1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hình ảnh cái tôi của sinh viên qua facebook cá nhân

192 563 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 192
Dung lượng 3,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không những thế, một số trào lưu tự phát có khuynh hướng hấp dẫn giới trẻ, mà SV cũng nằm trong số đó, nhất là những phát biểu mang tính giật gân và thể hiện những cái được họ coi là sự

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐÀO LÊ HÒA AN

HÌNH ẢNH CÁI TÔI CỦA SINH VIÊN

QUA FACEBOOK CÁ NHÂN

Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC

Mã số : 9.31.04.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS.TS Phan Thị Mai Hương

2 PGS.TS Huỳnh Văn Sơn

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi và tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung của luận án này trước Hội đồng và trước pháp luật

Hà Nội, ngày 16 tháng 04 năm 2018

Tác giả

Đào Lê Hòa An

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HÌNH ẢNH CÁI TÔI CỦA SINH VIÊN QUA FACEBOOK CÁ NHÂN 7

1.1 Các nghiên cứu về hình ảnh cái tôi của sinh viên qua Facebook ở nước ngoài 7

1.2 Các nghiên cứu về hình ảnh cái tôi của sinh viên qua Facebook ở Việt Nam 17

Tiểu kết chương 1 22

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÌNH ẢNH CÁI TÔI CỦA SINH VIÊN QUA FACEBOOK CÁ NHÂN 24

2.1 Lý luận về hình ảnh cái tôi 24

2.2 Lý luận về Facebook cá nhân và những tính năng giới thiệu hình ảnh cái tôi 35

2.3 Lý luận về hình ảnh cái tôi của sinh viên qua Facebook cá nhân 40

Tiểu kết chương 2 53

CHƯƠNG 3: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 55

3.1 Tổ chức nghiên cứu 55

3.2 Phương pháp nghiên cứu 59

Tiểu kết chương 3 68

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ HÌNH ẢNH CÁI TÔI CỦA SINH VIÊN QUA FACEBOOK CÁ NHÂN 69

4.1 Thực trạng hình ảnh cái tôi của sinh viên qua Facebook cá nhân 69

4.2 Mối quan hệ giữa hình ảnh cái tôi của sinh viên qua Facebook cá nhân với các yếu tố 107

4.3 Nghiên cứu trường hợp về hình ảnh cái tôi của sinh viên qua Facebook cá nhân 121 Tiểu kết chương 4 140

KẾT LUẬN - KHUYẾN NGHỊ 142

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 146

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 147

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 57

Bảng 3.2 Bộ mã về HACT 62

Bảng 3.3 Các khía cạnh của HACT qua các chức năng cụ thể của FB 66

Bảng 4.1 Phân bố các đặc trưng của HACT - nhận diện bề ngoài 70

Bảng 4.2 Tỷ lệ phân bố HACT - năng lực 77

Bảng 4.3 Tỷ lệ thường xuyên đăng HACT - cảm xúc 80

Bảng 4.4 Phân bố các đặc trưng của HACT - xã hội 83

Bảng 4.5 Đối tượng kết bạn trên FB của SV (trên tổng mẫu) 85

Bảng 4.6 Mức độ chủ động kết bạn trên FB của SV 86

Bảng 4.7 Mức độ chấp nhận lời mời kết bạn trên FB của SV 86

Bảng 4.8 Nguyên nhân từ chối lời mời kết bạn trên FB của SV 87

Bảng 4.9 Các nguyên nhân dẫn đến hành động hủy kết bạn trên FB của SV 88

Bảng 4.10 HACT - tương lai thể hiện qua các chức năng của FB 97

Bảng 4.11 Sự bộc lộ HACT - hưởng thụ và trải nghiệm cuộc sống 101

Bảng 4.12 Các khía cạnh của HACT chung từ tổng các chỉ báo 105

Bảng 4.13 Tỷ lệ biểu hiện các khía cạnh HACT trong nhóm SV nam và SV nữ 107

Bảng 4.14 Tỷ lệ biểu hiện các khía cạnh HACT trong nhóm SV xuất thân tại các thành phố khác nhau 108

Bảng 4.15 Tỷ lệ biểu hiện các khía cạnh HACT và thứ tự sinh của SV 110

Bảng 4.16 Tỷ lệ biểu hiện các khía cạnh HACT và mức độ tham gia hoạt động xã hội của SV 112

Bảng 4.17 Tỷ lệ biểu hiện các khía cạnh HACT và chức vụ trong hoạt động xã hội của SV 114

Bảng 4.18 Tỷ lệ biểu hiện các khía cạnh HACT và thời gian truy cập FB của SV115 Bảng 4.19 Tỷ lệ biểu hiện các khía cạnh HACT và sự thiết lập chế độ bạn bè của SV 117

Bảng 4.20 Tỷ lệ biểu hiện các khía cạnh HACT và sự tự đánh giá của SV 119

Bảng 4.21 Tỷ lệ biểu hiện khác khía cạnh HACT và cái tôi sai lệch của SV 120

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Cấu trúc khái niệm cái tôi 33

Hình 2.2 Cấu trúc HACT học thuật 34

DANH MỤC CÁC HỘP Hộp 4.1 HACT - nhận diện hình thức trên ý nghĩa tên FB, ảnh đại diện và trên dòng trạng thái 72

Hộp 4.2 HACT - nhận diện hình thức trên ảnh đăng tải kèm lời bình qua FB 73

Hộp 4.3 Các mô tả về HACT - năng lực ở các bình diện qua FB 78

Hộp 4.4 HACT - cảm xúc trên dòng trạng thái qua FB 81

Hộp 4.5 HACT - cảm xúc trên ảnh đăng tải kèm lời bình qua FB 82

Hộp 4.6 HACT - bạn bè trên dòng trạng thái qua FB 89

Hộp 4.7 HACT - bạn bè trên ảnh đăng tải kèm lời bình qua FB 90

Hộp 4.8 HACT - gia đình trên dòng trạng thái qua FB 91

Hộp 4.9 HACT - gia đình trên ảnh đăng tải kèm lời bình qua FB 91

Hộp 4.10 HACT - xã hội trên bình diện quan điểm sống qua FB 94

Hộp 4.11 HACT - xã hội trên bình diện quan điểm chính trị, xã hội qua FB 95

Hộp 4.12 HACT - xã hội trên bình diện quan điểm tôn giáo qua FB 95

Hộp 4.13 Các mô tả về HACT - tương lai được thể hiện trên hồ sơ cá nhân và dòng trạng thái qua FB 98

Hộp 4.14 HACT - tương lai được thể hiện ở ảnh đăng tải kèm lời bình qua FB 98

Hộp 4.15 Các mô tả về HACT - tính cách qua FB 100

Hộp 4.16 HACT - hưởng thụ và trải nghiệm cuộc sống thể hiện qua ảnh đăng tải kèm lời bình trên FB 102

Hộp 4.17 HACT - thể chất của P.H qua ảnh đăng FB 122

Hộp 4.18 HACT – nhận diện bề ngoài của P.H qua mục giới thiệu trên FB 122

Hộp 4.19 HACT - xã hội của P.H qua ảnh kèm lời bình trên FB 124

Trang 7

Hộp 4.20 HACT - hưởng thụ - trải nghiệm của P.H qua ảnh trên FB 124

Hộp 4.21 HACT - tính cách của P.H qua các dòng chia sẻ FB 125

Hộp 4.22 HACT - thể chất của H.L qua ảnh đăng FB 128

Hộp 4.23 HACT - vật chất của H.L qua ảnh đăng FB 128

Hộp 4.24 HACT – nhận diện bề ngoài của H.L qua mục giới thiệu trên FB 128

Hộp 4.25 HACT - cảm xúc của H.L qua ảnh kèm lời bình trên FB 129

Hộp 4.26 HACT - xã hội của H.L qua ảnh kèm lời bình trên FB 130

Hộp 4.27 HACT – tương lai của H.L qua ảnh kèm lời bình trên FB 130

Hộp 4.28 HACT - hưởng thụ - trải nghiệm của H.L qua ảnh kèm lời bình FB 131

Hộp 4.29 HACT - tính cách của H.L qua các dòng chia sẻ FB 131

Hộp 4.30 HACT – thể chất của G.L được thể hiện qua hình ảnh trên FB 135

Hộp 4.31 HACT – nhận diện bề ngoài của G.L qua mục giới thiệu trên FB 135

Hộp 4.32 HACT - cảm xúc của G.L qua hình ảnh, dòng trạng thái FB 136

Hộp 4.33 HACT – hưởng thụ, trải nghiệm của G.L qua hình ảnh trên FB 137

Hộp 4.34 HACT - tính cách của G.L qua các dòng chia sẻ FB 137

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Mạng xã hội (MXH) là dịch vụ kết nối các thành viên có cùng sở thích trên Internet với nhiều mục đích khác nhau, không phân biệt không gian, thời gian MXH có các tính năng như chat, e-mail, phim ảnh, voice chat, blog,… đã đổi mới cách mọi người liên kết với nhau, thể hiện bản thân mình và trở thành một phần tất yếu mỗi ngày cho hằng trăm triệu thành viên trên khắp thế giới Trong các trang MXH đã xuất hiện trên thế giới như Classmates.com (1995), Myspace (2003), Facebook (2004), Twitter (2006),… thì Facebook (FB) thường được xem như trang MXH dẫn đầu bởi người dùng ở độ tuổi thanh thiếu niên [40] FB giúp người dùng

dễ dàng thể hiện bản thân, kết nối bạn bè, tiếp nhận thông tin, học hỏi kiến thức và

kỹ năng, bày tỏ quan điểm cá nhân về một vấn đề nào đó trong cuộc sống,… thông qua chức năng đăng tải hồ sơ cá nhân, hình ảnh, dòng trạng thái, bình luận, các lượt yêu thích,…

Tại Việt Nam, FB trở nên khá phổ biến Theo thống kê mới nhất, có khoảng

35 triệu người sử dụng FB mỗi tháng ở nước ta Như vậy với dân số hơn 90 triệu dân thì khoảng hơn 1/3 dân số Việt Nam có tài khoản mạng xã hội FB [91] Những người tham gia MXH (còn gọi là cư dân mạng) có độ tuổi khá trẻ, tiêu biểu là học sinh – sinh viên Sinh viên (SV) - lực lượng trí thức trẻ, những người thường xuyên

sử dụng FB cá nhân như một công cụ giao tiếp xã hội, trình diễn bản thân, thể hiện những quan điểm, tính cách, thái độ, tình cảm cá nhân điều này có ảnh hưởng rất lớn đến hình ảnh hiện tại cũng như tương lai của SV trong các mối quan hệ xã hội - cuộc sống Không những thế, một số trào lưu tự phát có khuynh hướng hấp dẫn giới trẻ, mà SV cũng nằm trong số đó, nhất là những phát biểu mang tính giật gân và thể hiện những cái được họ coi là sự mạnh mẽ của bản thân có nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực đến SV trong hành trình hoàn thiện nhân cách

Một ví dụ minh họa cụ thể cho điều này đó là trào lưu “Nói là làm” bắt đầu

nở rộ sau vụ thách thức của một anh chàng tên N.T trên FB vào tối 20/9/2016

Nguyên văn lời thách thức là “Bức hình này đủ 40k like tôi đổ xăng từ trên người

xuống, lấy hộp quẹt tự đốt người rồi nhảy kênh Tân Hóa! Đủ like sẽ làm, tôi nói là

Trang 9

làm Share mạnh để có cái hay hấp dẫn mà xem” Sau khi dòng trạng thái này nhận

được hơn 90,000 like thì anh chàng đã thực sự giữ lời hứa của mình bằng cách châm lửa lên người rồi nhảy thật nhanh xuống kênh Tân Hóa để dập lửa [24]

Những khẩu hiệu dạng như “Việt Nam nói là làm”, “đủ like là cởi”, “đủ like

sẽ đốt trường” được bạn trẻ hưởng ứng một cách rầm rộ trên FB nhằm thể hiện cái tôi trình diễn, bản sắc cá nhân nhưng lại mang tính tiêu cực, cường điệu hóa và thách thức dư luận nhằm thỏa mãn nhu cầu tự khẳng định, được nổi tiếng và nhiều người biết đến Theo tác giả Trần Hữu Luyến và cộng sự (2015): “Nhu cầu sử dụng MXH của thanh thiếu niên đã có những tiến triển Nếu như trước đây, giới trẻ sử dụng MXH để tìm kiếm thông tin cho bản thân thì nay họ sử dụng để quảng bá bản thân” [19]

Borders (2008) cho rằng các tính năng của FB được tạo ra làm thay đổi và khuếch đại ý thức về bản thân của giới trẻ, điều này được thể hiện qua việc cập nhật dòng trạng thái (Status) của người dùng và thông qua những hồi đáp (comment) của khách ghé thăm [dẫn theo 19] Nghiên cứu của Valkenburg và Peter (2007); Valkenburg và Soetes (2011) đã phát hiện ngày nay, mục đích của việc sử dụng Internet hay MXH đã có sự thay đổi Nếu như trước kia, thời kì đầu Internet ra đời, giới trẻ sử dụng Internet như một công cụ để tìm kiếm thông tin và giải trí thì ngày nay họ lại sử dụng Internet như một phương tiện để trình diễn và quảng bá hình ảnh

cá nhân nhằm làm tăng khả năng nhận diện bản thân với cộng đồng [81]

HACT là những hình dung nhất định về bản thân Nó là đối tượng nghiên cứu của nhiều phân ngành tâm lý học: tâm lý học nhân cách, tâm lý học xã hội, tâm

lý học văn hóa Ở đó, HACT được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, điểm chung nhất là tất cả đều coi cái tôi là cốt lõi của nhân cách, phản ánh tự ý thức trong mối quan hệ với người xung quanh, với nhóm, với cộng đồng HACT không chỉ phản ánh tự ý thức của chủ thể mà nó còn tác động mạnh mẽ đến cảm giác hạnh phúc của mỗi người, và có thể ảnh hưởng đến cách họ nhìn nhận về cuộc sống và những người xung quanh mình Những dẫn chứng đã đề cập cho thấy HACT của mỗi người không chỉ được thể hiện trong đời sống thực hàng ngày mà còn trên thế giới

ảo hết sức phong phú, đa dạng, góp phần xây dựng và quảng bá hình ảnh, thương hiệu cá nhân một cách dễ dàng hơn, nhưng cũng có thể để lại hệ lụy khó lường

Trang 10

Điều này cho thấy HACT ảo của SV có ảnh hưởng tích cực khi tạo cho SV nhiều cơ hội, giao lưu, thể hiện, rèn luyện, tìm kiếm cơ hội Nhưng cũng chính cái tôi ảo trên FB đã ảnh hưởng tiêu cực đối với đời sống của SV như: lệ thuộc vào FB, không nhận diện chính bản thân, dễ nảy sinh thái độ bi quan, hành vi ái kỷ quá mức

Trên thế giới, các nghiên cứu về HACT trên các nhóm khách thể khác nhau không phải là ít Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu về người dùng FB hoặc các trang MXH đều tập trung lý giải các khái niệm như tự ý thức, ái kỷ, tự biểu đạt, tự đánh giá… mà chưa có nhiều nghiên cứu quan tâm trực tiếp đến HACT của SV, nhất là HACT trên mạng ảo Thông thường, các nghiên cứu xem HACT như một cấu thành của tự ý thức hay tự đánh giá Các nghiên cứu ở Việt Nam về vấn đề này càng ít, được thực hiện trên đời sống thực, trong khi đó, HACT trên mạng ảo lại là một vấn đề mới, chưa được khám phá một cách có hệ thống, có lẽ vì việc nghiên cứu HACT trên MXH rất phức tạp, bị chi phối bởi tính ẩn danh, tính ảo,…

Trang cá nhân trên MXH là một “bản sao, bản chụp” thể hiện sinh động tâm

lý con người, qua đó cho thấy cá tính của người dùng Nói cách khác, đó cũng là

“bộ mặt” của người dùng Việc thể hiện “bộ mặt” đó ra sao tùy thuộc vào lựa chọn của mỗi người Với những lợi ích và tổn hại FB đã đang và sẽ đem lại cho giới trẻ,

cụ thể hơn nữa là SV Việt Nam, việc nghiên cứu về HACT của SV qua FB cá nhân hoàn toàn có tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn Kết quả nghiên cứu này có những đóng góp có ý nghĩa về mặt lý luận vào hệ thống những tri thức về nội hàm của HACT, biểu hiện của HACT trên FB và những yếu tố ảnh hưởng

Xuất phát từ những lý do nêu trên, đề tài nghiên cứu “HACT của SV qua

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan các tài liệu có liên quan đến HACT của SV qua FB cá nhân

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về HACT của SV qua FB cá nhân

Trang 11

- Làm rõ thực trạng biểu hiện HACT của SV qua FB cá nhân và các yếu tố

có liên quan đến thực trạng này, từ đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm giúp SV nâng cao nhận thức về việc xây dựng HACT qua FB cá nhân theo hướng tích cực

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Biểu hiện của HACT của SV trên FB cá nhân và các yếu tố có liên quan

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về khách thể nghiên cứu:

Nghiên cứu được thực hiện chỉ trên các khách thể tự nguyện tham gia nghiên cứu Cụ thể, đã có 204 SV tự nguyện tham gia nghiên cứu và 204 trang FB cá nhân của họ

- Về địa bàn nghiên cứu:

Tập trung chủ yếu ở 6 trường đại học - cao đẳng sau: ĐH Sư phạm TP.HCM,

ĐH Ngân Hàng TP.HCM, ĐH Hoa Sen, ĐH Văn Hiến, CĐ Tài Chính Hải Quan,

CĐ Sonadezi

- Về các tính năng giới thiệu bản thân của FB:

Nghiên cứu giới hạn tìm hiểu HACT của sinh viên trên một số tính năng của

FB như profile cá nhân, hình ảnh đại diện (avatar), trang bìa (cover page), dòng trạng thái (status) và hình ảnh đăng tải, không tìm hiểu các nút như like, cảm xúc, các trang chia sẻ…

- Về thời gian:

Thông tin được phân tích từ FB được cập nhật trong khoảng 1 tháng kể từ thời điểm sinh viên đồng ý tham gia nghiên cứu trở về trước (với hình ảnh và dòng trạng thái) và hiện thời – tại thời điểm phân tích (với profile cá nhân, ảnh đại diện và trang bìa), không tính các thông tin đã hiển thị trước đó

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Các nguyên tắc phương pháp luận

Đề tài tiếp cận từ góc độ tâm lý học xã hội và tâm lý học nhân cách theo các nguyên tắc sau:

- Nguyên tắc hoạt động - nhân cách:

Trang 12

Nghiên cứu HACT của SV trên FB cá nhân phản ánh các hoạt động, giao tiếp

và các đặc điểm nhân cách của họ

4.2 Các phương pháp nghiên cứu đề tài

Để tiến hành nghiên cứu, đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp sau:

Nhóm 1: Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Nhóm 2: Phương pháp thu thập thông tin thực tiễn

- Phương pháp nghiên cứu hồ sơ (FB cá nhân)

Nhóm 3: Phương pháp phân tích thông tin

- Phương pháp thống kê toán học

- Phương pháp phân tích nội dung

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Về mặt lý luận, đóng góp mới của luận án đã hình thành khung lý luận để nghiên cứu HACT không phải ở đời sống thực, mà trên MXH, vốn được coi là thế giới ảo

Kết quả nghiên cứu thực tiễn có những đóng góp nhất định, mang tính bổ sung cho hệ thống lý luận về HACT Đó là: đề tài đã chỉ ra những đặc điểm của HACT trên FB, bổ sung thêm khía cạnh mới cho cấu trúc HACT của SV thể hiện qua FB cá nhân của họ Đồng thời, phát hiện khả năng tác động của các yếu tố cá nhân và tâm lý xã hội đến xu hướng thể hiện HACT trên FB của SV

Trang 13

Về mặt thực tiễn, nghiên cứu đã cho thấy tính đa dạng, phong phú của HACT của SV qua FB, những ưu điểm cũng như hạn chế của các cách thức thể hiện bản thân trên FB, từ đó góp phần nâng cao nhận thức của SV về việc thể hiện HACT của mình một cách tích cực trên FB

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Về mặt lý luận

Kết quả nghiên cứu lý luận đã khái quát hóa được các xu hướng nghiên cứu

về HACT, làm sáng tỏ các vấn đề: khái niệm và cấu trúc HACT; biểu hiện HACT của SV qua FB cá nhân; và các yếu tố có liên quan đến HACT của SV qua FB cá nhân

6.2 Về mặt thực tiễn

Kết quả nghiên cứu thực tiễn đã làm sáng tỏ tính đa dạng của HACT của SV qua FB cá nhân Kết quả đã phát hiện ra7 khía cạnh phổ biến của HACT của SV bao gồm: cái tôi nhận diện bên ngoài, cái tôi năng lực, cái tôi tính cách, cái tôi xã hội, cái tôi cảm xúc, cái tôi tương lai và cái tôi hưởng thụ - trải nghiệm, cho thấy sự phong phú hơn của HACT trên MXH so với cấu trúc lý thuyết của HACT, chỉ gồm

6 mặt(Không có HACT hưởng thụ và trải nghiệm).Đồng thời đề tài cho thấy tính chọn lọc của HACT được bộc lộ qua FB

Đề tài phát hiện sự tương đồng nhất định của HACT ở SV trên thế giới ảo với HACT ở thế giới thực Đồng thời kết quả cũng chỉ ra HACT trên FB có liên quan đến đặc điểm hoạt động xã hội, hoạt động học tập, thứ tự sinh trong gia đình cũng như một số đặc điểm tâm lý cá nhân của SV

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu và kết luận, luận án gồm 4 chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về HACT của SV qua FB cá nhân

Chương 2: Cơ sở lý luận về HACT của SV qua FB cá nhân

Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn biểu hiện HACT của SV qua FB cá

nhân

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HÌNH ẢNH CÁI TÔI

CỦA SINH VIÊN QUA FACEBOOK CÁ NHÂN

1.1 Các nghiên cứu về hình ảnh cái tôi của sinh viên qua Facebook ở nước ngoài

1.1.1 Một số nghiên cứu về cái tôi

Cái tôi là một khái niệm mang đặc điểm cá nhân, thể hiện những đánh giá về bản thân dưới ảnh hưởng của bối cảnh xã hội Đã từ lâu cái tôi (self) trở thành chủ

đề nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau như triết học, xã hội học, tâm

lý học… Tuy nhiên, trên mỗi lĩnh vực người ta lại xem xét các khía cạnh khác nhau của nó

Trong Triết học, khái niệm cái tôi được nghiên cứu lần đầu tiên bởi các nhà triết học như Decartes, Locke, Hume vào thế kỷ XVII Ở giai đoạn lịch sử này, cái tôi được nghiên cứu tách rời bối cảnh xã hội mà con người sống trong đó Cách nhìn này không được tâm lý học xã hội hiện đại chấp nhận vì sự nhận thức của cá nhân không thể không bị ảnh hưởng bởi xã hội, bởi những người khác [9]

Từ góc độ Tâm lý học, có thể chỉ ra một số hướng nghiên cứu về cái tôi trên thế giới

Hướng nghiên cứu thứ nhất: Các quan điểm lý thuyết về bản chất của cái tôi

- Thuyết phân tâm học

Nhà tâm lí học S Freud - cha đẻ của thuyết phân tâm học, khi bàn về nhân cách đã cho rằng cái tôi là một trong 3 phần của cấu trúc nhân cách Trong cấu trúc này cái Tôi bao gồm ý thức của con người về các quy luật của cuộc sống, các chuẩn mực của xã hội… Chức năng của cái tôi ý thức là kiềm hãm những nhu cầu dưới các hình thức có thể được xã hội chấp nhận Cái tôi luôn vận hành theo nguyên tắc thực tế Cái tôi luôn được coi là có logic, có lý trí, chịu đựng được sự ức chế và điều hành nhân cách [52]

Người thứ hai đại diện cho trường phái phân tâm học là C Jung, khắc phục quan điểm bản năng của S Freud về cái tôi C Jung đã đề cập nhiều đến tính xã hội trong cái tôi của con người Ông đã bắt đầu đề cập cái tôi như một cái gì giống tinh

Trang 15

thần hoặc toàn bộ nhân cách Và ông đã tìm kiếm những nền tảng mang tính chủng tộc về nhân cách và đã phát triển các nguyên mẫu đó Theo ông, khái niệm chính trong tâm lý học phải là cái tôi với sự thống nhất mang tính tổng thể của nó [7]

- Thuyết hiện sinh

Nếu như cách tiếp cận của phân tâm học nhấn mạnh đến xung năng, bản ngã

và cái vô thức thì Carl Rogers - một nhà tâm lý học đại diện cho trường phái hiện sinh, lại tiếp cận theo hướng ngược lại Ông nhấn mạnh đến nhận thức, cảm nhận,

tự thuật mang tính chủ quan, hiện thực hóa cái tôi và tiến trình của sự thay đổi Trong lý thuyết về nhân cách, C Rogers nhấn mạnh khái niệm cái tôi và coi đó là khái niệm chủ đạo trong nghiên cứu nhân cách Cấu trúc cơ bản của cái tôi có thể dựa trên các nền văn hóa khác nhau Ví dụ cái tôi của người phương Đông được nhìn nhận như một sự gắn kết với người khác, tập thể Cá nhân chỉ được thể hiện cái tôi khi họ được sống trong tập thể Ngược lại ở phương Tây, cái tôi là sự độc đáo, riêng biệt của mỗi cá nhân, bị tách biệt khỏi tập thể Vì vậy khi nghiên cứu cái tôi rất cần phải chú ý đến đặc điểm văn hóa của từng vùng, từng dân tộc [dẫn theo 76]

Trang 16

Như vậy, từ những phân tích về cái tôi có thể nhận thấy, các tác giả đứng từ góc độ khác nhau tập trung vào nội dung khác nhau của cái tôi Trong các phát hiện

đó, các tác giả đều mong muốn luận giải bản chất của cái tôi, đưa ra những đặc điểm của cái tôi và những yếu tố liên quan đến cái tôi Tuy nhiên, mỗi tác giả lại có một quan niệm riêng về nội dung cốt lõi của cái tôi Mặc dù vậy, tất cả các tác giả đều cho rằng, cái tôi là hạt nhân của nhân cách, thể hiện bản chất của con người

Hướng nghiên cứu thứ hai: xem xét cấu trúc của cái tôi

Theo hướng này, cái tôi được coi là một cấu trúc gồm nhiều thành phần, nhiều mặt Nhiều tác giả khác nhau đưa ra những cấu trúc khác nhau về cái tôi

Roger (1959) cho rằng cái tôi gồm 3 thành phần là HACT (quan điểm về bản thân mình), đánh giá cái tôi (thấy mình có giá trị như thế nào) và cái tôi lý tưởng (mong muốn mình sẽ như thế nào) [79]

Theo quan điểm của Shibutani (1961), khi cá nhân tham dự vào các hoạt động xã hội thì cái tôi bao gồm năm khía cạnh: (1) Tính đồng nhất, (2) Quá trình tự

ý thức, (3) Tính ổn định, (4) Tự đánh giá bản thân, (5) Ý thức xã hội Theo ông, tính đồng nhất là một nhân tố trong cấu trúc của cái tôi Nó thể hiện bản thân qua cách ứng xử Tính đồng nhất ở mỗi cá nhân là khác nhau Điều này có thể nhận thấy được một cách chính xác hành vi đó của ai và người đó xử sự như thế nào Như vậy, quan điểm của Shibutani dường như thiên về các đặc điểm của cái tôi hơn là nêu lên thành phần cấu trúc của cái tôi [86]

Nghiên cứu về sự phát triển cái tôi Lewis (1990) chỉ ra 2 khía cạnh của cái

tôi Đó là cái tôi tồn tại (The Existential Self) và cái tôi phạm trù (The Categorical Self) Cái tôi tồn tại là phần cơ sở nhất của khái niệm cái tôi; là cảm giác về bản ngã

riêng biệt và khác biệt với người khác, và nhận thức về sự thống nhất của cái tôi Theo Lewis, nhận thức về sự tồn tại của bản thân bắt đầu từ khoảng 2 - 3 tháng tuổi

và lớn dần lên theo mối quan hệ của nó với thế giới Theo sự phát triển, đứa trẻ dần nhận ra nó là một phần riêng biệt, là một đối tượng của thế giới với những thuộc tính khác nhau Cái tôi phạm trù bao gồm trong đó những thuộc tính như giới tính, chiều cao, cân nặng, hoặc kỹ năng Đầu tiên các phạm trù về bản thân khá cụ thể, bề ngoài (giới tính, chiều cao, màu tóc ), sau đó, các mô tả cái tôi bao gồm tính cách

Trang 17

bên trong, trong sự đối chiếu với các đánh giá của người khác và cách chúng nhìn nhận chính bản thân mình [66]

Vào năm 1998, tác giả Baumeister đề cập ba khía cạnh lớn của cái tôi: ý thức mang tính phản hồi (reflexive consciousness) (năng lực để có ý thức của chính mình), cái tôi liên cá nhân (the interpersonal self), điều hành hoạt động (executive functioning) (kiểm soát và bắt đầu hành vi) [37] Một trong những cố gắng của tác giả là đã chỉ ra các khái niệm có liên quan trực tiếp đến cái tôi Đó là: tự nhận thức, khái niệm cái tôi, cái tôi trình diễn, tự tin, tự điều chỉnh, hiểu biết về cái tôi [38] Trong số các mặt của cái tôi ở đây, có một khái niệm gần như trùng khít với HACT

từ góc độ một cá nhân giới thiệu bản thân mình cho người khác, đó là cái tôi trình diễn (self - presentation)

Đây là một vài ví dụ về cái tôi từ góc độ các thành phần, các khía cạnh của cái tôi và kết quả cho thấy nó khá đa dạng và khác biệt từ quan điểm nghiên cứu của

các tác giả

Hướng nghiên cứu thứ ba: xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến cái tôi

Tác giả Viktor Gecas (1982) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tự nhận thức khác nhau của mỗi cá nhân: tính cách, khả năng hoạt động, thích nghi xã hội, tiếp thu ý kiến người khác… Với mỗi cá nhân sự hiện diện của cái tôi là khá ổn định Hầu như nó không hề thay đổi khi con người thay đổi vai trò xã hội [94] Cũng bàn đến cái tôi, Sedikides, C và S J Spencer (2007) quan tâm đến các yếu tố có liên quan đến cái tôi Đó là não (liên quan đến nhận thức), động cơ, cảm xúc (liên quan đến tự tin), và văn hóa (liên quân đến mối quan hệ của cái tôi với các nhóm) [82]

1.1.2 Một số nghiên cứu về hình ảnh cái tôi

HACT của một người là một tập hợp các niềm tin về bản thân bao gồm các yếu tố như thành tích học tập, vai trò giới tính, tình dục, và bản sắc dân tộc… Nói chung, HACT thể hiện những câu trả lời cho câu hỏi “Tôi là ai?”

HACT được nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: tâm lý học, xã hội học từ ngày xưa Ý tưởng về HACT được đề cập trong triết học Vệ đà như Ahamkara; một thuật ngữ có nguồn gốc khoảng 3.000 năm trước đây

Trang 18

Trong lĩnh vực tâm lý học cũng có nhiều xu hướng khác nhau trong việc nghiên cứu HACT

Hướng nghiên cứu thứ nhất nghiên cứu về bản chất và cấu trúc của HACT

Năm 1948, Raimy giới thiệu các biện pháp tự nhận thức về HACT trong tư vấn phỏng vấn và cho rằng tâm lý cơ bản là một quá trình thay đổi cách mà các cá nhân nhìn thấy chính mình [dẫn theo 73]

Năm 1968, John Turner đưa ra HACT bao gồm ít nhất hai “cấp”: một bản sắc cá nhân và một xã hội Nói cách khác, HACT của một người theo nhận thức của chính họ dựa trên sự tự nhận thức và cách người khác cảm nhận được chúng HACT

có thể thay thế nhanh chóng giữa các bản sắc cá nhân và xã hội Trẻ em bắt đầu tích hợp bản sắc xã hội vào sự nhận thức về HACT của chúng ở trường tiểu học bằng cách đánh giá vị trí của trẻ giữa các bạn cùng lớp [92] Đến 5 tuổi, sự chấp nhận của các bạn cùng lớp có một tác động đáng kể đến sự phát triển HACT của trẻ em, ảnh hưởng đến hành vi của họ và sự thành công trong học tập [54]

Theo nhà tâm lý học C Rogers, tất cả mọi người phấn đấu để có nhận thức, ý tưởng về bản thân (idea self) Ông cũng đưa ra giả thuyết rằng những người có tâm

lý lành mạnh tích cực thoát khỏi hình ảnh của bản thân được tạo ra bởi những kỳ vọng của người khác, thay vào đó, họ tự nhìn vào bên trong mình để xác nhận HACT của chính mình Mặt khác, những người loạn thần kinh có HACT không phù hợp với kinh nghiệm của họ Họ sợ phải chấp nhận những kinh nghiệm của mình

là hợp lệ, do đó, họ bóp méo chúng, hoặc là để bảo vệ bản thân hoặc để giành chiến thắng chính từ những người khác [dẫn theo 33]

Morris Rosenberg (1979) tóm tắt hai thập kỷ nghiên cứu bằng cách đưa ra công trình mô tả sâu sắc về HACT bao gồm: bản sắc xã hội, tập hợp các vai trò, và các khuynh hướng của cá thể Mô tả chi tiết Rosenberg cung cấp một sự hiểu biết tuyệt vời về HACT cố định tại một thời điểm [dẫn theo 83]

Wylie (1974), Lynch (1981), Myers (1992), Berger (1994) đưa ra rất nhiều quan điểm khác nhau cũng như những công cụ khác nhau để mô tả bản chất HACT Wylie (1974) định nghĩa HACT “là những nhận thức và đánh giá liên quan đến những khía cạnh cụ thể của cá nhân” [96, p.3-4] Gần đây, tác giả Wayne (2012)

Trang 19

HACT được định nghĩa: “là một tập hợp các niềm tin về bản thân mình” [95] Có thể thấy các tác giả có chung quan điểm, HACT là những thái độ, niềm tin và giá trị cốt lõi của chủ thể về bản thân mình HACT này gồm ba yếu tố: cái tôi thực tế, cái tôi lý tưởng, và cái tôi bắt buộc (những niềm tin của cá nhân về những gì mình phải đảm nhiệm, đạt được) Kết quả của hướng nghiên cứu này là đưa ra được những bộ công

cụ nghiên cứu cái tôi Sự đa dạng các quan điểm cũng như mô hình về HACT dẫn đến sự tồn tại đa dạng các công cụ khác nhau để đánh giá HACT Tác giả Richard (2005) thống kê và thấy hiện nay có 14 thang công cụ được sử dụng thường xuyên nhất và đều có điểm chuẩn tham chiếu cũng tính hiệu lực và độ tin cậy cao [80]

Hướng nghiên cứu thứ hai: đặc điểm, vai trò và chức năng hóa của HACT

Trong bài viết “Tổng quan các lý thuyết về HACT cho nhà tham vấn” tác giả Purkey, William W (1988) cho rằng, ba tính chất của HACT là: (1) Có được thông qua các trải nghiệm, (2) có tổ chức, và (3) năng động Các cá nhân có sẵn trong chúng tiềm năng tương đối vô biên đối với việc phát triển một HACT tích cực và thực tế [78]

Có thể nói những nghiên cứu trước đây đã tìm hiểu về HACT trên nhiều góc

độ như: vai trò, bản chất, cấu trúc, cách vận hành, các yếu tố tác động và các đặc điểm của hình ảnh Tuy nhiên, các nghiên cứu về sự thay đổi của HACT ở các thời gian khác nhau, trong các mối quan hệ khác nhau hoặc ở những tình huống khác nhau vẫn còn rất hạn chế

Như trên đã trình bày, HACT gồm ba yếu tố: cái tôi thực tế, cái tôi lý tưởng,

và cái tôi bắt buộc Khi những thành phần này mâu thuẫn nhau, nó sẽ ảnh hưởng đến cá nhân tạo ra những cảm xúc hoặc hành vi nhất định Theo Higgins (1987), sự khác biệt giữa cái tôi thực tế và cái tôi lý tưởng sẽ gây ra những cảm giác thất vọng

và buồn bã, trong khi sự khác biệt giữa cái tôi thực tế và cái tôi bắt buộc sẽ tạo ra những sự bực bội và cảm giác tội lỗi Sự mâu thuẫn giữa các thành phần HACT ở đây sẽ giúp giải thích sự hình thành các cảm xúc [59]

Năm 1900, Sigmund Freud đã có đưa ra những sự hiểu biết về tầm quan trọng của quá trình tâm thần nội bộ (internal mental processes) Tuy nhiên cho đến

Trang 20

năm 1946, con gái của ông, Anna Freud (1946) mới đưa ra tầm quan trọng trung tâm để phát triển bản ngã và tự giải thích [7]

Năm 1945, Prescott Lecky đóng góp quan điểm cho rằng sự nhất quán trong nhận thức về HACT là một động lực chính của hành vi của con người [dẫn theo 77]

Hướng nghiên cứu thứ ba nghiên cứu xác định những yếu tố tác động đến sự hình thành HACT

Lisa (2000) nghiên cứu các yếu tố tác động đến HACT đánh giá ở giới trẻ Tác giả chỉ ra 7 yếu tố tác động đến HACT đánh giá: gia đình, thể thao, học thuật, các hoạt động ngoại khóa, bạn bè, công việc làm thêm và hình ảnh bản thân [67]

Tác giả Beebe và cộng sự (2002), nêu ra 5 yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển của HACT Thành tố thứ nhất là sự tương tác của cá nhân với những cá nhân khác, thành tố thứ hai là nhóm xã hội mà cá nhân đó thuộc về, thành tố thứ ba

là vai trò cá nhân đó phải đóng, thành tố thứ tư là niềm tin mà cá nhân có về vai trò

về hình ảnh của mình, thành tố cuối cùng chính là nhân cách của cá nhân đó [39]

Năm 2013, Boyle, Alaina E khi thực hiện nghiên cứu để kiểm tra mối quan

hệ giữa HACT đánh giá ở trẻ em và thanh thiếu niên với bệnh rối loạn tế bào hồng cầu (SCD), tuổi, giới tính, mức độ nghiêm trọng bệnh, và tầm vóc cơ thể Kết quả

đã chỉ ra rằng HACT tự đánh giá và độ tuổi có mối tương quan tích cực Riêng đối với giới tính, mức độ nghiêm trọng bệnh, tầm vóc cơ thể không phải là cơ sở để tiên đoán của HACT tự đánh giá ở trẻ em và thanh thiếu niên bị SCD [44]

Trong khuôn khổ luận án, người nghiên cứu cũng xem xét HACT là nhận thức, thái độ của cá nhân về chính bản thân họ Đặc biệt, luận án tập trung tìm hiểu

sự thể hiện HACT của khách thể là SV trên MXH FB

1.1.3 Một số nghiên cứu về hình ảnh cái tôi của sinh viên

Năm 2010, trong bài viết về HACT của SV của tác giả Xiaofeng Zhang đã chỉ ra sự khác biệt giữa HACT của SV nam và SV nữ chủ yếu qua các khía cạnh:

- HACT - thể chất của nam thì cao hơn là nữ vì những thuận lợi về thể chất mà nam có so với nữ

- HACT - tính cách thì nữ lại bộc lộ tốt hơn nam Bởi vì nữ có cách sống nguyên tắc hơn, kỷ luật hơn, và cách sống nội tâm hơn

Trang 21

- HACT - thỏa mãn (self satisfation) cao hơn nữ, điều này được giải thích vì nam thường có xu hướng chấp nhận bản thân tốt hơn

Bên cạnh đó, nghiên cứu còn chỉ ra sự phát triển HACT của SV được giữ tương đối ổn định trong suốt giai đoạn học Đại học [98]

Năm 2012, tác giả Anne B Crabbe đã có bài viết 10 hoạt động giúp cải thiện HACT của SV Theo tác giả, một SV vào học như một cá nhân độc đáo được tạo ra bởi gen, môi trường, một tia lửa nhất định trong chính mình Một gia tăng nhận thức

về cách đặc biệt mà tia lửa độc đáo thực sự giúp cho SV phát triển tốt hơn [48]

Năm 2013, kết quả nghiên cứu của Archana Kumari, S.Chamundeswari đã phát hiện HACT và những thành tựu học tập của SV năm 2 ở những trường Đại học trọng điểm thì được thể hiện rõ nét và tích cực hơn so với SV đang theo học ở các trường khác [34]

Có thể nói đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có nhiều nghiên cứu sâu sắc, mang tính học thuật về HACT của SV Điều này tạo nên khoảng trống trong việc nghiên cứu vấn đề HACT của SV trong thực tiễn

1.1.4 Một số nghiên cứu về hình ảnh cái tôi của sinh viên qua FB cá nhân

Việc nghiên cứu về HACT trên Internet nói chung và trên FB nói riêng đã được nghiên cứu từ rất sớm, ngay từ khi Internet phát triển và các dự án mở rộng phát triển FB được triển khai

Hướng nghiên cứu về sự thể hiện bản sắc của người dùng trên FB cá nhân

Hiệp hội tâm lý học Mỹ (APA) “FB psychology: popular questions answered

by research” - 2012 (tâm lý học về FB: Những câu hỏi thường gặp được giải đáp bằng những nghiên cứu) Trong đó, nghiên cứu đã tìm hiểu những người dùng FB

có nói thật về chính mình hay không Kết quả nghiên cứu cho biết, khi sử dụng FB, người dùng thiết lập cho mình một bảng khai báo thông tin cá nhân, điều này có thể tạo nên một lớp “mặt nạ” ảo cho những người sử dụng Vì FB là một môi trường

“mở” thế nên người dùng phần nào cũng kiểm soát những gì mà họ thể hiện Thực

tế người dùng thường chỉ thể hiện những mặt tốt trong nhân cách của họ (có thể cường điệu một chút) hơn là thể hiện một nhân dạng ảo quá lý tưởng [14]

Trang 22

Nghiên cứu hiện tượng sự sai lệch cái tôi trên FB, là hiện tượng mà người dùng FB thể hiện một HACT khác hẳn với HACT thực của họ, Gil- Or và các cộng

sự (2015) thấy rằng sự sai lệch này có thể là biểu hiện của các hành vi có vấn đề tâm lý nghiêm trọng hơn của người dùng [75]

Tuy nhiên, một nghiên cứu khác của Wong (2012) lại cho thấy SV có xu hướng tương tác với bạn bè hơn là cập nhật về bản thân trên FB Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy SV thể hiện khá thống nhất giữa khuôn mẫu hành vi của họ với

sự thể hiện cái tôi trên FB [97]

 Hướng nghiên cứu về tự công khai, HACT nhận diện bề ngoài và HACT tương

lai, HACT xã hội

Năm 2010, nghiên cứu của Garner J, O’Sullivan H nhấn mạnh các vấn đề của các trang web MXH và tính chuyên nghiệp trong số các SV Y của một trường đại học Y Dược Nghiên cứu cho thấy, việc biểu hiện hình ảnh bản thân của họ liên quan đến các hình ảnh và thông tin thể hiện trên MXH sẽ có thể tác động tới uy tín nghề nghiệp và tính chuyên môn của SV theo học [53]

Schouten (2007) đã chỉ ra rằng thanh thiếu niên nhận quyết định chọn lựa sự phản ánh cái tôi từ MXH để hình thành sự tự nhận thức của họ Thêm vào đó, thanh niên liên tục nhận được những thông tin phản hồi từ các hành động tương tự công khai và tự thể hiện trên MXH, điều này có thể ảnh hưởng đến tự đánh giá lòng tự trọng và cảm nhận hạnh phúc trong quá trình tìm kiếm bản thân của thanh thiếu niên Tự công khai và tự thể hiện là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển mối quan

hệ, được liên kết chặt chẽ với lòng tự trọng và hạnh phúc của thanh thiếu niên [dẫn theo 26]

Trong nghiên cứu “Imagined Communities Awareness, Information Sharing, and Privacy on the FB” - 2006 (“Nhận thức về những cộng đồng tưởng tượng, chia

sẻ thông tin và vấn đề riêng tư trên FB”) (Alessandro Acquisti and Ralph Gross - Carnegie Mellon University) nghiên cứu về những khác biệt trong hành vi của những người sử dụng FB với những người không sử dụng, tác động của sự lo lắng

về các vấn đề riêng tư trên FB đối với hành vi người sử dụng Một vài số liệu khảo sát đáng chú ý:

Trang 23

- Thông tin được người sử dụng cung cấp nhiều nhất là ngày sinh nhật (84%), tiếp đến là những mục tiêu của bản thân chiếm 75% Thông tin ít được người dùng cung cấp nhất là số điện thoại nhà (89%) tiếp đến là tên người yêu chiếm đến 71%

- Về mức độ tin tưởng của người dùng FB, so sánh điểm trung bình ta thấy được người dùng tin tưởng ở bạn bè của mình nhiều nhất (5.62) và ít tin tưởng nhất

là những người lạ không kết nối với họ (3.29) [13]

Nhóm nghiên cứu của Valkenburg, Schouten, Peter (2005) cho thấy, 50% thanh thiếu niên người Hà Lan đã trải nghiệm với việc thể hiện bản thân thông qua tin nhắn nhanh với ba lý do chính: Khám phá bản thân thông qua thông tin phản hồi

từ người khác; bù đắp cho những hạn chế xã hội như sự nhút nhát và tạo thuận lợi cho các mối quan hệ xã hội [93] Như vậy, các trang MXH và tin nhắn cung cấp một cách dễ dàng những truy cập tương tác với bạn bè và thu thập thông tin phản hồi Đây là những cơ hội có thể thúc đẩy sự phát triển bản sắc và các mối quan hệ thân thiết bao gồm cả tình bạn, tình yêu của người trẻ tuổi

Năm 2001, Klein đã nghiên cứu và chỉ ra: mỗi trang cá nhân đều là tượng trưng của sự sáng tạo và thiết lập Sự sáng tạo thể hiện ở chỗ: nếu các hoạt động chat, email, forum đều có hoạt động tương ứng trong đời sống thực (đều là hình thức liên lạc, giao tiếp) thì tạo web cá nhân, với mục đích là thể hiện công khai đời sống cá nhân lại không có hoạt động tương ứng trong thế giới thực [dẫn theo 21]

Hướng nghiên cứu về những đặc tính của MXH giúp SV xây dựng hình ảnh bản thân

Năm 2013, đề tài của Aslam HM và cộng sự đã nêu ra rằng các SV sẵn sàng

“hy sinh” sức khỏe (health), đời sống xã hội thực (social life), việc học tập (studies)

để có được cảm giác thỏa mãn sau khi sử dụng FB Những gì nhóm nghiên cứu đã quan sát trong nghiên cứu còn cho thấy các đối tượng tham gia nghiên cứu có nhiều dấu hiệu của nghiện FB Và họ không nhận ra điều đó và nếu thậm chí họ có nhận

ra họ không muốn bỏ FB và thậm chí nếu muốn, họ vẫn không thể bỏ được việc sử dụng FB Nhóm nghiên cứu còn kết luận rằng: Đa số những người dùng FB đang nghiện cao [35] Đây cũng là dữ liệu nghiên cứu có mối tương đồng với một số nghiên cứu của các tác giả Việt Nam như: Huỳnh Văn Sơn, Mai Mỹ Hạnh

Trang 24

Hayes (2008) đã đề cập đến ba chức năng của Internet đối với việc hình thành bản sắc ở thanh thiếu niên [57]

+ Thứ nhất, FB là công cụ giao tiếp giúp thanh thiếu niên gặp gỡ rất nhiều bạn trẻ khác nhau, cùng độ tuổi để chia sẻ quan điểm, suy nghĩ, cảm xúc với nhau

+ Thứ hai, Internet thực hiện chức năng nghịch đảo là công bố những điều riêng tư của cá nhân Phản ứng của người khác thông qua các bình luận (comment) được cá nhân chờ đợi và cũng được sử dụng để xây dựng hình ảnh bản thân

+ Thứ ba, Internet cho phép những người trẻ tuổi có thể thử nghiệm về bản sắc cá nhân

Cũng trong năm 2008, Borders cho rằng dịch vụ của các MXH như FB và Twitter được tạo ra làm biến dạng và khuếch đại ý thức về bản thân trong văn hóa của giới trẻ, điều này biểu thị qua việc viết blog, cập nhập trạng thái và những phản hồi [dẫn theo 19]

Boyd (2007), qua nghiên cứu việc sử dụng FB và my space của thanh thiếu niên Mỹ đã dùng khái niệm “không gian cộng đồng trên hệ thống” để giải thích ba đặc tính của không gian ảo (MXH) giúp thanh thiếu niên xây dựng hình ảnh cá nhân: sự có mặt của cộng đồng; bối cảnh; sự xóa nhòa ranh giới giữa cá nhân và cộng đồng Những đặc tính ấy giúp thanh thiếu niên hòa mình với xã hội, xây dựng bản sắc và dần đi vào thế giới của người trưởng thành [43]

Như vậy có thể thấy rằng vấn đề liên quan đến tác động qua lại giữa SV và

FB rất nhiều nhưng công trình nghiên cứu về HACT của SV thông qua FB vẫn còn rất hạn chế Chính vì vậy, đề tài này được xem là bước đóng góp ban đầu làm phong phú về hướng nghiên cứu HACT của SV trên MXH FB

1.2 Các nghiên cứu về hình ảnh cái tôi của sinh viên qua Facebook ở Việt Nam

1.2.1 Một số nghiên cứu về cái tôi

Tác giả Lương Cần Liêm (2014) trong bài viết “Khái niệm tôi và tự tin dưới góc độ tâm lý và văn hóa Việt Nam”, định nghĩa khái niệm cái tôi trên bình diện tâm lý học một cách trừu tượng nên có giả thuyết cái tôi “trưởng thành” như một bộ máy chạy tốt không thay đổi bên trong với không gian và thời gian nhờ một bộ phận hoà nhập và thích nghi [17]

Trang 25

Đáng chú ý nhất là các đề tài nghiên cứu về “cái tôi” với tư cách là hạt nhân của tự ý thức trong công trình “Tính cộng đồng - tính cá nhân và “cái tôi” của con người Việt Nam hiện nay” do Đỗ Long và Phan Thị Mai Hương (2002) làm chủ nhiệm Đề tài đã xem xét, bổ sung những quan điểm truyền thống về tính cộng đồng

- tính cá nhân cũng như khái niệm “cái tôi” của người Việt Nam từ góc độ tâm lý học khá khái quát, hệ thống [12]

Tóm lại, các nghiên cứu về các tôi của các tác giả Việt Nam trong lĩnh vực tâm lý học vẫn còn rất hạn chế Chính vì vậy, hướng nghiên cứu của đề tài sẽ gặp nhiều khó khăn nhưng sẽ có triển vọng góp phần bổ sung nền tảng lý luận về cái tôi nói chung và HACT nói riêng

1.2.2 Một số nghiên cứu về hình ảnh cái tôi

Hầu hết các đề tài nghiên cứu về HACT đều ở trong lĩnh vực văn học Phạm trù HACT trong các nghiên cứu ở lĩnh vực tâm lý học tại Việt Nam vẫn chưa được quan tâm tìm hiểu nhiều

Dù chưa đề cập đến HACT các nhà tâm lý học đã tìm hiểu về một số lĩnh vực có liên quan như sự tự đánh giá và tự ý thức thông qua một số nghiên cứu:

Nghiên cứu của tác giả Đỗ Ngọc Khanh (2004) về “Tự đánh giá của học sinh Trung học cơ sở ở Hà Nội” đã kết luận rằng học sinh THCS ở Hà Nội có mức độ tự đánh giá tổng thể ở mức độ trung bình Nói chung, sự tự đánh giá về học tập, đạo đức, xã hội đạt mức trung bình cao Sự tự đánh giá về mặt thể chất ở mức trung bình, trong đó các em học sinh đánh giá sức khỏe tích cực hơn đánh giá về hình dáng của bản thân Sự tự đánh giá về cảm xúc đạt mức trung bình thấp Các em có

sự tự đánh giá về cảm xúc tiêu cực liên quan đến khía cạnh học tập, trong khi đó cảm xúc tích cực thường liên quan đến quan hệ xã hội [22]

Đề tài “Tìm hiểu sự đánh giá bản thân ở trẻ 10 - 15 tuổi” do Văn Thị Kim Cúc (2003) thực hiện nghiên cứu đã cho thấy ở thanh thiếu niên 10 - 15 tuổi, sự tự đánh giá bản thân bộc lộ tính tích cực ở lĩnh vực học đường thể hiện rõ khả năng đáp ứng thích hợp của các em vào hoạt động chủ đạo, vào các quan hệ trong cuộc sống học đường ở lứa tuổi này [3]

Trang 26

Như vậy, dù chưa đề cập đến HACT một cách trực tiếp nhưng nước ta đã có một số các công trình nghiên cứu về ý thức, tự ý thức - hướng nghiên cứu khá gần với nghiên cứu về HACT Thành tựu nghiên cứu của những đề tài này là một trong những cơ sở để người nghiên cứu về HACT của SV thông qua FB

1.2.3 Một số nghiên cứu về hình ảnh cái tôi của sinh viên

Trong giới hạn hiểu biết của mình, chúng tôi nhận thấy các nghiên cứu ở Việt Nam còn nghiên cứu khá ít về vấn đề này Những nghiên cứu đã có về HACT của SV tập trung tìm hiểu một phần nhỏ trong HACT là sự tự đánh giá Tuy nhiên, những đề tài đã có chủ yếu là các luận văn Thạc sĩ Hiện tại, vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến HACT của SV một cách hệ thống và khoa học dưới góc

độ tâm lý học Điều này cho thấy việc nghiên cứu HACT của SV ở Việt Nam là một nghiên cứu mới có thể mang tính khám phá nhất định ở Việt Nam trong tình hình hiện nay

1.2.4 Một số nghiên cứu về hình ảnh cái tôi của sinh viên qua Facebook cá nhân

Đầu tiên, phải thừa nhận rằng có khá ít các đề tài nghiên cứu chuyên biệt về

FB, đặc biệt là dưới góc độ tâm lý học Đa phần là các đề tài nghiên cứu là về MXH hoặc nghiên cứu FB như là một bộ phận thuộc MXH ở dạng khảo sát tổng quan, khảo sát xã hội học Chỉ có một số ít các đề tài tìm hiểu tác động qua lại giữa MXH nói chung và FB nói riêng với SV trong những năm gần đây

Tác giả Nguyễn Minh Hòa (2010), Mạng xã hội ảo, đặc điểm và khuynh

hướng của bài viết đã nêu lên những quan niệm truyền thống về MXH: đó là cách

liên kết các cá nhân và cộng đồng lại dưới một kiểu nào đó để thể hiện một vài chức năng xã hội và MXH ảo - một xu hướng mới của xã hội công nghệ thông tin [13]

Cùng năm 2010, tác giả Nguyễn Thị Hậu, với bài viết Mạng xã hội với lối

sống của giới trẻ TP.HCM đề cập đến sự xuất hiện với những tính năng đa dạng,

nguồn thông tin phong phú, MXH đã cho phép người dùng tiếp nhận, chia sẻ và chọn lọc thông tin một cách có hiệu quả, vượt qua trở ngại về không gian và thời gian Nó giúp nâng cao vai trò của mỗi người công dân trong việc tạo lập quan hệ

và tự tổ chức xoay quanh những mối quan tâm chung trong những cộng đồng thúc đẩy sự liên kết các tổ chức xã hội Tác giả nêu rõ ảnh hưởng của MXH đến lối sống

Trang 27

giới trẻ TP.HCM hiện nay, thông qua việc tìm hiểu nhu cầu, mục đích và hình thức

sử dụng MXH Đồng thời có những đề xuất, phải góp phần nâng cao hiệu quả việc

sử dụng MXH của giới trẻ [15]

Tác giả Nguyễn Hữu Thọ (2011) đã có bài viết: “Suy nghĩ về tính tự chủ của

học sinh trong thời đại thông tin và truyền thông đa phương tiện” Trong bài viết đã

đề cập đến việc sự du nhập và sử dụng truyền thông đa phương tiện như hiện nay, các nhà tâm lý đang nhìn về khía cạnh cảm xúc và hành vi, những cảm xúc và hành

vi tuy khỏe mạnh hay không khỏe mạnh đều là tự nhiên Các phương tiện thông tin, truyền thông đa phương tiện là biểu hiện của sự phát triển công nghệ của nền văn minh hiện đại Với tiện dụng vô cùng to lớn của nó, nhiều người, nhất là lớp trẻ đã gắn bó chặt chẽ vào với Internet hàng ngày Bản thân Internet không có gì khiến chúng ta lo ngại, mặc dù trong việc sử dụng nó, bên cạnh tính tích cực cũng dễ nảy sinh nhiều tiêu cực [dẫn theo 28]

Tháng 4 năm 2013, trường Đại học Mở TP.HCM đã tổ chức cuộc thi “Nhà truyền thông chuyên nghiệp” với chủ đề MXH Nội dung cuộc thi xoay quanh những vấn đề nóng đang diễn ra hiện nay bằng cách quay phim, ghi âm, phỏng vấn những người không quen biết để họ bày tỏ quan điểm về ảnh hưởng của MXH tới đời sống hiện nay Đồng thời truyền thông những thông điệp cho cuộc thi đến mọi người xung quanh Dù chỉ là một cuộc thi, một sân chơi nhưng chủ đề này cũng khá

là bổ ích, giúp SV nhận thức được về MXH và các tác động của nó rõ ràng hơn

Năm 2004, nghiên cứu của Hoàng Anh cho thấy mục đích tham gia các hội nhóm trên MXH FB của SV chủ yếu là để giải trí (chiếm 71%), mở rộng mối quan

hệ (34,6%) [1] Có thể thấy, nhờ FB có nhiều tính năng hỗ trợ cho việc kết bạn, duy trì mối quan hệ bạn bè và trên FB cũng không hề có sự phân biệt như ngoài đời thực, mọi người đều bình đẳng như nhau

- 34% số bạn bè trên FB của SV là quen biết trên mạng, qua nhiều hình thức khác nhau (được gợi ý, qua công cụ tìm kiếm,…)

- Tất cả SV sử dụng FB đều tham gia ít nhất một hội nhóm, thậm chí 47,3% tham gia từ bốn hội nhóm trở lên

Trang 28

- 50,7% SV cho biết có thêm bạn mới nhờ tham gia các hội nhóm trên FB

Số lượng bạn mới nhìn chung rất lớn: 9,9% SV có thêm 101 - 200 bạn mới, 21,3%

có thêm tới 200 bạn mới

- Mức độ tương tác giữa các thành viên trong nhóm khá tích cực: 67,7% SV được các thành viên khác trong nhóm cung cấp thông tin, 63,5% nhận được những chia sẻ về tâm tư tình cảm, 61,2% có tán gẫu với nhau, 29,7% SV nhận được những giúp đỡ bằng hành động cụ thể từ các thành viên khác

- SV tương tác với bạn bè của mình khá thường xuyên trên FB

Qua số liệu, dễ thấy nhiều SV rất hứng thú với việc tham gia các nhóm trên

FB, mở rộng được mối quan hệ của mình thông qua việc tham gia này Việc tham gia có sự tương tác thực sự giữa các thành viên Các thành viên trong nhóm đều bình đẳng với nhau, đều nhận được phản hồi, nhận được sự quan tâm của người khác, chứng tỏ nhóm đó hoạt động khá hiệu quả (đo về mặt số liệu) Mặc dù nghiên cứu cũng đã chỉ ra được thực trạng sử dụng MXH FB của SV nhưng nghiên cứu chưa đi sâu phân tích sự khác biệt về giới trong việc sử dụng MXH này

Năm 2015, nghiên cứu của tác giả Trần Hữu Luyến và cộng sự đã cho thấy rằng hiện nay, MXH thực sự đang có sức hấp dẫn lớn khi hầu hết SV Việt Nam đều

sử dụng (99%), trong đó MXH FB là một trong nhiều trang mạng được SV sử dụng nhiều nhất (86,6%), tiếp đến là Youtube (60%), Google + (56,2%) và đứng vị trí thứ

tư trong việc sử dụng các trang MXH của SV Việt Nam là ZingMe (39,5%) - một trong những MXH của Việt Nam) Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi tham gia sử dụng MXH, tỉ lệ SV thường xuyên chat, gửi tin nhắn là cao nhất (chiếm 53,7%) Tiếp đến là nghe nhạc, xem phim (chiếm 41,4%) và cập nhật thông tin, sự thật xảy

ra trong xã hội (chiếm 41,4%) với thời gian sử dụng phân bố như sau, từ 3 - 5 giờ (33%), 7% trên 8 giờ và 3% sử dụng dưới 1 giờ Nhìn vào những hoạt động trên, có thể nhận thấy SV sử dụng MXH nhiều hơn cho nhu cầu giao tiếp, giải trí và tăng cường hiểu biết xã hội Trong đó, hoạt động giao tiếp và kết nối với bạn bè được thực hiện nhiều hơn cả Kết quả nghiên cứu cho thấy dưới 150 là lượng bạn được các SV duy trì với tỉ lệ lớn nhất (35,4%), tiếp đó là mức trên 500 bạn (23,6%), mức

từ 150 đến dưới 300 bạn (22,8%) và thấp nhất là từ mức từ 300 đến dưới 500 bạn

Trang 29

(18,2%) Tuy nhiên có một tỉ lệ khá lớn SV duy trì mức bạn lên tới trên 500 bạn [19] Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy xu hướng SV nữ trao đổi với bạn bè của mình nhiều hơn nam giới Trong khi đó, SV nam thể hiện mức độ bị ảnh hưởng từ MXH đến thời gian sử dụng, hoạt động sống, cảm xúc và khả năng làm chủ bản thân cao hơn so với SV nữ

Nhìn chung, nghiên cứu tập trung mô tả và phân tích chung tất cả các loại hình MXH mà chưa đi phân tích cụ thể đối với việc sử dụng MXH FB của SV Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đã chỉ ra một số khác biệt giữa SV nam và SV nữ trong việc sử dụng MXH nhưng chưa đi sâu làm rõ vì sao lại có sự khác biệt như vậy, đặc biệt là đối với việc sử dụng MXH FB hiện nay

Tổng quan các nghiên cứu cho thấy, nghiên cứu về HACT khá đa dạng, các nghiên cứu về FB và các vấn đề tâm lý có liên quan cũng rất phong phú Sự thể hiện bản thân trên FB không đơn giản chỉ là cách thức tương tác với người khác trên thế giới ảo mà nó liên quan đến đời sống tâm lý của người dùng ngoài đời thực Tuy nhiên, nghiên cứu về HACT được thể hiện trên FB cá nhân còn ít được thực hiện: HACT đó có cấu trúc thế nào, hình ảnh đó có liên quan đến những yếu tố cá nhân

và yếu tố xã hội nào vẫn còn chưa được sáng tỏ Ở Việt Nam, đây là vấn đề mới mẻ, vẫn chưa có các đề tài nghiên cứu về HACT của SV qua FB cá nhân

Tiểu kết chương 1

HACT có ảnh hưởng đến quan niệm về bản thân, lòng tự trọng, bản sắc xã hội và niềm tin vào bản thân của mỗi người HACT có thể rất tích cực, tạo ra sự tự tin cho con người trong suy nghĩ và hành động của họ HACT cũng có thể tiêu cực, làm cho con người nghi ngờ về khả năng và ý tưởng của mình Chính vì vậy, việc nghiên cứu lý thuyết về HACT giúp chúng ta xây dựng một HACT thực tế, từ đó,

có quan niệm tích cực về bản thân, nâng cao lòng tự trọng, tạo bản sắc xã hội riêng biệt và tăng niềm tin vào bản thân

Mặt khác, vấn đề về FB và MXH đã được quan tâm khá nhiều bởi các nhà nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam trong những năm gần đây Tuy nhiên, các

Trang 30

nghiên cứu vẫn tập trung xoay quanh về khái niệm, thực trạng cũng như việc tự đánh giá của người dùng về các MXH nói chung và FB nói riêng HACT mới chỉ được quan tâm trên bình diện tự đánh giá cũng như sự thể hiện ở thế giới thực mà chưa được quan tâm ở thế giới ảo Những nghiên cứu chính thức về HACT của SV qua FB chưa có dù rằng những nghiên cứu về mối liên hệ giữa SV và FB có thực hiện Tuy nhiên, chính những kết quả nghiên cứu đã có là cơ sở khá cần thiết để luận án tìm hiểu về HACT của SV qua FB

Trang 31

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÌNH ẢNH CÁI TÔI CỦA SINH VIÊN

QUA FACEBOOK CÁ NHÂN

2.1 Lý luận về hình ảnh cái tôi

2.1.1 Khái niệm

a Khái niệm hình ảnh

Hình ảnh (image) được định nghĩa dưới nhiều góc độ khác nhau Từ góc độ ngữ nghĩa, từ điển Oxford English định nghĩa hình ảnh như một bức ảnh mang tính vật lý: “Hình ảnh là sự sao chụp lại hiện thực bên ngoài của bất kỳ một đối tượng (sự vật/con người) nào đó thông qua các thiết bị ghi hình có sự can thiệp của khoa học kỹ thuật như camera, vi tính ” Còn theo từ điển Oxford dành cho người học nâng cao thì khái niệm hình ảnh đã được trừu tượng hóa: “Hình ảnh còn có ý nghĩa

là sự phản ánh chủ quan về thế giới khách quan, nó là những trải nghiệm tinh thần của con người liên quan đến bộ nhớ hoặc trí tưởng tượng” [74]

Cũng từ góc độ này, từ điển tiếng Việt cũng đưa ra hai cách hiểu Thứ nhất,

“Hình ảnh được hiểu là hình người, vật, cảnh tượng được thu lại bằng khí cụ quang học (như máy ảnh) hoặc để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong tâm trí” [20] Thứ hai, theo từ điển Tiếng Việt thông dụng (Huyền Linh, 2014), hình ảnh là

sự sao chụp lại hiện thực khách quan cũng là sự phản ánh chủ quan về thế giới khách quan [16]

Từ góc độ tâm lý học, Từ điển tâm lý học (Vũ Dũng, 2012) định nghĩa rằng, hình ảnh là bức tranh chủ quan về chủ thể, là một trong những hình thức phản ánh hiện thực khách quan Một trong những tính chất của hình ảnh là tính trọn vẹn, tính tích cực, tính riêng biệt Ở con người, hình ảnh trở thành tài sản của đời sống tâm hồn, nguồn gốc của nhận thức cảm giác thế giới, là cơ sở để nhận thức và hành

động Hình ảnh luôn luôn là tín hiệu và có ý nghĩa sinh học, xã hội [6]

Như vậy, hình ảnh luôn bắt nguồn từ thực tiễn cuộc sống, từ hiện thực khách quan, nhưng sản phẩm lại là bức tranh chủ quan về hiện thực ấy Tổng hợp các định

Trang 32

nghĩa, có thể hiểu, về mặt tâm lý, hình ảnh là bức tranh chủ quan về thế giới khách

quan, phản ánh thế giới khách quan của chủ thể

Từ góc độ tâm lý, hình ảnh có một số đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, hình ảnh mang tính sinh động, sáng tạo là sự phản ánh đầy sự

sống, đa chiều, đa dạng, mang nhiều dáng vẻ khác nhau của sự vật hiện tượng Tính sinh động và sáng tạo này tạo ra dấu hiệu thú vị của hình ảnh so với nguyên bản

Thứ hai, hình ảnh mang tính tích cực bởi kết quả của lần phản ánh trước sẽ

ảnh hưởng trực tiếp đến lần phản ánh sau, con người tích lũy được kinh nghiệm mới

có sự tồn tại và phát triển từ những hình ảnh mang dấu ấn của kinh nghiệm

Thứ ba, hình ảnh mang tính chủ thể, mang đậm màu sắc cá nhân (hay nhóm

người) mang hình ảnh tâm lý đó, hay nói cách khác hình ảnh tâm lý là hình ảnh chủ quan về hiện thực khách quan Tính chủ thể của hình ảnh tâm lý thể hiện ở chỗ: mỗi chủ thể trong khi tạo ra hình ảnh tâm lý về thế giới đã đưa vốn hiểu biết, vốn kinh nghiệm, đưa cái riêng của mình (về nhu cầu, xu hướng, tính khí, năng lực) vào trong hình ảnh đó, với những mức độ, sắc thái khác nhau làm cho nó mang đậm màu sắc chủ quan [30]

Thứ tư, hình ảnh mang tính trọn vẹn, là sự phản ánh đầy đủ các thuộc tính của sự vật hiện tượng Bởi lẽ, hình ảnh là bản “sao chép”, “bản chụp” về thế giới, là kết quả của quá trình phản ánh thế giới khách quan nên hình ảnh phản ánh đầy đủ các thuộc tính của sự vật và hiện tượng [30]

b Khái niệm cái tôi

Cái tôi (self) là một thuật ngữ đôi khi được dùng với từ bản ngã (ego), hay bản thân, cũng có tác giả gọi là khái niệm cái tôi (self - concept) Đã từ lâu, cái tôi (self) trở thành chủ đề nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau như triết học, xã hội học, tâm lý học… Từ góc độ tâm lý học, khái niệm cái tôi cũng được xuất hiện ở nhiều lý thuyết khác nhau Trước hết là các lý thuyết, học thuyết từ góc độ tâm lý học nhân cách

Erik H Erikson là một nhà phân tâm mới Khác với S Freud cho rằng cái tôi được hình thành do áp lực bên ngoài đến toàn bộ khối bản năng Nhiệm vụ của cái tôi là làm cho cái ấy thỏa mãn mà không làm tổn hại đến cơ thể và C Jung (Cái tôi

Trang 33

là mục đích của cuộc sống, một mục đích mà con người luôn phấn đấu nhưng ít khi đạt được), Erikson (dẫn theo Barry D Smith & Harold J Vetter, 2005) chú trọng và tập trung vào cái tôi (bản ngã) như là một yếu tố cốt lõi trong nhân cách con người Cái tôi có tính tự do ý chí và không chịu ảnh hưởng bất biến của xung động bản năng Cái tôi bao hàm niềm tin, hi vọng tình yêu và những phẩm chất tốt khác Hơn nữa, cái tôi có khuynh hướng đảm nhận phương pháp giải quyết vấn đề, định hướng vấn đề trong cuộc sống, tìm kiếm những giải pháp mới và tốt hơn cho cả vấn đề cũ

và mới [5]

Đại diện cho trường phái nhân văn, dòng lý thuyết lấy con người làm trung tâm, Carl Roger là người đề xướng lý thuyết về cái tôi Roger (1959) đã định nghĩa cái tôi là dạng khái niệm nhất quán, có tổ chức các tri giác và niềm tin về bản thân mình Roger cho rằng cái tôi là nhân cách bên trong của con người [79] Từ góc độ của thuyết nhân văn, khái niệm cái tôi gồm ba thành phần: cái tôi giá trị, tự tin và cái tôi lý tưởng [71]

Cũng trên bình diện coi cái tôi là hạt nhân của nhân cách, Shlien (1970) cho rằng, khái niệm về cái tôi là một cấu trúc trong sự hiểu biết mà chúng ta sử dụng như một “tấm bản đồ” để giúp ta “lèo lái” thực tế [84] Nói cách khác, nó là khả năng nhìn thấy mình như một thực thể riêng biệt và là một bước cần thiết đầu tiên trong quá trình khám phá và phát triển bản thân mình Nó có tính chất đa chiều kích, nhưng có hai khía cạnh quan trọng là “cái tôi thực tế” và “cái tôi lý tưởng”

+ Cái tôi thực tế (real self- concept) là hình ảnh của chúng ta về một con người mà ta nghĩ ta thực sự đang là

+ Cái tôi lý tưởng (ideal self- concept) là hình ảnh của chúng ta về một con người mà ta nghĩ ta nên là

Theo Purkey, William W (1988), một người có chức năng sống đầy đủ sẽ giữ hai khía cạnh trên của cái tôi một cách chừng mực Chúng ta sẽ phải điều chỉnh lại ý niệm về bản ngã của mình để phù hợp với những trải nghiệm sống mới, cũng như chúng ta cũng phải sửa đổi các ý niệm khác sao cho phù hợp với những trải nghiệm sống của bản thân [78]

Trang 34

Theo quan điểm của chủ nghĩa hành vi, thì cái tôi chính là sự tự đo lường bản thân Đó là quá trình tự trau dồi bản thân và những hành vi tự trừng phạt được coi là vấn đề nổi bật trong quan niệm về cái tôi Các tác giả Bob Albrecht, Leroy Finkel, Jerald R Brown (1980) cho rằng chính quá trình tự học giúp cá nhân tìm được chuẩn mực trong cách cư xử và tự quyết định thái độ đối với hành vi của mình Chủ nghĩa hành vi đề cao cái tôi cá nhân, vai trò của cá nhân trong cái tôi Giống như quan điểm trên, quan điểm này cũng không xem xét đến những yếu tố xã hội tác động đến cái tôi [42]

Theo Brown (2000), khái niệm cái tôi là cách một người nghĩ về chính mình Hay nói khác đi, khái niệm cái tôi là hình ảnh tâm trí về bản thân mình [45]

Bên cạnh đó, thuật ngữ khái niệm cái tôi (self- concept), cũng là một thuật ngữ chung dùng để chỉ cách con người nghĩ, đánh giá hay nhận thức bản thân Tác giả Baumeister (1998) đưa ra định nghĩa khái niệm cái tôi sau đây: “Khái niệm cái tôi là niềm tin của cá nhân về bản thân mình” [37]

Có thể thấy, các lý thuyết về cái tôi được nhắc đến trên đây đã chỉ ra khái niệm cái tôi như là cốt lõi của nhân cách, phản ánh một nhân cách bên trong của một cá nhân

Một khuynh hướng xem xét cái tôi từ góc độ tâm lý xã hội tương đối khác Theo hướng này, cái tôi phản ánh mặt xã hội của nhân cách Trong cái tôi, đâu đó

có bóng dáng của người khác, cái tôi trong mắt người khác, từ sự nhìn nhận đánh giá của người khác được mỗi cá nhân tri giác về bản thân mình Ở đây sẽ điểm qua một số tác giả theo định hướng này

Hai tác giả William James và Chales Horton Cooley (dẫn theo Susan Harter, 1988) xem cái tôi là một thể phức hợp của các yếu tố: Cá nhân đó là người như thế nào, cá nhân đó muốn gì và người khác muốn gì ở cá nhân ấy [88] Theo đó, cái tôi được chia làm hai thành phần chính: Cái tôi khách thể và cái tôi chủ thể Mỗi cá nhân luôn là một thể thống nhất giữa bản thân (cái chủ thể) và sự đánh giá của người khác (cái khách quan) W James nhấn mạnh: “Khi nghĩ đến bất cứ điều gì, tôi đều ít hay nhiều nhận thức được bản thân và người ta nhận thấy tôi như thế nào” Cái tôi chủ thể là cái tôi bản thân cá nhân nhận thức được chính mình và cái tôi

Trang 35

khách thể là cái tôi dựa trên quan điểm người khác đánh giá về bản thân cá nhân nhận thức lại về mình Ở đây, James coi trọng cái tôi khách thể hơn vì nó là sự phản hồi ngược lại của cộng đồng đối với một cá nhân Ông đưa ra khái niệm “người quan trọng” để chỉ những người có ảnh hưởng nhiều nhất tới hành vi của cá nhân [dẫn theo 72]

George Herbert Mead (1934), người đưa ra lý thuyết về cái tôi (theory of the self) nói rằng “Chúng ta thường xuyên biết đến chính mình bằng cách tưởng tượng những gì người khác nghĩ về mình và sau đó kết hợp những nhận thức này vào khái niệm của bản thân” [dẫn theo 72]

Nghiên cứu tự ý thức về cái tôi, Petrovski, A.V (1982) cho rằng tự ý thức chính là sự phát hiện ra cái tôi và là hình ảnh của cái tôi Con người khi tham gia vào quan hệ xã hội đã tách biệt bản thân mình khỏi môi trường xung quanh, cảm thấy bản thân là chủ thể của các trạng thái, hoạt động, của các quá trình tâm lý, thể chất của mình, xuất hiện cho chính mình như cái tôi Cái tôi tương phản với “người khác” nhưng luôn luôn quan hệ mật thiết với nhau [27]

Để đưa ra một lý thuyết về cái tôi xã hội đặc trưng cho cả xu hướng cá nhân

và cộng đồng, Markus và Kitayma (1991) đề xuất một quan niệm về cái tôi độc lập

và cái tôi phụ thuộc lẫn nhau [70] Theo quan niệm của các tác giả, cái tôi độc lập chấp nhận mối quan hệ với những người khác Còn cái tôi phụ thuộc lẫn nhau là cái tôi gắn chặt với những người khác, có một phần chồng khớp, đan xen, phụ thuộc lẫn nhau giữa bản thân và người khác Chính quan niệm này cho thấy cái tôi của cá nhân vẫn mang màu sắc và dấu ấn từ các tác động xung quanh

Giữa cái tôi chủ thể và cái tôi khách thể có mối quan hệ biện chứng với nhau Cái tôi chủ thể thường là những nhu cầu và bản năng tiềm ẩn trong mỗi cá nhân Nhiều khi chủ thể không đánh giá đúng về bản thân và thường theo xu hướng ngẫu hứng, tự phát, không có tổ chức Cái tôi khách thể giúp cho cá nhân tìm ra cách xử sự đúng đắn Cái tôi khách thể là đạo lý xã hội của cái tôi, cái tổng quan, chỉ đạo sự tự phát của cái tôi chủ thể theo những hành vi mang tính đạo lý xã hội Tất cả mọi hành động đều bắt đầu từ cái tôi chủ thể và chấm dứt bởi cái tôi khách thể Cái tôi chủ thể kết hợp với cái tôi khách thể làm cho cái tôi mang tính ổn định [dẫn theo 47]

Trang 36

Năm 2001, theo tác giả Đỗ Long trên cơ sở tổng hợp nhiều cách hiểu đã khái quát về cái tôi Tác giả cho rằng cái tôi của con người là một hiện tượng tâm lý, một hiện tượng xã hội Về cơ bản, cái tôi có liên quan đến tự ý thức về những khác biệt giữa bản thân mình với những người xung quanh [18]

Knud S Larsen, Lê Văn Hảo (2010) cũng định nghĩa cái tôi theo hướng này Theo đó: “Cái tôi là một tập hợp những niềm tin mà chúng ta có về bản thân mình” Cách tiếp cận này đề cập đến cái tôi như là những ý niệm về bản thân, là những gì

ta biết về mình, rằng ta tồn tại tách biệt với người khác và có những đặc tính riêng Những gì chúng ta biết về mình trên cơ sở đối chiếu với người khác và với xã hội xung quanh [23]

Tóm lại, từ quá trình tổng hợp và phân tích các định nghĩa khác nhau về cái

tôi của các tác giả, có thể rút ra quan điểm chung nhất về cái tôi: Cái tôi là tập hợp

những ý niệm về chính bản thân mình của mỗi cá nhân Cái tôi là cái bản chất nhất

của nhân cách con người, có nhiều mặt, và có những đặc tính riêng thể hiện rõ những đặc điểm tâm lý của con người thông qua hoạt động

c Hình ảnh cái tôi

HACT có thể hiểu là bức tranh tâm trí về cái tôi của mỗi cá nhân Nó thể hiện cách một người nhìn nhận mình như thế nào Hình ảnh này không phải tự nhiên có mà được xây đắp theo thời gian thông qua hoạt động của con người HACT có thể có 3 dạng xét từ góc độ cá nhân có được hình ảnh đó từ đâu: (1) HACT là kết quả của việc cá nhân tri giác bản thân mình; (2) HACT là kết quả của việc người khác nhìn thấy mình như thế nào; (3) HACT là kết quả của việc cá nhân cảm nhận thấy người khác tri giác họ thế nào [101]

Dạng thứ nhất - HACT là hình dung của chủ thể về bản thân mình tập trung vào chính chủ thể, thể hiện cách mà chủ thể tri giác, đánh giá bản thân Ở đây, HACT rất gần gũi với cái tôi đã đề cập đến ở trên Roger (1959) cho rằng HACT là một thành phần của cái tôi, phản ánh cái tôi Theo ông, HACT là cách ta nhìn thấy bản thân mình, từ vẻ ngoài đến nhân cách bên trong Ở cấp độ đơn giản, có thể thấy mình tốt hoặc xấu, đẹp hay không đẹp Hình ảnh này có ảnh hưởng đến sức khỏe tâm lý của ta, tác động đến cách chúng ta cảm, cách nghĩ và cách hành động [79]

Trang 37

Còn dạng thứ 2 và 3 cũng là hình dung của chủ thể về bản thân nhưng lại bắt nguồn từ cách người khác tri giác bản thân mình Đó chính là HACT từ góc độ tâm

lý học xã hội Khái niệm này quan tâm đến cách con người tri giác bản thân mình thông qua con mắt của người khác nhìn nhận cá nhân đó ra sao Khái niệm cái tôi trong gương (looking - glass self) là một khái niệm mang ý nghĩa như vậy Khái niệm này do Charles Horton Cooley đưa ra vào năm 1902 Theo khái niệm này, cái tôi của một người được hình thành và lớn lên từ sự tương tác liên cá nhân và tri giác của những người khác trong xã hội [46]

Thuật ngữ này dùng để chỉ những người định hình bản sắc của họ dựa trên tri giác của người khác, dẫn dắt họ trong việc thể hiện bản thân nhằm củng cố những đánh giá tốt đẹp của người khác về bản thân mình Điều đó có nghĩa là con người định hình bản thân mình dựa trên những gì người khác cảm nhận và xác nhận ý kiến của người khác về mình

Có ba thành phần chính của HACT trong gương:

+ Đầu tiên, tưởng tượng chúng ta phải xuất hiện trước người khác với một hình ảnh như thế nào

+ Thứ hai, chúng ta tưởng tượng ra sự đánh giá của người khác về hình ảnh đó + Cuối cùng, ta định HACT của mình thông qua đánh giá của người khác Trong khuôn khổ giả thuyết của cái tôi trong gương, Cooley cho tằng, “tâm trí là tinh thần” bởi vì “tâm trí con người là xã hội” Nói cách khác, khả năng tinh thần của tâm trí là kết quả trực tiếp của sự tương tác xã hội của con người

Tác giả Cooley (1998) còn phát biểu vấn đề này ở một khía cạnh khác: cái tôi phát triển dựa trên sự phản hồi của cộng đồng được gọi là “cái tôi lăng kính”, nghĩa là cái tôi hình thành và phát triển bởi sự phản ứng của chủ thể khi tiếp nhận những đánh giá từ người khác “Cái tôi lăng kính” cũng giống như khi ta soi gương,

ta sẽ nhận thấy hình dạng của mình như thế nào, còn khi ta soi vào “chiếc gương xã hội” có nghĩa ta thấy mọi người xử sự với ta ra sao, có thái độ như thế nào đối với

ta, theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực Sự phát triển của “cái tôi lăng kính” bao gồm ba phần cụ thể:

+ Về hình thức: cách nhìn nhận của mọi người về hình dáng của mình

Trang 38

+ Về tính cách: tốt hay xấu, cởi mở hay khó tiếp xúc…

+ Hệ quả của sự đánh giá: cá nhân tự cảm nhận về mình, chủ thể sẽ tự hào, hài lòng về bản thân khi nghĩ mọi người sẽ đánh giá tốt về mình và ngược lại sẽ cảm thấy mất tự tin khi nghĩ người khác đánh giá không tốt về mình [47]

Có thể thấy, HACT là hình ảnh chủ quan của mỗi người về bản thân mình, thể hiện sự nhìn nhận, đánh giá bản thân nhưng để định hình được hình ảnh chủ quan đó, mỗi người lại quan tâm đến việc người khác nhìn nhận và đánh giá mình như thế nào HACT, vì thế, mang tính đánh giá, thể hiện những đánh giá của chủ thể Có thể vì vậy, HACT rất gần với tự đánh giá (self- esteem) bởi thông qua tự đánh giá, cá nhân hình dung ra bản thân mình

Từ những phân tích về các quan niệm khác nhau về HACT người nghiên cứu

quan niệm HACT như sau: HACT là bức tranh chủ quan phản ánh tập hợp những ý

niệm về chính bản thân của mỗi cá nhân

2.1.2 Các luận điểm lý thuyết về cấu trúc HACT

Cấu trúc của HACT bao gồm trong đó những thành phần, những khía cạnh của HACT Bởi HACT là bức tranh chủ quan về cái tôi của chủ thể nên có thể nói cái tôi có bao nhiêu thành phần, bao nhiêu khía cạnh thì HACT cũng có bấy nhiêu thành phần, bấy nhiêu khía cạnh Dưới đây, chúng tôi sẽ trình bày một số quan điểm

lý thuyết về cấu trúc của cái tôi, của HACT

a Quan điểm của Manford H Kuhn (1954, 1960)

Trước hết là cấu trúc HACT của tác giả Kuhn (1954) [62] Bằng cách sử dụng trắc nghiệm 20 mệnh đề, tác giả đã chỉ ra 4 nhóm mô tả chính về HACT:

1) Mô tả thực thể: như tôi cao, có đôi mắt màu nâu, tóc dài, tôi béo

2) Vai trò xã hội: mô tả bản thân mình trong vai trò của một thành viên nhóm nào đó mà cá nhân đó là thành viên Ví dụ như SV, người nội trợ, hoặc thành viên của đội bóng đá Điều đó không chỉ giúp người khác nhận ra cá nhân đó, mà còn giúp mỗi cá nhân biết những gì được mong đợi trong các tình huống khác nhau

3) Tính cách: Đây là chiều cạnh thứ ba thể hiện hình ảnh cá nhân như một nhân cách với những đặc điểm riêng mang tính bản sắc “Tôi bốc đồng Tôi hào phóng Tôi có xu hướng lo lắng rất nhiều”

Trang 39

4) Những đặc điểm hình tượng: Đây thường là những hình ảnh mang tính trừu tượng mà không rõ ràng về bản thân Ví dụ như “Tôi là một đứa con của vũ trụ”, “Tôi là một con người quan trọng”, “Tôi là một hữu thể thiêng liêng”

Sau đó, trong một nghiên cứu khác năm 1960, cũng sử dụng trắc nghiệm 20 mệnh đề, Kuhn nhóm gộp các mô tả về bản thân thành 5 nhóm Đó là: (1) Nhóm hoặc sắp xếp nhóm xã hội, (2) Các niềm tin tư tưởng, (3) Sở thích, (4) Tham vọng, mục đích, (5) Tự đánh giá [63]

Có thể thấy, tuy cách nhóm gộp và phân loại có khác nhau nhưng điểm chung của hai cách nhóm gộp là chỉ ra những hình ảnh bề ngoài và những hình ảnh bên trong nội tâm của cá nhân, trong đó, hình ảnh bên trong có nhiều khía cạnh mà Kuhn muốn làm rõ hơn bằng cách nhóm gộp thành nhiều chiều cạnh hơn

b Quan điểm của L' Ecuyer R (1978)

Một nhánh khác đã chỉ ra cấu trúc cái tôi của L Ecuyer (Pháp) vào năm

1978, nội dung của nó đã được chuyển tải bằng tiếng Anh vào năm 1981 [65] Theo

L Ecuyer, cấu trúc cái tôi gồm 5 khía cạnh Mỗi khía cạnh đó gồm những tiểu cấu trúc khác nhau Những tiểu cấu trúc có tầm quan trọng khác nhau với mỗi cá nhân, phụ thuộc vào nhu cầu của cá nhân đó Có những cấu trúc được cá nhân nhận thức với tầm quan trọng gọi là nhận thức trung tâm, có cấu trúc ít quan trọng hơn gọi là nhận thức thứ cấp Cụ thể, cấu trúc của cái tôi theo quan điểm này gồm:

(1) Cái tôi vật chất: Trong cái tôi vật chất có hai tiểu cấu trúc nhỏ: cái tôi cơ thể và cái tôi sở hữu Cái tôi cơ thể gồm các đặc điểm ngoại hình, điều kiện thể chất

và sức khỏe Còn cái tôi sở hữu bao gồm các sở hữu về sự vật và sở hữu con người

(2) Cái tôi cá nhân: Trong cái tôi cá nhân có hình ảnh bản thân và bản sắc cá nhân Hình ảnh bản thân gồm tất cả các nguyện vọng, hoạt động, tình cảm, cảm xúc, thị hiếu, sở thích, năng lực, khả năng, phẩm chất và hạn chế của con người Bản sắc

cá nhân là vai trò, vị trí, tư tưởng, sự thống nhất, “bản sắc” trừu tượng của người đó

(3) Cái tôi thích nghi: Bao gồm hai tiểu cấu trúc đó là giá trị của bản thân và hoạt động của bản thân

(4) Cái tôi xã hội: Bao gồm tất cả các mối quan tâm, thái độ, mối liên hệ của cá nhân với xã hội mà anh ta đang sống Ngoài ra, còn có mối quan tâm đến tình dục

Trang 40

(5) Cái tôi - không - tôi: Là sự tham chiếu với người khác và quan điểm của người khác với cá nhân đó

c Quan điểm của Shavelson, Hubner, & Stanton (1976)

Cái tôi là một đánh giá tổng thể, trong đó kết hợp đánh giá các khía cạnh khác nhau về cái tôi của mỗi người, mỗi thành phần trong đó được xây dựng từ nhiều hành vi và kinh nghiệm cụ thể (Shavelson, Hubner, & Stanton, 1976) [85]

Nghiên cứu trên trẻ vị thành niên, các tác giả phát hiện thấy từ góc độ tự đánh giá, HACT gồm bốn mặt lớn:

- HACT xã hội: Là thể hiện cái tôi trong tương tác xã hội (bạn bè, những

người có ý nghĩa);

- HACT cảm xúc: Thế giới cảm xúc của cá nhân (tức giận, hạnh phúc, yêu

thương…);

- HACT thực thể: Niềm tin của cái tôi về năng lực thể chất cũng như vẻ ngoài

của mình qua các đặc trưng như cân nặng, chiều cao, kiểu tóc, kiểu ăn mặc ;

- HACT học thuật: Cái tôi trong học tập

Trong một mô hình về khái niệm cái tôi, Marsh và Sahavenlson (1985), dựa vào mô hình đã trình bày ở trên, tổng hợp nên một mô hình khái niệm cái tôi đa diện và nhiều tầng bậc [58]

Hình 2.1 Cấu trúc khái niệm cái tôi (Nguồn: Shavelson, Hubner, & Stanton, 1976)

Ngày đăng: 17/04/2018, 19:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w