập đoàn kinh tế các tỉnh của Lào, các tỉnh Viêng Chăn, Bô Ly KhămXay, Khăm Muộn, Xiêng Khoảng
1.2.3 Giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2004
Từ năm 1998 đến năm 2005,Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu IVtiếp tục xây dựng, mở rộng qui mô ngành nghề và địa bàn sản xuất kinhdoanh, hình thành các Công ty con, đầu tư ra nước ngoài và trong nước
Trong bối cảnh quan hệ quốc tế và khu vực có nhiều thay đổi, Tổngcông ty Hợp tác kinh tế quân khu IV và các tỉnh của Lào đã tích cực giúp đỡlẫn nhau và đứng trước xu thế mở rộng giao lưu hợp tác khu vực và quốc tế,quan hệ Việt Nam - Lào nói chung và hoạt động kinh tế của Tổng công ty tạiLào nói riêng có nhiều cơ hội thuận lợi để tiếp tục phát triển, nhưng cũng phảiđối mặt với không ít khó khăn, thách thức Để hai nước hợp tác một cách chặtchẽ hơn, Chính phủ hai nước đã có những bổ sung điều chỉnh nội dung,phương thức và cơ chế hợp tác, hai bên đã tuyên bố: Hai bên nhất trí đẩy mạnh
sự hợp tác toàn diện trên cơ sở phát huy tinh thần độc lập, tự chủ và ý thức độclập tự cường, phát huy thế mạnh của mỗi nước trên nguyên tắc bình đẳng cùng
có lợi, đồng thời dành sự ưu tiên, ưu đãi hợp lý cho nhau, phù hợp với tính chấtquan hệ Lào - Việt Nam, vừa đảm bảo đúng với thông lệ quốc tế [26; tr 11]
Với chính sách của Chính phủ hai nước Việt - Lào như vậy cũng đã tácđộng, ảnh hưởng mạnh mẽ tới hoạt động hợp tác của Tổng công ty Hợp tác
Trang 32kinh tế Quân khu IV tại Lào Với chính sách đó Tổng công ty đã tiếp tục đẩymạnh mở rộng ngành nghề ra các tỉnh của Lào, tăng cường hợp tác với Làohai bên cùng có lợi Biểu hiện là Tổng công ty đã gắn bó với các tập đoànkinh tế của Lào, các tỉnh Viêng Chăn, Bô Ly Khăm Xay, Khăm muộn, XiêngKhoảng, Công ty đã củng cố khai thác hiệu quả những cơ sở vật chất hiện có,đầu tư phù hợp để duy trì sản xuất kinh doanh ở các ngành nghề: Lâm nghiệp,xây lắp, xây dựng cơ bản, dịch vụ du lịch nhà khách, khai khoáng, bao bì vànhựa, xuất khẩu hàng hoá, xuất khẩu lao động để từng bước thích ứng với sựthay đổi trên thị trường Các ngành nghề đều phát triển mạnh:
Ngành nông - lâm nghiệp đi vào sản xuất với việc tổ chức các đội quản
lý, kết hợp với phương tiện và lực lượng thuê ngoài, tiến hành hợp tác vớiLào các dự án trồng cây công nghiệp, trồng rừng
Ngành xây lắp đảm bảo năng lực thi công xây các công trình có quy môvới kĩ thuật đòi hỏi cao
Nhà máy bao bì, qua ba năm sản xuất sản lượng hàng năm cao Năm
1997 đạt 2,7 triệu tấn sản phẩm, năm 1988 đạt 3,8 triệu tấn sản phẩm
Ngành dịch vụ du lịch nhà khách hoạt động ổn định chất lượng phục vụtốt, uy tín được nâng lên
Năm 2000 là năm có vị trí quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội,
về sản xuất kinh doanh năm 2000 Công ty đã có thị trường khách hàngchuẩn Các tỉnh của Lào đã tín nhiệm Công ty và giao cho Công ty nhiềucông trình như làm thuỷ lợi, làm đường, xây dựng, sản xuất bao bì, sản xuất
đá bazan, đá xây dựng, dịch vụ khách sạn qua nhiều năm hoạt động đã rút ranhiều kinh nghiệm
Từ năm 2000 đến năm 2005, Công ty tiếp tục mở rộng thêm địa bànlàm tốt công tác thị trường để đấu thầu thêm các công trình mới Năm 2001phấn đấu triển khai: Công trình thuỷ lợi Nậm Thẹ, công trình thuỷ Viêng Kẹo
2, xây dựng doanh trại tỉnh đội - tỉnh Khăm Muộn
Trang 33Trong thời gian này phát triển xây dựng Công ty đa ngành, tăng cườngquan hệ gắn bó thực hiện nhiệm vụ kinh tế quốc phòng hợp tác kết nghĩa giữa
Ta và Lào Để từng bước vươn lên đứng vững trong cơ chế thị trường và có
sự phát triển ngày càng toàn diện, vững chắc Công ty đã tập trung giải quyếtkhâu công nghệ, kĩ thuật một cách cơ bản, thường xuyên và xem đây là vấn
đề trung tâm có ý nghĩa quyết định “sống còn” của sản xuất kinh doanh nângcao chất lượng sản phẩm Từ lao động đơn ngành, thủ công, một mùa, hạchtoán đơn giản đến nay đã phát triển thành đa ngành nghề sản xuất cả trongnước và trên đất bạn Lào Địa bàn, đối tác sản xuất kinh doanh được mở rộng,
có nhiều ngành nghề đạt trình độ công nghệ kĩ thuật tiên tiến
Tổng công ty đã phát huy nội lực, thu hút các vệ tinh vào liên doanh,liên kết sản xuất kinh doanh, tích cực đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độquản lý của các Ban, Ngành lãnh đạo các chiến sĩ Tiếp tục mở rộng thêm địabàn, làm tốt công tác thị trường để đấu thầu thêm các công trình mới nhằmphát huy thế mạnh của Công ty Từ sau đại hội Đảng bộ và đón nhận danhhiệu Anh hùng lao động, toàn Công ty với khí thế mới bước vào triển khaithực hiện nhiệm vụ chỉ tiêu kế hoạch năm 2001
Tháng 5 năm 2003 Công ty tiếp tục báo cáo phương án chuyển Công tyhợp tác kinh tế sang tổ chức và hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công tycon Nhiệm vụ kinh tế kết hợp quốc phòng có hiệu quả tích luỹ được nhiềukinh nghiệm về tổ chức và hoạt động gây được uy tín với lãnh đạo cấp trên vàtrên đất Lào, tăng cường mối quan hệ giữa Ta và Lào Những tháng đầu năm
2004, Công ty triển khai toàn bộ nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, kết hợp kinh
tế với nhiệm vụ quân sự quốc phòng Năm 2004, là năm đánh dấu bước đầuCông ty chuyển đổi mô hình công ty mẹ - công ty con, đó là sự trưởng thànhcủa Công ty phù hợp với chủ trương chính sách của Đảng và chính phủ, đápứng xu thế phát triển của nền kinh tế đất nước trên đường hội nhập Sự trưởngthành tiến bộ của Công ty từ năm 1988 đến năm 2005 đã làm thay đổi hẳn cơ
Trang 34cấu quản lý Công ty: Từ một đơn vị sản xuất đơn ngành thủ công, một mùa,hạch toán đơn giản phát triển thành tổ hợp Công ty sản xuất kinh doanh đangành nghề, có công nghệ kĩ thuật hiện đại, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tếđất nước thời kì hội nhập.
1.2.4 Giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2010
Từ năm 2005 đến năm 2010, Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu
IV tiếp tục đổi mới doanh nghiệp đẩy mạnh đầu tư năng lực sản xuất kinhdoanh, phát triển kinh tế gắn kinh tế với quốc phòng - an ninh Tăng cườngxây đắp tình hữu nghị Việt - Lào, tạo thế và lực mới hội nhập phát triển
Đây cũng là giai đoạn đầu Tổng công ty thực hiện mô hình Công ty mẹ
- Công ty con, bước đầu thực hiện Tổng công ty cũng gặp rất nhiều khó khănnhư trong công tác quản lý, vốn và kỹ thuật Trong sản xuất kinh doanh thựchiện kế hoạch đầu tư còn chậm, nhất là khai khoáng và chế biến gỗ Công tácthị trường còn là mặt yếu, khắc phục chưa tích cực, thiếu chủ động, vấn đềmất an toàn lao động vẫn diễn ra Tuy nhiên, khi bước vào thời kì hội nhậpkinh tế quốc tế sâu rộng, sự chuyển đổi mô hình quản lý mới Công ty mẹ -Công ty con là phù hợp với xu thế
Bước đầu thực hiện mô hình Công ty mẹ - Công ty con, thị trường được
mở rộng các ngành nghề sản xuất vẫn ổn định và phát triển, sản phẩm làm ra
có chất lượng tốt, đáp ứng được nhu cầu thị trường và có sức cạnh tranh Hoạtđộng của Công ty cổ phần Nhựa - Bao bì Vinh đạt sản lượng sản xuất bao ximăng 31 triệu bao, đạt 80.001 triệu đồng, gạch xây dựng đạt 14.200.000 viên,sản xuất chế biến gỗ xuất khẩu đạt 6.000m3 với doanh thu 30.000 triệu đồng
Triển khai nhiệm vụ năm 2006, mặc dù trong điều kiện xu hướng hoàbình hợp tác, phát triển đang mở ra nhiều cơ hội mới cho các doanh nghiệpsản xuất kinh doanh Nhưng vẫn phải đối mặt với nhiều yếu tố tiềm ẩn bất lợi,khó lường như vấn đề “diễn biến hoà bình”, “dân tộc”, “tôn giáo” đang đượccác thế lực thù địch đẩy mạnh chống phá cách mạng Việt Nam cũng như cách
Trang 35mạng Lào Các địa bàn vùng sâu, vùng xa, nhất là trên đất Lào còn khá phứctạp Trong rất nhiều yếu tố đầy phức tạp thì tình hình kinh tế thị trường giá cảtrong đó nguyên vật liệu sản xuất kinh doanh có xu hướng tăng và không ổnđịnh Tuy nhiên tỉnh Nghệ An, Chính phủ Việt Nam có một loạt chính sáchthu hút đầu tư mở rộng quy mô, theo hướng hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ramôi trường mới vô cùng thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh,trong đó có Công ty Hợp tác kinh tế Quân khu IV.
Hoạt động kinh tế của Tổng công Hợp tác kinh tế Quân khu IV tại Lào
là một bộ phận hữu cơ của quan hệ hợp tác toàn diện giữa Nghệ An với một
số tỉnh của Lào, cho nên những chính sách của Nghệ An cũng ảnh hưởngkhông nhỏ đến hoạt động kinh tế của Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu
IV tại Lào Như chính sách kinh tế: Bằng viện trợ vật tư, hàng hoá, kĩ thuậtcho vay không tính lãi hoặc cho vay với lãi suất thấp và công tác chuyêngia… Các huyết mạch đường giao thông nối liền hai khu vực như quốc lộ 7,đường 48, đường 46 được hai bên phối hợp duy tu, sửa chữa nâng cấp [15; tr.45] Với những chính sách đó thì hoạt động kinh tế của Tổng công ty Hợp táckinh tế tại Lào sau 3 năm quản lý theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con đãphát triển mạnh, tiếp tục khẳng định vị thế và hướng đi đúng đắn tạo thế đứngvững chắc trên địa bàn các tỉnh của Lào
Từ năm 2008 đến năm 2010 thì Công ty tiếp tục đẩy mạnh đầu tư, tăngnăng lực cạnh tranh, tạo thế và lực mới trong hội nhập phát triển Thực hiệnthắng lợi nhiệm vụ chiến lược của hai Chính phủ, Bộ quốc phòng hai nướcViệt Nam - Lào Sau nhiều năm đẩy mạnh sản xuất kinh doanh gắn với quốcphòng - an ninh trên các lĩnh vực, tổ hợp Công ty mẹ - Công ty con đã cóbước sâu rộng, đồng bộ Nhiều chỉ tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh, Tổngcông ty đã đạt và vượt mức
Về sản xuất kinh doanh đã đạt được các chỉ tiêu: Tổng doanh thu6.129.436 triệu đồng tăng 64% so với cùng kỳ trước Tốc độ tăng trưởng
Trang 36doanh thu bình quân hàng năm 35% Lợi nhuận đạt 310.887 triệu đồng tăng129% Nộp ngân sách 701.183 triệu đồng tăng 60% Tốc độ tăng trưởng kinh
tế bình quân tăng 21% Thu nhập bình quân người lao động hàng năm tăng19% [36; tr 359 - 360] Những thành tựu đã đạt được trên tất cả các ngànhkinh tế đã củng cố thêm tình đoàn kết giữa Tổng công ty với các tỉnh của Lào.Đồng thời sự phát triển đó đã tạo ra sự vững chắc cho Tổng công ty phát triển,
có thể cạnh tranh được với nhiều Công ty khác trong nước và trên thế giới
Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu IV từ khi ra đời đến nay đã trảiqua 4 giai đoạn phát triển:
Giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1991
Giai đoạn từ năm 1992 đến năm 1997
Giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2004
Giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2010
Từ một đơn vị hoạt động trên địa bàn thị trấn Lạc Xao huyện KhămCợt tỉnh Bô Ly Khăm Xay của Lào, Tổng công ty đã phát triển mạnh trên 11tỉnh, thủ đô Viêng Chăn Nhiều năm đứng chân trên đất Lào, cán bộ chiến sĩcủa Tổng công ty Hợp tác Quân khu IV đã gắn bó với đất nước triệu voi, coiđây là quê hương thứ hai của mình và được bà con các bộ tộc Lào yêu quýnhư những người con trong gia đình của họ Sự gắn bó quân dân của cán bộchiến sĩ Tổng công ty đã góp phần tô đẹp truyền thống gắn bó keo sơn thuỷ
Trang 37chung giữa hai dân tộc, xây dựng tình hữu nghị Việt - Lào “mãi mãi xanhtươi, đời đời bền vững” Những hoạt động của Tổng công ty Hợp tác kinh tếQuân khu IV ở Lào là minh chứng cụ thể nhận xét của Chủ tịch Cayxỏn
Phômvihẳn: “Trong lịch sử cách mạng thế giới cũng có nhiều tấm gương sáng chói về tinh thần quốc tế vô sản, nhưng chưa ở đâu và bao giờ có sự đoàn kết liên minh chiến đấu lâu dài, toàn diện như vậy… Mối quan hệ Lào - Việt Nam đã trở thành mối quan hệ trong sáng thuỷ trung, mẫu mực hiếm có
và ngày càng được củng cố, phát triển tươi đẹp” [13; tr 63].
Trang 38Chương 2 HOẠT ĐỘNG CỦA TỔNG CÔNG TY HỢP TÁC KINH TẾ
QUÂN KHU IV (VIỆT NAM) Ở LÀO TỪ NĂM 1985 ĐẾN NĂM 2010
2.1 Hoạt động của Tổng Công ty Hợp tác kinh tế Quân khu IV (Việt Nam) ở Lào từ năm 1985 đến năm 1997
2.1.1 Trong lĩnh vực nông nghiệp
2.1.1.1 Giai đoạn từ 1985 đến 1991
Từ năm 1985 đến năm 1991, Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu
IV (lúc bấy giờ là Đoàn 74) chỉ mới triển khai một số lĩnh vực hợp tác với cáctỉnh của Lào, trong đó lĩnh vực nông nghiệp được chú trọng hàng đầu Công
ty đã xem vấn đề nông nghiệp là cơ sở để góp phần thúc đẩy sự phát triển cácngành kinh tế khác, nâng cao đời sống vật chất cho nhân dân
Hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp giữa Tổng công ty hợp tác kinh tếQuân khu IV (Việt Nam) và các tỉnh của Lào: Xiêng Khoảng, Hủa Phăn, Bô
Ly Khăm Xay, Khăm Muộn từ năm 1985 đến 1991 chủ yếu tập trung vào cácnội dung cơ bản sau:
+ Quy hoạch ruộng đất canh tác
+ Phát triển công nghiệp bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới+ Tiếp tục đẩy mạnh việc cung ứng giống cây trồng, vật nuôi, phânbón, thuốc trừ sâu, thuốc phòng trừ bệnh cho gia súc, gia cầm
+ Đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi
+ Tiếp tục hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý và chuyên mônnông nghiệp
Quy hoạch ruộng đất là yêu cầu cấp thiết để phát triển nền nông nghiệpbền vững, giúp các tỉnh của Lào từng bước vươn lên tự túc lương thực, với sựgiúp đỡ của các chuyên gia nông nghiệp Quân khu IV, tỉnh Xiêng Khoảng đã
Trang 39tiến hành quy hoạh thí điểm tại các huyện Nọng Hét và Mường Mộc vào cácnăm 1988 đến 1990 Từ kinh nghiệm thực tế của hai huyện này, tỉnh XiêngKhoảng đã triển khai quy hoạch đất đai toàn tỉnh Cũng thời gian này Tổngcông ty Hợp tác kinh tế Quân khu IV (Việt Nam) triển khai thí điểm dự ánphát triển nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới tại một số huyện củacác tỉnh Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Bô Ly Khăm Xay Dự án tập trung vào cácchương trình trọng điểm như: giao đất cho các hộ nông dân canh tác, khoanhvùng xây dựng bản mới, ứng dụng các thành tựu khoa học kỷ thuật vào sảnxuất, chăn nuôi, phát triển kinh tế hộ theo mô hình VAC (vườn, ao, chuồng);xây dựng và phát triển nông thôn mới theo mô hình “điện, đường, trường,trạm” Đổi mới tỉnh Bô Ly Khăm Xay, Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quânkhu IV (Việt Nam) đã đầu tư kinh phí và cử chuyên gia sang phối hợp thựchiện quy hoạch đất đai tại các huyện Khăm Cớt giúp huyện này hoàn thànhchương trình quy hoạch đất trồng trọt.
Năm 1991, Tổng công ty Hợp tác kinh tế Quân khu IV (Việt Nam) đãđầu tư xây dựng một số trại ươm giống tại các tỉnh Xiêng Khoảng và Bô LyKhăm Xay để phát triển chăn nuôi, ngành nông nghiệp tỉnh Xiêng Khoảng đãnhập từ địa bàn Quân khu IV nhiều loại giống gia súc, gia cầm như Bò lai, lợnsiêu nạc, vịt siêu trứng, gà tam hoàng, gà công nghiệp, Để thực hiện thíđiểm dự án phát triển kinh tế hộ gia đình theo mô hình VAC tại các huyệnKhăm Cớt ngành nông nghiệp Quân khu IV đã chuyển giao cho tỉnh Bô LyKhăm Xay nhiều loại giống cây ăn quả có giá trị kinh tế cao Các tỉnh củanước Lào cũng đã nhập một số giống cây công nghiệp ngắn ngày như: lạc,vừng, đậu của Quân khu IV để cung ứng cho bà con nông dân sản xuất
Về vật nuôi, hai bên hợp tác với nhau trong việc đưa những giống mớinhư gà Tam Hoàng, ngỗng Rhheinland, lợn lai, cá lòng vào nuôi thí điểmtrong các hộ nông dân để từng bước nhân ra diện rộng Qua các hoạt động của
dự án, giúp cho nhân dân thấy rõ lợi ích của kỹ thuật canh tác, lựa chọn gióng
Trang 40thích hợp, sự cần thiết phải định canh định cư, xây dựng hệ thống thủy lợinhằm phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, khắc phục nạn phá rừng làmnương Qua đó, bồi dưỡng đào tạo cho cán bộ quản lý và bà con nông dânnhững kiến thức mới về nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Tại Lạc Xao, Công ty đã phối hợp với Viện quy hoạch và thiết kế nôngnghiệp của Việt Nam cử cán bộ quy hoạch các nghành trồng trọt, chăn nuôi,đất đai, kinh tế, thủy lợi, phát triển nông thôn, chuyên gia kiến trúc và giaothông, cán bộ đo đạc và xí nghiệp trắc địa đi điều tra, xử lý nội nghiệp trongphòng để xây dựng dự án, đo đạc vẽ bản đồ địa hình Công ty đã chuyển cây
ăn quả sang Lào trồng tại vườn ươm Lạc Xao, bàn giao kinh phí thủy lợi đểphía Lào thi công các công trình đầu mối như đập Nậm Ka nơn - Lạc Xao và
hệ thống ống dẫn nước vào đồng ruộng Nậm Thi Kết hợp tổ chức đào tạo cán
bộ cho Lào về xây dựng dự án đa mục tiêu, phát triển nông thôn, phân tích tàichính và kinh tế, đánh giá ảnh hưởng của môi trường, xã hội đối với dự án.Nhờ vậy, Lạc Xao đã trở thành trung tâm dịch vụ nông nghiệp, sản xuất gàtam hoàng cung cấp cho nhân dân trong vùng và các tỉnh Bô Ly Khăm Xay,Hủa Phăn, Xiêng Khoảng
Hợp tác nông nghiệp được coi là lĩnh vực truyền thống, hai bên hết sứccoi trọng và xác định cần ưu tiên Hai bên hỗ trợ nhau trong các lĩnh vực xâydựng chiến lược an ninh lương thực, định hướng, quy hoạch phát triển lươngthực, thủy lợi các vùng lãnh thổ, cánh đồng lớn như Viêng Chăn, Khămmuộn, Bô Ly Khăm Xay, một số tỉnh miền núi Để thực hiện chương trìnhhợp tác đã được ký kết, Tổng Công ty hợp tác kinh tế Quân khu IV đã tổ chứcquy hoạch phát triển một số cây trồng vật nuôi, hỗ trợ một số giống mới, giúpLào thí điểm phát triển nông nghiệp nông thôn tại một số vùng, giúp vốn xâydựng một số công trình thủy lợi vừa và nhỏ Cho đến nay, mô hình này đangđược nhân rộng ra toàn quốc, góp phần tạo ra sự chuyển biến tích cực trongcác vùng nông thôn các tỉnh của Lào Hai bên đã tổ chức tham quan, khảo sát,