Từ nhận thức giá trị nhiều mặt của việc nghiên cứu về VN, chúng tôi lựa chọn đề tài “Tìm hiểu vị ngữ trong các câu văn xuôi nghệ thuật thuộc chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học”.. Chúng t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
BẾ THỊ NGỌC ANH
TÌM HIỂU VỊ NGỮ TRONG CÁC CÂU VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT THUỘC CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tiếng Việt
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của rất nhiều thầy cô giáo và đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của Thạc sĩ Phan Thị Thạch- GVC khoa Ngữ Văn
Tôi xin gửi tới các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học, các thầy
cô phản biện khóa luận, đặc biệt tôi xin trân trọng gửi tới cô giáo - Thạc sĩ Phan Thị Thạch lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất!
Hà Nội, ngày 08 tháng 05 năm 2014
Bế Thị Ngọc Anh
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những kết quả và số liệu trong khóa luận chưa được ai công bố dưới bất cứ hình thức nào Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự cam đoan này
Hà Nội, ngày 08 tháng 05 năm 2014
Bế Thị Ngọc Anh
Trang 4DANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
CN : Chủ ngữ
KN : Khởi ngữ Nxb : Nhà xuất bản SGK : Sách giáo khoa THCS : Trung học cơ sở TRN : Trạng ngữ
PN : Phụ ngữ
VD : Ví dụ
VN : Vị ngữ
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng nghiên cứu 5
4 Mục đích nghiên cứu 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
6 Phạm vi nghiên cứu 6
7 Phương pháp nghiên cứu 6
NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG 8
1.1 Cơ sở ngôn ngữ học 8
1.1.1 Vị ngữ 8
1.1.2 Câu trong Tiếng Việt 13
1.1.3 Mối quan hệ giữa CN, VN từ góc nhìn của kết học, nghĩa học, dụng học 16
1.1.4 Văn bản 17
1.2 Cơ sở tâm lí học, giáo dục học 19
1.2.1 Cơ sở tâm lí học 19
1.2.2 Cơ sở giáo dục học 20
1.3 Tiểu kết 21
CHƯƠNG 2 TÌM HIỂU VỊ NGỮ TRONG CÁC CÂU VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT THUỘC CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC 22
2.1 Khái quát kết quả khảo sát, thống kê văn bản và câu trong văn bản 22
2.1.1 Tỉ lệ câu đơn trong các văn bản văn xuôi nghệ thuật thuộc SGK Tiếng Việt ở Tiểu học 22
Trang 62.1.2 Tỉ lệ câu ghép trong các văn bản văn xuôi nghệ thuật ở Tiểu học 24
2.2 Kết quả thống kê VN trong các câu văn xuôi nghệ thuật ở SGK Tiếng Việt Tiểu học 25
2.2.1 Tiêu chí thống kê phân loại VN 25 2.2.2 Kết quả thống kê phân loại VN 25
2.3 Nhận xét về việc dùng VN trong câu văn xuôi nghệ thuật thuộc chương trình SGK Tiếng Việt Tiểu học 28
2.3.1 Về việc dùng VN trong những câu là chuẩn mực hoặc là biến thể
cú pháp 28 2.3.2 Về việc dùng VN trong các kiểu câu được phân loại theo đặc điểm cấu tạo ngữ pháp (câu đơn, câu ghép) 30 2.3.4 Về ngôn ngữ tham gia cấu tạo VN trong các câu văn xuôi nghệ thuật 34 2.3.5 Về vị trí và vai trò của VN trong câu văn xuôi nghệ thuật thuộc ngữ liệu thống kê 35
KẾT LUẬN 36 TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Các nhà khoa học cho rằng: Câu là đơn vị cơ bản của cú pháp học Nó
là đơn vị độc lập nhỏ nhất của lời nói, đơn vị hiện thực của giao tiếp Loại đơn vị này được cấu tạo bằng từ, cụm từ Các đơn vị cấu tạo câu được tổ chức theo kết cấu cú pháp và nòng cốt là kết cấu C-V (kết cấu giữa hai thành phần chính: chủ ngữ và vị ngữ) Có thể nói, từ khi ngữ pháp học, hẹp hơn là cú pháp học được ra đời đến nay việc nghiên cứu các thực từ, nghiên cứu câu không tách rời nghiên cứu CN, VN Ngày nay, cùng với sự phát triển của ngôn ngữ học, việc nghiên cứu câu đã được mở rộng ở ba bình diện: kết học, nghĩa học, dụng học Tuy rằng, nhiều người đã nghiên cứu về thành phần câu nhưng đây là vấn đề không bao giờ cũ Trong ngữ pháp học, hẹp hơn là trong
cú pháp học tiếng Việt, việc nghiên cứu về VN là vấn đề rất phức tạp, nhưng cũng rất thú vị bởi sự nghiên cứu, tìm hiểu về thành phần này, đúng như GS.TS Đinh Văn Đức đã từng khẳng định “Nó tăng thêm sự hiểu biết phong
phú, suy nghĩ đa dạng cho mỗi người”
Việc tìm hiểu thành phần VN của câu không những có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn Bởi khi thực hiện đề tài này chúng tôi hệ thống hóa được các kiến thức về VN trong các câu văn xuôi nghệ thuật ở tiếng Việt Từ đó những kiến thức về VN của bản thân được củng cố vững chắc hơn Để đạt được mục đích nghiên cứu đề tài, chúng tôi phải khảo sát chương trình SGK Tiếng Việt ở Tiểu học, tìm hiểu kĩ hơn với những tác phẩm văn xuôi Điều đó giúp chúng tôi nắm chắc chương trình SGK, làm giàu nguồn ngữ liệu về VN ngoài ra còn trang bị cho chúng tôi phương pháp thích hợp để bồi dưỡng cho học sinh Tiểu học có được kiến thức cơ bản về VN Những việc làm này rất hữu ích cho chúng tôi trong đợt thực tập sư phạm cuối khóa cũng như trong giảng dạy tiếng Việt ở Tiểu học trong tương lai
Trang 8Từ nhận thức giá trị nhiều mặt của việc nghiên cứu về VN, chúng tôi
lựa chọn đề tài “Tìm hiểu vị ngữ trong các câu văn xuôi nghệ thuật thuộc chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học”
2 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu VN trong câu là một đề tài được rất nhiều người quan tâm, tìm hiểu Chúng ta có thể tổng thuật tình hình nghiên cứu về VN từ các nguồn tài liệu sau:
2.1 Các giáo trình ngữ pháp Tiếng Việt
Rất nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu câu, thành phần câu, trong đó có
VN Kết quả nghiên cứu câu của họ được phản ánh trong các giáo trình, các công trình nghiên cứu về ngữ pháp Tiếng Việt Chúng tôi chỉ viện dẫn ra ở đây một số giáo trình tiểu biểu của một số nhà ngữ pháp học có tên tuổi sau:
- Ngữ pháp Tiếng Việt, Hoàng Văn Thung - Lê A, Nxb Giáo dục, 1984
- Ngữ pháp Tiếng Việt, tập 1, Diệp Quang Ban, Nxb Giáo dục, 1991
- Ngữ pháp Tiếng Việt, tập 2, Diệp Quang Ban, Nxb Giáo dục, 1992
- Ngữ pháp Tiếng Việt, Nguyễn Hữu Quỳnh, Nxb Từ điển bách khoa,
Trong các giáo trình kể trên, nội dung nghiên cứu VN ngày càng phong phú, ngày càng hiện đại Điều này được thể hiện khi có rất nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm, phân loại và tìm hiểu chức năng của
VN
Trang 9Trong cuốn "Thành phần câu Tiếng Việt" của tác giả Nguyễn Minh Thuyết - Nguyễn Văn Hiệp (1988) thì VN là bộ phận của câu truyền đạt thông báo chính và bắt đầu (hoặc có thể bắt đầu) bằng các động từ tình thái, phủ định từ hoặc hư từ chỉ phương thức tồn tại của hành động hay tính chất (như,
Cũng trong cuốn Thành phần câu Tiếng Việt, các tác giả cho rằng:
VN là bộ phận của nòng cốt câu có thể chen thêm phó từ chỉ thời thể hoặc cách thức vào phía trước
Nhiều khái niệm khác nhau của các tác giả về VN đã được nêu ra nhưng giữa chúng có sự thống nhất khi cho rằng VN là một trong những thành phần chính của câu, thông báo một hoạt động, một đặc điểm, tính chất nào đó
Ngoài ra, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã thống nhất, phân loại VN trong tiếng Việt thành ba loại là:
- Những VN nối kết trực tiếp với CN, không cần đến hệ từ ở cả hình thức khẳng định lẫn hình thức phủ định Loại này thường là những VN do động từ, tính từ đảm nhận
- Những VN nối kết với CN nhờ hệ từ ở cả hình thức khẳng định lẫn hình thức phủ định nhờ hệ từ “là”
Ví dụ: “Tôi là sinh viên”
- Những VN ở hình thức khẳng định nối kết trực tiếp với CN, còn ở hình thức phủ định thì nối kết với CN nhờ hệ từ Loại này thường cấu trúc:
Trang 10+ Kết cấu C-V
+ Kết cấu “Số từ + danh từ”
+ Kết cấu “Giới từ + danh từ”
+ Thành ngữ
2.2 Các SGK Tiếng Việt ở Tiểu học, SGK Ngữ Văn THCS
2.2.1 Trong chương trình SGK Tiếng Việt ở Tiểu học, những kiến thức về
VN được đưa vào mục Luyện từ và câu Nội dung dạy học về VN được thực hiện cho học sinh từ lớp 2 đến lớp 5
Ở SGK Tiếng Việt lớp 2; 3, nội dung dạy học về VN không trình bày dưới hình thức lí thuyết mà được thể hiện qua bài tập thực hành
Ví dụ học về thành phần câu, học sinh không cần dùng đến các thuật
ngữ CN, VN, TRN, PN mà chỉ thông qua các bài tập đặt và trả lời câu hỏi: Ai? Làm gì? Ở đâu? Bao giờ? Vì sao? Để làm gì?
Đến lớp 4, các em mới biết các bộ phận của câu tương ứng là CN, VN hay TRN Thông qua nhiều bài tập gắn với yêu cầu về Tập làm văn hoặc các tình huống giao tiếp tự nhiên là nội dung dạy học VN ở lớp 5
Có thể thấy, trong SGK Tiếng Việt từ lớp 2 đến lớp 5, nội dung dạy học về VN chủ yếu theo hướng thực hành từ dễ đến khó Các kiến thức ở lớp
2, 3 được tái sử dụng và mở rộng ở lớp 4, 5
2.2.2 Đối với bậc THCS, nội dung dạy học về VN đã được đề cập đến trong
SGK Ngữ Văn lớp 6 Kiến thức về VN được đưa vào ở bậc học này có sự mở rộng trên cơ sở kế thừa kiến thức học sinh đã biết ở Tiểu học Các bài lí thuyết và thực hành có sự gắn bó chặt chẽ Học sinh được tìm hiểu sâu hơn về khái niệm VN, các loại VN, cấu tạo VN… Các bài tập thực hành giúp các em củng cố kiến thức về VN đồng thời giúp các em rèn kĩ năng lập đoạn văn có
sử dụng các kiểu câu theo chủ đề sát hơn với hoàn cảnh giao tiếp
Trang 112.3 Các khóa luận của sinh viên khoa Giáo dục Tiểu học, khoa Ngữ Văn
Trong những năm gần đây, một số SV khoa Ngữ Văn và khoa Giáo dục Tiểu học đã quan tâm nghiên cứu về ngữ pháp câu thông qua các khóa luận tốt nghiệp, chẳng hạn:
Chức năng câu hỏi trong một số văn bản văn xuôi nghệ thuật, Phạm
Thu Vân, K27B khoa Ngữ Văn
Câu phân theo mục đích nói và cách sử dụng, Đào Thị Hưởng, K29
khoa Ngữ Văn
Tìm hiểu hiệu quả của những cách dùng câu trong các văn bản văn xuôi nghệ thuật thuộc chương trình Tiếng việt Tiểu học, Khuất Thị Như, K34
khoa Giáo dục Tiểu học
Như nhan đề của khóa luận, các tác giả khóa luận mặc dù nghiên cứu câu tiếng Việt nhưng họ không thiên về nghiên cứu một thành phần câu như
VN
Điểm lại tình hình nghiên cứu về câu trong ba nguồn tài liệu trên, có thể thấy rõ: Nghiên cứu về VN không phải là vấn đề mới vì nó đã được nhiều
nhà nghiên cứu, nhà khoa học về một số sinh viên đề cập đến Tuy vậy, việc
tìm hiểu VN trong câu văn xuôi nghệ thuật thuộc chương trình SGK Tiếng Việt ở Tiểu học, thì không hề trùng lặp với bất cứ tác giả nào
3 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong khóa luận của chúng tôi là: "Vị ngữ trong các câu văn xuôi nghệ thuật thuộc chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học"
4 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài khóa luận, chúng tôi nhằm hướng đến các mục đích sau:
4.1 Củng cố kiến thức cho bản thân về thành phần VN, đồng thời giúp mình
hiểu được đặc thù của VN trong một loại văn bản nghệ thuật ngôn từ
Trang 124.2 Những kết quả nghiên cứu đó không những giúp ích cho tác giả khóa
luận, mà còn giúp ích cho các bạn sinh viên và các giáo viên Tiểu học - những người mong muốn làm giàu kiến thức ngữ pháp câu để dạy tốt tiếng Việt ở Tiểu học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Xác định cơ sở lí luận cho đề tài khóa luận
5.2 Hệ thống hóa kiến thức về VN trong các tài liệu ngữ pháp đáng tin cậy 5.3 Khảo sát, thống kê việc sử dụng VN trong tác phẩm văn xuôi nghệ thuật
thuộc chương trình SGK Tiếng Việt ở Tiểu học
5.4 Sử dụng phương pháp nghiên cứu thích hợp để chỉ ra đặc thù của VN
trong tác phẩm văn xuôi nghệ thuật thuộc đối tượng khảo sát
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Trong khóa luận này, chúng tôi tập trung tìm hiểu VN trong các câu văn xuôi nghệ thuật thuộc chương trình SGK Tiếng Việt ở Tiểu học trên các bình diện: kết học, nghĩa học, dung học
6.2 Giới hạn tác phẩm khảo sát thống kê
Chúng tôi khảo sát 65 văn bản (đoạn văn bản) văn xuôi nghệ thuật thuộc kiểu bài Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn trong SGK Tiếng Việt lớp 2, 3, 4, 5 ở Tiểu học
7 Phương pháp nghiên cứu
Để xử lí đề tài khóa luận, chúng tôi lựa chọn, để thống kê, sử dụng các phương pháp sau:
7.1 Phương pháp thống kê phân loại
Phương pháp này được chúng tôi dùng để thống kê, phân loại các kiểu
VN đã được các nhà văn sử dụng trong văn bản văn xuôi nghệ thuật thuộc phạm vi nghiên cứu
Trang 137.4 Ngoài những phương pháp đã nêu trên, chúng tôi còn sử dụng phương pháp miêu tả để xử lí đề tài
Trang 14(Nguyễn Văn Tu, Khái luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, H, 1960, tr.218)
Nguyễn Kim Thản khi nghiên cứu về ngữ pháp Tiếng Việt đã cho rằng:
“Vị ngữ là một thành phần chủ yếu của câu song phần về mặt ngữ pháp phụ thuộc vào chủ ngữ, thường được động từ, danh từ, tính từ hay tính động
từ, diễn đạt đặc trưng (hoạt động, trạng thái, thuộc tính, tính chất) của sự vật biểu thị ở chủ ngữ”
(Nguyễn Kim Thản, Nghiên cứu về ngữ pháp Tiếng Việt, tập 2, tr.160)
Theo Đái Xuân Ninh
“Vị ngữ là thành phần cơ bản nhất, thành phần trung tâm, chủ đạo lập nên cái cốt thông báo của câu”
(Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, tr.418)
Diệp Quang Ban đã định nghĩa về VN như sau:
“Vị ngữ là một trong hai thành phần chính của câu có quan hệ qua lại với chủ ngữ, nói lên cái đặc trưng (quan hệ, tính chất, trạng thái, hành động) vốn có ở vật hoặc có thể áp đặt một cách hợp lý cho vật nêu ở chủ ngữ”
(Diệp Quang Ban, Cấu tạo của câu đơn Tiếng Việt, Trường ĐHSP Hà Nội I, H, 1984, tr.142)
Trang 15Trong những định nghĩa trên, chúng tôi cho rằng định nghĩa của Diệp Quang Ban có sức thuyết phục nhất vì: VN là một trong những thành phần chính của câu Bởi vì thông qua định nghĩa đó, ông không chỉ khẳng định VN
là một trong hai thành phần chính của câu, mà còn chỉ ra mối quan hệ qua lại giữa CN với VN và đặc trưng của VN
1.1.1.2 Phân loại vị ngữ
Có rất nhiều cách phân loại VN Điều đó tùy thuộc vào tiêu chí mà chúng ta lựa chọn Chẳng hạn:
Dựa vào từ loại cấu tạo thành phần VN
Căn cứ vào tiêu chí này, có thể phân chia VN như sau:
Trang 16a3: VN do danh từ, cụm danh từ đảm nhiệm
Dựa vào đặc điểm cấu tạo VN trong câu
Dựa vào đặc điểm cấu tạo VN nghĩa là xác định xem thành phần này được tạo thành bằng một từ, cụm từ đẳng lập, cụm từ chính phụ hay cụm từ C-V
Trang 17D18: Chị em vừa nấu cơm vừa quét nhà
a) Từ góc nhìn bình diện kết học, VN là một thành phần chính trong nòng cốt câu,
nó có thể là một thành tố chính trong cụm C-V thuộc một thành phần câu
Trang 18VD26: Hoa đào đang nở rộ
b) Từ góc nhìn của bình diện nghĩa học, VN có chức năng nêu nội dung thông
báo trong câu để làm rõ đặc trưng hành động, đặc trưng tính chất, đặc điểm của CN
VD31: Lão Hạc thổi các mồi rơm, châm đóm
V1 V2
CN VN
Ví dụ 31, là một câu đơn có một CN và hai VN, là hai cụm động từ miêu tả hoạt động của nhân vật Lão Hạc Thông qua các từ dùng để cấu tạo VN, chúng ta dễ dàng thấy nhà văn Nam Cao đóng vai trò là người thứ ba kể lại rất khách quan về nhân vật Lão Hạc
VD32: Nam dốt như bò
CN VN
Trang 19Trong ví dụ 32, VN của câu không chỉ thông báo tính chất "dốt" của chủ thể nêu ở CN, mà còn cho thấy thái độ của người dùng câu (người phát ngôn) đối với đối tượng được phản ánh trong một câu có sử dụng hành động
kể Đó là thái độ chê bai đối với chủ thể được nêu ở CN Chức năng biểu thị mối quan hệ của người dùng câu với hiện thực phản ánh trong câu được xem xét từ góc nhìn của dụng học
1.1.2 Câu trong Tiếng Việt
"Câu là một số tiếng diễn đạt một ý độc nhất hoặc một ý chính với nhiều ý phụ để thêm nghĩa cho ý chính đó như chỉ trường hợp, nguyên nhân, kết quả của ý chính đó"
(Nguyễn Hiến Lê - Để hiểu văn phạm vị ngữ Nxb Phạm Văn Tươi SG, tr 86)
Hơn hai thập kỉ sau đó, trong Giáo trình lí thuyết Tiếng Việt, khi tìm hiểu khái niệm câu, Hoàng Trọng Phiến cho rằng:
"Câu là đơn vị hoàn chỉnh của lời nói được hình thành về ngữ pháp và ngữ điệu theo các quy luật của một ngôn ngữ nào đó, là phương tiện chính diễn đạt, biểu hiện và giao thể tư tưởng về thực tế và thái độ của người nói đối với thực tại"
(Hoàng Trọng Phiến, Giáo trình lí thuyết Tiếng Việt Trường ĐHTH Hà Nội,
H, 1976, tr 170)
Nhà nghiên cứu Hữu Quỳnh đưa ra một định nghĩa ngắn gọn về câu:
"Câu là đơn vị ngôn ngữ dùng để thông báo, có tính giao tiếp, tính hình thái và tính vị ngữ"
(Nguyễn Quỳnh, Ngữ pháp Tiếng Việt hiện đại, Nxb giáo dục, H, 1980, tr 136)
Trang 20Trong Ngữ pháp Tiếng Việt, Diệp Quang Ban lại nêu định nghĩa về câu như sau:
"Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói, hoặc có thể kèm theo thái độ,
sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ
(Diệp Quang Ban, Ngữ Pháp Tiếng Việt, tập 2, Nxb Giáo dục, tr.106)
Do có nhiều định nghĩa về câu như vậy, khi tìm hiểu đơn vị này, chúng
ta cần chú ý đến những đặc điểm cơ bản của nó Những đặc điểm đó là:
- Về mặt nội dung, câu có chức năng diễn đạt trọn vẹn một nội dung tư
tưởng tình cảm nhất định
- Về mặt hình thức, mỗi câu được cấu tạo theo một kiểu cấu trúc cú
pháp nhất định, cấu trúc đó tự lập, có ngữ điệu kết thúc khi nói, khi viết được đánh dấu bằng một dấu cuối câu
- Về mặt chức năng, câu là đơn vị giao tiếp nhỏ nhất để tạo thành văn
bản Mỗi câu bao giờ cũng gắn với một tình huống giao tiếp, để biểu thị một hành vi ngôn ngữ nhằm mục đích giao tiếp nhất định
b) Các kiểu câu được phân chia theo đặc điểm cấu tạo ngữ pháp
Dựa vào đặc điểm cấu tạo ngữ pháp của câu, các nhà khoa học đã chia câu ra làm hai loại, đó là:
Câu đơn và câu ghép
Trong câu đơn căn cứ vào đặc điểm cấu tạo, người ta chia kiểu câu này thành: Câu đơn hai thành phần, câu đơn mở rộng, câu đơn rút gọn, câu đơn đặc biệt
Dựa và đặc điểm cấu tạo ngữ pháp, các nhà khoa học chia câu ghép thành: Câu ghép chính phụ và câu ghép đẳng lập
Trang 21Chúng ta có thể hệ thống hóa lí thuyết về từng kiểu câu cụ thể thông qua những khái niệm mà các nhà ngữ pháp Tiếng Việt đã thống nhất trình bày
"Câu đơn là câu chỉ có một cú (đơn hoặc kép) Câu đơn bình thường là câu gồm đầy đủ hai thành phần đề ngữ và thuyết ngữ"
(Hữu Quỳnh, Ngữ Pháp Tiếng Việt hiện đại, Nxb giáo dục, H, 1980, tr.137)
* Câu đơn 2 thành phần là câu đơn có hai thành phần chính: Chủ ngữ và vị
(Hữu Quỳnh, Ngữ Pháp Tiếng Việt hiện đại, Nxb Giáo Dục, H, 1980, tr.137)
* Câu đơn mở rộng:
"Câu đơn trong đó ngoài hai thành phần chính còn có những thành phần phụ"
(Diệp Quang ban, Ngữ Pháp Tiếng Việt, tập 2, Nxb giáo dục, tr.177)
* Câu đơn rút gọn:
Trong giao tiếp, người Việt có thể rút gọn CN hoặc VN, hoặc cả hai thành phần chính của câu, nhưng người nghe vẫn tiếp nhận được một nội dung thông báo trọn vẹn và có thể khôi phục được những thành phần đó Những câu đơn như thế gọi là câu đơn rút gọn
VD37: - Mai anh có đi Hà Nội không?
- Không
VD38: - Ở nhà trông em nhá!
Trang 22* Câu đơn đặc biệt:
Đây là kiểu câu đơn chỉ được cấu tạo bằng một từ hoặc cụm từ, không phân định được đâu là CN, VN; nhưng nó vẫn thông báo một nội dung trọn vẹn trong một tình huống cụ thể
và được ghép lại với nhau bằng các liên từ, các dấu câu
* Câu ghép đẳng lập:
Đây là kiểu câu được cấu tạo từ hai kết cấu C-V nòng cốt trở lên Mỗi kết cấu C-V nòng cốt làm thành một vế câu Các vế có quan hệ bình đẳng với nhau Giữa các vế có thể được nối với nhau bằng các quan hệ từ bình đẳng (mà,
và, còn, hay, hoặc, ) hoặc bằng dấu phẩy, dấu chấm phẩy trong câu văn viết
* Câu ghép chính phụ:
Đây là kiểu câu được cấu tạo bởi hai kết cấu C-V nòng cốt, mỗi kết cấu C-V nòng cốt làm thành một vế câu Các vế gắn với nhau theo quan hệ chính phụ Các vế của câu ghép chính phụ có thể được nối với nhau bằng các cặp quan kệ từ (các kết từ)
1.1.3 Mối quan hệ giữa CN, VN từ góc nhìn của kết học, nghĩa học, dụng học
a) Kết học và mối quan hệ giữa CN, VN từ góc nhìn của kết học
"Kết học là lĩnh vực nghiên cứu kí hiệu trong các mỗi quan hệ kết hợp với các kí hiệu khác"
(Đại cương ngôn ngữ học, tập một, Nxb Giáo dục)