BÙI MINH TUẤN Tên chuyên đề: “THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN THỊT TẠI TRẠI BÌNH MINH- MỸ ĐỨC- HÀ NỘI” KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo: Chín
Trang 1BÙI MINH TUẤN
Tên chuyên đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI TẠI TRẠI BÌNH MINH - MỸ ĐỨC- HÀ NỘI”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017
Thái Nguyên, 2017
Trang 2BÙI MINH TUẤN
Tên chuyên đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN THỊT TẠI TRẠI BÌNH MINH- MỸ ĐỨC- HÀ NỘI”
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2013 - 2017 Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Văn Quang
Thái Nguyên - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường và thực tập tại cơ
sở, đến nay, em đã hoàn thành bản khoá luận tốt nghiệp Để hoàn thành được bản khoá luận này, em đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của giáo viên hướng dẫn, sự giúp đỡ của Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Khoa Chăn nuôi Thú y, và trại lợn Bình Minh Em cũng nhận được sự cộng tác nhiệt tình của các bạn đồng nghiệp, sự giúp đỡ, cổ vũ động viên của người thân trong gia đình Để đáp lại tình cảm đó, em xin chân thành bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc và kính trọng nhất tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập
Trước tiên, em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, Ban Chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y cùng tập thể các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình dạy dỗ
và dìu dắt em trong suốt thời gian học tại trường cũng như thời gian thực tập tốt nghiệp
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, chỉ bảo và hướng dẫn tận tình của thầy giáo hướng dẫn TS Nguyễn Văn Quang đã trực tiếp hướng dẫn em thực hiện thành công khóa luận này
Em cũng xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới bác Nguyễn Sỹ Bình(chủ trại lợn Bình Minh) cùng toàn thể anh chị em công nhân trong trang trại về sự hợp tác giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập, hướng dẫn các công tác kỹ thuật, theo dõi các chỉ tiêu và thu thập số liệu làm cơ sở cho khóa luận này
Qua đây, em cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã giúp đỡ và động viên em trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường
Trang 4Cuối cùng, em xin trân trọng gửi tới các thầy giáo, cô giáo trong hội đồng đánh giá khóa luận lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 19 tháng 12 năm 2017
Sinh viên
Bùi Minh Tuấn
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Quy định khối lượng thức ăn chuồng bầu 34 Bảng 4.2: Quy đinh khối lượng thức ăn chuồng đẻ 34 Bảng 4.3: Lịch vệ sinh khử trùng tại cơ sở 37 Bảng 4.4: Quy trình sử dụng vaccin và chế phẩm thú y phòng bệnh cho đàn
lợn của trại 38 Bảng 4.5: Tình hình chăn nuôi của trại năm 2014 đến năm 2016 39 Bảng 4.6: Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn 40 Bảng 4.7: Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái nuôi tại trại (n = 100) 41
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BMD: Thuốc bột chứa Bacitracin CP: Charoen Pokphand
CS: Cộng sự Nxb: Nhà xuất bản PED: Porcine Epidemic Diarrhoea TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Vị trí địa lý 3
2.1.2 Điều kiện khí hậu 3
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại 4
2.1.4 Cơ sở vật chất của trang trại 4
2.2 Tổng quan tài liệu 6
2.2.1 Đối với lợn nái 6
2.2.2 Đặc điểm sinh lý của lợn con 22
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Đối tượng nghiên cứu 30
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 30
3.3 Nội dung thực hiện 30
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 30
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 30
3.4.2 Phương pháp theo dõi (hoặc thu thập thông tin) 30
Trang 83.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 31
Phần 4 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 32
4.1 Công tác phục vụ sản xuất 32
4.1.1 Công tác chăn nuôi 32
4.1.2 Công tác thú y 35
4.2 Kết quả đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại 38
4.3 Kết quả thực hiện đề tài tại trại 39
4.3.1 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nuôi tại trại 39
4.3.2 Kết quả thực hiện chẩn đoán, điều trị bệnh cho đàn lợn nuôi tại trại 41
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44
5.1 Kết luận 44
5.2 Đề nghị 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46 PHỤ LỤC
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp lâu năm, trong đó, chăn nuôi
là một ngành chiếm tỷ trọng lớn và có vai trò rất quan trọng trong cơ cấu của nền kinh tế, đặc biệt là chăn nuôi lợn Hiện nay, bên cạnh những phương thức chăn nuôi lợn kiểu truyền thống với quy mô nhỏ lẻ, hộ gia đình thì mô hình chăn nuôi trên quy mô lớn như trang trại ngày càng được mở rộng theo hướng nuôi gia công cho doanh nghiệp nước ngoài, nhằm tận dụng nguồn vốn, khoa học kỹ thuật, áp dụng vào thực tiễn chăn nuôi tiến tới xây dựng một nền nông nghiệp sạch đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu ra thị trường thế giới Theo số liệu của vụ nông, lâm nghiệp và thủy sản tính đến ngày 1/4/2017, cả nước có 28.911.285 con Sản lượng thịt ước tính đạt 2.143.992 tấn Việt Nam hiện đang xếp thứ 5 về tổng đầu lợn, đứng thứ 6
về thịt lợn hơi và đứng thứ 3 trong top 20 nước nuôi nhiều lợn nái nhất Định hướng đến 2020 chăn nuôi cơ bản chuyển sang phương thức trang trại, công nghiệp đáp ứng như cầu thực phẩm cho tiêu dùng và sản xuất
Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn đã trở thành một trong những ngành chính mang lại hiệu quả kinh tế lớn cho hộ chăn nuôi nói riêng và cho
xã hội nói chung Tuy nhiên, dù chăn nuôi nhỏ lẻ hay chăn nuôi công nghiệp với quy mô lớn, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp cũng có thể gây nên thiệt hại đáng kể Trong số đó, các bệnh ở lợn nái và lợn con thường xuyên xảy ra ở các quy môn chăn nuôi, ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng đàn lợn Đặc biệt, hiện nay dịch bệnh PED ở lợn con đang xảy ra ở rất nhiều trang trại với khả năng lây lan nhanh và tỷ lệ chết cao nhưng chưa có biện pháp phòng chống chủ động, hiệu quả Chính vì vậy, yêu cầu cấp thiết
Trang 10đặt ra là phải có những nghiên cứu áp dụng các quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh hiệu quả cho đàn lợn nái, lợn con ở các trang trại để giảm thiệt hại do dịch bệnh gây ra, nâng cao đàn lợn cả về lượng và chất Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi Thú y, được sự phân công của thầy, cô giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của trại lợn Bình
Minh, em đã tiến hành đề tài: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái tại trại Bình Minh- Mỹ Đức- Hà Nội”
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục đích
- Đánh giá chung tình hình chăn nuôi tại trại Bình Minh- Mỹ Đức- Hà Nội
- Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho lợn nái nuôi tại trại
- Xác định được các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái sinh sản và phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất
1.2.2 Yêu cầu
- Đánh giá được tình hình chăn nuôi của trại lợn Bình Minh- Mỹ Đức- Hà Nội
- Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho lợn nái nuôi tại trại
- Xác định được các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái sinh sản và phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
Xã Phù Lưu tế là một xã nằm trên địa bàn huyện Mỹ Đức, Hà Nội, các thị trấn Vân Đình 12 km về phía nam Xã có địa giới hành chính như sau: Phía tây giáp xã Xuy Xá, phía nam giáp thị trấn Đại Nghĩa, phía bắc giáp xã Hòa Xá của huyện Ứng Hòa, phía đông giáp xã Phùng Xá
Phù Lưu Tế có địa hình tương đối bằng phẳng Xã có tổng diện tích đất
tự nhiên là 6,7 km Trong đó, đất nông nghiệp là 318,37 ha (chiếm 47,45%), đất phi nông nghiệp là 333,82 ha (chiếm 47,75%), đất chưa sử dụng là 18,81
ha (chiếm 2,80%) Đất đai đa dạng, thích hợp với nhiều loại cây lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp
2.1.2 Điều kiện khí hậu
Xã Phù Lưu Tế nằm trong khu vực đồng bằng Bắc Bộ nên có khí hậu mang tính chất chung của khí hậu miền Bắc Việt Nam, khí hậu nhiệt đới gió mùa
Lượng mưa hằng năm cao nhất là 2,16 mm, thấp nhất là 1,06 mm, trung bình là 1,57 mm, lượng mưa tập trung chủ yếu từ tháng 6 đến tháng 7 trong năm
Trang 12Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 82%, độ ẩm cao nhất là 88%, thấp nhất là 67%
Nhiệt độ trung bình trong năm là 21℃ đến 23℃, mùa nóng tập trung vào tháng 6 đến tháng 7 Do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam nên có sự chênh lệch về nhiệt độ trung bình giữa các mùa trong năm
Về chế độ gió, gió mùa Đông Nam thổi từ tháng 3 đến tháng 10, gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:
2.1.4 Cơ sở vật chất của trang trại
Trại lợn Bình Minh được xây dựng trên diện tích 10,2 ha, nằm trên cánh đồng rộng lớn thuộc thôn Trung, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, Hà Nội gồm khu chăn nuôi, nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn và các công trình phụ phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại
Khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 1200 nái cơ bản bao gồm: 6 chuồng nái đẻ (mỗi chuồng có 56 ô kích
Trang 13thước 2,4m x 1,6m/ô), 2 chuồng nái chửa (mỗi chuồng có 560 ô kích thước 2,4m x 0,65m/ô), 3 chuồng cách ly, 1 chuồng đực giống, 9 chuồng lợn thịt (mỗi chuồng nuôi 550 con) Cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc
Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 3 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, 8 quạt thông gió đối với chuồng nái chửa và 2 quạt đối với chuồng cách ly, 2 quạt đối với chuồng đực Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,5m2, cách nền 1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau 40cm Chuồng được trần hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh
Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy, dụng cụ và một số thiết bị khác
Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng
Hệ thống nước trong trại chăn nuôi cho lợn uống là nước giếng khoan được sử lý qua hệ thống bể lọc rồi bơm lên bể chứa theo hệ thống dẫn đến các chuồng khác nhau Nước tắm cho lợn được bơm trực tiếp từ các giếng khoan
Hệ thống điện: Nguồn cấp điện có điện lưới và máy phát dự phòng Đối với chuồng đẻ, hệ thống điện được cung cấp đầy đủ đảm bảo độ sáng phục vụ cho công tác đỡ đẻ, chăm sóc nuôi dưỡng lợn mẹ và lợn con; mỗi chuồng đẻ được lắp đặt cố định 10 bóng thắp sáng so le nhau, cùng với hệ thống bóng sưởi cho mỗi ô chuồng có lợn con được sinh ra
Hệ thống sát trùng: nhà sát trùng cho người gồm 3 phòng: phòng sát trùng nam, phòng sát trùng nữ và phòng sát trùng khách Mỗi phòng sát trùng được chia làm 3 khoang gồm 1 khoang thay đồ, 1 khoang sát trùng và 1 khoang tắm tráng với đầy đủ các trang thiết bị như: bình nóng lạnh, sen tắm, chậu rửa, gương
Trang 14soi, móc quần áo, khăn, xà bông, dầu gội Hệ thống sát trùng khu vực ngoài chuồng nuôi gồm: nhà sát trùng xe, hố sát trùng, máy nén phun sát trùng di động trong khu vực chuồng nuôi
Kho chứa thức ăn: trần đóng kín không dột, có sạp kê cám
Hệ thống xử lý môi trường: Chất thải được xử lý bằng hệ thống biogas trước khi thải ra môi trường, có điểm tiêu chất thải, có giàn khử mùi phía sau quạt hút gió, có hố hủy lợn xa khu vực chăn nuôi
Các công trình phụ trợ khác: Khu sinh hoạt tách biệt với khu chăn nuôi gồm phòng kỹ sư, nhà ở công nhân, nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh Cổng trại, tường rào đảm bảo an ninh Có nhà kho phục vụ chăn nuôi như nhà
để vôi bột, bể tôi vôi nước
Một số dụng cụ và trang thiết bị khác: Tủ lạnh bảo quản vắc xin, tủ thuốc
để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại, xe chở cám từ nhà kho xuống chuồng, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực ngoài chuồng nuôi
2.2 Tổng quan tài liệu
2.2.1 Đối với lợn nái
2.2.1.1 Một số đặc điểm của lợn CP 909 nuôi tại trại
CP Thái Lan là một tập đoàn sản xuất kinh doanh đa ngành nghề và là một trong những tập đoàn mạnh nhất Thái Lan trong lĩnh vực công - nông nghiệp, điển hình là lĩnh vực sản xuất lương thực, thực phẩm chất lượng cao
và an toàn cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu Với kinh nghiệm qua hơn 80 năm phát triển sản xuất kinh doanh, hiện nay CP Thái Lan đã mở rộng địa bàn hoạt động đến 20 quốc gia khác nhau với 200 công ty thành viên và thu hút một nguồn lao đồng 200.000 nghìn người
Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam là một tập đoàn thành viên của CP Thái Lan, được cấp giấy phép đầu tư vào năm 1993 với hình thức 100% vốn nước ngoài Các lĩnh vực đầu tư sản xuất kinh doanh tại Việt Nam
Trang 15hiện nay bao gồm: hạt giống, thức ăn chăn nuôi và thủy sản, thiết bị chăn nuôi
và nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi gia công gà và chế biến thực phẩm, đặc biệt
là lĩnh vực chăn nuôi lợn theo hai loại hình chính là: chăn nuôi lợn nái sinh sản và chăn nuôi lợn con giai đoạn sau cai sữa đến xuất chuồng (lợn thịt)
Tất cả heo giống GGP (giống cụ kị) đều được nhập khẩu từ Thái Lan
và các công ty giống nổi tiếng trên thế giới Heo giống được nuôi thích nghi, đánh giá di truyền bằng kĩ thuật hiện đại (PIBLUP) và chọn lọc qua nhiều năm tại Việt Nam, đặc biệt là hai dòng sản phẩm CP 40 và CP 909 Nước ta lợn được phân bố ở các tỉnh Hải Dương, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Đồng Nai, Hà Nội (Hà Tây cũ)…
* Giống lợn Yorkshire
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [26], giống lợn này được hình thành ở vùng Yorkshire của nước Anh Lợn Yorkshire có lông trắng ánh vàng (một số con có đốm đen), đầu cổ hơi nhỏ và dài, mõm thẳng và dài, mặt rộng, tai
to trung bình và hướng về phía trước, mình dài, lưng hơi cong, bụng gọn chân dài chắc chắn, có 14 vú
Lợn Yorkshire có tốc độ sinh trưởng, phát dục nhanh, khối lượng khi trưởng thành lên tới 300 kg (con đực), 250 kg (con cái)
Lợn Yorkshire có mức tăng khối lượng bình quân 700 g/con/ngày, tiêu tốn thức ăn trung bình khoảng 3,0 kg/kg tăng khối lượng, tỷ lệ nạc 56%
Lợn có khả năng sinh sản cao, trung bình 10 - 12 con/lứa, khối lượng
sơ sinh trung bình 1,2 kg/con
* Giống lợn Landrace
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [26], giống lợn này được tạo ra ở Đan Mạch năm 1895
Trang 16Lợn có năng suất cao, sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn 3,0 kg/kg tăng khối lượng, tăng khối lượng bình quân 750 g/con/ngày Tỷ lệ nạc 59% Khối lượng lợn trưởng thành có thể lên tới 320 kg (con đực), 250 kg (con cái)
Lợn Landrace có khả năng sinh sản khá cao và nuôi con khéo
Đây là giống lợn chuyên hướng nạc và dùng để lai kinh tế
Nguyễn Văn Thắng và Nguyễn Thị Xuân (2016) [33] cho biết, một trong những giải pháp nâng cao năng suất lợn nái là sử dụng nhiều giống lợn lai tạo với nhau Trong đó, phương pháp lai giữa hai giống lợn ngoại Landrace và Yorkshire và ngược lại, tạo ra con lai có ưu thế lai cao về nhiều tiêu chí sinh sản, trở thành một tiến bộ trong thực tế sản xuất
Lợn lai CP 909 (♂ Landrace x♀Yorkshire) là giống lợn mang đầy đủ tính
ưu việt của giống lợn Landrace và Yorkshire CP 909 được tạo ra từ những dòng Landrace và Yorkshire mới cho tốc độ tăng trưởng, chất lượng sản phẩm cao, khả năng sinh sản tốt
Đặc điểm ngoại hình của lợn CP 909: Lợn có màu lông da lông trắng tuyền, mình dài, đầu hơi hẹp, tai to, dài rủ xuống che cả mặt, 4 chân khỏe vững chắc, ngoại hình kết hợp với đặc điểm của giống lợn Landrace và Yorkshire Lưng vồng lên, mặt lưng bằng phẳng, mông phát triển, tròn Lợn CP 909 có từ
Trang 172.2.1.2 Một số đặc điểm của cơ quan sinh dục lợn nái
* Đặc điểm cấu tạo bộ máy sinh dục của lợn nái:
+ Buồng trứng: Lợn nái có 2 buồng trứng hình hạt đậu, đường kính trung bình 0,8 - 1,2 cm Buồng trứng được cấu tạo bởi 2 vùng (trong là vùng tủy chứa mạch máu và dây thẩn kinh, ngoài là vùng vỏ, tại đây chứa vô số các noãn bao phát triển ở các giai đoạn khác nhau, trong các noãn bao có chứa tế bào trứng) Các noãn bao phát triến qua từng giai đoạn, khi thành thục và chín noãn bao vở ra, trứng rụng xuống loa kèn, tại vị trí bao noãn cũ sẽ hình thành nên thể vàng (hoàng thể) Mỗi lần động dục buồng trứng lợn nái có thể rụng
10 - 30 noãn bào
+ Ống dẫn trứng: Ống dẫn trứng là ống dài ngoằn nghoèo, một đầu loe rộng tạo thành loa kèn để đón trứng từ buồng trứng rụng xuống, đầu kia nối liền với sừng tử cung Ống dẫn trứng dài 15 - 30cm
+ Tử cung: Tử cung lợn nái gồm 1 thân và 2 sừng Hai sừng của tử cung có hình dạng chữ V, nơi tiếp xúc với thân tử cung tạo thành ngã 3 Sừng
tử cung là nơi chứa thai (2 sừng tử cung dài khoảng 1 m), thân tử cung dài khoảng 5cm Phần cuối của tử cung là cổ tử cung Đây là một cái eo, thường khép kín Tận cùng của bộ máy sinh dục cái là âm hộ Trong âm hộ có lỗ thông ra ngoài của ống dẫn nước tiểu gọi là lỗ đái và tuyến tiết dịch nhờn
* Sự thành thục về tính:
Sự thành thục của gia súc được đặc trưng bởi những thay đổi bên trong và bên ngoài cơ thể, đặc biệt là sự biến đổi bên trong của cơ quan sinh dục Tùy thuộc vào từng loài gia súc khác nhau mà thời gian thành thục về tính khác nhau Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [10], ở lợn tuổi thành thục về tính là từ 6 - 8 tháng
+ Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng là các yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa hè lợn thành thục chậm hơn so với mùa thu - đông Điều đó có
Trang 18thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức Những con được chăn thả tự do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa xuân)
và 17 ngày (mùa thu) Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối cũng làm chậm tuổi thành thục về tính
so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 112 giờ mỗi ngày
+ Mật độ nuôi nhốt: Mật độ nuôi nhốt đông trên 1 đơn vị diện tích trong suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục Nhưng cần tránh nuôi lợn hậu bị tách biệt đàn trong thời kỳ phát triển Kết quả nghiên cứu của Hughes và James (1996) [40] cho thấy, việc nuôi nhốt lợn cái hậu bị riêng từng cá thể sẽ làm chậm lại thành thục tính so với lợn được nuôi nhốt theo nhóm Bên cạnh những yếu tố trên thì đực giống cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tuổi động dục của lợn cái hậu bị Nếu lợn hậu
bị thường xuyên tiếp xúc với đực giống sẽ nhanh động dục hơn lợn hậu bị không tiếp xúc với lợn đực giống Ở 165 ngày tuổi cho lợn hậu bị tiếp xúc 2 lần/ngày với lợn đực, mỗi lần tiếp xúc 15 - 20 phút thì tới 83% lợn động dục lần đầu (Muirhead M., Alexander T., 2010) [47]
+ Giống: Các giống khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [6], tuổi thành thục tính ở lợn nái nội thuần chủng (Ỉ, Móng Cái) thường ở tháng thứ 4, thứ 5 (120 - 150 ngày tuổi), lợn Landrace, Yorkshire tuổi thành thục về tính là từ 6 - 7 tháng
+ Chu kỳ tính: Từ khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục của lợn được diễn ra liên tục và có chu kỳ Do trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục cũng theo chu kỳ (Khuất Văn Dũng, 2005) [8]
- Hiện tượng rụng trứng:
Noãn bào dần dần lớn lên Nổi rõ trên bề mặt của buồng trứng Dưới tác dụng của thần kinh, hormone, áp suất Noãn bào vỡ giải phóng ra tế bào
Trang 19trứng, đồng thời thải ra dịch folliculin Hiện tượng giải phóng tế bào trứng ra khỏi noãn bào ở từng loài gia súc khác nhau Lợn thường rụng 20 - 30 tế bào trứng 1 lần
- Sự hình thành thể vàng:
Sau khi noãn bào vỡ ra và dịch nang chảy ra Màng trên bị xẹp xuống đường kính ngắn lại bằng nửa xoang trứng Tạo nên những nếp nhăn trên vách xoang ăn sâu vào trong làm thu hẹp xoang tế bào trứng Xoang chứa đầy dịch và một ít máu chảy ra từ vách xoang ra Dịch và máu đọng lại và lấp đầy xoang của tế bào trứng Các nếp nhăn gồm nhiều lớp nhăn ăn sâu vào và lấp đầy xoang gồm nhiều tế bào hạt, những tế bào hạt này tuy số lượng không tăng nhưng kích thước lại tăng rất nhanh Trong các tế bào hạt
có chứa lipoit và sắc tố màu vàng Như vậy, trong tế bào trứng đã chứa đầy
tế bào hạt (gọi là tế bào lutein) Sự phát triển của tế bào hạt mang sắc tố đã hình thành nên thể vàng Đây chính là nơi đã tạo ra hormone progesterone Trong thời gian vài ngày, thể vàng sẽ đầy xoang của tế bào trứng, nó tiếp tục phát triển Nếu gia súc không có thai thì thể vàng nhanh chóng đạt đến độ lớn tối đa rồi thoái hóa dần
Thời gian tồn tại của thể vàng từ 3 - 15 ngày Nếu gia súc có thai, nó tồn tại trong suốt thời gian mang thai đến ngày gia súc gần đẻ
- Niêm dịch:
Trong đường sinh dục của gia súc cái có niêm dịch chảy ra cũng là do kết quả của quá trình tế bào trứng rụng Do sự thay đổi hàm lượng các kích tố trong máu, từ ống dẫn trứng đến mút sừng tử cung, tiết ra niêm dịch Đồng thời ở âm đạo, âm môn cũng có niêm dịch chảy ra
- Tính dục:
Do kết quả của quá trình rụng trứng hàm lượng oestrogen tăng lên ở trong máu nên có một loạt biến đổi về bên ngoài khác với bình thường, đứng
Trang 20nằm không yên, kém ăn, kêu giống, thích gần con đực, phá chuồng, sản lượng sữa giảm, chăm chú tới xung quanh, gặp con đực không kháng cự, biểu hiện này tăng lên về cường độ cho đến khi tế bào trứng rụng
- Tính hưng phấn:
Thường kết hợp song song với tính dục, con vật có một loạt biến đổi
về bên ngoài, thường không yên, chủ động đi tìm con đực, kêu rống, kém ăn, đuôi cong và chịu đực, hai chân sau thường ở tư thế giao phối Cao độ nhất
là lúc tế bào trứng rụng Khi đã rụng tế bào trứng thì tính hưng phấn giảm đi
rõ rệt
* Chu kỳ động dục:
Theo Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [32] cho biết, chu kỳ động dục của gia súc chia làm 4 giai đoạn sau:
- Giai đoạn trước động dục:
Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục lúc này buồng trứng to hơn bình thường Các tế bào của vách ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng lông nhung tăng lên Đường sinh dục xung huyết, nhu động sừng tử cung tăng lên, dịch nhầy ở âm đạo tăng nhiều Giai đoạn này tính hưng phấn chưa cao
Khi noãn bào chín, tế bào trứng được tách ra, sừng tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung mở hoàn toàn Niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều lúc này con vật bắt đầu xuất hiện tính dục
- Giai đoạn động dục:
Theo Phạm Khánh Từ và cs (2014) [37], thời gian của giai đoạn này được tính từ khi tế bào trứng tách khỏi noãn bao các biến đổi của cơ quan sinh dục lúc này rõ rệt nhất, niêm mạc âm hộ xung huyết, phù thũng rõ rệt, niêm dịch trong suốt chảy ra ngoài nhiều, con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ: Con cái đứng nằm không yên, phá chuồng, ăn uống giảm hẳn, kêu rít, đứng
Trang 21trong trạng thái ngẩn ngơ, ngơ ngác, đái rắt, luôn nhảy lên lưng con khác hoặc
để con khác nhảy lên lưng mình, thích gần đực, khi gần đực thì luôn đứng ở
tư thế sẵn sàng chịu đực như: đuôi cong lên và lệch sang một bên, hai chân sau dạng ra và khụy xuống, sẵn sàng chịu đực
- Giai đoạn sau động dục:
Lợn trở lại trạng thái bình thường, âm hộ giảm độ nở, đuôi cụp và không chịu đực
- Giai đoạn nghỉ ngơi:
Đây là giai đoạn dài nhất, các biểu hiện về tính của gia súc ở thời kỳ này yên tĩnh hoàn toàn Thời kỳ này, cơ quan sinh dục không có biểu hiện hoạt động, trong buồng trứng thể vàng teo đi, noãn trong buồng trứng bắt đầu phát dục và lớn lên, các cơ quan sinh dục đều ở trạng thái sinh lý
* Sinh lý quá trình mang thai và đẻ:
Sau thời gian lưu lại ở ống dẫn trứng khoảng 3 ngày để tự dưỡng, hợp tử bắt đầu di chuyển xuống tử cung, tìm vị trí thích hợp để làm tổ, hình thành bào thai Sự biến đổi nội tiết tố trong cơ thể mẹ trong thời gian có chửa như sau: Progesterone trong 10 ngày đầu có chửa tăng rất nhanh, cao nhất vào ngày chửa thứ 20 rồi giảm nhẹ ở 3 tuần đầu, sau đó, duy trì ổn định trong thời gian có chửa để an thai, ức chế động dục Trước khi đẻ 1 - 2 ngày, Progesterone giảm đột ngột Estrogen trong suốt thời kỳ có chửa duy trì ở mức độ thấp, cuối thời kỳ có chửa khoảng 2 tuần thì bắt đầu tăng dần, đến khi đẻ thì tăng cao nhất Thời gian có chửa của lợn nái bình quân là
114 ngày (Jose Bento S và cs., 2013) [42]
2.2.1.3 Chăm sóc lợn nái thời gian chửa đến cai sữa
* Quy trình chăm sóc nái chửa:
Lợn nái chửa được nuôi chủ yếu ở chuồng nái chửa 1, chuồng nái chửa 2 Hàng ngày vào kiểm tra lợn để phát hiện lợn phối giống không đạt, lợn
bị sảy thai, lợn mang thai giả, vệ sinh, dọn phân không để lợn nằm đè lợn phân,
Trang 22tra cám cho lợn, rửa máng, phun thuốc sát trùng hàng ngày, xịt gầm, chở phân
ra khu xử lý phân Lợn nái chửa được ăn các loại thức ăn 566F, 567SF với khẩu phần ăn lợn tuần chửa, thể trạng, lứa đẻ như sau:
Đối với nái chửa từ tuần 1 đến tuần chửa 12 ăn thức ăn 566F với tiêu chuẩn 1,8 - 2 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày
Đối với nái chửa từ tuần 13 đến tuần chửa 14 ăn thức ăn 566F với tiêu chuẩn 2,2 - 3,5 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày
Đối với nái chửa từ tuần 15 trở đi ăn thức ăn 567SF với tiêu chuẩn 2,2 - 3,5 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày
* Quy trình chăm sóc lợn nái đẻ:
Lợn nái chửa được chuyển lên chuồng đẻ trước ngày đẻ dự kiến 7 - 10 ngày Trước khi chuyển lợn lên chuồng đẻ, chuồng phải được dọn dẹp và rửa sạch sẽ Lợn chuyển lên phải được ghi đầy đủ thông tin lên bảng ở đầu mỗi ô chuồng Thức ăn của lợn chờ đẻ được cho ăn với tiêu chuẩn như sau:
Đối với nái hậu bị, ăn thức ăn 567SF với tiêu chuẩn 2,2 kg/ngày/con, cho ăn 2 lần trong ngày
Đối với lợn nái từ lứa 2 đến lứa 4, ăn thức ăn 567SF với tiêu chuẩn 3,5 kg/ngày/con, cho ăn 2 lần trong ngày
Đối với lợn nái từ lứa 5 trở đi, ăn thức ăn 567SF với tiêu chuẩn 5 kg/ngày/con, cho ăn 2 lần trong ngày
Lợn nái chửa trước ngày đẻ dự kiến 4 ngày, giảm tiêu chuẩn ăn xuống 0,5 kg/con/bữa
Khi lợn nái đẻ được 2 ngày tăng dần lượng thức ăn từ 0,5 - 6 kg/con/ngày, chia làm ba bữa sáng lúc 7 giờ, 10 giờ, chiều lúc 17 giờ, mỗi bữa tăng lên 0,5kg
Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng đó là việc chuẩn bị lồng úm cho lợn con Ô úm rất quan trọng đối với
Trang 23lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông Ngoài ra, ô
úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng ăn vào
ô úm cho lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi) mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con Vào ngày dự kiến đẻ của lợn nái, cần chuẩn bị xong ô
úm cho lợn con Kích thước ô úm: 1,2 m x 1,5 m Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử trùng và để trống từ 3 - 5 ngày trước khi đón lợn con sơ sinh
lợn con và mẹ (Trần Văn Bình, 2010) [45]
* Bệnh viêm tử cung:
Trần Tiến Dũng và cs (2002) [10] cho biết, viêm tử cung là một quá bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm hủy các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc
Trang 24cái.Trong quá trình mang thai lợn ăn nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc
bị nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như: bệnh xoắn khuẩn (Leptospirosis), bệnh sảy thai truyền nhiễm (Brucellosis) và một số bệnh truyền nhiễm khác
làm cơ thể lợn nái yếu dần dẫn đến lợn sảy thai, đẻ non, thai chết lưu từ đó dẫn đến viêm tử cung (Nguyễn Đức Lưu và cs., 2004) [19]
Theo Nguyễn Văn Thanh (2014) [31], tỷ lệ lợn nái mắc viêm tử cung tương đối cao, bệnh thường tập trung ở lợn nái đẻ lứa đầu hoặc đã đẻ nhiều lứa
Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh trên 143 lợn nái sau khi sinh đã phát hiện 106 con tiết dịch nghi viêm đường sinh dục, chiếm tỷ lệ 74,13% (Trần Ngọc Bích và cs., 2016) [2]
Bệnh viêm đường sinh dục ở lợn chiếm tỷ lệ cao từ 30 - 50%, trong đó viêm cơ quan bên ngoài ít, chiếm tỷ lệ 20%, còn lại 80% là viêm tử cung (Trần Tiến Dũng và cs., 2002) [10]
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [17], Nguyễn Xuân Bình (2000) [3],
Lê Minh và cs (2017) [21], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:
Cơ quan sinh dục lợn nái phát triển không bình thường gây khó đẻ hoặc lợn nái khó đẻ do thai quá to, thai ra ngược, thai phát triển không bình thường
Phối giống quá sớm đối với lợn đẻ lứa đầu hoặc lợn nái già mang nhiều thai Khi đẻ tử cung co bóp yếu, do lứa đẻ trước đã bị viêm tử cung làm cho niêm mạc tử cung biến đổi nên nhau thai không ra gây sát nhau, thối rữa tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn
Trong quá trình có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, tinh bột, protein và ít vận động cơ thể nên cơ thể béo dẫn đến khó đẻ Hoặc do thiếu dinh dưỡng lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm nên không chống lại
vi trùng xâm nhập cũng gây viêm
Trang 25Do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng, gây xây sát sẽ tạo ra các ổ viêm nhiễm trong âm đạo hoặc tử cung hoặc do tinh dịch bị nhiễm khuẩn Những thao tác đỡ đẻ không đúng kỹ thuật, đưa dụng cụ vào cổ tử cung không an toàn, không đảm bảo vệ sinh
Kế phát từ các bệnh khác như bệnh viêm âm đạo, tiền đình, bàng quang hoặc các bệnh truyền nhiễm: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao thường gây ra các bệnh viêm tử cung
Bệnh còn xảy ra khi chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý kém hoặc do thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, thời tiết quá nóng, quá lạnh, ẩm ướt kéo dài
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Minh (2014) [22], yếu tố thời tiết, khí hậu, ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ mắc hội chứng viêm tử cung: mùa
hạ có tỷ lệ nhiễm cao nhất 53,37%, mùa đông 46,05%, mùa thu 43,70%
Kết quả khảo sát tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên 620 lợn nái ngoại nuôi tại một số trại tại vùng Bắc Bộ cho thấy: tỷ lệ nhiễm viêm tử cung ở đàn lợn tương đối cao, biến động từ 36,57% tới 61,07% Tỷ lệ mắc tập trung ở những lợn nái đẻ lứa đầu đến lứa thứ 8 (Nguyễn Văn Thanh, 2007) [30]
Viêm tử cung là một bệnh khá phổ biến ở gia súc cái Nếu không được chữa trị kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của gia súc cái (Lê Thị Tài và cs., 2000) [28]
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [10], Trần Thị Dân (2004) [5], khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính như: lợn dễ bị sảy thai, bào tai phát triển kém hoặc thai chết lưu, lợn nái giảm sữa hoạc mất sữa, nếu lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại
Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chức năng
cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở trong dạ con cản trở sự di chuyển của tinh trùng tạo độc tố có hại cho tinh trùng như: Spermiolisin (độc tố làm tiêu tinh trùng) Các độc tố của vi khuẩn, vi trùng và các đại thực bào tích tụ gây bất
Trang 26lợi với tinh trùng, ngoài ra nếu có thụ thai được thì phôi ở trong môi trường dại con bất lợi cũng dễ bị chết non (Lê Văn Năm, 1999) [23]
Triệu chứng:
Theo Đặng Đình Tín (1986) [35], Trần Tiến Dũng và cs (2002) [10], triệu chứng viêm tử cung thể hiện qua 3 thể viêm:
- Viêm nội mạc: lợn có biểu hiện sốt nhẹ, dịch viêm có mầu trắng hoặc xám và có mùi tanh Con vật có phản ứng đau nhẹ, phản ứng co bóp
tử cung giảm nhẹ
- Viêm cơ: lợn có biểu hiện sốt cao, dịch viêm có mầu hồng hoặc nâu
đỏ và có mùi tanh thối Con vật có phản ứng đau rõ rệt, phản ứng co bóp tử cung yếu ớt Viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung, niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào
tổ chức làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ và một ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử (Nguyễn Hữu Ninh và cs., 2000) [25]
- Viêm tương mạc: lợn có biểu hiện sốt rất cao, dịch viêm có mầu nâu
rỉ sắt và có mùi thối khắm Con vật rất đau kèm lợn triệu chứng viêm phúc mạc, phản ứng co bóp tử cung mất hẳn
Điều trị bệnh:
Theo Smith và cs (1995) [43], Popkov (1999) [27], sử dụng phương pháp tiêm kháng sinh vào màng treo cổ tử cung của lợn nái, điều trị viêm tử cung đạt hiệu quả cao: streptomycin 0,25 g, penicillin 500.000 UI, dung dịch KMnO4 1% 40 ml +Vitamin C
Khi lợn bị viêm âm đạo, âm hộ, thụt rửa âm đạo bằng dung dịch nước etacridin 1/1.000 và 1/5.000, furazolidon 1/1.000
Theo Nguyễn Văn Điền (2015) [11], đối với lợn nái viêm nhẹ, điều trị bằng cách đặt viên thuốc kháng sinh oxytetracyclin vào âm đạo từ 5 - 7 ngày
Trang 27Tiêm amoxicillin 15% 3 lần liên tiếp, mỗi lần cách nhau 48 giờ Đây là dạng viêm có kết quả điều trị khỏi bệnh cao
Đối với lợn nái sau khi đẻ, xảy thai và viêm nặng: Thụt rửa tử cung
bằng dung dịch iodine 10% pha 10 ml/2 lít nước, thụt rửa 2 lần/ngày trong 2 ngày đầu và thụt rửa 1 lần/ngày từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 5 sau khi đẻ Sau khi thụt rửa bơm thuốc kháng sinh O.T.C 10% (5 ml thuốc pha 20 ml nước sinh lý) hay 4 g Streptomycin + 40.000 UI Penicillin ngày 1 lần trong 3 ngày liên tiếp vào tử cung Đồng thời, tiêm oxytocin liều 10 - 15 UI (2 ống 5 ml/ 1 lần) nhiều lần trong ngày để tử cung co bóp tống dịch sản ra ngoài Tiêm kháng sinh phổ rộng chống viêm như: terramycin LA, Amoxicillin 15% 3 lần liên tiếp mỗi lần cách nhau 48 giờ Ngoài ra, tiêm các loại thuốc bổ trợ như: urotropin giúp tăng cường bài tiết độc tố, thuốc hạ sốt, vitamin C liều cao và canxi hỗ trợ co bóp tử cung, các thuốc kháng viêm: Ketovet,…
* Bệnh viêm vú
Nguyên nhân:
+ Khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm
cho thấy, vi khuẩn chính gây viêm vú là Staphylococcus spp và
+ Khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng cách, chuồng bẩn thì các vi
khuẩn, Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột xâm nhập gây ra
viêm vú
+ Thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi
khuẩn xâm nhập gây viêm như: E.coli, streptococus, staphylococus,
Trang 28+ Lợn con mới đẻ có răng nanh mà không bấm khi bú làm xây sát vú
mẹ tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập tạo ra các ổ viêm nhiễm bầu vú
+ Chỉ cho lợn con bú một hàng vú, hàng còn lại căng quá nên viêm + Do thời tiết thay đổi đột ngột, lạnh quá hoặc nóng quá hay thức ăn khó tiêu cũng ảnh hưởng đến cảm nhiễm vi trùng
Theo White và cs (2013) [44], biểu hiện rõ tại vú viêm với các đặc điểm: vú căng cứng, nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa, nếu vắt mạnh sữa chảy ra có nhiều lợn con lẫn máu; sau 1 - 2 ngày thấy có
mủ, lợn mẹ giảm ăn hay bỏ ăn, sốt cao 40 - 41,5oC Tùy số lượng vú bị viêm
mà lợn nái có biểu hiện khác nhau Nếu do nhiễm trùng trực tiếp vào bầu vú, thì đa số trường hợp chỉ một vài bầu vú bị viêm Tuy vậy, lợn nái cũng lười cho con bú, lợn con thiếu sữa nên liên tục đòi bú, kêu rít, đồng thời do bú sữa
bị viêm, gây nhiễm trùng đường ruột, lợn con bị tiêu chảy
Theo Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [14], trước khi đẻ cần lau vú, xoa vú, tắm cho nái Cho con bú mẹ sau 1 giờ đẻ, cắt răng nanh lợn con Tiêm kháng sinh 1,5 - 2 triệu đơn vị với 100 ml nước cất tiêm quanh vú, tiêm liên tục trong 3 ngày
Dùng novocain tiêm ven tai, tiêm chỗ giáp nhau giữa hai bầu vú và phần sườn của lợn, tiêm nhắc lại sau một ngày
Dùng kháng sinh streptomycin, penicillin, ampicillin, lincomycin… liều đạt trên 200.000 - 500.000 UI, mỗi loại trên một lần tiêm cho 1 - 2 lần/ngày trong 3 - 5 ngày
Thực hiện phòng bệnh: Vệ sinh bầu vú, hai chân sau cho lợn hằng ngày bằng dung dịch sát trùng Bấm răng sữa cho lợn con mới sinh, nên cho lợn con bú sữa đầu và phân đều vú cho từng con trong đàn Tăng cường ăn uống
đủ chất cho lợn mẹ trước và sau khi đẻ, nên giảm bớt chất đạm để hạn chế nguy cơ thừa sữa Khi lợn mẹ bị viêm vú, không nên cho lợn con bú ở những
Trang 29vùng bị viêm Dùng các phương pháp nhân tạo như chườm nóng, xoa bóp nhẹ lên vùng vú bị sưng(Duy Hùng, 2011) [15]
Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh (2010) [34] cho biết, sau khi đẻ
tử cung co bóp yếu trong thời gian mang thai nhất là giai đoạn cuối con vật không được vận động thỏa đáng Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất là
Ca và P hoặc tử cung bị sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa quá nhiều thai, thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức
+ Sót nhau không hoàn toàn: Ở động vật đơn thai một phần màng nhau còn dính lại trong tử cung con mẹ Đối với động vật đa thai một số nhau ra ngoài, một số nhau còn sót lại trong tử cung con mẹ Con vật đứng nằm không yên, nhiệt độ hơi tăng, thích uống nước, sản dịch chảy ra màu nâu
Để dễ phát hiện có sót nhau hay không khi đỡ đẻ cho lợn người ta thường gom toàn bộ nhau lại cho đến khi lợn đẻ xong, đếm số nhau ra và số lợn con sẽ phát hiện lợn con có sót nhau hay không
Trang 30- Chẩn đoán: Từ cơ quan sinh dục của nái luôn thải ra dịch màu hồng tím Quan sát kỹ thấy có màng mỏng nằm trong âm đạo, treo lòng thòng ở mép âm môn (Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh, 2010) [34]
2.2.2 Đặc điểm sinh lý của lợn con
2.2.2.1 Đặc điểm sinh trưởng, phát dục của lợn con
Khái niệm về sinh trưởng, phát dục:
Sinh trưởng:
Sinh trưởng là một quá trình sinh lý hóa phức tạp, duy trì từ khi phôi thai được hình thành đến khi thành thục về tính Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất do đồng hóa và dị hóa; là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, chiều ngang, khối lượng các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở đặc tính di truyền từ thế hệ trước Thực chất sinh trưởng là sự tăng trưởng và sự phân chia các tế bào trong cơ thể
Lợn con trong giai đoạn bú sữa có khả năng sinh trưởng và phát dục rất nhanh Từ lúc sơ sinh đến khi cai sữa trọng lượng của lợn con tăng 10 - 12 lần So với các gia súc khác thì tốc độ sinh trưởng của lợn con tăng nhanh hơn gấp nhiều lần (Nguyễn Quang Linh, 2005) [18]
Tốc độ sinh trưởng của gia súc non rất cao, nếu sữa mẹ không đảm bảo chất lượng, khẩu phần thức ăn thiếu dạm sẽ làm cho sự sinh trưởng chậm lại
và tăng trọng lượng theo tuổi giảm xuống, làm cho khả năng chống đỡ bệnh tật của lợn con kém (Phạm Sỹ Lăng và cs., 2002) [17]
Theo Trần Thị Dân (2004) [5], lợn con mới đẻ trong máu không có Glubulin nhưng sau khi bú sữa đầu lại tăng lên nhanh chóng do truyền từ mẹ sang qua sữa đầu Các yếu tố miễn dịch như bổ thể, lyzozyme, bạch cầu, được tổng hợp còn ít, khả năng bảo vệ cơ thể chống lại mầm bệnh
Phát dục:
Cùng với quá trình sinh trưởng các tổ chức trong cơ thể luôn hoàn thiện chức năng sinh lý của mình dẫn đến phát dục Phát dục là một quá trình thay