Hoàng lê nhất thống chí và tam quốc chí diễn nghĩa những nét tương đồng và khác biệt
Trang 2Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu 5
3 Lịch sử vấn đề 6
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
5 Phơng pháp nghiên cứu 9
6 Những đóng góp mới của luận văn 9
7 Cấu trúc của luận văn 10
Chơng 1 Giới thuyết chung về tiểu thuyết và tiểu thuyết chơng hồi 11
1.1 Hoàn cảnh ra đời 11
1.1.1 Hoàn cảnh xã hội 11
1.1.2 Điều kiện văn học 13
1.2 Khái niệm tiểu thuyết 15
1.2.1 Tiểu thuyết 15
1.2.2 Tiểu thuyết chơng hồi 22
1.2.3 Tự sự lịch sử 27
1.2.4 Ngôn ngữ tiểu thuyết và lời văn tiểu thuyết 29
Chơng 2 Hoàng Lê nhất thống chí và Tam quốc diễn nghĩa - Những tơng đồng 33
2.1 Cơ sở của sự tơng đồng 33
2.1.1 Về mặt xã hội 33
2.1.2 Về mặt văn học 36
Trang 32.2.1 Đề tài 39
2.2.2 Nội dung câu chuyện 42
2.2.3 T tởng chủ đề 49
2.2.4 Cảm hứng chung 68
2.2.5 Quan niệm nghệ thuật về con ngời 75
2.3 Tơng đồng về nghệ thuật 81
2.3.1 Thể loại 81
2.3.2 Bố cục kết cấu 83
2.3.3 Cách xây dựng nhân vật 89
2.3.4 Nghệ thuật tự sự 92
Chơng 3 Hoàng Lê nhất thống chí và Tam quốc chí diễn nghĩa - Những khác biệt 95
3.1 Nguồn gốc hình thành tác phẩm 95
3.2 Nội dung t tởng chủ đề 102
3.3 Bố cục kết cấu 108
3.3.1 Kết cấu hình tợng 108
3.3.2 Kết cấu văn bản 110
3.4 Nhân vật 119
Kết luận 127
Tài liệu tham khảo 132
Trang 4mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Tác phẩm văn học nh ta biết có nhiều mối liên hệ chặt chẽ mật thiết
với tác giả, độc giả, hiện thực Có những tác phẩm sau khi ra đời một thời gianrơi vào sự lãng quên, lớp bụi mờ sẽ che phủ và xoá nhòa nó lúc nào chẳng rõ.Nhng cũng có những tác phẩm thì thời gian và sự thử thách không làm mờphai; ngợc lại càng thử thách nó càng ngời sáng, bừng lên với nhiều vẻ đẹp.Quy luật này đúng với một số hiện tợng văn học trên thế giới, ở Việt Nam,
trong đó có bộ tiểu thuyết chơng hồi Trung Quốc nổi tiếng Tam quốc chí diễn
nghĩa (La Quán Trung) Trong văn học Trung Quốc, tiểu thuyết chơng hồi đã
trở thành một trong những thành tựu rực rỡ đáng ghi nhận Sự xuất hiện của
hàng loạt tác phẩm Tây du ký (Ngô Thừa Ân) Thủy hử (Thi Nại An), Hồng lâu
mộng (Tào Tuyết Cần) đã góp phần tạo ra dòng chảy liên tục và bất tận của
văn học Trung Hoa Đó cũng là điều làm nên niềm tự hào, kiêu hãnh của ngờidân đất nớc này Lịch sử phát triển văn học Trung Quốc ở mỗi giai đoạn vàthời kỳ đều có một số thể loại nổi bật, vợt trội lên bổ sung vào gia tài văn ch-
ơng đồ sộ vĩ đại này Chính vì thế ngời ta đã tổng kết, đúc rút: Phú Hán, Đờngthi, Tống từ, tiểu thuyết Minh Thanh Sự xuất hiện của tiểu thuyết MinhThanh là thành quả quý giá, góp vào đỉnh cao của văn chơng Trung Quốc; làmcho nó trở thành một trong những niềm tự hào sâu sắc đối với bao thế hệ Tiểuthuyết Minh Thanh đợc xem là chuẩn mực, khuôn mẫu, cổ điển không chỉ đốivới văn học Trung Hoa mà còn cả thế giới Mỗi bộ tiểu thuyết đã đặt ra và giảiquyết những vấn đề khác nhau nhng chúng đều giống nhau, gặp nhau ở chỗ:góp phần tạo ra sự bất tử, sức sống bất diệt, vĩnh hằng cho văn học trung đại
Trung Quốc cũng nh lan toả ra ở thế giới Tam quốc chí diễn nghĩa có một ảnh
hởng sâu rộng trong văn hóa Trung Hoa, đồng thời đã vợt qua những khoảngcách về ngôn ngữ, địa lý đi tới nhiều nớc ở châu á trong đó có Việt Nam
1.2 Đối với mỗi nhà văn, khi sáng tạo tác phẩm bao giờ cũng mong
muốn nói đợc vấn đề gì đó mới mẻ, độc đáo để cho đứa con tinh thần củamình có chỗ đứng trong độc giả Sức sống của một tác phẩm văn học nh tabiết phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Nhà văn để có đợc một sản phẩm ra đời
đòi hỏi công sức lao động sáng tạo nghệ thuật cực kỳ nghiêm túc Biết baonhiêu yếu tố kết hợp trong một tác phẩm Bên cạnh bản thân hiện thực đồ sộnhà văn còn phải kết hợp vốn sống, sự hiểu biết tìm tòi, suy t Tác phẩm vănhọc là kết quả của quá trình hoạt động nghệ thuật đầy gian truân nhng cũngrất thú vị Điều này đúng với các nhà văn dù ở thời đại nào Nhng với các nhàvăn trung đại dờng nh việc lao động, sáng tạo nghệ thuật lại gặp không ít khókhăn Bởi lẽ trớc mắt họ có rất nhiều yếu tố dờng nh đã có sẵn (ngôn ngữ, đề
Trang 5tài ) Để xử lí vấn đề này một cách thật hợp lý và có cơ sở đòi hỏi ở các nhàvăn trung đại sự lao động nghệ thuật miệt mài, cần mẫn, sáng tạo Nhà vănkhông thể cẩu thả trong miêu tả và phản ánh; cũng không thể làm việc mộtcách tuỳ tiện Hệ thống quan niệm văn chơng trung đại đã chi phối đến quátrình lao động, sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Đứng trớc sự phong phú vềkho tàng t liệu viết, cũng nh truyền miệng, tác giả La Quán Trung đã tổng hợp
xây dựng Tam quốc chí diễn nghĩa nh thế nào để làm cho tiểu thuyết này trở
thành bộ xuất sắc nhất của văn học trung đại Trung Quốc Đây quả là vấn đềkhông hề giản đơn một chút nào Nhãn quan của nhà văn về cuộc sống và thựctiễn xã hội đất nớc cũng nh vốn hiểu biết có thể giúp ông huy động để đạt tới
sự đặc sắc của tác phẩm Tam quốc chí diễn nghĩa Đến lợt mình, tác phẩm
Tam quốc chí diễn nghĩa lại có những ảnh hởng mới đối với độc giả và các
nền văn học khác Để trả lời câu hỏi này quả là cả một câu chuyện rất dài
Tr-ớc mắt ta Tam quốc chí diễn nghĩa là một pho sách đồ sộ: 120 hồi với 75 vạn
chữ
1.3 Nếu nh Trung Quốc là nớc có nền văn hóa lâu đời; và là một trong
những cái nôi của nhân loại từ thời cổ đại, thì ngợc lại ở Việt Nam chúng tanhìn một cách khách quan, văn hóa của chúng ta không có bề dày, sự đồ sộphong phú nh văn hóa Trung Hoa Cũng bởi điều này nền văn hóa, văn họcviết chúng ta đã “nhận” ảnh hởng của văn hoá, văn học Trung Quốc Nói riêng
ở văn học: hàng loạt thể loại nằm trong vùng giao tiếp này (hịch, cáo, chiếu,
biểu) đặc biệt là các truyện trung đại Hoàng Lê nhất thống chí có thể đợc
xem là một tác phẩm chịu ảnh hởng của truyền thống văn chơng Trung Quốc
đặc biệt là Tam quốc chí diễn nghĩa Những vấn đề mà Tam quốc chí diễn
nghĩa phản ánh cũng nh cách kể, nghệ thuật xây dựng nhân vật, kết cấu đều
đ-ợc nhóm Ngô gia văn phái vận dụng sáng tạo Chỉ riêng các điển tích, điển cố
cũng đợc chắc lại rất nhiều lần (6 lần nhắc trực tiếp đến Tam quốc chí diễn
nghĩa, hàng chục lần nhắc đến điển tích chung của Trung Quốc).
Trong sự giao lu giữa các nền văn hóa việc chỉ ra sự ảnh hởng giữa nềnvăn hóa này với văn hóa khác, tác phẩm văn học này với tác phẩm văn học kiathiết nghĩ cũng rất cần thiết Một mặt quá trình này giúp cho ta thấy đợc sự tác
động của một nền văn học “già” với văn học “non trẻ”, mặt khác thấy đợc ôngcha ta đã có sự sáng tạo, kế thừa ở những điểm nào? Sự cách tân cũng là điểm
đáng chú ý trong quá trình sáng tác văn học Đây là vấn đề thu hút chú ý tìmhiểu của nhiều ngời, đặt ra cho ngời nghiên cứu sự lu tâm đáng kể
1.4 Trong chơng trình phổ thông cả hai tác phẩm trên đều đợc đa vào
giảng dạy chính khóa (lớp 9, 10,11) ở các lớp này nhận thức của học sinh vềmôn Ngữ văn ngày càng đợc cải thiện và nâng cao Tuy nhiên lại có một thực
Trang 6tế không vui là: số học sinh yêu thích môn văn, hứng thú học văn ngày cànggiảm Các em “quay lng” lại với văn học, với những tác phẩm u tú của nớcnhà cũng nh trên thế giới Làm sao để học sinh yêu thích, hứng thú với các tácphẩm này vẫn là một trong những băn khoăn của mỗi giáo viên.
Mặt khác, theo quan niệm hiện nay môn Ngữ văn đợc chọn giảng dạytrong nhà trờng theo hớng tích hợp, tích cực, dạy tác phẩm trên tiêu chí thểloại và phơng thức biểu đạt Hai tác phẩm trên đều thuộc phơng thức tự sự nó
có nét tơng đồng trong cách biểu đạt, đấy cũng là nét gặp gỡ nhau Bản thântôi thiết nghĩ rằng: việc tìm hiểu mối liên hệ giữa hai tác phẩm này sẽ giúpcho quá trình giảng dạy của mình đợc tốt hơn; ít nhiều giúp học sinh nắm đợcnhững nét độc đáo của mỗi tác phẩm cũng nh sự giống và khác nhau giữachúng
1.5 Trớc đến nay việc nghiên cứu ảnh hởng giữa văn học Việt Nam và
văn học Trung Quốc đã là vấn đề đợc nhiều tác giả quan tâm Có thể kể đến
công trình Góp phần xác lập hệ thống quan điểm văn học trung đại Việt Nam
(Phơng Lựu) hoặc Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại (Trần Đình Hợu) hay Văn học trung đại Việt Nam dới góc nhìn văn hóa (Trần Nho Thìn)
hoặc Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam (Trần Đình Sử) Các
công trình này đã dựa trên thực tiễn của hai nền văn học, trên hệ thống quanniệm sáng tạo để nghiên cứu Điều lí thú là qua đó đã cung cấp cho ngời đọc
hệ thống kiến thức phong phú về lí luận cũng nh thực tiễn văn học Những
đánh giá này mang ý nghĩa tổng kết đúc rút, lý thuyết nên nó sẽ thuận lợi chonhững ngời nghiên cứu đi sau: tiếp cận nhiều thành tựu mà giới lí luận, ngời đitrớc đã thực hiện; từ đó định hớng cho quá trình nghiên cứu của bản thân.Thế nhng, qua những công trình này hầu hết mới tập trung ở bình diệnrộng lớn, khái quát các vấn đề, các thể loại và những phạm trù Nó còn thiếu
đi vấn đề cụ thể khi khảo sát một tác phẩm tự sự riêng nào đó Nói cách khác,chẳng hạn nghiên cứu, so sánh sự giống nhau và khác nhau giữa tác phẩm
Tam quốc chí diễn nghĩa và Hoàng Lê nhất thống chí thì vẫn còn ít đợc bàn
tới, hay là bàn một cách chung chung Đây có thể xem là vùng đất trống cha
đợc cày xới hoặc đợc nói tới nhng còn ở mức khái quát, nhận xét đánh giátổng quan mà thôi Sự phát triển của lí luận văn học ngày càng phong phú đadạng do bản thân nội tại của nền văn học; đó còn là do những thành quả củatriết học, của nghiên cứu văn học so sánh mang lại Việc khảo sát sự tơng
đồng giữa các tác phẩm văn học có cùng thể loại hoặc cùng đề tài là vấn đềcần thiết Nghiên cứu cụ thể này sẽ bổ sung cho những tổng kết mang tínhtrừu tợng và khái quát Hơn nữa, trong khi nghiên cứu ảnh hởng qua lại giữa
Trang 7văn học Trung Hoa và văn học Việt Nam hầu nh các công trình nghiên cứumới tập trung vào thể loại trữ tình, thể loại tự sự ít đợc lu tâm
Xuất phát từ những lí do đã nêu ở trên bản thân tôi muốn khảo sát sự tác
động qua lại giữa Tam quốc chí diễn nghĩa và Hoàng Lê nhất thống chí Đây
là những tác phẩm tiêu biểu cho hai nền văn học khác nhau Đối với “Tamquốc chí diễn nghĩa” tác phẩm đã mang trong mình nó sự tiếp nối ảnh hởngcủa văn hóa truyền thống đồng thời là quá trình lao động công phu, tài năng
sáng tạo tuyệt vời của La Quán Trung Ngợc lại, ở Hoàng Lê nhất thống chí
đó là những trang viết giàu ý nghĩa đợc ra đời trong bức tranh hiện thực xã hộiViệt Nam thế kỷ XVIII, XIX kết hợp những nhật xét đánh giá công phu củatác giả Hy vọng của đề tài này là tìm hiểu những cơ sở của sự tơng đồng giữahai tác phẩm, từ đó đi vào khảo sát sự giống nhau và khác nhau giữa hai bộtiểu thuyết đó
2 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Ta biết Tam quốc chí diễn nghĩa gọi cho thật đầy đủ là Tam quốc chí
thông tục diễn nghĩa là một bộ tiểu thuyết chơng hồi đặc sắc, vĩ đại của văn
học Trung Quốc Nó có hơn 400 nhân vật, dài 120 hồi Tác phẩm này là mộtminh chứng hùng hồn cho sức sống bất diệt của tiểu thuyết cổ điển Trung
Hoa Nếu nh Tam quốc chí diễn nghĩa trở thành niềm tự hào của nhân dân
Trung Hoa về nền văn hoá và giá trị văn học thì ngợc, lại tuy khiêm nhờng
hơn ngời Việt Nam cũng trân trọng bộ tiểu thuyết Hoàng Lê nhất thống chí.
Đây là tác phẩm xuất hiện khá muộn màng trong văn học trung đại Việt Namnhng vẫn có những đóng góp nhất định cho tiến trình phát triển của văn xuôitrung đại nớc nhà Qua tác phẩm ta khám phá quan niệm của cha ông ta vềvăn học, tự hào về “đứa con” tinh thần này Từ đó, mở ra cho độc giả quá trìnhtiếp cận văn học truyền thống, thừa hởng những di sản quý báu của cha ông đểlại
Vì thế đối tợng nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu sự giống khác nhau
giữa Hoàng Lê nhất thống chí và Tam quốc chí diễn nghĩa trên một số phơng
diện cụ thể về nội dung nghệ thuật Trong quá trình nghiên cứu, ngời viếtmuốn chỉ ra đợc sự gặp gỡ giữa hai tác phẩm cũng nh sự khác biệt nhau tronghai cuốn tiểu thuyết
Tam quốc chí diễn nghĩa là tác phẩm có sức sống lớn Chính vì thế ở
Việt Nam tác phẩm này đã đợc một số nhà xuất bản chọn dịch Trớc hết tácphẩm đã đợc Nguyễn An C, Phan Kế Bính và Nguyễn Văn Vĩnh dịch ra tiếngViệt từ hồi đầu thế kỷ XX Năm 1959, bản dịch của Phan Kế Bính do Bùi Kỷhiệu đính đã đợc nhà xuất bản phổ thông Hà Nội ấn hành Cùng năm ấy ở
Trang 8miền Nam, nhà á Châu, Sài Gòn cho ra mắt bản dịch Tam quốc chí diễn
nghĩa của Tử Vi Lang Văn bản chúng tôi sử dụng trong luận văn này dựa trên
bản dịch của Tử Vi Lang (1959) đợc nhà xuất bản văn hóa tái bản năm 1998
Đối với Hoàng Lê nhất thống chí cũng đã có nhiều bản dịch Đó là bản dịch
của Cát Thành 1912, Ngô Tất Tố 1942, bản dịch của Nguyễn Đăng Tấn Nguyễn Công Liên 1950, bản dịch Nguyễn Đức Vân - Kiều Thu Hoạch 1964
-đợc tái bản nhiều lần Mọi dẫn chứng trích ở luận văn này dựa trên Hoàng Lê
nhất thống chí nhà xuất bản văn học 2002
Phạm vi của đề tài tơng đối rộng lớn bao gồm khá nhiều vấn đề Chínhvì thế, để đạt đợc mục đích nghiên cứu trong luận văn có thể đi sâu vào một sốyếu tố nổi bật hoặc lớt qua những nhân tố khác Có lúc lại sử dụng nhữngthành tựu của giới nghiên cứu văn học dân gian, văn học nớc ngoài để soichiếu cho vấn đề chính
3 Lịch sử vấn đề
Nh đã nói ở phần lí do chọn đề tài, tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa là mộthiện tợng văn học đặc biệt Bởi rằng, phạm vi ảnh hởng của nó không chỉdừng ở cấp độ dân tộc mà tác động đến cấp độ khu vực quốc tế Chính vì thếtiểu thuyết cổ điển Trung Hoa thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu: Ta
có thể điểm tên một số tác giả nghiên cứu lão luyện với những tác phẩm tiêubiểu của họ
- Trớc hết là B.L.Riftin với tác phẩm Sử thi lịch sử và truyền thống văn
hóa dân gian Trung Quốc Tên tác phẩm chỉ nói một cách chung để độc giả
tìm tòi nhng thực ra vấn đề ở công trình này là đi sâu bàn chủ yếu về Tam
quốc chí diễn nghĩa trong mối quan hệ với văn học quá khứ; từ đó tác giả đi
sâu vào so sánh ảnh hởng của sử học, các loại truyện kể dân gian khác với
Tam quốc chí diễn nghĩa
- Còn Clauđine Salmôn ở tác phẩm Tiểu thuyết truyền thống Trung
Quốc ở châu á đã chỉ ra mối quan hệ cụ thể giữa tiểu thuyết Trung Quốc và
văn học các dân tộc khác ở châu á (Triều Tiên, Nhật Bản, Mông Cổ, ĐôngNam á )
- Đối với I.X Lixêvich với công trình T tởng văn học cổ Trung Quốc đã
khảo sát một số phạm trù t tởng cơ bản của văn học nớc này Điều dễ nhận ra
là ở đây tác giả đi sâu bàn bạc miêu tả các phạm trù đạo đức khí“ ” “ ” “ ”
phong
“ ”… để từ đó chỉ ra mối quan hệ giữa để từ đó chỉ ra mối quan hệ giữa “văn” và các yếu tố đó Ngoài ra,
ông còn có Mấy vấn đề nghiên cứu những nền văn học trung cổ phơng Đông
theo phơng pháp loại hình Trong bài viết này tác giả đã chỉ ra những đặc
điểm nổi bật của văn học trung đại phơng Đông theo phơng pháp loại hình
Trang 9Nhìn chung ở những công trình này các tác giả đã đi sâu vào tìm hiểunghiên cứu văn học Trung Hoa ở cấp độ tác phẩm cụ thể, hoặc ở cấp độ loạihình học Hớng nghiên cứu này rất đáng trân trọng để ta học tập.
Tiếp thu, học tập những thành tựu của giới nghiên cứu nớc ngoài, cáctác giả nghiên cứu văn học Việt Nam đã có nỗ lực rất lớn Điều này biểu hiện
ở chỗ: t duy nghiên cứu sâu sắc, từng bớc khám phá ra các quy luật hoặc phạmtrù của văn học trung đại, trên cơ sở đó lí giải mối quan hệ giữa các thể loạivới nhau Đáng chú ý là tác phẩm của Trần Đình Sử, Phơng Lựu, Trần ĐìnhHợu, Nguyễn Đăng Na, Nguyễn Xuân Hòa, Nguyễn Khắc Phi ở nhữngcông trình của mình họ đã chỉ ra: tác động của Nho giáo đối với văn học trung
đại, khảo sát những ảnh hởng Nho giáo đối với văn học trung đại Việt Namhoặc tiếp cận văn học trung đại đặt trong mối quan hệ với văn hóa trung đại.Trong quá trình khảo sát, các nhà nghiên cứu trên có soi chiếu ở những tácphẩm cụ thể (chủ yếu là thơ ca); tác phẩm văn xuôi ít đợc khảo sát hơn (trừcông trình của Nguyễn Đăng Na, Nguyễn Xuân Hoà) Nhìn vào quá trìnhnghiên cứu ta nhận thấy rằng dờng nh tiểu thuyết chơng hồi - một dạng quantrọng dựa trên phơng thức phản ánh tự sự vẫn cha đợc nghiên cứu thấu đáo,
đầy đủ Thảng hoặc, có việc so sánh đối chiếu nhng nó nằm rải rác cha thànhmột sự liên kết và hệ thống Đây có thể xem là khoảng trống và khá mới mẻ
Điều này có thể đợc lý giải từ nhiều nguyên nhân khác nhau, từ cách nhìn ởnhiều góc độ riêng biệt Việc vận dụng các thành tựu nghiên cứu văn học nớcngoài vào Việt Nam để hiểu, so sánh các tác phẩm văn học là rất cần thiết.Tuy nhiên ngành nghiên cứu tự sự ở thế giới cũng nh Việt Nam còn rất mới
mẻ, lạ lẫm, sơ khai Nói nh tác giả Trần Đình Sử “Tự sự học” (Naratology) là
một lĩnh vực nghiên cứu đặc thù của lý luận văn học, lấy nghệ thuật tự sự làm
đối tợng phần nào đó tơng ứng với “thi học” nghĩa hẹp, là lĩnh vực lấy nghệthuật thi ca làm đối tợng nghiên cứu Thi học của Arixtote xuất hiện đã hơn
2300 năm mà “tự sự học” mãi đến đầu những năm 70 thế kỷ XX mới chínhthức xuất hiện Điều đó chứng tỏ sự lĩnh hội về nghệ thuật tự sự muộn màngbiết chừng nào [49,7]
Qua việc khảo sát các vấn đề mà những tác giả đi trớc đã nghiên cứu
chúng tôi nhận thấy rằng: những tài liệu đề cấp đến việc so sánh giữa Hoàng
Lê nhất thống chí và Tam quốc chí diễn nghĩa là có nhng không nhiều Nó cha
tạo thành vết đậm khi nghiên cứu những điểm giống nhau và khác nhau củahai tác phẩm tự sự nói trên Trên cơ sở những ý kiến ban đầu của các tác giả
đó chúng tôi muốn có một cái nhìn cụ thể về hai tác phẩm Hoàng Lê nhất
thống chí và Tam quốc chí diễn nghĩa dựa trên những đối chiếu giống và khác
Trang 10nhau ở một số mặt nhất định Từ đó góp phần bổ sung cho quá trình khám phávăn học cũng nh giúp cho việc nhận thức vấn đề rõ hơn.
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Do sự giới hạn về phạm vi nghiên cứu nên ở luận văn này chúng tôi sẽtập trung vào các nhiệm vụ cơ bản sau
4.1 Bớc đầu nhận diện ở phơng diện lí thuyết những vấn đề liên quan
mà khi nghiên cứu ta cần khảo sát cho tất cả mọi thể loại tác phẩm, mọi nềnvăn học: khảo sát cơ sở xã hội, cơ sở văn học, các khái niệm cơ bản nh: tiểuthuyết, tiểu thuyết chơng hồi
4.2 Qua những nội dung ấy luận văn sẽ thực hiện quá trình nghiên cứu
những điểm giống nhau giữa Hoàng Lê nhất thống chí và Tam quốc chí diễn
nghĩa về mặt nội dung, nghệ thuật Bớc đầu có thể lí giải phần nào những sự
giống nhau và khác nhau ấy theo quan niệm văn hóa, văn học hoặc dựa trêntâm lí dân tộc giữa việc phát huy bản sắc và tiếp nhận giá trị bên ngoài biểuhiện cụ thể nh thế nào?
4.3 Bên cạnh học tập văn học nớc ngoài, cha ông ta trong sáng tạo nghệ
thuật đã có sự cách tân tơng đối mới mẻ Điều này cũng là hệ quả của quátrình vận động nội tại về văn hóa và văn học Có thể nói: việc tiếp thu trên tinhthần sáng tạo đã trở thành t tởng xuyên suốt của văn học Việt Nam Tác giả
Hoàng Lê nhất thống chí cũng không nằm ngoài quy luật này Chính vì thế
luận văn sẽ phân tích sự khác nhau giữa tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí và
Tam quốc chí diễn nghĩa để từ đó góp phần lí giải mối quan hệ giữa hai tác
phẩm ấy (chủ yếu là ảnh hởng của Tam quốc chí diễn nghĩa đối với Hoàng Lê
nhất thống chí) cũng nh bổ sung thêm vào hệ thống nghiên cứu trớc đây (dù chỉ
là phần bé nhỏ)
5 Phơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu này chúng tôi đã tiến hành khảo sát haitác phẩm trên và những tác phẩm khác có liên quan Trong quá trình nghiêncứu chúng tôi đã kết hợp sử dụng một số phơng pháp nghiên cứu khác nhau
Trang 11- Phơng pháp thống kê phân loại Thống kê sự xuất hiện của nhân vậthình tợng hoặc thống kê hình ảnh, biểu tợng đợc nhà văn sử dụng nhiều lần.Việc phân loại dựa trên các hình tợng chính diện - phản diện hoặc phân loạicác nhóm nhân vật, các sự kiện
6 Những đóng góp mới của luận văn
6.1 Lần đầu tiên vấn đề so sánh giữa Hoàng Lê nhất thống chí và Tam
quốc chí diễn nghĩa về mặt nội dung nghệ thuật đợc nhìn nhận, tìm tòi nghiên
cứu một cách có hệ thống dới góc độ thi pháp, góc độ xã hội học, hay là cáchnhìn của văn hóa, truyền thống tiếp nhận văn chơng, giá trị nghệ thuật của dântộc Việt Nam
6.2 Nghiên cứu sự giống nhau và khác nhau giữa hai tác phẩm nói trên
mục đích của ngời viết muốn đi sâu so sánh phạm trù thể loại văn học cũng
nh đề tài t tởng chủ đề Trên cơ sở đó chúng tôi muốn góp phần tạo ra cáchhiểu về mối quan hệ giữa hai tác phẩm cùng thể loại Nói rộng hơn, đó là mốiquan hệ của hai nền văn học cùng có chung điểm gặp là văn học phơng Đôngtrong sự đối sánh với văn học phơng Tây Đồng thời nhìn ra đợc sự khác biệtgiữa tiểu thuyết trung đại với tiểu thuyết hiện đại Ngời viết cũng muốn xâuchuỗi các vấn đề rời rạc thành sự liên kết để từ đó việc tiếp nhận tác phẩmphong phú hơn
6.3 Nh ta biết, hai tác phẩm trên đã đợc đa vào học tập trong nhà trờng
ở chơng trình phổ thông cũng nh cao đẳng, đại học Việc nghiên cứu mối quan
hệ của chúng sẽ góp phần thuận lợi cho việc giảng dạy, học tập thể loại tiểuthuyết chơng hồi đợc tốt hơn Mặt khác đa đến nhận thức mới về vấn đề tơng đốiquen thuộc, tồn tại lâu dài trong kho tàng văn học Việt Nam cũng nh văn họcTrung Hoa
7 Cấu trúc của luận văn
Tơng ứng với nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, ngoài phần mở đầu, phầnkết luận, nội dung luận văn đợc triển khai cụ thể ở ba chơng
Chơng 1: Giới thuyết chung về tiểu thuyết và tiểu thuyết chơng hồi.Chơng 2: Hoàng Lê nhất thống chí và Tam quốc chí diễn nghĩa -
những tơng đồng
Chơng 3: Hoàng Lê nhất thống chí và Tam quốc chí diễn nghĩa
-những khác biệt
Trang 12Chơng 1Giới thuyết chung về tiểu thuyết
và tiểu thuyết chơng hồi
1.1 Hoàn cảnh ra đời
1.1.1 Điều kiện xã hội
Mỗi thể loại văn học ra đời thờng chịu sự chi phối của bối cảnh xã hộichung Vào thời cổ đại, văn hoá của nhân loại đã đạt đợc đỉnh cao với thànhtựu của toán học, vật lý đặc biệt là văn học Chúng ta đã chứng kiến sự ra
đời của các bộ sử thi nổi tiếng nh Ilyat - Ođixe (HyLạp), Ramayana,Mahabrata (ấn Độ) Trong những tác phẩm đó, các tác giả đã dựng lên bốicảnh về các cuộc chiến tranh hoặc đi vào khai thác cuộc sống riêng t, hạnhphúc hay bất hạnh của con ngời Theo sự biến đổi của thời gian từ thế kỷ V
đến thế kỷ XV ở châu Âu đợc gọi là "Đêm trờng trung cổ" Bớc chuyển mìnhcủa hàng loạt cuộc cách mạng t sản trên thế giới với t tởng "Tự do, bình đẳng,bác ái" đã tạo ra cho nhân loại những đột phá, nhất là trong t tởng văn chơng
Từ đây luồng gió mới đã phát huy tác dụng của nó Xã hội xuất hiện tầng lớpthị dân Đối tợng này thật là đặc biệt Họ là những ngời đại diện cho một lực l-ợng sản xuất mới - sản xuất t bản chủ nghĩa Với họ, kinh tế trở thành thớc đocho mọi sự phát triển đi lên hay thụt lùi của xã hội, của một phơng thức sảnxuất mới Những ngời này do có điều kiện về kinh tế nên trong suy nghĩ cũng
nh nhận thức đã thể hiện một quan niệm mới, một thị hiếu mới Chính tầnglớp thị dân này đã phá tung những quan niệm khắt khe về văn học Đối với họ,văn học sẽ là nơi có nhiều chức năng trong đó không thể thiếu nhiệm vụ giảitrí và th giản; chức năng giao tiếp những cái cần thiết Tiếp nối tinh thần
"Văn hoá Phục hng" sáng ngời tinh thần nhân văn, sự ra đời của tầng lớp thịdân là cơ sở vững chắc cho sự xuất hiện của tiểu thuyết
Khi tầng lớp thị dân đã xuất hiện không chỉ với t cách là một lực lợng xãhội hùng hậu mà còn là đối tợng thởng thức của nghệ thuật thì kéo theo những
sự tác động khác Điểm dễ nhận thấy là: văn học đã trở thành hàng hoá; có sựtrao đổi giữa tác giả - độc giả; cũng từ đây văn học không còn là điều gì bí ẩn(theo các nhà văn cổ điển) mà trở nên gần gũi dung dị hơn? Ranh giới giữanhà văn - bạn đọc dần dần đợc rút ngắn Khi bàn về tiểu thuyết M.Bakhtinkhẳng định: Đó là thể loại duy nhất nảy sinh và đợc nuôi dỡng bởi thời đạimới của lịch sử thế giới và vì thế mà thân thuộc, sâu sắc với thời đại ấy, trongkhi đó thì các thể loại lớn khác chỉ đợc thời đại mới kế thừa ở dạng đã hoàn tất
và chúng chỉ thích nghi - khá hơn hoặc kém hơn - với những điều kiện sinhtồn mới" [5,22] Những lời của nhà nghiên cứu đã giúp chúng ta hình dung ra
Trang 13phần nào bối cảnh ra đời của tiểu thuyết Song song với những điều đó, tác
động của khoa học kỹ thuật đã làm cho nhân loại thừa hởng hàng loạt hệ quả.Chính vì vậy việc in ấn trở nên dễ dàng Nghề in phát triển, nghề báo chí có
điều kiện để đi sâu hơn vào phản ánh cuộc sống Do đó mà văn học cũng đ ợcdịp thể hiện giá trị riêng của mình Đây có thể xem là những nhân tố tạo điềukiện cho sự ra đời và phát triển của thể loại tiểu thuyết Nh vậy, thể loại tiểuthuyết chịu sự chi phối của cơ sở xã hội t bản chủ nghĩa cũng nh thị hiếu của
độc giả thành thị Đối tợng này sẽ có những quan niệm mới trong việc tiếp cậntác phẩm Chẳng hạn cũng là khái niệm thời gian, không gian nhng trong vănhọc cổ điển thời gian mang tính tuần hoàn, lặp đi lặp lại theo chu kỳ nhất
định, ngợc lại thời gian trong quan niệm tầng lớp thị dân lại khác Với họ thờigian dờng nh gấp gáp hơn, mau lẹ hơn, khẩn trơng hơn, dồn dập hơn - thờigian ăn cuộc đời Thời gian gắn với công danh sự nghiệp, sự phấn đấu của mỗicon ngời cá nhân cụ thể Mặt khác thời gian đã trôi qua không bao giờ trở lại.Quan niệm về không gian cũng thế Không gian không yên tĩnh, nó gắn vớinhững kỷ niệm riêng t cá nhân Không gian cũng không thuần thiết và toànkhối nh xa; nó không phải là nguyên vẹn nh quan niệm cổ
Rõ ràng tầng lớp thị dân xuất hiện đã mang đến những cảm giác mới,những nỗi niềm mới khi thởng thức nghệ thuật nói chung, văn học nói riêng.Bởi rằng thế giới tinh thần của họ vô cùng rộng mở, thông thoáng, sự nhìnnhận về các giá trị có thay đổi về bề rộng cũng nh chiều sâu
Ngoài những điểm chung đã nói ở trên chúng ta cần chú ý tới điều kiện
xã hội Trung Quốc khi xuất hiện Tam quốc chí diễn nghĩa Vào thế kỷ XIV và
XV ở Trung Quốc nhà Minh cai quản đất nớc Bên cạnh những thành tựu vềkinh tế thì triều đại phong kiến này cũng từng bớc thực hiện việc củng cố địabàn và mở rộng lãnh thổ quốc gia Xã hội thời Minh tơng đối phát triển Theogiáo s Lơng Duy Thứ “Kinh tế t bản chủ nghĩa có mầm mống từ thời TốngNguyên, sang Minh Thanh thì phát triển khá mạnh Một mặt đó là sự pháttriển công thơng nghiệp trong nớc Đời Minh đã có những xởng dệt, xởngnhuộm có hàng nghìn thợ, đời Thanh có những mỏ nh mỏ Mông Tự (thời KiềnLong) có hàng vạn thợ Buôn bán với nớc ngoài cũng rất phát đạt Đã có một
đội thơng thuyền rất lớn đi các nớc Đông Nam á và đến cả Châu Phi Mặtkhác, đó còn là sự thâm nhập của chủ nghĩa t bản phơng Tây Từ thế kỷ XVI,trong thời kỳ tích luỹ của chủ nghĩa t bản, thơng nhân Bồ Đào Nha, Tây BanNha rồi Hà Lan, Anh lần lợt đến Trung Quốc” [51, 19-20] Cũng giống nh ởphơng Tây, lúc bấy giờ nhân dân Trung Quốc có nhu cầu đọc tiểu thuyết để
bổ sung cho nhận thức của họ Bởi rằng trong truyền thống văn hóa của mình,trớc đây ngời Trung Quốc cũng đã có nhu cầu thởng thức nghệ thuật Trong
Trang 14xã hội từng xuất hiện hiện tợng thuyết thoại, kể chuyện rong hoặc cố định vàoban đêm (hay còn gọi là thoại bản) Chính nhờ những yếu tố này đã trực tiếpchi phối, làm nên diện mạo của tiểu thuyết chơng hồi.
1.1.2 Điều kiện văn học
Trớc khi bàn về văn học, chúng ta có cái nhìn tổng thể về nền văn hoáTrung Hoa Đây là một trong những chiếc nôi hình thành nên văn hoá cổ đại.Hai con sông lớn Trờng Giang và Hoàng Hà đã tạo điều kiện cho sự ra đời củaNhà nớc cổ đại Trung Hoa Nền văn hoá này hình thành sớm và đã có nhữngbớc nhảy vọt nhất là khi Trung Quốc phong kiến ra đời (Thế kỷ III - TrớcCông nguyên) Do là một trong những chiếc nôi văn hoá nên ở đây cũng làmảnh đất tốt góp phần tạo điều kiện ra đời của tôn giáo Với sự xuất hiện củaKhổng Tử (551 - 479 TCN) Nho giáo đợc hình thành Đây là một học thuyếtchính trị xã hội có chứa đựng nhiều t tởng triết học sâu sắc Trải qua nhữngthăng trầm lịch sử dần dần Nho giáo đợc nâng lên thành quốc giáo Không chỉ
ảnh hởng trong nớc mà Nho giáo còn lan toả ra những vùng rộng lớn: ViệtNam, Triều Tiên, Nhật Bản - những nớc cùng nền văn minh phơng Đông Là
hệ t tởng chính thống nên Nho giáo đã tác động sâu rộng tới mọi mặt trong xã
hội Trung Hoa Chẳng hạn các quan niệm "Tam cơng Ngũ th” “ ờng ” trởthành rờng cột trong các mối quan hệ gia đình cũng nh xã hội Đó không chỉ
là phơng châm sống của những ngời quân tử, kẻ sỹ mà còn chi phối tới mọingời dân thờng Nó tạo cho các quan hệ trở nên thiêng liêng hơn, có ý nghĩahơn
Do ra đời trong bối cảnh văn hoá nh vậy, nền văn học Trung Hoa đã có
những thành tựu đáng ghi nhận Chẳng hạn "Kinh thi" - bông hoa văn học đầu
tiên của Trung Quốc nhng nó cũng là đỉnh cao của văn hoá nhân loại nóichung Tiếp nối Kinh thi văn học Trung Hoa đã có những thế mạnh: phú Hán,thơ Đờng, Tống từ Sang đời Tống, nền văn học đã đạt đợc nhiều thành tựu
ở đây chúng ta chỉ giới hạn vấn đề trong lĩnh vực văn xuôi ở lĩnh vực này
các nhà văn chú trọng "đẽo chữ, gọt câu" làm cho câu văn uyển chuyển Họ a
dùng chữ đặt câu thật mới lạ, thậm chí hiểm hóc, với sự gia công ngôn từ
"Văn xuôi đời Tống so với văn xuôi Đờng cũng chẳng khác gì đồng bằng rộng
rãi so với núi cao, vực sâu" [47,9] Đó là nền văn học nặng về nghị luận mà
thiếu đi vẻ đẹp và những cảm xúc Văn xuôi các đời Nguyên, Minh, Thanh đã
kế thừa phong cách ấy
Cùng với sự phát triển của các đô thị lớn và sự lớn mạnh của tầng lớp thịdân đã xuất hiện tác phẩm văn nghệ thích ứng với thị hiếu lớp độc giả ấy vàphản ánh cuộc sống của họ Chúng ta khẳng định “Tiểu thuyết nảy sinh từ dân
gian của đời Tống là "thoại bản" hoặc "bình thoại" viết bằng khẩu ngữ “
Trang 15[47,12] Nếu không có thoại bản và bình thoại thì rõ ràng sự vận động của tiểuthuyết chơng hồi gặp rất nhiều khó khăn Xét về mặt phản ánh: đối với thơ và
từ các tác giả chủ yếu đi sâu vào tả cảnh thiên nhiên, nói chí của nhà thơ, hoặc
sự cảm thông cho chính mình Những nhà thơ lớn nh Lý Bạch, Bạch C Dị, ĐỗPhủ luôn thể hiện điều đó (mặc dù Đỗ Phủ có cái nhìn gần với cuộc sống, thơ
ông giàu tính hiện thực) Ngợc lại, tiểu thuyết bạch thoại mở rộng phạm vi
phản ánh (những đề tài mà thơ, từ cha nói đến) Ngoài ra còn đi sâu phản ánh
những đề tài vốn có trớc đây: nỗi khổ của đời sống nhân dân, tình yêu, chuyệnthần quái… để từ đó chỉ ra mối quan hệ giữa làm cho ta nhìn rõ hơn, hiểu rõ hơn về hiện thực cuộc sống Chính
sự mở rộng về đề tài và cách phản ánh là cơ sở cho việc một hình thức mớithích ứng sẽ ra đời
Về cách kể: Theo nhóm tác giả của Lịch sử văn học Trung Quốc thì:
cách miêu tả và kể chuyện trong thoại bản rất linh hoạt, tinh tế, còn trong tiểuthuyết văn ngôn thì cứng nhắc, thô thiển và gò bó Với những điều vừa điểmqua ở trên, chúng ta thấy thoại bản đời Tống đã có sự đổi mới cách tân lớn lao
về kỹ thuật Nó sẽ là những mầm mống cho sự ra đời phát triển của tiểu thuyếtMinh Thanh
Nh vậy có thể nói rằng truyền kỳ đời Đờng, thoại bản đời Tống đã gópphần quan trọng cho sự ra đời của tiểu thuyết Minh Thanh Ngoài ra qua tìmhiểu thực tế văn hoá xã hội Trung Quốc ta nhận ra rằng: thơ luôn chiếm địa vị
u tiên trên sân khấu văn học Nói cụ thể hơn thành tựu thơ ca của nhân dânTrung Quốc là rất đáng ghi nhận Trong cách t duy của mình, thể loại tự sựngay từ đầu đã bị tản văn lịch sử thao túng Chính vì thế văn xuôi tự sự h cấu(tức tiểu thuyết) xuất hiện nh là một sự bổ sung khắc phục cho thực tế đó.Cũng nhìn vào tiến trình của văn xuôi tự sự Trung Quốc ta thấy thể loại này đã
có một chặng đờng phát triển tơng đối ngoằn nghoèo Đó là từ những đoạn kểchuyện nằm tản mạn trong tản văn triết học, lịch sử Tiên Tần qua truyền kỳlãng mạn, biến văn đời Đờng đến thoại bản Tống và tiếp đó là tiểu thuyết ch-
ơng hồi Minh Thanh Nh thế tiểu thuyết Minh Thanh trở thành giai đoạn pháttriển cao nhất, rực rỡ nhất của tiểu thuyết cổ Trung Quốc
1.2 Khái niệm tiểu thuyết
1.2.1 Tiểu thuyết
ở phơng Tây: Ngời Pháp dùng "tiểu thuyết" (Le Roman) để chỉ loại tácphẩm tự sự cỡ lớn; đối với tiếng Anh tiểu thuyết đợc gọi là “Novel”; trongtiếng La tinh, tiểu thuyết đợc gọi là “Roman”
Trớc khi bàn về thể loại này chúng ta cần điểm qua một số nét về hoàncảnh ra đời của nó ở châu Âu: tiểu thuyết xuất hiện vào thời kỳ xã hội cổ đại
Trang 16tan rã (thế kỷ V) Lúc này con ngời không có nhu cầu làm chung, hởng chung
nh trong xã hội Công xã nguyên thuỷ Sự phát triển của kinh tế đã làm cho xãhội dần có sự phân hoá sâu sắc Một bộ phận ít ỏi dân c do đợc chiếm đoạt, sởhữu các quyền lợi kinh tế ngày càng giàu có lên một cách nhanh chóng; ngợclại, số đông bị tớc đoạt mất hết lợi ích trở nên nghèo hèn hơn, cuộc sống của
họ ngày càng bị bần cùng hoá Giữa tình hình ấy nhiều vấn đề của đời sốngriêng t đợc đặt ra Bởi lúc này cá nhân con ngời không còn cảm thấy lợi ích vànguyện vọng của nó gắn liền với cộng đồng Dờng nh mọi ám ảnh về sự đedoạ thờng xuyên xảy ra (các cuộc chiến tranh, cớp bóc).Theo sự phân tích củanhà nghiên cứu Bêlinxki, tiểu thuyết bắt đầu phát sinh từ lúc: Vận mệnh củacon ngời, mọi mối liên hệ của nó với đời sống nhân dân đợc ý thức Sự quantâm đời t con ngời nh một nét đặc trng của tiểu thuyết
Ta biết từ Thế kỷ V - XV, về mặt lịch sử ở châu Âu đợc xem là "đêm
tr-ờng trung cổ” Trong thời gian này tiểu thuyết châu Âu không có thành tựu gì
đáng kể
Giai đoạn tiếp theo của châu Âu diễn ra từ Thế kỷ XIV - XVI Đó là
thời điểm phong trào "Văn hoá Phục hng" diễn ra trên rất nhiều lĩnh vực: văn
học, hội hoạ, âm nhạc" lúc này nhu cầu cá nhân con ngời đợc đề cao Conngời ý thức mình nh một thực thể xã hội đợc tồn tại, đợc khẳng định Điềukiện này làm cho các mầm mống đặc trng của t duy tiểu thuyết đợc phát triểnthêm Lý tởng nhân văn là nét nổi bật Con ngời đi sâu vào tìm hiểu chính
mình Nhiều tác phẩm tiêu biểu nh: Pangtagruyen (Rabơle), Đônkihôtê
(Xevantec) đã có dịp ra đời.
Theo thời gian, đến thế kỷ XIX tiểu thuyết Châu Âu đã có bớc pháttriển Đó là những bức tranh rộng lớn về hiện thực xã hội, về cuộc sống riêng
t của con ngời Hàng loạt tên tuổi lớn nh Xtangđan, Bandắc, L.Tônxtôi,
V.Huygô với nhiều tác phẩm văn học đồ sộ đã ra đời nh Đỏ và Đen, Tấn trò
đời, Chiến tranh và hoà bình, Những ngời khốn khổ làm cho văn học giai
đoạn này phân thành hai trào lu lớn: văn học hiện thực và văn học lãng mạn.Mỗi trào lu có một cách nhìn, một thái độ riêng trong việc khám phá thể hiệncuộc sống nhng các nhà văn đã tạo nên hàng loạt hình tợng để đời
Điểm qua những mốc thời gian hình thành và phát triển của tiểu thuyếtchúng ta thấy rõ ràng tiểu thuyết đã có những bớc đi riêng Vậy tác phẩm nhthế nào thì đợc gọi là tiểu thuyết? Hiện nay định nghĩa về nó quả là không đơngiản Xin dẫn ra đây một số quan niệm
Trong tác phẩm Mỹ học, Hêghen quan niệm: tiểu thuyết là sử thi của t
sản hiện đại Quan niệm của Hêghen giúp ta cắt nghĩa các vấn đề: thứ nhất,
khái niệm "t sản" mà tác giả dùng là để chỉ xã hội t sản Đó là xã hội đợc ra
Trang 17đời sau những cuộc cách mạng ở thế kỷ XVII Xã hội ấy có những đặc điểmriêng biệt so với xã hội trớc đó về kinh tế, chính trị, t tởng Thứ hai khái niệm
"t sản" ở đây đợc hiểu theo nghĩa thị dân, sự ra đời của tầng lớp thị dân đã làm
đảo lộn cơ cấu cũng nh cơ sở hạ tầng trong xã hội đó Tầng lớp thị dân mangtrong mình những quan niệm mới về cuộc sống ở họ, với họ cuộc sống khôngyên ả, dờng nh chuyển động gấp gáp, vội vã hơn? Thớc đo của xã hội t sản làkinh tế, sự phá bỏ những hàng rào của chế độ phong kiến cổ truyền… để từ đó chỉ ra mối quan hệ giữa Cùngvới đổi thay về kinh tế, quan hệ xã hội, cơ cấu xã hội cũng biến đổi Thị dân
cũng đồng nghĩa với "con buôn" Từ đây quan hệ xã hội đợc đo bởi đồng tiền?
Tầng lớp thị dân có những nét tích cực trong suy nghĩ, thông thoáng ở t tởng
Nhng cũng chính họ dần dần đã tạo ra các giá trị "ảo" với cách nhìn cuộc đời
trên tiêu chí đồng tiền
Nếu nh Hêghen quan niệm nh trên thì Bêlinxki (nhà phê bình văn họcNga) đã có ý kiến nh sau: Tiểu thuyết là sự tái hiện thực tại với sự thực trầntrụi của nó, là xây dựng một bức tranh toàn vẹn, sinh động thống nhất Theocách nhìn của Bêlinxki ta thấy nổi lên các ý kiến sau Thứ nhất, tiểu thuyết làthể loại phản ánh cuộc sống một cách chân thực, "sự thực trần trụi " nghĩa làmột cuộc sống diễn ra với hàng loạt biểu hiện: tốt - xấu; cao cả - thấp hèn; can
đảm - nhu nhợc; vị kỷ - vị tha; nhân ái - bất nhân Nhà nghệ sỹ làm sao dựngdậy đợc, làm sống lại những "lát cắt" của thực tại Thực tại ở đây là hiện thực,
đời thờng, là muôn hình vẻ của cuộc đời Thế giới mà tiểu thuyết phản ánh làcuộc sống nhng đó phải là một cuộc sống "trần trụi" ít tô vẽ hoặc không tô vẽ.Theo ý kiến của nhà nghiên cứu, cách phản ánh của tiểu thuyết làm sao phảithật khách quan, đầy đủ, không đợc đánh bóng Cách nhìn của Bêlinxki nhắc
ta nhớ đến một trong những quan niệm nổi tiếng của Arixtốt Trong thời cổ
đại, Arixtốt đã cho rằng: văn học có thể "bắt chớc" thực tế, nhng không máymóc sao chép, mà vẫn phải khái quát sáng tạo Nhà sử học nói về những điềuxảy ra thực sự, còn nhà thơ nói về những gì có thể xảy ra Nh thế, đã là tiểuthuyết thì điều đầu tiên phải là cách nhìn cuộc sống, cách phản ánh cuộc sống.Thứ hai, tiểu thuyết "là xây dựng một bức tranh toàn vẹn sinh động thốngnhất" Bức tranh toàn vẹn nghĩa là cuộc sống đợc phản ánh trong tiểu thuyếtphải là cuộc sống đa dạng, đa sắc màu nhng có sự sáng tạo của ngời nghệ sỹ
Đó là cách nhìn tổng hợp về thiên nhiên, con ngời, phong tục tập quán, cácquan hệ xã hội nhà văn chấp nhận tất cả những cung bậc của cuộc đời,không nề hà một điều gì cả, luôn đi sâu vào mổ xẻ, khám phá Bức tranh toànvẹn sinh động thống nhất mà Bêlinxki nói tới vừa là mục đích phản ánh, lànguồn gốc của tiểu thuyết cũng nh bản chất của thể loại này Thứ ba, kháiniệm "thống nhất" ở đây có nghĩa là giữa cuộc sống thực và cuộc sống trong
Trang 18tác phẩm có sự gặp gỡ nhau Cuộc sống thực là cơ sở cho cuộc sống trong tácphẩm Sự phản ánh của ngời nghệ sỹ có thể đợc khơi nguồn từ nhiều cảmhứng, từ hàng loạt cảm xúc song bao giờ nó cũng đợc tạo nên dù ít hay nhiềubởi cuộc đời - hiện thực Tính sinh động thống nhất theo ý kiến của tác giả đó
là sự kết hợp giữa yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan trong cách phản ánh.Bởi rằng dù muốn hay không cuộc sống trong tiểu thuyết phải đợc xây dựngbởi những chuẩn mực nhận thức, thẩm mỹ của nó
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội cũng có
sự thay đổi Thế kỷ XX nhân loại đã chứng kiến hàng loạt bớc tiến của triếthọc và khoa học nhân văn Chính vì thế khoa học nghiên cứu văn học cũngdành nhiều thành tựu Trong số đó đáng chú ý là các công trình của nhànghiên cứu Xô viết M.Bakhtin Theo ông: "Tiểu thuyết là thể loại văn xuôiduy nhất luôn luôn biến đổi, do đó nó phản ánh sâu sắc hơn, cơ bản hơn, nhạybén hơn sự biến chuyển của bản thân hiện thực Tiểu thuyết về nhiều phơngtiện đã và đang báo trớc sự phát triển tơng lai của toàn bộ văn học" [5,27].ýkiến của M Bakhtin nổi lên các vấn đề sau Trớc hết, tiểu thuyết là thể loạivăn chơng đang vận động Trong lịch sử các thể loại văn học, có nhiều thể loạisau khi ra đời tồn tại một thời gian rồi vắng bóng Đó là thể loại thần thoại -
"một đi không trở lại" hoặc anh hùng ca Song cũng có những thể loại tồn tạilâu dài và ngày càng phát huy vai trò tác dụng của nó Chẳng hạn thơ trữ tình(thơ Đờng), thơ tự do Tiểu thuyết cũng nằm trong số đó Tiểu thuyết ra đời,vận động phát triển gắn với nhịp điệu của cuộc sống đô thị Lẽ dĩ nhiên, nókhông chỉ có ý nghĩa tại thời điểm đó mà trong thời kỳ sau thể loại này vẫnchứng tỏ sức sống lâu bền Cái nhìn ngày hôm qua có thể đúng với thể loạinày, song hôm nay quan niệm về thể loại tác phẩm ấy không còn nguyên giá
trị, "biến đổi" theo M.Bakhtin là sự vận động linh hoạt của thế giới hình tợng,
ngôn ngữ trong tiểu thuyết Quá trình này mang những nét đặc thù Chúng ta
sẽ trở lại vấn đề này ở phần sau Cũng theo quan niệm của M.Bakhtin, ôngnhấn mạnh nhiệm vụ, chức năng phản ánh của tiểu thuyết Những thể loại vănhọc trớc đó đều có nhiệm vụ tái tạo cuộc sống,làm sống dậy hiện thực muônmàu muôn vẻ Với tiểu thuyết, nhiệm vụ này hết sức quan trọng, cụ thể ra: làcách phản ánh sâu sắc hơn, cơ bản hơn, nhạy bén hơn sự biến chuyển của bản
thân hiện thực Muốn phản ánh "sâu sắc"," cơ bản" nhạy bén đòi hỏi tiểu
thuyết phải bao quát mọi vấn đề, mọi ngõ ngách của hiện thực Nhà văn đavào đó hàng loạt những cuộc đời và số phận con ngời Con ngời trong tiểuthuyết là con ngời đa tâm trạng, không phải là nhân vật chức năng nh trongtruyện dân gian, hoặc nhân vật anh hùng nh ở sử thi Mặt khác, tiểu thuyếttheo M Bakhtin "về nhiều phơng diện đã và đang báo trớc sự phát triển tơng
Trang 19lai của toàn bộ văn học" [5,27] Tiểu thuyết nh ta đã nói ở trên ra đời trongthời đại mới của loài ngời nên đã và đang mở ra nhiền tìm tòi cho các thể loạikhác Bản thân tiểu thuyết có thể dung nạp trong nó những yếu tố của truyệnngắn, của kịch, song điều làm cho tiểu thuyết báo trớc sự phát triển tơng laivăn học có lẽ là do đặc điểm t duy tự sự, cũng nh những quan niệm mới mẻcủa con ngời Những điểm này ở các thể loại trớc đây cha có hoặc mờ nhạt(truyền thuyết, cổ tích ).
ý kiến của những tác giả, nhà nghiên cứu giúp ta hiểu rằng: tìm cho tiểuthuyết một định nghĩa luôn là điều không tởng, giống nh mò kim nơi đáy bể.Qua việc tìm hiểu các quan niệm của những tác giả nghiên cứu phơngTây nói lên một điều: Mỗi định nghĩa về thể loại tiểu thuyết có nét riêng Nh-
ng điểm chung của các định nghĩa đã nói đợc các vấn đề: xác định tiểu thuyết
ra đời trong bối cảnh thời đại mới của lịch sử; trình bày đợc chức năng nhiệm
vụ của tiểu thuyết gắn với việc phản ánh sâu sắc cuộc sống; đồng thời nói lêntầm quan trọng của thể loại tiểu thuyết trong tiến trình văn học
ở Việt Nam, trớc 1945, Phạm Quỳnh là ngời đầu tiên bàn về tiểu thuyết
Ông cho rằng: "Tiểu thuyết là một loại truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để tảtình tự ngời ta, phong tục xã hội hay là những sự tích lạ đủ làm cho ngời đọc
có hứng thú" [40,128]
Theo Phạm Quỳnh thì chức năng của tiểu thuyết là đi sâu vào khám phácon ngời, xã hội để từ đó tạo sự hấp dẫn cho độc giả Cách định nghĩa củaPhạm Quỳnh dù còn đơn giản so với các định nghĩa trên nhng bớc đầu đã làmcho ngời đọc hiểu một cách chung về thể loại tiểu thuyết Nét mới của PhạmQuỳnh là phát hiện ra đặc điểm văn tiểu thuyết (đây là lời văn hay cách kể):văn sinh hoạt Khi nói văn tiểu thuyết là văn sinh hoạt nghĩa là tính chất quanphơng của thể loại này không có hoặc rất ít Nó chủ yếu đi sâu vào mô tả phản
ánh những mặt đời thờng; sẻ chia tâm t, tình cảm với độc giả
Tiếp theo Phạm Quỳnh, tác giả Trọng Khiêm trong lời tựa "Kim Anh lệ
sử" (1929) đã có những nhận xét về tiểu thuyết Theo ông “ Tiểu thuyết Tàu
và mấy quyển các cụ ta ngày xa viết thì tả tình nhiều mà cảnh ít; mà tiểuthuyết Tây thì tả cảnh nhiều hơn tình” hoặc “Trong tiểu thuyết ta thờng cónhững truyện huyễn hoặc, vô lý, ngời đọc sách lắm khi không chịu tin, màtiểu thuyết Tây thì phần nhiều nói những truyện có lý cả ” [40, 43]
Là một nhà văn trong trờng phái lãng mạn 1932 - 1945, tuy có quan
điểm riêng nhng Thạch Lam đợc xem là gơng mặt riêng khó lẫn lộn Ông đã
thành công trong những truyện ngắn, tuỳ bút ở tác phẩm "Theo dòng" (1941)
Thạch Lam đã có ý tởng mới khi bàn về nhân vật trong tiểu thuyết Theo ông:Tiểu thuyết không nên xây dựng nhân vật " hoàn toàn", hoàn toàn tốt, hoàn
Trang 20toàn xấu Với cách suy nghĩ này, Thạch Lam đã bắt gặp phần nào t tởng củaM.Bakhtin Điểm tơng đồng của ông và M.Bakhtin: không nên xây dựng nhânvật một chiều Cần phải phát hiện con ngời đa chiều, nội tâm phong phú.
Sau 1945, ở miền Nam xuất hiện một số nhà nghiên cứu đáng chú ý làThanh Lãng, Nguyễn Văn Trung Các học giả đó đã vận dụng quan niệm tiểuthuyết châu Âu vào Việt Nam Họ cho rằng: tiểu thuyết là truyện tơng đối dàilập ra theo tởng tợng Hoặc: Chúng tôi cho tiểu thuyết là tởng tợng nhng phảidựa vào đời sống hằng ngày Ngời đọc không dự đoán đợc bắt đầu hoặc kếtthúc ý kiến của hai tác giả trên nhấn mạnh nhà văn có quyền tổ chức tácphẩm trên cơ sở h cấu nghệ thuật, sáng tạo nghệ thuật Sự h cấu đó cũng cầnthiết song song với tính khách quan trong tác phẩm
ở miền Bắc, t duy lý luận văn học chủ yếu chịu ảnh hởng của phơngpháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, nền văn học cũng nh nghiên cứu dựatrên sáng tác và kinh nghiệm của các nớc Liên Xô, Trung Quốc (hạn chế sựtiếp xúc với t tởng phi Mác xít) Trong cách nghiên cứu có một số chỗ còncứng nhắc, không tránh khỏi những đơn điệu nếu không nói là nhàm chán, tẻnhạt Điều này diễn ra phố biến ở bình diện lý luận và sáng tác
Theo ý kiến của nhà văn Nguyễn Đình Thi trong Công việc ngời viết
tiểu thuyết: Viết tiểu thuyết là một hoá công nhỏ, viết tiểu thuyết là sáng tạo
ra một thế giới mới ý kiến của Nguyễn Đình Thi đã khẳng định: viết tiểuthuyết là công việc không dễ dàng Nói đến tiểu thuyết là nói tới sự sáng tạo,quá trình lao tâm của ngời nghệ sỹ Nó đòi hỏi sự làm việc miệt mài, cũng nhbản lĩnh ngời nghệ sỹ
Trong Thuật ngữ nghiên cứu văn học, nhóm tác giả Lê Bá Hán - Trần
Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi chủ biên khẳng định "Tiểu thuyết là tác phẩm tự
sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gianthời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bứctranh phong tục đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, táihiện nhiều tính cách đa dạng" Chúng ta có thể khẳng định đây là định nghĩatơng đối chính xác, qua đó giúp ta thấy: Thứ nhất, tiểu thuyết là tác phẩm tự
sự cỡ lớn Định nghĩa đã xác định thể loại của tiểu thuyết Nó thuộc tự sự (đểphân biệt với kịch, trữ tình) Thứ hai, chức năng của tiểu thuyết phản ánh đờisống ở mọi không gian, thời gian Nh vậy phạm vi của tiểu thuyết là vô cùngrộng rãi, nó không có giới hạn không bị chi phối hoặc kiểm soát ở khu vựcnào Chính vì điều này mà xuất hiện nhiều số phận, nhiều cuộc đời hoặc phản
ánh sinh động hiện thực lớn lao Định nghĩa trên khá bao quát, đã tổng hợp đ
-ợc những nét tiêu biểu của thể loại tiểu thuyết Chúng ta có thể lựa chọn quanniệm này
Trang 21Những điều vừa bàn trên đây về tiểu thuyết (chủ yếu là tiểu thuyết hiện
đại) Đối với tiểu thuyết Trung Quốc cách quan niệm, các ý kiến bàn bạc đánhgiá diễn ra theo hớng khác Theo Trần Đình Sử: "Trong rất nhiều tài liệu thống
kê, phân loại văn học có từ Tiên Tần cho đến đời Thanh, các thể loại văn học
có đến ba bốn trăm loại, song tiểu thuyết, truyền kỳ, chí quái, chí dị, biến văn,thoại bản, tiểu thuyết chơng hồi đều không đợc tính đến Các thể loại này phải
đến đầu thế kỷ XX mới đợc các nhà nghiên cứu văn học đa vào hệ thống thểloại văn học" [50,61]
Theo Du Quốc Ân (dẫn lại theo Trần Đình Sử) đã phân chia thể loại
nh sau:
- Thời Tiên Tần: Thần thoại, kinh thi, văn xuôi lịch sử, văn xuôi ch tử,
sở từ, ly tao, phú Thời Minh: Tiểu thuyết chơng hồi, thơ văn, hý kịch ThờiThanh: Thơ, tản văn, hí kịch, truyện ngắn, văn ngôn, tiểu thuyết chơng hồi [50,98-99]
Nh vậy tiểu thuyết chơng hồi có từ thời Minh Thanh nhng mãi tới vănhọc hiện đại mới đợc đánh giá nhìn nhận một cách khách quan
1.2.2 Tiểu thuyết chơng hồi
Lịch sử của khái niệm tiểu thuyết chơng hồi
Trong cách phân loại thể loại trung đại Trung Quốc không hề có tên tiểuthuyết, truyền kỳ Nói cách khác các thể loại văn học này bị đánh rơi rangoài hệ thống phân loại cổ điển Vì thế nó không có tên gọi thống nhất Nếu
nh so sánh với văn học phơng Tây ta sẽ thấy có điểm khác biệt Theo tác giảTrần Đình Sử: “ở phơng Tây con đờng hình thành tiểu thuyết trải qua quátrình nối tiếp: thần thoại - sử thi - kịch - tiểu thuyết” [50,334] Ngợc lại, ởTrung Quốc không có tiếp nối này Nó diễn ra theo một hớng khác Đối vớinền văn hoá Trung Hoa, tiểu thuyết xuất hiện khá sớm Thế kỷ III trớc Côngnguyên trong sách Trang tử ở "Thiên ngoại vật" cho: tiểu thuyết là ghi lạinhững câu chuyện đầu đờng xó chợ Nói cách khác bàn về thể loại tiểu thuyết
chỉ những lời vụn vặt Trong Hán chí: “Tiểu thuyết đứng hàng thứ 10 trong lục
nghệ đợc ghi danh 15 nhà với 1.380 thiên nhng nội dung nói gì thì đến nay ít
ai biết đợc” [50,334] Nhìn chung tiểu thuyết cùng họ với lịch sử: ghi chép lặtvặt tai nghe mắt thấy để cung cấp sử liệu
Khi lý giải nguồn gốc hình thành tiểu thuyết ở Trung Quốc có các quanniệm sau:
Thứ nhất: cho tiểu thuyết Trung Quốc bắt đầu từ các truyện dân gian
đ-ợc su tập, vận dụng trong các ch tử đặc biệt là trong Sơn hải kinh, Mộc thiên
tử truyện Thứ hai: xem ngụ ngôn là nguồn của tiểu thuyết Thứ ba: hình thức
Trang 22tiểu thuyết bắt nguồn từ hình thức sử truyện Sử ký của T Mã Thiên hoặc Tả
truyện [50,334].
Trong các quan niệm này quan niệm thứ ba có cơ sở Bởi vì các nhà tiểu
thuyết vay mợn tên thể loại của sử để đặt cho văn học Ta có thể kể Thủy hử
truyện, Tây du ký.v.v Các khái niệm "diễn nghĩa", "chí ", "lục" đều liên
quan tới lịch sử và việc chép sử Sau đó nó đợc dùng để đặt tên cho thể loạivăn học Nh vậy tên gọi hình thức tiểu thuyết Trung Quốc bắt nguồn từ sách
sử Để phân biệt tiểu thuyết với lịch sử tác giả Bùi Hàng đời Đờng gọi: “Tiểuthuyết là truyền kỳ” [50,335] Đến thời cận đại với tác giả Nghiêm Phục, L-
ơng Khải Siêu quan niệm tiểu thuyết có thay đổi ở tạp chí Tân tiểu thuyết những ngời này hô hào làm tiểu thuyết để đổi mới đất nớc "phiên dịch, giới
thiệu tiểu thuyết phơng Tây" [50,336] Lúc này, hai chữ tiểu thuyết mới mang
nội dung hình thức mới nh ngày nay ta dùng Từ đó ngời ta nhất loạt dùng hai
chữ "tiểu thuyết " để chỉ các tác phẩm tự sự cổ điển.
Tên gọi "tiểu thuyết chơng hồi" là khái niệm hẹp và nhỏ hơn so với khái
niệm tiểu thuyết Bởi vì ta có thể dùng tên gọi "tiểu thuyết" với nội hàm mới
để chỉ bất cứ tác phẩm tự sự nào có tính nghệ thuật Nói cách khác tiểu thuyết
đợc chia ra: tiểu thuyết chí quái, tiểu thuyết chí nhân, tiểu thuyết truyền kỳ.Theo nhà văn Lỗ Tấn đồng thời là nhà nghiên cứu văn học, ông chia tiểuthuyết Trung Quốc thành tiểu thuyết trung đại, tiểu thuyết hiện đại Tiểu thuyếttrung đại gồm: tiểu thuyết ở dạng chí nhân chí quái (thế kỷ III-VI) thời NgụyTấn, Nam Bắc Triều Chữ "chí" ở đây nghĩa là rất nhiều yếu tố hoang đờng của
kỳ, quái, dị Tất nhiên cách hiểu "kỳ" và "quái" có sự khác nhau Khi nói “kỳ”:
chỉ cái ảo, cái thần kỳ cha vợt khỏi ngỡng nhận thức, nó vẫn phản ánh hiệnthực; còn “quái”: yếu tố kỳ vợt quá ngỡng, đi đến khó tin
Thế kỷ VII - IX: xuất hiện các truyền kỳ đời Đờng Những tác phẩm này
có vận dụng nhiều yếu tố kỳ ảo nhng đã phần nào gắn với hiện thực đời sống.Truyền kỳ đời Đờng phê phán thói h tật xấu hoặc thể hiện khát vọng bình
đẳng trong xã hội; khẳng định các phẩm hạnh cá nhân Những tác phẩm này
dài hơn, tính nghệ thuật cao hơn, nó để lại các dấu ấn cho đời sau: Lý Oa Oa
truyện (Bạch Hành Giản), Oanh Oanh truyện (Nguyên Chấn) Cũng trong thời
gian này, bắt đầu xuất hiện các tác phẩm tiểu thuyết chịu ảnh hởng của t tởngLão Trang: cho đời là giấc mộng, là khói sơng
Thế kỷ XII - XIII: Giai đoạn nở rộ của các thoại bản thời Tống Do kinh
tế đời Tống khá phát triển, hình thành đô thị và tầng lớp thị dân; cũng vì vậyxuất hiện tầng lớp nghệ nhân - nghệ sỹ chuyên nghiệp Họ chuyên kể chuyện
để phục vụ cho thị dân Họ kể các chuyện đã lu truyền trong nhân dân Bằngcách kể hay, lôi cuốn, họ tạo cho ngời nghe sự hấp dẫn Vì thế nghệ thuật kể
Trang 23chuyện đã ngày càng đợc cải thiện Câu chuyện đợc chia thành nhiều đoạn.Mỗi đoạn đợc kể trong một đêm Khi diễn biến lên đến cao trào ngời ta dừnglại Chính cách kể chuyện này góp phần tạo ra nguồn gốc của tiểu thuyếtMinh Thanh.
Thời kỳ xuất hiện tiểu thuyết chơng hồi Minh Thanh: đây là giai đoạnphát triển rực rỡ với hàng nghìn các tác phẩm lớn nhỏ khác nhau Tiểu thuyếtchơng hồi đợc xem là đỉnh cao của tiểu thuyết trung đại Trung Quốc Tuy là đỉnhcao nhng sự phân chia thể loại này cha đợc thống nhất (nh đã nói ở phần trên)
Nh vậy, tiểu thuyết chơng hồi là sản phẩm của văn học trung đại Nóxuất hiện trong điều kiện lịch sử riêng khác với tiểu thuyết nh các nhà hiện đạiquan niệm Vậy tiểu thuyết trung đại và tiểu thuyết hiện đại có gì khác nhau? Theo ý kiến của các nhà nghiên cứu sự khác nhau nằm ở những mặt sau:Xét về thành phần chính của tiểu thuyết ở tiểu thuyết trung đại: vai tròchính dồn lên cốt truyện Cốt truyện lấn át nhân vật Chẳng hạn, nhân vật ĐiêuThuyền nàng chỉ xuất hiện khi quan T Đồ than phiền về cơ đồ nhà Hán đếnkhi Lã Bố giết Đổng Trác Sau đó ngời ta không kể về nhân vật Điêu Thuyềnnữa Ngợc lại, tiểu thuyết hiện đại vai trò nhân vật tăng lên, vai trò cốt truyện
bị mờ đi Nhân vật mới là tấn lịch sử chính của tiểu thuyết Sang thế kỉ XX cốttruyện gần nh không quan trọng Vai trò của yếu tố ngoài cốt truyện pháttriển Biểu hiện ở việc: xuất hiện bình luận trữ tình ngoại đề; tả nhiều về thiênnhiên; miêu tả đồ vật môi trờng; đặc biệt đi sâu phân tích tâm lý trực tiếp Mỗinhà tiểu thuyết hiện đại đồng thời cũng là nhà tâm lý tuyệt vời khi giải mãnhững cung bậc tâm trạng của nhân vật
Ngoài ra, sự khác nhau tiếp theo: xóa bỏ khoảng cách giữa ngời trầnthuật và nội dung trần thuật hay xoá bỏ khoảng cách sử thi Nếu nh trong tiểuthuyết trung đại cách kể chuyện giữa ngời trần thuật và nội dung trần thuậtkhoảng cách xa thì ngợc lại trong tiểu thuyết hiện đại có xu hớng kéo gầnnhân vật lại
Điểm khác nhau thứ ba nữa là: nhân vật trong tiểu thuyết trung đại vàhiện đại
Nhân vật tiểu thuyết hiện đại thờng là con ngời nếm trải Con ngời ấykhông những chỉ biến đổi bề ngoài mà còn thay đổi trong nhận thức và t duy
Đó là những con ngời có thế giới nội tâm hết sức phong phú, phức tạp "Nếmtrải" nghĩa là bản thân họ đợc cuộc đời dạy dỗ mách bảo Họ sẽ va đập vớinhiều tính cách trong hàng loạt môi trờng khác nhau Sự nếm trải làm chonhân vật tiểu thuyết trở nên sâu sắc hơn, già dặn hơn? Trong một nhân vật tiểuthuyết có thể là xấu- tốt, con ngời - ma quỷ, cao thợng- thấp hèn đan cài lẫnnhau Điều này trái ngợc với nhân vật trong tiểu thuyết trung đại Hầu hết
Trang 24nhân vật trong tiểu thuyết trung đại là cực đoan: hoặc là tốt hoặc là xấu Chỉmột ít nhân vật trong tiểu thuyết trung đại đạt đợc sự phức tạp này (Tào Tháo
trong Tam Quốc, hoặc Nguyễn Hữu Chỉnh ở Hoàng Lê nhất thống chí).
Nh vậy tiểu thuyết chơng hồi là sự kế thừa các thể loại trớc: truyện kểdân gian, các thoại bản chính vì thế nó có những nét khác so với tiểu thuyếthiện đại Điểm riêng của tiểu thuyết chơng hồi biểu hiện cụ thể nh sau: xét vềmặt kết cấu: theo từng hồi, mỗi hồi kể một sự việc họăc một số hồi xâu chuỗithành một sự việc
Về mặt cốt truyện: trong tiểu thiểu chơng hồi cốt truyện giữ vai tròtrung tâm chủ yếu Mọi hành động diễn ra đều nhằm phục vụ cho cốt truyện.Mỗi hồi đôi khi là một chuyện, có khi một nhóm hồi kể một câu chuyện trọnvẹn Và bao giờ cả bộ tiểu thuyết cũng kể cho ta một câu chuyện thống nhất,
đầu đuôi tơng thông: câu chuyện Tây Trúc lấy kinh (Tây du ký), câu chuyện tụ nghĩa ở Lơng Sơn Bạc (Thủy hử), câu chuyện giấc mộng lầu hồng (Hồng lâu
mộng), câu chuyện làng nho (Nho lâm ngoại sử)
Về đề tài: Tiểu thuyết chơng hồi có đề tài tơng đối phong phú, nổi lên
là đề tài chiến tranh; tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến
(Tam quốc chí diễn nghĩa); đề tài tình yêu, hạnh phúc con ngời-lễ giáo phong kiến (Hồng lâu mộng), đề tài phản phong ca ngợi khát vọng tự do công lý (Thủy hử) Đó là những đề tài liên quan đến vận mệnh quốc gia,
dân tộc số phận con ngời trong cái chung đó
Về cảm hứng: cảm hứng yêu nớc lịch sử ngợi ca những con ngời có
đóng góp lớn lao đối với sự nghiệp chung (Tam quốc chí diễn nghĩa) hoặc
phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp của tầng lớp nông dân, chiến tranh nông dân
trong xã hội phong kiến (Thủy hử) đồng thời ngợi ca những lãnh tụ nông dân
có công lao trong cuộc đấu tranh đó
Nhân vật trung tâm trong tiểu thuyết chơng hồi là những mẫu ngời về
đạo đức phong kiến: trung quân, trọng phu, liệt nữ đó là những ngời tậntrung với vua, có hiếu với cha mẹ Nhân vật thờng thể hiện các chuẩn mức đạo
đức: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín
Về mặt thi pháp: tính chất quy phạm phát triển đến chỗ cực đoan Ngônngữ thờng đợc trau truốt Nhà văn a dùng và hay dùng điển tích, điển cố Tínhchất quy phạm của mĩ học phong kiến còn biểu hiện ở kết cấu song tuyến, lốivăn biền ngẫu, hình thức cân đối Tính chất hoàn chỉnh này đợc thực hiệnthông qua cách kết cấu theo trình tự thời gian Các nhà văn tuân thủ quy tắc nàymột cách nghiêm nhặt Ta sẽ thấy rõ hơn điều này khi đi sâu tìm hiểu vấn đề ởchơng 2,3
Trang 25Tiểu thuyết chơng hồi có yếu tố lịch sử nhng cũng mang sự sáng tạo hcấu Sự ra đời và phát triển của nó đã có đóng góp to lớn: tạo cho kho tàng vănhọc Trung Quốc một khối lợng tác phẩm đồ sộ, giàu ý nghĩa; làm cho diệnmạo văn học Trung quốc có bề dày Hơn nữa sự ra đời của thể loại này là cơ
sở để các nhà nghiên cứu văn học đi sâu vào khảo sát, phát hiện khám phá thểloại tiểu thuyết (nhất là tiểu thuyết hiện đại) Nó bổ sung cho ngành lý luậnnhững cấp độ về khái niệm tự sự học
động và hoạt động Loại thứ nhất là tự sự, loại thứ hai là trữ tình, loại thứ ba làkịch" [31,348] Bêlinxki cho rằng: "thơ (tức văn học - Trần Đình Sử) chỉ có baloại ngoài ra không có loại nào nữa và cũng không thể có hơn" [31,348] Hìnhthức tự sự dân gian đã xuất hiện ở Trung Quốc với nhiều thể loại: thần thoại,ngụ ngôn ở Việt Nam chúng ta có các hình thức tự sự trong văn học dângian nh thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích Vậy thế nào là tự sự?
Tự sự: nghĩa là kể lại sự việc và con ngời; diễn biến của các hành động.Nói cách khác, tự sự có mục đích giao tiếp là trình bày diễn biến sự việc Tự
sự là một trong ba phơng thức diễn đạt t tởng, t duy của con ngời Tác phẩm tự
sự phản ánh cuộc sống thông qua tính khách quan của nó Để phản ánh cuộcsống một cách khách quan, tác phẩm tự sự chú trọng đến đời sống con ngờiqua các biến cố, sự kiện xẩy ra với nó Từ đó thể hiện những nét thuộc bảnchất con ngời Nhà văn tự sự tái hiện toàn bộ thế giới xung quanh, nên tự sự cókhả năng phản ánh cuộc sống một cách bao quát rộng lớn Con ngời trong tácphẩm tự sự đợc miêu tả trong nhiều quan hệ phức tạp giữa nó và môi trờngxung quanh Vì thế nhân vật tự sự đợc khắc hoạ đầy đặn, nhiều mặt nhất hơnhẳn nhân vật trữ tình và kịch
Tự sự lịch sử gồm hai khái niệm nhỏ "tự sự '' và "lịch sử " ở đây, sử là
ngời ghi việc có thật Tự sự lịch sử cũng là hình thức kể lại sự việc Những sựviệc đợc kể ở đây có gốc gác từ lịch sử, bắt nguồn từ lịch sử Tự sự lịch sử kếthợp từ phơng thức kể và các sự kiện lịch sử Chính vì thế, theo ý kiến của tácgiả Trần Đình Sử bên cạnh nhà thơ ngôn chí là kiểu tác giả nhà văn tự sựmang mẫu hình gần gũi với nhà sử học [50,123]
Tên gọi các tác phẩm văn xuôi và tự sự Việt Nam thờng có yếu tố
"chích quái", "diễn chí ", "mộng lục", “kí sự ", nhất thống chí“ " đó là những
Trang 26yếu tố thuộc tên gọi của sử học Văn học tự sự Việt Nam đợc sinh ra trên cơ
sở văn chơng lịch sử nớc nhà Thể loại truyền thuyết trong văn học dân gian
(Con Rồng cháu Tiên, Thánh Gióng, Sơn Tinh Thuỷ Tinh ) đều mang bóng
dáng của lịch sử
Tự sự lịch sử chính là sự kết hợp nhuần nhuyễn văn với sử Nhà sử họccoi trọng kể lại có đầu đuôi thời gian, niên đại, địa điểm, hành động của nhânvật Để làm điều đó thành công tác giả văn học đã sử dụng tài liệu truyềnthuyết dân gian kết hợp với tởng tợng, cảm thụ, nhận xét đánh giá Nh vậy rõràng sự kiện không đơn thuần là sự kiện mà đã lồng vào đó thái độ của ngờiviết Điều này giải thích vì sao các nhà lịch sử xa đã dựng lên cuộc sống cụthể, cặn kẽ, nh một bức tranh sinh động Đối với tự sự lịch sử ở đây sử học vàvăn học hình thành mối quan hệ thân mật, qua lại giữa hai chiều ở Trung
Quốc tác phẩm sử học nổi tiếng: Sử ký, Tả truyện đồng thời là tác phẩm văn
học bất hủ - nổi tiếng muôn đời Tự sự lịch sử còn thể hiện cội nguồn tính chấtvăn-sử bất phân trong văn học trung đại Ngợc lại với thời gian, ở văn học ViệtNam trong sáng tác truyền thuyết đã có sự kết hợp giữa sử học với nghệ thuật
một cách ngẫu nhiên (Truyện Con Rồng cháu Tiên, Thánh Gióng ).
Từ những điều đã nói trên chúng ta khẳng định: tác giả sử học là nguyênmẫu kiểu tác giả tự sự trung đại Tuy rằng tác giả văn học tự sự không đồngnhất với tác phẩm lịch sử (họ thiên về ghi việc ngoài chính sự) Nhng trong họ
dấu ấn nhà lịch sử vẫn có mặt, xuất hiện có khi lại trở nên sâu đậm.
Tự sự lịch sử cũng giải thích vì sao trong văn học trung đại nhiều nhà lýluận cho lịch sử là một câu chuyện văn chơng Tác giả Serling xem quá khứ là
nghệ thuật lịch sử ăng ghen khẳng định: Lịch sử thế giới là một nàng thơ vĩ
đại [50,125] Tự sự lịch sử chính là sự thể hiện sinh động của kiểu tác giả văn
sự bất phân, văn sử bổ sung cho nhau - là tiêu biểu nhất mà chúng ta gặp ở vănhọc trung đại Việt Nam
1.2.4 Ngôn ngữ tiểu thuyết và lời văn tiểu thuyết
Càng đi vào tìm hiểu thể loại tiểu thuyết chúng ta càng không thể bỏqua ngôn ngữ tiểu thuyết Điều dễ nhận ra là ngôn ngữ tiểu thuyết là ngôn ngữ
văn chơng nên nó mang đầy đủ đặc trng cửa ngôn ngữ văn chơng (tính chính
xác, gợi cảm, hình tợng, thẩm mỹ )
Song bên cạnh đó ngôn ngữ tiểu thuyết có nhiều điểm riêng
Theo quan điểm M.Bakhtin: tiểu thuyết có đặc điểm tính đa thanh, tính
đối thoại phức điệu Điều này thể hiện ở chỗ trong tác phẩm có các lớp ngônngữ đan xen: thổ ngữ, phơng ngữ, ngôn ngữ dân tộc, ngôn ngữ La tinh Từ đótiểu thuyết thiết lập quan hệ mới giữa ngôn ngữ và thế giới thực tại Vậy là
Trang 27ngôn ngữ tiểu thuyết dung nạp nhiều loại, kiểu ngôn ngữ nhỏ trong nó: có cả
sự trau chuốt gọt giũa lại đồng thời đa vào nhiều biệt ngữ, tiếng lóng
Về mặt lời văn: trong tiểu thuyết là lời văn đa phong cách Nhà văn cóthể đa vào tác phẩm của mình ngôn ngữ đời thờng, trần tục, gần gũi với lời ăntiếng nói hàng ngày Theo quan niệm của M Bakhtin thì chất văn xuôi làngổn ngang bề bộn; nó tái hiện tất cả cuộc sống có thể là thanh cao, trangtrọng cũng có khi là trần tục, thấp hèn Chính vì thế ngôn ngữ tiểu thuyết giàuchất văn xuôi, tác phẩm sẽ thành công Ngợc lại ngôn ngữ giàu chất thơ thì màusắc tiểu thuyết sẽ mờ nhạt, giảm đi đáng kể
Những điều vừa nói ở trên cho chúng ta nhận ra một điều: do bản chấtcủa thể loại nó tạo ra lời văn, cơ chế hoạt động của lời văn trong tiểu thuyết
Đó là lời văn mở, chấp nhận mọi kiểu ngôn từ (trang trọng, thông tục, trauchuốt, tiếng lóng) miễn làm sao thể hiện đợc vấn đề mà nhà văn quan tâm.Lời văn của tiểu thuyết chơng hồi luôn gắn với ngời kể Ngời kể đó làtác giả Tác giả kể lại chuyện mình đã biết trớc, đã có trong truyền thống vănhọc dân gian Vì thế chủ yếu là kể lại những điều đã đợc chứng kiến Cách
kể này xuất phát từ quan điểm văn học trung đại Văn học trung đại không chú ýnhiều đến sự sáng tạo h cấu mà chủ yếu là học tập ngời xa Chuẩn thẩm mỹ củavăn học trung đại là hớng về điều đã qua, cái đã xẩy ra, quá khứ Vì thế việc saochép bắt chớc ngời xa là điều phổ biến Vấn đề này tạo cho văn học sự sùng
cổ, chú trọng quá khứ Tiểu thuyết chơng hồi còn đợc kể bằng cách nối tiếpgiữa các hồi bao giờ cũng là những câu văn mang ý khái quát, nói chung vềvấn đề diễn ra Nói cách khác, tác giả kể theo phơng pháp diễn dịch là chủyếu
ở Tam quốc chí diễn nghĩa:
Hồi 1: Ba hào kiệt vờn đào kết nghĩa
Một chiến công yêu tặc tan tành
Hồi 2: Trơng Phi nổi giận đánh đốc bu
Hà Tiến lập mu trừ yêm hoạn
Hồi 120: Tiến Độ Dữ tớng già dâng kế mới
Thu Đông Ngô ba nớc về một nhà
ở Hoàng Lê nhất thống chí:
Hồi 1: Đặng Tuyên Phi đợc yêu dấu đứng đầu hậu cung
Vơng Thế tử bị truất ngôi ra ở nhà kínHồi 2: Lập điện đô, bảy quan nhận di chúc
Giết Huy Quận ba quân phò Trịnh Vơng
Trang 28Tự sự phân tích trên ta đi đến những kết luận sau:
1- Tiểu thuyết là khái niệm đang có nhiều ý kiến, quan niệm Bản thân nó làluôn luôn mở cho ngời nghiên cứu Tiểu thuyết chơng hồi là một dạng của tiểuthuyết
2- Tiểu thuyết chơng hồi có quan hệ gắn bó với lịch sử
3- Trung Quốc là quê hơng của tiểu thuyết chơng hồi
Trung Quốc cũng nh Việt Nam, văn xuôi xuất hiện muộn so với thơ Với ViệtNam: Thế kỷ X đến thế kỷ XI bắt đầu xuất hiện văn xuôi chữ Hán dới dạng thần
phả kể đến các tác phẩm Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái Thế kỷ XV trở đi văn xuôi chữ Hán có nhiều thành tựu đáng chú ý là: Truyền kỳ mạn lục,
Thánh Tông di thảo Thế kỷ XVII đến XIX là thời kỳ nở rộ hàng loạt truyện Nôm.
Cũng ở chặng này đã ra đời nhiều tác phẩm chữ Hán dài hơi trong đó có Hoàng Lê
nhất thống chí Tên gọi của tác phẩm này cha thống nhất.
Nguyễn Huệ Chi cho đây là truyện lịch sử
Thanh Lãng cho tiểu thuyết chơng hồi
B.L.Riftin cho là tiểu thuyết lịch sử
Mỗi cách gọi, cách quan niệm có những nét riêng Nếu gọi nh NguyễnHuệ Chi thì tính chất lịch sử là nổi bật Tác phẩm sẽ đợc hiểu là kể về lịch sử(truyện: vốn là một thể loại của lịch sử) ý kiến của Thanh Lãng có lý, bởi vìmô hình mà nhóm tác giả xây dựng chủ yếu là học tập thành tựu của thể loạitiểu thuyết chơng hồi Thế nhng, nếu xét về quy mô và dung lợng thời gian thìchuyện xẩy ra ở đây chiếm thời gian ngắn 27 năm Tác phẩm chỉ có 17 hồi
Dung lợng của tiểu thuyết chơng hồi là rất đồ sộ, vĩ đại (Tam quốc chí diễn
nghĩa - 120 hồi; Tây du ký 100 hồi; Hồng lâu mộng: 120 hồi) Rõ ràng những
điều này chứng tỏ tiểu thuyết chơng hồi bao giờ cũng chứa nội dung lớn, tầm
vóc khái quát, nhân vật đa dạng Nếu ta quan niệm Hoàng Lê nhất thống chí là
tiểu thuyết chơng hồi thì quy mô của nó không thể so bì đợc với tiểu thuyếtchơng hồi Trung Quốc
Nh vậy, thể loại của Hoàng Lê nhất thống chí nếu là Tiểu thuyết lịch sử
thì nó thiên về lịch sử, sự kiện Điều quan trọng hơn là tính khách quan, chínhxác của diễn biến lịch sử Ngời viết không có quyền h cấu và sáng tạo, thêm
thắt các diễn biến Tính khái quát đợc đặt lên hàng đầu Nhng đọc Hoàng Lê
nhất thống chí ta thấy nhà văn trong ý nghĩ thì viết chủ quan nhng ngòi bút lại
chẳng phải nh vậy ít nhiều nó đã đột phá, xuất hiện hình ảnh con ngời cánhân với tâm sự riêng (điều này nhà tiểu thuyết lịch sử ít chú ý) Ngời đọc đã
chứng kiến cách ứng xử của Nguyễn Trang khi ông nói rằng "Sợ thầy không
bằng sợ giặc; quý chúa không bằng quý thân" [42,109] Chỉ với một câu nói
ấy thôi nhng trong mắt của Nguyễn Trang đã toát lên nhu cầu đề cao bản thân
Trang 29mình, ớc mơ khát vọng của chính mình Những biểu hiện của t tởng trungquân đã dần dần bị vứt bỏ Hoặc ta còn sẻ chia với nỗi niềm của Nguyễn Huệkhi kết duyên với Ngọc Hân công chúa
Theo chúng tôi có thể xem Hoàng Lê nhất thống chí là một cuốn tiểu
thuyết sử thi Bởi rằng trong câu chuyện ta thấy vận mệnh toàn xã hội toàn đấtnớc đợc phản ánh vào đó Tác giả đa ngời đọc thấy sự suy vong của họ Trịnh,bất lực của vua Lê nhng chủ yếu miêu tả hoạt động của vua Tây Sơn: đánh
đuổi tập đoàn phong kiến, chống xâm lợc ngoại bang để thống nhất đất nớc
Âm vang hào hùng của tác phẩm chính là khí thế của tầng lớp nông dân Việt
Nam trong việc chống xâm lợc, cờng quyền Hoàng Lê nhất thống chí mặc dù
có tính chất sử thi nhng không đậm nét nh Tam quốc chí diễn nghĩa ngợc lại
tính chất đời t, thế sự càng nổi bật
Truyện trung đại viết bằng chữ Hán của Việt Nam rõ ràng có sự ảnh
h-ởng của văn học Trung Quốc Trong số đó tiểu thuyết sử thi Hoàng Lê nhất
thống chí cũng không phải là ngoại lệ Từ cách tổ chức tác phẩm đến xây
dựng nhân vật.v.v đều là sự học tập của tiểu thuyết Trung Hoa Do vậy giữahai tác phẩm này có sự tơng đồng Trong đề tài này chúng tôi sẽ khảo sát néttơng đồng cũng nh những khác biệt giữa hai tác phẩm nêu trên
Trớc hết nh ta biết, Tam quốc chí diễn nghĩa là tác phẩm gắn với tên
tuổi La Quán Trung- (1330?- 1400?) Ông sinh ra đời Nguyên mất đầu đờiMinh Quá trình phấn đấu, sáng tác của ông gắn liền với thời đại đầy biến
động Đó là thời đại mà mâu thuẫn dân tộc và giai cấp phát triển cực kỳ gaygắt và phức tạp Ông là ngời có hoài bão chính trị lớn lao nhng không thành
Là một trí thức phong kiến, ít nhiều tác giả thấu hiểu hiện thực Đây là cở sởgiúp nhà văn có cách nhìn để phản ánh trong tác phẩm Trong xã hội này cùngvới nội chiến (khởi nghĩa nông dân, phong trào phản kháng có tính chất quầnchúng lan tràn khắp nơi) là việc quân Minh mở rộng các cuộc chiến tranh xâm
Trang 30lợc thôn tính bên ngoài Hiện thực nh vậy đã cung cấp cho nhà văn một cáchnhìn, một quan niệm riêng
Hoàng Lê nhất thống chí gắn với tên tuổi nhóm Ngô gia văn phái Bối
cảnh mà tác phẩm phản ánh diễn ra ở thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Đó là thời
kỳ có nhiều biến động Hoàn cảnh đặc biệt của lịch sử đất nớc ta lúc này là:một vua hai chúa (vua Lê, chúa Trịnh- Nguyễn) Đây là hiện tợng độc đáo củalịch sử phong kiến Việt Nam Thời kỳ này diễn ra cuộc chiến tranh Trịnh -Nguyễn, tranh giành quyền lực giữa vua Lê- Chúa Trịnh Việc tranh giành
giữa các tập đoàn phong kiến có thể xem là cảnh "nồi da nấu thịt", gây nên sự
tàn khốc, tiêu điều bởi lẽ đều bất phân thắng bại Từ tình hình đó nó gợi cho tanhớ đến việc một triều vua mà trong đó vua là bù nhìn; quyền hành rơi vào taymột tập đoàn khác nh tể tớng, hoạn quan, ngoại thích trong lịch sử Trung
Quốc Đọc Tam quốc chí diễn nghĩa ta có quyền nghĩ đến chúa Tào Tháo bên
cạnh vua Hán ở Hứa Đô
Trong lúc các tập đoàn phong kiến tìm mọi cách để tranh dành lẫn nhau thìnông dân là lực lợng bị lôi vào quỹ đạo chiến tranh vô nghĩa này Chính vì thế tinhthần phản kháng chống áp bức cờng quyền của họ lớn mạnh hơn bao giờ hết Giữabối cảnh đó, đợc tập hợp bởi ngọn cờ chính nghĩa họ đã đứng lên lật đổ áp bức
bóc lột Xã hội trong Hoàng Lê nhất thống chí là bức tranh hiện thực với sự
xuất hiện hàng loạt mâu thuẫn: mâu thuẫn giữa vua Lê - chúa Trịnh; chúaTrịnh- chúa Trịnh; mâu thuẫn giữa nông dân với các tập đoàn phong kiến
Vậy là bối cảnh xã hội cho sự ra đời của Hoàng Lê nhất thống chí và
Tam quốc chí diễn nghĩa giống nhau ở chỗ: thời đại có biến động, xuất hiện
mâu thuẫn sâu sắc trong lòng xã hội Chính bởi đợc nảy sinh trong chế độphong kiến đang chứa đầy bất công nên các tác phẩm chịu sự chi phối củahiện thực đời sống Bởi rằng văn học thuộc kiến trúc thợng tầng; dù muốn haykhông nhà văn đều mang những đặc điểm quy định của thời đại, dân tộc Mỗicá nhân dù ít hay nhiều khó thoát khỏi sự chi phối của cái chung ấy
Ngoài bối cảnh đã nói ở trên, cũng nh mọi dân tộc khác trên thế giới,trong quá trình hình thành và phát triển đất nớc, lịch sử Việt Nam diễn ra bởidựng nớc đi đôi với giữ nớc Là một quốc gia nhỏ luôn phải đối mặt với cácthế lực ngoại bang hùng mạnh một nghìn năm Bắc thuộc, Pháp, Mỹ, nên đấtnớc ta phải đặt cho mình những sự lựa chọn (có thể là ngoài ý muốn) Chúng
ta phải tiến hành cuộc chiến đấu lâu dài, ngoan cờng để giành độc lập dân tộc
Đó là cuộc chiến đổi bằng máu xơng và hàng loạt sự mất mát Mặt khác, cha
ông ta lại tiếp nhận nền văn hoá của chính kẻ đi xâm lợc mình để tạo nên sứcmạnh và bản lĩnh riêng của dân tộc Sức mạnh và bản lĩnh ấy có thể giúpchúng ta chống lại sự đồng hoá của nớc lớn Điều này đã tạo cho con ngời
Trang 31Việt Nam hệ quả: sự chọn lựa trong việc tiếp nhận văn hoá ngoại lai Đó làmột điều bắt buộc Song cũng chính vì thế, tạo nên sự khúc xạ riêng, làm chonền văn hoá Việt Nam luôn luôn phải cộng sinh, thích nghi với các nền vănhoá lớn nhất của thời đại.
Theo tác giả Phạm Đức Dơng nớc ta có quá trình tiếp xúc Văn hoá đặcbiệt Quá trình này diễn ra song song Một mặt, ta tiếp xúc với văn hoá TrungHoa; mặt khác chịu ảnh hởng của văn hoá ấn Độ “Quá trình tiếp xúc với vănhóa Trung Hoa và ấn Độ đã biến một Việt Nam đa sắc tộc thuộc cơ tầng vănhoá lúa nớc Đông Nam á thành một quốc gia cổ đại đa dân tộc, có nền vănhoá dân tộc vừa gắn với Đông á (các nớc chịu ảnh hởng văn hoá Trung Hoa)vừa gắn với Nam á (các nớc chịu ảnh hởng của văn hóa ấn Độ)” [11,317].Chính vì thế lợi thế của Việt Nam: “Có thể là nơi hội tụ của các nền văn minhlớn ở châu á vừa Đông á vừa Nam á trong đó ảnh hởng của văn hoá TrungHoa là nổi trội” [11,317]
Nh vậy, ảnh hởng của văn hoá Việt Nam (trong đó có văn học) là sự tác
động của những nền văn minh lớn Thời gian mà chúng ta chịu sự tiếp xúc nàythật dài lâu: 1000 năm Bắc thuộc (cha tính đến thời gian Cổ đại trớc đó) Saunày, mặc dù khi dân tộc ta đã từng bớc vơn lên để tự khẳng định thì sự đốichọi này vẫn kéo dài: thời Tống, Nguyên, Minh, Thanh Có thể nói, nếukhông có sự giao lu nh vậy về mặt văn hoá thì nền văn học dân tộc ta cũng sẽthiếu đi những giá trị Bởi rằng trong quá trình giao lu chúng ta vừa đợc nhận
ảnh hởng sẽ làm phong phú thêm giá trị và cũng có thể sáng tạo những yếu tốmới hợp với tâm lý dân tộc
Nền văn học trung đại Việt Nam nh ta biết là nền văn học ra đời tơng
đối muộn (tính từ thế kỷ X- XIX) Trong nền văn học ấy chúng ta đã có nhiềuthể loại ảnh hởng từ văn học Trung Hoa: thơ Đờng; phú, hịch, cáo, chiếu,biểu đặc biệt là tiểu thuyết
Cũng cần nói thêm rằng, là một nớc có nền văn hoá lâu đời ở châu á,Trung Hoa đã thể hiện sự ảnh hởng của mình không chỉ với Việt Nam mà cònNhật Bản, Hàn Quốc, hoặc các nớc khác Thái Lan, Cămpuchia ở Đông Nam
á Rõ ràng, quy luật giao lu văn hoá là một hiện tợng liên tục bình thờng Quathực tế lịch sử văn minh nhân loại chúng ta nhận ra một điều đơn giản rằng:mọi quốc gia bất kể lớn, bé; hình hành sớm, muộn đều có những đóng gópriêng cho văn hoá nhân loại (tuỳ theo đặc điểm riêng của mỗi nớc) Quá trìnhtiếp nhận này sẽ diễn ra hai cấp độ Cấp độ thứ nhất là việc mình nhận ảnh h-ởng từ văn hoá nớc khác; cấp độ thứ hai bản thân dân tộc quốc gia ''cho'' nhữnggiá trị khác Quá trình này chứng tỏ mỗi nớc đều đợc hấp thu văn hoá bên ngoài
và phát huy văn hoá của riêng mình
Trang 32Bên cạnh bối cảnh lịch sử và quá trình tiếp xúc văn hoá, ngời Việt Nam
ta luôn có sự sáng tạo Trong quá trình tiếp xúc văn hoá, dân tộc ta có lẽ chútrọng học hỏi kết hợp với sáng tạo nhng học hỏi là phổ biến Tác giả ClauđineSalmôn trong công trình chủ biên tập hợp bài viết của nhiều tác giả, đã chỉ ra:
ảnh hởng của truyện và tiểu thuyết Trung Quốc đối với Triều Tiên, Nhật Bản;
ảnh hởng của truyện và tiểu thuyết Trung Quốc đối với lục địa Đông Bắc á;
ảnh hởng của truyện và tiểu thuyết Trung Quốc đối với Đông Nam á vv.[46,83-159-221] Nh vậy tiểu thuyết truyền thống Trung Quốc ở châu á đợcxem là một sự ảnh hởng rộng lớn bao trùm lên tất cả các quốc gia Việt Namchúng ta cũng không nằm ngoài điều này Văn học Việt Nam chịu ảnh hởng
không chỉ bởi các bộ tiểu thuyết chơng hồi đồ sộ: Tam quốc chí diễn nghĩa,
Thủy hử, Tây du ký mà còn các loại tiểu thuyết về đề tài khác.
Cũng theo thống kê của tác giả Nhan Bảo ở phần: Th mục tạm thời các
dịch phẩm tiểu thuyết bình dân Trung Quốc sang chữ quốc ngữ thì đã có 359
tác phẩm đợc dịch sang chữ quốc ngữ [46,242-268] Con số ấy đã nói hộchúng ta nhiều điều Có lẽ không cần phải bàn nhiều hơn nữa
văn phái chủ thể của Hoàng Lê nhất thống chí và La Quán Trung - ngời sáng tạo ra Tam quốc chí diễn nghĩa có điều gì liên quan đến nhau.
Trớc hết, tác giả tiểu sử của họ có nhiều nét giống nhau Đó là nhữngngời thuộc tầng lớp trí thức phong kiến, chịu ảnh hởng của Nho giáo Hơnnữa, họ là những tài năng Năm 1985 La Quán Trung đã đợc công nhận là
danh nhân văn hoá thế giới Cũng nh vậy, nhóm tác giả của Hoàng Lê nhất
thống chí là những ngời sinh ra trong dòng họ có truyền thống văn học, am
hiểu văn chơng Vậy là giữa La Quán Trung và Ngô gia văn phái đều là tríthức phong kiến, tầng lớp trên của xã hội Không chỉ có thế, hình tợng tác giả
gửi gắm qua tác phẩm cũng có nét tơng đồng T tởng của tác giả ở Tam quốc
chí diễn nghĩa: kín đáo theo dõi mọi biến cố xảy ra trên cơ sở quan niệm đề
Trang 33cao nhà Hán Ngợc lại, ở Hoàng Lê nhất thống chí, qua tác phẩm ta có thể
cảm nhận ra rằng: tác giả đề cao vua Lê, ghi nhận công lao của Lê Hiển Tông.Nói cách khác, quan niệm nhìn hiện thực, phản ánh hiện thực giữa các tác giả
là có sự trùng hợp nhau về cơ bản
Ngoài vấn đề tác phẩm văn học trung đại đợc hiểu theo nhiều cách khácnhau, hai bộ tiểu thuyết trên có mối liên hệ gần gũi Hai tác phẩm trên từ chỗnảy sinh trong kiểu tác giả giống nhau nên sẽ có ảnh hởng bởi tính chất loạihình
Cả hai tác phẩm đều là sản phẩm của văn học trung đại do đó chịu sựchi phối về thi pháp trung đại Ta có thể thống kê một số nét lớn
Văn học trung đại là khái niệm rộng Xét về mặt thể loại có thể kể phú,thơ ngũ ngôn, biến văn, truyện truyền kì, văn sách, chiếu, biểu, truyện, kí Không một thể loại nào mang đợc tính chất "thuần tuý văn học" Điểm giốngnhau giữa chúng: các thể loại có chức năng ngoài văn học Khác với văn họchiện đại, thể loại văn học trung đại có một sự thống nhất nội tại trong chứcnăng nghệ thuật và thực dụng, mĩ học và xã hội học
Cũng chịu ảnh hởng của thi pháp trung đại nên tác giả rất ít hớng tớiviệc tạo ra những cốt truyện mới, khác thờng Nhà văn chỉ có sức truyền đạtmới một cốt truyện đã có sẵn Tập cổ, bắt chớc ngời xa là nét chủ đạo đối vớitác giả trung đại Các tác giả trau chuốt hình thức tới mức điêu luyện
Văn học Trung đại Việt Nam kế thừa văn học Trung Hoa Vì thế vănhọc này mang nghĩa rộng và hẹp Nghĩa rộng chỉ văn học quan phơng: hànhchính hành đạo liên quan đời sống vua, thần dân Nghĩa hẹp là văn học phiquan phơng có thể diễn tả tâm sự, sinh hoạt đời thờng Nh vậy theo quan điểmvăn học trung đại thì hai tác phẩm trên phản ánh đời sống trong chuẩn thẩm mỹphong kiến
Là sản phẩm của văn học trung đại nên tác giả, nhà văn tự sự mang mẫu
hình gần gũi với nhà sử học Theo Trần Đình Sử “Văn học tự sự Việt Nam gần
nh song sinh cùng văn chơng lịch sử nớc nhà'' [50,123] Điều đó cũng phổ
biến trong văn học Trung Hoa Tác phẩm sử học trứ danh nh Sử ký, Tả
truyện trở thành tác phẩm văn học nghệ thuật bất hủ.
Những điều vừa nói đó để đi đến kết luận: tác phẩm Hoàng Lê nhất
thống chí cũng nh Tam quốc chí diễn nghĩa đều là sản phẩm văn học trung đại
với cơ sở văn - sử - triết bất phân; chứa đựng t duy nguyên hợp của nhà văn
tr-ớc cuộc đời Mặt khác, là sản phẩm văn học trung đại nên hai tác phẩm đóphản ánh quan niệm văn chơng của tác giả trung đại Khác với tác giả hiện
đại, quan niệm văn chơng của tác giả trung đại nổi bật lên “văn dĩ tải đạo”
thi dĩ ngôn chí
“ ” Làm văn bao giờ cũng chuyên chở đạo đức quan niệm sống;
Trang 34làm thơ thì chính là để bày tỏ chí của mình Văn chơng không đơn thuần làvăn chơng nó đã lồng vào đó tri thức tổng hợp của sử và triết của xã hội Vănchơng có thể viết ra để thực hiện nhiệm vụ chính trị: kêu gọi, tuyên truyền,hoặc cổ vũ đấu tranh; có khi là lời tâu bày của thần dân với các bậc vua chúa Văn học đề cao nội dung đạo đức và tính chất giáo huấn Văn học có quan hệtrực tiếp với hệ t tởng Mục đích của văn học theo nghĩa rộng: thờng là văntheo chính nghiệp nh theo thiên chỉ, làm văn, chiếu, hịch, sử, ký Lúc này tácgiả chủ yếu theo quy tắc luật lệ ít sáng tạo; dựa vào nội dung có sẵn.
Vả lại, sáng tác của các nhà văn trung đại có điểm cơ sở cốt lõi là dựatrên ảnh hởng của Nho, Phật, Đạo Điều này giải thích vì sao phát ngôn của họthông qua nhân vật bao giờ cũng chứa đựng t duy triết học hoặc tôn giáo ở đó
T duy này cho ta thấy sự vận động của nhân vật mang tính tuần hoàn, lặp đilặp lại Chẳng hạn, nhân vật quân tử gắn với chiến công hiển hách, chí làm trai
để lập kỳ tích Ngay cả khi từ giã cõi đời, họ vẫn có thể hiển thánh (Quan Vũ,Gia Cát Lợng ) để giúp đời, lu danh sử sách và lòng ngời
Với quan điểm "văn dĩ tãi đạo'' nên rõ ràng Hoàng Lê nhất thống chí và
Tam quốc chí diễn nghĩa đều là cách tổ chức tác phẩm dựa trên nghệ thuật ớc
lệ là nét chủ đạo Bậc quân tử, đế vơng bao giờ cũng đợc đề cao Từ cách miêutả bên ngoài đến chiến công Họ là tâm điểm chú ý của cả cộng đồng Mỗi suynghĩ việc làm của họ đều gắn với số đông (thành, bại; chiến công, sốngchết ) Do tôn sùng nội dung xa lại ảnh hởng của thể loại "chí" nên rõ ràng sựsáng tạo là có nhng mờ nhạt Yếu tố h cấu góp phần vào việc tổ chức tác phẩmbên cạnh những sự kiện xẩy ra theo thời gian
Tóm lại: dựa trên cơ sở xã hội, cơ sở văn học để chúng ta khảo sát những
điểm tơng đồng giữa Hoàng lê nhất thống chí và Tam quốc chí diễn nghĩa.
Vậy Hoàng Lê nhất thống chí và Tam quốc chí diễn nghĩa có điều gì
giống nhau?
Với 120 hồi, là một trong những bộ tiểu thuyết chơng hồi nổi tiếng nhất
của Trung Quốc, Tam quốc chí diễn nghĩa gắn với tài năng của La Quán
Trung ở đây tác giả đã lấy đề tài chiến trận, binh đao và tranh giành quyền
Trang 35lực để tổ chức nên tác phẩm Cấu trúc của tác phẩm phục vụ cho đề tài Nét
xuyên suốt Tam quốc chí diễn nghĩa là cuộc đấu tranh chính trị quân sự giữa
các tập đoàn phong kiến Tác phẩm đa ngời đọc vào một không gian vô cùngrộng lớn ở đó có sự tranh giành quyền lợi giữa hoạn quan ngoại thích Rồivai trò của Tào Tháo đánh họ Viên (Viên Thiệu, Viên Thuật) thống nhất ph-
ơng Bắc Tào Tháo vừa dẹp xong họ Viên thì cũng là lúc mâu thuẫn phát triển
Đó là sự đấu tranh giữa ba tập đoàn Nguỵ, Thục, Ngô Mỗi tập đoàn đều cóthế mạnh riêng của họ Vì thế cuộc đua này là quyết liệt không hề khoan nh-ợng Nếu nh Ngô có lợi thế "địa lợi" thì Ngụy có "thiên thời" và Thục "nhânhoà" Ba yếu tố này tạo nên một quan hệ thiên thời - địa lợi - nhân hoà Khôngmột tập đoàn nào có đủ các yếu tố đó Vì thế một "thế chân vạc" đợc hìnhthành trên một cục diện rộng lớn Để tạo nên sức mạnh cần có sự liên kết, cólúc Thục liên kết với Ngô hoặc Ngô liên kết với Nguỵ Sự liên kết mang tínhtạm thời bởi vì tham vọng của các tập đoàn phong kiến này là rất lớn Mỗi tập
đoàn đều muốn vơn lên giành lấy địa vị thống trị ? Cùng với cuộc đấu tranh
chính trị, Tam quốc chí diễn nghĩa chú trọng vào việc phản ánh cuộc đấu tranh
quân sự giữa các tập đoàn Trận thuỷ chiến Xích Bích trở thành bài ca hàohùng của sự liên minh Thục - Ngô chống lại quân Tào Tháo Ngoài trận Xích
Bích, đọc Tam quốc chí diễn nghĩa còn có nhiều trận đánh của Thục: bảy lần
bắt Mạnh Hoạch, chinh phạt Trung Nguyên
Bên cạnh chiến tranh quân sự, ở Tam quốc chí diễn nghĩa là cuộc đấu
tranh trí tuệ mu cơ của những ngời quân s trong mỗi tập đoàn Tập hợp bên tập
đoàn Thục: Lỗ Kính, Từ Thứ, Bàng Thống điển hình là Gia Cát Lợng VớiNguỵ: đó là Tuân Húc, Giả Hủ, Trình Dục Với Ngô: Chu Du, Lỗ Túc, GiaCát Cẩn
Các cuộc đấu trí là rất cam go, mỗi khi quân s xuất hiện bàn bạc nghĩa
là vấn đề trở nên phức tạp Bức tranh xã hội trong Tam quốc chí diễn nghĩa
thật rộng lớn Về mặt thời gian diễn ra từ 213 - 280 gắn với việc nhà Hán suysụp Sự tranh giành của các tập đoàn phong kiến Kết quả của sự tranh giành ấy
là T Mã Viêm đã thống nhất lập ra nhà Tấn Đề tài chiến trận quyền lực đã tạo
cho Tam quốc chí diễn nghĩa tính đồ sộ, rộng lớn của nó Bao quát cả thời đại
lịch sử này có bao nhiêu sự kiện
Với Hoàng Lê nhất thống chí tác giả cũng đặt ra đề tài này.
Thế kỷ XVI, XVII, XVIII ở Việt Nam các quan hệ phong kiến đã ngàycàng trở nên lung lay Việc các tập đoàn phong kiến tranh giành nhau ngàymột phổ biến hơn, sâu sắc hơn Cuộc chiến tranh Nam Bắc triều kéo dài trongthời gian 1527 - 1572 hoặc chiến tranh Trịnh - Nguyễn trong thế kỷ XVII đãthể hiện điều đó Nảy sinh trong thực trạng của xã hội nh vậy, các tác giả
Trang 36Hoàng Lê nhất thống chí đã phản ánh bức tranh này trong tác phẩm Với 17
hồi, quy mô nhỏ hơn rất nhiều so với Tam quốc chí diễn nghĩa nhng độc giả đã
đợc chứng kiến những thay đổi qua ngòi bút của nhà văn Tác phẩm nói về việckiêu binh nổi loạn, truất ngôi chúa Trịnh Đó còn là việc giữa vua Lê - chúaTrịnh có sự chèn ép lẫn nhau Mâu thuẫn trong cung vua, phủ chúa không giảiquyết nổi Mỗi tập đoàn đều có lực lợng để ủng hộ mình, lúc thì Thịnh Vơng đ-
ợc suy tôn làm Thế tử, lúc lại là cảnh phò vua Lê
Không khí tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn đó bao trùm lên tácphẩm cha ngã ngũ Chỉ đến khi có cuộc khởi nghĩa của nông dân Tây Sơn với
sự lãnh đạo của Nguyễn Huệ đã diễn ra mới góp phần tạo nên cục diện mớicủa đất nớc Tác phẩm có những trận chiến đáng chú ý: có cảnh kiêu binh nổiloạn cảnh vua Chúa phải giả làm thờng dân chạy trốn khỏi sự lùng bắt củacác lực lợng đối lập, đặc biệt là việc Quang Trung đánh tan quân xâm lợctrong thời gian ngắn Mỗi khi vua chúa tranh giành quyền lực kết bè kéo cánhvới nhau thì cũng là lúc bọn gian thần có dịp quấy phá Hình ảnh Mậu Lân,
đám kiêu binh là những dẫn chứng sinh động Họ phò Trịnh Tông lên ngôi,sau đó lại sinh kiêu căng làm điều tàn ác
Cuộc sống trong cung vua phủ chúa đã là đề tài cho Hoàng Lê nhất
thống chí phản ánh Nơi tởng nh uy nghiêm nhất lại chẳng có gì là quan trọng
cả ở đó mọi sự bàn bạc, tính toán đều đi đến việc tranh giành quyền lực,những vụ chém giết ẩu đã nhau đã nổi lên liên tục trong tác phẩm Anh emtrong nhà chỉ vì quyền lực mà trở thành kẻ thù của nhau, sát phạt nhau Chiếntranh binh đao đã xẩy ra ngay trong chỗ cung cấm này
Tác phẩm Hoàng Lê Nhất Thống chí thể hiện sự tan rã của giai cấp
phong kiến sự mục ruỗng của xã hội thông qua tầng lớp vua chúa, quan lại
Vậy là giữa Hoàng Lê nhất thống chí và Tam quốc chí diễn nghĩa đều
chung đề tài quyền lực, danh vọng đều thể hiện những mu ma chớc quỉ củamỗi tập đoàn phong kiến trong sự vận động của lịch sử
2.2.2 Nội dung câu chuyện
Trớc khi bàn đến nội dung câu chuyện, xin đợc giới thuyết qua khái
niệm nội dung Theo nhóm tác giả sách Lý luận văn học thì: “Khái niệm nội
dung và hình thức trong văn học có nhiều cấp độ Nếu hiện thực trong toàn bộquan hệ đối với con ngời là đối tợng của văn học thì tác phẩm văn học là hìnhthức phản ánh đời sống đặc thù Nhng trong bản thân mình, tác phẩm văn học
có nội dung và hình thức của nó Nội dung của tác phẩm bắt nguồn từ mốiquan hệ giữa văn học với hiện thực Đó là một quan hệ nhất định của con ngời
đối với hiện tợng đời sống đã đợc phản ánh Đó vừa là cuộc sống đợc ý thức,
Trang 37vừa là sự ý thức cảm xúc - đánh giá đối với cuộc sống đó Nói cách khác, nộidung tác phẩm văn học là một thể thống nhất giữa khách quan và chủ quan,trong đó có phần nhà văn khái quát, tái hiện đời sống khách quan vừa có phầnbắt nguồn từ cảm xúc, huyết mạch, lý tởng của tác giả” [31,249]
Qua định nghĩa trên chúng ta thấy câu chuyện ở Tam quốc trớc hết kể về việc tranh giành của các tập đoàn phong kiến Tam quốc chí diễn nghĩa là tác
phẩm có nội dung phong phú Câu chuyện mà tác giả tập trung thể hiện ở tácphẩm là chuyện về cuộc chiến dai dẳng giữa ba tập đoàn Ngụy - Thục - Ngô
Đó là cuộc chiến kéo dài gần 100 năm, trải qua nhiều giai đoạn: lúc mở đầu,lúc nội chiến căng thẳng, lúc đỉnh cao, lúc cuối Trong cuộc chiến ấy xoayquanh ba tập đoàn phong kiến lớn, có vô số các lực lợng khác cũng là tác giảcủa sân khấu chính trị Đó là lực lợng Đổng Trác, Viên Thiệu, Viên Thuật, Lã
Bố, Lu Chơng Đọc Tam quốc chí diễn nghĩa trớc mắt ta là hàng loạt sự kiện
phong phú của hiện thực đợc đa vào tác phẩm Tài năng của La Quán Trung làviệc sắp xếp, xử lý tài tình để cho mỗi hồi, mỗi nhóm hồi là một nội dung cụthể không trùng lặp
Chẳng hạn, hồi 1 đến hồi 14: mô tả cuộc khởi nghĩa Khăn Vàng và sự
đàn áp của giai cấp thống trị, sự tranh giành quyền lợi giữa hoạn quan vàngoại thích Hồi 32 đến hồi 120: đây là phần trọng tâm của tác phẩm Tác giảchủ yếu mô tả hoạt động của ba tập đoàn Ngụy - Thục - Ngô Mỗi tập đoàn cócách lựa chọn con đờng đi riêng nhng cuối cùng đều không tập đoàn nàothống nhất đợc đất nớc
Nếu nh Tam quốc chí diễn nghĩa là câu chuyện chủ yếu về ba tập đoàn Ngụy - Thục - Ngô thì ở Hoàng Lê nhất thống chí nhà văn cũng phản ánh câu
chuyện về mâu thuẫn giữa vua Lê chúa Trịnh chúa Nguyễn, giữa Tây Sơn
-Lê Trịnh Tuy chỉ có 17 hồi nhng nội dung câu chuyện ở Hoàng -Lê nhất
thống chí có nhiều nét tơng đồng với Tam quốc chí diễn nghĩa Mở đầu tác
phẩm (ở hồi 1) nhà văn đã hé mở việc tranh giành ngôi báu trong phủ chúaTrịnh Đó là cuộc tranh giành giữa tuyên phi và Thế tử Tông Cuộc tranhgiành này gợi cho ta nhớ đến chi tiết chúa Tào Tháo và các tập đoàn ViênThiệu, Viên Thuật trong buổi đầu Tam Quốc Nếu nh hồi 1 đến hồi 3 câuchuyện mà tác giả kể chủ yếu là chuyện phủ chúa Trịnh thì hồi 4 đến hồi 14:nhà văn kể về hành động của Nguyễn Hữu Chỉnh và Tây Sơn Đây cũng đợcxem là phần trung tâm của tác phẩm
Nh vậy điểm giống nhau của nội dung hai câu chuyện là việc xuất hiện
đồng thời nhiều tập đoàn phong kiến; việc tranh giành thôn tính lẫn nhau bấtphân thắng bại của tập đoàn Ngụy - Thục - Ngô Việc hình thành thế chân vạc
Trang 38là minh chứng sống động cho cục diện chính trị phức tạp của Tam quốc; ở
Hoàng Lê nhất thống chí đó là ranh giới Đàng trong - Đàng ngoài, Bắc - Nam.
Song song với việc nội chiến, mâu thuẫn, tranh giành quyền lợi câuchuyện đã từng bớc diễn tả kết quả của quá trình thống nhất đất nớc Với dung
lợng đồ sộ 120 hồi trong Tam quốc chí diễn nghĩa tuy kể chuyện phân rồi hợp,
hợp rồi phân nhng đó là sự biến đổi vô cùng lớn lao Mở đầu tác phẩm là cụcdiện cát cứ; tiếp đó là những hoạt động lớn của ba tập đoàn Nguỵ-Thục-Ngô.Nhng kết quả một trong các tập đoàn ấy cũng không có ai làm chủ đợc đất n-
ớc T Mã Viêm đã thôn tính ba tập đoàn lập ra nhà Tấn - một thời đại mới củalịch sử Trung Quốc Cục diện này đã đợc dự báo ở phần đầu đồng thời cũng là
kết quả xẩy ra đơng nhiên ở phần cuối Rõ ràng, việc thống nhất thiên hạ ở Tam
quốc chí diễn nghĩa đã trở thành mục tiêu của các tập đoàn phong kiến cũng nh
quan niệm của nhà văn
Nếu nh để diễn tả quá trình thống nhất thiên hạ ấy, La Quán Trung viết
120 hồi- bộ tiểu thuyết đồ sộ thì ngợc lại ở Hoàng Lê nhất thống chí tuy chỉ có
17 hồi nhng câu chuyện cũng có nội dung tơng tự Đó là nhóm Ngô gia vănphái đã thể hiện từng bớc việc thống nhất đất nớc Câu chuyện này theo quanniệm của nhà văn là khá phong phú Tên tác phẩm phản ánh quá trình thốngnhất do công lao lớn của nhà Lê, nhng đọc kỹ thì độc giả nhận ra rằng lực l-ợng Tây Sơn có vai trò cực kỳ to lớn Dới sự dẫn dắt của lãnh tụ Tây Sơn, đặcbiệt là Nguyễn Huệ họ lập đợc nhiều chiến công vang dội Thế nhng sau đóthời đại đã đổi thay Quang Trung mất, cơ nghiệp của Tây Sơn dờng nh đãchấm dứt (nội bộ lục đục thiếu đoàn kết, lực lợng suy yếu) Nguyễn Gia Longlên ngôi hoàng đế và đã khép lại việc thống nhất hoàn toàn đất nớc Hoạt độngNguyễn Gia Long khiến ta liên tởng đến công lao T Mã Viêm Nh vậy, hai tácphẩm này đều có chung nội dung: công việc thống nhất đất nớc do tập đoànnày khởi xớng nhng thành quả lại thuộc hoàn toàn vào tập đoàn khác, dòng họkhác Mọi nỗ lực của các tập đoàn phong kiến để thực hiện tham vọng nhấtthống cuối cùng đã tiêu tan Lịch sử lại bớc sang một trang mới với bao biến cố.Hoạt động lẫy lừng của các tập đoàn phong kiến ấy cuối cùng dờng nh cũngchẳng lay chuyển đợc tình thế chút nào?
Ngoài việc nội chiến và thống nhất, nội dung câu chuyện của hai tácphẩm đã diễn tả cuộc sống của nhân dân lao động Họ đều là những ngời chịucảnh thê thảm, hậu quả đặc biệt nặng nề của chiến tranh, là việc chết chócchạy nạn đao binh Thắng lợi của mỗi tập đoàn phong kiến đi đến đâu thì cũng
là lúc máu lửa ngùn ngụt rơi ở đó Đau thơng và tang tóc đã góp phần khắchoạ hiện thực về nhân dân lao động; làm phong phú bức tranh cuộc sống đợcphản ánh đồng thời vẽ ra chân dung những con ngời trực tiếp liên quan đến
Trang 39vận mệnh đất nớc và quốc gia Nh thế, nội dung câu chuyện ở hai tác phẩm đềcập đến đều mang giá trị hiện thực sâu sắc Đấy là điểm tơng đồng dễ nhận ra.Chúng ta đã từng thấy mỗi trang sách không đơn thuần chỉ là trang sách
mà đã dồn và trong đó bao nhiêu nhân tố khác: hình bóng tác giả với quanniệm nghệ thuật, thái độ, t tởng tình cảm, nghĩ suy Vậy ở hai tác phẩm trên,ngoài những nội dung đó ra chúng còn có điều gì bắt gặp nhau?
Một điều cần khẳng định, để phản ánh những nội dung trên, hai tácphẩm đã có sự tơng đồng trong thái độ của nhà văn đối với hiện thực Dù đợcsáng tác trong bối cảnh thế kỷ XV, thời kỳ lịch sử nhà Hán đã lùi xa nhng với
La Quán Trung không vì thế mà nhà văn không biểu hiện trực tiếp thái độ.Trái lại qua thời gian dài ấy, tác giả đã ít nhiều gửi gắm suy nghĩ của mình với
hiện thực Vì thế, câu chuyện của Tam quốc chí diễn nghĩa đâu chỉ là khách
quan hoàn toàn, nó đã thấm đẫm sự phê phán chiến tranh, việc tranh giành
giằng xé giữa các tập đoàn ấy Bức tranh hiện thực trong Tam quốc chí diễn
nghĩa không chỉ xúc động bởi nội dung câu chuyện mà còn hấp dẫn qua thái
độ của nhà văn trớc hiện thực Đó là thái độ cảm thông, chia sẻ đầy tráchnhiệm của ngời cầm bút (dù rằng bản thân nhà văn thuộc tầng lớp trên của xãhội)
Nếu nh tác giả La Quán Trung sống cách xa so với bối cảnh tác phẩmthì ngợc lại Ngô gia văn phái những tác giả này hầu nh sống cùng thời với bốicảnh xã hội Đó là sự tồn tại song song của vua Lê - chúa Trịnh Nguyễn; khởinghĩa nông dân, sức mạnh của phong trào Tây Sơn đã là những yếu tố nổibật tác động tới các tác giả Chính vì vậy mà đọc câu chuyện, ngời đọc trântrọng tình cảm, thái độ của nhóm tác giả này Để phản ánh sinh động bối cảnhthời đại, là những ngời sống cùng thời với hàng loạt diễn biến phức tạp nênthái độ nhà văn đã bộc lộ một cách sâu sắc Điều này dễ hiểu bởi vì ta bắt gặp
đời sống của nhân dân khi xẩy ra những việc “can qua” của tầng lớp trên Với
họ, nhà văn có cách nhìn rất đỗi trân trọng và thơng yêu: “Huy nghe tin bènsai quan Đề lĩnh đem móc sắt và kéo treo khắp các chợ, doạ rằng những ai còndám tụ họp nói chuyện thì sẽ móc lỡi cắt đi Do đó ở ngoài đờng sá ngời ta chỉdám ghé mắt ngó nhau, dân chúng kinh kỳ đều nơm nớp lo sợ” [42,35] Chỉvới chi tiết dân chúng "nơm nớp lo sợ" đã giúp ta hình dung ra phần nào cảnhsống của ngời dân giữa cơn biến động dữ dội đó của đất nớc và dân tộc Nhàvăn đã nhìn thấu thực trạng của những cảnh đời thấp hèn giữa vòng binh đaocủa quyền lực Vậy là những điều mà các tác giả chứng kiến trực tiếp hay giántiếp đã đi vào tác phẩm nh một lẽ tự nhiên góp phần làm phong phú nội dungcâu chuyện Nói cách khác nội dung câu chuyện vừa là bức tranh hiện thựckèm theo sự lý giải của nhà văn, cách phản ánh của tác giả trớc cuộc sống
Trang 40Vậy khi nói tới nội dung câu chuyện có những nét tơng đồng cũng cónghĩa ta lý giải tìm hiểu những yếu tố nào góp phần làm nên sự gần gũi đó Cókhá nhiều nhân tố xuất hiện góp phần làm cho nội dung câu chuyện của haitác phẩm gặp gỡ nhau Lý do dễ nhận ra đấy là ở hai tác phẩm đã xuất hiệnhàng loạt mô típ "Mô típ" vốn là thuật ngữ của Folklore (văn học dân gian) ở
đây chúng tôi mợn thuật ngữ nghiên cứu văn học dân gian này để vận dụngcho việc so sánh hai tác phẩm văn học viết trung đại của hai nền văn học khácnhau
Khi nói đến mô típ nghĩa là bàn đến việc xây dựng những mẫu nhân vậtgần gũi nhau, có sự gặp gỡ nhau Vậy hai bộ tiểu thuyết đợc xem là niềm tựhào của văn học Trung Hoa và văn học Việt Nam trung đại có những mô típnào? Điều chúng tôi khẳng định là hàng loạt mô típ xuất hiện trong hai tácphẩm Đấy là mô típ vua chúa, mô típ "đấng bậc", mô típ ngời trí thức phongkiến, mô típ quân s, mô típ cầu ngời tài, mô típ thuyết khách, đã đợc hiệnlên khá sinh động Do giới hạn của luận văn, chúng tôi chỉ khảo sát một số môtíp chính
Chẳng hạn hai tác phẩm đều xây dựng mô típ cặp nhân vật đối lập tính
cách Đây là mô típ nổi bật ở Tam quốc chí diễn nghĩa đó là việc đối lập giữa
Tào Tháo- Lu Bị, giữa Khổng Minh - Chu Du Nếu nh Tào Tháo đợc nhà vănxây dựng là con ngời gian hùng, xảo trá thì ngợc lại Lu Bị là ngời nhân hậu.Hành động của Tào Tháo bao giờ cũng xuất phát từ lợi ích chung của chínhmình và tập đoàn Ngụy thì ngợc lại việc làm của Lu Bị trớc hết xuất phát từ lợiích chung của cộng đồng Nếu nh châm ngôn sống nổi tiếngcủa Tào Tháo "Tathà phụ ngời còn hơn ngời phụ ta" thì ngợc lại lẽ sống của Lu Bị: suốt đời làm
điều thiện, góp nhặt những điều thiện nhỏ thành điều thiện lớn Đó là con ngờibiểu hiện của lòng nhân ái, thân dân, luôn luôn che chở cho dân Vì thế ông là
ngời có lợi thế "nhân hoà" - lấy dân làm gốc Hình ảnh ngời dân đã trở thành
niềm lo lắng, nỗi trở trăn trong suốt cuộc đời của Lu Bị
Tơng tự nh vậy ở Hoàng Lê nhất thống chí ta cũng bắt gặp cặp tính cách
đối lập Đấy là Nguyễn Huệ - Lê Chiêu Thống; Lý Trần Quán - NguyễnTrang sự đối lập của Nguyễn Huệ và Lê Chiêu Thống không chỉ ở ngoạihình bên ngoài mà chủ yếu là hàng loạt hành động và việc làm Chiêu Thống
là ông vua khi có biến chỉ lo nghĩ đến bản thân, gia đình (việc sang cầu cứuquân Thanh) thì trái lại Nguyễn Huệ là ngời lập chiến công hiển hách LêChiêu Thống khoanh tay, rũ áo, luồn cúi thì Nguyễn Huệ lại là hiện thân củacon ngời phản kháng phi nghĩa, kẻ thù Hành động của Nguyễn Huệ kéo quân
ra Bắc với danh nghĩa "phò Lê, diệt Trịnh" là minh chứng ngời sáng Cha kểhết, sau này ông đã bắt Nguyễn Hữu Chỉnh, diệt Vũ Văn Nhậm đặc biệt là