háp quyền, và Công lý Môi trườngNgân hàng Phát triển Châu Á Số 6 Đại lộ ADB, Thành phố Mandaluyong 1550 Metro Manila, Philippines www.adb.org Văn phòng khu vực châu Á - Thái Bình Dương c
Trang 1háp quyền, và Công lý Môi trường
Ngân hàng Phát triển Châu Á
Số 6 Đại lộ ADB, Thành phố Mandaluyong
1550 Metro Manila, Philippines
www.adb.org
Văn phòng khu vực châu Á - Thái Bình Dương của UNEP (UNEP/ROAP)
Tầng 2, Khu A, Tòa nhà Liên Hợp Quốc
Đại lộ Rajdamnern, Bangkok 10200
uneproap@un.org
Hội nghị Chuyên đề Thẩm phán châu Á
về Phán quyết Môi trường, Pháp quyền,
và Công lý Môi trường
Kỷ yếu Hội nghị
Pháp quyền, và Công lý Môi trường
Kỷ yếu Hội nghị
Hội nghị chuyên đề diễn ra trong hai ngày 28–29 tháng 7 năm 2010 tại Ngân hàng
Phát triển Châu Á—với các văn kiện chính được trình bày trong ấn phẩm này—đã tập
hợp các thành viên cấp cao của ngành tòa án và quan chức môi trường từ các quốc
gia châu Á, học viện, xã hội dân sự, tổ chức quốc tế, chuyên gia hàng đầu từ các quốc
gia phát triển và thể chế phát triển để chia sẻ kinh nghiệm nhằm giúp cải tiến chất
lượng của hoạt động xét xử trong các vụ việc về môi trường và tài nguyên thiên nhiên
tại các quốc gia châu Á Tại hội nghị chuyên đề này, các thẩm phán châu Á đã đề xuất
thành lập một Mạng lưới các thẩm phán châu Á về môi trường để cải thiện chất lượng
của việc phán quyết và xử lý vụ việc tại tòa liên quan tới môi trường.
Ngân hàng Phát triển Châu Á
Tầm nhìn của ADB là một khu vực châu Á–Thái Bình Dương không còn đói nghèo Sứ
mệnh của Ngân hàng là giúp các quốc gia thành viên đang phát triển giảm nghèo và
nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Mặc dù đã có nhiều thành công trong
khu vực, song đây vẫn là nơi sinh sống của hai phần ba số người nghèo trên thế giới:
1,6 tỷ người sống với mức thu nhập ít hơn 2 USD một ngày và 733 triệu người đang
phải vật lộn với mức thu nhập ít hơn 1,25 USD một ngày ADB cam kết giảm nghèo
thông qua tăng trưởng kinh tế công bằng, tăng trưởng bền vững về môi trường, và
hội nhập khu vực.
Có trụ sở chính tại Manila, ADB thuộc sở hữu của 67 nước thành viên, trong đó
có 48 nước thuộc khu vực Các công cụ chính của ADB để giúp đỡ các nước thành viên
đang phát triển là đối thoại chính sách, cho vay, đầu tư cổ phần, bảo lãnh, viện trợ
không hoàn lại và hỗ trợ kỹ thuật.
Về Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc
UNEP là cơ quan trong hệ thống Liên Hợp Quốc được chỉ định chuyên trách các vấn đề
môi trường ở cấp độ toàn cầu và khu vực Nhiệm vụ của cơ quan này là điều phối để
đạt tới sự đồng thuận về chính sách môi trường thông qua việc duy trì sự chú trọng
tới môi trường toàn cầu và đưa những vấn đề nổi bật ra trước các chính phủ và cộng
đồng quốc tế để kêu gọi hành động.
Trang 2Hội nghị Chuyên đề Thẩm phán châu Á
về Phán quyết Môi trường, Pháp quyền,
và Công lý Môi trường
Kỷ yếu Hội nghị
Tháng 7 năm 2010
Trang 3In trên giấy tái chế
Bảo lưu toàn bộ tác quyền Xuất bản năm 2011.
In tại Philíppin.
ISBN 978-92-9254-647-2 (Bản in), 978-92-9254-648-9 (Bản PDF)
Số lưu chiểu RPT146797-3
Dữ liệu thực mục xuất bản
Ngân hàng Phát triển Châu Á.
Hội nghị chuyên đề thẩm phán châu Á về phán quyết môi trường, pháp quyền, và công lý môi trường: Kỷ yếu hội nghị.
Thành phố Mandaluyong, Philíppin: Ngân hàng Phát triển Châu Á, 2011.
1 Môi trường 2 Pháp quyền 3 Thẩm phán 4 Châu Á I Ngân hàng Phát triển Châu Á.
Quan điểm được thể hiện trong ấn phẩm này là của các tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm và chính sách của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) cũng như Hội đồng Thống đốc Ngân hàng và các chính phủ mà họ đại diện.
ADB không bảo đảm độ chính xác của các dữ liệu trong ấn phẩm này và không nhận trách nhiệm
về bất kỳ hệ quả gì từ việc sử dụng chúng.
Khi nêu danh hoặc tham chiếu tới bất kỳ vùng lãnh thổ hoặc khu vực địa lý cụ thể nào, hoặc khi
sử dụng từ “quốc gia” trong tài liệu này, ADB không có ý định đưa ra bất kỳ nhận định nào về tư cách pháp lý hoặc tư cách khác của các vùng lãnh thổ hoặc khu vực địa lý đó.
ADB khuyến khích việc in ấn hoặc sao chép thông tin vì mục đích sử dụng cá nhân và phi thương mại kèm theo trích dẫn từ nguồn từ ADB một cách hợp lý Người sử dụng không được phép bán lại, tái phân phối hoặc tạo ra các sản phẩm phái sinh vì mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý rõ ràng bằng văn bản của ADB.
Lưu ý:
Trong ấn phẩm này, “$” chỉ đồng đôla Mỹ.
Ngân hàng Phát triển Châu Á
Số 6 Đại lộ ADB, Thành phố Mandaluyong
Trang 5Lời tựa
Tòa án đóng một vai trò then chốt trong thực thi luật pháp về môi
trường bằng việc đề ra các nguyên tắc của luật môi trường, hỗ trợ phát triển hệ thống diễn giải và áp dụng pháp luật môi trường, và dẫn đầu ngành luật thực hiện việc tích hợp công lý môi trường và phát triển bền vững vào các hệ thống luật pháp quốc gia vững mạnh Các thẩm phán cần phải có kiến thức và công cụ sẵn sàng để theo đuổi những mục tiêu cao cả này
Khung chiến lược dài hạn của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB)—Chiến lược 2020—thừa nhận môi trường và biến đổi khí hậu là những lĩnh vực hoạt động then chốt, còn quản trị công hữu hiệu và xây dựng năng lực
là các động lực thay đổi Do đó, ADB đã cam kết “tăng cường… năng lực pháp lý, quản lý và thực thi pháp luật của các thể chế nhà nước liên quan tới môi trường” Những cam kết này được trình bày chi tiết trong Tuyên bố
về chính sách bảo đảm của ADB, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường năng lực của các quốc gia để xây dựng các hệ thống quản lý quốc gia tập trung vào môi trường, và trong tài liệu Các định hướng hoạt động môi trường (2012–2020) sắp ấn hành, trong đó nêu bật những ưu tiên của ADB
về khí hậu và vai trò của Ngân hàng trong quản trị môi trường và khí hậu
Để đáp ứng yêu cầu của một số quốc gia thành viên đang phát triển, ADB
đã phê duyệt một khoản hỗ trợ kỹ thuật vùng1 với một trong các mục tiêu
là nhằm đóng góp thông tin và kiến thức về những gì mà các quốc gia châu
Á và các nước phát triển đang thực thi trong việc phân xử môi trường Hơn nữa, trong hai ngày 28–29 tháng 7 năm 2010, ADB đã tổ chức Hội nghị chuyên đề thẩm phán châu Á về phán quyết môi trường, pháp quyền, và công lý môi trường (gọi tắt là Hội nghị), như một hoạt động trong khuôn khổ hỗ trợ kỹ thuật vùng được thiết kế nhằm mục đích này
Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) đã lưu ý rằng Hội nghị chuyên đề này là sự tập hợp đông đảo nhất các thẩm phán và bên hữu quan trong lĩnh vực pháp lý tận tâm với việc củng cố pháp quyền và công
lý môi trường kể từ Hội nghị chuyên đề thẩm phán toàn cầu năm 2002 ở Johannesburg, Nam Phi Hội nghị lần này có sự tham gia của 110 thẩm
1 ADB, 2010 Hỗ trợ kỹ thuật Tăng cường năng lực cho quá trình khởi tố, xét xử, giải quyết
tranh chấp, tuân thủ và thực thi pháp luật môi trường tại châu Á (Technical Assistance for Building Capacity for Environmental Prosecution, Adjudication, Dispute Resolution, Compliance, and Enforcement in Asia) Manila.
iv
Trang 6phán, quan chức các bộ môi trường, và đại diện các tổ chức xã hội dân sự đến từ châu Á, Ôxtrâylia, Braxin và Hoa Kỳ để chia sẻ kinh nghiệm trong việc tăng cường pháp quyền, công lý môi trường và năng lực của thẩm phán khi phán quyết các vụ việc về môi trường.
Hội nghị này là một phần quan trọng trong hoạt động của ADB nhằm củng
cố pháp quyền, tư pháp, và quản trị nhà nước cho mục tiêu bền vững Các đại biểu tham gia Hội nghị đều nhất trí về nhu cầu củng cố chuỗi thực thi pháp luật môi trường hoàn thiện, song thừa nhận vai trò then chốt mà tòa
án có thể hoặc nên đảm nhiệm, bằng cả việc phát triển hệ thống áp dụng và diễn giải pháp luật môi trường và hỗ trợ thúc đẩy công lý môi trường trong các hệ thống pháp quyền mạnh và đáng tin cậy Các đại biểu tham gia Hội nghị cũng nhất trí rằng cần tổ chức những phiên họp định kỳ nơi các thẩm phán có thể chia sẻ kinh nghiệm về luật môi trường Do vậy, các đại biểu đề xuất rằng Hội nghị chuyên đề sẽ khởi xướng và nhóm họp với danh nghĩa Mạng lưới thẩm phán châu Á về môi trường để hỗ trợ việc trao đổi kinh nghiệm, ý tưởng, và thông tin giữa các thẩm phán tại châu Á
Cuốn sách này tập hợp các bài phát biểu tại Hội nghị chuyên đề Thành viên của các tòa án và các bên hữu quan khác về luật môi trường đã trình bày rất nhiều ý tưởng về quá trình phán quyết môi trường, pháp quyền, và công lý môi trường ADB đã nỗ lực tập hợp chúng ở đây để làm nền tảng cho việc bắt đầu tìm hiểu công lý môi trường và việc diễn giải và áp dụng pháp luật môi trường tại châu Á, cũng như cơ sở cho việc tăng cường quản trị nhà nước, tư pháp và pháp quyền về môi trường tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Jeremy H Hovland
Luật sư trưởng
Văn phòng Tư vấn luật
Trang 7Lời cảm ơn
Nhiều cán bộ của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và các đối tác
phát triển của Ngân hàng đã làm việc không biết mệt mỏi để giúp Hội nghị chuyên đề thẩm phán châu Á về phán quyết môi trường, pháp quyền, và công lý môi trường thành công
Các đối tác phát triển của ADB đã có sự hỗ trợ và phối hợp quan trọng trong việc mời các bên hữu quan và các chuyên gia thuộc nhiều khu vực tài phán khác nhau tham gia để chia sẻ những kinh nghiệm và thách thức mà
họ gặp phải trong lĩnh vực công lý môi trường Với vai trò chủ trì Hội nghị, ADB đánh giá cao sự phối hợp mạnh mẽ của Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP), với Bakary Kante và Masa Nagai đã hỗ trợ rất tốt về mặt thể chế, trong khi Wanhua Yang giúp hướng dẫn các hỗ trợ về dữ liệu hoạt động và đã không quản ngại đi lại để bảo đảm sự thành công của Hội nghị UNEP cũng đóng góp kinh phí cho việc ấn hành các kỷ yếu hội nghị này ADB cũng nhận được sự hỗ trợ của các đối tác phát triển khác, bao gồm Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (Scott Fulton, Kathy Stein, Steve Wolfson, Timothy Epp, và Robert Ward), Sáng kiến tiếp cận của Viện nguồn lực thế giới (Lalanath de Silva), và Mạng lưới tuân thủ và thực thi pháp luật môi trường châu Á (Peter King và Milag Ballesteros)
Tòa án tối cao Philíppin là đối tác chủ trì quốc gia, với sự hỗ trợ mạnh mẽ của Chánh án Renato C Corona—người đã khai mạc Hội nghị và chia sẻ suy nghĩ của ông về lợi ích của sự hợp tác giữa các tòa án khu vực trong phiên
bế mạc Midas Marquez từ Tòa án tối cao đã hỗ trợ rất hữu ích cho việc tổ chức Hội nghị ADB ghi nhận và đánh giá cao sự hỗ trợ của đoàn đại biểu Inđônêxia gồm 18 đại biểu do Chánh án Harifin Tumpa dẫn đầu Chánh án Tumpa đã mở rộng hoạt động của Hội nghị bằng cách đề nghị triệu tập Hội nghị bàn tròn lần thứ nhất về môi trường của các chánh án tiểu vùng tại Inđônêxia vào năm 2011
Neric Acosta (Tổng thư ký, Hội đồng các nhà hoạt động tự do và dân chủ châu Á), Vivien Rosa Ratnawati (Thứ trưởng Bộ môi trường Inđônêxia), Patricia Moore (Giám đốc, Liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế, khu vực châu Á - Thái Bình Dương), Milag Ballesteros, Robert Ward, Nessim Ahmad (Giám đốc, Ban môi trường và chính sách an toàn, ADB), Kathie Stein (Thẩm phán, Ban xét xử môi trường Hoa Kỳ), và Hamid Sharif (Giám đốc phụ trách, Văn phòng dịch vụ hoạt động trung ương, ADB) đều lần lượt chủ trì một phiên của Hội nghị và hỗ trợ thảo luận nhóm
vi
Trang 8Trong ADB, Phó Chủ tịch phụ trách tài chính và hành chính Bindu N Lohani
đã khai mạc Hội nghị Từ Văn phòng Tư vấn luật, Phó Trưởng văn phòng Philip Daltrop đã hỗ trợ rất tích cực Kala Mulqueeny, luật sư cấp cao, chịu trách nhiệm triệu tập Hội nghị, với sự hỗ trợ của một nhóm xuất sắc gồm Sherielysse Bonifacio, Mark Alain Villocero, Maria Angelica Magali, Mary gay Alegora, Jackie Espenilla, Marietta Santos, Marichu Abeleda-Milward, và Elenita Cruz-Ramos, những người đã cung cấp sự hỗ trợ vô giá trong công việc hành chính, thư ký và nghiên cứu Văn phòng dịch vụ hành chính mà đại diện là Rebecca Salvo, Anna Clarissa Araullo, và Thelma Gail Abiva đã hỗ trợ các yêu cầu về đi lại Từ Ban quan hệ đối ngoại, Rodel Bautista, Portia Andres, Anthony Victoria, Cynthia Hidalgo, Vicente Angeles, Miguelito Paulino, Ma Priscila del Rosario, và Anna Maria Juico đã hỗ trợ cho việc xuất bản tài liệu này và rất nhiều yêu cầu xuất bản các tài liệu khác của Hội nghị.Kala Mulqueeny và Sherielysse Bonifacio đã chuẩn bị và biên tập Kỷ yếu này
Trang 9Danh mục các từ viết tắt
ADR – giải quyết tranh chấp ngoài tòa án
AECEN – Mạng lưới tuân thủ và thực thi pháp luật môi trường châu Á
APJA – Hội luật gia châu Á - Thái Bình Dương
ASEAN – Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
BELA – Hiệp hội luật môi trường Bănglađét
DMC – quốc gia thành viên đang phát triển
ECTs – các tòa và ban xét xử môi trường
EDCC – Ủy ban điều phối tranh chấp môi trường (Nhật Bản)
EJE – thực thi pháp luật môi trường của tòa án
EUFJE – Diễn đàn các thẩm phán môi trường Liên minh châu ÂuLAWASIA – Hiệp hội luật châu Á - Thái Bình Dương
LEC – Tòa đất đai và môi trường (Ôxtrâylia)
MAB – Ban phân xử về khai mỏ (Philíppin)
NEAA – Cơ quan phúc thẩm môi trường quốc gia (Ấn Độ)
NEDRC – Ủy ban giải quyết tranh chấp môi trường quốc gia (Hàn Quốc)NET – Tòa môi trường quốc gia (Ấn Độ)
ORES – Hệ thống thực thi pháp luật đồng nhất (Inđônêxia)
PAB – Ban phân xử ô nhiễm (Philíppin)
PEC – Tòa quy hoạch và môi trường (Ôxtrâylia)
PEPA – Đạo luật bảo vệ môi trường Pakixtan
PHILJA – Học viện tư pháp Philíppin
PPEC – Ủy ban điều tra ô nhiễm quận (Nhật Bản)
TAI – Sáng kiến tiếp cận (Viện nguồn lực thế giới)
UNEP – Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc
USAID – Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ
USEPA – Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ
viii
Trang 10Báo cáo tóm tắt
Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) đã chủ trì Hội nghị chuyên đề thẩm
phán châu Á về phán quyết môi trường, pháp quyền và công lý môi trường trong hai ngày 28 và 29 tháng 7 năm 2010 tại Manila, với sự hợp tác của Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) và các đối tác khác Hội nghị chuyên đề này được tổ chức như một phần trong dự án hỗ trợ kỹ thuật khu vực của ADB để tăng cường năng lực tòa án trong xét xử môi trường Hội nghị này là sự đáp ứng yêu cầu của các quốc gia thành viên đang phát triển của ADB đối với thông tin về sự phát triển và các thực tiễn hoạt động hiệu quả trong xét xử về môi trường và quản trị môi trường trong khu vực Hội nghị có sự tham gia của 110 thẩm phán, quan chức các bộ môi trường, và đại diện các tổ chức xã hội dân sự đến từ châu Á, Ôxtrâylia, Braxin và Hoa Kỳ, và được coi là lần tập hợp đông đảo nhất các thẩm phán
và bên hữu quan trong lĩnh vực pháp lý kể từ Hội nghị chuyên đề thẩm phán toàn cầu về phát triển bền vững và vai trò của luật pháp năm 2002 ở Johannesburg, Nam Phi ADB và UNEP, cùng với Mạng lưới tuân thủ và thực thi pháp luật môi trường châu Á, Sáng kiến tiếp cận của Viện nguồn lực thế giới, Tòa án tối cao Philíppin, và Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ, đã phối hợp triệu tập Hội nghị này như một nơi để chia sẻ kinh nghiệm về xét xử liên quan tới môi trường và sự phát triển tư pháp môi trường ở châu Á
Các thẩm phán và bên hữu quan chủ chốt đã được đề nghị chia sẻ các kinh nghiệm của họ trong xét xử môi trường, cũng như những thách thức và nhu cầu nảy sinh trong quá trình hoạt động Hội nghị này đã nhấn mạnh việc cải tiến quá trình phán quyết và xét xử liên quan tới môi trường và tài nguyên thiên nhiên trong các tòa án châu Á mà không đưa ra giả định về một hình mẫu hoặc cơ cấu cụ thể được coi là tốt nhất trong bối cảnh quốc gia nhất định nào đó Nó nhấn mạnh sự chuyên môn hóa về môi trường trong các tòa án chung và tìm hiểu các công việc được tiến hành bởi các tòa án và ban xét xử môi trường chuyên biệt Bên cạnh đó, hội nghị còn xem xét các động lực từ phía cầu, bao gồm vai trò của các tổ chức xã hội dân sự trong việc tạo ra nhu cầu này, và những cách thức phi chính thống khác để thể chế hóa sự tiếp cận công lý môi trường tại châu Á đang phát triển Không có các động lực để gia tăng nhu cầu xét xử môi trường hiệu quả của các tòa án, sự chuyên môn hóa tòa án về môi trường có thể trở nên vô dụng
Hội nghị chuyên đề này bao gồm bảy phiên họp: Đổi mới tư pháp trong luật môi trường, Tiến triển của chuyên môn hóa tư pháp trong luật môi trường (năm quốc gia và hai hệ thống pháp lý), Kinh nghiệm quốc tế về các ủy ban
và ban xét xử môi trường, Thể chế hóa các hệ thống để thúc đẩy luật môi trường trong đào tạo tư pháp, Các mạng lưới liên tòa án về môi trường,
ix
Trang 11Thẩm phán châu Á và môi trường: các nhu cầu năng lực và khả năng hình thành một mạng lưới, và các phiên thảo luận nhóm về Thách thức của quá trình phán quyết môi trường.
Những kết luận rút ra trong hai ngày hội nghị, như được phản ánh trong Tuyên bố của Hội nghị mà các đại biểu đã xây dựng, bao gồm những nội dung sau:
1 Các thẩm phán cấp cao ở châu Á đóng vai trò then chốt trong việc cải tiến thực thi pháp luật môi trường, không chỉ thông qua hành động trực tiếp của họ trong việc đưa ra các phán quyết về môi trường, hay xây dựng hệ thống diễn giải và áp dụng pháp luật môi trường, mà còn bởi việc cổ vũ và định hướng những người còn lại trong ngành luật hướng tới các hệ thống pháp quyền đáng tin cậy, chính trực và thúc đẩy sự bền vững môi trường
2 Do vai trò độc nhất vô nhị này của các thẩm phán, cần phải tăng cường năng lực cho họ Một cách để thực hiện điều này là thông qua việc thể chế hóa và lồng ghép đào tạo về luật môi trường trong giảng dạy tư pháp, với nội dung cần bao gồm các kỹ thuật tranh tụng và giải quyết tranh chấp môi trường
3 Tăng cường tiếp cận công lý, bao gồm hệ thống tư pháp chính thống và tư pháp hành chính cùng những cách thức phi chính thống để giải quyết tranh chấp Các ban xét xử môi trường và những phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án có thể mang lại một cách thức nhanh chóng để giải quyết hoặc phân xử tranh chấp
4 Cần thiết lập một mạng lưới tòa án về môi trường Do các vấn đề trong những vụ việc môi trường vượt ra ngoài biên giới quốc gia, cần phải chia sẻ thông tin, kinh nghiệm và thông lệ hiệu quả nhất
về những vấn đề giống nhau mà các thẩm phán trong toàn khu vực phải đối mặt
Trang 12Các sự kiện chính của Hội nghị
Phiên khai mạc
Các bài phát biểu khai mạc
Bindu N Lohani, Phó Chủ tịch phụ trách tài chính và hành chính của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), đã khai mạc Hội nghị chuyên đề thẩm phán châu Á về phán quyết môi trường, pháp quyền và công lý môi trường và chào mừng các đại biểu và chuyên gia tham dự Ông Lohani đã đề xuất hai vấn đề cần cân nhắc trong các phiên thảo luận của Hội nghị Thứ nhất, biến đổi khí hậu và môi trường là một yếu tố then chốt trong giảm nghèo Khi xác định môi trường là một lĩnh vực hoạt động then chốt, ADB
sẽ nỗ lực “tăng cường năng lực pháp lý, điều hành và thực thi pháp luật của các thể chế nhà nước liên quan tới môi trường” Hội nghị này hỗ trợ cho các chính sách hoạt động của ADB thông qua việc tăng cường năng lực thực thi pháp luật môi trường của một thể chế nhà nước then chốt và một nhánh trong chính quyền (ngành tư pháp) Thứ hai, cần phải tăng cường năng lực của các thẩm phán châu Á trong phán quyết các vụ việc
về môi trường Thực thi pháp luật môi trường là yếu tố hết sức quan trọng
để thiết lập các khuôn khổ đúng đắn nhằm tạo điều kiện và bảo đảm cho các khoản đầu tư cơ sở hạ tầng của nhà nước và tư nhân Các thẩm phán cấp cao của châu Á đóng một vai trò then chốt trong việc thực thi pháp luật môi trường
Ông Lohani kết luận bằng cách thách thức các đại biểu trình bày kết quả
cụ thể của Hội nghị Ông thông báo với các đại biểu rằng, vào cuối Hội nghị, ADB hy vọng hiểu được: (i) những thách thức đối với việc tiếp cận công lý môi trường và tăng cường năng lực của tòa án trong phán quyết các vụ việc môi trường; và (ii) các hành động cần thiết để giải quyết những thách thức này nhằm bảo đảm thực thi pháp luật môi trường thành công
Renato Corona, Chánh án Tòa án tối cao Philíppin, cũng phát biểu khai mạc
về công lý môi trường Ông Corona chia sẻ rằng Tòa án tối cao Philíppin cam kết về mặt thể chế đối với bảo vệ môi trường Tòa án coi bảo vệ môi trường
là một nhiệm vụ thiêng liêng, do quyền được hưởng một môi trường lành mạnh của cả thế hệ hiện tại và tương lai Quyền này có tầm quan trọng hiển nhiên và rõ ràng tới mức nó không cần phải ghi vào trong Hiến pháp Philíppin
1
Trang 13Ông Corona đề cập rằng việc xây dựng một lộ trình để tăng cường năng lực của các thẩm phán trong phân xử môi trường là đòi hỏi cấp thiết, do không thể hy sinh các quan ngại về môi trường cho tăng trưởng kinh tế Ông kết luận rằng các thẩm phán, luật sư, và người dân nói chung đều có nghĩa vụ không chỉ xác định giải pháp cho những vấn đề môi trường mà còn phải thực thi chúng.
Bakary Kante, Giám đốc Vụ luật pháp và công ước môi trường của Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) cũng chào mừng các đại biểu tham dự Hội nghị Ông Kante nhận xét rằng hội nghị lần này tập hợp đông đảo nhất các thẩm phán kể từ sau Hội nghị thẩm phán toàn cầu tại Johannesburg năm 2002 Ông lưu ý rằng Hội nghị này là (i) một sự đóng góp cụ thể cho việc chuẩn bị Hội nghị thượng đỉnh Rio+20, kỷ niệm 20 năm diễn ra Hội nghị thượng đỉnh Trái đất Rio; (ii) một minh chứng cụ thể
về vai trò đặc biệt của tòa án trong việc thúc đẩy quản trị môi trường tốt
và công lý môi trường hiệu quả; và (iii) một cơ hội cụ thể để chia sẻ những thành công cũng như thách thức trong việc tuân thủ và thực thi pháp luật môi trường ở châu Á, và làm thế nào để cải thiện quá trình này không chỉ
ở châu Á mà trên toàn cầu
Ông Kante kết luận bằng cách thông báo với các đại biểu rằng UNEP, với vai trò cơ quan chủ đạo về môi trường của Liên Hợp Quốc, sẵn sàng tiếp tục hỗ trợ trong việc đưa luật pháp trở thành nền tảng của phát triển bền vững ở cấp độ địa phương, quốc gia và toàn cầu
Tổng quan về Hội nghị
Kala Mulqueeny, luật sư cấp cao của Văn phòng Tư vấn luật thuộc ADB, đã giới thiệu vắn tắt về Hội nghị và những kết quả kỳ vọng của nó Hội nghị chuyên đề này là bước tiếp nối sau Hội nghị chuyên đề thẩm phán toàn cầu tại Johannesburg năm 2002, nơi các thẩm phán đã cam kết góp phần thực hiện những nguyên tắc phát triển bền vững Cần có một phần tổng kết về những gì đã làm được từ năm 2002 và những gì cần phải tiến tục tiến hành Vào cuối hội nghị, các đại biểu được kỳ vọng trình bày những kết quả cụ thể và tham vọng về những bước đi tiếp theo trong quản trị môi trường
Bà Mulqueeny nêu lên ba kết quả dự kiến của hội nghị: (i) sự đồng thuận
về các hành động tiếp theo; (ii) một báo cáo về quản trị môi trường và xét
xử môi trường dựa trên các bài phát biểu tại hội nghị, và (iii) đồng thuận
về các thông điệp chính sẽ được thảo luận chi tiết trong các phiên thảo luận nhóm
Bà Mulqueeny kết luận bằng cách nêu tóm tắt các phiên họp và các chủ đề thảo luận nhóm
Trang 14Các sự kiện chính của Hội nghị
Phiên họp 1
Đổi mới tư pháp trong luật môi trường:
Các phán quyết bước ngoặt
Phiên họp 1 nhấn mạnh những đổi mới trong hệ thống diễn giải và áp dụng pháp luật môi trường ở châu Á và các động lực đưa đến sự đổi mới này của tòa án Một số khu vực tài phán tại châu Á đã áp dụng những nguyên tắc luật môi trường quốc tế nêu trong các tuyên bố Stockholm và Rio vào khu vực tài phán của mình: Inđônêxia đã công nhận nguyên tắc phòng ngừa,
còn Philíppin đã sử dụng lệnh yêu cầu thực thi của tòa (writ of continuing
mandamus) để làm sạch Vịnh Manila Bên cạnh đó, học thuyết ủy thác công,
tuyên bố rằng chính phủ giữ gìn nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ lợi ích của công chúng, đã được sử dụng tại Xri Lanca
Adalberto Carim Antonio, một thẩm phán của Tòa các vấn đề môi trường
và nông nghiệp, bang Amazonas, Braxin đã thảo luận những đổi mới được
áp dụng bởi tòa án của ông - một tòa án xét xử về môi trường đã tiến hành giáo dục cho công chúng về luật môi trường, các phán quyết và hình phạt khác nhau đối với những người vi phạm các quy định môi trường Các phương tiện thông tin phổ biến như truyện tranh và các buổi biểu diễn mang tính chất giáo dục tại nhà trường đã được sử dụng để tuyên truyền rộng rãi các quyền về môi trường Đối với những người vi phạm các quy định môi trường, hình phạt bao gồm các hoạt động lao động công ích, ví
dụ như tham dự trường học ban đêm dành cho những người vi phạm về môi trường, đăng tải hành vi vi phạm hoặc tội danh của người vi phạm trên báo chí hoặc trên xe buýt công cộng đối với các doanh nghiệp vi phạm, và xây dựng các trường học giáo dục về môi trường tại những nơi chưa có Đây là các hình phạt bổ sung bên cạnh việc khắc phục những thiệt hại môi trường đã gây ra
Đối với các quốc gia châu Á, nội dung trình bày của những người tham gia thảo luận trong Phiên họp 1 được nêu chi tiết hơn trong phần mô tả về hệ thống diễn giải và thực thi pháp luật môi trường của từng quốc gia tương ứng
Các phiên họp từ 2 tới 6
Tiến triển của chuyên môn hóa tư pháp trong luật môi trường: Hệ thống diễn giải và áp dụng luật pháp môi trường châu Á và các toà án
Các phiên họp từ 2 tới 6 đã trình bày sự tiến triển của hệ thống diễn giải
và áp dụng luật pháp môi trường tại các quốc gia châu Á khác nhau Mục tiêu của các phiên thảo luận này là để hiểu được hệ thống diễn giải và áp dụng luật pháp môi trường đã phát triển ra sao và vai trò của cấu trúc tòa
án trong sự phát triển này: liệu hệ thống này đã phát triển do một cấu trúc
Trang 15tòa án cụ thể, hay nó góp phần vào việc thành lập các cấu trúc tòa án khác nhau, ví dụ như các tòa án môi trường, các toà môi trường trực thuộc các tòa án chung, hoặc các hình thức khác của sự chuyên môn hóa về môi trường? Các nhóm thảo luận của đại biểu châu Á trong hội nghị được thiết
kế sao cho có thể cung cấp một phạm vi các quan điểm khác nhau, từ thẩm phán cấp cao, thẩm phán tòa án quận hoặc tòa sơ thẩm, một luật sư môi trường vì lợi ích công, và một đại diện từ bộ môi trường khi có thể
Nam Á
Ấn Độ
Bisheshwar Singh, nguyên thẩm phán của Tòa án tối cao Ấn Độ, đã tóm tắt lịch sử phát triển hệ thống diễn giải và áp dụng luật pháp môi trường tại Ấn Độ Tòa án tối cao Ấn Độ đã phán quyết rất nhiều vụ việc về môi trường, sử dụng những sáng tạo tư pháp vô cùng mới mẻ
và độc đáo, được coi là các tiền lệ bước ngoặt cả ở cấp độ quốc gia và quốc tế Nó đã diễn giải sự bảo đảm quyền sống trong hiến pháp bao gồm quyền có một môi trường lành mạnh và không bị ô nhiễm.1 Nó đã tích hợp rất nhiều nguyên tắc của luật môi trường quốc tế trong những phán quyết của mình, bao gồm cả nguyên tắc phòng ngừa, nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền, và nguyên tắc “bình đẳng giữa các thế hệ”.Vai trò tích cực của Tòa án tối cao trong xét xử về môi trường đã và đang bị chỉ trích là “chủ nghĩa tích cực tư pháp” Tuy nhiên, ông Singh
đã phản bác rằng sự cấp tiến hoặc “tích cực” này chỉ là một phản ứng đối với - và cần thiết do - sự thiếu hoạt động và thờ ơ của ngành hành pháp Trong lĩnh vực luật môi trường, Tòa án tối cao đang đi đầu trong việc thực thi luật pháp, đồng thời lấp vào các khoảng thiếu hụt về lập pháp để hỗ trợ quyền sống - đã được diễn giải là bao gồm quyền có một môi trường lành mạnh
Ông Singh cũng chỉ ra rằng do không có đủ các toà xét xử và khối lượng khổng lồ các vụ án về môi trường, Tòa án tối cao đã chủ trương thành lập
một tòa môi trường chuyên biệt Ngay từ năm 1986, trong vụ Rò rỉ khí
Oelum (Oelum Gas Leak), Tòa án tối cao đã khuyến nghị thành lập các tòa
chuyên biệt Năm 1999, trong vụ Ủy ban kiểm soát ô nhiễm A.P kiện M.V
Nayudu,2 Tòa án tối cao đã yêu cầu Ủy ban luật pháp Ấn Độ3 cân nhắc thành lập các tòa chuyên biệt khi xét tới sự không thích hợp của các toà xét
xử hành chính, vốn không có thẩm phán hoặc sự hỗ trợ của các chuyên gia
1 M.C Mehta vs Union of India, A.I.R 1988 S.C 1037, 1045 (1987) (Kanpur Tanneries case).
2 1999, hai vụ xét xử tại Tòa án tối cao (Ấn Độ) 718.
3 Trong Báo cáo lần thứ 186 của mình, Ủy ban luật pháp Ấn Độ đã nhất trí với đề xuất của Tòa án tối cao về “sự cần thiết phải thành lập các tòa môi trường do các vấn đề đa ngành
có liên quan tới bảo vệ môi trường”.
Trang 16Hima Kohli, một thẩm phán của Tòa thượng thẩm bang Delhi, đã thảo luận về diễn tiến của tình trạng chuyên môn hóa tòa án ở cấp độ tòa thượng thẩm bang Các tòa thượng thẩm bang ở Ấn Độ chia sẻ tư tưởng cấp tiến của Tòa án tối cao khi xem xét các vấn đề môi trường Theo Hiến pháp Ấn Độ, các tòa thượng thẩm bang có thẩm quyền xét
xử chung với Tòa án tối cao trong việc thực thi những quyền cơ bản, và các tòa án này đã có nhiều sáng kiến khi phán quyết các tranh chấp về môi trường được đưa ra xét xử trước Toà án Tối cao Tòa án tối cao đã phán quyết việc sử dụng túi nilon là trái pháp luật để thực thi Đạo luật quản lý rác thải rắn, chỉ đạo giảm ô nhiễm tiếng ồn liên quan tới xây dựng đường sắt, và hướng dẫn chính quyền bang Delhi thực thi việc trữ nước mưa Trong rất nhiều vụ việc, Tòa án tối cao đã phát biểu rằng các tòa thượng thẩm bang cần thực thi thẩm quyền đối với những vấn đề môi trường nằm trong phạm vi xét xử của họ để bảo đảm việc tuân thủ
và hiệu quả trong thực thi các phán quyết Một ví dụ như vậy là trường
hợp lò mổ Idgah, lúc đầu được khởi kiện tại Tòa án tối cao, song đã
được chuyển lại cho Tòa thượng thẩm bang Delhi do có liên quan tới một chủ thể địa phương Vụ này liên quan tới việc đóng cửa rất nhiều ngành công nghiệp bị cáo buộc là độc hại và nguy hiểm, bao gồm cả lò
mổ đặt tại trung tâm của Delhi Tòa thượng thẩm bang Delhi đã phán quyết đóng cửa lò mổ này
Ishwer Singh, Vụ trưởng pháp chế của Bộ môi trường và lâm nghiệp,
đã thảo luận về Đạo luật Tòa án xanh quốc gia (NGT) năm 2010 Vào tháng 10 năm 2010, Nghị viện Ấn Độ đã thông qua một đạo luật thành lập NGT4 với thẩm quyền rộng lớn để nhanh chóng xử lý các vụ việc dân
sự về môi trường Nó được trao quyền để phán quyết việc bồi thường, khôi phục các tài sản bị hư hại, và đền bù cho những tổn thất về môi trường Trong các vấn đề tố tụng, NGT được định hướng bởi các nguyên tắc của công lý tự nhiên và không bị ràng buộc bởi Bộ luật tố tụng dân
sự (1908) Nó có cũng quyền quy định thủ tục tố tụng của riêng mình
và không bị ràng buộc bởi Đạo luật bằng chứng Ấn Độ (1872) Chính phủ trung ương được yêu cầu thiết lập các quy định để thực thi Đạo luật NGT, bao gồm xác định rõ những địa điểm nơi tòa tọa lạc và phạm
vi thẩm quyền theo lãnh thổ của tòa NGT bao gồm một chủ tọa làm việc toàn thời gian và từ 10 tới 20 thẩm phán và các chuyên gia làm việc toàn thời gian Việc thành lập NGT không ảnh hưởng tới thẩm quyền xét xử của Tòa án tối cao và các tòa thượng thẩm trong các vụ việc về môi trường
Ông Singh giải thích rằng NGT sẽ giúp tăng cường tiếp cận công lý do bất kỳ người dân nào bị ảnh hưởng cũng có thể đệ đơn khiếu nại lên tòa; và có quyền phúc thẩm đối với (i) cấp giấy phép môi trường, (ii) các vấn đề thuộc phạm vi Đạo luật đa dạng sinh học, và (iii) các vấn
đề thuộc phạm vi luật pháp xác định Bên cạnh đó, việc thành lập NGT
4 Đạo luật Tòa án xanh quốc gia, số 19 năm 2010 Đạo luật này được phê duyệt vào tháng 4
và được Tổng thống công bố tháng 10 năm 2010.
Trang 17được kỳ vọng làm giảm khối lượng tồn đọng các vụ việc môi trường của các tòa án, bao gồm cả Tòa án tối cao.
Ritwick Dutta, người sáng lập Sáng kiến pháp lý về rừng và môi trường
đã đưa ra quan điểm từ phía xã hội dân sự về sự chuyên môn hóa tòa án tại Ấn Độ Ông Dutta lưu ý rằng Tòa án tối cao Ấn Độ đã thừa nhận nhu cầu phải chuyên môn hóa trong một số vụ việc Thiên hướng của tòa về chuyên môn hóa trong các vấn đề môi trường cũng có thể được nhận thấy trong việc thành lập Ủy ban được trao quyền trung ương, một bộ phận tại Tòa án tối cao chỉ chuyên xét xử các vụ việc về lâm nghiệp và
do Chánh án chủ trì
Ông Dutta thuật lại cụ thể rằng Ấn Độ đã có ba lần thử nghiệm về tòa
án xanh, bao gồm cả NGT mới được phê duyệt gần đây Chúng bao gồm Tòa án môi trường quốc gia (NET) năm 1995, được thành lập để xác định trách nhiệm pháp lý trong các vụ việc như vụ Bhopal và tiến hành hỗ trợ và đền bù cho các nạn nhân; (ii) Cơ quan phúc thẩm môi trường quốc gia (NEAA) năm 1997, được thành lập như một diễn đàn
tư pháp để giải quyết các vụ kháng cáo của những người bị ảnh hưởng bởi việc cấp giấy phép môi trường cho các dự án; và (iii) NGT năm 2010 Thực tế cũng đã chỉ ra rằng cả hai tòa án trước đó đều không thành công Chính phủ đã không thành lập NET sau khi Nghị viện thông qua luật Không có ai được bổ nhiệm để chủ trì NEAA kể từ khi thành lập vào năm 2000 NEAA từ chối mọi vụ kháng cáo được đệ trình lên tòa; nhưng thông qua sự can thiệp của Tòa thượng thẩm bang Delhi (thông qua việc kiến nghị xem xét), một số người kháng án đã được hỗ trợ.Ông Dutta nhìn nhận NGT mới với sự hoài nghi vì những lý do sau: (i)
quyền trình bày trước tòa bị giới hạn đối với những người bị thiệt hại;5
(ii) trong thẩm quyền phúc thẩm của tòa, thời gian dành cho việc đệ đơn phúc thẩm là quá ngắn (30 ngày kể từ ngày được thông báo về quyết định hay phán quyết); và (iii) tiêu chuẩn chuyên môn và ngạch bậc của vị trí chủ tọa NGT là không phù hợp Chủ tọa NGT sẽ được xếp ngạch bậc và trả lương ở mức một thư ký Tuy nhiên, chỉ có Chánh án của một Tòa thượng thẩm hoặc thẩm phán hay cựu thẩm phán của Tòa án tối cao mới có thể đủ tiêu chuẩn để làm chủ tọa Do vậy, không thẩm phán nào sẽ chấp nhận vị trí này, do điều đó sẽ bị coi là một sự giáng cấp
5 Khoản 18 (2) của Đạo luật NGT quy định rằng đơn xin hỗ trợ hoặc trợ cấp có thể được đệ trình lên Tòa bởi (a) người bị thương tổn; (b) chủ sở hữu của tài sản bị thiệt hại; (c) khi có trường hợp chết người do tổn thất môi trường, bởi tất cả hoặc bất kỳ người đại diện hợp pháp nào của người chết; (d) bất kỳ cơ quan nào được ủy quyền theo luật định bởi người
bị tổn hại hoặc chủ sở hữu của tài sản bị thiệt hại hoặc tất cả hay bất kỳ đại diện hợp pháp nào của người chết, tùy theo từng trường hợp; (e) bất kỳ ai bị thiệt hại, bao gồm bất kỳ cơ quan hoặc tổ chức đại diện nào; hoặc (f) chính phủ trung ương hoặc một chính quyền bang của một Cơ quan quản lý vùng lãnh thổ liên hiệp hoặc Ban kiểm soát ô nhiễm trung ương hoặc một Ban kiểm soát ô nhiễm bang hoặc Ủy ban kiểm soát ô nhiễm hay bất kỳ cơ quan môi trường nào được thành lập theo Đạo luật (bảo vệ) môi trường năm 1986, hoặc bất kỳ luật nào hiện đang còn hiệu lực thi hành.
Trang 18Đông Á
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Hong-yu Shen, một thẩm phán của Ban dân sự thứ tư thuộc Tòa án nhân dân tối cao, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (PRC) đã nêu tổng quan về hệ thống tòa án liên quan tới bảo vệ nguồn tài nguyên nước tại quốc gia này Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có 10 tòa án hàng hải
có thẩm quyền xét xử các vụ việc liên quan tới hàng hải và thương mại hàng hải trong trường hợp thứ nhất, bao gồm các tranh chấp liên quan tới giao thông đường biển, các vụ tai nạn trên biển, tranh chấp hành chính hàng hải, và tranh chấp trong vận hành các cảng biển
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là bên tham gia ký kết các công ước quốc tế về bảo vệ tài nguyên biển, mà một trong số đó là Công ước quốc tế về Trách nhiệm dân sự đối với tổn thất do ô nhiễm dầu năm
1969, có sửa đổi bổ sung Trong vòng mười năm (1998-2008), mười tòa án hàng hải đã xét xử 300 vụ ô nhiễm dầu do tàu, với tổng giá trị bồi thường là 433 triệu USD Hơn một nửa trong số các vụ việc này được giải quyết thông qua hòa giải
Các tòa án xanh hiện thời cũng giải quyết các vụ việc ô nhiễm nước trong đất liền, đa số trong đó là các vụ án hình sự Vai trò của Tòa
án tối cao trong việc tăng cường bảo vệ nguồn tài nguyên nước được dành cho những mục đích sau: (i) xét xử các đơn kháng cáo quyết định của tòa phúc thẩm; (ii) giám sát các tòa án cấp dưới bằng cách đưa ra hướng dẫn và đánh giá hiệu quả hoạt động của tòa; (iii) đưa ra diễn giải về tư pháp, và (iv) tập huấn về tòa án Tòa án tối cao cũng cần giải quyết các vấn đề sau: (i) ô nhiễm nước liên vùng; (ii) đổi mới phạm vi tài phán; (iii) đánh giá thiệt hại, và (iv) xây dựng năng lực
Liu Ming, Trưởng phòng môi trường của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trấn đã chia sẻ kinh nghiệm của tòa án mình trong việc xét xử về môi trường bằng tiếng Quan thoại thông qua phiên dịch Trong thời gian hiện diện ngắn ngủi của mình (tòa án được thành lập tháng 11 năm 2007), tòa án này đã xử lý rất nhiều vụ việc liên quan tới môi trường và
đã thúc đẩy các vụ kiện liên quan tới lợi ích công Tòa án đã cho phép một viện kiểm soát tiến hành một vụ kiện dân sự chống lại người gây ô nhiễm và đã phán quyết dỡ bỏ một tòa nhà được xây dựng trong khu bảo tồn nguồn nước Nó cũng phán quyết trồng lại rừng tại khu vực này
Alex Wang, một luật sư cao cấp và là Gám đốc Dự án quản trị và luật môi trường Trung Quốc trực thuộc Hội đồng bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đã thảo luận việc thực thi pháp luật môi trường thông qua tòa
án (EJE) tại Trung Quốc EJE liên quan tới thực thi pháp luật môi trường
và tăng cường sức khỏe cộng đồng thông qua các tòa án nói chung, không chỉ riêng các tòa môi trường Các tòa môi trường về mặt kỹ thuật không được tán thành bởi chính phủ: không có cơ quan thẩm quyền
Trang 19chính thức nào cho việc chỉ định các tòa án môi trường như vậy; do đó chúng là các diễn đàn thử nghiệm những cải cách pháp lý Mục tiêu của các thử nghiệm EJE là nhằm tăng cường tiếp cận công lý và tòa án,
và giảm các rào cản đối với việc sử dụng tòa án để bảo vệ môi trường Một số ví dụ bao gồm: (i) mở rộng quyền khởi kiện trong các vụ án môi trường bằng cách cho phép các công tố viên hình sự của chính phủ,
cơ quan chính phủ, các tổ chức phi chính phủ và công dân được khởi kiện các vụ án môi trường liên quan tới thực thi pháp luật dân sự; (ii) sửa đổi quy định về các loại hình khắc phục thiệt hại để tập trung vào các hình thức bồi thường theo lệnh của tòa án hoặc đình chỉ hành vi
vi phạm; và (iii) sửa đổi phạm vi tài phán như một cách thức để phá vỡ chủ nghĩa bảo hộ địa phương, vốn được coi là một trong những rào cản trong thực thi pháp luật về môi trường Các bộ máy tòa án địa phương phụ thuộc ngân sách vào chính quyền địa phương và chính quyền tỉnh
Do vậy, nếu vụ việc mâu thuẫn với ưu tiên phát triển kinh tế của chính quyền địa phương, nó thường được xử lý có lợi cho phát triển kinh tế
Đã có đề xuất về việc đặt các vụ việc ô nhiễm nước xuyên biên giới và khu vực vào trong phạm vi tài phán của các tòa án hàng hải do Tòa án nhân dân tối cao quản lý chứ không thuộc phạm vi chính quyền địa phương Như vậy, một tòa án hàng hải có thể không quan tâm tới việc bảo vệ lợi ích địa phương
Mặc dù đã có 11 tòa môi trường được thành lập tại Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, song ông Wang kết luận rằng các tòa án này vẫn chưa
tỏ ra có hiệu quả
Zhang Jingjing, Phó giám đốc Viện Luật vì lợi ích công, đã nêu chi tiết hơn về hiệu suất và hiệu quả của các tòa môi trường tại Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Bà chỉ ra rằng người dân nói chung vẫn không tin tưởng các tòa án này và muốn đưa những tranh chấp ra các tòa hành chính
do khó khăn trong việc khởi kiện, bảo đảm và thực thi một phán quyết
Do những cân nhắc chính trị (phát triển kinh tế và ổn định xã hội ở địa phương), các tòa án thường ngần ngại khi xét xử các vụ việc nhạy cảm
về chính trị, ví dụ như các vụ việc liên quan tới các công ty địa phương đang tạo ra sinh kế cho hầu hết người dân thị trấn Đồng thời, ngay cả khi đã thành công trong việc có được phán quyết của tòa, việc thực thi vẫn phụ thuộc vào cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm thi hành án, do không phải tất cả các tòa án đều được trao quyền thi hành các phán quyết của mình Các tòa môi trường gián tiếp bị tước quyền thụ lý các
vụ kiện tập thể, với việc ban hành một diễn giải tư pháp tuyên bố rằng tất cả các vụ kiện tập thể đều phải đệ đơn lên các tòa sơ thẩm Do hầu hết các tòa môi trường đều được thành lập ở cấp độ tòa phúc thẩm, nên chúng đã gián tiếp bị truất quyền xét xử các vụ kiện tập thể.Bên cạnh khó khăn trong việc khởi kiện, còn có một trở ngại lớn cần phải vượt qua trong việc thiết lập quan hệ nhân quả trong các vụ việc môi trường Theo luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, trách nhiệm chứng minh thuộc về bị đơn để cho thấy rằng hành động bị kiện không gây ra các tổn thất như bị cáo
Trang 20buộc Tuy nhiên, hầu hết các tòa án đều ngại áp dụng quy định này do những cân nhắc chính trị: hầu hết các bị đơn đều là chủ sở hữu doanh nghiệp địa phương Do vậy, nguyên đơn vẫn bị tòa yêu cầu chứng minh quan hệ nhân quả, và đây là một nhiệm vụ khó thực thi do thiếu sự tiếp cận các thông tin môi trường và thiếu các chuyên gia kỹ thuật sẵn lòng làm chứng Một lần nữa, áp lực chính trị từ chính quyền địa phương để thúc đẩy phát triển và ổn định kinh tế địa phương đã có vai trò trong việc xét xử các vụ việc về môi trường Bà Zhang chỉ ra rằng do các tòa môi trường thiếu tính độc lập, nên việc thành lập thêm các tòa án này
có thể không phải là giải pháp bảo đảm cho việc bảo vệ và gìn giữ môi trường
Đông Nam Á
Philíppin
Reynato Puno, nguyên Chánh án Tòa án tối cao Philíppin, đã thảo luận các quy tắc tố tụng môi trường mới của Philíppin Tòa án tối cao đã phán quyết rằng quyền được có một môi trường lành mạnh không kém quan trọng hơn các quyền chính trị và dân sự, và quyết định này đã cho phép một cách tiếp cận dựa trên các quyền khi ban hành những quy tắc
tố tụng môi trường Khi ban hành các quy tắc này, theo thẩm quyền làm luật của Tòa án tối cao, các chế tài pháp luật đã được trao cho người dân để cho phép họ bảo vệ quyền được có một hệ sinh thái lành mạnh
Marilyn Yap, một thẩm phán của tòa sơ thẩm vùng, đã chia sẻ kinh nghiệm của bà trong việc giải quyết các vụ việc môi trường bằng cách giải thích một vụ việc liên quan tới phá hủy các công trình tại một khu nghỉ dưỡng trên đảo rất nổi tiếng Các khu nghỉ dưỡng cạnh bờ biển
đã và đang xây dựng các công trình sát bờ biển để ngăn chặn việc sử dụng công cộng khu vực này Điều này được chất vấn trong một vụ kiện của người dân, coi đó là sự vi phạm Luật tài nguyên nước của Philíppin quy định phạm vi 20m kể từ bờ biển là đối tượng áp dụng quyền đi qua cho mục đích sử dụng công cộng: giải trí, lái tàu, lướt ván, câu cá,
và cứu hộ Tòa án phán quyết có lợi cho các nguyên đơn và chỉ thị cho
bị đơn công khai là Sở tài nguyên và môi trường dỡ bỏ các công trình được xây dựng trong phạm vi 20m này, từ đó xác lập rằng các khu vực
là đối tượng áp dụng quyền đi qua được dành cho mục đích sử dụng công cộng và các chủ sở hữu doanh nghiệp không thể ngăn cản người dân sử dụng chúng
Trang 21Antonio Oposa, Chủ tịch Quỹ Luật thiên nhiên, đã nhấn mạnh rằng cần phải định hình lại cuộc tranh luận về môi trường: môi trường không phải là về cây cối hay biển cả, mà là về cuộc sống và các công cụ của đời sống - đất, nước và không khí Ông cũng nói rằng cần phải thay đổi cuộc thảo luận: mô hình kinh tế phải được định hình lại như là khai thác
và tiêu dùng; như vậy, các quốc gia phát triển phải được coi là những quốc gia tiêu dùng quá mức, để thay đổi ý nghĩa và quan niệm Ông Oposa kết luận rằng kết quả của sự bảo tồn hay xuống cấp môi trường
là phụ thuộc vào con người
Thái Lan
Winai Ruangsri, một thẩm phán nghiên cứu của tòa môi trường thuộc Tòa án tối cao đã thảo luận về quá trình phát triển luật môi trường ở Thái Lan Dựa trên Hiến pháp Thái Lan năm 1997 (B.E 2540), hệ thống tòa án Thái Lan là hệ thống tòa án kép bao gồm tòa công lý và tòa hành chính Tòa công lý có thẩm quyền xét xử đối với các vụ án dân sự và hình sự, trong khi tòa hành chính có thẩm quyền xét xử đối với các vụ việc hành chính Trong hệ thống tòa án kép này, một tranh chấp về môi trường có thể được đưa ra tòa công lý hoặc tòa hành chính tùy theo vấn đề có liên quan
Trong hệ thống tòa công lý, cơ quan cao nhất là Tòa án tối cao, tiếp đó
là Tòa phúc thẩm và các tòa sơ thẩm Cả Tòa án tối cao và Tòa phúc thẩm đều đã chính thức thành lập các ban môi trường: 1 ở cấp Tòa án tối cao vào năm 2005 và 10 ở cấp phúc thẩm - 1 tòa phúc thẩm trung ương và 9 tòa phúc thẩm vùng vào năm 2009 Thẩm quyền xét xử của các ban môi trường bao gồm các vụ án dân sự và hình sự có thể nảy sinh
từ rất nhiều luật lệ về ô nhiễm và tài nguyên thiên nhiên Hiện tại, các ban môi trường này không có các quy tắc tố tụng riêng; tuy nhiên, hiện
nó đang trong quá trình xây dựng các quy tắc tố tụng về môi trường để
xử trí vấn đề quyền khởi kiện, bằng chứng, và phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án (ADR)
Đối với các ban môi trường thuộc hệ thống tòa công lý, sự phát triển của
hệ thống diễn giải và áp dụng luật pháp môi trường là khá chậm Điều này được cho là do đặc điểm của hệ thống pháp lý Thái Lan, theo đó với phạm vi xét xử theo luật dân sự, các thẩm phán bị hạn chế trong việc diễn giải hiến pháp, và luật pháp cũng như các phán quyết của tòa phải nằm trong khung pháp lý hiện thời Hiện nay, các vụ việc được khởi kiện
và xét xử theo luật định và tố tụng dân sự và hình sự hiện hành, đặt ra nhiều thách thức cho các nguyên đơn trong các vụ án liên quan tới môi trường như những quy định chặt chẽ về vị thế pháp lý để khởi kiện và các tiêu chuẩn chứng minh quan hệ nhân quả (xem chú thích 5) Bất chấp những thách thức này, đã có những đột phá trong hệ thống diễn giải và
áp dụng luật pháp (xem chú thích 5) Trong một vụ việc ô nhiễm nước6, tòa án đã nới lỏng tiêu chuẩn chứng minh quan hệ nhân quả và chuyển
6 Phán quyết của Tòa án tối cao số 3621/2551 (3621/2009).
Trang 22trách nhiệm về bằng chứng sang cho bị đơn Tinh thần bảo tồn và mục tiêu phát triển bền vững đã được tòa viện dẫn trong một vụ xâm lấn khu bảo tồn bằng cách phán quyết một biện pháp khắc phục (dỡ bỏ các công trình được xây dựng trong khu bảo tồn) mà không được yêu cầu công khai trong khiếu kiện, trái ngược với các quy tắc tố tụng7.
Prapot Klaisuban, thẩm phán của Tòa hành chính trung ương, đã chia sẻ kinh nghiệm của tòa hành chính trong việc xét xử về môi trường Thẩm quyền xét xử của Tòa hành chính tối cao Thái Lan bao gồm các vụ việc về môi trường liên quan tới hoạt động hành chính của các quan chức chính phủ Tòa hành chính tối cao đã thành lập một ban môi trường ở cấp tòa sơ thẩm trong Tòa hành chính trung ương tại Bangkok và cũng đang cân nhắc đề xuất thành lập một ban môi trường ở cấp Tòa hành chính tối cao Các ban môi trường hành chính không có những quy tắc tố tụng riêng biệt; tuy nhiên đạo luật thành lập các ban môi trường không quy định chặt chẽ việc khởi kiện các vụ việc hành chính môi trường Đạo luật này cho phép sử dụng các nhân chứng chuyên gia, điều tra tư pháp ngoài tòa án, và các quy tắc tố tụng nới lỏng, ví dụ như khung thời gian chung là 1 năm để khởi kiện, từ thời điểm khi hành động bị khiếu nại bắt đầu Nhưng thời hạn này có thể được kéo dài tới 10 năm nếu việc khởi kiện mang lại lợi ích công cộng (chú thích 7) Điều này được minh
họa trong vụ Sakhom Canal Mouth, với các ngư dân là nguyên đơn
kiện Cơ quan quản lý cảng vì đã xây dựng các đê chắn sóng trong khu vực đánh bắt của họ Các nguyên đơn khởi kiện sau khoảng thời gian 1 năm quy định Tuy nhiên, Tòa hành chính Songkla đã thụ lý
vụ kiện do nó liên quan tới lợi ích công: phán quyết của vụ kiện có thể có lợi cho các ngư dân khác sống trong vùng, chứ không chỉ riêng các nguyên đơn
Tòa hành chính môi trường đã phán quyết một số vụ việc môi trường
nổi bật, trong đó đáng lưu ý nhất là các vụ Nhóm Sridhavaravadi và
Map Tha Phut Trong vụ Nhóm Sridhavaravadi, Tòa hành chính tối cao
đã công nhận quyền của các cư dân đến từ tỉnh Nakhon Pathom được khởi kiện chống lại Sở Mỹ thuật liên quan tới việc cấp phép xây dựng một tòa nhà văn phòng tại một di tích khảo cổ quan trọng, Pra Pathom Chedi, tại tỉnh Nakhon Pathom Theo “quyền cộng đồng của một cộng đồng truyền thống”, các nguyên đơn là những người đang nghiên cứu lịch sử và kiến trúc của Pra Pathom Chedi có lợi ích đặc biệt để bảo vệ
di tich này
Vụ Map Tha Phut phản ánh tầm nhìn mới của Tòa hành chính trong việc
áp dụng các biện pháp phòng ngừa thay vì các biện pháp khắc phục Tòa ủng hộ quan điểm cho rằng nếu cho phép xây dựng thêm các nhà máy, tổn hại tới môi trường sẽ xuất hiện nhiều hơn, không phải ngay tức thì mà sẽ được nhận thấy trong tương lai gần Tổn hại môi trường
7 Phán quyết của Tòa án tối cao số 2291/2551 (2291/2009).
Trang 23do các nhà máy này gây ra sẽ khó có thể ước tính và khắc phục; do vậy, tòa cần áp dụng các biện pháp phòng ngừa.
Suntariya Muanpawong, thẩm phán nghiên cứu và thư ký ban môi trường của Tòa phúc thẩm, đã chia sẻ kinh nghiệm của tòa trong việc xét xử về môi trường Trong ba năm vừa qua, tòa phúc thẩm trung ương và chín tòa phúc thẩm vùng đã thành lập các ban môi trường trực thuộc Các loại vụ việc được những ban môi trường này xét xử phụ thuộc vào vị trí địa lý: các tòa ở miền Bắc xử lý hầu hết các vụ án liên quan tới rừng; các tòa ở miền Nam xử lý các vụ án liên quan tới ngư nghiệp, nước, và bờ biển; còn các vụ việc liên quan tới xâm phạm đất công có thể được xử lý bởi tất cả các tòa Do khối lượng các vụ việc chưa được xử lý, nên các ban môi trường không chỉ tập trung hoàn toàn vào các vụ việc môi trường, mà cũng xử lý các vụ việc không thuộc lĩnh vực môi trường
Các hoạt động xây dựng năng lực cho những thẩm phán thuộc ban môi trường này vẫn mang tính đột xuất và chưa được thể chế hóa Bà nhấn mạnh rằng bước đầu tiên và quan trọng nhất trong đào tạo các thẩm phán môi trường là xây dựng và nuôi dưỡng nhận thức của họ về môi trường Nếu không có nhận thức này, các thẩm phán sẽ không thể coi trọng vấn đề môi trường khi đối mặt với những giá trị mâu thuẫn nhau: công bằng xã hội so với công bằng đối với sinh thái, phát triển hay môi trường, và công nghiệp hay sức khỏe
Srisuwan Janya, Chủ tịch Hiệp hội chấm dứt tình trạng ấm lên toàn cầu (Stop Global Warming Association) đã chia sẻ kinh nghiệm tại Thái Lan
của Hiệp hội trong việc khởi kiện vụ Map Tha Phut.
Inđônêxia
Takdir Rahmadi, một thẩm phán của Tòa án tối cao Inđônêxia, đã thảo luận những nỗ lực của Inđônêxia nhằm thể chế hóa các thẩm phán môi trường và các quy tắc tố tụng môi trường Do các vấn đề môi trường được biết là không có biên giới, nên cam kết của Inđônêxia trong các công ước quốc tế đòi hỏi nước này phải cân nhắc những nguyên tắc luật môi trường quốc tế khi phán quyết các vụ việc môi trường quốc gia Bộ môi trường Inđônêxia đã có sáng kiến đề xuất những chương trình đào tạo cho các thẩm phán Cuối năm 2009, Bộ môi trường và Tòa án tối cao đã ký kết một biên bản ghi nhớ với hai mục tiêu: thứ nhất, thiết lập một chương trình để chứng nhận các thẩm phán có chuyên môn về luật môi trường; và thứ hai, xây dựng các quy tắc xét xử những vụ việc về môi trường Kết quả là tới tháng 3 năm 2010, Chánh án Tòa án tối cao đã thành lập một nhóm công tác cấp cao gồm các thành viên của Tòa án tối cao và các nhân sự cấp cao của bộ máy tòa án, với sự giám sát của Bộ môi trường Nhóm công tác này có nhiệm vụ xây dựng chương trình và báo cáo kết quả vào cuối năm 2010 Cụ thể, nhóm công tác có những nhiệm vụ sau: (i) đề xuất các biện pháp để tăng cường năng lực của các thẩm phán về luật môi
Trang 24trường; (ii) thiết kế các chương trình đào tạo và tài liệu tập huấn cho các thẩm phán; (iii) xây dựng các hướng dẫn để xử lý và xét xử các vụ
án môi trường - gồm dân sự, hình sự và hành chính; và (iv) thiết kế một hệ thống đánh giá
Prim Haryadi, Phó chánh án Tòa án quận Depok, đã chia sẻ kinh nghiệm
về một vụ án môi trường tại Bahasa do tòa của ông thụ lý, liên quan
tới tổn hại về môi trường tại đảo Bangka do hai bị đơn là các tập đoàn
Các bị đơn đã tiến hành hoạt động khai mỏ, đào bới ở độ sâu tới 10m
và rộng 20m Nguyên đơn là Bộ môi trường đã tiến hành khởi kiện và yêu cầu bồi thường cho những tổn hại tới môi trường tương đương khoảng 3,1 triệu USD Bị đơn đã chất vấn phương thức xác định tổn hại môi trường của nguyên đơn Tòa án đã triệu tập một ban hội thẩm để cân nhắc các bằng chứng khoa học và kỹ thuật Ban hội thẩm đã phán quyết rằng các bằng chứng cho thấy bị đơn đã gây ra những tổn hại môi trường như cáo buộc của nguyên đơn và công nhận yêu cầu bồi thường
Ilyas Asaad, Thứ trưởng Bộ môi trường, đã thảo luận việc thực thi pháp luật môi trường tại Inđônêxia Các tranh chấp môi trường trong phạm vi Đạo luật thực thi pháp luật môi trường năm 2009 có thể được giải quyết bằng ba con đường: thực thi pháp luật hành chính, hình sự hoặc dân sự Chính phủ đã xây dựng một kế hoạch nhằm củng cố từng nhánh thực thi pháp luật này Trong khuôn khổ thực thi pháp luật hình sự, một chương trình có tên gọi Hệ thống thực thi pháp luật đồng nhất (One Roof Enforcement System - ORES) đã được đề xuất bởi Bộ môi trường, Văn phòng Tổng chưởng lý, và cảnh sát thông qua một biên bản ghi nhớ Các cơ quan chính phủ này đã nhất trí cùng phối hợp để tăng cường thực thi pháp luật môi trường qua việc truy tố hình sự các tội phạm môi trường Theo như ORES, các điều tra viên chuyên biệt cũng được trao quyền bắt giữ tội phạm môi trường, bên cạnh việc điều tra các vụ án hình sự về môi trường
Để tăng cường thực thi pháp luật dân sự, chính phủ đang tiến hành thiết lập hệ thống giải quyết tranh chấp môi trường và chứng nhận các thẩm phán được đào tạo về luật môi trường Một thách thức cơ bản đối với hệ thống thực thi pháp luật hành chính là phải tổng hợp khiếu kiện từ các cấp khác nhau: quận/huyện, tỉnh và trung ương;
và một hệ thống khiếu nại trực tuyến đã được đề xuất để hỗ trợ việc tổng hợp các khiếu kiện này
Mas Achmad Santosa, thành viên của Nhóm công tác của Tổng thống
và cố vấn của Tổng thống, đã thảo luận những điều kiện tiên quyết cho việc thực thi pháp luật môi trường hiệu quả tại Inđônêxia Các yếu tố cơ bản để bảo đảm thực thi pháp luật môi trường hiệu quả bao gồm một hiến pháp “xanh” với cách tiếp cận lấy hệ sinh thái làm trung tâm (các quyền cơ bản cộng với các quyền tự nhiên), và công nhận các nguyên tắc phát triển bền vững, sự lãnh đạo về môi trường, xã hội dân sự mạnh,
và quản lý tốt các chương trình thực thi pháp luật hành chính về môi trường của chính phủ, ORES, và chương trình chứng nhận thẩm phán
Trang 25Ông Santosa kết luận rằng tương lai về môi trường ở Inđônêxia là rất xán lạn, do sự ủng hộ của bộ máy tòa án đối với việc xét xử các vụ việc môi trường tại tòa Ngành hành pháp cũng cho thấy sự ủng hộ mạnh
mẽ đối với quản lý nhà nước về môi trường thông qua việc đưa vào khái niệm “hiến pháp xanh” trong dự thảo sửa đổi hiến pháp (lần thứ năm)
do Hội đồng cố vấn của Tổng thống xây dựng Tiếp cận thông tin và sự tham gia của công chúng, được coi là những trụ cột trong quản trị môi trường, đã được hiện thực hóa với việc ban hành luật tự do thông tin
và các đạo luật tự do báo chí - sẽ cho phép xã hội dân sự tham gia hiệu quả hơn trong quản trị môi trường
Nhóm đại biểu quốc tế (Thông luật)
Queensland, Ôxtrâylia
Michael Rackemann, một thẩm phán của Tòa quy hoạch và môi trường (PEC) của Queensland, Ôxtrâylia, đã nêu khái quát về lịch sử của PEC Tại Ôxtrâylia, luật môi trường được thông qua tại cấp liên bang, song việc thực thi thuộc trách nhiệm của các bang Mỗi bang có một tòa môi trường riêng của mình, ở Queensland là PEC PEC lúc đầu được thành lập như một tòa về sử dụng đất, song qua sự phát triển và thay đổi của
hệ thống pháp luật, nó đã trở thành một tòa môi trường toàn diện Thẩm quyền của PEC bao gồm xét xử các vấn đề khác nhau, ví dụ như xem xét tính đúng đắn (merits review) của một quyết định Việc xem xét tính đúng đắn của quyết định không hạn chế ở chỗ xác định liệu
cơ quan này có hành động phù hợp với luật hay không, mà PEC sẽ cân nhắc các bằng chứng và đưa ra quyết định mà họ nghĩ là tốt nhất PEC cũng xét xử khiếu nại về quy trình ra quyết định (judicial review) của một cơ quan và xác định liệu nó có tuân thủ luật pháp hay không PEC có thẩm quyền thực thi pháp luật rộng lớn để hạn chế những hành động vi phạm pháp luật hiện hành và yêu cầu bồi thường thiệt hại gây ra
Ông Rackemann giải thích rằng sự bền vững sinh thái là nguyên tắc pháp lý cơ bản của tòa Năm 1997, Đạo luật quy hoạch tổng hợp đã được thông qua, và mục tiêu công khai của đạo luật là “nhằm đạt được sự bền vững sinh thái” Căn cứ vào đạo luật quốc gia này, chính quyền bang Queensland đã triển khai Hệ thống phê duyệt phát triển tổng hợp, cho phép nộp một đơn tổng hợp để xin phê duyệt về phát triển Đơn này sẽ phải được chuyển đến tất cả các cơ quan chính quyền liên quan, và các cơ quan này phải đóng góp ý kiến vào quyết định
Hệ thống phê duyệt phát triển tổng hợp giảm thiểu khả năng đưa ra những quyết định mâu thuẫn giữa các cơ quan chính quyền Nó cũng
hệ thống hóa quy trình phúc thẩm tại PEC, do tòa án sẽ chỉ xem xét một quyết định, bao gồm tất cả các khía cạnh cần cân nhắc liên quan tới phát triển - quy hoạch thành phố, tác động môi trường, trang bị cơ sở
hạ tầng, và các yếu tố khác
Trang 26PEC tiếp nhận và xử lý khoảng 700 vụ việc mỗi năm Trong số 700
vụ việc này, chỉ có 100 là xét xử tại tòa, số còn lại được hòa giải Tòa án áp dụng một cách tiếp cận quản lý vụ việc chủ động, hướng tới khuyến khích giải quyết tranh chấp thông qua cách tiếp cận giải quyết vấn đề Một ví dụ là những phiên họp trước khi xét xử của các nhân chứng chuyên gia Các chuyên gia được mỗi bên lựa chọn cũng trở thành các chuyên gia của tòa Họ tiến hành một cuộc điều tra chung và chuẩn bị báo cáo chung, trong đó thông báo các vấn
đề thống nhất, bất đồng, và lý do cho sự bất đồng này nếu có Ông Rackemann chia sẻ rằng quá trình lựa chọn các chuyên gia cho phép bảo đảm tính khách quan của chuyên gia, do họ đang hành động
vì lợi ích của tòa chứ không vì các bên thuê họ Sự tôn trọng và tín nhiệm của tòa đối với các chuyên gia nhìn chung dẫn tới các ý kiến chuyên gia công bằng và không thiên vị mà tòa án có thể dựa vào để giải quyết vụ việc được đưa ra trước tòa
Hoa Kỳ
Siu Tip Lam, Giám đốc Quỹ đối tác Hoa–Trung về luật môi trường và
là phó giáo sư tại Trường luật Vermont đã trình bày quan điểm lịch sử
về việc thành lập các tòa môi trường tại Hoa Kỳ Vấn đề này được nêu lên lần đầu tiên vào năm 1971, khi việc sửa đổi Đạo luật kiểm soát ô nhiễm nước liên bang cho phép tiến hành một nghiên cứu về nhu cầu
và tính khả thi của các tòa môi trường Các ý kiến đóng góp đã được thu thập từ 26 cơ quan liên bang và 9 tổ chức tư nhân, bao gồm rất nhiều phòng ban của Bộ tư pháp Hoa Kỳ Các cơ quan này được yêu cầu đóng góp ý kiến cho những vấn đề sau: (i) tổng số vụ kiện mới kể
từ năm 1970, (ii) số vụ việc với các vấn đề môi trường lớn so với số vụ việc với các vấn đề môi trường nhỏ và không mấy liên quan, và (iii) ý kiến về năng lực của hệ thống tòa án trong việc xử lý các vụ việc môi trường mang tính kỹ thuật Có ba mô hình tòa án môi trường đã được
đề xuất: (i) nó sẽ xét xử các vụ việc môi trường nói chung, (ii) nó sẽ
rà soát các mệnh lệnh hành chính của liên bang có tác động tới môi trường, và (iii) nó sẽ rà soát các mệnh lệnh của các cơ quan liên bang được chỉ định hoặc các loại hình vấn đề cụ thể được xử lý bởi các cơ quan liên bang
Phản ứng gần như đồng lòng của các cơ quan liên bang là không nên thành lập các tòa môi trường Các vấn đề được nêu ra bao gồm khó xác định thẩm quyền xét xử của tòa, ít tính khả thi trong việc phát triển chuyên môn do phạm vi rộng của các vấn đề môi trường, nỗi lo sợ rằng tòa án sẽ chịu áp lực của các nhóm lợi ích đặc biệt, và sự không chắc chắn về khối lượng các vụ án môi trường bảo đảm cho một tòa án chuyên biệt Các vấn đề này đã được xem xét lại trong những nghiên cứu tiếp theo, và một số bang đã thành lập các tòa môi trường trong phạm vi tài phán của họ Tòa môi trường Vermont được thành lập năm 1990 để cải tiến việc thực thi các luật môi trường Nó có thẩm quyền xét xử đối với các vụ việc thi hành luật dân sự, các kháng cáo
về quy hoạch sử dụng đất địa phương và cấp phép quy hoạch, kháng
Trang 27cáo về cấp phép sử dụng đất của bang và cấp phép về môi trường của bang, và các quyết định của cơ quan môi trường bang Nó không có thẩm quyền xét xử đối với các vụ án hình sự hoặc dân sự liên quan tới đền bù cho cá nhân (các vụ án bồi thường thiệt hại về môi trường ngoài hợp đồng).
Bà Lam nhấn mạnh rằng những vấn đề này có thể không áp dụng được ở các khu vực tài phán khác và chúng phải được xem xét cùng với những điều kiện cụ thể của Hoa Kỳ: một nhà nước pháp quyền mạnh mẽ và được thiết lập vững chắc; một hệ thống tư pháp lâu đời
và độc lập, đội ngũ luật sư môi trường được phát triển mạnh, các công tố viên giàu kinh nghiệm và các cơ quan thực thi pháp luật (ở
cả cấp liên bang và địa phương) có chuyên môn và năng lực để thông tin cho tòa xét xử và thực thi các vấn đề môi trường, và các cơ quan hành chính với những công cụ và nguồn lực hiệu quả để thực thi pháp luật Bà kết luận rằng các tòa môi trường không phải là công cụ duy nhất để giải quyết những thách thức về môi trường Để giải quyết những thách thức này, cần phải có một cách tiếp cận từ những góc nhìn khác - phát triển và củng cố đội ngũ luật sư môi trường, và phối hợp với các cơ quan địa phương và các tổ chức xã hội dân sự - để kết những các công cụ khác nhau cần thiết cho việc giải quyết các thách thức môi trường
Niu Dilân
Marlene Oliver, ủy viên môi trường của Tòa môi trường Niu Dilân, đã trình bày tổng quan vắn tắt về Tòa môi trường Niu Dilân Bà Oliver lưu
ý rằng có ba vấn đề then chốt cần phải cân nhắc khi đưa ra phán quyết
về môi trường: (i) nó liên quan tới tương lai và sự không chắc chắn, do vậy người đưa ra quyết định phải hiểu về dự báo nguy cơ, (ii) nó là một hoạt động đa ngành vượt khỏi phạm vi của luật pháp và liên quan tới các ngành khác, và (iii) nó đòi hỏi một tập hợp công cụ với hàng loạt kỹ thuật và phương pháp Điều khiến cho phán quyết về môi trường khác với các hoạt động khác của tòa án là một bước bổ sung mà tòa buộc phải tiến hành: nó phải đánh giá khả năng xảy ra các tác động và hiện tượng bất lợi, cũng như những hậu quả của chúng Nó cần phải đưa
ra đánh giá với cơ sở thông tin vững chắc về những gì sẽ xảy ra trong tương lai
Chính sách quản lý tài nguyên của Niu Dilân được nêu trong Đạo luật quản lý tài nguyên được thông qua năm 1991 Đạo luật quản lý tài nguyên tổng hợp luật pháp và chính sách về sử dụng đất, nước, không khí, năng lượng, và môi trường ven biển Mục đích của nó là “tăng cường quản lý bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn lực vật chất”
Niu Dilân đã có một hệ thống phúc thẩm các quyết định về quy hoạch môi trường và của chính quyền địa phương từ hơn 50 năm Tòa môi trường được thành lập năm 1996, bao gồm cả thẩm phán môi trường
Trang 28và ủy viên môi trường Các thẩm phán được bổ nhiệm trực tiếp vào vị trí thẩm phán môi trường và kiêm nhiệm các chức vụ khác như thẩm phán quận Các ủy viên môi trường được bổ nhiệm là những chuyên gia trong lĩnh vực quy hoạch, khoa học, xây dựng, khảo sát, kiến trúc,
và các chuyên ngành khác Cơ cấu và thành phần của Tòa môi trường thừa nhận rằng công việc của tòa mang tính đa ngành, và không chỉ đơn thuần là vấn đề luật pháp Tòa án có một hệ thống quản lý vụ việc tích cực và cung cấp dịch vụ giải quyết tranh chấp ngoài tòa án không bắt buộc, được thực hiện bởi các ủy viên môi trường Nếu đạt được thỏa thuận, thỏa thuận này sau đó sẽ được đệ trình lên thẩm phán môi trường để phê duyệt Nếu các bên không đạt tới thỏa thuận,
họ sẽ ra tòa
Bà Oliver kết luận bằng cách lặp lại rằng những người đưa ra phán quyết về môi trường cần phải hiểu được khái niệm dự báo rủi ro, các khả năng có thể, và các khái niệm; hiểu được ngôn ngữ của những chuyên ngành khác có liên quan trong các tranh chấp môi trường;
và sử dụng tập hợp công cụ là các kỹ thuật và phương thức quản lý bền vững
New South Wales, Ôxtrâylia
Brian Preston, Chánh án Tòa đất đai và môi trường (LEC) của bang New South Wales, Ôxtrâylia đã giới thiệu khái quát bối cảnh của LEC LEC là tòa ký lục tối cao chuyên về môi trường đầu tiên trên thế giới
Nó được thành lập theo luật vào năm 1979 và chính thức hoạt động năm 1980 Nó là một phần của hoạt động lập pháp tạo nên luật môi trường, cụ thể là các đánh giá tác động môi trường (EIAs) và sự tham gia của công chúng, vốn là những động lực quan trọng cho việc thành lập tòa án
Ông Preston đã giải thích hai mục tiêu cơ bản cho việc thành lập LEC là hợp lý hóa và chuyên môn hóa Liên quan tới hợp lý hóa, tòa
án được hình dung là một điểm đến chung cho các vấn đề về môi trường, quy hoạch và đất đai Thẩm quyền tài phán môi trường đối với tất cả các vấn đề liên quan tới tranh chấp môi trường đã được tích hợp và giao cho LEC để xử lý phần lớn các vụ việc mang tính chất nghiêm trọng Liên quan tới chuyên môn hóa, chỉ riêng tòa án này được trao thẩm quyền xét xử đối với các vấn đề về môi trường, quy hoạch và đất đai Không tòa án nào khác có thẩm quyền xét xử đối với các vấn đề này Nhân sự được bổ nhiệm cho tòa án cũng giúp thúc đẩy tính chuyên môn hóa Các thẩm phán của LEC phải là thẩm phán của một tòa án tối cao hoặc tòa ký lục, hoặc các luật sư có ít nhất 7 năm hành nghề, có kiến thức và tinh thông về lĩnh vực tài phán của tòa Ngoài các thẩm phán, còn có các ủy viên được bổ nhiệm Các
ủy viên này phải có kiến thức chuyên ngành và tinh thông về những vấn đề quy hoạch đô thị, khoa học môi trường, định giá đất đai, và các lĩnh vực liên quan khác Chuyên môn hóa là một phương tiện để đạt tới mục đích và bảo đảm (i) sự nhất quán trong phán quyết; (ii)
Trang 29hiệu quả lớn hơn (thông qua hiểu rõ các đặc điểm của tranh chấp môi trường); và (iii) phát triển các luật lệ, chính sách và nguyên tắc
Braxin
Vladimir Passos de Freitas, nguyên Chánh án Tòa phúc thẩm liên bang Vùng 4, đã đưa ra tổng quan về thực thi pháp luật môi trường tại Braxin Braxin là một nhà nước liên bang với truyền thống dân luật Tất cả các vụ việc môi trường đều được xét xử bởi tòa án; Braxin không có một quy trình hành chính để xử lý các tranh chấp này Hầu hết các vụ việc về môi trường về bản chất là dân sự và được khởi kiện chủ yếu bởi các công tố viên, những người có thẩm quyền pháp lý để khởi kiện Tòa án môi trường cấp quận đầu tiên được thành lập năm
1996 tại bang Mato Grosso Tòa phúc thẩm cấp bang đầu tiên được thành lập tại Sao Paulo năm 2005 với 360 thẩm phán và chỉ xét xử các vụ việc thiệt hại dân sự Năm 2010, bốn tòa án môi trường cấp quận của liên bang đã được Hội đồng tư pháp liên bang thành lập ở vùng Amazon
Liên quan tới việc xét xử về môi trường, phán quyết môi trường đầu tiên được đưa ra năm 2003, khi một thẩm phán không cho phép chuyển giao một tòa nhà được xây dựng mà không có hệ thống kỹ thuật vệ sinh Mặc dù phán quyết này bị bác bỏ bởi Tòa phúc thẩm, song đó
là một dấu mốc quan trọng trong hệ thống diễn giải và áp dụng luật pháp môi trường ở Braxin Tòa án cũng đã đưa ra phán quyết hình sự đầu tiên đối với một công ty Tòa đã yêu cầu khoản tiền phạt 5.000 USD đối với công ty này vì đã khai thác cát mà không có giấy phép hợp lệ;
và một giám đốc của công ty cũng bị phạt một năm tù, sau đó chuyển thành lao động công ích tại cộng đồng Tòa án Braxin đã phán quyết rằng những tổn thất môi trường nảy sinh từ các hành vi vi phạm dân sự không có quy định thời hiệu do tầm quan trọng to lớn của các quyền môi trường
Ông Freitas nhấn mạnh rằng khả năng thực thi phán quyết phải được các thẩm phán cân nhắc khi quyết định về các tranh chấp môi trường Ông Freitas kết luận bằng cách đề xuất những cách thức để
Trang 30tăng cường hơn nữa nhận thức về luật môi trường Những đề xuất của ông bao gồm đưa luật môi trường vào trong giáo dục và đào tạo tư pháp, và sự tham gia của tòa án trong các hoạt động có chủ
đề môi trường như viết bài luận để tăng cường nhận thức của bộ máy tòa án
Antonio Benjamin, một thẩm phán của Tòa án tối cao Braxin (Superior
Tribunal de Justica), đã đưa ra một thông điệp qua video về vai trò của tòa án trong bảo vệ môi trường Thông điệp của ông bao gồm bốn phần: vai trò cần thiết của các thẩm phán trong quản lý nhà nước về môi trường, các loại hành động của tòa án trong những xung đột về môi trường, những thách thức đối với hoạt động của tòa án, và một quan điểm của Braxin về tương lai phía trước
Ông Benjamin giải thích rằng Tòa án tối cao có rất nhiều kinh nghiệm trong xét xử các vụ kiện tụng về môi trường, xử lý các đủ loại vụ việc từ
ô nhiễm và cấp phép môi trường tới tội phạm môi trường, bên cạnh các loại hình khác Nó xét xử phúc thẩm đối với các kháng cáo từ 27 tòa án tối cao bang và 5 tòa phúc thẩm liên bang
Ông Benjamin đã nêu ra câu hỏi căn bản về việc có cần các thẩm phán trong quản trị môi trường hay không Để khẳng định, ông Benjamin
đã đưa ra ba lý do tại sao các thẩm phán là hết sức quan trọng: (i) các thẩm phán được trao quyền theo hiến pháp, công khai hoặc hàm ý, để phán quyết các vụ việc về môi trường; (ii) các thẩm phán đóng vai trò chủ chốt trong việc bảo vệ các quyền “truyền thống” như quyền sống, quyền được khỏe mạnh, và quyền tài sản, và các quyền này không thể tách biệt khỏi các vấn đề môi trường; và (iii) người ta không thể nói tới pháp quyền mà không nói về việc bảo vệ môi trường: tính bền vững là một phần của pháp quyền
Ông Benjamin đã thảo luận hai nhân tố chính trong phạm vi tư pháp hóa các xung đột môi trường: tư pháp hóa trình tự tố tụng và tư pháp hóa nội dung Trong tư pháp hóa trình tự tố tụng, các thẩm phán được yêu cầu bảo đảm nguyên tắc trình tự đúng đắn trong tố tụng môi trường và các quy định pháp luật về hành động nhà nước trong đánh giá tác động môi trường (EIA) và cấp phép, cùng với các vấn đề khác Đối với tư pháp hóa nội dung, các thẩm phán được yêu cầu quyết định giữa hai hoặc nhiều hơn các lợi ích xung đột nhau Khi lựa chọn một lợi ích này thay vì lợi ích khác, các thẩm phán có thể bị cáo buộc là sử dụng quyền lực của tòa để tạo ra chính sách công Tuy nhiên, ông Benjamin
đã giải thích rằng trong hầu hết các trường hợp, lựa chọn chính sách được quyết định bởi nhánh lập pháp, và các thẩm phán chỉ đơn thuần
là thực thi sự lựa chọn đó
Ông Benjamin đã liệt kê một số thách thức mà tòa án phải đối mặt: (i)
sự không chắc chắn về mặt khái niệm đối với khối lượng và tính phức tạp của các vụ việc môi trường; (ii) sự không chắc chắn về mặt thứ bậc khi áp dụng các luật lệ khác nhau từ nhiều cấp khác nhau—quốc tế,
Trang 31quốc gia, và bang; và (iii) sự không chắc chắn về mặt lịch sử và nguyên tắc đạo đức Khi thông qua các luật lệ, các nhà làm luật ngày càng sử dụng nhiều khái niệm khoa học trong luật môi trường, và các thẩm phán được kỳ vọng phải biết và hiểu rõ các thuật ngữ kỹ thuật Các thẩm phán cũng được kỳ vọng phải tiến hành đối thoại giữa tất cả các nguồn của luật môi trường—các nguyên tắc quốc tế, quốc gia, bang và địa phương—khi phán quyết những vụ việc môi trường Hơn nữa, các luật này đã được thông qua tại những thời điểm lịch sử khác nhau, với những đặc điểm chi phối khác nhau Các thẩm phán được kỳ vọng tổng hợp tất cả những cân nhắc về lịch sử và đạo đức này khi đặt một lợi ích lên trên lợi ích khác Sự phát triển nhanh chóng và liên tục của khoa học cũng đặt ra thách thức do các thẩm phán phải bắt kịp với sự tiến triển và khám phá mới trong luật môi trường Cuối cùng, các thẩm phán được đào tạo để hoạt động dựa trên quan điểm về tương lai—điều sẽ gây khó khăn khi đưa ra các biện pháp khắc phục về môi trường đòi hỏi cách tiếp cận hồi tố.
Ông Benjamin đã chia sẻ quan điểm của mình về sự phát triển của lĩnh vực này trong tương lai: sự gia tăng toàn cầu của các tòa môi trường
và yêu cầu tăng cường xây dựng năng lực của tòa án về luật môi trường Ông đã kết luận với suy nghĩ rằng vai trò ngày càng tăng của các thẩm phán trong bảo vệ môi trường mang lại cả cơ hội và thách thức Để xử trí các thách thức, cần phải tăng cường năng lực của tòa
án và trang bị cho các thẩm phán công cụ đầy đủ để diễn giải và thực thi luật pháp
Pháp
Jean Philippe Rivaud, nguyên thẩm phán cấp cao của Tòa phúc thẩm Amiens và hiện là công tố viên phó của Học viện tư pháp Pháp, đã thảo luận những diễn tiến trong luật môi trường tại Pháp Luật môi trường ở Pháp đã phát triển kể từ luật môi trường quan trọng đầu tiên (về các cơ sở độc hại) được thông qua năm 1917 Là một thành viên của Liên minh châu Âu (EU), Pháp cũng phải tuân thủ các hướng dẫn của EU, trong đó hai hướng dẫn quan trọng nhất là hướng dẫn của Nghị viện và Hội đồng châu Âu về trách nhiệm pháp lý môi trường (2004) và bảo vệ môi trường thông qua luật hình sự (2008) Năm
2004, Pháp đã đưa vào lời nói đầu hiến pháp một chương về môi trường, bao gồm quyền có một môi trường cân bằng, quyền được thông tin, quyền được tiếp cận giáo dục về môi trường, và nghĩa vụ khắc phục các tổn hại môi trường Bắt đầu từ thập niên 1990, chính phủ đã cải tiến chương trình đào tạo về luật môi trường cho các thẩm phán và công tố viên Các chương trình đào tạo đã được thực hiện bởi Trường tư pháp quốc gia
Ông Rivaud đã chia sẻ rằng trong quá trình thực thi hướng dẫn của Nghị viện châu Âu về bảo vệ môi trường thông qua luật hình sự, Chính phủ Pháp đã ra lệnh tái tổ chức văn phòng công tố viên và bố trí một công tố viên trong ban hình sự môi trường tại mỗi Tòa công
Trang 32lý Hai tòa án, Paris và Marseilles, đã được trao thẩm quyền chuyên biệt để xét xử các vụ việc hình sự về môi trường, ví dụ như buôn lậu chất thải quốc tế Ngoài ra, ba tòa án liên bờ biển đã được trao thẩm quyền xét xử các vụ việc ô nhiễm biển: Marseilles (biển Địa Trung Hải), Brest (biển Đại Tây Dương), và Le Havre (Kênh đào) Các tòa án này có đội ngũ thẩm phán và công tố viên chuyên biệt, với các đơn vị cảnh sát riêng từ OCLAESP, đơn vị cảnh sát quốc gia được thành lập năm
2004 để điều tra những vụ án hình sự quan trọng nhất trong lãnh thổ Pháp
Ông Rivaud đã chia sẻ rằng mạng lưới công tố viên môi trường châu
Âu sắp sửa được thành lập và nhấn mạnh tầm quan trọng của các mạng lưới trong việc đấu tranh chống buôn lậu liên quan tới môi trường - vấn đề đang gia tăng tại châu Âu Ông kết luận bằng cách nhấn mạnh nhu cầu đối với các mạng lưới—tòa án và công tố viên—
và thiết lập mối quan hệ giữa các mạng lưới này để thực thi quản lý nhà nước về môi trường
Phiên họp 7
Kinh nghiệm quốc tế về các toà và
ban xét xử môi trường
Phiên họp 7 trình bày kinh nghiệm—cả thành công và thách thức—của các toà xét xử môi trường trong việc cung cấp phương thức giải quyết tranh chấp môi trường ngoài tòa án mà có thể giúp giải quyết tranh chấp nhanh hơn
Pakixtan
Ashraf Jahan, Chủ tịch toà xét xử môi trường Shind, đã chia sẻ về sự phát triển của các tòa án và toà xét xử môi trường (ECT) tại Pakixtan Trước năm 1983, không có một luật khung toàn diện về môi trường Năm 1983, Sắc lệnh bảo vệ môi trường đã được ban hành, đem lại cấu trúc cơ bản để thực thi luật môi trường và thành lập Hội đồng bảo vệ môi trường Pakixtan và Cơ quan bảo vệ môi trường Pakixtan ở cấp liên bang
Do không có khung pháp lý toàn diện, những người khởi kiện vì lợi ích công thường đệ trình các vụ việc môi trường lên Tòa án tối cao, và tòa
án cũng có thể khởi xướng hành động theo ý kiến riêng của mình; từ đó,
án lệ xuất hiện với những khái niệm đổi mới được du nhập từ hệ thống thực thi pháp luật quốc tế Năm 1994, Tòa án tối cao đã phán quyết
trong vụ Shehla Zia kiện WAPDA8 rằng “quyền sống” và “quyền phẩm giá” cơ bản theo Hiến pháp bao gồm cả quyền có một môi trường trong sạch Phán quyết này đã mở đường cho các phán quyết mang tính bước
8 PLD 1994 SC 692.
Trang 33ngoặt khác, cũng như cho sự phát triển hơn nữa của hệ thống diễn giải
và áp dụng luật pháp môi trường
Năm 1997, dưới áp lực của các tổ chức quốc tế và những công dân quan tâm, các nhà lập pháp đã thông qua một đạo luật toàn diện quy định việc xét xử về môi trường, Đạo luật bảo vệ môi trường Pakixtan (PEPA) PEPA không được thực thi ngay tức thì, và chỉ tới năm 1999 khi Tòa án tối cao chỉ thị thành lập các ETC, thì các tòa và ban xét xử môi trường mới được thành lập Tuy nhiên, toà xét xử môi trường tại Sindh vẫn không hoạt động cho tới tận năm 2007 Hiện tại, mỗi tỉnh (Lahore, Karachi, Quetta và Peshwar) có một ban xét xử môi trường đang hoạt động
Trong khuôn khổ PEPA, các toà xét xử môi trường hoạt động như một diễn đàn tư pháp, như một tòa sơ thẩm và tòa phúc thẩm trung gian,
để thực thi đạo luật Các toà này có thể xét xử cả các vụ việc hình sự và dân sự theo Luật hình sự và Luật dân sự Do các toà xét xử môi trường được thành lập theo PEPA, vốn được coi là một luật đặc biệt, nên chúng được đối xử như các tòa án đặc biệt, với các phán quyết trong những vấn đề môi trường có hiệu lực cao hơn so với phán quyết của các tòa
án chung Kháng cáo đối với phán quyết của các toà xét xử này được đệ trình lên Tòa thượng thẩm (trong bốn tỉnh kể trên mỗi tỉnh có một tòa)
và sau đó lên Tòa án tối cao
Bà Jahan chia sẻ thông tin về một số vụ án mà bà đã giải quyết từ khi đảm nhiệm chức chủ tọa năm 2009 Trong một vụ việc liên quan tới xây dựng bốn cầu vượt tại Karachi, Cơ quan bảo vệ môi trường Pakixtan đã yêu cầu một báo cáo tuân thủ đánh giá tác động môi trường, bên cạnh đánh giá tác động môi trường (EIA), để kiểm tra xem các khuyến nghị nêu trong EIA có được tuân thủ hay không Một vụ việc khác liên quan tới lệnh cấm sử dụng amiăng trong nước, trong
đó ban toà xét xử đã thành lập một hội đồng chuyên gia để nghiên cứu vụ việc
Bà Jahan kết luận rằng xét cho cùng, giải pháp đối với các vấn đề môi trường là phải có ý thức quan tâm tới môi trường Quan tâm tới môi trường phải là một tâm thức và không chỉ liên quan tới việc hạn chế những hành vi nhất định như gây ô nhiễm
Hoa Kỳ
Kathie Stein, một thẩm phán của Ban phúc thẩm môi trường (EAB) của
Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (USEPA), đã mô tả hệ thống xét xử hành chính của Cơ quan bảo vệ môi trường Trong USEPA, có hai toà xét xử: các thẩm phán luật hành chính (ALJs) và EAB Các thẩm phán luật hành chính tiến hành xét xử thực thi luật pháp dựa trên bằng chứng hành chính, và đưa các phán quyết về trách nhiệm pháp lý và hình phạt EAB xử lý những kháng cáo trong phạm vi các luật kiểm soát ô nhiễm
do USEPA quản lý, bao gồm cả những kháng cáo đối với án phạt của
Trang 34ALJs và các kiến nghị xem xét lại những quyết định cấp phép của các văn phòng khu vực thuộc USEPA hoặc một bang Từ năm 1992, các phán quyết của EAB là phán quyết tối hậu của USEAP đối với một vấn đề và
là tiền lệ cho các vụ việc trong tương lai.9
Bà Stein đã liệt kê những đặc trưng chuẩn mực của quy trình xét xử hành chính: (i) độc lập trong xét xử; (ii) minh bạch trước công chúng; (iii) cấm trao đổi thông tin chỉ với một bên; (iv) xét xử đầy đủ và công bằng, (v) đưa ra phán quyết dựa trên hồ sơ, (vi) nhất quán trong xét xử; và (vii) giải quyết nhanh chóng các vụ việc với chi phí thấp Bà Stein giải thích rằng USEPA có sự độc lập trong xét xử: nó độc lập với các cơ quan khác và không tham gia vào quá trình điều tra, thực thi hay hoạch định chính sách ALJs và EAB có thể phán quyết chống lại USEAP Các trình tự tố tụng của USEPA là minh bạch: việc thông tin đơn chiều với chỉ một bên của vụ việc bị cấm; tất cả thông tin trao đổi phải được ghi vào hồ sơ Các thẩm phán được yêu cầu báo cáo tất cả những sự liên hệ một chiều và có thể phạt bên liên hệ Tất cả các phiên xét xử đều công khai trước công chúng, và mọi phán quyết, mệnh lệnh
và bản tóm tắt hồ sơ của luật sư bào chữa đều được đăng tải công khai trên mạng Tất cả các bên đều được quyền trình bày vụ việc của mình một cách tốt nhất trước ALJ hoặc EAB thông qua sự hiện diện của các bằng chứng và nhân chứng, đệ trình các bản tóm tắt hồ sơ của luật sư bào chữa, và trình bày lập luận tại chỗ nếu điều đó được EAB xem là có lợi Mọi kết luận rút ra từ các sự kiện và luật pháp phải được dựa trên hồ sơ vụ việc: các bản ghi chép, tang vật, và các giấy tờ được đệ trình chính thức
Bà Stein kết luận rằng các vụ việc được giải quyết thông qua thủ tục hành chính của USEPA đều có hiệu quả hơn, ít chi phí hơn, và hiếm khi
bị kháng án.10 Như vậy, hệ thống này cung cấp một phương thức giải quyết tranh chấp hiệu quả khác thay cho việc xét xử tại tòa
Nhật Bản
Yoshikazu Suzuki, một điều tra viên của Ủy ban điều phối tranh chấp môi trường (EDCC), đã mô tả hệ thống giải quyết tranh chấp môi trường tại Nhật Bản Công nghiệp hóa tại Nhật Bản bắt đầu từ năm 1868 Khi công nghiệp hóa gia tăng về quy mô, các vấn đề môi trường cũng tăng
lên, bắt đầu là vụ việc Mỏ đồng Ashio (Ashio Copper Mine) vào thập
niên 1880 - vụ ô nhiễm quy mô lớn đầu tiên Khi nước Nhật trải qua tăng trưởng kinh tế cao do công nghiệp hóa mạnh mẽ, vô số các tranh chấp môi trường cũng đã bùng nổ, liên quan tới những vụ ô nhiễm quy
mô rộng đòi hỏi khắc phục nhanh chóng cho các nạn nhân do sức khỏe
9 Theo Luật tố tụng hành chính, quyết định của người đứng đầu cơ quan là tiếng nói chung cuộc của USEAP đối với vấn đề Tuy nhiên, kể từ năm 1992, thẩm quyền phán quyết này đã được trao cho EAB gồm ba thẩm phán.
10 Chỉ có chưa tới 10% các phán quyết của EAB bị kháng cáo Đối với các phán quyết bị kháng cáo, chỉ có chưa đầy 1% bị bác bỏ.
Trang 35bị tổn hại Việc yêu cầu đền bù là rất khó khăn do các nạn nhân khó chỉ
ra được quan hệ nhân quả
Tuy nhiên, đã có những bước đột phá trong giải quyết tranh chấp môi trường tại Nhật Bản, mà nổi bật nhất là cái thường được gọi chung là bốn
vụ kiện ô nhiễm lớn: (i) Bệnh Minamata và (ii) Bệnh Niigata (liên quan tới nhiễm độc thủy ngân hữu cơ), (iii) Bệnh Itai-Itai (nhiễm độc cadmium), và (iv) Hen suyễn Yokkaichi (ô nhiễm không khí) Người dân Nhật Bản vốn được biết là không thích kiện tụng, và trước khi có bốn vụ kiện này, các tranh chấp về ô nhiễm nhìn chung được dàn xếp bên ngoài tòa án, với các nạn nhân được nhận khoản đền bù chiếu lệ để không đưa vụ việc ra tòa.11 Tuy nhiên, với nhận thức ngày càng tăng của công chúng và sự hỗ trợ của truyền thông, các cá nhân bị ảnh hưởng bởi những vụ việc này đã quyết định khởi kiện lên tòa án, nơi họ có được thắng lợi gần như tuyệt đối Do kết quả của các vụ kiện ô nhiễm này, một luật mới về đền bù ô nhiễm đã được thông qua ngoài những tiền lệ tư pháp đã được ấn định Tuy nhiên, bất chấp thắng lợi của các nạn nhân của ô nhiễm, các vụ kiện này một lần nữa minh họa tính chất khó khăn của việc kiện tụng các tranh chấp môi trường tại tòa: khó khăn trong việc thiết lập mối quan hệ nhân
- quả và cụ thể hóa các chi tiết của thiệt hại; và chi phí to lớn của việc xét
xử và thời gian kéo dài của vụ án
Để khắc phục những khó khăn này của hệ thống tòa án, Luật giải quyết tranh chấp môi trường năm 1970 đã thành lập một hệ thống giải quyết tranh chấp hành chính ngoài tòa án để giải quyết các tranh chấp liên quan tới ô nhiễm bên ngoài các tòa án Luật giải quyết tranh chấp môi trường năm 1970 đã quy định thành lập EDCC ở cấp quốc gia bởi chính phủ và các Ủy ban giám sát ô nhiễm quận (PPEC)
ở cấp quận bởi các thống đốc Các ủy ban này không có chức năng giống như tòa sơ thẩm hay phúc thẩm Mỗi ủy ban xử lý các tranh chấp theo phạm vi tài phán được phân định theo luật, với EDCC giải quyết “các vụ việc ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và quan trọng hoặc các vụ việc liên quan tới một vài quận hoặc bao trùm các diện tích rộng lớn” còn PPEC giải quyết các vụ việc khác không nằm trong phạm vi tài phán của EDCC Cả hai cơ quan này đều có nhiệm vụ giải quyết các tranh chấp môi trường12 thông qua hòa giải, dàn xếp
và trọng tài EDCC cũng được trao quyền để tiến hành xét xử: phân
11 H Kato 2004 Vai trò của hệ thống tòa án trong việc tăng cường quản lý môi trường tại Nhật Bản (The Role of the Judicial System in Promoting Environmental Management in Japan) Tài liệu trình bày tại Hội nghị chuyên đề khu vực về Vai trò của Tòa án trong việc thúc đẩy phát triển bền vững: Các nghiên cứu trường hợp từ Nhật Bản và các nước đang phát triển ở Đông Á Bangkok, Thái Lan Ngày 21 - 23/6/2004.
12 Các tranh chấp môi trường liên quan tới ô nhiễm nước và không khí, nhiễm độc đất, tiếng
ồn, rung lắc, sụt lún đất, và mùi khó chịu Ô nhiễm môi trường được định nghĩa là can thiệp vào sự bảo tồn môi trường (bất kỳ yếu tố nào trong bảy loại tranh chấp môi trường nêu trên) với tác động trên diện tích rộng do kết quả của việc kinh doanh và các hoạt động khác của con người mà gây ra tổn hại tới sức khỏe của con người hoặc môi trường sống (gồm cả các yếu tố liên quan mật thiết tới đời sống của con người, như các thảm thực vật và động vật gần gũi với đời sống con người và môi trường sống của họ).
Trang 36định nguyên nhân - tác động và trách nhiệm đền bù thiệt hại.13 Với
sự hiện diện của ADR, các bên không bị hạn chế khởi kiện Tuy nhiên, thời gian quy định để khởi kiện tại tòa chỉ được tính nếu các bên đã
sử dụng các phương thức hòa giải và phân xử Thời gian quy định để khởi kiện tiếp tục được tính khi các bên thông qua phương thức dàn xếp EDCC bao gồm một chủ tọa và sáu ủy viên được Thủ tướng bổ nhiệm, với sự nhất trí của Nghị viện Luật quy định về tính trung lập
và độc lập của mỗi ủy viên Một ban thư ký gồm 39 người hỗ trợ hoạt động của ủy ban, bao gồm tám điều tra viên và đội ngũ cán bộ gồm các luật sư có giấy phép hành nghề và các chuyên gia từ các bộ liên quan tới môi trường
Hệ thống giải quyết tranh chấp bằng các phương thức ngoài tòa án (ADR) của Nhật Bản có những đặc trưng sau: (i) sử dụng kiến thức chuyên ngành và đội ngũ chuyên gia (các chuyên gia kỹ thuật có thể được ủy ban chỉ định, với chi phí của ủy ban); (ii) nghiên cứu thực tế đối với các sáng kiến chính thức (EDCC hoặc PPEC có thể khởi xướng một quy trình nghiên cứu thực tế dựa trên yêu cầu của chính các cơ quan này); (iii) giải quyết nhanh chóng các tranh chấp; (iv) các phương thức thay thế với chi phí thấp (EDCC chịu phần lớn chi phí của quá trình tố tụng và các mức phí được duy trì ở mức thấp, thấp hơn từ 20% tới 30%
so với chi phí của tòa án đối với các hòa giải dân sự); (v) các thủ tục đơn giản; (vi) hệ thống theo dõi sau khi ra quyết định (EDCC và PPEC có thể cung cấp các dịch vụ theo dõi cần thiết để kiểm tra việc tuân thủ những thỏa thuận); và (vii) ủy ban có thể khuyến nghị cho các bộ thích hợp trong chính phủ về những biện pháp kiểm soát ô nhiễm, dựa trên kinh nghiệm trong giải quyết tranh chấp
Các nhà bình luận nhìn chung đều nhất trí rằng tòa án đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển luật và chính sách môi trường, đặc biệt trong luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng liên quan tới
ô nhiễm và các lệnh đình chỉ hành vi vi phạm cũng như bồi thường thiệt hại của tòa thông qua tranh tụng dân sự.14 Các tòa cấp thấp đã
13 Các dịch vụ phân xử chỉ được cung cấp bởi EDCC, và quy trình cũng tương tự như một vụ kiện dân sự, bao gồm xem xét các vấn đề, rà soát các bằng chứng tư liệu, và nhân chứng Một ủy ban phân xử gồm từ ba tới năm thành viên của ủy ban được ủy quyền hợp pháp để đưa ra phán quyết pháp lý nhằm giải quyết tranh chấp Phán quyết đưa ra được mặc định là
đã có sự nhất trí của hai bên, trừ phi bên không hài lòng khởi kiện tại một tòa xét xử trong vòng 30 ngày sau khi có phán quyết Ủy ban phân xử có thể tiến hành một trong các loại hình phân xử sau: phân xử về mối quan hệ nhân–quả, theo đó ủy ban xác định liệu có mối quan hệ nhân - quả theo các thuật ngữ pháp lý hiện diện giữa hành vi bị cáo buộc là bất hợp pháp với tổn hại trong vụ việc về ô nhiễm hay không; hoặc phân xử về trách nhiệm đối với tổn hại, theo đó ủy ban sẽ điều tra liệu một bên có phải chịu trách nhiệm đền bù cho các tổn hại ô nhiễm môi trường hay không, và số tiền đền bù là bao nhiêu.
14 Chú thích 11 Cũng xem N Okubo 2004 Cải thiện năng lực và tính đáp ứng trong hệ
thống tư pháp (Improving Capability and Responsiveness in the Judicial System) Tài liệu
trình bày tại Hội nghị chuyên đề khu vực về Vai trò của Tòa án trong việc thúc đẩy phát triển bền vững: Các nghiên cứu trường hợp từ Nhật Bản và các nước đang phát triển ở Đông Á Bangkok, Thái Lan Ngày 21–23/6/2004.
Trang 37cấp tiến hơn trong việc diễn giải luật pháp nhằm hỗ trợ các quyền môi trường và bảo vệ các nạn nhân của việc môi trường bị tổn hại (chú thích 14) Tuy nhiên, bất chấp công việc của tòa án, các quyền môi trường vẫn không được ngành tư pháp chính thức công nhận Hiến pháp Nhật Bản năm 1946 có hai điều khoản đã được sử dụng như là
cơ sở của quyền có một môi trường sạch và trong lành trong các vụ việc môi trường: (i) quyền sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc (Điều 13); và (ii) quyền được duy trì các tiêu chuẩn tối thiểu của đời sống lành mạnh và văn minh (Điều 25) Mặc dù những quyền này đã được các tòa án công nhận và tán thành và được sử dụng làm cơ sở để đền
bù thiệt hại cho các nguyên đơn trong những vụ việc môi trường, song chúng được coi là “các quyền cá nhân” và không phải là quyền con người hay quyền riêng tư - vốn bao hàm quyền được khởi kiện tại tòa trong các vụ việc môi trường
Hàn Quốc
Kim Won Kim, Chủ tịch Ủy ban giải quyết tranh chấp môi trường quốc gia (NEDRC), đã thảo luận vai trò của NEDRC trong việc giải quyết các tranh chấp môi trường tại Hàn Quốc Cũng như Nhật Bản, Hàn Quốc
đã ưu tiên phát triển kinh tế hơn là bảo vệ và bảo tồn môi trường, và chỉ tới thập niên 1960 bảo tồn môi trường mới trở thành một vấn đề quan trọng
Hiến pháp Hàn Quốc năm 1980 đã quy định quyền có một môi trường sạch và trong lành Quyền này được bổ sung và làm rõ trong Hiến pháp năm 1987, quy định rằng mọi công dân đều có quyền có một môi trường lành mạnh và trong sạch và “nội dung của quyền này sẽ được xác định theo luật pháp”.15 Tòa án tối cao đã phán quyết rằng quy định này tự nó không có giá trị thực hiện, và việc đòi quyền này phải được dựa trên một đạo luật cụ thể (chú thích 15) Các yêu sách
về quyền dựa trên điều khoản này của hiến pháp đã bị các tòa án coi
là không có cơ sở, và tòa án yêu cầu các bên khiếu kiện phải chứng minh được thiệt hại trực tiếp đối với cá nhân Như vậy, mặc dù quyền
có một môi trường lành mạnh được nêu trong Hiến pháp, song việc tiếp cận quyền này phần nào bị hạn chế Tòa án tối cao cũng hạn chế công nhận nguyên tắc phòng ngừa và đã cho phép một dự án được tiếp tục với sự thận trọng, xét tới sự không chắc chắn về mặt khoa học.16 Toà án tối cao cũng đã tán thành một phán quyết của tòa án
15 R Kim 2007 Các nguyên tắc của phát triển bền vững trong luật môi trường Hàn Quốc: Hướng tới các nguyên tắc của Hiến chương Trái đất (Principles of Sustainable Development
in Korean Environmental Law: Towards the Earth Charter Principles) The New Zealand
Postgraduate Law e-Journal 4 tr.17.
16 Chú thích 15 Vụ Saemangeum, được phán quyết bởi Tòa án tối cao Hàn Quốc năm 2006, liên quan tới một dự án của chính phủ tại tỉnh Bắc Jeolla nhằm chuyển đổi các bãi triều thành đất canh tác bằng cách xây dựng một tường chắn sóng trên bờ biển.
Trang 38tỉnh rằng môi trường tự nhiên không có các quyền pháp lý và do vậy không thể là nguyên đơn trong một vụ việc.17
Việc thông qua một đạo luật về giải quyết tranh chấp môi trường đã dẫn tới sự thành lập NEDRC vào tháng 6 năm 1991 như một cơ quan thường trực của Bộ môi trường Nhiệm vụ của nó là dàn xếp “nhanh chóng, công bằng và hiệu quả” các tranh chấp môi trường với khoản phí cho các bên để tham gia với sự nghiêm túc.18 “Dàn xếp” các tranh chấp được định nghĩa là giải quyết thông qua hòa giải, điều đình, và trọng tài Các tranh chấp môi trường có nghĩa là “xung đột liên quan tới tổn hại môi trường và liên quan tới việc thiết lập sự quản lý các cơ
sở môi trường”, như được định nghĩa theo luật.19
NEDRC có thể xét xử các tranh chấp môi trường liên quan tới một bên là chính quyền trung ương hoặc địa phương; giá trị tranh chấp vượt quá 100 triệu won; và dàn xếp tranh chấp liên quan tới từ hai tỉnh, thành trở lên NEDRC có 15 thành viên, gồm một chủ tọa - được
bổ nhiệm (bởi Tổng thống Hàn Quốc theo đề cử của Bộ trưởng môi trường) với nhiệm kỳ 2 năm có thể gia hạn Cùng với NEDRC, các ủy ban giải quyết tranh chấp môi trường địa phương cũng được thành lập như là những cơ quan không thường trực của các tỉnh và thành phố Các ủy ban giải quyết tranh chấp môi trường địa phương có thẩm quyền phân xử các tranh chấp môi trường thuộc phạm vi khu vực tài phán của họ với giá trị thấp hơn 100 triệu won Các ủy ban giải quyết tranh chấp môi trường địa phương không được ủy quyền tiến hành việc điều đình và phân xử bắt buộc liên quan tới các chính quyền trung ương và/hoặc địa phương cũng như các tranh chấp liên quan tới việc cản trở ánh nắng, thông gió, và tầm nhìn Các ủy ban này cũng có 15 thành viên, với phó thị trưởng thành phố hoặc phó chủ tịch tỉnh làm chủ tọa
Phiên họp 8
Thể chế hóa các hệ thống để thúc đẩy
luật môi trường trong đào tạo tư pháp
Phiên họp 8 đã trình bày các cơ chế và chương trình đào tạo tư pháp chung hiện thời tại một số khu vực tài phán ở châu Á để thảo luận về những điểm
17 Chú thích 15 Vụ Dorongyong là vụ việc đầu tiên để kiểm nghiệm khái niệm công lý giữa các giống loài Vụ việc liên quan tới đề xuất xây dựng một tuyến đường sắt cao tốc nối liền Seoul với Busan, và các nhà sư Phật giáo cùng các nhà hoạt động môi trường đã cáo buộc rằng dự án sẽ đe dọa 30 loài đang có nguy cơ tuyệt chủng Một vụ kiện đã được tiến hành nhân danh dorongyong hay rồng lửa, là một trong các loài đang có nguy cơ tuyệt chủng này.
18 Các điều 3 và 5, Đạo luật dàn xếp tranh chấp môi trường www.eiskorea.org/04_Policy/01_Law asp?schMenuCode=MC100&schTabCode=MC170&strIdx=397&schCom=&schSearch=
&intPage=1
19 Chú thích 18 Điều 2.
Trang 39khởi đầu thích hợp cho hoạt động đào tạo tư pháp môi trường tiếp theo tại châu Á.
Delilah Magtolis, Chủ nhiệm Khoa các vấn đề học thuật của Học viện
tư pháp Philíppin (PHILJA) đã mô tả chương trình đào tạo các thẩm phán tại Philíppin PHILJA là một đơn vị đặc biệt trực thuộc Tòa án tối cao Philíppin, được thành lập như một trường dành cho thẩm phán, chánh án và những người muốn làm việc trong ngành tư pháp, cũng như cung cấp các khóa tập huấn cho nhân sự của tòa án Nó có một đội ngũ giáo sư được coi là chuyên gia trong lĩnh vực luật pháp liên quan PHILJA có một chương trình khung cũng như các chương trình với trọng tâm đặc biệt Các chương trình khung được giảng dạy trong suốt cả năm (ví dụ như các chương trình đào tạo thẩm phán mới), trong khi các khoá chuyên đề trọng tâm đặc biệt liên quan tới những chủ đề cụ thể như các luật lệ và quy định mới hoặc các phán quyết của Tòa án tối cao
PHILJA đã tiến hành một số khóa chuyên đề về luật môi trường, mà gần đây nhất là chuyên đề về Xây dựng năng lực đa ngành về luật môi trường và các quy tắc tố tụng trong các vụ việc môi trường Các quy tắc
tố tụng do Tòa án tối cao ban hành tháng 4 năm 2010 được áp dụng tại tất cả các tòa án, và do vậy mọi thẩm phán phải nắm rõ các quy định của nó
Sarawut Benjakul, Phó tổng thư ký Học viện đào tạo Thái Lan, đã thảo luận về nhiệm vụ của Học viện đào tạo tư pháp Học viện đào tạo tư pháp là một bộ phận của Cơ quan tư pháp, được giao nhiệm vụ cung cấp chương trình đào tạo cho các thẩm phán và cán bộ tư pháp của các Tòa công lý Nó có ba bộ phận: Học viện đào tạo thẩm phán, Học viện đào tạo cán bộ tư pháp, và Học viện tư pháp hình sự quốc gia Học viện đào tạo thẩm phán thực hiện đào tạo cho các thẩm phán ở mọi cấp về
cả các chương trình luật pháp tiêu chuẩn và chuyên ngành Các chương trình tiêu chuẩn bao gồm các khóa học dành cho thẩm phán cấp cao, thẩm phán của Tòa án tối cao, thẩm phán tập sự và các đối tượng khác Các chương trình chuyên ngành bao gồm các chuyên đề về những chủ
đề pháp luật đặc biệt như luật môi trường, luật thuế, luật thương mại,
và các nội dung khác Học viện đào tạo cán bộ tư pháp cung cấp các chương trình đào tạo cho cán bộ tư pháp với những chương trình tiêu chuẩn và chuyên môn Học viện tư pháp hình sự quốc gia cung cấp các chương trình đào tạo dành cho chấp hành viên cấp cao trong thực thi
tư pháp duy trì một chương trình đào tạo tư pháp thường xuyên, cung
Trang 40cấp các khóa đào tạo và giảng dạy cho các thẩm phán và cán bộ trong suốt sự nghiệp của họ trong ngành tòa án Chương trình đào tạo bao gồm cả các học viên và thực tập viên thẩm phán; các chương trình dành cho thẩm phán đã công tác từ 0–5 năm và từ 6–10 năm Cũng có một chương trình bồi dưỡng các vấn đề chuyên môn mà Tòa án tối cao yêu cầu phải được đào tạo có chứng nhận.
Trong xét xử các vụ việc môi trường, Tòa án tối cao yêu cầu chỉ các thẩm phán được đào tạo có chứng nhận mới được thực hiện Một nhóm công tác đã soạn thảo chương trình đào tạo có chứng nhận, bao gồm cả tuyển sinh và lựa chọn, theo các tiêu chí lựa chọn được xác định thông qua phân tích nhu cầu, đào tạo, bố trí việc làm và đề bạt, và giám sát và đánh giá Sau khóa đào tạo có chứng nhận, các thẩm phán có chứng nhận được kỳ vọng sẽ: (i) thành thạo trong việc phán quyết các vụ việc về môi trường; (ii) chứng tỏ kiến thức và sự hiểu biết toàn diện về các nguyên tắc luật môi trường quốc gia và quốc tế; (iii) có khả năng áp dụng các quy phạm trong phán quyết vụ việc; (iv)
khám phá luật pháp (rechtsvinding) để thiết lập công lý về môi trường
trong trường hợp chưa có luật; và (v) thể hiện tính liêm chính của một thẩm phán
Các phiên họp 5 và 13
Các mạng lưới liên tòa án về môi trường;
Các thẩm phán châu Á và môi trường: Nhu cầu
năng lực và tiềm năng thiết lập mạng lưới
Phiên họp 5 đã trình bày việc xây dựng mạng lưới tại các khu vực khác và những thành công và thất bại của quá trình này, cũng như cân nhắc việc thành lập một Mạng lưới thẩm phán châu Á về môi trường
Scott Fulton, Luật sư trưởng của USEPA, đã chia sẻ thông điệp qua video về tầm quan trọng của các mạng lưới quốc tế trong quản lý nhà nước về môi trường Các mạng lưới tòa án khuyến khích tăng cường đối thoại và hỗ trợ việc phát triển các giá trị nghề nghiệp chung Chúng nhấn mạnh các thông lệ hoạt động hiệu quả nhất giúp bảo đảm tính độc lập, chịu trách nhiệm, và hiệu quả tư pháp, cũng như thúc đẩy pháp quyền trên phạm vi toàn cầu Kinh nghiệm về các mạng lưới của ông Fulton cho thấy rằng các tòa án có nhiều điểm chung hơn là điểm khác biệt trong bối cảnh luật môi trường Có rất nhiều cơ hội để trao đổi hữu ích giữa các hệ thống tòa án, và những
sự trao đổi này cần được khuyến khích do chúng giúp các thẩm phán được chuẩn bị tốt hơn, có động lực và cam kết mạnh mẽ hơn để bảo
vệ môi trường
Ông Fulton cũng chia sẻ rằng ông dành toàn bộ tâm trí cho các tòa môi trường và vai trò của chúng trong việc thực thi hiệu quả luật môi trường Các tòa môi trường tạo ra một diễn đàn cho các bên liên quan đưa ra những quan điểm khác nhau về thực thi phù hợp luật