1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá công tác thu gom và xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện tràng định, tỉnh lạng sơn, giai đoạn 2011 2013

79 210 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 535,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được sự phân công của khoa Môi Trường – Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, và sự đồng ý của thầy giáo hướng dẫn Th.S Nguyễn Minh Cảnh, em đã tiến hành thực hiện đề tài: “ Đánh giá cô

Trang 1

LA VĂN NGỌC

Tên đề tài:

“ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC THU GOM VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y

TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG

SƠN, GIAI ĐOẠN 2011 - 2013”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : Khoa học môi trường

Khóa học : 2010 – 2014

Người hướng dẫn : TH.S Nguyễn Minh Cảnh

Thái Nguyên, năm 2014

Trang 2

Được sự phân công của khoa Môi Trường – Trường Đại Học Nông

Lâm Thái Nguyên, và sự đồng ý của thầy giáo hướng dẫn Th.S Nguyễn Minh Cảnh, em đã tiến hành thực hiện đề tài:

“ Đánh giá công tác thu gom và xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện

đa khoa huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, giai đoạn 2011- 2013”

Sau một thời gian nghiên cứu và thực tập tốt nghiệp, khóa luận của em

đã hoàn thành

Để hoàn thành khóa luận khóa luận này Em xin chân thành cảm ơn thầy cô giáo trong Khoa Môi Trường đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và rèn luyện ở Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên

Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn Th.S Nguyễn Minh Cảnh đã tận tình, chu đáo hướng dẫn tôi thực hiện khóa luận này

Em xin cảm ơn các bác, các chú, các anh chị của Phòng Tài Nguyên và Môi Trường huyện Tràng Định đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực tập để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Song do buổi đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp cận với thực tế sản xuất cũng như hạn chế kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những sai sót nhất định mà bản thân chưa thấy được Em rất mong được sự góp ý của quý thầy, cô giáo và các bạn để khóa luận được hoàn chỉnh hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 17 tháng 8 năm 2014

Sinh viên

La Văn Ngọc

Trang 3

BTNMT Bộ Tài Nguyên Môi trường

(nhu cầu oxy sinh hoá)

(nhu cầu oxy hóa học)

HIV Virus gây hội chứng suy giảm miễn dịch

Trang 4

Bảng 2.1: Lượng chất thải y tế phát sinh tại các bệnh viện và các khoa trong

bệnh viện tại Việt Nam 11

Bảng 2.2: Thành phần chất thải rắn bệnh viện ở Việt Nam 12

Bảng 2.3: Một số loại bệnh có nguy cơ lây nhiễm từ chất thải y tế 16

Bảng 2.4: Các bệnh và tỷ lệ nguy cơ lây bệnh 17

Bảng 2.5: Số giường bệnh năm 2008 phân theo huyện/ thành phố thuộc tỉnh Lạng Sơn 23

Bảng 4.1: Cơ cấu dân tộc năm 2011 của huyện Tràng Định 33

Bảng 4.2: Phân bố diện tích trong bệnh viện 35

Bảng 4.3: Số liệu khám, chữa bệnh của Bệnh viện đa khoa 37

huyện Tràng Định năm 2013 37

Bảng 4.4: Tình hình cán bộ, công chức – viên chức của bệnh viện (tính đến tháng 1/2013) 38

Bảng 4.5: Lượng CTR từ năm 2011 – 2013 tại bệnh viện 41

Bảng 4.6: Lượng CTR bình quân từ năm 2011- 2013 tại bệnh viện 41

Bảng 4.7 : Thực trạng công tác phân loại chất thải rắn tại BVĐK 45

Bảng 4.8: Công cụ thu gom chất thải rắn tại BVĐK huyện Tràng Định 46

Bảng 4.9: Công tác thu gom chất thải rắn y tế ở BVĐK huyện Tràng Định 46

Bảng 4.10 : Nhân lực trong công tác thu gom CTRYT tại BVĐK huyện Tràng Định 47

Bảng 4.11 : Thực trạng công tác vận chuyển chất thải rắn y tế tại BVĐK huyện Tràng Định 48

Bảng 4.12: Phương tiện vận chuyển chất thải rắn y tế tại BVĐK huyện Tràng Định 48

Bảng 4.13 : Phương tiện lưu giữ chất thải 49

Trang 5

Bảng 4.16 : Khối lượng các loại CTYT trong một lần đốt của lò đốt Mediburner 08-20W 53 Bảng 4.17: Hiểu biết của cán bộ, nhân viên y tế về quy chế quản lý chất thải y tế 54 Bảng 4.18: Hiểu biết màu sắc dụng cụ đựng chất thải y tế 55 Bảng 4.19: Hiểu biết và nhận thức của nhân viên về quản lý rác thải y tế 56 Bảng 4.20 : Hiểu biết về công tác quản lý chất thải của bệnh viện 58

Trang 6

Hình 4.1: Vị trí địa lý huyện Tràng Định – Lạng Sơn 28

Hình 4.2: Lượng CTRYT của bệnh viện từ năm 2011- 2013 42

Hình 4.3: Sơ đồ quản lý rác thải tại bệnh viện đa khoa Tràng Định 49

Hình 4.4: Hiểu biết của nhân viên về quy chế quản lý chất thải y tế 60

Hình 4.5: Tỷ lệ hiểu biết mã màu sắc dụng cụ đựng chất thải 56

Hình 4.6: Sơ đồ hệ thống quản lý môi trường 60

Trang 7

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích, mục tiêu, yêu cầu 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Mục tiêu 3

1.2.3 Yêu cầu 3

1.3 Ý nghĩa của đề tài 3

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 4

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

2.1 Cơ sở lý luận 5

2.1.1 Công tác thu gom, lưu giữ và vận chuyển chất thải rắn y tế 5

2.1.2 Công tác xử lý chất thải rắn y tế 6

2.1.3 Bệnh viện đa khoa huyện Tràng Định - Lạng Sơn 7

2.2 Cơ sở khoa học của đề tài 7

2.2.1 Tổng quan về chất thải rắn y tế 7

2.2.1.1 Các định nghĩa về chất thải y tế 7

2.2.1.2 Phân loại chất thải rắn y tế 8

2.2.1.4 Thành phần của chất thải rắn y tế 11

2.2.1.5 Một số phương pháp xử lý chất thải rắn y tế 13

2.2.2 Tác động của chất thải rắn y tế tới môi trường và sức khỏe cộng đồng 14 2.2.2.1 Đối với môi trường 14

2.2.2.2 Đối với sức khỏe cộng đồng 15

2.2.3 Căn cứ pháp lý 18

2.3 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế 19

Trang 8

2.3.3 Tình hình công tác quản lý chất thải rắn y tế trên địa bàn huyện Tràng

Định 24

CHƯƠNG 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 25

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 25

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 25

3.2.1 Địa điểm tiến hành nghiên cứu 25

3.2.2 thời gian tiến hành nghiên cứu 25

3.3 Nội dung nghiên cứu 25

3.4 Phương pháp nghiên cứu 26

3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu sơ cấp 26

3.4.2 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp 27

3.4.3 Phương pháp phân tích quản lý số liệu 27

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện tràng định – Lạng Sơn 28

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 28

4.1.1.1 Vị trí địa lý 28

4.1.1.2 Khí hậu thời tiết 29

4.1.1.3 Địa hình, địa mạo 29

4.1.1.4 Thủy văn 29

4.1.1.5 Các nguồn tài nguyên của huyện Tràng Định 30

4.1.1.6 Thực trạng môi trường sinh thái của huyện Tràng Định 30

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 31

Trang 9

4.1.2.3 Dân số và lao động 33

4.1.2.5 Văn hóa –Giáo dục 33

4.2 Tình hình hoạt động của bệnh viện đa khoa huyện tràng định – Lạng Sơn 34 4.2.1 Thông tin chung 34

4.2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của bệnh viện đa khoa huyện Tràng Định 34

4.2.1.2 Vị trí, diện tích và khu vực xung quanh 35

4.2.1.3 Quy mô bệnh viện 35

4.2.1.4 chức năng và nhiệm vụ 36

4.2.1.5 Đánh giá môi trường, đăng kí và xin phép 36

4.2.2 Kết quả hoạt động của bệnh viện 37

4.2.3 Cơ cấu tổ chức 37

4.2.4 Số lượng cán bộ công nhân viên 38

4.3 Điều tra, đánh giá thực trạng công tác thu gom và xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện tràng định - Lạng Sơn 39

4.3.1 Các nguồn phát sinh và khối lượng chất thải 39

4.3.1.1 Các nguồn phát sinh 40

4.3.1.2 Khối lượng chất thải 40

4.3.2 Công tác bảo vệ môi trường 42

4.3.3 Công tác quản lý, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải 43

4.3.3.1 Sơ đồ quản lý rác thải tại bệnh viện đa khoa huyện Tràng Định 43

4.3.3.3 Hệ thống xử lý và tiêu hủy chất thải 50

4.4 Hiểu biết của cán bộ nhân viên, bệnh nhân vê tình hình quản lý rác thải y tế của bệnh viện 54

4.4.1 Đối với cán bộ nhân viên bệnh viện 54

Trang 10

chuyển và xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện tràng định –

Lạng Sơn 58

4.5.1 Thuận lợi 58

4.5.2 Khó khăn 59

4.6 Đề xuất các giải pháp khắc phục và nâng cao công tác quản lý và xử lý chất thải y tế tại bệnh viện đa khoa huyện tràng định 59

4.6.1 Xây dựng hệ thống quản lý môi trường tại bệnh viện 59

4.6.2 Nâng cao hoạt động bảo vệ môi trường tại bệnh viện 61

4.6.2.1 Hệ thống hành chính 61

4.6.2.2 Kiểm soát ô nhiễm do chất thải 61

4.6.2.3 Tăng cường pháp chế đối với các trường hợp vi phạm 61

4.6.2.4 Nâng cao năng lực tổ chức 62

4.6.3 Cải thiện công tác phân loại, thu gom, lưu giữ và vận chuyển chất thải rắn y tế tại bệnh viện 62

4.6.4 Giải pháp cho hoạt động xử lý chất thải 64

4.6.5 Các giải pháp khác 64

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66

5.1 Kết luận 66

5.2 Kiến nghị 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

Trang 11

CHƯƠNG 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Nhiệm vụ bảo vệ mổi trường luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội từ năm 2011 – 2020 (Tại đại hội đảng XXI năm 2011) đã đề ra mục tiêu đó là phát triển sự nghiệp y tế, nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Tập trung phát triển

hệ thống chăm sóc sức khỏe và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư đồng thời đẩy mạnh công tác xã hội hóa để phát triển nhanh hệ thống y tế

Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, hệ thống y tế đặc biệt là các bệnh viện đã thải ra môi trường một lượng lớn các chất thải nguy hại Chất thải y tế nguy hại chủ yếu là các chất nhiễm khuẩn, các hóa chất và dược phẩm nguy hiểm, chất phóng xạ, chất lây nhiễm, chất độc phát sinh trong quá trình chuẩn đoán và khám chữa bệnh, đó là những yếu tố gây ô nhiễm môi trường, lan truyền từ bệnh viện tới các vùng xung quanh Vì vậy phải quản lý chất thải nguy hại phát sinh từ các cơ sở y tế một cách an toàn và hợp lý

Trước nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân ngày càng cao và thực trạng ô nhiễm môi trường do rác thải y tế gây ra ngày càng bức xúc thì việc trang bị cho các bệnh viện, trạm y tế các trang thiết bị để thu gom, xử lý rác thải y tế và các kỹ năng kiến thức về quản lý chất thải rắn y tế là nhu cầu cấp bách ở tất các bệnh viện, cơ sở y tế hiện nay

Xuất phát từ những mối nguy hại trực tiếp hoặc tiềm ẩn của chất thải y tế gây ra đối với môi trường và con người, cần có những biện pháp hữu hiệu để nâng cao nhận thức của cộng đồng nói chung và nhân viên y tế nói riêng về những nguy cơ đó, nâng cao năng lực tổ chức, trách nhiệm và từng bước hoàn

Trang 12

thiện hệ thống quản lý chất thải cũng như nâng cao chất lượng cảnh quan vệ sinh cho bệnh viện

Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả công tác thu gom, quản lý chất thải rắn y

tế tại các bệnh viện và cơ sở y tế cần cụ thể hơn, kết hợp với quá trình giám sát thực tế giúp tìm hiểu những thiếu sót còn tồn tại trong công tác thu gom và quản lý hiện nay của bệnh viện, góp phần làm tăng hiểu biết và nâng cao ý thức cũng như chất lượng điều trị Từ đó, nâng cao chất lượng quản lý chất thải y tế tại các cơ sở y tế và bệnh viện

Xuất phát từ những yêu cầu thực tế đó trên, tôi đưa ra đề tài khóa luận

với tên: “ Đánh giá công tác thu gom và xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, giai đoạn 2011- 2013”

Nhằm có một bức tranh tổng quát về hiện trạng quản lý chất thải rắn y

tế tại bệnh viện đa khoa huyện Tràng Định hiện nay

Đề tài thực hiện với mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc cải thiện và bảo vệ môi trường

1.2 Mục đích, mục tiêu, yêu cầu

Trang 13

- Số liệu thu thập phải khách quan, trung thực, chính xác

- Phản ánh đầy đủ, đúng đắn công tác thu gom, lưu trữ, vận chuyển và xử

lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Tràng Định

- Các mẫu nghiên cứu phải đại diện cho khu vực lấy mẫu trên địa bàn nghiên cứu

- Đề xuất những giải pháp kiến nghị phải có tính khả thi, thực tế, phù hợp với điều kiện thực tế của cơ sở

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Áp dụng kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế

- Nâng cao kiến thức thực tế

- Tích luỹ kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường

- Bổ sung tư liệu cho học tập

- Rèn luyện về kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu, tiếp thu và học hỏi những kinh nghiệm từ thực tế

Trang 14

- Đề xuất những biện pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng quản lý

và xử lý chất thải tại địa bàn nghiên cứu

- Kết quả của đề tài sẽ là một trong những căn cứ đê tăng cường công tác quản lý, tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân về môi trường

Trang 15

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Công tác thu gom, lưu giữ và vận chuyển chất thải rắn y tế

Công tác thu gom, lưu trữ CTR y tế nói chung đã được quan tâm bởi các cấp từ Trung ương đến địa phương, thể hiện ở mức độ thực hiện quy định

ở các bệnh viện khá cao Chất thải y tế phát sinh từ các cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc sự quản lý của Bộ Y tế, phần lớn được thu gom và vận chuyển đến các khu vực lưu giữ sau đó được xử lý tại các lò thiêu đốt nằm ngay trong cơ

sở hoặc ký hợp đồng vận chuyển và xử lý đối với các cơ sở xử lý chất thải đã được cấp phép tại địa bàn cơ sở khám chữa bệnh đó Đối với các cơ sở khám chữa bệnh ở địa phương do các Sở Y tế quản lý, công tác thu gom, lưu giữ và vận chuyển CTR chưa được chú trọng, đặc biệt là công tác phân loại và lưu giữ chất thải tại nguồn (chất thải y tế thông thường, chất thải y tế nguy hại ) Trong vận chuyển CTR y tế, chỉ có 53% số bệnh viện sử dụng xe có nắp đậy

để vận chuyển chất thải y tế nguy hại; 53,4% bệnh viện có mái che để lưu giữ CTR đây là những yếu tố để đảm bảo an toàn cho người bệnh và môi trường ( Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, 2011)

Phương tiện thu gom chất thải còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn Nguyên nhân do có rất ít nhà sản xuất quan tâm đến mặt hàng này, do vậy mua sắm phương tiện thu gom CTR đúng tiêu chuẩn của các bệnh viện gặp khó khăn

Nhìn chung, các phương tiện vận chuyển chất thải y tế còn thiếu, đặc biệt là các xe chuyên dụng Hoạt động vận chuyển chất thải y tế nguy hại từ bệnh viện, cơ sở y tế đến nơi xử lý, chôn lấp hầu hết do Công ty môi trường

Trang 16

đô thị đảm nhiệm, không có các trang thiết bị đảm bảo cho quá trình vận chuyển được an toàn

2.1.2 Công tác xử lý chất thải rắn y tế

CTR y tế không nguy hại ở hầu hết các tỉnh, thành phố đều do Công ty môi trường đô thị thu gom, vận chuyển và được xử lý tại các khu xử lý CTR tập trung của địa phương Nhiều địa phương chưa có cơ sở tái chế, do vậy việc quản lý tái chế các CTR y tế không nguy hại còn gặp nhiều khó khăn Một số vật liệu từ chất thải bệnh viện như: chai dịch truyền chứa dung dịch huyết thanh ngọt (đường glucose 5%, 20%), huyết thanh mặn (NaCl 0,9%), các dung dịch acide amine, các loại muối khác; các loại bao gói nilon và một

số chất nhựa khác; một số vật liệu giấy, thuỷ tinh hoàn toàn không có yếu tố nguy hại, có thể tái chế để hạn chế việc thiêu đốt chất thải gây ô nhiễm

Khối lượng CTR y tế nguy hại được xử lý đạt tiêu chuẩn chiếm 68% tổng lượng phát sinh CTR y tế nguy hại trên toàn quốc CTR y tế xử lý không đạt chuẩn (32%) là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng Các thành phố lớn như Tp Hồ Chí Minh và Hà Nội đã

có xí nghiệp xử lý CTR y tế nguy hại vận hành tốt, tổ chức thu gom và xử lý, tiêu huỷ CTR y tế nguy hại cho toàn bộ cơ sở y tế trên địa bàn.Một số thành phố lớn đã bố trí lò đốt CTR y tế nguy hại tập trung tại khu xử lý chung của thành phố Tỷ lệ lò đốt CTR y tế phân tán được vận hành tốt chỉ chiếm khoảng xấp xỉ 50% số lò được trang bị, có vùng chỉ đạt 20% Nếu xét mức độ

xử lý của các cơ sở y tế theo tuyến trung ương và địa phương, các sở sở trực thuộc Bộ Y tế có mức độ đầu tư xử lý CTR y tế nguy hại cao hơn hẳn các cơ

sở tuyến địa phương Bên cạnh lí do về công nghệ và trình độ quản lý, thì thiếu kinh phí vận hành là yếu tố quan trọng dẫn đến các lò đốt hoạt động phân tán không đạt hiệu quả (Bộ Tài Nguyên & Môi trường, 2011)

Trang 17

2.1.3 Bệnh viện đa khoa huyện Tràng Định - Lạng Sơn

Hiện nay, công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Tràng Định được thực hiện khá tốt, công việc phân loại đã có đội ngũ công nhân viên có kinh nghiệm, cơ sở vật chất được đầu tư kĩ lưỡng Các kiến thức phân loại đã được phổ biến, các nhân viên thu gom và đội ngũ công nhân phần lớn nhận thức được các mối nguy hiểm của chất thải y tế nguy hại

Các ô đựng chất thải được xây dựng và che chắn để tránh các loài chó, mèo, bới Các phòng bệnh được trang bị sọt đựng rác đầy đủ và được các nhân viên vệ sinh hàng ngày, chất thải trong các phòng bệnh được dọn dẹp và

xử lý kịp thời, không gây tồn đọng

Cơ sở vật chất ở bệnh viện khá đầy đủ, đầu tư các công trình xử lý nước thải bệnh viện và xây dựng lò đốt chất thải nguy hại, tuy nhiên công tác

xử lý sau khi đốt còn chưa được thực hiện đúng quy định

Công việc vận chuyển các loại chất thải rắn thông thường đi xử lý được giao bằng hợp đồng cho công ty TNHH Huy Hoàng thực hiện

2.2 Cơ sở khoa học của đề tài

2.2.1 Tổng quan về chất thải rắn y tế

2.2.1.1 Các định nghĩa về chất thải y tế

- Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ

sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường

- Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức

khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc… dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy

an toàn

- Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban

đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện

Trang 18

2.2.1.2 Phân loại chất thải rắn y tế

* Chất thải thông thường

Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:

- Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly)

- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gãy xương kín Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại

- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim

- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh

* Chất thải lây nhiễm

- Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các hoạt động y tế

- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly

- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm

- Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người: nhau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm

* Chất thải phóng xạ

Chất thải phóng xạ gồm: dạng rắn, lỏng và khí

Trang 19

- Chất thải phóng xạ rắn bao gồm: Các vật liệu sử dụng trong các xét nghiệm, chuẩn đoán, điều trị như ống tiêm, bơm tiêm, kim tiêm, kính bảo hộ,

giấy thấm, gạc sát khuẩn, ống nghiệm, chai lọ đựng chất phóng xạ…

- Chất thải phóng xạ lỏng bao gồm: Dung dịch có chứa chất phóng xạ

phát sinh trong quá trình chuẩn đoán, điều trị như nước tiểu của người bệnh, các chất bài tiết, nước súc rửa các dụng cụ có chất phóng xạ…

- Chất thải phóng xạ khí bao gồm: Các chất khí thoát ra từ kho chứa

chất phóng xạ…

* Chất thải hóa học nguy hại

Chất thải hóa học bao gồm các hóa chất có thể không gây nguy hại như đường, axit béo, axit amin, một số loại muối… và hóa chất nguy hại như

Formaldehit, hóa chất quang học, các dung môi, hóa chất dùng để tiệt khuẩn y tế

và dung dịch làm sạch, khử khuẩn, các hóa chất dùng trong tẩy uế, thanh trùng…

Chất thải hóa học nguy hại gồm:

- Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng

- Các chất quang hóa: Các dung dịch dùng để cố định phim trong khoa

X quang

- Các dung môi: Các dung môi dùng trong cơ sở y tế gồm các hợp chất

của halogen như metyl clorit, chloroform, các thuốc mê bốc hơi như halothane; các hợp chất không chứa halogen như xylene, axeton, etyl axetat…

2.2.1.3 Nguồn phát sinh và khối lượng phát chất thải rắn y tế phát sinh

* Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế

Trang 20

Toàn bộ chất thải rắn trong bệnh viện phát sinh từ các hoạt động diễn ra trong bệnh viện, bao gồm:

- Các hoạt động khám chữa bệnh như: chẩn đoán, chăm sóc, xét nghiệm, điều trị bệnh, phẫu thuật, …

- Các hoạt động nghiên cứu, thí nghiệm trong bệnh viện

- Các hoạt động hàng ngày của nhân viên bệnh viện, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân

* Khối lượngchất thải rắn y tế phát sinh

Khối lượng chất thải phát sinh trong bệnh viện tuỳ thuộc vào quy mô, đặc điểm của bệnh viện

Theo Bảng 2.1 đã cung cấp thông tin về việc phát sinh CTYT tại các bệnh viện và các khoa thuộc bệnh viện trung ương, tỉnh và quận Do tổng

số giường bệnh tại các bệnh viện đa khoa, chuyên ngành chiếm tới 150.000 giường bệnh nên lượng chất thải y tế từ các cơ sở này cũng chiếm tới 70% tổng lượng phát sinh Khối lượng CTYT mỗi ngày trong năm 2012 khoảng

450 tấn/ngày, trong đó 47 tấn/ngày là CTYTNH

Trang 21

Bảng 2.1: Lượng chất thải y tế phát sinh tại các bệnh viện và các khoa

trong bệnh viện tại Việt Nam

Bệnh viện/

khoa

Tổng lượng chất thải y tế phát sinh (kg/giường/ngày)

Lượng chất thải nguy hại phát sinh (kg/giường/ngày)

BV

TW

BV cấp tỉnh

BV cấp huyện

W

BV cấp tỉnh

BV cấp huyện

TB

Khám bệnh 0,97 0,88 0,73 0,86 0,16 0,14 0,11 0.14 Chăm sóc đặc

biệt 1,08 0,27 1,00 1,11 0,30 0,31 0,18 0.26 Khoa dược 0,64 0,47 0,45 0,52 0,04 0,03 0,02 0.03 Trẻ em 0,50 0,41 0,45 0,45 0,04 0,05 0,02 0.04 Phẫu thuật 1,02 0,87 0,73 0,87 0,26 0,21 0,17 0.21 Phụ sản 0,82 0,95 0,73 0,83 0,21 0,22 0,17 0.20 Khoa mắt/

khoa tai 0,66 0,68 0,34 0,56 0,12 0,10 0,08 0.10 khoa bệnh học 0,11 0,10 0,08 1,00 0,03 0,03 0,03 0,03

(Nguồn: Bộ Y tế, quy hoạch quản lý chất thải y tế, 2009)

2.2.1.4 Thành phần của chất thải rắn y tế

* Thành phần vật lý

Thành phần vật lý của CTR y tế gồm các dạng :

- Đồ bông vải sợi: gồm bông gạc, băng, quần áo cũ, khăn lau, vải trải…

- Đồ giấy: hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh…

- Đồ thủy tinh: chai lọ, ống tiêm, bông tiêm, thủy tinh, ống nghiệm, …

- Đồ nhựa, hộp đựng, bơm tiêm, dây truyền máu, túi đựng hàng, …

- Đồ kim loại: kim tiêm, dao mổ, hộp đựng dụng cụ mổ, …

- Bệnh phẩm, máu mủ dính ở băng gạc, …

Trang 22

- Những chất hữu cơ: đồ vải sợi, giấy, phần cơ thể, đồ nhựa,

Nếu phân tích nguyên tố thì thấy gồm những thành phần C, H, O, N, S,

Bảng 2.2: Thành phần chất thải rắn bệnh viện ở Việt Nam

%

1 Thành phần giấy các loại bao gồm cả mảnh carton 3,0

2 Thành phần kim loại, vỏ hộp kim loại 0,7

3 Thành phần thuỷ tinh, ống thuốc tiêm, lọ thuốc tiêm,

4 Bông, gạc, băng, bột bó gãy xương, nẹp cố định 8,8

5 Chai thuốc, túi thuốc, chai dịch, túi dịch, túi máu, thành

(Nguồn: Nguyễn Thị Kim Thái, 2007 Quản lý chất thải từ các

bệnh viện ở Việt Nam)

Trang 23

2.2.1.5 Một số phương pháp xử lý chất thải rắn y tế

* Phương pháp chôn lấp

Trong hầu hết các bệnh viện huyện chất thải rắn y tế được chôn lấp tại bãi công cộng hay chôn lấp trong khu đất của một số bệnh viện Trường hợp chôn lấp trong bệnh viện, chất thải được chôn vào trong các hố đào và lấp đất lên, nhiều lớp đất phủ trên quá mỏng không đảm bảo vệ sinh

Tại các bệnh viện không có lò đốt tại chỗ, bào thai, nhau thai và bộ phận cơ thể bị cắt bỏ sau phẫu thuật được thu gom để đem chôn trong khu đất bệnh viện hoặc chôn trong nghĩa trang tại địa phương Nhiều bệnh viện hiện nay gặp khó khăn trong việc tìm kiếm diện tích đất để chôn

* Thiêu đốt chất thải rắn y tế

Phương pháp thiêu đốt là một kỹ thuật được áp dụng khi một lượng lớn các chất thải nguy hại cần được thiêu hủy Phương pháp này đảm bảo khả năng phân hủy chất thải có hiệu quả cao đối với hầu hết các chất thải hữu cơ

và lượng khí thải sinh ra với lượng nhỏ có thể kiểm soát được

Đốt chất thải là quá trình oxy hóa chất thải bằng oxy của không khí ở nhiệt độ cao bằng oxy không khí Bằng cách đốt chất thải nguy hại ta có thể giảm thể tích của nó đến 80-90 % Nếu nhiệt độ lò đốt < 800oC dioxin và furan sẽ hình thành Nhiệt độ lò đốt từ 900-1200oC hợp chất PCB là hợp chất hữu cơ chứa Cl sẽ cháy hết Sản phẩm cuối cùng của quá trình đốt phải là các chất không nguy hại như H2O, CO2…

*Phương pháp khử trùng

Phương pháp này được áp dụng để khử trùng đối với chất thải rắn y tế

có nguy cơ lây nhiễm

- Khử trùng bằng hóa chất: Clo, Hypoclorite… Đây là phương pháp rẻ tiền, đơn giản nhưng có nhược điểm là thời gian tiếp xúc ít không tiêu hủy hết

Trang 24

vi khuẩn trong chất thải Vi khuẩn có khả năng bền vững với hóa chất, nên xử

lý không hiệu quả

Khử trùng bằng hóa chất ít được sử dụng trong bệnh viện do các loại chất thải y tế rất đa dạng dẫn tới khó đảm bảo rác thải sau khi xử lý hoàn toàn tiệt trùng

- Khử trùng bằng nhiệt ở áp suất cao: Đây là phương pháp đắt tiền, đòi hỏi chế độ vận hành, bảo dưỡng cao, xử lý kim tiêm khi nghiền nhỏ, làm biến dạng Nhược điểm của phương pháp là tạo mùi hôi nên với bệnh viện có lò đốt thì kim tiêm đốt trực tiếp

- Khử trùng bằng siêu cao tầng: phương pháp có hiệu quả khử trùng tốt, năng suất cao Tuy nhiên, đòi hỏi kỹ thuật cao, thiết bị đắt tiền và yêu cầu có chuyên môn, là phương pháp chưa phổ biến

* Xử lý bằng chất phóng xạ

Hình thức xử lý này chỉ phù hợp với một số loại rác thải đặc biệt Nguyên lý là sử dụng chất phóng xạ nhằm tiêu diệt vi khuẩn, mầm bệnh Phương pháp này đòi hỏi việc xử lý phải được cách ly để tránh bị nhiễm phóng xạ Việc sử dụng phương pháp này cần phải được nghiên cứu kỹ càng

để đảm bảo an toàn cho người sử dụng

* Xử lý bằng công nghệ sinh học

Hình thức xử lý này đang dần phát triển Quy trình xử lý có việc sử dụng chất vi sinh để tiêu diệt vi trùng Về cơ bản quy trình xử lý này khá giống với việc xử lý bằng hóa chất vì tận dụng các tính năng của vi sinh (hóa chất) để tiêu diệt vi trùng

2.2.2 Tác động của chất thải rắn y tế tới môi trường và sức khỏe cộng đồng

2.2.2.1 Đối với môi trường

* Đối với môi trường đất

Trang 25

Chất thải y tế được xử lý giai đoạn trước khi thải bỏ vào môi trường

không đúng cách thì các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại, các vi khuẩn,

nước thải có thể ngấm vào môi trường đất gây nhiễm độc cho môi trường sinh thái, các tầng sâu trong đất( nước ngầm, nước mặt, ), sinh vật kém phát triển… làm cho việc khắc phục hậu quả về sau lại gặp khó khăn

* Đối với môi trường nước

Đặc trưng của chất thải bệnh viện là bị nhiễm BOD, COD, kim loại nặng và các vi khuẩn gây bệnh Do đó nếu không được quản lý nghiêm ngặt, khi mưa nước chảy tràn sẽ cuốn nước thải bệnh viện đi vào nguồn nước mặt như: ao, hồ, sông, ngòi Các chất này sẽ gây ô nhiễm nguồn nước mặt, một phần ngấm xuống đất mang theo các chất ô nhiễm, vi khuẩn gây bệnh vào nguồn nước ngầm gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng nguồn nước Gây ra các

bệnh truyền nhiễm đường ruột như: Thương hàn, tả, Tulare, Brucella

* Đối với môi trường không khí

Chất thải bệnh viện từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều gây

ra những tác động xấu đến môi trường không khí

- Chất lỏng sau khi được xử lý đổ ra mương thoát do quá trình bay hơi nên gây mùi khó chịu cho môi trường xung quanh

- Sự phát tán vi khuẩn, bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung

môi, hóa chất vào không khí dặc biệt là các bệnh lây nhiễm

- Ở khâu xử lý( chôn, lấp) phát sinh ra các khí độc hại, NOx, đioxin, furan HX… từ lò đốt và CH4, NH3, H2S… từ bãi chôn lấp Các khí này nếu không được thu hồi và xử lý sẽ gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của cộng

đồng dân cư xung quanh

2.2.2.2 Đối với sức khỏe cộng đồng

* Đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp chất thải rắn y tế

Trang 26

Tất cả các cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những người

có nguy cơ tiềm tàng Dưới đây là những nhóm chính có nguy cơ cao:

- Bác sĩ, y tá, hộ lý và các nhân viên hành chính của bệnh viện

- Bệnh nhân điều trị nội trú hoặc ngoại trú

- Khách tới thăm hoặc người nhà bệnh nhân

- Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ phục vụ cho các cơ sở

khám chữa bệnh và điều trị như: giặt là, lao công, vận chuyển bệnh nhân…

* Tác động từ chất thải rắn y tế

+ Từ chất thải truyền nhiễm khuẩn:

Các vật thể trong thành phần của CTRYT có thể chứa đựng một lượng

rất lớn bất kỳ tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm nào Một mối nguy cơ rất lớn hiện nay đó là virus gây hội chứng suy giảm miễn dịch (HIV) cũng như các virus lây qua đường máu như viêm gan B, C có thể lan truyền ra cộng đồng qua con đường rác thải y tế Các tác nhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào

cơ thể người thông qua các cách thức:

- Qua da (qua một vết thủng, trầy sước hoặc vết cắt trên da)

- Qua các niêm mạc (màng nhầy)

- Qua đường hô hấp (do xông, hít phải)

- Qua đường tiêu hoá

Bảng 2.3: Một số loại bệnh có nguy cơ lây nhiễm từ chất thải y tế Các dạng

nhiễm khuẩn

Ví dụ về tác nhân

Nhiễm khuẩn

đường tiêu hoá

Vi khuẩn đường tiêu hoá:

Salmonella, shigella, trứng giun

Phân và chất nôn

Nhiễm khuẩn hô hấp Herpes Chất tiết ở mắt

Trang 27

Bệnh than Trực khuẩn than Chất tiết qua da

dục

Viêm gan B và C Virus viêm gan B và C Máu và dịch thể

(Nguồn: Bộ y tế, 2006) + Từ chất thải sắc nhọn:

Vật sắc nhọn gây ra các vết xước và xuyên thủng da, nó còn làm nhiễm khuẩn tại các vị trí gây xước hoặc chọc thủng do các vật sắc nhọn bị nhiễm khuẩn

Do nguy cơ hây tổn thương và truyền bệnh gấp hai lần nên chất thải sắc nhọn được coi là chất thải rất nguy hại Các vật thể trong thành phần chất thải

y tế nguy hại có thể chứa một lượng bất kỳ các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm nào như tự cầu khuẩn, HIV, viêm gan B…

Bảng 2.4: Các bệnh và tỷ lệ nguy cơ lây bệnh

- Nhiều loại hoá chất và dược phẩm được sử dụng trong các cơ sở y tế

là những mối nguy cơ đe dọa sức khoẻ con người (các độc dược, các chất gây

độc gen, chất ăn mòn, chất dễ cháy, các chất gây phản ứng, gây nổ…) Các

loại chất này thường chiếm số lượng nhỏ trong chất thải y tế, với số lượng lớn hơn có thể tìm thấy khi chúng quá hạn, dư thừa hoặc hết tác dụng cần vứt bỏ

Trang 28

- Những chất này có thể gây nhiễm độc khi tiếp xúc cấp tính và mãn tính, gây ra các tổn thương như bỏng, ngộ độc Sự nhiễm độc này có thể là kết quả của quá trình hấp thụ hóa chất hoặc dược phẩm qua da, qua niêm mạc, qua

đường hô hấp hoặc đường tiêu hóa

+ Chất thải phóng xạ:

- Loại bệnh gây ra do chất thải phóng xạ được xác định bởi loại chất thải

và phạm vi tiếp xúc Nó có thể là đau đầu, hoa mắt chóng mặt, buồn nôn và nhiều bất thường khác Bởi chất thải phóng xạ, cũng như loại chất thải dược phẩm, là một loại độc hại gen, nó cũng có thể ảnh hưởng đến các yếu tố di truyền Tiếp xúc với các nguồn phóng xạ có hoạt tính cao, ví dụ như các nguồn phóng xạ của các phương tiện chẩn đoán (máy Xquang, máy chụp cắt

lớp…), có thể gây ra một loạt các tổn thương (chẳng hạn như phá huỷ các mô,

từ đó đòi hỏi phải dẫn đến việc xử lý loại bỏ hoặc cắt cụt các phần cơ thể)

- Thông tư số 12/2011/TT – BTNMT ngày 14 tháng 04 năm 2011 của

Bộ Tài Nguyên Môi Trường quy định về quản lý chất thải nguy hại

- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6706 - 2000 về chất thải nguy hại

Trang 29

- Quyết định số 155/1999/QĐ-TT ngày 16/07/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý chất thải nguy hại

300 – 450 kg/ ngày, trong đó có 02 xí nghiệp đốt rác tập trung tại Hà Nội và

TP HCM, còn lại là các lò đốt rác cỡ trung bình và nhỏ

Trong khi đó, vấn đề môi trường y tế chưa được địa phương quan tâm đúng mức Theo kết quả khảo sát của Cục Quản lý Môi trường y tế - Bộ y tế vào năm 2010 hiện có khoảng 44% các bệnh viện có hệ thống xử lý chất thải

y tế nhưng nhiều nơi đã rơi vào tình trạng xuống cấp nghiêm trọng Đáng nói, ngay ở các bệnh viện tuyến T.Ư vẫn còn tới 25% cơ sở chưa có hệ thống xử

lý chất thải y tế, bệnh viện tuyến tỉnh là gần 50%, còn bệnh viện tuyến huyện lên tới trên 60%, có tới 60% bệnh viện còn xử lý bằng lò đốt thủ công hoặc chôn lấp và trên 62% bệnh viện chưa có hệ thống xử lý chất thải lỏng tại các bệnh viện

Đa số các bệnh viện tuyến huyện các tỉnh miền núi và đồng bằng đều chưa có cơ sở hạ tầng để xử lý chất thải y tế nguy hại, vì vậy người ta tự thiêu đốt bằng các lò đốt thủ công hoặc chôn lấp trong khu đất của bệnh viện

Qua thực tế kiểm tra, Bộ Y tế đã chỉ ra 06 bât cập tồn tại tại các bệnh viện trong vấn đề quản lý rác thải đó là:

Trang 30

- Việc phân loại chất thải y tế cong chưa đúng quy định

- Phương tiện thu gom như túi, thùng đựng chất thải còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn

- Xử lý và tiêu hủy chất thải gặp nhiều khó khăn

- Thiếu các cơ sở tái chế chất thải

- Thiếu nguồn kinh phí đầu tư xây dựng và vận hành hệ thống xử lý chất thải rắn và nước thải bệnh viện

Vấn đề quản lý rác thải y tế thông thường có thể tái chế còn bất cập: một số bệnh viện lơi lỏng công tác quản lý, giám sát đê nhân viên hợp đồng cung cấp rác thải y tế cho các cơ sở tư nhân chưa qua xử lý

* Phân loại chất thải y tế

Theo kết quả điều tra khác của viện KHCN xây dựng, có khoảng 80% số bệnh viện tiến hành phân loại chất thải từ khoa- phòng- buồng bệnh, trong đó

có 63% bệnh viện có khu để chất thải y tế riêng biệt với chất thải sinh hoạt

* Thu gom chất thải y tế

Theo kết quả viện KHCN xây dựng có 100% các bệnh viện đều đã thu gom chất thải tại các phòng ban và buồng bệnh 1 lần /ngày, có thể hơn 2- 3 lần khi cần, và tiến hành thu gom ngay sau các ca phẫu thuật Quy trình thu gom ở các bệnh viện không giống nhau và cũng chưa triệt để Tình trạng chung là các bệnh viện không đủ các phương tiện bảo hộ khác cho nhân viên tham gia trực tiếp phân loại thu gom chất thải

* Lưu trữ chất thải

Hầu hết các điểm tập trung chất thai rắn đều nằm trong khuôn viên bệnh viện, vệ sinh không đảm bảo, có nhiều nguy cơ gây rủi do vật sắc nhọn rơi vãi, nhiều côn trùng xâm nhập ảnh hưởng đến môi trường bệnh viên Một

số nhà lưu giữ chất thải không có mái che, không có rào bảo vệ, vị trí gần nơi

đi lại, những người không có nhiệm vụ dễ xâm nhập

Trang 31

* Vận chuyển chất thải rắn ngoài cơ sở y tế

Hiện nay, hầu hết lượng chất thải rắn y tế ở Việt Nam đều được thu gom bởi công ty Môi trường đô thị Chất thải bệnh viện sau khi được thu gom tới khu tập trung sẽ được công ty Môi trường đô thị thu gom tiếp trong khoảng thời gian một đến hai ngày một lần và được vận chuyển đến bãi rác của huyện/thành phố, để xử lý

* Quá trình xử lý chất thải y tế

Năm 2010 toàn tuyến y tế cấp tỉnh có tới trên 61% cơ sở y tế thuê xử lý

chất thải, 6, 4% sử dụng lò đốt 1 buồng và 9% cơ sở tự đốt hoặc chôn lấp( Nguồn: Tổng cục Môi trường, năm 2010)

Theo viện KHCN Xây dựng, có khoảng 60- 70% chất thải được thải ra bãi chung hoặc chôn ngay trong bệnh viện, 20% - 30% được thiêu đốt hoặc đóng rắn, khoảng 10% áp dụng các biện pháp khác…

Một thực trạng là vật sắc nhọn được chôn lấp chung với chất thải y tế khác tại khu đất bệnh viện hay tại bãi rác cộng đồng

2.3.2 Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

Trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn có 4 bệnh viện( bệnh viện đa khoa tỉnh, bệnh viện y học cổ truyền, bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng, bệnh viện Lao), Công tác quản lý nhà nước về môi trường nói chung và quản lý chất thải rắn y tế nói riêngở tỉnh Lạng Sơn được thực hiện tương đối tốt, được thống nhất theo ngành dọc bao gồm: Chi cục Bảo vệ môi trường – Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lạng Sơn, Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện/thành phố, bộ phận phụ trách về môi trường tại các phường/xã

Hiện nay, đa số các huyện trong tỉnh đã tổ chức mô hình làm công tác

vệ sinh môi trường với nhiều hình thức như công ty, hợp tác xã, tổ vệ sinh, ban vệ sinh môi trường có nhiệm vụ thu gom chất thải rắn Y tế tại các bệnh viện đa khoa tỉnh và trung tâm Y tế các huyện trong tỉnh

Trang 32

Mặc dù nhận được sự quan tâm, chỉ đạo từ các ngành các cấp của tỉnh, tuy nhiên, vấn đề quản lý chất thải rắn Y tế hiện nay tại tỉnh Lạng Sơn vẫn tồn tại nhiều bất cập Cụ thể số lượng cán bộ có chuyên môn trong công tác quản lý chất thải rắn Y tế tại các huyện/thành phố còn rất hạn chế, việc phân loại CTR y tế chưa đúng quy định, chưa có phương tiện thu gom và phân loại CTR Y tế thích hợp để giảm thiểu chi phí, nhân viên thu gom CTR Y tế chưa

có kiến thức cơ bản để phân loại, kinh phí phục vụ cho hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý CTR Y tế còn rất hạn hẹp, bảo hộ lao động còn rất thô sơ

và thiếu

Theo niên giám thống kê, hiện tại tỉnh Lạng Sơn có 2.008 giường bệnh tại tất cả bệnh viện thành phố, bệnh viện huyện, trung tâm y tế và các phòng khám Theo số liệu điều tra, trung bình mỗi ngày một giường bệnh thải ra khoảng 1, 8 kg/giường/ngày Như vậy, trung bình mỗi ngày lượng chất thải rắn y tế phát sinh theo đơn vị giường bệnh khoảng 3, 6 tấn/ngày (1.314 tấn/năm) (Dự án: quy hoạch quản lý chất thải rắn tỉnh Lạng Sơn)

Trang 33

Bảng 2.5: Số giường bệnh năm 2008 phân theo huyện/ thành phố

thuộc tỉnh Lạng Sơn

Stt Tên TP/ huyện

Số giường bệnh tại Bệnh viện

Số giường bệnh tại Phòng khám khu vực

Số giường bệnh tại Trạm y tế

Trang 34

2.3.3 Tình hình công tác quản lý chất thải rắn y tế trên địa bàn huyện Tràng Định

Trên địa bàn huyện có 1 thị trấn và 22 xã, ở mỗi xã đều có phòng khám riêng phục vụ cho nhu cầu của mỗi xã Tuy nhiên ở các xã đều chưa có các biện pháp xử lý rác đúng theo quy định, phần lớn rác thải đều do công ty Môi trường thu gom và xử lý, một số rác thải y tế nguy hại được vận chuyển đến Bệnh viện Đa khoa Tràng Định để xử lý, số còn lại được thiêu đốt thủ công hoặc chôn lấp gây ảnh hưởng đến môi trường

Trang 35

CHƯƠNG 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các loại chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Tràng Định

- Công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Tràng Định

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn nhân lực thu gom, vận chuyển,

xử lý chất thải rắn y tế bệnh viện

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Trên địa bàn bệnh viện đa khoa huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành

3.2.1 Địa điểm tiến hành nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu của đề tài: Phòng Tài Nguyên và Môi Trường huyện Tràng Định và Bệnh viện đa khoa huyện Tràng Định

3.2.2 thời gian tiến hành nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: 5/5/2014 đến 6/8/2014

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Tràng Định

-Tổng quan về bệnh viện đa khoa huyện Tràng Định

- Điều tra, đánh giá thực trạng công tác thu gom và xử lý chất thải rắn y

tế tại bệnh viện đa khoa huyện Tràng Định

- Các nguồn phát sinh và khối lượng của chất thải rắn y tế

- Công tác bảo vệ môi trường tại bệnh viện

- Công tác quản lý, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải tại bệnh viện

Trang 36

- Hiểu biết của cán bộ nhân viên bệnh viện, bệnh nhân và người nhà về vấn đề quản lý chất thải rắn y tế của bệnh viện

- Đề xuất các giải pháp và nâng cao công tác quản lý chất thải rắn y tế

- Thuận lợi, khó khăn và những giải pháp nâng cao công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Tràng Định

3.4 Phương pháp nghiên cứu

* Các chỉ tiêu cần nghiên cứu :

- Khối lượng chất thải rắn y tế/ngày

- Chủng loại

- Tần suất, thời gian thu gom trên/ ngày

- Tần suất, thời gian vận chuyển

- Các biện pháp xử lý

- Hiểu biết cán bộ, nhân viên y tế, bệnh nhân va người nhà về tình hình quản lý chất thải y tế tại bệnh viện

3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu sơ cấp

- Khảo sát thực địa để thấy được tình hình chung về chất thải rắn y tế khu vực nghiên cứu

- Thu thập thông tin qua phiếu điều tra, phỏng vấn

- Lập phiếu điều tra, phỏng vấn gồm 2 phần

Phần 1 : Thông tin chung Phần 2 : Các vấn đề liên quan đến chất thải rắn y tế

- Tiến hành điều tra, phỏng vấn bệnh nhân và người nhà bệnh nhân, các cán bộ và nhân viên trong bệnh viện đa khoa huyện Tràng Định

Trang 37

3.4.2 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp

- Thu thập các tài liệu có liên quan như: Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương, hiện trạng chất thải rắn y tế, công tác thu gom, quản lý

và xử lý chất thải rắn y tế tại địa phương thông qua cơ quan quản lý môi trường huyện

- Các số liệu thu thập tại bệnh viện đa khoa huyện Tràng Định: các kết quả nghiên cứu đã có sẵn, thu thập phân tích qua các báo cáo, đề tài nghiên cứu

- Thu thập thông tin qua tìm hiểu sách, báo, mạng internet, các tài liệu liên quan khác…

3.4.3 Phương pháp phân tích quản lý số liệu

- Quản lý và phân tích số liệu bằng các phần mềm máy tính

- Tiến hành phân tích xử lý căn cứ vào những tiêu chuẩn môi trường hiện hành, sau đó so sánh, nhận xét đánh giá để từ đó kết luận và kiến nghị,

đề xuất một số giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của cơ sở

Trang 38

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện tràng định – Lạng Sơn

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

4.1.1.1 Vị trí địa lý

Tràng Định là một huyện miền núi vùng cao biên giới của tỉnh Lạng Sơn nằm ở tọa độ điạ lý 22°12'30'-22°18'30' vĩ Bắc và 106°27'30'-106°30' kinh Đông

- Phía bắc giáp huyện Thạch An tỉnh Cao Bằng

- Phía Đông - Đông bắc giáp Trung Quốc

- Phía Tây - Tây Nam giáp huyện Văn Lãng và Bình Gia

- Phía Tây giáp huyện Na Rì của tỉnh Bắc Kạn

Hình 4.1: Vị trí địa lý huyện Tràng Định – Lạng Sơn

(Nguồn: Phòng Tài nguyên môi trường huyện Tràng Định)

Trang 39

Tràng Định là huyện miền núi biên giới nằm ở phía bắc tỉnh Lạng Sơn

cách thành phố Lạng Sơn gần 70 km theo đường quốc lộ 4A lên Cao Bằng có

53 km đường biên giới với Trung Quốc với diện tích đất tự nhiên của huyện

là 99.962, 41 ha, có cửa khẩu Bình Nghi của xã Đào Viên và Nà Nưa của xã Quốc Khánh, có đường bộ đường sông thông thương với Trung Quốc, với vị trí này tạo điều kiện cho việc giao lưu trao đổi hàng hoá, du lịch với Trung Quốc và thúc đấy các hoạt động thương mại - du lịch trên địa bàn huyện

4.1.1.2 Khí hậu thời tiết

Tràng Định có khí hậu á nhiệt đới gió mùa vùng núi, hàng năm chia hai mùa rõ rệt, mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, mùa đông khô hanh ít mưa, rét kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau

Nhiệt độ trung bình năm 21, 60C, cao nhất là 390C vào tháng 6 nhiệt độ thấp nhất 1, 80C vào tháng 12 và tháng 1 của năm

Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9 Lượng mưa bình quân từ 1.155 - 1.600 mm mưa nhiều vào tháng 5 đến tháng 10 chiếm 80% lượng mưa

cả năm, mưa nhiều nhất vào các tháng 6, 7, 8 mưa ít nhất vào các tháng 1, 2 của năm Số giờ nắng trung bình năm là 1466 giờ

4.1.1.3 Địa hình, địa mạo

Tràng Định là huyện niềm núi có địa hình phức tạp, bị chia cắt mạnh có nhiều núi cao xen kẽ với thung lũng hẹp ven sông, suối và núi đá vôi độ cao phổ biến từ 200 - 500 m, có các đỉnh cao 820m, 636m, 675m tập trung các xã biên giới, độ dốc trung bình từ 25 - 300

Dạng địa hình núi đá chủ yếu ở các xã Quốc Khánh, Tri Phương, Chí Minh, chiếm khoảng 10, 7% diện tích tự nhiên

Các dải thung lũng hẹp, vùng cánh đồng phục vụ các vùng sản xuất nông nghiệp khoảng 4% diện tích tự nhiên

4.1.1.4 Thủy văn

Ngày đăng: 17/04/2018, 11:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w