Để cung cấp giống cho nhu cầu chăn nuôi của các trang trại thì việc phát triển đàn lợn nái sinh sản cần đặc biệt được quan tâm.. Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân làm hạn chế khả nă
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -o0o -
ĐÀM ĐỨC LONG
Tên chuyên đề:
ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ MỘT SỐ BỆNH ĐƯỜNG SINH DỤC LỢN NÁI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
THIÊN THUẬN TƯỜNG - CẨM PHẢ - QUẢNG NINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y
Khóa học : 2013 – 2017 Giảng viên hướng dẫn : Th.S LÊ MINH TOÀN
Thái Nguyên, 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập, rèn luyện dưới mái trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cũng như thời gian thực tập tốt nghiệp, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô trong khoa Chăn nuôi Thú y, đã trang bị cho em những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học Đến nay em đã hoàn thành chương trình học tập và thực tập tốt nghiệp Nhân dịp này, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới:
Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Th.s LÊ MINH TOÀN, bộ môn Chăn nuôi động vật, Khoa Chăn nuôi Thú y – Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, người trực tiếp hướng dẫn em trong quá trình thực tập và báo cáo tốt nghiệp
Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới trại chăn nuôi công ty
CP KTKS Thiên Thuận Tường cùng tập thể công nhân trong trại đã tạo điều kiện thuận lợi giúp em hoàn thành khóa luận của mình
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, những người luôn tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ em vượt qua mọi khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khoá luận
Em xin chân thành cảm ơn
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
ĐÀM ĐỨC LONG
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn chăn nuôi tại trại lợn công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường trong 3 năm 2015 đến tháng 5 năm 2017 35 Bảng 4.2 Khẩu phần cho lợn nái nuôi tại trại 37 Bảng 4.3 Những biểu hiện khi lợn sắp đẻ 38 Bảng 4.4: Kết quả áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi tại trại công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường 39 Bảng 4.5 Kết quả thực hiện đỡ đẻ, phẫu thuật trên đàn lợn con 40 Bảng 4.6 Kết quả trực tiếp tham gia công tác thụ tinh nhân tạo cho lợn trong thời gian thực tập tại trại 43 Bảng 4.7 Kết quả trực tiếp thực hiện công việc vệ sinh, sát trùng tại trại 49 Bảng 4.8: Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh bằng vắc xin cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ 50 Bảng 4.9: Tỷ lệ mắc một số bệnh viêm đường sinh dục ở lợn nái tại trại 51 Bảng 4.10:Theo dõi một số triệu chứng lâm sàng của bệnh viêm tử cung và viêm âm đạo 52
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1
1.2.1 Mục tiêu 1
1.2.2 Yêu cầu 2
1.3 Ý Nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 3
2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở (trong 3 năm) 5
2.2 Cơ sở khoa học 7
2.2.1 Cấu tạo bộ phận sinh dục của lợn nái 7
2.2.2 Khái quát về đặc điểm sinh sản của lợn nái 10
2.2.3 Những hiểu biết về bệnh viêm đường sinh dục ở lợn nái 12
2.2.4 Phòng bệnh chung 20
2.2.5 Một số hiểu biết về thuốc sử dụng 21
2.2.6 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 25
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 28
2.3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 28
Trang 62.3.2 Các nghiên cứu trong nước 29
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 32
3.1 Đối tượng và phạm vi tiến hành 32
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 32
3.3 Nội dung nghiên cứu 32
3.3.1 Tình hình công tác chăn nuôi, thú y tại trại 32
3.3.2 Xác định một số bệnh viêm đường sinh dục thường mắc ở lợn nái sinh sản 32
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 32
3.4.1 Phương pháp xác định các chỉ tiêu lâm sàng 32
3.4.2 Phương pháp sử lý số liệu 33
3.4.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi 33
3.4.4 Các phương pháp khác 33
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
4.1 Cơ cấu đàn lợn nuôi tại trại lợn công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường năm 2016 và năm 2017 35
4.2 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn 36
4.2.1 Quy trình nuôi dưỡng lợn nái chửa và lợn nái nuôi con 36
4.2.2 Quy trình chăm sóc lợn nái mang thai và lợn nái tách con 37
4.2.3 Kết quả áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái nuôi tại trại 39
4.2.4 Kết quả thực hiện các khâu trong quy trình đỡ đẻ cho lợn 40
4.2.5 Kết quả thực hiện công tác thụ tinh nhân tạo cho lợn nái 43
4.2.6 Kết quả thực hiện công tác phát hiện lợn nái động dục 45
4.3 Kết quả công tác phòng và trị bệnh 46
4.3.1 Kết quả công tác phòng bệnh 46
4.3.2 Kết quả công tác tiêm vắc xin phòng bệnh 49
Trang 74.3.3 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn nái 51
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 55
5.1 Kết luận 55
5.2 Đề nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trang 8Để cung cấp giống cho nhu cầu chăn nuôi của các trang trại thì việc phát triển đàn lợn nái sinh sản cần đặc biệt được quan tâm Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân làm hạn chế khả năng sinh sản của lợn nái hiện nay đang nuôi ở các trang trại là bệnh còn xảy ra rất nhiều, do khả năng thích nghi của những giống lợn nái ngoại với khí hậu nước ta còn kém, đặc biệt là bệnh ở cơ quan sinh dục như: đẻ khó, viêm tử cung, viêm vú, ít sữa và mất sữa, sảy thai truyền nhiễm Các bệnh này do nhiều yếu tố như điều kiện vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng kém, thức ăn, nước uống không đảm bảo vệ sinh, do vi khuẩn, virus gây nên Chính vì vậy mà việc chăm sóc và tìm hiểu về bệnh ở cơ quan sinh sản của đàn lợn nái là việc cần thiết
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên chúng tôi tiến hành thực hiện chuyên đề“ Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị một số bệnh ở đường sinh dục của lợn nái nuôi tại Công ty cổ phần khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường, Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu
- Giúp sinh viên củng cố kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp thông qua việc áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái và lợn con theo mẹ
Trang 9- Có thể chẩn đoán và đưa ra phác đồ điều trị một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái và lợn con theo mẹ
- Xác định được quy trình phòng, trị bệnh và nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn nái nuôi con tại trại
1.2.2 Yêu cầu
- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại Công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường
- Nắm vững quy trình phòng, trị bệnh trên đàn lợn nái nuôi con
- Nắm vững quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con
- Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở
- Chăm chỉ, học hỏi để năng cao kỹ thuật, tay nghề của cá nhân
1.3 Ý Nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài đóng góp vào nguồn tư liệu về một số bệnh sinh sản trong chăn nuôi lợn nái sinh sản
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu sẽ xác định được một số bệnh thường xảy ra ở đường sinh dục lợn nái, từ đó đề xuất các biện pháp phòng trị bệnh hiệu quả
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và cơ sở vật chất của cơ sở thực tập
2.1.1.1.Điều kiện tự nhiên của cơ sở thực tập
* Vị trí địa lý
Trang trại sản xuất lợn hướng nạc trực thuộc Công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường nằm trên địa bàn hành chính của phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
Phường Cửa Ông có địa hình khá phức tạp, phía Bắc là những dải núi cao
Độ cao trung bình 600m, thuộc cánh cung bình phong Đông Triều – Móng Cái Phía Đông giáp sông Mông Dương – Huyện Vân Đồn Phía Tây giáp phường Cẩm Phú, xã Dương Huy Phía Nam giáp biển Phía Bắc giáp Phường Mông Dương
* Điều kiện địa hình, đất đai
Trang trại được xây dựng trên khu đất rộng hơn 6ha Khu đất có dạng đồi núi thấp, bị chia cắt bởi nhiều khe và sông nhỏ Địa hình cao hơn ở phía Tây và phía
thích hợp cho việc canh tác nhiều loại cây ăn quả, cây lấy gỗ và nuôi trồng thủy sản
* Điều kiện khí hậu
Trại chăn nuôi nằm trong địa bàn của phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả
vì vậy điều kiện khí hậu mang đặc trưng khí hậu của thành phố Cẩm Phả Khí hậu của thành phố Cẩm Phả là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình từ 22,7 -
nắng trong năm từ 1530-1776 giờ
Gió chủ đạo là gió đông Nam và đông Bắc Hàng năm có gió bão, mưa to, và cũng bị ảnh hưởng bởi các cơn bão xảy ra trong năm
Trang 112.1.1.2 Điều kiện cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng của cơ sở thực tập
* Quá trình thành lập và phát triển của công ty cổ phần KTKS Thiên Thuận Tường
Trang trại sản xuất lợn hướng nạc nằm trên địa phận phường Cửa Ông - thành phố Cẩm Phả - tỉnh Quảng Ninh Trại được thành lập năm 2007, là trại lợn tư nhân do ông Trần Hòa làm chủ đầu tư và là giám đốc công ty
* Cơ sở vật chất của trang trại
- Trại lợn của công ty cổ phần KTKS Thiên Thuận Tường có khoảng 6 ha đất
để xây dựng trang trại, nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn và các công trình phụ phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại
- Khu nhà ở của công nhân được xây ở đầu hướng gió; nhà ở được lợp ngói đỏ; có hai dãy nhà ở, một dãy nhà năm phòng và một dãy nhà ba phòng
- Khu nhà ăn xây dựng khang trang, sạch sẽ Khu nấu ăn được trang bị tủ lạnh, bếp ga để thuận tiện cho việc bảo quản và chế biến thức ăn
- Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 400 nái bao gồm: hai chuồng đẻ mỗi chuồng có 50 ô kích thước 2,4m × 1,6m/ô, hai chuồng bầu mỗi chuồng có 250 ô kích thước 2,4m × 0,65m/ô, một chuồng đực giống + nái hậu bị có 20 ô kích thước 5m × 6m,sáu chuồng thương phẩm mỗi chuồng có 20 ô kích thước 5m × 6m và một chuồng úm có 20 ô kích thước 5m × 6m Cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc
- Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có ba quạt thông gió đối với các chuồng đẻ; bốn quạt đối với các chuồng bầu, các chuồng thương phẩm, chuồng nái hậu bị + đực giống
và chuồng úm Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính; mỗi cửa sổ có diện tích 1,2m²; cách nền 1,2m; mỗi cửa sổ cách nhau 0,8m Trên trần đươc lắp hệ thống chống nóng bằng tấm cách nhiêt Ngoài ra, mỗi chuồng thương phẩm còn được trang bị hệ thống cho ăn tự động hiện đại nhất hiện nay, với 100% thiết bị và dây chuyền nhập khẩu từ Đan Mạch
Trang 12- Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác
- Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng
- Hệ thống nước trong trại chăn nuôi cho lợn uống là nước giếng mua từ bên ngoài về (do trại xây dựng gần biển nên không thể khoan giếng lấy nước ngọt được) Nước tắm cho lợn, nước xả gầm, rửa chuồng được bơm từ ao chứa nước trong trang trại lên bể chứa và theo hệ thống ống nước dẫn tới các chuồng khác nhau
* Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu tổ chức của trại được tổ chức như sau:
01: Chủ trại là giám đốc công ty
01: Trưởng trại
01: Kỹ thuật trại
02: Kế toán
10: công nhân và 10 sinh viên thực tập
02: bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại
Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như tổ chuồng
đẻ, tổ chuồng nái chửa, tổ chuồng lợn thương phẩm Mỗi tổ thực hiện công việc hàng ngày một cách nghiêm túc, đúng quy định của trại
2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở (trong 3 năm)
2.1.2.1 Công tác chăn nuôi
Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến
bộ khoa học kỹ thuật Trại lợn của công ty nuôi cả lợn nái sinh sản và lợn thương phẩm, gồm các giống lợn khác nhau như: Yorkshire, Landrace, Pietrain, Hampshire, Duroc
Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45 – 2,5 lứa/năm Số con sơ sinh là 11,23 con/đàn, số con cai sữa: 9,86 con/đàn
Trang 13Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa, sau đó được chuyển sang chuồng úm
Lợn thương phẩm tại trại được nuôi từ lúc sau cai sữa đến lúc xuất bán khoảng 4 đến 5 tháng với khối lượng trung bình từ 90 đến 105kg/con
Trong trại có 22 lợn đực giống các loại, các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo, một số cho phối giống trực tiếp Tinh lợn được khai thác chủ yếu từ hai giống lợn Landrace và Yorkshire Lợn nái được phối 3 lần và được luân chuyển giống cũng như con đực
Thức ăn cho lợn là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao của công
ty cổ phần GreenFeed Việt Nam cho từng đối tượng lợn của trại
2.1.2.2 Công tác thú y
Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại sản xuất lợn giống luôn thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên công ty cổ phần GreenFeed Việt Nam
- Công tác vệ sinh: Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, đường đi trong trại được quét dọn và rắc vôi theo quy định
- Công nhân, kỹ sư, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phải sát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộ lao động
- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi, hạn chế đi lại giữa các chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện ra vào trại sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng Với phương
châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh” nên tất cả lợn ở đây đều được cho uống thuốc,
tiêm phòng vắc xin đầy đủ Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bênh truyền nhiễm và
Trang 14các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100 %
- Công tác trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách li, điều trị ngay ở giai đoạn đầu của bệnh nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 – 90 % trong một thời gian ngắn Vì vậy, không gây thiệt hại lớn về
- Cấu tạo: + Phía ngoài buồng trứng được bao bọc bởi một lớp màng liên kết sợi, chắc như màng dịch hoàn Phía trong buồng trứng được chia làm hai miền là miền vỏ và miền tuỷ Miền vỏ đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng
+ Miền vỏ bao gồm 3 phần: Tế bào nguyên thuỷ, thể vàng và tế bào hạt Tế bào trứng nguyên thuỷ hay còn gọi là trứng non (Fullicylle cophorimari) nằm dưới lớp màng của buồng trứng Khi noãn nang chín, các tế bào bao quanh tế bào trứng phân chia thành nhiều tế bào có hình hạt (Sliarum glanusolum), noãn bao càng phát triển thì các tế bào nang tiêu tan tạo ra xoang có chứa dịch Các tầng tế bào còn lại phát triển lồi lên tạo thành một lớp màng bọc, ở ngoài có chỗ dày lên để chứa trứng
là một nếp gấp màng bụng bắt nguồn từ lớp bên của dây chằng ruột Căn cứ vào chức năng có thể chia ống dẫn trứng thành 4 đoạn:
Trang 15+ Tua điểm có hình như tua liềm
+ Phễu: Có hình phễu, miệng phễu nằm gần buồng trứng
+ Ống dẫn trứng: Đoạn ống dẫn rộng, xa tâm
+ Eo: Đoạn ống hẹp gần tâm, nối ống dẫn trứng với khoang tử cung
- Cấu tạo giải phẫu của tử cung:
Tử cung gồm hai sừng tử cung, một thân và một cổ tử cung Tỷ lệ tương đối của mỗi một bộ phận cũng như hình dáng và sự sắp xếp của các sừng biến động theo loài Ở lợn tử cung thuộc loại hình 2 sừng, các sừng gấp nếp hoặc quấn lại và
có độ dài đến hơn 1 m, trong khi thân tử cung lại ngắn Độ dày thích hợp cho việc mang nhiều thai
Cả hai mặt của tử cung được dính vào khung chậu và thành bụng bằng dây chằng rộng Ở động vật đẻ nhiều các dây chằng tử cung giãn ra làm cho tử cung thông vào xương chậu
Các tuyến nội mạc tử cung có cấu trúc hình nhánh, hình cuộn hoặc hình ống, chúng tiết ra dịch đổ vào bề mặt nội mạc tử cung
Cổ tử cung là một tổ chức sợi mà mô liên kết chiếm ưu thế kết hợp với sự có mặt của một ít cơ trơn
Mặc dù cấu trúc của cổ tử cung được đặc trưng bằng những mấu lồi, ở loài nhai lại những mấu này còn có dạng nằm ngang hoặc những nếp lồng xoắn vào nhau như những vòng nhẫn phát triển với mức độ khác nhau tuỳ từng loài
có chiều dài âm đạo cũng khác nhau
+Âm đạo lợn: 10-12 cm
+Âm đạo bò: 22-25 cm
+Âm đạo ngựa: 15-20 cm
Ở lợn, biểu mô âm đạo phát triển lên về độ cao tối đa vào lúc động dục và giảm xuống điểm thấp nhất vào ngày 12-16, các lớp bề mặt của biểu mô âm đạo bong ra ở các ngày 4 và 14
Trang 16Khả năng co rút âm đạo đóng vai trò chính trong việc đáp ứng tâm lý tình dục và cho sự vận động của tinh trùng Sự co rút của âm đạo, dạ con và ống dẫn trứng được kích thích bởi dịch thể bài tiết vào trong âm đạo, trong quá trình kích thích lúc giao phối
Dịch âm đạo chủ yếu là thấm qua màng âm đạo, hỗn hợp với các chất tiết của âm hộ từ các tuyến bã nhờn và các tuyến mồ hôi lẫn với các dịch nhày của
cổ tử cung, các dịch nội mạc tử cung, ỗng dẫn trứng và các tế bào bong ra từ biểu mô âm đạo
* Bộ phận sinh dục bên ngoài:
Bộ phận sinh dục bên ngoài là các phần mà người ta có thể nhìn thấy, sờ thấy và quan sát được, bao gồm: Âm môn, âm vật và tiền đình
- Âm môn (Vulvace) Âm môn hay còn gọi là âm hộ nằm ở dưới hậu môn Phía ngoài âm môn có hai môi (Labia Pdendi) Hai môi được nối với nhau bằng hai mép (Rima vulvace) Trên hai môi của âm môn có sắc tố màu đen và có nhiều tuyến tiết (tuyến tiết nhờn và tuyến tiết mồ hôi)
- Âm vật (Clitous) Âm vật nằm ở dưới hai mép âm môn Âm vật giống như dương vật của con đực được thu nhỏ lại Về cấu tạo, âm vật cũng có thể hổng như con đực Trên âm vật có nếp da tạo mũ âm vật, giữa âm vật bẻ gấp xuống dưới Trong thực tế sau khi dẫn tinh cho gia súc cái, kỹ thuật viên thường xoa bóp nhẹ vào âm vật kích thích con cái hưng phấn để tử cung co thắt vào, vận động bình thường
- Tiền đình (Vestibulum) Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo, nghĩa là qua tiền đình mới vào âm đạo Trong tiền đình có dấu vết màng trinh, phía trước thông màng trinh với âm đạo, phía sau màng trinh có lỗ niệu đạo Màng trinh
có các sợi cơ đàn hồi do hai lá niêm mạc gấp thành một nếp Tiền đình có một số tuyến, các tuyến này xếp theo 6 hình chéo hướng quay về âm vật, chúng có chức năng tiết dịch nhày, (Nguyễn Mạnh Hà và cs, 2003) [12]
Trang 172.2.2 Khái quát về đặc điểm sinh sản của lợn nái
Sinh sản là một thuộc tính sinh vật nhằm duy trì nòi giống và đảm bảo cho sự tiến hoá của sinh vật Quá trình sinh sản là một quá trình sinh lý phức tạp chịu sự điều khiển của thần kinh và thể dịch
Ở các giai đoạn sống khác nhau của cơ thể, mối quan hệ điều tiết giữa thần kinh và thể dịch luôn luôn xuất hiện Mối quan hệ này tuân theo một quy luật, hệ thống kế tiếp và thống nhất trong một cơ thể với cơ chế hoạt động nhiều chiều của thần kinh và thể dịch Một trong những khâu nào đó của mối quan hệ nhiều chiều này bị rối loạn thì cơ thể gia súc thay đổi theo chiều có lợi hoặc có hại với khả năng sinh sản, có thể chậm động dục ở lợn nái hậu bị hoặc ở lợn nái sinh sản hay gia súc động dục nhưng không rụng trứng Một số tình trạng sinh sản của lợn có thể thay đổi theo điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái thường thông qua các chỉ tiêu kỹ thuật như: Số con sơ sinh, số con cai sữa,
tỷ lệ con chết trong thời gian bú sữa mẹ, thời gian động dục trở lại sau cai sữa, thời gian lợn con theo mẹ Sinh lý của lợn nái biểu hiện ở các chỉ tiêu như: Tuổi động dục lần đầu, chu kỳ động dục, thời gian động dục, khối lượng phối giống lần đầu, tuổi đẻ, thời gian động dục trở lại
lần đầu ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm, từ 4-5 tháng tuổi, khi khối lượng cơ thể mới chỉ đạt 20-25 kg Ở nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn so với lợn nái thuần, ở lợn lai F1 (1/2 máu nội) động dục lần đầu lúc 6 tháng tuổi khi đó khối lượng cơ thể đạt 50-55 kg, ở lợn ngoại động dục muộn hơn với lợn lai, khoảng từ 6-
7 tháng tuổi khối lượng cơ thể vào khoảng 65-80 kg
Tuổi động dục lần đầu có sự khác nhau giữa các giống lợn nội, lợn ngoại
Trang 18Theo Phạm Hữu Doanh và cs (1995) [6] khối lượng lợn nội động dục lần đầu mới chỉ đạt 20-25 kg, tầm vóc nhỏ Trong thời điểm này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích luỹ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Vì vậy, để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì nái lâu bền thì không nên phối giống ngay mà bỏ qua từ 1-3 chu kỳ đầu rồi mới cho phối giống
Theo Nguyễn Tuấn Anh và cs (1998) [2] lợn Ỉ, lợn Móng Cái, lúc 3 tháng tuổi đã có con có biểu hiện động dục, lúc ấy thể trọng của chúng chỉ bằng 1/4
so với lúc trưởng thành Tuổi động dục lần đầu phụ thuộc vào mùa vụ Lợn nái hậu bị được sinh ra vào mùa thu sẽ động dục sớm hơn lợn nái hậu bị được sinh
ra vào mùa xuân
Đối với lợn nái hậu bị có thể gây động dục sớm hơn bằng cách tiêm huyết thanh ngựa chửa liều 20 đv/kg TT (Tô Du, 1993) [8]
Theo tác giả Duc N.V (2001) [27] cho biết: thời gian cai sữa dưới 23 ngày cần phải có hơn 7-8 ngày để nái động dục trở lại
Hiện tượng lợn nái hậu bị không động dục có thể do nhiều nguyên nhân như: Phát hiện động dục không đúng, stress, do thời tiết nóng, động dục thầm lặng (rụng trứng nhưng không có biểu hiện động dục)
Tuổi phối giống đầu tiên của lợn nái hậu bị là một vấn đề quan trọng, phối giống cho lợn cái đúng thời điểm lợn thành thục về tính, có tầm vóc, sức khoẻ đạt yêu cầu sẽ nâng cấp được khả năng sinh sản của lợn cái và phẩm chất của lợn con Nếu phối giống quá sớm, sẽ ảnh hưởng tới tầm vóc và sức khoẻ của lợn mẹ Nhưng nếu phối giống quá muộn sẽ ảnh hưởng đến sự phát dục của lợn và những hoạt động
về tính của nó
Tuổi đẻ lứa đầu:
Sau khi phối giống, lợn chửa 114 ngày, cộng thêm số tháng tuổi lợn sẽ có tuổi đẻ lứa đầu Lợn nái nội (Ỉ, Móng Cái) tuổi đẻ lứa đầu thường là 11-12 tháng 8 tuổi, lợn nái lai và nái ngoại nên cho đẻ lứa đầu lúc 12-13 tháng tuổi (Phạm Hữu
Trang 19Doanh, 1995) [6] Tác giả Duc N.V.(1997) [26] Cho biết tuổi đẻ lứa đầu của lợn nái hậu bị giống Landrace và Yorkshire là khoảng: 11-12 tháng
Sau khi thành thục về tính dục lợn bắt đầu có hoạt động sinh sản dưới sự điều hoà của hoocmone sinh dục
2.2.3 Những hiểu biết về bệnh viêm đường sinh dục ở lợn nái
Theo Bilkei (1994) [25], viêm tử cung thường xảy ra trong lúc sinh do nhiễm khuẩn E.coli gây dung huyết và các vi khuẩn gram dương Theo tác giả Urban
(1983) [32] cho biết E.coli, Streptococcus spp và Staphylocococcus aureus là
nguyên nhân gây bệnh
Ngoài ra còn một số nguyên nhân sau:
* Thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý
Khẩu phần ăn thừa hay thiếu protein trước hoặc trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến bệnh viêm tử cung
Nái mẹ sử dụng quá nhiều tinh bột, gây khó đẻ, gây viêm tử cung do xây sát Ngược lại thiếu chất dinh dưỡng nái mẹ sẽ bị ốm yếu, sức đề kháng giảm không chống lại mầm bệnh xâm nhập gây viêm tử cung
Khoáng chất, vitamin ảnh hưởng đến viêm tử cung Thiếu vitamin A gây sưng niêm mạc, sót nhau
Trang 20* Chăm sóc quản lý vệ sinh
Vệ sinh chuồng trại kém, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước khi đẻ không tốt, khu vực chuồng nuôi có mầm bệnh Do quá trình can thiệp khi lợn đẻ, thủ thuật đỡ đẻ không đúng kỹ thuật làm tổn thương niêm mạc Do tinh dịch bị nhiễm khuẩn và dụng cụ thụ tinh không vô trùng kỹ đã đưa vi khuẩn gây viêm nhiễm vào bộ phận sinh dục của lợn cái.Do lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật, khi nhảy trực tiếp sẽ truyền sang lợn cái
* Tiểu khí hậu chuồng nuôi
Thời tiết khí hậu quá nóng hoặc quá lạnh trong thời gian đẻ dễ làm cho lợn nái bị viêm tử cung Vì vậy chúng ta phải tạo tiểu khí hậu phù hợp đối với lợn nái khi sinh để làm hạn chế viêm tử cung
* Tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe
Nái đẻ nhiều lứa thường hay ít bị viêm tử cung hơn Nái đẻ lứa đầu, nái già mắc nhiều hơn
* Đường xâm nhiễm của mầm bệnh
Mầm bệnh có mặt trong ruột, truyền qua niêm mạc đi vào máu, xâm nhập vào tử cung, nguyên nhân chính của sự xâm nhập này là do nhu động của ruột kém
Xâm nhập có thể từ ngoài vào do vi khuẩn hiện diện trong phân, nước tiểu Bệnh nhiễm trùng mãn tính của thận, bàng quang và đường niệu đạo cũng là nguyên nhân gây bệnh
Hầu hết các trường hợp viêm tử cung đều có sự hiện diện của vi sinh vật thường xuyên có mặt trong chuồng lợn Lợi dụng lúc sinh sản, tử cung, âm đạo tổn thương chứa nhiều sản dịch, vi trùng xâm nhập gây viêm tử cung
b Quá trình viêm tử cung
Viêm là phản ứng toàn thân chống lại các tác nhân gây bệnh, thường biểu hiện cục bộ, quá trình viêm xảy ra nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn có những biểu hiện khác nhau Tại ổ viêm thường xảy ra các biểu hiện sưng, nóng, đỏ, đau Xét trên mặt tích cực, viêm là phản ứng nhằm ổn định các hằng số nội môi trong cơ thể, giúp cơ thể chống lại các tác nhân gây bệnh
Trang 21Theo Vũ Triệu An và cs (1990) [1] thì viêm là một phản ứng của cơ thể mà nền tảng của nó là phản ứng tế bào Phản ứng này hình thành và phát triển trong quá trình tiến hóa của sinh vật
Ngày nay người ta cho rằng viêm là phản ứng toàn thân chống lại mọi kích thích có hại của cơ thể, thể hiện ở cục bộ mô bào (Nguyễn Hữu Nam, 2005) [16]
* Hậu quả của phản ứng tuần hoàn và tế bào trong viêm
Phản ứng tuần hoàn và phản ứng tế bào trong viêm đã gây ra các rối loạn chủ yếu sau:
+ Rối loạn chuyển hóa
Tại ổ viêm quá trình oxy hóa tăng mạnh, nhu cầu oxy tăng nhưng vì có rối loạn tuần hoàn nên khả năng cung cấp oxy không đủ, gây rối loạn chuyển hóa gluxit, lipit và protein làm thay đổi pH, gây tăng độ axit, xeton, lipit, polypeptit, và các axit amin tại ổ viêm
+ Tổn thương ở mô bào
Các tế bào bị thương tại ổ viêm giải phóng các enzym càng làm trầm trọng thêm quá trình hủy hoại mô bào và phân hủy các chất tại ổ viêm, chúng tạo ra các chất trung gian có hoạt tính sinh học cao và hạ thấp pH tại ổ viêm
+ Dịch rỉ viêm Dịch rỉ viêm được hình thành do tăng áp lực thủy tĩnh trong các mạch quản tại ổ viêm, tăng áp lực thẩm thấu, tăng tính thấm thành mạch là các yếu tố quan trọng nhất và các protein bị thoát ra ngoài làm tăng lượng nước ngoại vi gây phù thũng
+ Tăng sinh ở mô bào
Là hiện tượng tăng lên về số lượng, các tế bào này có thể từ máu tới hoặc các tế bào tại chỗ sinh sản và phát triển ra Trong quá trình viêm giai đoạn đầu chủ yếu tăng sinh bạch cầu đa nhân trung tính Sự tăng sinh và phát triển của các loại tế bào phụ thuộc vào mức độ tổn thương của ổ viêm cũng như tình trạng phản ứng của
cơ thể (Nguyễn Bá Hiên (2014) [13]
Trang 22+ Các tế bào viêm
Các tế bào tăng sinh trong ổ viêm được gọi chung là các tế bào viêm, bao gồm bạch cầu đa nhân trung tính, bạch cầu ái toan, bạch cầu ái kiềm, bạch cầu đơn nhân lớn
c Các bệnh thường gặp về viêm tử cung
* Viêm cổ tử cung (Cervitis)
Cổ tử cung lợn có những u thịt xen kẽ khép lại với nhau theo lối cài răng lược (Phạm Xuân Vân, 1982) [24]
Trần Tiến Dũng và cs (2002) [9], cổ tử cung lợn dài 10-18 cm, tròn, không
có nếp gấp nên dễ thụ tinh nhân tạo hơn trâu bò
Cổ tử cung luôn đóng, chỉ hé mở khi động dục và mở hoàn toàn khi sinh đẻ Bệnh viêm cổ tử cung ở gia súc thường là hậu quả của những sai sót về kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, do thao tác đỡ đẻ, nhất là các trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hay dụng cụ không đúng làm niêm mạc cổ tử cung bị xây sát Ngoài
ra, viêm cổ tử cung còn do kế phát từ viêm âm đạo, viêm tử cung (Trần Tiến Dũng
và cs 2002) [9]
* Viêm tử cung
Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ được đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản
Chính vì vậy, bệnh viêm tử cung đã được nhiều tác giả nghiên cứu Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [9] viêm tử cung chia làm 3 thể: viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung và viêm tương mạc tử cung
- Viêm nội mạc tử cung (Endometritis)
Theo Madec F (1995) [30], viêm nội mạc tử cung là viêm lớp niêm mạc tử cung Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm khả năng sinh sản của gia súc cái.Viêm nội mạc tử cung phổ biến và chiếm tỷ lệ cao nhất trong các thể viêm tử cung
Trang 23Nguyên nhân: Khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong những trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây sát, tổn thương, vi
khuẩn như: Streptococcus, Staphylococcus, E.coli, Salmonella, Brucella, vi trùng
xâm nhập và phát triển gây viêm nội mạc tử cung Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao… thường gây ra viêm nội mạc tử cung Căn cứ vào tính chất, trạng thái của quá trình bệnh lý, viêm nội mạc tử cung có thể chia ra làm hai loại:
Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ
Viêm nội mạc tử cung có màng giả
+ Viêm nội mạc tử cung cata cấp tính có mủ
Bệnh này xuất hiện trên tất cả các loài gia súc, gặp nhiều ở bò, trâu và lợn Sau khi sinh đẻ, niêm mạc cổ tử cung và âm đạo bị tổn thương, xây sát, nhiễm khuẩn, nhất là khi gia súc bị sát nhau, đẻ khó phải can thiệp
Khi bị bệnh, gia súc có biểu hiện một số triệu chứng chủ yếu: thân nhiệt hơi cao, ăn uống giảm, lượng sữa giảm Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, đôi khi cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh Từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức chết…
Khi con vật nằm, dịch viêm thải ra ngoài càng nhiều hơn Xung quanh
âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm, có khi nó khô lại hình thành từng đám vẩy, màu trắng xám Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch viêm thải ra nhiều Cổ tử cung hơi mở và có mủ chảy qua cổ tử cung Niêm mạc âm đạo bình thường
Kiểm tra qua trực tràng có thể phát hiện được một hay cả hai sừng tử cung sưng to, hai sừng tử cung không cân xứng nhau Thành tử cung dày và mềm hơn bình thường Khi kích thích nhẹ lên sừng tử cung thì mức độ phản ứng co nhỏ lại của chúng yếu ớt Trường hợp trong tử cung tích lại nhiều dịch viêm, nhiều mủ thì
có thể phát hiện được trạng thái chuyển động sóng
Trang 24+ Viêm nội mạc tử cung có màng giả
Thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử Những vết thương đã ăn sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử
Trường hợp này, con vật xuất hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt lên cao, ăn uống và lượng sữa giảm, có khi hoàn toàn mất sữa Con vật biểu hiện trạng thái đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch: dịch viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử, niêm dịch…
- Viêm cơ tử cung (Myometritis puerperalis)
Viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả Niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm suất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào
tử cung làm niêm mạc tử cung bị phân giải, thối rữa gây tổn thương mạch quản và lâm ba quản Từ đó làm cho các lớp cơ và một ít lớp tương mạc tử cung bị hoại tử Trường hợp này có thể dẫn đến hiện tượng nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ, có khi vì lớp cơ và lớp tương mạc tử cung bị phân giải,
bị hoại tử mà tử cung bị thủng hay hoại tử từng đám
Ở thể viêm này, gia súc biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt lên cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, sản lượng sữa giảm hay mất hẳn Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ đó cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa có mùi tanh, thối Kiểm tra qua âm đạo bằng mỏ vịt thấy cổ tử cung mở, hỗn dịch càng chảy ra ngoài nhiều hơn, phản xạ đau của con vật càng rõ hơn Khám qua trực tràng thì tử cung to hơn bình thường, hai sừng tử cung to nhỏ không đều nhau, thành tử cung dày và cứng Khi kích thích lên tử cung, con vật rất mẫn cảm, đau nên càng rặn mạnh hơn, hỗn dịch bẩn trong tử cung càng thải ra nhiều Thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh đẻ lần sau
- Viêm tương mạc tử cung (Perimetritis puerperalis)
Viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ thể viêm cơ tử cung Bệnh này ở thể cấp tính, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình và nặng
Trang 25Lúc đầu, lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển sang màu đỏ sẫm, mất tính trơn bóng Sau đó các tế bào bị phân hủy và bong ra, dịch thẩm xuất rỉ ra làm cho lớp tương mạc bị xù xì Trường hợp viêm nặng, nhất là thể viêm có mủ, lớp tương mạc ở một số vùng có thể dính với các tổ chức xung quanh dẫn đến viêm phúc mạc, thân nhiệt tăng cao, mạch nhanh Con vật ủ rũ, uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn Con vật luôn luôn biểu hiện trạng thái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục Từ âm hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn
mủ và tổ chức hoại tử, có mùi thối khắm Kiểm tra qua trực tràng thấy thành tử cung dầy cứng, hai sừng tử cung mất cân đối, khi kích thích con vật biểu hiện đau đớn càng rõ và càng rặn mạnh hơn Trường hợp một số vùng của tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì có thể phát hiện được trạng thái thay đổi về vị trí và hình dáng của tử cung, có khi không tìm thấy một hoặc cả hai buồng trứng
Thể viêm này thường dẫn đến kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ
d Các biện pháp phòng trị bệnh viêm tử cung
đó bơm hoặc đặt thuốc kháng sinh penicilin 2-3 triệu UI, tetramycin hay sulfanilamid 2- 5 g vào tử cung để chống viêm Trước khi cho lợn giao phối cần kiểm tra lợn đực xem có mắc bệnh không, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục của lợn đực lẫn lợn nái Nếu thụ tinh nhân tạo cần kiểm tra dụng cụ, vệ sinh sát trùng dụng
cụ, kiểm tra phẩm chất tinh dịch
Trang 26Theo các tác giả: Lerch (1987) [29], Gajecki (1990) [28], Martineau (1990) [31], Smith (1995) [34], Taylor (1995) [35], tăng cường điều kiện vệ sinh chuồng trại, vệ sinh thân thể lợn nái là yếu tố quan trọng phòng ngừa nhiễm bệnh sau khi sinh
* Biện pháp điều trị
Theo Nguyễn Văn Thanh (2014) [20], tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung
là tương đối cao, bệnh thường tập trung ở đàn lợn nái đẻ lứa đầu hoặc đã đẻ nhiều lứa, khi thử nghiệm điều trị tác giả nhận thấy dùng PGF2α liều 25mg tiêm dưới da kết hợp với dung dịch Lugol 0,1% thụt cho kết quả điều trị cao
Để điều trị tốt bệnh viêm tử cung cần phải theo dõi, phát hiện bệnh kịp thời
và chẩn đoán đúng bệnh Phát hiện điều trị bệnh sớm sẽ rút ngắn được thời gian điều trị, đỡ tốn kém thuốc mà bệnh chóng khỏi, con vật chóng hồi phục Bên cạnh
đó việc điều trị bệnh cần đạt được hai mục đích: phục hồi nguyên vẹn niêm mạc tử cung và phục hồi chức năng co bóp của tử cung
Tử cung có liên quan mật thiết với các cơ quan khác, trong đó có hệ thần kinh-thể dịch Bởi vậy, điều trị bệnh viêm tử cung bao gồm điều trị cục bộ và điều trị toàn thân
+ Điều trị cục bộ:
Thụt rửa tử cung bằng dung dịch nước muối sinh lý 0,9%
+ Điều trị toàn thân:
Phác đồ điều trị 1:
Vetrimocin: 1ml/10 kg/ ngày Tiêm bắp Sau 48h tiêm nhắc lại Tiêm 3 mũi Oxytocin: 3ml/con/ngày Tiêm ở mép âm môn Sau 24 tiêm nhắc lại Tiêm 3 mũi Phác đồ điều trị 2:
Pendistrep-LA: 1 ml/10kg/ngày Tiêm bắp Sau 24h tiêm nhắc lại Tiêm 3-5 mũi
Oxytocin: 3 ml/con/ngày Tiêm ở mép âm môn Sau 24 tiêm nhắc lại Tiêm 3 mũi
Trang 272.2.3.2 Bệnh viêm âm đạo
Theo Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh (2010) [23] bệnh được thể hiện trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau, lợn nái đẻ nhiều lứa hay đang nuôi con đều có thể mắc bệnh, song tỷ lệ mắc phụ thuộc vào yếu tố vệ sinh môi trường
và các khu hệ động vật ở mỗi vùng khác nhau Khi con cái sinh sản là lúc lối vào các bộ phận nằm sau háng đường sinh dục mở, máu, sản dịch ra nhiều, điều đó tạo nhiều khả năng cho vi khuẩn xâm nhập Nguy cơ nhiễm trùng sau đẻ tăng khi môi trường xung quanh bị nhiễm trùng cao, Người đỡ đẻ lại chưa thật chú ý đến yêu cầu
kỹ thuật dẫn đến lợn nái bị nhiễm bệnh có tỷ lệ cao
Lúc đầu niêm mạc bộ phận bị viêm xung huyết nhẹ, có nhiều dịch thẩm xuất Kiểm tra âm đạo bằng mỏ vịt con vật không có phản ứng đau, không có triệu chứng toàn thân, con vật rặn vặt, đi đái rắt Nhiều dịch viêm lẫn tổ chức hoại tử chảy ra ngoài
b Phòng bệnh
- Kiểm tra nghiêm ngặt dụng cụ thụ tinh, phải đúng quy cách, vô trùng cẩn thận Tay người thụ tinh viên phải rửa sạch, sát trùng trước khi làm công tác thụ tinh nhân tạo Không sử dụng lợn đực bị bệnh đường sinh dục để lấy tinh cũng như cho nhảy trực tiếp Thực hiện vệ sinh chuồng trại và bãi chăn thả của lợn cái
-Vệ sinh sạch sẽ, tiêm vacxin để phòng bệnh
2.2.4 Phòng bệnh chung
Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, trước khi đẻ 1 tuần cần rửa sạch chuồng, rắc vôi bột hay quét bằng nước vôi 20% Trước khi đẻ nên chuyển lợn sang ô chuồng dành
Trang 28riêng cho lợn đẻ đã vệ sinh sát trùng kỹ Trước khi đẻ lợn nái phải được vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục, bầu vú bằng nước sạch ấm
Trước khi đỡ đẻ tay người đỡ phải được sát trùng kỹ bằng cồn hoặc rượu Trong trường hợp phải can thiệp bằng dụng cụ trợ sản thì dụng cụ phải được vô trùng, nếu can thiệp bằng tay cần cắt móng tay sát trùng và bôi trơn bằng Gel
Khi can thiệp đẻ khó cần thao tác đúng kỹ thuật, nhịp nhàng
Dụng cụ thụ tinh nhân tạo phải đúng quy định, được vô trùng trước và sau khi sử dụng
Lợn đực giống phải được kiểm tra kỹ bảo đảm không bị viêm nhiễm đường sinh dục trước khi cho nhảy trực tiếp hay khai thác tinh
Sau khi lợn đẻ xong nên tiêm Oxytocin liều 2-4 ml để kích thích đẩy hết sản dịch và nhau thai ra ngoài Tiêm một mũi kháng sinh phòng viêm tử cung Thường xuyên tắm sạch cho lợn, lau sạch âm môn cho lợn
Theo dõi quá trình đẻ để kiểm tra sót nhau, sau khi nhau đã ra hết, nên thụt rửa tử cung bằng nước muối sinh lý 0,9% hoặc dung dịch thuốc tím 0,1% sau đó tiêm kháng sinh phòng nhiễm trùng kế phát
Khi đẻ lợn nái thường bị mất sức nhiều do mất nước, mất máu và ăn kém nên sức đề kháng rất yếu vì thế sau khi đẻ xong ta nên tiêm kháng sinh kháng viêm kết hợp với tiêm thuốc bổ cho lợn như: Vitamin B1, B-complex
Điều trị các bệnh viêm nhiễm bằng thuốc kháng sinh mà sau điều trị thấy lợn nái bị mất sữa thì cần tiêm thuốc kích sữa như Thyroxine, sinh lý ngọt 5%, Oxytocin + Magie Calciumfort, bổ trợ VTM C, ADE- Bcomplex
Cho nái chửa ăn đúng khẩu phần có bổ sung rau xanh, theo dõi sức khỏe của lợn, trước khi đẻ cho lợn nái ăn ít hay nhịn ăn nhưng phải cho uống nước đầy đủ có thể bổ sung điện giải
2.2.5 Một số hiểu biết về thuốc sử dụng
Để giảm bớt thiệt hại do một số bệnh sinh sản ở lợn nái gây ra cho người chăn nuôi, nhiều tác giả đã nghiên cứu sử dụng các loại kháng sinh khác nhau
Trang 29Trong đề tài này, chúng em sử dụng hai loại thuốc là Vetrimocin-LA và PendistrepLA để điều trị bệnh
* Pendistrep-LA
-Thành phần: Trong 1ml Pendistrep-LA có chứa:
Procaine benzylpenillcin 120 000UI
Benzathine benzylpenicillin 80 000UI
Dihydrostreptomycin sulphate tương đương với 200 mg dạng base
Nhiễm trùng đường tiêu hóa
Nhiễm trùng đường hô hấp
Nhiễm trùng da và mô mềm
Nhiễm trùng đường sinh dục- tiết niệu
Nhiễm trùng sau khi phẫu thuật
Trang 30- Liều lượng và cách dùng
Tiêm dưới da hoặc tiêm bắp thịt 1ml Vetrimocin-LA cho 10 kg thể trọng, sau
2 ngày tiêm lặp lại
Amoxicillin có hiệu lực diệt khuẩn thay đổi theo thời gian trên các vi khuẩn
Gram dương như Staphylococci, Streptococci, Corynebacteria,Clostridium,
Erysipelothrix và vi khuẩn Gram âm như E.coli, Salmonella, Pasteurella và các vi khuẩn gần giống Pasteurella (pasteurella-like germs), Bordetella, Actinobacillus,
Haemophilus, Bacillus anthracis, Moraxella, Proteus mirabilis
Sau đó, amoxicillin xâm nhập nhanh chóng vào các mô, cũng như vào hệ thống mạch máu Trong đó, quan trọng nhất là khả năng phân bố khắp nơi Khả năng chuyển hóa của amoxicillin yếu nên phần lớn bị thận thải trừ qua đường nước tiểu dưới dạng còn hoạt tính
Tác động vào giai đoạn rất sớm của tiến trình nhân lên của vi khuẩn, vì thế Amoxicillin thường được sử dụng trong các trường hợp cấp tính như một giải pháp điều trị hàng đầu
Hiệu lực của Vetrimocin-LA kéo dài đến 48 giờ Sử dụng cho lợn, gia súc và các thú nhai lại nhỏ
* Oxytocin
- Thành phần: Oxytocin, dung môi vừa đủ
- Công dụng: Oxytocin có cơ chế tác dụng làm hưng phấn cơ trơn được ứng dụng trong thú y để:
+ Dục đẻ: Đặc biệt khi cổ tử cung đã hoàn toàn mở, nhưng co bóp yếu, thuốc
sẽ làm tăng co bóp tử cung
+ Chống xuất huyết tử cung sau khi sinh
Trang 31+ Kích sữa: Dùng cho thú cái vừa đẻ xong nhưng thiếu sữa
Các công dụng khác: Oxytocin dùng trị các chứng liệt ruột, chướng ruột,
- Cách dùng:
Tiêm bắp thịt, dưới da hoặc tiêm tĩnh mạch
Liều dùng: Trâu, bò, ngựa: 50-100 UI
Lợn, cừu, dê: 30-50 UI
Chó, mèo: 5-10 UI
- Chú ý :
Khi dùng thuốc để dục đẻ: Nên chia tổng liều làm 3 lần để tiêm: Lần đầu tiêm khoảng 1/3, qua 5-10 phút theo dõi chặt chẽ tình trạng co bóp tử cung, và tiếng tim thai, nếu thấy chưa đủ liều thì tiêm tiếp 1/3 nữa, lúc đẻ xong tiêm hết thuốc còn lại
Khi trị các chứng khác: Xuất huyết tử cung, liệt ruột… dùng liều gấp đôi Không dùng Oxytocin trong các trường hợp:
Gia súc bị các bệnh viêm thận, viêm cơ tim
Khi cổ tử cung chưa hoàn toàn giãn nở
- Trình bày : Chai 100ml
- Bảo quản: Nơi khô mát, tránh ánh sáng
* Nước muối sinh lý Nacl 0.9%
+ Thành phần: trong 1000 ml nước muối sinh lý có chứa 9g NaCl
+ Công dụng: Sát trùng vết thương, vết loét, sát khuẩn, diệt khuẩn an toàn, hiệu quả
Liều lượng sử dụng thụt rửa tử cung là 3-4 lít/con
Trang 32+ Tính chất: Là lod hữu cơ có tác dụng sát trùng mạnh diệt hầu hết các loại virus: Cúm gà, Newcastle, Gumboro, Dịch tả lợn, Dịch tả vịt, LMLM ,Vi khuẩn: Gram (+), Gram (-), đơn bào, xoắn khuẩn Các loại đa bào, và khử các mùi hôi thối Thuốc dùng để khử trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển, môi trường xung quanh khu chăn nuôi, tay chân của nhân viên, vùng mổ ngoại khoa
+ Công dụng: Tiêu độc chuồng trại: pha với nước sạch 1 lít Han Iodine 10%/100-250 lít nước Phun đều bề mặt chuồng, dụng cụ chăn nuôi và môi trưỡng xung quanh Tuần 1-2 lần, liên tục 2-3 tuần Sát trùng vết thương hay nốt lở loét do bệnh LMLM: Pha loãng 1/2 bôi trực tiếp lên vết thương Sát trùng tay chân, nơi tiêm, vùng mổ ngoại khoa: 10 ml/1 lít nước Sát trùng đầu vú, núm vú và tay vắt sữa, thụt rửa dạ con, âm đạo: 10 ml/1 lít nước
Lưu ý: Khi sử dụng Han Iodine thụt rửa pha tỷ lệ 1/100 không được pha quá liều dẫn đến cháy niêm mạc tử cung làm cho khó giao phối lần sau
2.2.6 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con
2.2.6.1 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái đẻ
Mục đích chăn nuôi lợn nái đẻ nhằm đảm bảo cho lợn đẻ an toàn, lợn con có
tỷ lệ sống cao, lợn mẹ có sức khỏe tốt, đủ khả năng tiết sữa nuôi con Chính vì vậy quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng có vai trò rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe lợn mẹ và lợn con
* Quy trình nuôi dưỡng
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [18]: thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn
có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để
có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, đẻ trước 2 – 3 ngày giảm 1/2 lượng thức
ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm
Trang 33dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú
mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn
ít thức ăn tinh (0,5kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc
ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2 -3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột
mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 -5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái
* Quy trình chăm sóc
Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Theo Trần Văn Phùng và cs, 2004 [18] cần phải theo dõi thường xuyên sức khỏe lợn mẹ, quan sát bầu vú, thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện các trường hợp bất thường
để có biện pháp xử lý kịp thời Trước khi lợn đẻ 10-15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy
đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3-5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Trước khi đẻ 1 tuần, cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dính trên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm hộ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sạch
sẽ cho lợn nái, chúng ta chuyển nhẹ nhàng từ chuồng chửa sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới
Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng đó
là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con Theo Trần Thanh Vân và cs, (2004) [24], ô
úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông Ngoài ra, ô úm