Phân tích tài chính là quá trình nhận thức và đánh giá tình hình tài chính đã qua và hiện tại cũng như dự đoán tình hình tài chính trong tương lai, giúp cho nhà quản lý đưa ra các quyết định quản lý chính xác và đánh giá được doanh nghiệp, đồng thời giúp các đối tượng quan tâm đưa ra các quyết định hợp lý, phù hợp với mục tiêu mà họ quan tâm. Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị nảy sinh trong quá trình phân phối của cải xã hội gắn liền với tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp để phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nhu cầu của xã hội. Hoạt động tài chính của doanh nghiệp có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ và biện chứng với hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. Do vậy, việc nhận thức được bản chất, tính chất và xu hướng phát triển của tài chính doanh nghiệp là một đòi hỏi thường xuyên và liên tục Chính vì thế ,phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng và cần thiết.Nó giúp cho doanh nghiệp nhìn nhận một cách đúng đắn,khách quan nhất về thực trạng tài chính của mình để từ đó có những hướng giải quyết cụ thể phù hợp với doanh nghiệp trong từng giai đoạn. Do vậy sau quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Thương Mại,kết hợp với thời gian thực tập tại trung tâm du lịch thanh liên việt nam cùng với sự hướng dẫn tận tình của cô-Th.S. Lương Thị Trâm em đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “phân tích tình hình tài chính và giải pháp nhằm nâng cao khả năng tài chính tại trung tâm du lịch thanh niên việt nam “làm đề tài chuyên đề tốt nghiệp cuối khoá của mình.
Trang 1Lời mở đầu
Phân tích tài chính là quá trình nhận thức và đánh giá tình hình tài chính
đã qua và hiện tại cũng nh dự đoán tình hình tài chính trong tơng lai, giúp chonhà quản lý đa ra các quyết định quản lý chính xác và đánh giá đợc doanhnghiệp, đồng thời giúp các đối tợng quan tâm đa ra các quyết định hợp lý, phùhợp với mục tiêu mà họ quan tâm
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế dới hình thức giátrị nảy sinh trong quá trình phân phối của cải xã hội gắn liền với tạo lập và sửdụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp để phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp và nhu cầu của xã hội
Hoạt động tài chính của doanh nghiệp có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ vàbiện chứng với hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp Do vậy, việcnhận thức đợc bản chất, tính chất và xu hớng phát triển của tài chính doanhnghiệp là một đòi hỏi thờng xuyên và liên tục
Chính vì thế ,phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp đóng vai trò vôcùng quan trọng và cần thiết.Nó giúp cho doanh nghiệp nhìn nhận một cách
đúng đắn,khách quan nhất về thực trạng tài chính của mình để từ đó có nhữnghớng giải quyết cụ thể phù hợp với doanh nghiệp trong từng giai đoạn
Do vậy sau quá trình học tập và nghiên cứu tại trờng Đại học Thơng
Mại,kết hợp với thời gian thực tập tại trung tâm du lịch thanh liên việt nam cùng với sự hớng dẫn tận tình của cô-Th.S Lơng Thị Trâm em đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “phân tích tình hình tài chính và giải pháp nhằm nâng cao
khả năng tài chính tại trung tâm du lịch thanh niên việt nam “làm đề tài
chuyên đề tốt nghiệp cuối khoá của mình
Trang 2Chơng I Cơ sở lý luận và thực tiễn của phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
I bản chất và nội dung của tài chính doanh nghiệp
1 Bản chất của tài chính doanh nghiệp
Mỗi một mối quan hệ kinh tế xã hội cụ thể đều đợc thông qua một hìnhthức trên cơ sở của một hệ thống mối quan hệ cụ thể nào đó tài chính doanhnghiệp là một hệ thống những mỗi quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trìnhphân phối các nguồn lực tài chính của doanh ngiệp thông qua việc hình thành
và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định ,nhằm thực hiện các mục tiêu dã đợc địnhtrớc của doanh nghiệp,mà ở đó mục tiêu chủ yếu là tối đa hoá lợi nhuận ,giảmchi phí kinh doanh
Bất kì tồn tại dới hình thức nào doanh nghiệp đợc thành lập cũng nhằmmục đích chủ yếu là thực hiện một ,một số hoặc tất cả các công đoạn của quátrình từ đầu t đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hay thực hiện các dịch vụ trênthị trờng nhằm mục đích kiếm lời
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh ,đòi hỏi các doanh nghiệpphải có một lợng vốn nhất định , đó là tiền đề cần thiết cho sự tồn tại và pháttriển của doanh nghiệp trong thực tế vốn là hình thứcbiểu hiện bên ngoài củatài chính doanh nghiệp Vốn tiền tệ trong doanh nghiệp luônđợc vận động vàluân chuyển không ngừng qua các giai đoạn từ việc dự trữ để sản xuất đến khihình thành sản phẩm và đa đến tay ngời tiêu dùng.Quá trình vận động này làquá trình chuyển dịch giá trị từ chủ thể này sang chủ thể khác,đây là quá trìnhhình thái biểu hiện của vốn trong sản xuất kinh doanh theo từng chu kỳ.Có thểhiểu rằng tài chính doanh nghiệp là tiền tệ hay các quỹ tiền tệ tồn tại trongdoanh nghiệp ,nhng thực chất tiền tệ hay các quỹ tiền tệ chỉ là hình thức Đó làcác mối quan hệ giữa doanh nghiệp với ngân sách nhà nớc ,doanh nghiệp vốicac doanh nghiệp ,các tổ chức ,cá nhân,Cũng thông qua các mối quan hệ king tếnày mà quá trìnhphối hơp lại đợc thực hiện và là tiền đề cho tái sản xuất mởrộng của doanh nghiệp đợc thực hiện
Từ đó cho thấy bản chất tài chính của doanh nghiệp là hệ thống nhữngmối quan hệ kinh tế biểu hiện dới hình thái giá trị phát sinh trong qúa trình hìnhthành và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp,để phục vụ cho mục đích của
Trang 3sản xuất kình doanh và giải quyết các nhu cầu của xã hội .Hay nói cáchkhác :Tàichính doanh nghiệp là hệ thống các mối quan hệ tiền tệ gắn trực tiếpvôi các việc tổ chức,huydộng ,phân phối ,sử dụng và quản lý vốn trong quá trìnhsản xuất kinh doanh.
2 Nội dung của tài chính doanh nghiệp.
Gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ củadoanh nghiệp là các mối quan hệ kinh tế đợc biểu hiện dới hình thức giá trị; hay
đó là các mối quan hệ tài chính trong doanh nghiệp Các mối quan hệ này chính
là nội dung của tài chính doanh nghiệp và đợc thể hiện dới những hình thức sau:
2.1 Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Ngân sách Nhà nớc.
Mối quan hệ giữa doanh nghiệp với Ngân sách Nhà nớc là mối quan hệ
về phân phối thu nhập do Nhà nớc đièu tiết thông qua các chính sách về thuế, vềcác khoản phải nộp Ngân sách Nhà nớc theo luật định và theo những chính sáchhiện hành Đây là các khoản phải nộp mang tính chất bắt buộc đối với cácdoanh nghiệp, đó cũng là điều kiện vật chất nhằm duy trì hoạt động của bộ máynhà nớc Giai đoạn hiện nay, các doanh nghiệp có nghĩa vụ phải nộp Nhà nớcnh: thuế doanh thu, thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế XK, thuế NK, thuếlợi tức, thuế thu nhập doanh nghiệp và các khoản phụ thu (nếu có), cùng với cáckhoản lệ phí khác
Đối với các doanh nghiệp nhà nớc đợc nhà nớc cấp phát vốn kinh doanhkhi mới thành lập, doanh nghiệp này phải chịu sự kiểm soát của nhà nớc với tcách nhà nớc là chủ sở hữu doanh nghiệp
Tóm lại, thực chất đây là hình thức phân phối và phân phối lại của cải vậtchất dới hình thức giá trị giữa các doanh nghiệp với Nhà nớc
2.2 Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân khác trong nền kinh tế thị trờng.
Là mối quan hệ của doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khách quan nhquan hệ về mặt thanh toán tiền mua, bán tài sản, vật t hàng hoá và dịch vụ Đây
là những quan hệ mua bán trao đổi các yếu tố phục vụ cho quá trình sản xuất,kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp
Là mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các tổ chức ngân hàng, tổ chức tíndụng trong việc vay vốn và trả nợ Đây là nguồn cung cấp vốn ngắn hạn củadoanh nghiệp Do vậy, yêu cầu đặt ra trong tình hình sản xuất kinh doanh, đểviệc đầu t tài chính có hiệu quả thì doanh nghiệp cần phải tính toán, lựa chọnnguồn vay và mức độ vay cần thiết cho các hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp mình Để việc kinh doanh diễn ra thuận lợi và hạn chế đợc những
Trang 4rủi ro có thể xảy ra, doanh nghiệp cần phải tính đến các biện pháp phòng ngừa,biện pháp hỗ trợ đó là mối quan hệ với các tổ chức các Công ty bảo hiểm trongviệc phân tích tình hình và tham gia mua bảo hiểm để hạn chế tổn thất xuốngmức thấp nhất có thể với mức mua bảo hiểm đã xác định.
Ngoài những mối quan hệ kể trên doanh nghiệp còn có mối quan hệ vớithị trờng sức lao động, thị trờng tài chính, trong các mối quan hệ liên doanh liênkết với các Công ty, các tổ chức trong và ngoài nớc hay với các tầng lớp nhândân trong việc thu hút và huy động vốn dới hình thức mua bán chứng khoán haygóp vốn liên doanh
Tóm lại, các mối quan hệ trên giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tếkhác đều nhằm mục đích tìm kiếm vốn và bổ xung vốn cho quá trình hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình sao cho có hiệu quả nhất
2.3 Quan hệ tài chính phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp.
Mối quan hệ này đợc thể hiện thông qua việc phân phối thu nhập, trên cơ
sở tiền thu về từ bán hàng sau khi bù đắp cho chi phí sản xuất, kinh doanh cònlại sẽ đợc hình thành quỹ tích luỹ tài sản của doanh nghiệp Đây cũng là mốiquan hệ phân phối lợi nhuận cho các đơn vị thành viên, trả lơng, trả thởng chocác ngời lao động và hình thành nên các quỹ của doanh nghiệp từ một phần lợinhuận thông qua tỉ lệ trích lập Trong các doanh nghiệp thơng mại ngoài quốcdoanh còn hình thành nên các mối quan hệ thanh toán hợp đồng lao động giữachủ doanh nghiệp với công nhân, viên chức và thanh toán tiền lãi vay, trả lãi cổtức cho các cổ đông
Tóm lại, từ các quan hệ tài chính trong doanh nghiệp nêu trên chúng ta cóthể thấy: Tài chính doanh nghiệp là một hệ thống các luồng chuyển dịch giá trị,các luồng vận động của các nguồn tài chính trong quá trình tạo lập hoặc sửdụng các quỹ tiền tệ hay vốn huy động đợc của doanh nghiệp nhằm đạt tới mụctiêu lợi nhuận trong khuôn khổ của pháp luật
Trang 53 Chức năng của tài chính doanh nghiệp.
Nói đến chức năng là nói đến khả năng khách quan phát huy tác dụng xãhội của nó hay là sự cụ thể hoá bản chất của tài chính doanh nghiệp Tài chínhdoanh nghiệp có những chức năng cơ bản sau:
3.1 Chức năng chu chuyển vốn tiền tệ.
Để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp luôncần phải có một lợng vốn tiền tệ đủ lớn để hoạt động và có quyền sử dụngnguồn vốn đó một cách chủ động Quá trình hoạt động cua doanh nghiệp luônnảy sinh các nhu cầu về vốn ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động kinh doanh th-ờng xuyên của doanh nghiệp cũng nh cho đầu t phát triển Do vậy chức năngnày sẽ giúp cho doanh nghiệp xác định đợc nhu cầu vốn cần thiết cho sản xuấtkinh doanh trong từng thời kỳ Mặt khác, nó còn giúp cho các nhà quản lý haycác chủ đầu t nắm đợc tình hình tài chính để tổ chức nguồn vốn nhằm đầu t
đúng hớng và kịp thời nhu cầu vốn khi cần thiết
Với cơ chế "mở" hiện nay, nguồn tài chính hoạt động không chỉ tronggiới hạn ở nguồn cấp phát của ngân sách, nguồn vốn tự có của doanh nghiệphay nguồn vốn tín dụng ngân hàng mà còn có thể đợc hình thành từ thị trờngvốn hay huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân và các khoản đầu t nớcngoài Việc hình thành thị trờng tài chính song song với thị trờn hàng hoá, tạo racơ chế "bơm - hút" vốn một cách hợp lý và đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốntrong các doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh cua doanhnghiệp phát triển
Điều đó cho thấy chức năng chu chuyển vốn tiền tệ là một chức năngquan trọng của tài chính doanh nghiệp vì nó tạo ra động lực thúc đẩy, quyết
định sự hoạt động của doanh nghiệp Nó liên quan đến kết quả sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp hay nói cách khác nó tác động trực tiếp đến sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp
3.2 Chức năng phân phối.
Phân phối là một chức năng quan trọng của tài chính doanh nghiệp, dựatrên cơ sở sản xuất kinh doanh, khi chu kỳ kinh doanh kết thúc, sản phẩm hànghoá đợc tiêu thụ trên thị trờng, doanh nghiệp có thu nhập thu về từ bán hànghoặc dịch vụ Nói cách khác, chức năng phân phối là cái vốn có nằm sẵn trongphạm trù tài chính và biểu hiện bản chất của tài chính trong đời sống kinh tế xãhội khi phân phối của cải vật chất dới hình thức giá trị Cũng từ chức năng phânphối mà các nguồn tài lực là đại diện cho của cải của xã hội đợc đa vào nhữngmục đích sử dụng khác nhau đảm bảo những nhu cầu khác nhau và những lợi
Trang 6ích khác nhau của đời sống xã hội Chức năng phân phối của doanh nghiệp chủyếu là phân phối thu nhập bởi vì việc phân phối có tác động tới toàn bộ quátrình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó thúc đẩy doanhnghiệp phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh, đảm bảo cho doanh nghiệp
có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trờng có thể tiếp tục tái sản xuất
mở rộng Hình thức phân phối thể hiện theo quy trình sau khi thu tiền từ hoạt
động bán hàng hay dịch vụ, doanh nghiệp phải phân phối theo cơ chế:
- Một phần dùng để bù đắp vốn đã bỏ ra mua hàng và cũng để nhằm mục
đích bảo toàn vốn lu động
- Bù đắp một phần chi phí thuộc các yếu tố vật chất đã sử dụng trong quátrình sản xuất kinh doanh nh chi phí bù đắp hao mòn tài sản cố định, chi phí vậtliệu, nhiên liệu, chi phí lao động trong đó bao gồm cả chi phí tiền lơng, chi phívận tải, chi phí bốc dỡ hàng hoá, mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong kỳ kinhdoanh
- Thanh toán các khoản thuế và các khoản phải nộp nhà nớc khác nh:thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế XNK, và các khoản lệ phí và phụ thukhác
- Số còn lại sau khi bù đắp đợc các khoản chi phí gọi là lợi nhuận trớcthuế của doanh nghiệp Lợi nhuận này sau khi đã trừ đi thuế thu nhập doanhnghiệp và các khoản chi phí không hợp lý nh nộp tiền phạt, hao hụt vợt quá mứcquy định, tiền lãi vay quá hạn phần còn lại sẽ đợc doanh nghiệp phân phối vàocác quỹ nh: quỹ đầu t phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khen thởng phúclợi
3.3 Chức năng giám đốc tài chính.
Đây là chức năng mang tính chất khách quan đợc sử dụng trong kiểm tra,kiểm soát tài chính doanh nghiệp, chức năng giám đốc tài chính phản ánh tínhchất khách quan của hoạt động tài chính và thông qua đó có thể phản ánh đợctrình độ sử dụng vốn trong hoạt động kinh doanh Quá trình tạo lập và sử dụngcác quỹ tiền tệ của doanh nghiệp hớng vào việc thực hiện các yêu cầu của cácquy luật kinh tế của nền kinh tế trị trờng Trong đó đặc điểm cơ bản nhất củagiám đốc tài chính là giám đốc bằng tiền các hoạt động kinh doanh một cáchthờng xuyên, liên tục và có hiệu quả nhất
Giám đốc tài chính cho thấy đợc khả năng sử dụng vốn có hiệu quả haykhông và việc phân phối chúng nh thế nào đối với mỗi đồng vốn mà doanhnghiệp đã bỏ ra Đồng thời thông qua một số chỉ tiêu về sử dụng vốn, một số chỉtiêu về chi phí hay lợi nhuận mà có thể phát hiện ra các hiện tợng sử dụng vốn
Trang 7bất hợp lý, sử dụng chi phí kinh doanh kém hiệu quả để t vấn cho lãnh đạo hoặcchủ doanh nghiệp có những quyết định đúng đắn về tài chính đảm bảo cho hoạt
động của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao Và cũng có thể nắm một cách chínhxác, toàn diện tình hình tài chính doanh nghiệp để lập kế hoạch tài chính doanhnghiệp và bám sát mục tiêu kinh doanh Cũng thông qua chức năng này mà quátrình kinh doanh đợc chủ động, không ngừng đợc mở rộng và phát triển theo
định hớng, đảm bảo việc sử dụng vốn có hiệu quả, thực hiện yêu cầu của chế độhạch toán kinh tế, đảm bảo đời sống của ngời lao động trong doanh nghiệp,tránh tham ô lãng phí và những tổn thất không đáng có do hoạt động tài chínhgây nên
4 Vai trò của tài chính doanh nghiệp đối với quá trình HĐKD
Trong nền kinh tế thị trờng, tài chính doanh nghiệp có một vai trò hết sứcquan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nó có tác dụng thúc
đẩy hoặc kìm hãm quá trình hoạt động của doanh nghiệp Trong hoạt động kinhdoanh ngày nay, tài chính giữ những vai trò chủ yếu sau:
Đảm bảo huy động đầy đủ, kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thờng xuyên nảysinh các nhu cầu về vốn ngắn hạn và dài hạn cho các hoạt động kinh doanh th-ờng xuyên của doanh nghiệp cũng nh cho đầu t phát triển
Vai trò tài chính doanh nghiệp trớc hết đợc thể hiện ở việc xác định đúng
đắn các nhu cầu về vốn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp trong từngthời kỳ và sau đó lựa chọn hình thức huy động vốn phù hợp (huy động từ bêntrong hay bên ngoài doanh nghiệp) Chính vì thế vai trò của tài chính doanhnghiệp ngày càng trở nên quan trọng hơn trong việc chủ động lựa chọn các hìnhthức và phơng pháp huy động vốn đảm bảo cho quá trình huy động nhịp nhàng,liên tục với chi phí thấp nhất Bên cạnh đó, tài chính doanh nghiệp có vai tròtrong việc tổ chức, sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả Việc tổ chức sử dụng vốncủa doanh nghiệp có tác động rất lớn đến kết quả hoạt động sản xuất kinhdoanh, tài chính doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá lựachọn dự án đầu t trên cơ sở phân tích một số chỉ tiêu kinh tế nh khả năng sinhlời, mức độ rủi ro, để lựa chọn ra một dự án đầu t tối u Huy động kịp thời cácnguồn vốn có ý nghĩa rất lớn để doanh nghiệp có thể nắm bắt kịp thời các cơ hộikinh doanh Mặt khác, huy động tối đa nguồn vốn hiện có vào hoạt động kinhdoanh để có thể giảm bớt và tránh đợc những thiệt hại do ứ đọng vốn gây ra,
đồng thời giảm bớt đợc nhu cầu vay vốn, từ đó giảm đợc khoản chi phí trả lãitiền vay Việc hình thành và sử dụng tốt các quỹ doanh nghiệp cùng với việc sử
Trang 8dụng các hình thức thởng phạt vật chất nghiêm minh và hợp lý sẽ là động lựcthúc đẩy cán bộ công nhân viên quan tâm tới công việc, gắn bó với doanhnghiệp từ đó nâng cao sản xuất lao động góp phần cải tiến và hợp lý hóa trongsản xuất kinh doanh nhằm sử dụng vốn đạt hiệu quả cao nhất.
Giám sát, kiểm tra chặt chẽ các mặt của hoạt động sản xuất kinh doanhcũng là một vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp trong việc thực hiện hàngloạt chỉ tiêu kế hoạch tài chính đã đợc xây dựng Thờng xuyên giám sát, kiểmtra và đánh giá một cách khái quát các mặt hoạt động của doanh nghiệp đồngthời phát hiện ra những tồn tại vớng mắc trong kinh doanh để từ đó có nhữngbiện pháp khắc phục góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
và điều chỉnh các hoạt động sao cho phù hợp với thực tế kinh doanh
II Sự cần thiết phải phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.
1 Khái niệm và mục đích phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.
1.1 Khái niệm.
Mọi sự vật và hiện tợng đều tồn tại một cách khách quan, muốn nắm bắt,nhận thức và cải tạo đợc chúng để đa vào sử dụng phục vụ cho lợi ích của conngời thì cần phải hiểu biết về bản chất sự vật và hiện tợng cũng nh quy luật vận
động của nó Vì vậy, để hiểu biết đợc chúng ta cần phải sử dụng nhiều phơngpháp nghiên cứu khác nhau trong đó có phơng pháp phân tích
Vậy phân tích có thể hiểu là sự bóc tách, chia nhỏ sự vật hiện tợng trongmối quan hệ trong mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành của sự vật,hiện tợng; từ đó cho ta nhận thức đợc về hình dáng, kích thớc, tính chất củachúng trong đối tợng nghiên cứu và thấy đợc mối liên hệ, tác động qua lại giữachúng Đồng thời qua phân tích quy luật của sự vật hiện tợng Đó là phân tíchtrong lĩnh vực tự nhiên, còn trong lĩnh vực kinh tế xã hội thì các hiện tợng cầnphân tích chỉ tồn tại bằng những khái niệm trừu tợng C.Mác đã chỉ ra rằng:
"Khi phân tích các hình thái kinh tế xã hội thì không thể sử dụng hoặc kính hiển vi hoặc những phản ứng hoá học Lực lợng trừu tợng phải thay thế cái này hoặc cái kia".
Phân tích kinh tế là một trong những khái niệm chung, tuỳ theo phạm vicủa đối tợng nghiên cứu mà ta chia ra thành phân tích kinh tế vĩ mô hay phântích kinh tế vi mô
- Phân tích kinh tế vĩ mô có phạm vi nghiên cứu rộng trong nền kinh tếquốc dân hay một vùng lãnh thổ
Trang 9- Phân tích kinh tế vi mô hay còn gọi là phân tích hoạt động kinh tế cóphạm vi là các hiện tợng và quá trình kinh tế phát sinh trong hoạt động sản xuấtkinh doanh của một doanh nghiệp hay một tổ chức kinh tế cụ thể.
Hoạt động tài chính là một trong những nội dung cơ bản trong hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp là các mối quan hệ tiền
tệ gắn liền với việc hình thành nên vốn, phân phối, quản lý và sử dụng vốn trongquá trình kinh doanh và đợc biểu hiện bằng việc hình thành và sử dụng các quỹtiền tệ
Phân tích tình hình tài chính là quá trình xem xét kiểm tra, đối chiếu và
so sánh số liệu về tài chính hiện hành với quá khứ Thông qua phân tích tìnhhình tài chính mà ngời sử dụng thông tin có thể đánh giá đợc tiềm năng, hiệuquả kinh doanh hay những rủi ro có thể xảy ra trong tơng lai hoặc triển vọngphát triển có thể đạt đợc của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trờng, phân tích tài chính doanh nghiệp đã và ngàycàng trở thành một công cụ quan trọng trong hệ thống các công cụ quản lý kinh
tế xã hội Hơn thế nó đã phát triển thành một môn khoa học kinh tế độc lập có
đối tợng nghiên cứu riêng
Đối tợng nghiên cứu của phân tích tài chính doanh nghiệp là việc đi phântích những kết quả kinh doanh gắn liền với việc huy động, sử dụng và quản lývốn, đợc thể hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế và các nhân tố tác động tới nó
Nói tóm lại, phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là tổng thể cácphơng pháp đợc sử dụng để nghiên cứu các mối quan hệ nói trên nhằm nhậnthức và đánh giá một cách đúng đắn trong quản lý kinh tế nói chung và trong đó
có quản lý tài chính
1.2 Mục đích của phân tích tài chính.
Với nền kinh tế "mở" có sự điều tiết vĩ mô của nhà nớc, các thành phầnkinh tế, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế đều có quyền bình đẳng nh nhau,
đợc tự do cạnh tranh với nhau Vì thế, những thông tin về tài chính không chỉ
đ-ợc những đối tợng có vai trò quản lý trong doanh nghiệp quan tâm nh: bán giám
đốc (hội đồng quản trị) mà còn là những thông tin hữu ích cho các chủ đầu t,nhà cho vay, các cổ đông, các chủ nợ, các nhà quản lý liên quan khác, các nhàbảo hiểm, đối thủ cạnh tranh Mỗi nhóm đối tợng này có những nhu cầu vềthông tin khác nhau và do vậy mỗi nhóm có xu hớng sử dụng thông tin khácnhau, do đó mỗi nhóm có xu hớng tập trung vào những khía cạnh riêng trong
"bức tranh" toàn cảnh tài chính doanh nghiệp Vậy, phân tích tình hình tài chínhnhằm các mục đích sau:
Trang 10- Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp đầy đủ các thông tin hữu íchcho các nhà đầu t, các tín chủ và ngời sử dụng thông tin tài chính khác để họ cónhững quyết định đúng đắn khi ra quyết định đầu t hoặc cho vay.
- Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp cho các thông tin cho cácchủ doanh nghiệp, các nhà cho vay trong việc đánh giá tính ổn định và khảnăng của các dòng tiền ra - vào, tình hình sử dụng có hiệu quả vốn kinh doanh,tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp
- Việc phân tích tình hình tài chính phải cung cấp đợc các thông tin vềnguồn vốn chủ sở hữu, các khoản nợ, kết quả của quá trình hoạt động, các tìnhhuống làm biến đổi các nguồn vốn và các khoản nợ của doanh nghiệp
Nh vậy, có thể nói mục đích tối cao và quan trọng nhất của phân tích tàichính doanh nghiệp là giúp ngời ra quyết định lựa chọn phơng án kinh doanh tối
u và đánh chính xác thực trạng, tiềm năng của doanh nghiệp Hay nói cáchkhác, đây cũng chính là quá trình kiểm tra, xem xét, đối chiếu, đánh giá thựctrạng và so sánh số liệu về tài chính hiện tại với quá khứ nhằm xác định đúngtiềm năng và hiệu quả kinh doanh cũng nh những triển vọng trong tơng lai cuadoanh nghiệp hay những hiện tợng rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra cho các doanhnghiệp có những biện pháp tối u, đạt hiệu qủa trong kinh doanh
Trang 112 ý nghĩa và nhiệm vụ phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.
2.1 ý nghĩa.
Phân tích tài chính doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng đối với chủdoanh nghiệp, các nhà đầu t, các đối thủ cạnh tranh trong việc đánh giá cácthông tin về khả năng của doanh nghiệp ở hiện tại và tơng lai để có những quyết
định đúng đắn trong lựa chọn phơng án kinh doanh hoặc phơng án đầu t mộtcách tốt nhất Do vậy, ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp đợc thểhiện:
- Đối với các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp mốiquan tâm lớn nhất của họ là tìm kiếm khả năng trả nợ cùng với nhiều mối quantâm khác nh tạo công ăn việc làm, nâng cao chất lợng sản phẩm, cung cấp cácsản phẩm hàng hoá dịch vụ với chi phí thấp nhất Tuy nhiên một doanh nghiệpchỉ có thể thực hiện đợc các mục tiêu trên khi các hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp có lãi, đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ và có tích luỹ
từ lợi nhuận của mình Còn nếu là một doanh nghiệp luôn làm ăn thua lỗ thì cácnguồn lực sẽ bị cạn kiệt dần cùng với không có khả năng thanh toán nợ đến hạn
điều đó sẽ dẫn đến việc doanh nghiệp buộc phải ngừng hoạt động và đóng cửa.Vì vậy, các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị rất quan tâm đến tình hình tàichính của doanh nghiệp để có thể hiểu rõ và đánh giá chính xác khả năng tàichính để có những quyết định đúng đắn cho hoạt động của mình
- Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng thì mối quantâm hàng đầu của họ là tìm kiếm khả năng trả nợ của khách hàng Do vậy họ
đặc biệt quan tâm với số lợng tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi thànhtiền nhanh; từ đó đem so sánh với số nợ ngắn hạn để biết đợc khả năng thanhtoán tức thời của doanh nghiệp Một mặt họ còn quan tâm đến vốn chủ sở hữucủa doanh nghiệp bởi đây là khoản mang tính chất bảo hiểm cho họ trong trờnghợp doanh nghiệp gặp rủi ro Họ sẽ sẵn sàng không cho vay khi thấy các thôngtin của ngời đi vay không đảm bảo chắc chắn rằng khi khoản vay đó đến hạn màdoanh nghiệp không có khả năng để thanh toán Nói cách khác, là doanh nghiệpkhông đủ vật t để đảm bảo thì các nhà đầu t hay các nhà cung cấp tín dụng sẽkhông ra quyết định đầu t hoặc cho vay
- Đối với các nhà cung cấp vật t hàng hoá, dịch vụ trớc khi quyết định
họ cần phải xem xét về khả năng thanh toán của khách hàng, đặc biệt là trờnghợp mua chịu hàng hoá Nhóm ngời này cũng giống nh chủ ngân hàng, họmuốn biết khả năng thanh toán của khách hàng ở hiện và tơng lai ra sao, liệu có
đủ cơ sở để tin cậy khi giao hàng hay không?
Trang 12- Đối với các nhà đầu t thì mối quan tâm của họ chủ yếu hớng vào việcphán đoán các yếu tố rủi ro có thể xảy ra, thời gian hoàn vốn và khả năng sinhlời, khả năng thanh toán của mỗi đồng vốn đầu t Do vậy họ cần có những thôngtin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và các tiềmnăng phát triển của doanh nghiệp Đồng thời để đảm bảo cho sự an toàn của
đồng vốn đầu t, họ cũng rất quan tâm đến việc điều hành hoạt động và tính hiệuquả của công tác quản lý Những điều đó nhằm đảm bảo sự an toàn và tính hiệuquả cho các nhà đầu t
- Bên cạnh chủ doanh nghiệp, các nhà đầu t, còn có nhiều nhóm ngờikhác cũng quan tâm đến tình hình tài chính doanh nghiệp nh cơ quan thuế, các
tổ chức tài chính, thống kê, những ngời lao động những ngời này cũng cần cónhững thông tin giống nh các ngân hàng, các nhà đầu t vì nó liên quan đếnquyền lợi và trách nhiệm của họ ở hiện tại và trong tơng lai nh:
- Đối với cơ quan quản lý nhà nớc, qua việc phân tích tình hình tài chínhdoanh nghiệp, sẽ đánh giá đợc năng lực lãnh đạo của ban giám đốc, từ đó có thể
ra những quyết định nh bổ sung vốn cho các doanh nghiệp
- Đối với những Công ty có phát hành chứng khoán thì những cổ đôngcần thông tin tài chính để xem xét hiệu quả đầu t vốn vào đó liệu có tốt haykhông? Đối với các nhà phân tích tài chính thì họ sẽ quan tâm hơn đến việc
đánh giá các rủi ro có thể xảy ra, thông qua phân tích các chi tiêu về khả năngthanh toán, khả năng cân đối về vốn, khả năng sinh lời của doanh nghiệp Đồngthời cũng qua phân tích có thể đa ra dự đoán về kết quả hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp trong tơng lai
Nói tóm lại, phân tích tài chính không chỉ quan trọng đối với doanhnghiệp mà nó còn rất có ý nghĩa đối với các đối tợng khác có liên quan đến tìnhhình tài chính của doanh nghiệp Với cơ chế cạnh tranh hiện nay thì việc phântích tình tài chính của mỗi doanh nghiệp ngày càng trở nên quan trọng và cầnthiết hơn
2.2 Nhiệm vụ phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp có những nhiệm vụ sau:
- Đánh giá chính xác toàn diện và khách quan tình hình tài chính củadoanh nghiệp trên các mặt huy động các nguồn vốn và phân phối và sử dụngvốn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
- Đánh giá tình hình công nợ phải trả, phải thu, tình hình và khả năngthanh toán các khoản nợ, tình hình bảo toàn và tăng trởng vốn kinh doanh củadoanh nghiệp
Trang 13- Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh nói chung và hiệu quả sửdụng của từng bộ phân vốn nói riêng.
III Nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp (TCDN).
1 Phân tích khái quát tình hình biến động tài sản và nguồn vốn.
Qua phân tích khái quát tình hình biến động tài sản và nguồn vốn củadoanh nghiệp có thể đánh giá đợc tình hình huy động vốn và các nguồn vốn hay
có thể nhận thức đợc việc phân phối và sử dụng hợp lý các nguồn vốn của doanhnghiệp trong kinh doanh Đồng thời cũng thấy đợc khả năng đáp ứng về vốn chohoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Phân tích tình hình biến động tài sản và nguồn vốn (TCDN) đợc dựa trên
số liệu đã đợc tổng hợp trên bảng cân đối kế toán và một số chỉ tiêu phản ánhkết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nh: doanh thu bánhàng, lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh
Để có thể phân tích đợc tình hình TCDN, phơng pháp thờng đợc sử dụng
là phơng pháp so sánh Với phơng pháp này ngời sử dụng có thể tính các chỉtiêu, tỉ lệ tăng giảm, số chênh lệch tăng giảm để đánh giá khái quát tình hìnhbiến động và các nhân tố ảnh hởng TCDN ở các thời kỳ
1.1 Phân tích khái quát tình hình biến động tài sản của doanh nghiệp.
Phân tích tình hình tài sản trong doanh nghiệp nhằm mục đích thấy đợc
sự biến động tăng giảm của tài sản, cơ cấu phân bổ tài sản và sự tác động ảnh ởng đến tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, qua đóthấy đợc tính tồn tại trong công tác quản lý và sử dụng tài sản doanh nghiệp để
nh vốn của doanh nghiệp, vốn vay ngân hàng, vốn vay của các đối tợng khác Nếu nh doanh nghiệp huy động tốt nguồn tự có trong kinh doanh sẽ giúp chocông ty nâng cao đợc khả năng tự chủ về tài chính Hay nhìn vào đó mà ngời sử
Trang 14dụng thấy đợc trách nhiệm phải thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp vớingời lao động, với nhà cung ứng hay với ngân sách.
2 Phân tích tình hình quản lý và sử dụng tài sản.
Phân tích tình hình quản lý và sử dụng tài sản nhằm mục đích đánh giá sựbiến động của các bộ phận cấu thành tài sản của doanh nghiệp Từ đó thấy đợctrình độ sử dụng vốn, việc phân bổ giữa các loại tài sản trong quá trình hoạt
động kinh doanh có hiệu quả hay không, đồng thời đề ra các biện pháp nângcao hiệu quả sử dụng vốn Vậy để nhận rõ tình hình quản lý và sử dụng tài sảnchúng ta nên đi sâu phân tích vào từng bộ phận cấu thành nên tài sản
2.1 Phân tích chung về tình hình quản lý và sử dụng tài sản lu động (TSLĐ).
Tài sản lu động (TSLĐ) là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanhnghiệp, có thời gian hoạt động trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinhdoanh TSLĐ của doanh nghiệp có thể tồn tại dới hình thái tiền, hiện vật và cáckhoản nợ phải thu ngắn hạn; bao gồm vốn bằng tiền, các khoản nợ phải thu,hàng tồn kho và các khoản ứng trớc
2.1.1 Phân tích tình hình quản lý và sử dụng vốn bằng tiền.
Phân tích tình hình quản lý và sử dụng vốn bằng tiền của doanh nghiệpnhằm mục đích đánh giá tình hình quản lý và sử dụng, sự biến động tăng giảm,nguyên nhân biến động tăng giảm của tiền trong kỳ kinh doanh hay khả năng
đáp ứng nhu cầu phục vụ cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trong các
kỳ kinh doanh tới
2.1.2 Phân tích về các khoản phải thu.
Phân tích các khoản phải thu nhằm mục đích thấy đợc những khoản tiềnhoặc tài sản của doanh nghiệp đã và đang bị doanh nghiệp, cá nhân khác chiếmdụng một cách hợp pháp hoặc bất hợp pháp mà doanh nghiệp có trách nhiệmphải thu hồi
2.1.3 Phân tích tình hình hàng tồn kho.
Phân tích tình hình hàng tồn kho nhằm mục đích phân tích và đánh giátình hình biến động cơ cấu và thực trạng của hàng tồn kho và khả năng đáp ứngnhu cầu cho hoạt động sản xuất kinh doanh Đồng thời cũng qua phân tích tìnhhình hàng tồn kho sẽ cho ta thấy đợc hệ số vòng quay tốc độ chu chuyển hàng
Trang 15tồn kho trong kỳ, những mâu thuẫn tồn tại của hàng hoá tồn khô để đa ra nhữngbiện pháp khắc phục kịp thời và đề ra những chính sách, biện pháp, quản lýhàng tồn kho một cách tốt nhất cho một quá trình kinh doanh hợp lý.
2.2 Phân tích tình hình quản lý và sử dụng tài sản cố định (TSCĐ).
Mục đích phân tích tình hình tăng giảm và cơ cấu của TSCĐ cho thấy saumột chu kỳ sản xuất kinh doanh TSCĐ của doanh nghiệp tăng hay giảm? và cơcấu phân bổ của chúng ra sao? Việc phân bổ đó có hợp lý hay không? để từ đótìm ra những nguyên nhân tồn tại để khắc phục hay phts huy những thế mạnhsẵn có của mình
3 Phân tích tình hình nguồn vốn (NV) của doanh nghiệp.
Phân tích tình hình nguồn vốn của doanh nghiệp là việc đi đánh giá sựbiến động các loại NV của doanh nghiệp nhằm thấy đợc tình hình huy động và
sử dụng các loại NV đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh
3.1 Phân tích tình hình công nợ phải trả và khả năng thanh toán công nợ.
Mục đích của công tác phân tích công nợ phải trả là nhằm nhận thức và
đánh giá tình hình biến động tăng giảm cơ cấu và tính chất của các khoản nợ;qua đó thấy đợc những nguyên nhân của sự tăng gảm Đồng thời qua phân tích
sẽ thấy đợc tình hình trả nợ và khả năng trả nợ của doanh nghiệp ở hiện tại và
t-ơng lai để từ đó có những đề xuất, giải pháp và kế hoạch trả nợ, tránh tình trạngtrả nợ chậm có thể làm ảnh hởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệptrong việc huy động vốn cho quá trình hoạt động
3.2 Phân tích tình hình nguồn vốn chủ sở hữu (nguồn vốn CSH).
Phân tích tình hình nguồn vốn chủ sở hữu nhằm nhận thức, đánh giá tìnhhình biến động tăng giảm, nguyên nhân của sự biện động đó, qua đó thấy đợckhả năng đáp ứng cho những nhu cầu sản xuất kinh doanh để có kế hoạch huy
động tốt các nguồn vốn
IV Các phơng pháp và nguồn tài liệu sử dụng phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp (TCDN).
Các phơng pháp và nguồn tài liệu sử dụng để phân tích tình hình TCDN
là một hệ thống bao gồm các công cụ, các biện pháp nhằm tiếp cận các sự kiện,hiện tợng, các mối liên hệ bên trong và bên ngoài, các luồng chuyển dịch vàbiến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết nhằm đánh giá tìnhhình TCDN Trên thực tế tồn tại rất nhiều phơng pháp phân tích tình hình
Trang 16TCDN khác nhau tuỳ theo mối quan tâm và yêu cầu của nghiên cứu để lựa chọnphơng pháp phân tích Trong giới hạn của chuyên đề này, em xin trình bày một
t-điều kiện đồng bộ để có thể so sánh đợc các chỉ tiêu tài chính Chẳng hạn nhquy sự thống nhất về mặt không gian, về thời gian, nội dung, tính chất hay đơn
vị tính toán Mặt khác, dựa vào mục đích phân tích để xác định kỳ gốc và kỳbáo cáo cho hợp lý Do vậy phân tích TCDN có nhiều nội dung so sánh khácnhau nh:
- So sánh giữa số thực hiện của kỳ báo cáo so với kỳ kế hoạch hoặc số
định mức để thấy đợc mức độ hình thành bằng tỉ lệ phần trăm (%) hoặc sốchênh lệch tăng giảm
- So sánh giữa số thực hiện kỳ báo cáo với số thực hiện kỳ cùng năm trớchoặc các năm trớc để thấy đợc sự biến động tăng giảm của các chỉ tiêu kinh tếqua các thời kỳ và xu hớng phát triển của nó ở tơng lai
- So sánh giữa số liệu thực hiện của đơn vị này với một đơn vị khác đểthấy đợc sự khác nhau, mức độ và khả năng phấn đấu của từng đơn vị Thôngthờng số liệu so sánh thờng đợc lấy là số liệu bình quân của các doanh nghiệphay của ngành
- So sánh giữa bộ phận và tổng thể để xác định tỷ trọng của nó trong chỉtiêu chung
Ngoài ra còn so sánh giữa chỉ tiêu này với chỉ tiêu khác có mối quan hệchặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau để hình thành nên chỉ tiêu mới
1.2 Phơng pháp phân tích tỷ lệ.
Trang 17Tỷ lệ là chỉ tiêu tơng đối phản ánh mức độ hoàn thành kế hoạch so với kỳtrớc Phơng pháp phân tích tỷ lệ cho thấy rõ hơn sự biến đổi của các chỉ tiêukinh tế trong kỳ phân tích.
Phơng pháp phân tích tỷ lệ yêu cầu phải xác định đợc các định mức, cácngỡng cùng với sự so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị tỷ lệ tài chính
đợc phân thành các nhóm tỷ lệ đặc trng để nhận xét, đánh giá theo những mụctiêu cơ bản đặt ra của doanh nghiệp Các nhóm tỷ lệ đợc phân thành:
- Nhóm tỷ lệ về khả năng hoạt động kinh doanh: Đây là nhóm chỉ tiêu
đặc trng cho việc sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp
- Nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán: Đây là nhóm chỉ tiêu đợc sử dụng
để đánh giá khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp
- Nhóm khả năng sinh lời: Đây là nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Nhóm tỷ lệ về khả năng cân đối vốn, cơ cấn vốn và nguồn vốn; là nhữngchỉ tiêu phản ánh mức độ ổn định và tự chủ tài chính cũng nh khả năng chiếmdụng nợ vay của doanh nghiệp
Mỗi nhóm chỉ tiêu trên phục vụ cho mục đích khác nhau của ngời phântích nh trong khi ban giám đốc quan tâm tới khả năng hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp mình thì các nhà đầu t lại chú trọng xem xét nhóm chỉ tiêu khảnăng sinh lời, còn các chủ nợ lại đặc biệt quan tâm tới nhóm tỷ lệ về khả năngthanh toán
1.3 Phơng pháp cân đối.
Phơng pháp cân đối là phơng pháp phân tích và mô tả các hiện tợng kinh
tế tồn tại trong mối quan hệ cân bằng hoặc phải tồn tại dới sự cân bằng Mọi sựvật và hiện tợng đều tồn tại một cách khách quan và có mối quan hệ biện chứnglẫn nhau; do vậy trong phân tích kinh tế tài chính của doanh nghiệp có nhiều chỉtiêu có liên hệ mật thiết với nhau bằng mối quan hệ mang tính chất cân đối Cácquan hệ cân đối trong doanh nghiệp có hai loại Cân đối mang tính chất tổng thể
và cân đối cá biệt
- Cân đối mang tính chất tổng thể là mối quan hệ cân đối của các chỉ tiêukinh tế tổng hợp Ví dụ, mối liên hệ giữa tài sản và nguồn vốn đợc thể hiện quacông thức Tài sản = Nguồn vốn hay mối quan hệ giữa doanh thu và chi phí thểhiện qua công thức Doanh thu = Chi phí + Kết quả
- Cân đối cá biệt là mối quan hệ cân đối của các chỉ tiêu kinh tế cá biệt
nh mối quan hệ sau:
Trang 18Nợ phải thucủa kháchhàng đã thutrong kỳ
+
Nợ phải thucủa kháchhàng còn phảithu ở cuối kỳ
Do chúng có mối quan hệ cân đối, vì vậy chỉ cần có một chỉ tiêu thay đổi
sẽ làm cho các chỉ tiêu khác thay đổi theo
kỳ báo cáo, số kỳ kế hoạch với kỳ báo cáo hay so sánh giữa các chỉ tiêu cábiệt hoặc các chỉ tiêu tổng thể Tuỳ theo nội dung phân tích mà các biểu có têngọi khác nhau nh biểu phân tích tình hình công nợ phải trả, biểu phân tích tìnhhình nguồn vốn sở hữu cùng với các đơn vị tính khác nhau
2 Nguồn tài liệu phân tích.
Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển của doanh nghiệpngày nay chịu sự rất nhiều tác động ở bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Cácyếu tố bên trong nh cơ cấu tổ chức bộ máy, khả năng tăng trởng và năng suấtlao động Các yếu tố bên ngoài nh luật pháp, khoa học kỹ thuật, sự cạnh tranhcủa các doanh nghiệp cùng ngành và khác ngành Để tiến hành đợc công việcphân tích ngời ta còn phải dựa trên nhiều nguồn tài liệu khác nhau cũng nh phảilờng đợc sự ảnh hởng của các yếu tố bên trong nội bộ doanh nghiệp và các yếu
tố bên ngoài; nhng chủ yếu ngời phân tích dựa vào các báo cáo tài chính củadoanh nghiệp Đây là nguồn thông tin mà không chỉ chủ doanh nghiệp cần màcòn rất hữu ích đối với các chủ thể kinh tế khác
Tài liệu đợc sử dụng trong phân tích tài chính của doanh nghiệp chủ yếu
sử dụng hai loại sau: Bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động sảnxuất kinh doanh
2.1 Bảng cân đối kế toán.
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quáttoàn bộ tài sản hiện có và nguồn hình thành nên tài sản của doanh nghiệp tạimột thời điểm nhất định và theo một đơn vị tiền tệ nhất định Số liệu trên bảngcân đối kế toán phản ánh đợc toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệpcũng nh cơ cấu tài sản, nguồn vốn và cơ cấu hình thành nên tài sản đó
Trang 19Bảng cân đối kế toán là tài liệu quan trọng để nghiên cứu đánh giá mộtcách tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh, trình độ sử dụng vốn và nhữngtriển vọng kinh tế tài chính của doanh nghiệp Bảng cân đối kế toán đợc chiathành hai phần: phần tài sản và phần nguồn vốn.
* Phần tài sản: Phần này phản ánh giá trị tài sản hiện có của doanhnghiệp tại thời điểm lập báo cáo Phần tài sản của doanh nghiệp bao gồm haimục:
+ Mục A: TSLĐ và đầu t ngắn hạn: loại này phản ánh tổng giá trị TSLĐ
và các khoản đầu t ngắn hạn của doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo
+ Mục B: TSCĐ và đầu t dài hạn: phản ánh toàn bộ giá trị TSCĐ màdoanh nghiệp dang có tại thời điểm lập báo cáo và các khoản đầu t tài chính dàihạn nh các khoản ký quỹ, ký cợc, công trình xây dựng cơ bản dở dang
* Phần nguồn vốn: Phần này cho ngời xem thây đợc thực trạng về tàichính doanh nghiệp, nó phản ánh nguồn hình thành nên tài sản hiện có củadoanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo Phần nguồn vốn đợc chia thành haimục:
+ Mục A: "Nợ phải trả" bao gồm nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và nợ khác màtính đến thời điểm lập báo cáo doanh nghiệp còn cha trả
+ Mục B: "Nguồn vốn chủ sở hữu" đây là các chỉ tiêu tổng hợp phản ánhtoàn bộ nguồn vốn thuộc chủ sở hữu của doanh nghiệp và phần kinh phí sựnghiệp đợc ngân sách nhà nớc cấp
2.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp phản
ánh tổng quát kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ kế toán
và tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhân sách Nhà nớc
Căn cứ vào số liệu trên báo cáo này, ngời sử dụng thông tin có thểkiểm tra, phân tích và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệptrong kỳ,so sánh số liệu với các kỳ trớc hay với các đơn vị khác để thấy đợc kếtquả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ra sao và suhớng tới sẽ nh thế nào để đa ra những quyết định đúng đắn và phù hợp với yêucầu của thực tiễn
Báo cáo kết quả kinh doanh đợc chia thành ba phần:
*Phần I: Báo cáo lãi lỗ:phần này phản ánh kết quả của hoạt động kinh
doanh,kết quả của hoạt động tài chính và kết quả của hoạt động bất thờng của
kỳ trớc so với kỳ này và đợc luỹ kế từ đầu năm
Trang 20*Phần II: Phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nớc.Phần
này phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nớc theo từng chỉ tiêu nhnộp thuế, bảo hiểm xã hội,bảo hiểm y tế ,kinh phí công đoàn…
Các chỉ tiêu phản ánh trong phần này theo rõi số còn phải nộp kì trớcchuyển sang, số phát sinh trong kỳ,và số còn phải nộp chuyển sang kỳ sau theotừng cột tơng ứng
Số còn phải Số còn phải nộp Số phát sinh Số đã nộp nộp chuyển = kỳ trớc chuyển + trong kỳ - cuối kỳ
sang kỳ sau sang
* Phần III: Thuế giá trị gia tăng đợc khấu trừ,đợc hoàn lại,đợc miên
giảm
2.3 Tài liệu khác
Bên cạnh bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh để
có thể phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp tốt hơn,chính xác hơn ngờiphân tích cần phải kết hợp với các báo cáo có khác nh :báo cáo lu chuyển tiềntệ(nếu có),báo cáo chi tiết về tình trạng tăng giảm tài sản,nguồn vốn ;công nợphải thu ,phải trả, báo cáo giải trình về tình hình tăng giảm tài sản, nguồn vốn,tình hình tài sản thừa thiếu và các chế độ về quản lý tài chính, kế hoạch hoá tàichính
Trang 21Chơng II Phân tích tình hình tài chính của trung tâm du lịch thanh niên việt nam
I vài nét khái quát về đặc điểm hoạt động kinh doanh của trung tâm du lịch thanh niên việt nam
+ Nghiên cứu tham mu đề xuất cho Bí Th Trung ơng đoàn chủ trơng ,hoạt
động tham gia du lịch ,đảm bảo nội dung giáo dục của đoàn phù hợp với tuổi trẻ
+ Phối hợp chặt chẽ với Tổng cục du lịch Việt Nam để tổ chức hoạt động
du lịch cho thanh liên Việt Nam và du khách quốc tế
+ Lập kế hoạch hàng năm cho các tỉnh thành tổ chức tham quan chothanh thiếu nhi
+ Tổ chức kinh doanh thêo nguyên tắc hạch toán kinh tế XHCN ,lấy thu
bù chi và góp phần tăng nguồn thu kinh phí cho Trung ơng đoàn
Từ những ngày đầu mới thành lập trong cơ chế tập trung bao cấp ,các
điều kiện kinh tế kĩ thuật còn nghèo nàn lạc hậu , Trung tâm chỉ có một phòngquản lí hành chính để làm việc với 6 cán bộ công nhân viên ,hoạt động đangmang tính chất tìm kiếm thị trờng ,doanh thu của trung tâm chỉ đạt 700.000đ/năm và lợi nhuận chỉ đạt 20.000đ/nâm nhng từ khi đất nớc xoá bỏ cơ chế tậptrung quan liêu bao cấp,phát triển theo hớng CNH-HĐH,Trung tâm đã đổi mới
đầu t nâng cấp cơ sở vật chất và dã thu đợc doanh thu nên tới 1 tỷ đồng trongnăm 1996 Và đến nay ,năm 2001Trung tâm đã có 250 giờng nghỉ với 2 cơ sởnhà nghỉ là Khách sạn Khăn Quàng Đỏ tại Hà Nội và trại hè Thanh thiếu niên ở
Đồ Sơn,có một đội xe gồm 5 chiếc chuyên chở khách du lịch và vật t hànghoá Doanh thu trong năm đã đạt đợc 4.3 tỷ đồng ,lợi nhuận là 559 triệu ,đảmbảo cuộc sống cho cán bộ công nhân viên trong trung tâm và nộp đủ nghĩa vụcho nhà nớc
Trang 222 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của trung tâm
Là nghành kinh doanh hoạt động du lịch, nên có một đặc điểm nh sau :+ Là hoạt động kinh doanh tổng hợp gồm nhiều hoạt động khác nhau nhkinh doanh hớng dẫn du lịch ,vận chuyểndu lịch ,khách sạn và các dịch vụkhác
+Sản phẩm dịch vụ là sản phẩm khômg mang hình thái vật chất cụ thể
nh hàng hoá thông dụng khác ,quá trình sản xuất ra sản phẩm đồng thời là quátrình tiêu thụ ,tức là các dịch vụ đợc trực tiếp thực hiện với khách hàng luôn
+Trong cơ cấu giá thành của hoạt động du lịch thì đại bộ phận là hao phí
về lao động sống, về khấu hao TSCĐ ,còn các hao phí về đối tợng lao độngchiếm tỷ trọng nhỏ
+ Là hoạt động mang tính thời vụ và phụ thuộc vào nhiều yếu tố nh thờitiết ,phong tục tập quán từng nơi
+ Đối tợng phục vụ của hoạt động du lịch phức tạp ,không ổn định gồmnhiều lứa tuổi,giới thính ,sắc tộc, vùng văn hoá khác nhau và nhu cầu của mỗingời đối với hoạt động du lịch cũng khác nhau
Từ những đặc điểm chung về nghành du lịch nh trên ,ta tháy đợc Trungtâm du lịch Thanh niên Việt Nam cũng mang những đặc điểm đạc thù củanghành kinh doanh hoạtđộng du lịch những đặc điểm này hoàn toàn khác hẳnvới các ngành khác
- Cơ cấu tổ chức hệ thống sản xuất kinh doanh : hệ thống sản xuất kinhdoanh của Trung tâm đợc tổ chứ thành các tổ, phòng ban nh : tổ buồng, lữ hành,nhà hàng, kế toán, tổ bảo vệ, lễ tân, giặt là
3 Đặc điểm tổ chức bổ máy quản lý :
Trung tâm du lịch thanh niêm Việt Nam có tất cả 65 ngời trong đó 1/2 làtheo hợp đồng Bộ máy quản lý đợc tổ chức đứng đầu là ban giám đốc, sau đó làcác phòng ban và các tổ sản xuất dịch vụ
-Ban giám đốc : gồm 2 ngời :
Một là giám đốc : là ngời chịu trách nhiệm chính trong mọi hoạt độngsản xuất kinh doanh của trung tâm
Một phó giám đốc : giúp giám đốc chỉ đạo mọi hoạt động kinh doanh củatrung tâm
Ban giám đốc có nhiệm vụ chủ động tổ chức quản lý mọi hoạt động kinhdoanh của trung tâm, sắp xếp lại bộ máy lao động phù hợp với yêu cầu nhiệm
vụ nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao trong kinh doanh Thực hiện quyền tự chủ vềtài chính, giao các nhiệm vụ chỉ tiêu kế hoạch tài chính, các định mức kinh tế kĩ
Trang 23thuật cho các cá nhân, các phòng ban, các tổ Ban giám đốc đợc phép áp dụngcác hình thức tiền lơng, tiền thởng , kỉ luật nâng bậc lơng cho cán bô nhân viên
và các phòng ban trực thuộc Dới giám đốc có các phòng ban, nhiệm vụ do bảngiám đốc quyết định
-Phòng hành chính tổ chức : gồm 6 ngời :
Có trách nhiệm phụ trách về mặt nhân sự, tổ chức quản lý toàn bộ côngnhân viên của trung tâm Phụ trách về tiền lơng, quản lý về thang bậc lơng củatừng ngời trong từng phòng ban đơn vị trực thuộc.Tham mu cho ban giám đốc
về mặt lao động tiền long
Phòng kế hoạch vật t gồm 4 ngời:
Có nhiệm vụ tham mu cho ban giám đốc về mặt chiến lợc kinh doanhngắn hạn cũng nh dài hạn hàng quý, hàng năm, tiến hành lập kế hoạch định h-ớng sự phát triển cho trung tâm cung cấp đầy đủ vật t trang thiết bị cần thiết chocác phòng ban, bộ phận sản xuất
-Phòng kế toán- tài vụ : gồm 4 ngời :
Có nhiệm vụ quản lý toàn bộ tình hình thu chi tài chính của trung tâm.Tổchức hạch toán kế toán trong trung tâm theo đúng chế độ kế toán của nhà nớc.Cung cấp những thông tin thực hiện về tình hình kinh doanh, thu chi tài chínhcủa trung tâm Tổ chức kế toán phân tích để giúp ban giám đốc khai thác triệt
để tiềm năng của trung tâm phục vụ kịp thời cho kinh doanh
-Phòng giao dịch hớng dẫn : gồm 10 ngời :
Có nhiệm vụ tổ chức đón khách hàng, giới thiệu điều kiện lu trú, loạihạng phòng, tiện nghi, vị trí giá cả của khách Khi đạt đợc thoả thuận thì làmthủ tục nhận khách, giao chìa khoá phòng cho khách, thu tiền và có trách nhiệmhớng dẫn khách đến tận phòng họ thuê, tổ chức công tác hớng dẫn, phiên dịch
để phục vụ khách nếu họ yêu cầu
Dới các phòng ban còn có các tổ, bộ phận trực tiếp làm công tác dịch vụ:-Tổ buồng : gồm 10 ngời :
Có trách nhiệm đảm bảo vệ sinh, không gian bố trí sắp xếp các bộ phậntrong phòng đảm bảo tính thẩm mỹ cần thiết cho phòng ở của khách Giúp cho
du khách thấy sạch sẽ, gọn gàng, thích thú và thoải mái
-Tổ bảo vệ : gồm 7 ngời :
Có trách nhiệm bảo vệ các loại tài sản của trung tâm, bảo vệ tình hình trật
tự an ninh nhằm đảm bảo cho du khách tin tởng, cảm thấy thoải mái an tâm khinghỉ tại trung tâm
Tổ giặt là: gồm 5 ngời:
Trang 24Các loại chăn, màn, đệm trong phòng khách đều do các nhân viên của tổgặt là đảm nhiệm công việc giặt giũ Đó là nhiệm vụ chính của họ, ngoài ra còn
tổ chức giặt thuê theo nhu cầu của khách nhằm tận dụng trang thiết bị hiện có
để tăng thu nhập cho Trung tâm
Trang 25Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý tại Trung tâm
4 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán:
Để cung cấp thông tin kịp thời cho ban quản lý kinh doanh của Trung tâmphù hợp với đặc điểm tổ chức bộ máy kinh doanh, tình hình phân cấp quản lýkinh tế tài chính trong nội bộ Trung tâm, khả năng và trình độ của đội ngũ kếtoán hiện có Trung tâm áp dụng hình thức tổ chức công tác kế toán tập trung.Theo hình thức tổ chức công tác kế toán này, toàn Trung tâm chỉ lập một phòng
kế toán duy nhất để tập trung thực hiện toàn bộ công việc kế toán ở Trung tâm
Đơn vị trực thuộc của Trung tâm ở Đồ Sơn không hạch toán kết quả riêng màhạch toán theo hình thức báo sổ, tức là không hạch toán kết quả kinh doanh màbáo về Trung tâm để kế toán tại Trung tâm hạch toán Phòng kế toán tại Trungtâm thực hiện việc ghi sổ kế toán chi tiết và sổ tổng hợp toàn bộ các nghiệp vụkinh tế phát sinh ở tất cả các bộ phận trong Trung tâm nhằm cung cấp đầy đủkịp thời thông tin kinh tế và tình hình biến động của tài sản, vật t, hàng hoá, tiềnvốn, tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch của Trung tâm nói chung và củatừng bộ phận trực thuộc nói riêng
Theo hình thức tổ chức kế toán này, bộ máy kế toán của Trung tâm đợc tổchức theo mô hình sau:
Giám đốc
Phó Giám đốc
Trang 26Kế toán tr ởng
- Kế toán trởng: Phụ trách chung toàn bộ tình hình tổ chức công tác kếtoán ở Trung tâm Phân công, chỉ đạo, đôn đốc trực tiếp cả các nhân viên kếtoán của đơn vị đang làm việc tại bất cứ bộ phận nào thực hiện đúng, kịp thờichức năng của mình Tổ chức phổ biến và hớng dẫn thi hành kịp thời các chế
độ, thể lệ tài chính, kế toán do Nhà nớc quy định Khi phát hiện những hành
động của bất cứ ngời nào trong đơn vị vi phạm luật lệ và thể lệ quy đinhj thì tuỳtừng trờng hợp, kế toán trởng có quyền báo cáo cho Ban giám đốc Trung tâmhoặc các cơ quan thanh tra Nhà nớc Nhiệm vụ của kế toán trởng còn có nhiệm
vụ là trên cơ sở đảm nhiệm kế toán tổng hợp, theo dõi Sổ Cái, lập các báo cáotài chính cần thiết và phù hợp để cung cấp số liệu cho Ban giám đốc và các cơquan quản lý tài chính có liên quan, tham mu cho Ban giám đốc về chế độ quản
lý tài chính tình hình thu chi đảm bảo hợp lý, hợp pháp, đúng quy tắc vàmang lại hiệu quả cao cho Trung tâm Các phần hành kế toán, kế toán trởngphân chia công việc cho từng nhân viên trong phòng kế toán, mỗi ngời đảmnhiệm một số phần hành
- Kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, hàng hoá và TSCĐ
Theo dõi chi tiết tình hình nhập, xuất, tồn nguyên vật liệu, hàng hoá củaTrung tâm, các loại thực phẩm mua về để chế biến cả về số lợng và giá trị củachúng Theo dõi tình hình nhập xuất tồn công cụ dụng cụ, phân bổ giá trị củachúng vào các kỳ kinh doanh một cách thích hợp Theo dõi toàn bộ tình hìnhtăng giảm tài sản cố định tại Trung tâm, tình hình trích khấu hao và việc phân
bổ chi phí khấu hao vào các bộ phận có liên quan
- Kế toán thu chi tiền mặt, tiền lơng và BHXH
Bảo đảm theo dõi chặt chẽ tình hình thu chi tiền mặt của Công ty theo
đúng chế độ quản lý kinh tế tài chính hiện hành của Nhà nớc Đảm bảo trả lơngkịp thời cho từng bộ phận theo đúng mức lơng mà phòng tổ chức hành chính đãtính và chuyển giao Phân bổ kịp thời chi phí tiền lơng vào các bộ phận có liênquan
- Kế toán công nợ và chi phí
Đảm bảo theo dõi chặt chẽ tình hình công nợ của Trung tâm với các đơn
vị khác theo từng chủ nợ hay con nợ Đảm bảo đôn đốc việc thanh toán kịp thời,
đầy đủ, tránh tình trạng để các đơn vị khác chiếm dụng vốn của Trung tâm.Theo dõi chặt chẽ tình hình chi phí cho từng hoạt động của Trung tâm
Mở các sổ sách thích hợp, phân bổ chi phí quản lý và các hoạt động kinhdoanh theo các định mức tiêu chuẩn hợp lý
Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán:
Trang 27Chứng từ gốc
Sổ nhật ký
đặc biệt
Sổ nhật ký chung toán chi tiếtSổ, thẻ kế
Sổ cái
Bảng cân đối
số phát sinh
Báo cáo Tài chính
Bảng tổnghợp chi tiết
có xẩy ra Theo hình thức này có các loại sổ chủ yếu sau:
Sổ chi tiết tài khoản
Sổ nhật ký chung
Sổ Cái
Theo hình thức này, trình tự và phơng pháp ghi chép sổ kế toán nh sau:
Trang 28II.Phân tích tình hình tài chính của trung tâm du lịch thanh niên việt nam năm 2002-2003
Phân tích tình hình tài chính của trung tâm là quá trình đi phân tích cácbáo cáo tài chính để đánh giá những gì đã làm đợc, dự kiến những gì sẽ xảy ra,trên những cơ sở đó kiến nghị những biện pháp, tận dụng triệt để các điểmmạnh, khắc phục các điểm yếu Tóm lại phân tích báo cáo tài chính là làm chocác con số trên báo cáo "biết nói" để ngời sử dụng chúng có thể hiểu rõ tìnhhình tài chính của doanh nghiệp đồng thời giúp cho nhà quản lý có những quyết
định đúng đắn và có những phơng án tối u đạt mục tiêu với hiệu quả cao nhất.Căn cứ vào cơ sở lý luận và nội dung phân tích tình hình tài chính của doanhnghiệp , cùng với số liệu thu đợc từ thực tế thuộc trung tâm du lịch và trongkhuôn khổ đề tài này em xin phân tích nội dung dới đây:
1.Phân tích khái quát tình hình tài chính của trung tâm.
Phân tích khái quát tình hình tài chính của trung tâm sẽ giúp cho ngờixem có thể đánh giá đợc về quy mô phát triển của doanh nghiệp, tính năng động
và quá trình sinh lời của doanh nghiệp Đồng thời qua đó có thể thấy đợc xu ớng phát triển và sự biến động chung của tình hình tài chính tại trung tâm Vìvậy để thấy rõ hơn ta cần phân tích một số nội dung cơ bản sau đây:
h-1.1 Phân tích khái quát tình hình biến động tài sản của trung tâm.
Biểu 1: Phân tích khái quát sự biến động tăng giảm của tài sản.
I/ Tổng TS 8.910.601.439 100 13.926.000.739 100 +5.015.399.300 +56,28 0 1/ TSLD và 8.163.452.147 91,61 12.487.371.533 89,6 4.314.919.386 +52,85 -2,01
Trang 292/ TSCD và
DTDH 747.149.292 8,39 1.447.629.206 10,4 +700.479.914 +93,7 +2,01II/Tổng DT 5.517.924.100 10.517.497.812 4.999.573.712 +90,6
III/ Lợi nhuận (-315.858.913) (-1.691.746.902) (-1.375.887.189) -435,6
Kết quả trong biểu số 1 ta thấy tổng tài sản bình quân của năm 2003 tănglên so với năm 2002 là (+5.015.399.300)đ, ứng với tỷ lệ tăng 56,28% Điều nàycho ta thấy quy mô kinh doanh của trung tâm ngày càng mở rộng
Xem xét về tài sản của công ty cho ta thấy:
TSLD và DTNH của trung tâm năm 2003 tăng lên 52,28% tơng ứng với
số tiền là 4.314.919.386đ so với năm 2002
Nhng nếu xét trong mối quan hệ tỷ trọng tối với tổng tài sản thì lại giảm(-2,01%) Điều đó cho thấy năm 2003 trung tâm đã giảm tỷ trọng về TSLD vàDTNH trong tổng tài sản < năm 2002, chiếm tỷ trọng 91,61% và năm 2002giảm xuống 89,6%
TSCD và DTDH của trung tâm năm 2003 đã tăng lên 93,7% tơng ứng vớisô tiền tăng lên là 700.479.914đ cùng với sự tăng tỷ trọng 2,01% cho thấy trungtâm đã từng bớc hợp lý hoá cơ cấu tài sản của mình cho phù hợp với loại hìnhkinh doanh
Có thể thấy năm 2003 tỷ trọng của TSCD đã tăng lên 10,4% thay vì8,39% năm 2002 Tuy nhiên trung tâm là một doanh nghiệp kinh doanh do vậyvới sự phân bố vốn kinh doanh nh trên là cha hợp lý, bởi vì TSLD và DTNH lớnrất nhiều so với TSCD và DTDH
Còn xét về hiệu quả kinh doanh của trung tâm ta thấy so với năm 2002năm 2003 tổng doanh thu tăng 4.999.573.712đ với tỷ lệ tăng 90,6% Bên cạnh
đó tổng LN của trung tâm năm 2003 giảm (1.375.887.189) Bên cạnh đó chứng
tỏ việc kinh doanh của trung tâm đang có chiều hớng kém
Nguyên nhân :Do cơ cấu quản lý của trung tâm hai năm vừa qua cha đợctốt, tuy doanh thu tăng nhng chi phí kinh doanh lớn, dẫn đến lợi nhận giảm Do
đất nớc ngày càng phát triển xuất hiện nhiều doanh nghiệp lớn trên thị trờng lên
sự cạnh tranh của trung tâm ngày càng gay gắt
Trung tâm có thể tìm ra đợc những giải pháp tích cực giúp cho công tácquản lý chỉ đạo đạt kết quả cao hơn
Trên đây là sự phân tích khái quát tình hình biến động về tài sản củatrung tâm Để đánh giá đợc tình hình tài chính của trung tâm một cách tốt hơn
Trang 30ta đánh giá tình hình huy động các nguồn vốn để thấy đợc việc huy động vốntrong kỳ kinh doanh của trung tâm và việc sử dụng nguồn vốn nh thế nào?
1.2 Phân tích tình hình biến động nguồn vốn của trung tâm.
Để thấy đợc tình hình nguồn vốn của trung tâm ta đi xem xét một số chỉtiêu sau:
Hệ số tự chủ tài chính (hệ số tự tài trợ): là chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ
so sánh giữa nguồn vốn chủ sở hữu với tổng nguồn vốn kinh doanh của trungtâm
Hệ số tự chủ tài chính phản ánh mức độ độc lập về mặt tài chính củadoanh nghiệp
+ Nên hệ số này > 0,5 và tăng lên thì khả năng tự chủ tài chính tăng.Nếu hệ số này < 0,5 và giảm xuống thì khả năng tự chủ tài chính doanhnghiệp thấp
Hệ số nợ: là chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ so sánh giữa nợ phải trả vớitổng nguồn vốn kinh doanh Hệ số < 0,5 và giảm là tốt và ngợc lại
Phân tích khái quát nguồn vốn của trung tâm ta có biểu sau: