THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHỐNG GIAN LẬN THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN TP HẢI PHÒNG...18 2.1.. Hải Phòng được giao nhiệm vụ thực hiện quản lý Nhà nước vềhải quan
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là luận văn được nghiên cứu độc lập của riêng tôi Các
số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, đáng tin cậy và chưatừng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về luận văn này
Hải Phòng, ngày 09 tháng 09 năm 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập theo chương trình Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý kinh tếtại trường Đại học Hàng hải Việt Nam, tôi đã được các thầy giáo, cô giáo củaTrường tận tình giảng dạy
Đến nay tôi đã hoàn thành chương trình và hoàn thiện luận văn tốt nghiệp của
mình với đề tài: “Một số biện pháp tăng cường công tác đấu tranh chống gian lận thương mại đối với hàng hoá XNK tại Cục Hải quan TP Hải Phòng”.
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các Thầy giáo, cô giáo của
Trường Đại học Hàng hải Việt Nam Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn thầy TS Mai Khắc Thành là ngưởi trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành bản luận văn này!
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ vi
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN VÀ CÔNG TÁC ĐẤU TRANH CHỐNG GIAN LẬN THƯƠNG MẠI CỦA LỰC LƯỢNG HẢI QUAN 4
1.1 Khái niệm về gian lận thương mại 4
1.1.1 Khái niệm 4
1.1.2 Khái niệm gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan 4
1.2 Hậu quả của gian lận thương mai đối với nền kinh tê quốc dân 7
1.3 Cơ sở pháp lý về đấu tranh chống gian lận thương mại của lực lượng Hải quan .11
1.3.1 Các quy định quốc tế liên quan đến chông gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan 11
1.3.2 Cơ sở lý luận công tác chống gian lận thương mại của ngành Hải quan Việt Nam 16
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHỐNG GIAN LẬN THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN TP HẢI PHÒNG 18
2.1 Giới thiệu chung về Cục Hải quan Thành phố Hải Phòng 18
2.1.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của Cục Hải quan Thành phố Hải Phòng 18
2.1.2 Tổ chức bộ máy 19
2.1.3 Chức năng nhiệm vụ 19
2.2 Công tác đấu tranh chống gian lận thương mại đối với hàng hoá XNK tại Cục hải quan TP Hải Phòng 21
2.2.1 Các thủ đoạn gian lận thương mại chủ yếu tại Cục Hải quan TP Hải Phòng .21
Trang 42.2.2 Tổ chức bộ máy chống gian lân thương mại tại Cục Hải quan TP Hải Phòng
35
2.2.3 Một số kết quả về chống gian lận thương mại đối với hàng hoá XNK của Cục Hải quan TP Hải Phòng từ 2010-2014 40
2.3 Đánh giá về kết quả hoạt động chống gian lận thương mại đối với hàng hóa XNK tại Cục Hải quan TP Hải Phòng 43
2.3.1 -Kết quả đạt được 43
2.3.2 Tồn tại và nguyên nhân 44
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC ĐẤU TRANH CHỐNG GIAN LẬN THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN TP HẢI PHÒNG 48
3.1 Kinh nghiệm chống gian lận thương mại của hải quan quốc tế 48
3.1.1 Sơ lược về luật pháp hải quan và vấn để chông gian lận thương mại ở một số nước trên thế giới 48
3.1.2 Kinh nghiệm chống gian lận thương mại của hải quan quốc tế 51
3.2 Một số biện pháp tăng cường công tác đấu tranh chống gian lận thương mại tại Cục Hải quan TP Hải Phòng 54
3.2.1 Hoàn chỉnh hệ thống pháp luật 54
3.2.2 Gắn việc chống gian lận thương mại với công cuộc cải cách hành chính 56
3.2.3 Tăng cường công tác kiểm tra sau thông quan 57
3.2.4 Tăng cường công tác quản lý rủi ro và hoàn thiện việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin về doanh nghiệp, thông tin về hàng hoá 57
3.2.5 Tăng cường công tác kiểm soát đấu tranh chống gian lận thương mại 60
3.2.6 Tăng cường tuyên truyền giáo dục tới các doanh nghiệp 60
3.2.7 Xây dựng lực lượng hải quan trong sạch và chính quy, hiên đại, vững mạnh .61
KẾT LUẬN 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 5DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Bộ Luật Hình sựQuản lý rủi roChi cục Hải quanNhập sản xuất xuất khẩuThương mại
Xuất khẩuNhập khẩuCertificate of Origin
Trang 62.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức Cục Hải quan TP.Hải Phòng 20
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Gian lận thương mại là mặt trái của nền kinh tế thị trường, nó ảnh hưởng tớitình hình kinh tế, chính trị -xã hội của đất nước Hiện nay nạn gian lận thương mạidiễn ra với nhiều hình thức thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn Chính điều này đã làmcho sản xuất kinh doanh trong nước gặp nhiều khó khăn, làm thất thu ngân sáchNhà nước, mất kỷ cương trong hoạt động thương mại.Chống gian lận thương mạiluôn là mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới Tệ nạn gian lận thương mại
ở nước ta trong những năm gần đây có nhiều diễn biến phức tạp và đang là mộttrong những trở ngại lớn cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Chính vìvậy, Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng lĩnh vực đấu tranh phòng, chống gianlận thương mại và đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách để ngăn chặn, phòng ngừa
tệ nạn này
Cảng Hải Phòng là của ngõ phía Bắc về đường biển và là Cảng lớn thứ hai
cả nước, do vậy nơi đây là địa bàn giao thương hàng hóa từ các nước trên thế giới
về Việt nam và ngược lại Số lượng hàng hóa qua các năm tăng nhanh chóng doViệt nam ngày tham gia sâu rộng vào nên kinh tế thế giới và kinh tế Việt nam đangtrên đà phát triển mạnh mẽ Hàng hóa xuất nhập khẩu lớn đa dạng về nhiều loạihình (hàng đầu tư, hàng kinh doanh thương mại, hàng gia công sản xuất xuấtkhẩu chính vì vậy đây là nơi hoạt động gian lận thương mại diễn ra mạnh mẽ.Cục hải quan TP Hải Phòng được giao nhiệm vụ thực hiện quản lý Nhà nước vềhải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu qua địa bàn Thành phố đã phối hợp vớicác ban ngành đề ra nhiều giải pháp để đấu tranh đối với hoạt động gian lận thươngmại Trong những năm qua đã phát hiện và ngăn chặn nhiều vụ gian lận thươngmại với trị giá lớn góp phần thu thuế ẩn lậu cho Ngân sách Nhà nước tạo bình đẳngtrong kinh doanh cho các Doanh nghiệp Tuy nhiên với địa bàn rộng, nhân lực hạnchế cùng với chính sách tạo điều kiện về thủ tục hải quan cho Doanh nghiệp nênkết quả chống gian lận thương mại chưa tương xứng với vị thế của đơn vị Hải quanđược coi là đứng thứ hai của cả nước Do vậy để nâng cao công tác đấu tranhchống gian lận thương mại đối với hàng hóa xuất nhập khẩu qua địa bàn Cảng Hải
Trang 8Phòng , em xin chọn đề tài: "Một số biện pháp tăng cường công tác đấu tranh
chống gian lận thương mại đối với hàng hoá XNK tại Cục Hải quan TP Hải Phòng" nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn đang đặt ra ở
Hải Phòng hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn: Đề xuất một số biện pháp tăng cường công tác đấu tranh chống gian lận thương mại đối với hàng hoá XNK tại Cục Hải quan TP Hải Phòng.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu thực tiễn công tác đấu tranh chống gian lận thương mại đối với hàng hoá XNK tại Cục Hải quan TP Hải Phòng trong giai đoạn 5 năm từ năm 2010 đến năm 2014 và đề xuất một số biện pháp tăng cường công tác đấu tranh chống gian lận thương mại đối với hàng hoá XNK tại Cục Hải quan TP Hải Phòng trong những năm 2015 - 2020.
4 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng các phương pháp: lôgíc và lịch sử, phân tích và tổng hợp;
cụ thể: phương pháp luật học so sánh, phương pháp thống kê, phân tích, phươngpháp điều tra, gắn lý luận với thực tiễn, để chọn lọc tri thức khoa học cũng nhưkinh nhiệm thực tiễn để thực hiện mục đích và nhiệm vụ luận văn đề ra
Trong quá trình nghiên cứu tác giả tham khảo, kế thừa có chọn lọc cáccông trình nghiên cứu, bài viết có liên quan đến lĩnh vực luận văn đề cập
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn làm sáng tỏ thêm về mặt lý luận đối với công tác đấu tranhchống gian lận thương mại đối với ngành hải quan và giúp lãnh đạo, cán bộ côngchức thuộc Cục Hải quan TP Hải Phòng định hướng chỉ đạo và làm tốt tráchnhiệm của mình trong việc chống gian lận thương mại trong phạm vi chức năngnhiệm vụ luật định
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần đổi mới tổ chức hoạt động củaCục Hải quan TP Hải Phòng đề ra phương án cụ thể, trước mắt và lâu dài nhằmtăng cường đấu tranh chống gian lận thương mại trên địa bàn Hải Phòng
Trang 96 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungluận văn gồm 3 chương
Chương 1: Lý luận chung về gian lân thương mại trong lĩnh vực hải quan vàcông tác đấu tranh chống gian lận thương mại của cơ quan hải quan
Chương 2 Thực trạng công tác chống gian lận thương mại đối với hàng hóaxuất nhập khẩu tại Cục hải quan TP Hải Phòng
Chương 3 Một số biện pháp tăng cường công tác đấu tranh chống gian lậnthương mại đối với hàng hoá XNK tại Cục hải quan TP Hải Phòng
Trang 11Trước hết, gian lận là hành vi dối trá, mánh khoé lừa đảo của những ngườikhông trung thực, còn gian lận thương mại là hành vi gian lận thể hiện trong khuvực thương mại, thông qua hàng hoá, dịch vụ Chủ thể hành vi gian lận thương mại
là các chủ hàng (có thể là người mua, hay người bán và cũng có khi là cả ngườimua và người bán) Mục đích hành vi này là nhằm thu lợi bất chính (lẽ ra họ khôngđược hưởng) nhờ thực hiện trót lọt thủ đoạn dối trá, lừa đảo.Ví dụ về gian lậnthương mại như: hàng có thuế suất cao, chủ hàng giấu giếm, nguỵ trang, khai với
cơ quan thuế là hàng có thuế suất thấp; hàng nhiều lại khai là hàng ít; khai saichủng loại để trốn toàn bộ hoặc một phần số tiền thuế phải nộp cho nhà nước.Nghĩa là chủ hàng lừa dối cơ quan nhà nước có trách nhiệm kiểm tra, kiểm soáthàng hoá để thực hiện hành vi gian lận thương mại Ngoài ra, đối với hàng cấm,hàng do nhà nước quản lý và hạn chế lưu thông, các chủ hàng cũng dùng các thủđoạn gian lận thương mại để trốn tránh, qua mặt các cơ quan và nhân viên chứcnăng
1.1.2 Khái niệm gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan
Gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan:là những hành vi gian lậnthương mại của chủ hàng thực hiện trong quá trình, làm thủ tục xuất nhập khẩunhằm trốn tránh việc kiểm tra, kiểm soát của cơ quan hải quan để trốn thuế xuấtnhập khẩu của một phần hoặc toàn bộ hàng hoá
Trang 12cũng được Hội đồng hợp tác Hải quan quốc tế (nay là Tổ chức Hải quan thế giớiWCO) đề cập, thảo luận nhiều lần Ngày 9-6-1977, các nước thành viên họp tạiNabi (Cộng hoà Kênia) đã ký kết Công ước quốc tế về giúp đỡ hành chính giữa cácnước nhằm ngăn ngừa, diều tra, trấn áp các hành vi vi phạm hải quan (gọi tắt làCông ước NAIROBI) và đưa ra định nghĩa: "Gian lận thương mại trong lĩnh vựchải quan là hành vi vi phạm pháp luật hải quan, lừa dối hải quan để lẩn tránh mộtphần hoặc toàn bộ việc nộp thuế xuất nhập khẩu, vi phạm các biện pháp cấm hoặchạn chế do luật pháp hải quan quy định, để thu được một khoản lợi nào đó do việc
vi phạm này"
Tại hội nghị quốc tế lần thứ 5 về chống gian lận thương mại do WCO tổchức tại thủ đô Brussels (Bỉ) từ ngày 9-10 đến ngày 13-10-1995, các nước tham dự
đã đưa ra định nghĩa mói là: "Gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan là hành
vi vi phạm pháp luật hải quan và các quy định liên quan khác, nhằm đạt mục đích:
-Trốn tránh việc nộp thuế hải quan, phí và các khoản thu khác đối với việc dichuyển hàng hoá trong thương mại;
-Tiếp nhận việc hoàn trả trợ cấp hoặc phụ cấp cho hàng hoá không thuộc đốitượng đó (mạo nhận);
- Cố” ý đoạt được lợi thế thương mại bất hợp pháp gây tác hại cho cácnguyên tắc và tập tục cạnh tranh thương mại chân chính" Hội nghị còn tổng hợp,nêu lên 16 loại hình gian lận thương mại chủ yếu hiện nay trong lĩnh vực Hải quan
Đó là :
+Buôn lậu hàng hoá (kể cả hàng bị cấm xuất nhập khẩu và đặc biệt hàngthuộc Công ước Washington về bảo vệ động vật quý hiếm và các quy định quốc gia
về bảo vệ môi trường) qua biên giới hoặc ra khỏi kho ngoại quan
+ Khai báo sai
+ Khai tăng, giảm giá trị
+ Lợi dụng chế độ ưu đãi xuất xứ (kể cả chế độ hạn ngạch thuê quan)
+ Lợi dụng chế độ ưu đãi hàng gia công, sản xuất hàng xuất khẩu
+ Lợi dụng chế độ tạm nhập tái xuất (kể cả dùng thẻ ATA) (Agreement onTemporary Admission)
Trang 13+ Lợi dụng yêu cầu về giấy phép xuất nhập khẩu (qua thảo luận về hàng dệt,
trang bị quân đội).
+ Lợi dụng chế độ quá cảnh (đem dùng trong nước)
+ Khai sai về số lượng, trọng lượng, chất lượng hàng hóa
+ Lợi dụng chế độ mục đích sử dụng, kể cả buôn bán trái phép hàng được ưuđãi thuế Lợi dụng thuế nhập khẩu dành cho những đôi tượng sử dụng nhất đỉnh
+ Vi phạm đạo luật về diễn giải thương mại hoặc quy định về bảo vệ ngườitiêu dùng
+ Hàng giả, hàng án cắp mẫu mã
+ Hàng giao dịch buôn bán không có sổ sách
+ Yêu cầu giả, khống việc hoàn hoặc truy hoàn thuê hải quan (kể cả chứng
từ giả về hàng đã xuất khẩu)
+ Doanh nghiệp "ma” đăng ký kinh doanh lậu nhằm hưởng tín dụng thuế tráiphép
+ Thanh lý, (công ty kinh doanh) một thời gian ngắn, để nợ thuế nhiều rồituyên bố thanh lý để tránh nộp thuế, sau đó thành lập công ty mới với cùng ý định
và mục đích: Loại gian lận này thường được gọi là "Hội chứng phượng hoàng"
- Ngoài các loại hình trên, gian lận thương mại còn biểu hiện trong việcchuyển tải hàng hoá:
Hiện nay, Tổ chức Hải quan thế giới rất quan tâm đến vấn đề gian lận trongchuyển tải hàng hoá xuất nhập khẩu Chuyển tải là một khâu tự nhiên cần thiếttrong quá trình thực hiện hoạt động thương mại, nhằm đưa hàng hoá từ nơi này đếnnơi khác nhưng phải đi qua một số địa điểm nhất định nào đó
Gian lận thương mại trong chuyển tải được định nghĩa như sau: gian lậnthương mại trong chuyển tải là việc sử dụng một nước thứ ba để giấu nguồn gốcthực sự của hàng hoá, che mắt hải quan của các nước nhập khẩu
Tại nước thứ ba, người ta cung cấp các tài liệu giả hoặc có hoạt động giantrá để nhằm thay đổi nguồn gốc hàng từ nước xuất khẩu sang nước quá cảnh (haynước thứ ba) Đến khi được nhập hàng vào, họ sẽ tránh được các quy định hạn chếmặt hàng của nước nhập như hạn ngạch, chế độ ưu đãi, bản quyền sản xuất
Trang 14Các loại gian lận thương mại qua chuyển tải thường là:
+ Hàng hoá đưa vào một cảng hoặc một kho ở nước chuyển tải Tại đó, người
ta có thể thay nhãn mới (xem như là sản phẩm của nước chuyển tải hoặc của mộtnước nào đó)
+ Hàng thực tê đưa vào nước chuyển tải là hàng hoàn chỉnh hoặc bán sảnphẩm, nhưng lại được khai là nguyên phụ liệu, được coi là nguyên liệu để sản xuấthoặc chế biến và nghiễm nhiên trở thành sản phẩm của nước chuyển tải
+ Hàng mang giây tờ giả để chứng minh là hàng của nước thứ ba trên đường
đi từ nước xuất hàng đến nước nhập hàng , và các thủ đoạn khác
1.2 Hậu quả của gian lận thương mai đối với nền kinh tê quốc dân
Thuế quan là các mức thuế đánh trên hàng hoá xuất nhập khẩu nhằm mụcđích làm tăng giá của hàng nhập khẩu để làm giảm sự cạnh tranh của các nhà sảnxuất trong nước hoặc kích thích sản xuất tại nội địa Vì vậy, các hành vi trốn thuếxuất nhập khẩu thông qua hoạt động gian lận thương mại đã làm mất tính côngbằng cạnh tranh thương mại giữa hàng nội và hàng ngoại nhập Hành vi cạnh tranhtiêu cực phi kinh tế này gây nhiều thiệt hại cho người sản xuất và người tiều dùng,thể hiện như sau:
- Đối với người sản xuất trong nước: Việc hàng ngoại tràn ngập thị trường, vớichất lượng cao hơn, giá cả rẻ hơn hàng nội, thực sự là môi đe doạ đời sống củahàng trăm nghìn công nhân trong các xí nghiệp trong nước, nhất là những ngànhcông nghiệp non trẻ, mới ra đời Nguyên nhân là những xí nghiệp sản xuất trongnước vẫn phải nhập một số nguyên phụ liệu, nhiên liệu và phải nộp thuế nhậpkhẩu số hàng hoá này Trong quá trình sản xuất ra sản phẩm để đem bán trên thịtrường, họ còn phải nộp thuế lợi tức, thuê doanh thu vv Trong khi hàng ngoại dotrốn được thuế, giá cả sẽ rẻ hơn hàng nội, làm cho hàng nội không bán được, dẫnđến đọng vốn, thiếu vốn nợ, chồng chất dễ đi đến phá sản
- Đối với người tiêu dùng: hàng ngoại tràn ngập thị trường với giá rẻ sẽ tạonên thị hiếu, tâm lý ưa dùng hàng ngoại Tuy nhiên nguồn cung cấp của hàng ngoạivới giá rẻ hơn giá thành hàng nội do trốn được thuế là rất bấp bênh, vì không phảilúc nào nhập hàng cũng trốn được thuế Do đó, từng thời kỳ sẽ nảy sinh các cơn sốt
Trang 15về giá, về hàng làm đảo lộn thị trường, làm thị trường mất ổn định mà Nhà nướckhông quản lý được.
- Một tác hại khác của gian lận thương mại đối với nền kinh tế là làm choNhà nước thất thu thuế lớn, gây ảnh hưởng đến quá trình tích lũy vốn của Nhànước trong việc tiến hành cân đối thu chi ngân sách và công nghiệp hoá, hiện đạihóa
Ngoài ra, gian lận thương mại còn gây tác hại đối với nền kinh tế ở chỗ nó
đã tạo nên một nền kinh tế tiêu thụ giả tạo trên một nền kinh tê sản xuất chưa cânxứng, thậm chí còn dẫn đến trì trệ vì đa số tầng lớp gian thương và tham nhũng quahoạt động gian lận thương mại không đầu tư vốn vào sản xuất mà thường ăn xài xa
xỉ hoặc đầu tư vào bất động sản như nhà cửa đất đai vàng bạc, ngoại tệ, v.v Do
đó bên cạnh tầng lớp này, xã hội cũng sẽ hình thành một khu vực kinh tế chuyên
về dịch vụ và tiêu thụ
* Hậu quả của gian lận thương mại về mặt văn hoá, xã hội
Mục đích của gian lận thương mại là không từ một thủ đoạn nào để thu đượcnhiều lợi nhuận bất chính mà nếu làm ăn chính đáng họ không thể có được Từhám lợi đó dần dần họ phản lại giá trị và hệ thông đạo đức truyền thống là: “củaphi nghĩa bất thủ, người phi nghĩa bất giao”, "đói cho sạch, rách cho thơm" hay
"mình vì mọi người", v.v để chạy theo đồng tiền, tạo ra một hệ thống phi đạo đứckhác là "vì tiền" hay "có tiền là có tất cả", v.v, làm cho khoảng cách chênh lệchgiữa giàu, nghèo ngày càng lớn Thực trạng xà hội hiện nay thấy khá rõ từ cácđồng tiền bất chính do gian lận thương mại tạo ra đã làm cho đạo đức của nhiều kẻ
bị tha hóa Đó là nguyên nhân chính gây nên nhiều tệ nạn xã hội, ảnh hưởngnghiêm trọng đến nhân cách văn hoá của nhiều người trong mọi tầng lớp nhân dân
Đó cũng là lý do tại sao Nhà nước đã phải bỏ ra nhiều tiền của và công sức đểchông lại văn hoá ngoại lai, đồi trụy, phản động, chổng các tệ nạn xã hội nhằm duytrì một liền vàn hoá lành mạnh đậm đà bản sắc dân tộc và xây dựng một xã hộicông bằng, văn minh
* Hậu quả của gian lận thương mại về mặt chính trị
Hậu quả của gian lận thương mại đối với nền kinh tế và đối với nền văn hoá,
Trang 16xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước.Gian lận thương mại càng lây lan mạnh càng làm cho đòi sông kinh tế của một bộphận nhân dân gặp khó khăn, thị trường hỗn loạn, tệ nạn xã hội phát triển, côngbằng văn minh trong xã hội không được thiết lập Nhà nước thất thu thuê nênkhông cân đỗi được thu chi ngân sách, một số quỳ phúc lợi bảo hiểm xã hội bịgiảm sút v.v Thậm chí có một số cán bộ nhà nước bị biến chất, đã lợi dụng vị trí,quyền lực mà Nhà nước giao phó để cấu kết với gian thương, tiếp tay và bao checho hoạt động gian lận thương mại Từ những thực trạng đó làm cho nhân dânhoang mang, mất lòng tin đôi với Nhà nước.
* Hậu quả của gian lận thương mại dưới góc độ quản lý
Gian lận thương mại gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với kinh tế, vănhoá, xã hội và chính trị Những hậu quả này là trực tiếp, cụ thể dễ nhìn nhận thấy.Song, một hậu quả khác cũng không kém phần nguy hại, nó làm cho các cơ quanquản lý Nhà nước không kiểm soát được tình hình hoạt động xuất nhập khẩu vàliên doanh đầu tư với nước ngoài, công tác điều hành của các cơ quan chức nănggặp nhiều khó khăn và hoạt, động kém hiệu quả Tác hại này thể hiện như sau:
- Đối với quản lý vĩ mô:
Gian lận thương mại là một trong những tác nhân làm cho sản xuất trongnước bị đình đốn, nhiều xí nghiệp đi đến phủ sản, sô người lao động làm việc trongcác xí nghiệp này sẽ có nguy cơ thất nghiệp, làm tăng đội quân thất nghiệp Gianlậu thương mại trực tiếp hoặc gián tiếp đẻ ra các tệ nạn xã hội Từ chỗ tạo ra một
số lợi nhuận bất chính cho một số người và có đồng tiền nhơ bẩn do làm ăn phipháp, họ sê tiêu xài lãng phí, phè phỡn, tha hóa; đó cũng là nguyên nhân gây nênnhiều tệ nạn xã hội khác như rượu chè, cờ bạc, trộm cắp, v.v cho những người laođộng mất việc Mặt khác, nó làm cho công tác quản lý của Nhà nước thêm khókhăn, phức tạp, thêm các gánh nặng không đáng có, không thể dự kiến được hếtnhững tình huống phát sinh
Gian lận thương mại là nguyên nhân trực tiếp làm thất thu thuế, dẫn đến tìnhtrạng Nhà nước mất cân đôi về thu chi ngân sách, ảnh hưởng đến các kế hoạchkinh tế, tài chính Mặt khác, do thâm hụt ngân sách, một số chương trình dự án sẽ
Trang 17bị cắt giảm Để phát triển, Nhà nước phải dựa vào nguồn vốn của nước ngoài, dễdẫn đến phải lệ thuộc ít nhiều vào nước ngoài Gian lận thương mại hoạt động sẽphá vỡ công tác kế hoạch hoá, bình ổn giá của Nhà nước, tạo nên những cơn sốt
về hàng hoá, về giá cả làm cho Nhà nước không quản lý được hoạt động xuất nhậpkhẩu, làm cho công tác hoạch định chính sách, xây dựng chiến lược phát triển kinhtế-xã hội bị sai lệch, do không lường hết các hậu quả mà gian lận thương mại gâyra
- Đối với quản lý vi mô
Hậu quả của gian lận thương mại đối với quản lý vĩ mô đã trực tiếp và giántiếp ảnh hưởng đến công tác quản lý vi mô Vì thiếu một hệ thống luật pháp đầy
đủ, chính sách rõ ràng nên gian lận thương mại lợi dụng những kẽ hở, những quyđịnh thiếu đầy đủ chặt chê để làm ăn phi pháp dẫn đến việc quản lý của các cơquan Nhà nước ở cơ sở gặp nhiều khó khăn
Các giải pháp chông gian lận thương mại, duy trì kỷ cương pháp luật, bịt các
lỗ hổng nhằm tăng cường hiệu lực việc kiểm tra, kiểm soát, hoạt động thương mại,hoạt động xuất nhập khẩu ở cơ sở của một số ngành vừa qua vẫn là giải pháp tìnhthế, nặng về hành chính, giải quyết vụ việc, chỉ mối giải quyết phần ngọn, giảiquyết từng nhánh mà chưa giải quyết, triệt để tận gốc Do đó, hoạt động gian lậnthương mại đã làm cho một sô bộ phận, một sô cơ quan quản lý lúng túng, bị động,khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ cũng như trong công tác quản lý cán bộ,điều hành các công việc cụ thể tại đơn vị mình
- Đối với lưu thông hàng hóa:
Hoạt động gian lận thương mại gảy nên tâm lý ưa dùng đồ ngoại vì đồ ngoạitrên được thuê nên giá rẻ, hình thức và chất lượng có phần hơn, nhưng do nguồnhàng không ổn định, giá cả không ổn định nên gian lận thương mại là nguyên nhângây nên những cơn sốt về hàng, về giá cả làm cho trật tự thị trường nội địa khôngđược thiết lập, lưu thông hàng hoá bị rôi loạn gây ách tắc cho sản xuất và tiêu dùngtrong nước
Tóm lại, gian lận thương mại đã gây nên hậu quả nặng nề cả về quản lý vĩ
mô, quản lý vi mô và lưu thông hàng hoá; cả vê mặt kinh tế, văn hoá xã hội và
Trang 18-Hiệp định chung về thuê quan và thương mại (gọi tắt là GATT): Đây là
một trong những Hiệp định quốc tế quan trọng hàng đầu liên quan đến thương mại,thuế quan và lĩnh vực hải quan.GATT được ký lần đầu vào năm 1947- mở đầu cho
sự ra đời của hệ thống thương mại đa phương quốc tế và là tiền thân của tổ chứcWTO ngày nay từ chỗ chỉ có 23 thành viên, GATT không ngừng lốn mạnh và đếntháng 1-1995 hoàn thiện thêm tổ chức, bổ sung cơ chế hoạt động, hoàn chỉnh cácđịnh chế trở thành tổ chức WTO Tính đến tháng 6-1998, WTO có 132 thànhviên và tổ chức này mang lại một môi trường thương mại rõ ràng, minh bạcli, cóthể dự đoán trước, với cơ chế rà soát chính sách thương mại thông qua tánh côngkhai trong nước thành viên và trên thương trường quốc tế Việc thuế quan hoá cácbiện pháp phi thuế quan sau đó tiến tối cắt giảm dần thuê quan cùng với các địnhchế chặt chẽ về dịch vụ, sở hữu trí tuệ đã đảm bảo việc mỏ rộng thị trường chocác nước thành viên, đặc biệt là cho các nước đang phát triển Như vậy, nhiều điềukhoản của GATT ngày nay vẫn có giá trị nhưng đã được hoàn thiện thêm và mangmàu sắc mối, phù hợp với bối cảnh mối Các nước tuân thủ theo Hiệp định GATT
đã thỏa thuận về "Trị giá hàng hoá xuất nhập khẩu theo mục đích hải quan và ghinhận trong Điều 7, Hiệp định GATT những quy tắc về trị giá hải quan Có thể tómtắt trị giá của hàng hoá nhập khẩu phải như sau:
+Căn cứ vào trị giá thực tế của hàng hóa
+Không được dựa vào trị giá hàng hoá của nước xuất xứ hoặc trị giá áp đặttùy tiện vô căn cứ
+Phải là mức giá mà với mức giá đó hoặc hàng hoá tương tự có thể bán trongchu kỳ kinh doanh bình thường với điều kiện cạnh tranh lành mạnh, không có sựthông đồng giữa người mua, người bán để lập chứng từ giả làm sai lệch trị giá thựccủa hàng hoá nhập khẩu
Trang 19Để cụ thể hoá Điều 7, Hiệp định GATT phù hợp với mục đích hải quan,ngày 12-4-1979 các nước thành viên GATT đã ký Hiệp định thực hiện Điều 7GATT thống nhất về các phương pháp xác định giá hàng nhập khẩu theo mục đíchhải quan Hiệp định có hiệu lực từ ngày 1-1-1981 Đến năm 1994 Hiệp định nàyđược sửa đổi thành Hiệp định thực hiện Điều 7 GATT (1994), gồm 4 phần 24 điều.
Gian lận thương mại, đặc biệt gian lận trị giá luôn luôn là mối quan tâm củangành Hải quan Khi thực hiện Hiệp định trị giá GATT, gian lận trị giá vẫn tồn tạithậm chí còn phát triển mạnh Dưới đây, chỉ giới thiệu tóm tắt một số dạng gian lậntrị giá phổ biến trên thế giới được phát hiện trong quá trình thực hiện Hiệp định trịgiá GATT (1994) Chắc chắn trong tương lai khi nền kinh tế ngày càng mang tínhtoàn cần hoá, cùng với thời gian, tổ chức WTO với các hiệp định quốc tế liên quanđến thuế quan, sẽ còn phải tiếp tục bổ sung hoàn thiện:
Động cơ của hành vi gian lận: Hiệp định GATT (từ năm 1995 còn có các
định chế của WTO) và các Hiệp định quốc tế chuyên ngành khác đều ít nhiều đềcập đến nguyên nhân, động cơ gian lận thương mại nói chung và gian lận về trị giáhàng nói riêng Xét theo góc độ quản lý của hải quan thì động cơ chủ yếu thúc đẩycác hành vi gian lận trị giá là chủ hàng muôn thu lợi riêng cho bản thân mìnhkhông muốn làm nghĩa VỊT đối với ngân sách, nên họ thường mưu toan:
+ Trốn tránh các khoản thuế và lệ phí nhập khẩu
+ Để trốn tránh các thuế nội địa
- Công ước quốc tế về đơn giản hóa và hài hòa toàn bộ thủ tục Hải quan (còn gọi là Công ước KYOTO).
Công ước này được làm lại KYOTO - Nhật Bản ngày 18-5-1973 và đã đượcchấp nhận tại kỳ họp 41/42 của Hội đồng hợp tác Hải quan thế giới (nay là Tổ hảiquan Thế giới WCO)
Trang 20Mục đích của công ước là đơn giản hoá và hài hòa hoá sao cho khoa Lọc,trong sáng, dễ hiểu, tránh mập mờ trong toàn họ thủ tục hải quan giữa các nước,đưa ra các chuẩn mực về thủ tục hải quan cho từng loại hình xuất nhập khẩu (có ápdụng các thành tựu hiện đại về khoa học: như dùng vi tính hoá, mạng Internet,Intranet ) nhám vừa tạo thuận lợi cho sự phát triển của thương mại quốc tế và cácgiao lưu quốc tế khác, vừa chóng gian lận thương mại có hiệu quả, thúc đẩythương mại và các giao lưu quốc tế vì lợi ích chung của mọi quốc gia thành viên.Công ước gồm có ở chương, 19 điều và 31 phụ lục kèm.
Hiện nay có 70 nước tham gia Công ước này trong đó có những nước chỉmối tham gia một số phụ lục, song trên thực tế 31 phụ lục của Công ước KYOTOgần như đã chi phối toàn bộ các vấn đề về nghiệp vụ hải quan ở tất cả các loại hìnhxuất nhập khẩu được nêu rõ các phụ lục - bao gồm các thủ tục nghiệp vụ như sau:
A1 Thủ tục trước khi đăng ký tờ khai hàng hóa
A2 Thủ tục lưu kho tạm
A3 Thủ tục áp dụng đối với các phương tiện kinh doanh vận tải
A4 Chế độ hải quan đối với hàng hoá dự trữ trên các phương tiện
B1 Thông qua hàng hoá cho tiêu dùng nội địa
B2 Việc miễn giảm thuế nhập khẩu và các loại thuế cho hàng hoá khai báodùng nội địa
B3 Tái nhập khẩu trong cùng quốc gia
C1 Xuất khẩu hẳn
D1 Quy tắc xuất xứ
D2 Chứng cứ xuất xứ bằng chứng từ
D3 Kiểm tra chứng cứ xuất xứ bằng chứng từ
E1 Thủ tục quá cảnh hải quan
E2 Thủ tục hải quan đổi với hàng chuyển tải
E3 Thủ tục hàng gửi kho ngoại quan
E4 Thủ tục hoàn thuế hải quan
E5 Thủ tục hải quan tạm nhập để tái xuất trong cùng một nước
E6 Thủ tục hải quan tạm nhập để gia công trong nước
Trang 21E7 Thủ tục miễn thuế đối với hàng nhập thay thế.
E8 Thủ tục tạm xuất để gia công ngoài nước
F1 Thủ tục hải quan cho khu vực tự do thuế quan
F2 Thủ tục gia công hàng hoá dùng nội địa
F3 Các líu đãi hải quan áp dụng đối với du khách
F4 Thủ tục hải quan về vận chuyển bưu điện
F5 Thủ tục về việc gửi hàng gấp
F6 Thủ tục thoai trả thuế nhập khẩu và các loại thuế
F7 Thủ tục vận chuyển hàng hoá ven biển
G1 Thông tư do cơ quan hải quan cấp
G2 Quan hệ giữa cơ quan hải quan và bên thứ 3
H1 Khiếu nại về các vấn đê Hải quan
chống các vi phạm Luật Hải quan có thể thu được những kết quả tốt hơn, nếu như
cộng đồng quốc tế thông qua việc hợp tác giúp đỡ hành chính lẫn nhau tích cựcnhằm ngăn ngừa điều tra và trấn áp các vi phạm hải quan giữa các quốc gia Côngước đã đưa ra nhiều biện pháp phòng chống gian lận thương mại thông qua việchợp tác giúp đỡ hành chính lẫn nhau giữa hải quan các nước
Nội dung của Công ước này là chống gian lận thương mại, chống các viphạm pháp luật hải quan thực chất cũng là để tạo điều kiện và nâng cao hiệu quả
Trang 22của thương mại chân chính.
Tóm lại, các công ước quốc tế đã vạch ra xu hướng phát triển tất yếu củathương mại quốc tế là ngày càng có tính toàn cầu hóa Vì vậy để hòa nhập, hộinhập với thị trường thế giới, từng quốc gia phải tích cực cải tiến thủ tục, hoànchỉnh luật pháp theo hướng đơn giản hoá, đồng bộ, khoa học hoá để tiên tói từngbước thông nhất hoá thủ tục hải quan phục vụ cho thương mại quốc tế hoạt động
có hiệu quả Biện pháp lâu dài, đúng đắn là các quốc gia cần chủ động tham gia kýkết các công ước quốc tế liên quan
Mặt khác, các công ước quốc tế cũng nhấn mạnh rằng, muốn tham gia cáccông ước quốc tế có hiệu quả, các quốc gia phải tích cực đấu tranh chống gian lậnthương mại, đồng thời cũng nêu lên những biện pháp chông gian lận thương mại
cụ thể và đề ra những yêu cầu cần thiết mà các nước muôn tham gia vào các côngước quốc tế phải thoả mãn như:
- Không thể tham gia ký kết thực hiện Hiệp định trị giá GATT mà lại không
có hệ thông kiểm toán Hải quan
- Tham gia ký kết Công ước KYOTO phải gắn liền với hoàn chỉnh Luật pháp
Quốc gia Phải quy định cụ thể về quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của ngườixuất nhập khẩu trong việc tuân thủ pháp luật, chấp hành, các quy định của các cơquan quản lý Nhà nước, có các khung hình phạt cụ thể, rõ ràng phù hợp với từng viphạm (tính chất, mức độ)
- Muốn chống gian lận thương mại có hiệu quả hải quan các nước phải hợptác chặt chẽ với nhau, giúp đỡ lẫn nhau trong việc trao đổi thông tin, cung cấp dữliệu và hồ sơ, chứng từ, hàng hoá gian lận thương mại, cùng thống nhất phối hợphành động và biện pháp xử lý về gian lận thương mại, tổ chức trao đổi kinhnghiệm giữa các nước v.v Để làm được các điều trên, các nước nên tham gia ký
kết Công ước NAIROBI.
Nói cách khác, ngày nay hoạt động thương mại mang tính toàn cầu và hoạtđộng hải quan theo đó cũng mang tính toàn cầu Vì vậy, công tác chông gian lậnthương mại phải được quốc tế hoá và chắc chắn sang thế kỷ tới các tổ chức quốc tếvẫn phải tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các văn bản cũ, ký kết thêm những hiệp ước,
Trang 23công ước mới để phù hợp với hoàn cảnh quốc tế lúc đó.
1.3.2 Cơ sở lý luận công tác chống gian lận thương mại của lực lượng Hải quan Việt Nam
Trong những năm gần đây công tác đấu tranh chống gian lận thương mại
đã trở lên quyết liệt và nóng bỏng Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 Ban chấphành Trung ương Đảng khóa VIII đã nhấn mạnh: "Tăng cường sự phối hợp giữacác cơ quan chức năng, phát huy vai trò của nhân dân để tiến hành có hiệu quảnhững biện pháp chống buôn lậu trên các tuyến biên giới, vùng biển và trên thịtrường nội địa Ngăn chặn và xử lý nghiêm mọi hành vi buôn lậu, gian lận thươngmại hoặc tiếp tay, bao che cho bọn buôn lậu"
Chính vì thế, từ nhiều năm nay Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm chỉ đạocông tác này Năm 1982 Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh trừng trị các tộiđầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép; năm 1990 Ban Bí thư có Chỉthị số 64; Hội đồng Bộ trưởng có Quyết định số 240 về chống tham nhũng, buônlậu Đặc biệt ngày 20/11/1992, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 15/CT-TW về tiếp tụcngăn chặn và bài trừ tệ tham nhũng, buôn lậu; chỉ thị xác định: ngăn chặn và bàitrừ tệ nạn tham nhũng và buôn lậu là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu của cấp ủyĐảng Có loại trừ tệ tham nhũng và buôn lậu thì chính quyền mới vững mạnh,củng cố niềm tin của dân đối với Đảng Từ năm 1996 - 1997 Chính phủ đã cónhiều văn bản chỉ đạo quyết liệt công tác này như: Quyết định số 114/TTg về cácbiện pháp cấp bách bài trừ tham nhũng, buôn lậu; Nghị quyết 85/CP ngày11/7/1997 đề ra một số biện pháp cấp bách về chống buôn lậu; Chính phủ đã thànhlập Ban chỉ đạo chống buôn lậu và gian lận thương mại (gọi tắt là Ban 853TW),giao cho Tổng Cục trưởng TCHQ làm trưởng ban Đến ngày 27/8/2001 Thủ tướngChính phủ tiếp tục ký Quyết định số 127/2001/QĐ-TTg thành lập Ban chỉ đạochống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại (còn gọi là Ban 127) thay thế Ban
853 TW, đến nay Ban chỉ đạo được thay thế theo Quyết định 389 (gọi là ban chỉđạo 389)
Ngoài các văn bản nêu trên, trong BLHS, luật Hải quan, luật Thương mại,luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính v.v
Trang 24cũng đã có các quy định cụ thể làm cơ sở pháp lý cho lực lượng hải quan trongviệc đấu tranh phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại.
Như vậy, thông qua các văn bản trên ta thấy Đảng và Nhà nước thể hiệnquan điểm quyết liệt trong chỉ đạo đấu tranh phòng chống tệ nạn này; xác định đấutranh chống buôn lậu và giân lận thương mại là nhiệm vụ cấp bách, quan trọng,lâu dài và là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và các ban ngành trong đó có lựclượng Hải quan
Thứ hai về chức năng về quản lý Nhà nước về Hải quan thể hiện quản lýbằng chính sách pháp luật và bằng hoạt động kiểm tra, giám sát Do vậy cơ quanHải quan Việt Nam, khi tiến hành kiểm tra, giám sát, kiểm soát, có nhiệm vụ tổchức đấu tranh chống buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, ngoại hối, tiềnViệt Nam qua biên giới; áp dụng các biện pháp phát hiện, ngăn chặn, điều tra, xử
lý các vi phạm theo quy định của pháp luật Qua đó có thể thấy công tác đấu tranhchống gian lận thương mại là một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành Hảiquan được Nhà nước quy định thông quan việc thực hiện các biện pháp nghiệp vụtheo quy định của pháp luật
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHỐNG GIAN LẬN THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN TP HẢI PHÒNG 2.1 Giới thiệu chung về Cục Hải quan Thành phố Hải Phòng
2.1.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của Cục Hải quan Thành phố Hải Phòng
Với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước, Cách mạng tháng 8 thànhcông, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Ngày 10 tháng 9 năm 1945, Bộtrưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp thừa ủy quyền của Chủ tịch Chính phủ lâmthời Việt Nam dân chủ cộng hòa ký Sắc lệnh số 27 - SL thành lập “Sở thuế quan vàThuế gián thu”, khai sinh ra ngành Hải quan Việt Nam với mục đích đảm bảo việckiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu và duy trì nguồn thu ngân sách
Ngày 14/04/1995, Bộ Công thương ban hành Nghị định số 87/BTC-ND-KBthành lập Sở Hải quan Hải Phòng, cơ quan tiền thân của Cục Hải quan Hải Phòng
Trang 25ngày nay Sở Hải quan Hải Phòng được giao nhiệm vụ kiểm tra giám sát các hoạtđộng xuất nhập khẩu và xuất nhập cảnh trên một địa bàn, ngoài ra còn được giaonhiệm vụ kiểm soát thuốc phiện toàn bộ khu vực biên giới biển và trong nội địacủa địa bàn quản lý.
Tháng 4 năm 1958, Sở Hải Quan Hải Phòng đổi tên là Phân sở Hải quan HảiPhòng Tháng 6 năm 1962, Phân sở Hải quan Hải Phòng được đổi tên là Phân cụcHải quan Hải Phòng và trụ sở chuyển về Số 22 - Điện Biên Phủ thành phố HảiPhòng Chỉ sau 5 năm thành lập, cán bộ công chức Hải quan Hải Phòng đã vinh dự
là đơn vị tiêu biểu của ngành Hải quan, được tặng thưởng Huân chương Lao độnghạng Ba do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 09/08/1961 về thành tích trong phongtrào thi đua thực hiện kế hoạch những năm 60 của ngành Ngoại thương Nhữngnăm tiếp theo, đơn vị luôn đạt được những thành tích xuất sắc được Chính phủtặng bằng khen về thành tích trong phong trào thi đua yêu nước thực hiện kế hoạchnhà nước, Ủy ban Hành chính Hải Phòng tặng bằng khen về thành tích trong côngtác bảo mật phòng gian
2.1.2 Tổ chức bộ máy
Bộ máy tổ chức của Cục Hải quan Hải Phòng hiện nay đứng đầu là cụctrưởng, sau đó là bốn phó cục trưởng và tiếp theo là các phòng, ban, chi cục hảiquan và tương đương, chi tiết như sơ đồ ở hình 2.1 Mỗi đơn vị đều có các chứcnăng, nhiệm vụ cụ thể
Trang 26Hình 2.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức Cục Hải quan TP.Hải Phòng
Nguồn: Phòng tổ chức cán bộ Hải quan Hải Phòng
2.1.3 Chức năng nhiệm vụ
Cục Hải quan TP.Hải Phòng có nhiệm vụ tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn, triển
khai thực hiện các quy định của nhà nước về thủ tục hải quan trên địa bàn quản lý của Cục, bao gồm:
- Thực hiện thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hoáxuất khẩu, nhập khẩu, chuyển cửa khẩu, quá cảnh và phương tiện vận tải xuấtcảnh, nhập cảnh, quá cảnh theo quy định của pháp luật
- Thực hiện các biện pháp nghiệp vụ cần thiết để chủ động phòng,chốngbuôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới trong phạm vi địa bàn hoạtđộng Phối hợp thực hiện nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu, vận chyển trái phép
Chi cục Hải quan và tương đương Đơn vị tham mưu
Cục Trưởng
Phó Cục
Trưởng
Phó Cục Trưởng
Phó Cục Trưởng
Phó Cục Trưởng
CCHQ Hưng Yên CCHQ Thái Bình
Trang 27hàng hoá qua biên giới ngoài phạm vi địa bàn hoạt động của Cục Hải quan TP.Hải
Phòng theo quy định của pháp luật và của Tổng cục Hải quan.
- Thực hiện Pháp luật về thuế và thu khác đối với hàng hoá xuất khẩu, nhậpkhẩu, đảm bảo thu đúng, thu đủ và kịp thời vào ngân sách nhà nước
- Thực hiện kiểm tra sau thông quan theo quy định của pháp luật
- Thực hiện thống kê Nhà nước về hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhậpkhẩu, quá cảnh và phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh thuộc phạm
vi quản lý của Cục Hải quan TP.Hải Phòng theo quy định của Tổng cục.
- Thanh tra, kiểm tra các đơn vị thuộc Cục Hải quan TP.Hải Phòng trong việc
thực hiện chính sách, pháp luật về Hải quan theo quy chế hoạt động của Thanh traHải quan
- Xử lý vi phạm hành chính hoặc khởi tố đối với các vụ buôn lậu, vận chuyểntrái phép qua biên giới theo quy định của pháp luật; giải quyết khiếu nại đối vớicác quyết định xử phạt hành chính của các đơn vị trực thuộc Cục; giải quyết khiếunại, tố cáo thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật
- Kiến nghị với Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan những vấn đề cần sửađổi, bổ sung các quy định của Nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu,xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, chính sách thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhậpkhẩu; các quy định của Tổng cục Hải quan về chuyên môn, nghiệp vụ và xây dựnglực lượng; kịp thời báo cáo với Tổng cục trưởng những vướng mắc phát sinh,những vấn đề vượt quá thẩm quyền giải quyết của Cục Hải quan
- Tổ chức nghiên cứu, tiếp nhận và triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học ,công nghệ và phương pháp quản lý hải quan hiện đại vào các hoạt động của CụcHải quan
- Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nhà nước, tổ chức hữu quan, đơn vị trênđịa bàn để thực hiện nhiệm vụ được giao
- Tổ chức tuyên truyền và hướng dẫn thực hiện chính sách, pháp luật về hảiquan trên địa bàn
- Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế về hải quan theo phân cấp hoặc uỷ
Trang 28quyền của Tổng cục trưởng và Bộ trưởng Bộ Tài chính.
- Tổng kết, thống kê, đánh giá tổng hợp tình hình và kết quả các mặt công táccủa Cục Hải quan; thực hiện báo cáo theo quy định của Tổng cục
- Ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, giải thích các vấn đề thuộc phạm
vi quản lý của Cục Hải quan theo quy định của Tổng Cục trưởng
- Đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức của CụcHải quan theo quy định của Nhà nước và theo phân cấp quản lý cán bộ
- Quản lý, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, phương tiện, trang bị kỹ thuật
và kinh phí hoạt động của Cục Hải quan theo đúng quy định của Nhà nước
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng cục Hải quan giao
2.2 Công tác đấu tranh chống gian lận thương mại đối với hàng hoá XNK tại Cục hải quan TP Hải Phòng
2.2.1 Các thủ đoạn gian lận thương mại chủ yếu tại Cục Hải quan TP Hải Phòng
Xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá trên thê giới diễn ra mạnh mẽ đã thúcđẩy nhịp độ phát triển của thương mại quốc tế Các vùng lãnh thổ vừa hợp tác traođổi giao thương, lại vừa cạnh tranh nhau gay gắt Chủng loại hàng hoá ngày càng
da dạng, phong phú và trị giá của chúng xê dịch từ thấp đến rất cao: lưu lượnghàng hoá thông qua việc buôn bán xuất nhập khẩu ở cửa khẩu các quốc gia sẽ rấtkhó khăn và phức tạp hơn đối với ngành hải quan Bọn buôn gian bán lận luôn tìmmọi thủ đoạn xảo quyệt, để kiếm lãi một cách phi pháp, làm tổn hại lợi ích củaquốc gia, cộng đồng, thậm chí có khi còn gây hậu quả xấu trong đời sống kinh tế -
xã hội và thương mại quốc tế Các thủ đoạn gian lận thương mại thông thường là:
2.2.1.1-Khai báo không trung thực (khai man)
Đây là hành vi gian lận phổ biến nhất thường gặp Trong đó để lẩn tránh việckiểm tra của hải quan, chủ hàng thường dùng các thủ đoạn:
Một là: khai báo không trung thực về mặt hàng thực xuất, thực nhập khẩu với cơ quan Hải quan
Trang 29Trên thực tế, xuất nhập khẩu là mặt hàng này, nhưng trong bộ hồ sơ chứng
từ, chủ hàng lại kê khai là mặt hàng khác; hoặc hàng có thuế suất xuất nhập khẩucao, chủ hàng cố tình khai sai để ap vào hàng có thuế suất xuất nhập khẩu thấphoặc áp vào hàng không phải nộp thuế xuất nhập khẩu và các khoản thu khác của
Nhà nước Đối với mặt hàng cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu hoặc hàng thuộc danh
mục nhà nước quản lý, khi xuất nhập khẩu phải có giấy phép của cơ quan quản lýnhà nước (hàng hạn chế xuất nhập khẩu), thì không được xuất khẩu và nhập khẩu,nhưng chủ hàng vẫn cố tình khai man với hải quan là những mặt hàng thôngthường, không thuộc diện cấm để có thể xuất khẩu hoặc nhập khẩu trót lọt (nếukhông khai man với hải quan, thì lô hàng đó sẽ không được xuất nhập khẩu, thậmchí còn bị tịch thu, xử phạt hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự) Thủ đoạn khai gian
về hàng hoá mà chủ hàng thường áp đụng là: mô tả sai về hàng hoá trong bộ chứng
từ, trong tờ khi hai quan không ghi đúng mã hàng theo quy định vô áp mã hàng củaCông ước quốc tế về hệ thống thống nhất trong mô tả mã hoá hàng hóa Cách khác
là mô tả hàng theo kiểu mập mờ khó xác định, chính xác nó được xếp vào mã nào.Nhờ “mập mờ đánh lận con đen” nên thực tế là hàng hoá A nhưng lại được hiểu vàxác định là hàng hoá B Ngoài ra, có chủ hàng còn dùng mẹo để lẫn lộn hai loạihàng với nhau Chẳng hạn, trong cùng container thì phần trên xếp hàng phần đáy
xếp hàng D, rồi cứ khai với Hải quan là chỉ có hàng c, và còn dùng trăm phương
nghìn kế gian dối khác nữa v.v
Một số trường hợp điển hình:
+ Vụ việc Công ty CP Phát triển cơ sở hạ tầng V-Trac nhập khẩu linh kiệnphụ tùng dùng cho xe tải tuy nhiên gian lận khai báo dùng cho máy xúc đào, truythu cho Ngân sách Nhà nước 6.5 tỷ đồng
+ Công ty TNHH Sinla Tongsang có hành vi giả mạo giấy tờ và nhập khẩuhàng thuộc diện cấm nhập khẩu (120 ghế văn phòng đã qua sử dụng) Tịch thuhàng vi phạm sung công quỹ nhà nước
+ Công ty cổ phần XNK ô tô Việt Nam nhập khẩu hàng hóa thuộc diện cấmnhập khẩu (02 chiếc ô tô chuyển đổi công năng từ ô tô tải thành ô tô du lịch Tịchthu sung công quỹ nhà nước
Trang 30+ Vụ việc Công ty sản xuất Phanh Nissin gian lận trong khai báo sai mã sốthuế đối với mặt hàng linh kiện sản xuất phanh xe máy, truy thu thuế hơn 9 tỷ đồngcho Ngân sách Nhà nước
+ Vụ việc Công ty TNHH Romal Việt nam gian lận trong nhãn mác, khaibáo hàng có xuất xứ Trung Quốc nhưng trên sản phẩm ghi hàng sản xuất tại Italianhằm đánh lừa người tiêu dùng Hiện vụ việc đã chuyển cơ quan Công an xácminh điều tra và khởi tố vụ án
Hai là: khai báo không trung thực về trị giá hàng
Nhằm trốn thuế xuất nhập khẩu và các thuê khác chủ hàng thường khai man
về giá trị hàng hoá xuất nhập khẩu Cụ thể là hàng có giá trị cao được khai báo vớihải quan là có giá trị thấp (trường hợp này thì toàn bộ hồ sơ chứng từ để xuất nhậpkhẩn lô hàng, đả được người xuất khẩu và người nhập khẩu thông đồng với nhau
để ghi giá trị lô hàng xuống thấp hơn giá trị giao dịch thực tế vốn có của nó) Nhờphần chênh lệch giữa trị giá thực tế với trị giá khai báo gian, chủ hàng trốn đượckhoản thuê lẽ ra phải nộp cho Nhà nước Kiểu gian lận này khá phổ biến ở nhữngnước áp dụng sắc thuế theo giá hàng vì nếu đơn giá hàng hoá kê khai thấp hơn thì
số thuế phải nộp sẽ ít hơn
Tại những nước có sự phân biệt giữa danh mục hàng hoá chính thức vàkhông chính thức thì các chủ hàng lợi dụng chính, sự phân biệt đó để trốn thuế Sựphân biệt này có thể dựa trên tiêu thức trị giá hàng hoá hay mục đích sử dụng Quyđịnh của các nước này là: đối với danh mục hàng hoá không chính thức, tức làhàng có giá trị thấp phục vụ cho các nhu cầu sinh hoạt cá nhân thì hải quan chỉkiểm tra sơ bộ, hoặc không kiểm tra, còn đôi với những hàng hoá trong danh mụchàng hoá chính thức thì phải khai báo vào các mẫu kê khai chính thức và phải kiểmtra kỹ thực tế hàng hoá cũng như toàn bộ hồ sơ, chứng từ Lợi dụng sự phân biệt
đó, chủ hàng cố gắng mưu toan khai báo hàng hoá từ danh mục chính thức sangdanh mục không chính thức để tránh kiểm tra, kiểm soát và hưởng thuế suất thấp
Ở những quốc gia quy định việc xuất nhập khẩu phải thông qua hạn ngạch(quota) - hạn chế về trị giá hàng hoá xuất nhập khẩu, thì chủ hàng tìm cách khaithấp trị giá hàng hoá để xuất nhập khẩu được số lượng hàng nhiều hơn Nếu hạn
Trang 31ngạch xuất nhập khẩu hạn chế về số lượng hàng hoá cụ thể, chủ hàng giữ nguyên
trị giá hàng hoá nhưng khai man số lượng hàng hoá ít đi để được xuất vượt quáquy định của hạn ngạch
Trường hợp những nước áp dụng thuế suất luỹ tiến theo trị giá lô hàng Ví
dụ, trị giá lô hàng là X đồng, thuế suất xuất nhập khẩu của hàng hoá sẽ là 5%.Nhưng liệu trị giá lô hàng vượt quy định, (tức là nhiều hơn X đồng nói trên) thìthuế suất xuất nhập khẩu của hàng hoá đó lúc này sẽ là 10% Chính vì thế, chủhàng thường tìm mọi cách để khai báo trị giá lô hàng thấp đi hoặc chia nhỏ lô hàng
ra thành nhiều lô khác nhau để hưởng thuê suất thấp hơn thực tế
Trong thực tiễn, hoạt động thương mại quốc tê còn xảy ra trường hợp cácchủ hàng khai báo trị giá hàng hoá cao hơn trị giá giao dịch thực tê của hàng hóa
Ví dụ, kim hạn ngạch, giấy phép xuất nhập khẩu bị giới hạn về số lượng hàng hoátrong khi hoá đơn, chứng từ thanh toán và kết toán là hoàn toàn đúng với số tiềnthực tế phải trả, nhưng số lượng hàng hoá ghi ít hơn thực tế về số lượng hàng hoáxuất nhập khẩu (để còn được xuất nhập khẩu tiếp) vì thế giá hàng hoá phải khaibáo cao hơn thực tế thực hiện hành vi gian lận này Chủ hàng đã tính toán đến việcnếu giá cả hàng hoá quá thấp thường gây ra nhiều nghi ngờ và cũng có thể dẫn đếncác cuộc điều tra về chông phá giá hay điều tra bắt nộp thêm về thuế phụ thu Cáccuộc điều tra như vậy thường tốn kém và kết quả là chủ hàng thường phải nộpthêm nhiều tiền thuế, có khi còn phải nộp phạt, các chi phí sẽ cao hơn nhiều lần sovới thuế nộp cho phần trị giá hải quan đã khai báo cao hơn thực tế
Trong trường hợp phân loại và thuế suất căn cứ vào trị giá hàng hoá thì tổngtrị giá hàng hoá có thể được chủ hàng khai báo cao hơn thực tế để hưởng thuế suấtthấp hơn Tính toán của họ là nếu áp dụng cách này thì tổng số tiền thuế tuy có caolên nhưng thuế suất giảm đi và cuối cùng số tiền thuế phải nộp cũng sẽ giảm đi
Đối với những nước quy định các công ty, doanh nghiệp phải nộp thuê lợitức, thuế doanh thu và các khoản thuế nội địa khác cao hơn thuế xuất nhập khẩuhàng hoá thì các chủ hàng thường dùng mẹo khai báo trị giá hàng hoá xuất nhậpkhẩu cao hơn trị giá hàng hoá thực tế của hàng hoá nhằm táng giả tạo giá thành sảnphẩm để giảm lãi (tức là trốn tránh việc nộp thuế lợi tức)
Trang 32Khi chủ hàng cùng một lúc xuất nhập khẩu nhiều mặt hàng, tổng số trị giáhàng hoá ghi trên hoá đơn và bộ chứng từ xuất nhập khẩu là không thay đổi, biết rõnguyên tắc đó, chủ hàng điều chỉnh bằng cách khai báo những mặt hàng có thuếcao được khai báo xuống thấp hơn thực tế, và những mặt hàng có thuế suất thấp sẽđược khai báo nâng lên sao cho tổng trị giá lô hàng vẫn không thay đổi là đạt ýđịnh Như thế là chủ hàng đã trốn được một khoản thuế phải nộp.
Ngoài ra, việc chủ hàng khai báo trị giá hàng hoá cao hơn thực tế trị giá vốn
có của lô hàng còn xẩy ra trong lĩnh vực liên doanh đầu tư với nước ngoài: các chủđầu tư nước ngoài thường nâng giá máy móc, thiết bị, vật tư lên cao hơn nhiều sovới giá cả thị trường quốc tế để làm táng phần góp vốn của các chủ đầu tư nướcngoài (việc táng phần góp vốn này là giả tạo) nhằm thu lợi nhuận cao qua phần thuhồi khấu hao thiết bị máy móc và lợi nhuận phân chia qua tỷ lệ góp vốn, đồng thờilại giảm phần thuế lợi tức phải nộp cho Nhà nước
Trường hợp điển hình:
Vụ việc Cty TM kỹ thuật và đầu tư Petec, Công ty xăng dầu quân đội, Công
ty xăng dầu hàng không gian lận về giá, truy thu hơn 3 tỷ đồng thuế
Ba là: khai báo không trung thực về số lượng, trong lương và chất lương hàng hóa xuất nhập khẩu
Sự phát triển mạnh mẽ hoạt động thương mại quốc tế ngày nay đòi hỏingành hải quan các nước phải có sự cải tiến mạnh mẽ, đổi mới tích cực về thủ tụchải quan theo hướng đơn giản, thống nhất và tin học hoá nhằm tạo điều kiện thuậnlợi và hiệu quả cho thương mại quốc tế, giải phóng được hàng hoá xuất nhập khẩunhanh, giảm tối thiểu được các chi phí phát sinh do thủ tục hải quan gây ra
Lợi dụng thủ tục hải quan đơn giản, thông thoáng để tạo hiệu quả chothương mại, các chủ hàng đã xuất nhập khẩu hàng hoá với số lượng, trọng lượngnhiều nhưng chỉ khai một phần, hàng tốt khai thành hàng trung bình, hàng mớikhai thành hàng cũ, hàng thành phẩm khai là hàng nguyên liệu, linh kiện, phụ kiện
để trốn thuế về cả trị giá tính thuế, cả về thuế suất Đáng lẽ phải xuất nhập khẩuhàng theo quy định của giấy phép có hạn ngạch, nhưng chủ hàng muốn xuất nhậpkhẩu ngoài số lượng, trọng lượng quy định đó nên họ khai báo gian với hải quan về
Trang 33lượng hàng hoá xuất nhập khẩu.
Ở một số nước áp dụng chính sách mặt hàng tiêu chuẩn công nghệ, kỹ thuậtthi nhiều chủ hàng lại tính toán để nhập thiết bị, máy móc mói, có công nghệ tiêntiến để được hải quan cho làm thủ tục nhập hàng Bởi vì phần lớn những dâychuyền công nghệ, máy móc tiên tiến nhà nước thường có chính sách khuyên khích
ưu đãi về thuế Dù không được ưu đãi về thuế, có chủ hàng vẫn nhập, nếu khi xemxét giá nhập với thuê suất đánh vào hàng hoá loại mới vẫn thấp hơn nhiều so vớigiá hàng bán ra (tức vẫn có lợi nhuận nếu nhập hàng cũ chịu thuế hàng mới donguyên nhân mặt hàng đó khan hiếm trên thị trường nội địa)
Một số trường hợp điển hình:
+ Ví dụ vụ việc Công ty TNHH Anh Sơn có hành vi nhập khẩu hàng hóakhông khai hải quan, khai sai về tên hàng, chủng loại (2.700 chiếc đầu ổ giắc,2.700 chiếc dây AV), nhập khẩu hàng hóa thuộc diện cấm nhập khẩu (2.500 chiếcđĩa DVD nhạc)
+ Công ty TNHH thương mại quốc tế T&D nhập khẩu lô hàng mũ bảo hiểm
xe máy không đủ điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật, bị xửphạt 10.000.000 đồng và buộc tái xuất lô hàng ra khỏi lãnh thổ Việt Nam
Bốn là: khai báo không trung thực về xuất xứ hàng hoá
Xác định xuất xứ hàng hoá là vấn đề phức tạp và rất quan trọng, liên quanđến lợi ích chủ quyển quốc gia Xuất xứ hàng hoá liên quan trực tiếp đến hai vấn
đê chính là: thuế suất nhập khẩu của hàng hoá và chính sách ưu đãi thuế quan giữacác nước thành viên có quan hệ dành cho nhau hưởng chế độ tối huệ quốc (MFN)
Vấn đề xuất xứ hàng liên quan chặt chẽ đến thuế xuất nhập khẩu: cùng mộtmặt hàng nhưng xuất xứ các nước khác nhau, thì trị giá tính thuế của mặt hàng đóđược tính khác nhau Ví dụ: cùng một mặt hàng nhưng nếu hàng đó được sản xuấttại các nước công nghiệp phát triển thì trị giá tính thuê sẽ cao hơn hàng cùng loạicủa các nước khác (Hiện nay, Việt Nam quy định hàng có xuất xứ từ ASEAN,Lào, Campuchia thì giá tính thuế chỉ bằng 70% của hàng cùng loại có xuất xứ từNhật, Mỹ và các nước G7)
Lợi dụng chính sách này, các chủ hàng hay tìm cách khai sai xuất xứ hoặc
Trang 34cố ý gây khó khăn trong việc xác định xuất xứ để trốn thuế.
Lợi dụng chính sách ưu đãi thuế ở nhiều nước có chê độ ưu đãi thuê suất chocác chương trình đặc biệt, chẳng hạn hệ thống ưu đãi thuế quan chung, hoặcchương trình, thương mại tự do song phương, dành cho nhau chế độ tối huệ quốc Trong việc thực hiện các chế độ này, vấn đề chủ chốt để người ta xem xét áp dụngthuế suất là nguồn gốc xuất xứ hàng hóa Vì thế, tuỳ thuộc vào tính chất của cácchương trình thương mại mà người ta sẽ ghi nguồn gốc xuất xứ là nước nào đểcuối cùng được hưởng líu đãi và thuận lợi trong buôn bán với nước đó Ngoài ra, vìnhững lý do rất khác nhau mà nước này thì khẩu lệnh cấm với nước kia, trongtrường hợp ấy, để trốn tránh, sự trừng phạt thương mại, người xuất khẩu thườngđược người nhập khẩu yêu cầu cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá giả Phươngpháp phổ biến nhất để làm giấy chứng nhận xuất xứ giả là chuyển tải hàng hoásang nước thứ 3 và xin giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá của nước này Có khichủ hàng còn cố ý để lẫn lộn hàng hoá của nước này với hàng hoá của nước kia, đểrồi khi hải quan kiểm tra thì trình hàng hoá có xuất xứ được ưu đãi
Trường hợp điển hình:
Vụ việc Công ty du lịch ngân hàng & phát triển nông thôn Việt nam, Tổngcông ty lắp máy việt nam gian lận qua CO Form D hàng thép nhập khẩu từPhilipin, thực tế mặt hàng thép này Philippin không sản xuất được do vậy khôngđược hưởng theo thuế suất ưu đãi đặc biệt, truy thu cho ngân sách Nhà nước 3.5 tỷđồng
2.2.1.2-Xuất trình không đúng chủng loại hàng
Nhằm giải phóng hàng hoá nhanh, không gây ách tắc, tạo thuận lợi cho hoạtđộng thương mại trong thủ tục kiểm tra, kiểm hoá hải quan, đối với nhiều mặthàng, hải quan đã áp dụng phương pháp kiểm tra đại diện, kiểm tra xác suất hoặckiểm tra mẫu hàng, v.v, mà không tiến hành kiểm tra, kiểm hoá chi tiết Lợi dụngđiểm sơ hở này, các chủ hàng đã thực hiện hành vi gian lận thương mại là: xuấttrình không đúng chủng loại hàng hoá cho hải quan kiểm tra Ví dụ nhập hoặc xuấtmột lô hàng gồm các mặt hàng A,B,C, nhưng chỉ khai báo là mặt hàng c và khéo
Trang 35léo xuất trình mặt hàng c để cơ quan hải quan kiểm tra (trong một lô hàng chỉ cómột mặt hàng được đóng đồng loạt trong các bao bì giống nhau - tuy phẩm cấphàng có nhiều loại, nhưng chủ hàng chỉ xuất trình một loại nào đó theo mục đíchcủa mình cho cơ quan hải quan kiểm tra Đối với một số mặt hàng khó xác định,kiểm tra đổi chiếu theo mẫu như: vải cao cấp trong nước chưa sản xuất được nênđược nhập và có thuế suất thấp, trong khi các loại vải khác thì không được nhậphoặc nếu được nhập thì phải chịu thuế nhập khẩu cao thì đối sách của chủ hàng lúcnày là nhập vải thường nhưng xuất trình cho cơ quan hải quan mẫu vải cao cấp,v.v.)
Trường hợp điển hình:
Công ty Cổ phần đầu tư và thương mại Kim Thủy nhập khẩu lô hàng khaibáo là sắt thép phế liệu nhưng thực tế hàng là ắc quy chỉ đã qua sử dụng, trọnglượng 10,910 tấn, thuộc diện cấm nhập khẩu theo công ước Basel Xử lý tịch thutoàn bộ lô hàng
2.2.1.3 Xuất trình giấy tờ, chứng từ xuất nhập khẩu hàng hóa không đầy đủ, thiếu
+ Giả mạo hồ sơ hàng hoá thông qua các hình thức kinh doanh tạm nhập- táixuất chuyển khẩu, hàng gửi kho ngoại quan, hàng để đưa vào tiêu thụ trong thịtrường nội địa trốn thuê nhập khẩu
+ Xuất nhập khẩu ngoài danh mục: các chủ hàng lợi dụng các loại hàng hoá
được nhà nước cho xuất nhập khẩu miễn thuế hoặc có ưu đãi riêng đối với một sốmặt hàng nào đó, để che đậy xuất nhập khẩu các loại hàng hoá khác ngoài danhmục mặt hàng nhà nước cho xuất nhập khẩu với ưu đãi đặc biệt
+ Khai báo vượt yêu cầu những mặt hàng được sử dụng vào mục đích ưu đãinhưng thực chất là để sử dụng vào mục đích khác nhằm trốn thuế
Trang 36+ Lập bộ chứng từ hàng hoá xuất nhập khẩu không đầy đủ, để ngoài hoá đơn
và bộ hồ sơ xuất nhập khẩu hàng những yếu tố phụ, những chi phí thuộc loại phảithu thuế,
Trường hợp điển hình:
Kiểm tra sau thông quan đối với các Doanh nghiệp tạm nhập tái xuất xăngdầu phát hiện một số Công ty (Công ty xăng dầu quân đội, Công ty XNK xăng dầuHàng Không ) lợi dụng việc tạm nhập tái xuất để tiêu thụ nội địa truy thu số tiềnthuế hơn 200 tỷ đồng cho ngân sách nhà nước
2.2.1.4- Gian lận về xuất xứ hàng hóa
- Hóa đơn nước thứ 3
+Các hiệp định quy định trường hợp hóa đơn được cấp bởi nước thứ 3 phảiđược ghi vào ô số 7 tên công ty và nước phát hành hóa đơn và tích vào ô số 13 làhóa đơn nước thứ 3 Tuy nhiên, thực trạng rất nhiều C/O cơ quan cấp thiếu sótkhông điền thông tin vào ô số 7, doanh nghiệp tự phát hiện ra sai sót và đã giả mạođiền thêm thông tin vào ô số 7 để hợp thức hóa C/O gây thất thu thuế cho Nhànước
- Sự khác biệt về mã HS trên C/O và mã HS của nước nhập khẩu
+ Trong các Hiệp định quy đinh sự khác biệt mã HS trên C/O với mã HS của
nước nhập khẩu được coi là sự khác biệt nhỏ Tuy nhiên, thực tế khi có sự khácbiệt về mã HS cần phải kiểm tra kỹ bản chất hàng hóa, thuế suất nhập khẩu của cả
2 mã HS và tiêu chí xuất xứ của từng mã HS, cần thiết chuyển kiểm tra thực tếhàng hóa làm cơ sở áp dụng mức thuế suất phù hợp Nhiều khả năng doanh nghiệp
cố tình áp sai mã số hàng hóa để được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt