Tất cả các quốc gia trên thế giới đều đang vận động phát triển không ngừng trong tiến trình diễn ra của dòng thời gian và lịch sử. Nhìn lại những gì mà nền kinh tế thế giới đã, đang đạt được chúng ta không thể phủ nhận rằng trong khi hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa như nước ta đang gặp khó khăn, phát triển chậm chạp thì các nước tư bản chủ nghĩa lại đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển đất nước với tốc độ phát triển chóng mặt ở tất cả các lĩnh vực mà xuất phát điểm là từ sự phát triển của nền kinh tế: kĩ thuật và công nghệ bỏ xa chúng ta hàng chục năm, năng suất lao động cao, phân công lao động và chuyên môn hoá rõ rệt, lực lượng sản xuất đã đạt được trình độ xã hội hoá cao... C. Marx đã nghiên cứu và tìm ra nguyên nhân của sự phát triển: Đâu là quy luật vận động của phương thức sản xuất tư bản , cái gì là bí mật và thực chất của sản xuất hàng hoá tư bản, điều gì là động lực cho kinh tế tư bản chủ nghĩa ? _ Đó chính là quy luật giá trị thặng dư và sự vận dụng quy luật giá trị thặng dư trong phát triển hàng hoá tư bản chủ nghĩa. Việc nghiên cứu quy luật giá trị thặng dư_ quy luật trung tâm của xã hội tư bản có ý nghĩa lí luận và thực tiễn cao. Thứ nhất nó sẽ cung cấp cho ta nhận thức, nâng cao lí luận và hiểu biết về học thuyết kinh tế nổi tiếng này. Bên cạnh đó, điều này là cần thiết vì hiện nay nước ta đang quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, phải xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại, tiên tiến của nền đại công nghiệp trong điều kiện nền tảng kinh tế của nước ta còn rất thấp kém. Chúng ta đang thực hiện cơ chế thị trường, mở cửa nền kinh tế, xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ chế kinh tế mới đồng thời với hàng loạt những sự thay đổi về chế độ sở hữu, các thành phần kinh tế, chế độ phân phối... Điều này cho phép quy luật giá trị thặng dư hoạt động và phát huy những đặc điểm của nó cả ưu điểm và những khuyết tật. Tìm hiểu sâu sắc đề tài sẽ giúp ta tìm ra biện pháp sử dụng hợp lý quy luật giá trị thặng dư làm đòn bẩy kích thích nền kinh tế mà không chệch hướng chính trị.
Trang 1và thực chất của sản xuất hàng hoá tư bản, điều gì là động lực cho kinh tế tưbản chủ nghĩa ? _ Đó chính là quy luật giá trị thặng dư và sự vận dụng quyluật giá trị thặng dư trong phát triển hàng hoá tư bản chủ nghĩa.
Việc nghiên cứu quy luật giá trị thặng dư_ quy luật trung tâm của xã hội
tư bản có ý nghĩa lí luận và thực tiễn cao Thứ nhất nó sẽ cung cấp cho tanhận thức, nâng cao lí luận và hiểu biết về học thuyết kinh tế nổi tiếng này.Bên cạnh đó, điều này là cần thiết vì hiện nay nước ta đang quá độ tiến lênchủ nghĩa xã hội, phải xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại, tiên tiến củanền đại công nghiệp trong điều kiện nền tảng kinh tế của nước ta còn rất thấpkém Chúng ta đang thực hiện cơ chế thị trường, mở cửa nền kinh tế, xâydựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Cơ chế kinh tế mớiđồng thời với hàng loạt những sự thay đổi về chế độ sở hữu, các thành phầnkinh tế, chế độ phân phối Điều này cho phép quy luật giá trị thặng dư hoạtđộng và phát huy những đặc điểm của nó cả ưu điểm và những khuyết tật.Tìm hiểu sâu sắc đề tài sẽ giúp ta tìm ra biện pháp sử dụng hợp lý quy luật giá
Trang 2trị thặng dư làm đòn bẩy kích thích nền kinh tế mà không chệch hướng chínhtrị.
II - PHẦN NỘI DUNG:
A LÝ LUẬN VỀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ:
1 Khái quát chung:
Trước tiên ta nghiên cứu về quy luật nổi tiếng: Quy luật giá trị thặng dư
V I Lênin đã đánh giá rất cao quy luật này Ông coi quy luật giá trị thặng dư
là hòn đá tảng trong toàn bộ học thuyết kinh tế của Marx và học thuyết kinh tếcủa Marx lại là nội dung căn bản của chủ nghĩa Marx Vì vậy, nó chứng tỏquy luật giá trị thặng dư có một vai trò to lớn trong lý luận của chủ nghĩaMarx Chủ nghĩa tư bản đã vận dụng quy luật giá trị thặng dư trong nền sảnxuất hàng hoá tư bản bởi tác dụng của quy luật này Việc tạo ra giá trị thặng
dư chính là động lực kích thích kĩ thuật tiến bộ, phân công lao động xã hộisâu sắc, lực lượng sản xuất phát triển không ngừng, khối lượng của cải vậtchất tạo ra rất lớn, năng suất lao động nâng cao, nền kinh tế phát triển hiệnđại Các nước tư bản sở dĩ có bước tiến xa vượt bậc như vậy là do họ đã vậndụng triệt để quy luật giá trị thặng dư Việc tìm hiểu bí mật và thực chất củanền sản xuất hàng hoá tư bản: quy luật giá trị thặng dư là cần thiết và quantrọng
2 Mặt chất của giá trị thặng dư:
Giá trị thặng dư được tìm hiểu đầy đủ thông qua cả mặt chất và mặtlượng Nghiên cứu quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư sẽ cho thấy bản chấtcủa nó
2.1 Điều kiện ra đời của giá trị thặng dư:
(a).Công thức chung của Tư bản:
Trang 3Trong sản xuất hàng hoá, nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất là tiền vìmọi quan hệ mua bán trao đổi giao dịch đều được thực hiện thông qua đồngtiền Tất cả các tư bản đều biểu hiện dưới hình thái một số tiền mặt nhất định.Điều này dễ dẫn đến sự lầm tưởng mọi đồng tiền bỏ ra đều là tư bản Bản thântiền không phải là tư bản Tiền chỉ biến thành tư bản khi chúng được sử dụng
để bóc lột lao động của người khác Với tư cách là tiền thông thường, nó đượcdùng làm vật ngang giá chung, làm môi giới trong mua và bán hàng hoá Tiềnđơn giản chỉ là phương tiện của lưu thông hàng hoá giản đơn Nhưng với tưcách là tư bản, nó được thể hiện rõ trong công thức của lưu thông hàng hoá tưbản chủ nghĩa.Thực vậy, hãy xem xét kĩ và so sánh hai công thức lưu thôngđó
Trao đổi lưu thông hàng hoá tư bản có công thức khác với công thức lưuthông hàng hoá giản đơn Nếu công thức lưu thông hàng hoá giản đơn là H-T-
H thì công thức của tư bản là T-H-T' Ta không thể phủ nhận hai công thứctrên có nhiều điểm giống nhau vì chúng đều là những công thức lưu thônghàng hoá Cả hai công thức đều có các giai đoạn mua và bán hàng, tức làdùng tiền để mua hàng hoá và đem hàng hoá đi bán để thu tiền Các giai đoạn
đó bao gồm đủ cả người mua và người bán trên thị trường thì mới đảm bảoquá trình trao đổi mua bán được diễn ra Quan hệ trong lưu thông là quan hệtiền với hàng Nhưng hai công thức trên khác nhau ở nhiều điểm căn bản nhưsau:
Công thức lưu thông hàng hoá giản đơn H-T-H có trình tự bán và muanhư sau: trước tiên người có hàng đem hàng của mình bán trên thị trường đểthu tiền về Nhưng đối với anh ta tiền không phải là mục đích của lưu thông.Anh ta lại dùng tiền bán được này để mua hàng hoá khác Quá trình lưu thônglần đầu kết thúc ở đây Một ví dụ đơn giản là người nông dân bán một tạ gạo,
số tiền anh ta thu được nhờ bán gạo được anh ta sử dụng để mua một cái áo_Điều đó có nghĩa là mục đích bán gạo của anh ta là để mua áo Điểm xuấtphát và kết thúc là hàng hóa, tiền chỉ đóng vai trò là môi giới trung gian
Trang 4Công thức này cho thấy mục đích của lưu thông hàng hoá giản đơn là giá trị
sử dụng Vì vậy công thức là có giới hạn, nó kết thúc khi người mua tìm đượcgiá trị sử dụng
Còn công thức lưu thông hàng hoá của tư bản có trình tự ngược lại, mớiđầu là mua và kết thúc ở hành vi bán, thu tiền về Ở đây bắt đầu từ người cótiền, thay vì giữ tiền trong túi anh ta ném nó vào lưu thông, dùng nó mua một
số lượng hàng hoá nhất định Anh ta không hề có ý định sử dụng gì số hànghoá đó cả mà ngay sau đó anh ta bán tất cả chúng đi để lại thu tiền về Hànghoá đóng vai trò trung gian, môi giới Ở đây tiền là điểm xuất phát cũng làđiểm kết thúc của công thức Nhưng tiền thu về lúc sau khác số tiền bỏ ra banđầu Thực vậy, nếu như anh ta chỉ thu về được số tiền đúng bằng cái khoản
mà anh ta bỏ ra thì anh ta dại gì mà bỏ tiền trong túi mình ra để phải chịunhững rủi ro trong lưu thông Cả hai cách anh ta đều chỉ thu được như nhau
mà thôi, và tiền trong túi an toàn hơn nhiều Như vậy là khi ném tiền vào lưuthông anh ta phải thu được một cái gì đó rất có ý nghĩa làm cho anh ta bấtchấp tất cả những rủi ro có thể gặp phải trong lưu thông Vì mục đích lưuthông hàng hóa của tư bản là giá trị, hơn nữa là giá trị tăng thêm Vì vậy, T' =
T + t (t: giá trị mới dôi ra hay giá trị thặng dư) Công thức này không có giớihạn, nhà tư bản luôn mong muốn không ngừng gia tăng số tiền của họ Ở đây,tiền là tư bản Vậy tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư
Rõ ràng ta thấy giá trị thặng dư được tạo ra Nhưng nó được tạo ra từ đâu?Trả lời câu hỏi này dẫn ta tới mâu thuẫn sau:
( b).Mâu thuẫn của công thức chung của tư bản:
Hãy thử đặt câu hỏi lưu thông có tạo ra giá trị và làm tăng giá trị haykhông? Nếu trong lưu thông, ta trao đổi ngang giá thì giá trị riêng của từngngười và tổng giá trị của xã hội không đổi, do đó không có động lực thúc đẩylưu thông hàng hoá Ngược lại nếu trao đổi không ngang giá, mua rẻ, bán đắt
Ta biết rằng mỗi người đều có hai vai trò người mua và người bán Giả sửngười đó bán đắt hơn so với giá trị đã mua thì số tiền anh ta có được từ bán
Trang 5đắt cũng chính là số tiền anh ta mất đi khi mua đắt Nếu anh ta mua đượchàng hoá với giá rẻ hơn giá trị của nó thì số tiền anh ta có nhờ mua rẻ cũngchính là số tiền anh ta mất do phải bán rẻ.Thực chất trong xã hội tổng giá trịkhông thay đổi, chỉ có sự phân phối lại giá trị giữa các cá nhân trong xã hội
mà thôi, hơn nữa, giai cấp tư sản không thể làm giàu trên lưng của giai cấpmình, không thể làm tổn hại và diệt vong chính bản thân giai cấp của mình.Như vậy cả trao đổi ngang giá hay không ngang giá đều không tạo ra giá trịthặng dư hay lưu thông không tạo ra giá trị thặng dư Nhưng ta không thểnói lưu thông không hề có tác dụng gì trong việc tạo ra giá trị thặng dư Vìnếu không có lưu thông thì tiền của nằm trong két, hàng nằm trong kho vàkhông thể có giá trị thặng dư Vậy mâu thuẫn của công thức chung của tư bản
là giá trị thặng dư vừa được tạo ra trong lưu thông vừa không được tạo ratrong lưu thông
Nghiên cứu sâu hơn và chuyển sang lĩnh vực sản xuất, Marx đã kết hợp
cả quá trình sản xuất và lưu thông để tìm xem giá trị thặng dư được sản xuất
từ đâu? Và ông đã tìm ra chìa khoá lí giải nguồn gốc của giá trị thặng dư
( c).Giải quyết mâu thuẫn :
Phát sinh ra giá trị thặng dư hay là sự tăng giá trị của số tiền cần chuyểnhoá thành tư bản không thể xảy ra từ bản thân số tiền ấy, chỉ có thể từ hànghoá được mua vào_một loại hàng hoá đặc biệt Đó là hàng hoá sức lao động
mà nhà tư bản đã phát hiện trong lưu thông và tiêu dùng nó trong sản xuất.Sức lao động chính là toàn bộ năng lực của con người bao gồm cả thể lực vàtrí lực tồn tại trong con người và được người đó sử dụng vào công việc sảnxuất hàng hoá Trong quá trình phát triển của lịch sử, sức lao động chỉ thànhhàng hoá khi có 2 điều kiện sau: Đó là người lao động được tự do về thân thểtức là chế độ chiếm hữu nô lệ phải bị thủ tiêu
Nhưng họ lại không có tư liệu sản xuất để tiến hành sản xuất hàng hoá Vìvậy, họ không còn cách nào khác để sinh sống ngoài việc bán sức lao động
Do đó sức lao động trở thành hàng hoá Chìa khoá chính là ở chỗ hàng hoá
Trang 6sức lao động là một loại hàng hoá đặc biệt, thể hiện ở hai thuộc tính của nó làgiá trị và giá trị sử dụng.
Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động là trong quá trình để sản xuất
ra một hàng hoá, sức lao động được tiêu dùng và tạo ra một giá trị mới lớnhơn giá trị của bản thân nó, tạo ra GTTD_Đây là đặc điểm cơ bản nhất, điểmchốt giải quyết mâu thuẫn Bên cạnh đó hàng hoá sức lao động còn có giá trị,giá trị của nó được quy định bởi thời gian lao động xã hội cần thiết để sảnxuất và tái sản xuất sức lao động Thời gian này được đo bằng thời gian laođộng xã hội cần thiết để sản xuất ra tư liệu sinh hoạt cho người công nhân vàgia đình của anh ta Như vậy giá trị sức lao động bằng giá trị tư liệu sinh hoạtvật chất và tinh thần cần thiết cho người công nhân và gia đình anh ta Nó baogồm cả yếu tố tinh thần và lịch sử Nhà tư bản khi đã mua được hàng hoá sứclao động trong lưu thông rồi sẽ sử dụng nó như thế nào trong sản xuất để tạo
ra giá trị thặng dư?
2.2 Thực chất của sản xuất giá trị thặng dư:
( a).Quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất của hai quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và giá trị thặng dư:
Nghiên cứu quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, C.Marx đã phát hiện ra
sự thống nhất của hai quá trình: Sản xuất ra giá trị sử dụng và sản xuất ra giátrị thặng dư Xét sự thống nhất của hai quá trình là lao động và tạo ra giá trịthì quá trình sản xuất là quá trình sản xuất hàng hoá Còn nếu xét sự thốngnhất của quá trình lao động và quá trình làm tăng giá trị thì quá trình sản xuất
là một quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa Điều này được minh chứng quaquá trình sản xuất sau:
Trong tay nhà tư bản, sức lao động được sử dụng triệt để nhằm phát huyhết khả năng của nó, tạo ra sản phẩm thặng dư cho nhà tư bản càng nhiềucàng tốt Khi mua hàng hoá sức lao động nhà tư bản đã tính toán đến sự khácnhau giữa giá trị sức lao động mà họ phải trả khi mua và giá trị thực tế mà sứclao động đó có thể tạo ra cho họ(giá trị này luôn lớn hơn giá trị mà nhà tư bản
Trang 7đã trả) Nguyên nhân là nhà tư bản đã trả tiền mua sức lao động trong mộtngày làm việc và việc họ sử dụng sức lao động đó như thế nào phụ thuộc vào
họ Trong tay nhà tư bản sức lao động giống như những tư liệu sản xuất khác
và được nhà tư bản sử dụng sao cho có hiệu quả nhất Ta hãy xét một ví dụ cụthể: Giả sử một nhà máy sản xuất giấy Để sản xuất 1kg giấy cần 2kg gỗnguyên liệu có giá 1.700đ Trong một ngày nhà máy sản xuất được 5kg giấytức là cần 10kg gỗ nguyên liệu, hao mòn máy là 3.000đ, giá trị mỗi côngnhân tạo ra trong một giờ lao động là 500đ, tiền thuê lao động một ngày(16giờ) là 4.000đ.Ta có số liệu sau:
Các khoản chi phí sản xuất của nhà máylà:
- Tiền mua gỗ: (=10*1.700) 17.000đ
- Hao mòn máy: 3.000đ
- Tiền mua sức lao động trong 1 ngày: 4.000đ
_
Vậy tổng chi phí sản xuất là: 24.000đ
Khi tính toán giá trị của sản phẩm mới do các bộ phận đầu vào tạo ra,nhà tư bản tính như sau:
- Giá trị của 10kg gỗ được chuyển vào 5kg giấy: 17.000đ
- Giá trị của máy móc chuyển vào 5kg giấy: 3.000đ
- Giá trị sức lao động của công nhân tạo ra trong 16 giờ: 8.000đ
Theo tính toán trên thì tổng giá trị của 5kg giấy thành phẩm là 28.000đ.Như vậy với tổng chi phí mà nhà tư bản đã bỏ ra là 24.000đ họ thu về sảnphẩm mới là 5kg giấy có giá trị 28.000đ, lớn hơn giá trị ứng trước là 4.000đ.Phần giá trị này là phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động mà ngườicông nhân tạo ra trong quá trình lao động của mình bằng lao động trừu tượng.Đây chính là giá trị thặng dư mà Tư Bản thu được qua quá trình sản xuất.Tiền biến thành tư bản
Mâu thuẫn của công thức chung tư bản được giải quyết Chỉ trong lưuthông nhà tư bản mới mua được một hàng hoá đặc biệt là hàng hoá sức lao
Trang 8động Sau đó nhà tư bản sử dụng hàng hoá đó trong sản xuất (ngoài lưuthông) để sản xuất ra giá trị thặng dư cho họ Ta có thể hiểu bản chất của giátrị thặng dư: Là giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân tạo
ra và bị nhà tư bản chiếm không
( b) Thực chất của quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư:
Nghiên cứu quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư ở trên ta thấy sản xuất
ra giá trị thặng dư là quá trình tạo ra giá trị được kéo dài quá cái điểm mà ở
đó giá trị sức lao động của người công nhân do nhà tư bản trả được hoàn lạibằng vật ngang giá mới
Điều này là do ngày lao động của người công nhân được chia thành haiphần Phần lao động mà người công nhân tạo ra với một lượng giá trị bằng giátrị sức lao động của mình được gọi là thời gian lao động cần thiết Trong ví dụtrên thời gian lao động cần thiết của người công nhân là 8 giờ Tuy nhiêntrong thực tế người công nhân phải lao động nhiều hơn số thời gian trên, tức
là vượt quá thời gian lao động cần thiết Phần thời gian còn lại của ngày laođộng sau khi đã trừ đi thời gian lao động cần thiết được gọi là thời gian laođộng thặng dư Chính thời gian lao động thặng dư của người công nhân đãtạo ra giá trị thặng dư _ cái mà mục đích sản xuất của nhà tư bản hướng vào,
là giá trị mà nhà tư bản muốn chiếm không của người công nhân Hiện tượngnày xảy ra là do nhà tư bản có trong tay lượng tư bản nhất định, do đó họ sởhữu tư liệu sản xuất và như C.Marx nói: họ chi phối được một số lượng laođộng không công nhất định của người khác Sau khi đã mua hàng hoá sức laođộng họ sử dụng nó như các tư liệu sản xuất khác, tức là sao cho có lợi nhấtcho họ, tạo ra nhiều giá trị thặng dư nhất Ở ví dụ trên 8 giờ lao động còn lạitrong ngày chính là thời gian lao động thặng dư và đã tạo ra giá trị thặng dư là4.000đ Giá trị của sản phẩm sản xuất ra có hai phần: Phần giá trị cũ do laođộng cụ thể của người công nhân tạo ra và phần giá trị mới (gồm giá trị sứclao động và giá trị thặng dư) do lao động trừu tượng của người công nhân tạora
Trang 9Như vậy không thể tách biệt nghiên cứu quá trình sản xuất ra giá trị sửdụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư Chúng thống nhất trong quátrình sản xuất tư bản chủ nghĩa Vì vậy nên nhiều khi nội dung đích thực củaquá trình sản xuất giá trị thặng dư bị lu mờ.
Quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư thông qua việc sử dụng tư bản củanhà tư bản Trong sản xuất nhà tư bản phải ứng trước ra một số tư bản nhấtđịnh để mua tư liệu sản xuất và sức lao động Quá trình sản xuất tạo ra sảnphẩm mới thì mỗi nhân tố của đầu vào có một phương thức chu chuyển giá trịcủa nó vào sản phẩm mới là khác nhau, trong quá trình chu chuyển đó có thểgiá trị của nó không tăng lên, có thể giá trị của nó tăng lê Tuỳ thuộc vào tínhchất chu chuyển giá trị của loại tư bản bỏ ra ban đầu mà C.Marx chia tư bản
ra làm hai bộ phận là tư bản bất biến và tư bản khả biến Các khái niệm đượchiểu như sau:
Tư bản bất biến (kí hiệu là C) là bộ phận tư bản biến thành tư liệu sảnxuất mà giá trị được bảo tồn và chuyển vào sản phẩm , tức là giá trị khôngbiến đổi về lượng trong quá trình sản xuất
Bộ phận tư bản này được dùng mua tư liệu sản xuất là nhà xưởng, máymóc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu Trong quá trình sản xuất, các công trìnhxây dựng nhà xưởng, thiết bị máy móc đó được sử dụng trong nhiều chu kì,nhiều năm nên giá trị của nó chuyển dần từng phần vào sản phẩm mới Tuỳtheo mức độ và tính chất hao mòn mà quá trình trên diễn ra lâu hay nhanhchóng Còn tư liệu sản xuất là nguyên nhiên vật liệu thì giá trị của chúng đượcchuyển nguyên vẹn vào sản phẩm mới trong một chu kì sản xuất Dù chuyểnmột lần hay dần dần vào sản phẩm thì các bộ phận trên có đặc điểm chung làgiá trị không mất đi, không lớn lên mà được bảo tồn, chuyển nguyên vẹn vàosản phẩm mới Vì vậy nó được C.Marx gọi là bộ phận tư bản bất biến
Còn bộ phận tư bản khả biến (kí hiệu là V) là bộ phận tư bản biến thànhsức lao động không tái hiện ra nhưng thông qua lao động trừu tượng củangười công nhân làm thuê mà tăng lên, tức là biến đổi về lượng Người công
Trang 10nhân trong quá trình lao động sản xuất cho nhà tư bản xét về mặt lao độngtrừu tượng đã tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động của bản thânmình Vì vậy bộ phận tư bản mà nhà tư bản ứng ra để mua hàng hoá sức laođộng là tư bản khả biến
Sự phân chia tư bản bất biến và tư bản khả biến một cách rõ ràng đãcho thấy vai trò của từng loại: Tư bản bất biến là điều kiện cần thiết không thểthiếu để sản xuất ra giá trị thặng dư, còn tư bản khả biến có vai trò quyết địnhtrong quá trình đó vì nó chính là bộ phận tư bản đã lớn lên Tư bản khả biến(chuyển hoá thành sức lao động làm thuê) chính là nguồn gốc duy nhất tạo ragiá trị thặng dư Như vậy giá trị hàng hoá được biểu hiện một cách đầy đủnhư sau:
H = C + V + m
Từ phân tích ta rút ra định nghĩa về tư bản: Tư bản là giá trị mang lại giátrị thặng dư bằng cách bóc lột công nhân làm thuê Nó là quan hệ xã hội -quan hệ bóc lột giữa nhà tư bản và người công nhân Quá trình sản xuất ra giátrị thặng dư cho thấy nguồn gốc, bản chất của nó và cho thấy bản chất bóc lộtcủa chủ nghĩa tư bản
2.3 Kết luận:
Như vậy, mặt chất của giá trị thặng dư chính là giá trị mới dôi ra ngoàigiá trị sức lao động do công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không Giá trịthặng dư là kết quả của quá trình sử dụng lao động làm thuê của người côngnhân vượt quá thời gian lao động cần thiết, trong thời gian lao động thặng dư
để làm tăng thêm giá trị Đó là kết quả của quá trình kết hợp chặt chẽ, hợp lýhai yếu tố tư bản: tư bản bất biến C và tư bản khả biến V
3 Mặt lượng của giá trị thặng dư:
Nếu như mặt chất của giá trị thặng dư phản ánh bản chất bóc lột củachủ nghĩa tư bản thì mặt lượng của giá trị thặng dư sẽ phản ánh mức độ của
sự bóc lột ấy Mặt lượng được biểu hiện thông qua hai phạm trù là tỷ suất giátrị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư
Trang 113.1 Tỷ suất giá trị thặng dư:
Tỉ suất giá trị thặng dư là tỉ số tính theo % giữa giá trị thặng dư m và tư bản khả biến v cần để sản xuất ra giá trị thặng dư đó, tức là tỉ số theo đó tư bản khả biến tăng thêm giá trị C.Marx ký hiệu tỷ xuất giá trị thặng dư là m', công thức tính:
m'=(m/v) *100%
Tỷ suất giá trị thặng dư phản ánh trình độ bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân: Trình độ cao hay thấp (hay giá trị thặng dư nhà tư bản chiếm được từ lao động của công nhân nhiều hay ít) được biểu hiện qua tỷ lệ % của m' Nó chỉ rõ trong tổng thể giá trị mới do sức lao động tạo ra công nhân được hưởng bao nhiêu và nhà tư bản chiếm bao nhiêu Tỷ suất giá trị thặng dư cũng chỉ rõ trong một ngày lao động phần thời gian lao động thặng dư t' mà công nhân làm cho nhà Tư Bản bằng bao nhiêu phần trăm so với phần thời gian lao động tất yếu t mà họ làm cho mình Vì vậy tỉ suất giá trị thặng dư còn được tính bằng công thức:
m'=(t/t')*100%
Dưới góc độ kinh tế m' nói lên hiệu quả sử dụng lao động sống Nếu m'=100% nghĩa là nhà tư bản bỏ ra v đồng để trả lương cho công nhân thì thu được giá trị thặng dư m=v (đồng) Xu hướng phát triển là nhà tư bản không ngừng gia tăng m' hay nâng cao trình độ bóc lột Một ví dụ về tỉ suất giá trị thặng dư bình quân trong các ngành công nghiệp Mĩ tăng lên như sau:
Năm Tỷ suất giá trị thặng dư trung bình
1955 129%
1960 306,3% 1963 351%
1970 400%
1980 465%
những năm 80 500%
Trang 12Như vậy, tỷ suất giá trị thặng dư phản ánh trình độ bóc lột của nhà tưbản Tuy nhiên nó không biểu hiện lượng tuyệt đối của sự bóc lột ấy màchúng ta phải nghiên cứu một khái niệm thứ hai đó là khối lượng giá trị thặngdư.
3.2 Khối lượng giá trị thặng dư:
Khối lượng giá trị thặng dư là tích số giữa tỷ suất giá trị thặng dư và tổng tư bản khả biến V đã được sử dụng, ký hiệu là M Công thức tính:
M=m'*V Khối lượng giá trị thặng dư phản ánh quy mô của sự bóc lột Nó chothấy số lượng giá trị thặng dư mà nhà tư bản thu được trong một thời gian sảnxuất nhất định Trong công thức tính khối lượng giá trị thặng dư thì m/v phảnánh quy mô bóc lột theo chiều sâu, v là lượng xác định vì tiền công của côngnhân là không đổi tính trong khoảng thời gian ngắn và các điều kiện nhấtđịnh Còn V là tổng tư bản khả biến, đại biểu cho tổng số công nhân được sửdụng Nó phản ánh quy mô bóc lột theo chiều rộng
Khối lượng giá trị thặng dư phụ thuộc vào tỉ suất giá trị thặng dư m' vàtổng tư bản khả biến V hay khối lượng giá trị thặng dư phụ thuộc vào thờigian và cường độ lao động của mỗi công nhân, phụ thuộc vào số lượng côngnhân mà nhà tư bản đã sử dụng Cùng với sự phát triển củachủ nghĩa tư bản,khối lượng giá trị thặng dư không ngừng được gia tăng Vì mục đích của cácnhà tư bản là lợi nhuận, sản xuất ra càng nhiều giá trị thặng dư càng tốt nêntoàn bộ hoạt động của họ đều hướng tới việc tăng cường tạo ra giá trị thặng
dư Các phương pháp được sử dụng là sản xuất ra giá trị thặng dư tuyệt đối,tương đối và siêu ngạch
Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là phương pháp trong đógiá trị thặng dư được tạo ra bằng cách kéo dài ngày lao động và điều kiện thờigian lao động cần thiết không thay đổi Phương pháp này được áp dụng tronggiai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, khi kĩ thuật còn thấp, tiến bộ chậm chạp
Trang 13Ví dụ ngày lao động là 10h, 5h là thời gian lao động cần thiết, 5h là thờigian lao động thặng dư Do đó, tỷ suất giá trị thặng dư là m'=(5/5)* 100 =100% Nhưng giả định ngày lao động kéo dài thêm 2h trong điều kiện thờigian lao động cần thiết không đổi Như vậy thời gian lao động thặng dư là 7h.
Tỷ suất giá trị thặng dư là m'=(7/5)*100 = 240% Như vậy tỷ suất giá trị thặng
dư tăng lên, giá trị thặng dư cũng tăng lên hay trình độ bóc lột công nhâncũng tăng lên
Với sự thèm khát giá trị thặng dư, nhà tư bản tìm mọi cách kéo dài ngàycông lao động Nhưng điều này lại bị hạn chế bởi thể chất và tinh thần củangười lao động Trước đây ngày lao động của công nhân kéo dài 16h, do côngcuộc đấu tranh của giai cấp công nhân toàn thế giới ngày nay các nước tư bảnchủ nghĩa chế độ ngày làm 8h đã được thực hiện Tăng cường độ lao độngcũng là một cách tăng giá trị thặng dư giống như kéo dài thời gian lao độngtrong ngày và được áp dụng thay thế
Phương pháp thứ hai là sản xuất giá trị thặng dư tương đối Giá trị thặng
dư tương đối được tạo ra bằng cách rút ngắn thời gian lao động cần thiết trongđiều kiện độ dài ngày lao động không đổi, nhờ đó kéo dài tương ứng thời gianlao động thặng dư Xuất phát từ việc kéo dài ngày lao động bị giới hạn về thểchất và tinh thần của người lao động, vấp phải sự phản kháng ngày càngmạnh của giai cấp công nhân cộng thêm sự phát triển sản xuất bằng cơ khí, kĩthuật tăng cao làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng.Nhà tư bảndựa vào tăng năng suất lao động để tăng lượng giá trị thặng dư, nâng cao trình
độ bóc lột
Ví dụ ngày lao động 8h được chia làm hai phần: 4h lao động cần thiết và4h lao động thặng dư Khi đó tỷ suất giá trị thặng dư là m'=(4/4)*100=100%.Giả thiết công nhân chỉ cần lao động 3h để tạo ra giá trị bằng giá trị sức laođộng của mình Như vậy ngày lao động được chia thành 3 giờ lao động cầnthiết và 5 giờ lao động thặng dư.Tỷ suất giá trị thặng dư làm'=(5/3)*100=166%.Ví dụ trên cho thấy tỷ suất giá trị thặng dư đã tăng lên
Trang 14tức là lượng giá trị thặng dư tăng lên Để giảm thời gian lao động cần thiếtphải giảm giá trị sức lao động bằng cách giảm giá tư liệu sản xuất và tư liệusinh hoạt _ tức là phải tăng năng suất lao động xã hội Phương pháp này được
áp dụng khi trình độ kĩ thuật của chủ nghĩa tư bản đã tương đối phát triển Lịch sử phát triển của lực lượng sản xuất và năng suất lao động dướichủ nghĩa tư bản trải qua ba giai đoạn: hiệp tác giản đơn, công trường thủcông và đại cơ khí Nhà tư bản đã sử dụng cả hai phương pháp trên để nângcao trình độ bóc lột công nhân làm thuê trong các giai đoạn phát triển của chủnghĩa tư bản
Phương pháp thứ ba được sử dụng là phương pháp sản xuất giá trị thặng
dư siêu ngạch Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư phụ thêmxuất hiện khi giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội
Nguyên nhân là do có sự cạnh tranh giũa các nhà tư bản buộc họ phải cốgắng tăng năng suất lao động cá biệt trong xí nghiệp của mình để giảm giá trị
cá biệt của hàng hoá ở xí nghiệp của họ so với giá trị xã hội của hàng hoá Vànhà tư bản chiếm phần chênh lệch giữa giá trị xã hội và giá trị cá biệt chừngnào mà năng suất lao động xã hội còn chưa tăng lên để số chênh lệch đókhông còn nữa
Giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối đều có cơ sởchung là dựa trên tăng năng suất lao động Nhưng giá trị thặng dư tương đốidựa trên tăng năng suất lao động xã hội, toàn bộ giai cấp tư sản đều thu được
Nó biểu hiện sự tiến bộ kĩ thuật của chủ nghĩa tư bản được áp dụng rộng rãi.Quan hệ kinh tế chủ yếu là quan hệ giữa nhà tư bản và người công nhân làmthuê Còn giá trị thặng dư siêu ngạch dựa trên tăng năng suất lao động cá biệt,chỉ có ở một hay một số nhà tư bản mà thôi chứ không phải là toàn bộ giaicấp tư sản Sở dĩ chỉ có một số nhà tư bản có giá trị thặng dư siêu ngạch lànhờ vào ưu thế kĩ thuật của riêng nhà tư bản đó Nó là hình thái biến tướngcủa giá trị thặng dư tương đối và được thay bằng giá trị thặng dư tương đốikhi trình độ kĩ thuật mới từ trường hợp áp dụng cá biệt trở thành được áp
Trang 15dụng phổ biến Nó biểu hiện không chỉ quan hệ giữa nhà tư bản với giai cấpcông nhân mà còn có cả quan hệ giữa các nhà tư bản với nhau.
Tuy nhiên giá trị thặng dư siêu ngạch là mục đích trực tiếp của cạnhtranh mà mỗi nhà tư bản cố gắng đạt tới trong cuộc cạnh tranh với các nhà tưbản khác Nó là động lực trực tiếp và mạnh mẽ nhất thúc đẩy các nhà tư bảncải tiến kĩ thuật, hoàn thiện tổ chức sản xuất và tổ chức lao động để tăng năngsuất lao động, giảm giá trị hàng hoá
Càng ngày trình độ bóc lột của nhà tư bản càng được nâng cao Họ sửdụng sao cho có hiệu quả nhất tất cả các nhân tố của quá trình sản xuất màtrước hết là sức lao động để làm tăng giá trị thặng dư, thu được nhiều lợinhuận C.Marx đã chỉ rõ mức lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận cao chính là mụcđích trực tiếp, là động lực của nền sản xuất hàng hoá tư bản(mà ngày nay lợinhuận còn là động lực trong kinh tế thị trường) C.Marx đã trích câu nói củaĐun-nhin: lợi nhuận thích đáng thì nhà tư bản trở nên can đảm Tỷ suất lợinhuận nếu đạt 10% thì các nhà tư bản đã hăng máu lên; 20% thì nhà tư bản cóthể dùng tư bản ở khắp nơi; 50% thì nhà tư bản sẽ táo bạo không biết sợ là gì;100% thì họ có thể trà đạp lên luật lệ của loài người và 300% thì dù có bị treo
cổ cũng không sợ
3.4 Kết luận mặt lượng của giá trị thặng dư:
Như vậy mặt lượng của giá trị thặng dư bao gồm tỷ suất giá trị thặng dư
và khối lượng giá trị đã cho thấy các nhân tố tác động tới giá trị thặng dư vàbiện pháp mà nhà tư bản sử dụng để tăng lượng giá trị thặng dư
4 Kết luận chung về giá trị thặng dư:
Việc nghiên cứu đầy đủ mặt chất, mặt lượng của giá trị thặng dư đã chỉ
rõ quy luật giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản
vì nó phản ánh bản chất bóc lột của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa,
nó giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống các quy luật kinh tế hoạt động trong nềnsản xuất tư bản chủ nghĩa Tất cả các quy luật khác như quy luật cung cầu,
Trang 16quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh đều xoay quanh quy luật trung tâm làquy luật giá trị thặng dư Nó là cơ sở tồn tại, phát triển và diệt vong của chủnghĩa tư bản Nội dung của quy luật là sản xuất ngày càng nhiều giá trị thặng
dư cho tư bản Vì mục đích trực tiếp của sản xuất tư bản chủ nghĩa khôngphải là sản xuất giá trị sử dụng mà là giá trị thặng dư, là nhân giá trị lên.C.Marx đã nói :'' Mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm giàu, là nhângiá trị lên, làm tăng giá trị, do đó bảo tồn giá trị trước kia và tạo ra giá trịthăng dư Như vậy sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa cho nhà tư bản bằng tăng
số lượng lao động làm thuê và tăng mức bóc lột họ là nội dung của quy luậtkinh tế cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Quy luật giá trịthặng dư quyết định tới mọi mặt của xã hội tư bản: sự phát sinh, phát triển củachủ nghĩa tư bản và sự thay thế nó bằng xã hội khác cao hơn là quy luật vậnđộng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Nguyên do là ảnh hưởng haimặt của quy luật giá trị thặng dư như sau:
Tác dụng tích cực của quy luật giá trị thặng dư là thúc đẩy kĩ thuật vàphân công lao động xã hội phát triển Các nhà tư bản luôn luôn tìm cách cảitiến kĩ thuật, ứng dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật hiện đại nhất làm cholực lượng sản xuất trong xã hội tư bản chủ nghĩa phát triển với tốc độ nhanhchóng Cùng với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, máy móc hiện đại,công nghệ tiến bộ được sử dụng rộng rãi nên khối lượng giá trị thặng dư đượctạo ra chủ yếu do tăng năng suất lao động Việc tăng năng suất lao động cóđặc điểm là chi phí lao động sống trong một đơn vị sản phẩm giảm vì bị máymóc hiện đại thay thế; đồng thời cũng làm giảm một cách tuyệt đối chi phí laođộng quá khứ trong một đơn vị sản phẩm Nó cũng gây ra sự biến đổi lớntrong cơ cấu lao động xã hội ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển: do cơ sởcông nghệ mới, sản xuất phát triển theo chiều sâu, lao động phức tạp tăng lên
và thay thế lao động giản đơn khiến nhân cách sáng tạo của lao động làm thuêđược chú trọng Lao động trí óc, lao động có trình độ kĩ thuật cao ngày càng
Trang 17có vai trò quyết định trong việc sản xuất giá trị thặng dư Chính tầng lớp côngnhân này đem lại tỷ suất giá trị thặng dư tăng lên cho các nhà tư bản.
Tuy nhiên sản xuất giá trị thặng dư chính là nguyên nhân của mâu thuẫnđối kháng trong xã hội tư bản Để sản xuất ra giá trị thặng dư, nhà tư bảnkhông ngừng tăng cường bóc lột công nhân làm thuê bằng cưỡng bức kinh tế
kỉ luật đói rét dựa trên cơ sở mở rộng sản xuất, phát triển kĩ thuật đẻ tăngnăng suất lao động, tăng cường độ lao động và kéo dài thời gian lao động.Mối quan hệ nhà tư bản_người lao động là mối quan hệ cơ bản, sâu sắc nhất,ảnh hưởng tới mọi quan hệ sản xuất của xã hội Đó là quan hệ: phần giá trị dolao động của công nhân làm thuê sáng tạo ra ngoài giá trị sức lao động bị nhà
tư bản chiếm không Giá trị thặng dư này là nguồn gốc làm giàu của giai cấp
tư bản, sản xuất giá trị thăng dư là cơ sở tồn tại của chủ nghĩa tư bản Do tối
đa hoá giá trị thặng dư làm quan hệ này trở nên gay gắt, dẫn đến mâu thuẫnđối kháng Sự tác động của quy luật giá trị thặng dư làm mâu thuẫn cơ bản tưsản_công nhân và tất cả mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản càng sâu sắc Vì vậy,nhà tư bản phải điều chỉnh để thích nghi Ngày nay sự bóc lột mở rộng raphạm vi quốc tế: xuất khẩu tư bản và hàng hoá, trao đổi ngang giá dẫn đếnviệc bòn rút siêu lợi nhuận từ các nước kém phát triển hơn làm cho sự cáchbiệt giàu-nghèo tăng lên, bản chất mâu thuẫn nổi bật trong thời đại hiện nay
Sự bòn rút chất xám, huỷ hoại môi sinh, phá hoại cội rễ đời sống văn hoá xãhội…là những tác hại gián tiếp của quy luật giá trị thặng dư
B ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu quy luật giá trị thặng dư trong quản
lý các doanh nghiệp nước ta hiện nay khi chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:
1 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:
1.1 Điều kiện nước ta:
Quy luật giá trị thặng dư đã phát huy vai trò to lớn của nó, đem lạinhững tiến bộ vượt bậc và thành tựu đáng kinh ngạc cho chủ nghĩa tư bản.Nước ta nói riêng và các nước xã hội chủ nghĩa nói chung đang nỗ lực không
Trang 18ngừng trên con đường của mình để xây dựng chủ nghĩa xã hội trên thế giới.Riêng với nước ta, chúng ta đang trong giai đoạn quá độ lên xã hội chủ nghĩa
từ chế độ phong kiến, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa Vì vậy, xuất phátđiểm là một nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu, chủ yếu là dựa vào nông nghiệp.Yêu cầu đặt ra là phải từng bước xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho chủnghĩa xã hội Vì vậy, chúng ta phải học tập những thành tựu mà chủ nghĩa tưbản đã đạt được, trong đó quan tâm đặc biệt đến quy luật kinh tế cơ bản của
nó là quy luật giá trị thặng dư, sửa chữa quan niệm sai lầm trước kia xây dựngnền kinh tế tự cấp khép kín, kế hoạch hoá tập trung Ngày nay chúng ta thựchiện chính sách kinh tế mới: chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa Vậy nên hiểu như thế nào cho đúng?
1.2 Hiểu kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:
Thuật ngữ được sử dụng là kinh tế hàng hóa: nền kinh tế hàng hóa là mộtnền kinh tế mà trong đó hầu hết các quan hệ kinh tế được thực hiện trên thịtrường dưới hình thái hàng hoá Chúng ta đã xoá bỏ chế độ bao cấp, temphiếu Ngày nay, quan hệ trên thị trường Việt Nam là quan hệ trao đổi hànghoá-tiền tệ iệt Nam đã mở cửa nền kinh tế, cho phép cơ chế thị trường hoạtđộng Cơ chế thị trường là những nhân tố, biện pháp, quan hệ, công cụ mànhà nước sử dụng để tác động đến nền kinh tế thị trường để nó vận động theonhững quy luật vốn có của nó nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế xã hộitrong từng thời kì nhất định Trong cơ chế thị trường mọi quan hệ kinh tế đềuđược tiền tệ hoá Trước đây, sự hoạt động của nền kinh tế chịu sự quản lí,điều tiết của nhà nước từ vĩ mô đến vi mô, nhiều chính sách không phù hợpvới quy luật vận động của nền kinh tế đã làm cho kinh tế trì trệ, chậm pháttriển Công nhận cơ chế thị trường và ủng hộ cho kinh tế phát triển tự do theonhững quy luật vốn có của nó thì mới có thể phát triển được kinh tế
Tuy nhiên, nếu để cơ chế thị trường tự do hoạt động thì sẽ làm chệchhướng phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta vì cơ chế này bên cạnhtính ưu việt của nó thì còn nhiều hạn chế gây ảnh hưởng xấu Phương châm