1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG CỦA ETHEPHON XỬ LÝ TRƯỚC THU HOẠCH VÀ ĐIỀU KIỆN BẢO QUẢN ĐẾN PHẨM CHẤT VÀ THỜI GIAN TỒN TRỮ TRÁI QUÝT ĐƯỜNG

160 211 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 777,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LÝ HOÀNG MINH PHAN THỊ LỆ THI ẢNH HƯỞNG CỦA ETHEPHON XỬ LÝ TRƯỚC THU HOẠCH VÀ ĐIỀU KIỆN BẢO QUẢN ĐẾN PHẨM CHẤT VÀ THỜI GIAN TỒN TRỮ TRÁI QUÝT ĐƯỜNG LUẬN ÁN KỸ SƯ NGÀNH TRỒNG TRỌT Cầ

Trang 1

LÝ HOÀNG MINH PHAN THỊ LỆ THI

ẢNH HƯỞNG CỦA ETHEPHON XỬ LÝ TRƯỚC THU HOẠCH VÀ ĐIỀU KIỆN BẢO QUẢN ĐẾN PHẨM

CHẤT VÀ THỜI GIAN TỒN TRỮ

TRÁI QUÝT ĐƯỜNG

LUẬN ÁN KỸ SƯ NGÀNH TRỒNG TRỌT

Cần Thơ - 2006

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 2

ix

1.1.3 Thành phần cấu tạo và giá trị dinh dưỡng quýt Đường 3

Trang 3

x

1.4 MỘT SỐ BỆNH GÂY HẠI QUAN TRỌNG TRONG BẢO QUẢN

2.2.1 Thí nghiệm 1 Khảo sát ảnh hưởng của Ethephon đến sự thay đổi

2.2.2 Thí nghiệm 2 Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ đến phẩm chất

2.2.3 Thí nghiệm 3 Khảo sát ảnh hưởng của biện pháp bao trái bằng chitosan

2.2.4 Thí nghiệm 4 Khảo sát ảnh hưởng của biện pháp bao gói bằng bao

polyethylen (PE) đến chất lượng và thời gian bảo quản trái quýt Đường 27

2.2.5 Thí nghiệm 5 Khảo sát ảnh hưởng của biện pháp kết hợp giữa nhiệt độ,

chitosan, và bao PE đến phẩm chất và thời gian bảo quản trái quýt Đường 28

Trang 4

xi

3.1 THÍ NGHIỆM 1 KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA ETHEPHON ĐẾN

3.1.1 Ảnh hưởng của ethephon lên sự biến đổi màu sắc vỏ trái quýt Đường 33 3.1.2 Ảnh hưởng của ethephon lên sự hao hụt trọng lượng (%) của trái

3.2 THÍ NGHIỆM 2 KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ ĐẾN

PHẨM CHẤT VÀ THỜI GIAN TỒN TRỮ TRÁI QUÝT ĐƯỜNG SAU

3.2.1 Tỷ lệ hao hụt trong lượng (%) trái quýt Đường theo thời gian tồn trữ 45

3.2.3 Sự thay đổi hàm lượng đường tổng số (%) theo thời gian tồn trữ 47

3.2.5 Sự thay đổi hàm lượng acid tổng (%) theo thời gian tồn trữ 51 3.2.6 Diễn biến tỷ lệ bệnh (%) theo thời gian tồn trữ 51 3.2.7 Diễn biến tỷ lệ rụng cuống (%) theo thời gian tồn trữ 52 3.3 THÍ NGHIỆM 3 KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA BIỆN PHÁP BAO TRÁI BẰNG CHITOSAN ĐẾN PHẨM CHẤT VÀ THỜI GIAN TỒN TRỮ TRÁI

3.3.1 Tỷ lệ hao hụt trọng lượng (%) theo thời gian tồn trữ 54

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 5

xii

3.3.3 Sự thay đổi hàm lượng đường tổng số (%) theo thời gian tồn trữ 56 3.3.4 Sự thay đổi pH theo thời gian tồn trữ 57 3.3.5 Sự thay đổi hàm lượng acid tổng (%) theo thời gian tồn trữ 58 3.3.6 Diễn biến tỷ lệ bệnh (%) theo thời gian tồn trữ 59 3.3.7 Diễn biến tỷ lệ rụng cuống (%) theo thời gian tồn trữ 60 3.4 THÍ NGHIỆM 4 KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA BIỆN PHÁP BAO GÓI BẰNG BAO POLYETYLENE (PE) ĐẾN THỜI GIAN TỒN TRỮ TRÁI

3.4.1 Tỷ lệ hao hụt trọng lượng (%) theo thời gian tồn trữ 62

3.4.3 Sự thay đổi hàm lượng đường tổng số (%) theo thời gian tồn trữ 65 3.4.4 Sự thay đổi pH theo thời gian tồn trữ 67 3.4.5 Sự thay đổi hàm lượng acid tổng (%) theo thời gian tồn trữ 67 3.4.6 Diễn biến tỷ lệ bệnh (%) theo thời gian tồn trữ 68 3.4.7 Diễn biến tỷ lệ rụng cuống (%) theo thời gian tồn trữ 70 3.5 THÍ NGHIỆM 5 KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA BIỆN PHÁP KẾT HỢP

GIỮA NHIỆT ĐỘ, CHITOSAN VÀ BAO PE ĐẾN PHẨM CHẤT VÀ THỜI

3.5.1 Tỷ lệ hao hụt trọng lượng (%) theo thời gian tồn trữ 72

3.5.3 Sự thay đổi hàm lượng đường tổng số (%) theo thời gian tồn trữ 74 3.5.4 Sự thay đổi pH theo thời gian tồn trữ 75 3.5.5 Sự thay đổi hàm lượng acid tổng (%) theo thời gian tồn trữ 76 3.5.6 Sự thay đổi hàm lượng vitamin C (mg/100g trọng lượng tươi) theo

3.5.8 Diễn biến tỷ lệ bệnh (%) theo thời gian tồn trữ 80 3.5.7 Diễn biến tỷ lệ rụng cuống (%) theo thời gian tồn trữ 81

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 6

3.1 Sự biến đổi màu sắc (∆E) (trong không gian màu (L, a, b) vỏ

trái quýt Đường ở những nồng độ ethephon khác nhau theo thời gian tồn trữ

36

3.2 Ảnh hưởng của ethephon lên sự biến đổi màu sắc (trị số b)

trong không gian màu (L, a, b) vỏ trái quýt Đường theo thời gian tồn trữ

37

3.3 Tỷ lệ hao hụt trọng lượng (%) của trái quýt Đường ở các

nồng độ ethephon khác nhau theo thời gian tồn trữ

38

3.4 Ảnh hưởng của ethephon ở các nồng độ khác nhau lên sự

thay đổi độ Brix của trái quýt Đường theo thời gian tồn trữ

39

3.5 Sự thay đổi hàm lượng đường tổng số (%) của trái quýt

Đường ở những nồng độ ethephon khác nhau theo thời gian tồn trữ

40

3.6 Ảnh hưởng của ethephon ở những nồng độ khác nhau lên trị

số pH của dịch trái quýt Đường theo thời gian tồn trữ

41

3.7 Diễn biến tỷ lệ nhiễm bệnh (%) ở các nồng độ ethephon khác

nhau theo thời gian tồn trữ

43

3.8 Tỷ lệ rụng cuống (%) ở các nồng độ ethephon khác nhau

theo thời gian tồn trữ

44

3.9 Sự thay đổi độ brix của các nghiệm thức nhiệt độ khác nhau

theo thời gian tồn trữ

47

3.10 Sự thay đổi hàm lượng đường tổng số (%) của các nghiệm

thức nhiệt độ khác nhau theo thời gian tồn trữ

48

3.11 Sự thay đổi trị số pH của các nghiệm thức bảo quản ở nhiệt

độ khác nhau theo thời gian tồn trữ

49

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 7

xiv

3.12 Diễn biến tỷ lệ nấm bệnh (%) của các nghiệm thức bảo quản

ở nhiệt độ khác nhau theo thời gian tồn trữ

52

3.13 Diễn biến tỷ lệ rụng cuống (%) của các nghiệm thức bảo

quản ở nhiệt độ khác nhau theo thời gian tồn trữ

53

3.14 Sự thay đổi độ brix của các nghiệm thức bao màng chitosan

khác nhau theo thời gian tồn trữ

56

3.15 Sự thay đổi hàm lượng đường tổng số của các nghiệm thức

bao màng chitosan khác nhau theo thời gian tồn trữ

57

3.16 Sự thay đổi pH của các nghiệm thức bao màng chitosan khác

nhau theo thời gian tồn trữ

58

3.17 Diễn biến tỷ lệ nấm bệnh (%) ở các nghiệm thức bao màng

chitosan khác nhau theo thời gian tồn trữ

60

3.18 Diễn biến tỷ lệ rụng cuống của các nghiệm thức bao màng

chitosan ở các nồng độ khác nhau theo thời gian tồn trữ

60

3.19 Phần trăm trọng lượng trái bị hao hụt của các nghiệm thức

bao PE theo thời gian tồn trữ

63

3.20 Sự thay đổi độ brix của các nghiệm thức bao PE theo thời

gian tồn trữ

65

3.21 Sự thay đổi hàm lượng đường tổng số (%) của các nghiệm

thức bao PE theo thời gian tồn trữ

3.24 Tỷ lệ hao hụt trọng lượng (%) ở các nghiệm thức kết hợp

bao PE, chitosan và nhiệt độ theo thời gian tồn trữ

73

3.25 Sự thay đổi độ brix của các nghiệm thức kết hợp bao PE,

chitosan và nhiệt độ theo thời gian tồn trữ

74

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 8

xv

.3.27 Sự thay đổi trị số pH của các nghiệm thức kết hợp bao PE,

chitosan và nhiệt độ theo thời gian tồn trữ

76

3.28 Sự thay đổi hàm lượng acid tổng (%) ở các nghiệm thức kết

hợp bao PE, chitosan và nhiệt độ theo thời gian tồn trữ

77

3.29 Sự thay đổi hàm lượng vitamin C (mg/100 g trọng lượng

tươi) ở các nghiệm thức kết hợp bao PE, chitosan và nhiệt độ theo thời gian tồn trữ

78

3.30 Sự thay đổi màu (ΔE) trong không gian màu (L, a, b) ở các

nghiệm thức kết hợp bao PE, chitosan và nhiệt độ theo thời gian tồn trữ

79

3.31 Sự thay đổi màu sắc (trị số b) vỏ trái quýt Đường trong

không gian màu L, a, b ở các nghiệm thức kết hợp bao PE, chitosan và nhiệt độ theo thời gian tồn trữ

80

3.32 Diễn biến tỷ lệ nấm bệnh (%) ở các nghiệm thức kết hợp bao

PE, chitosan và nhiệt độ theo thời gian tồn trữ

81

3.33 Tỷ lệ rụng cuốn của các nghiệm thức ở các nghiệm thức kết

hợp bao PE, chitosan và nhiệt độ theo thời gian tồn trữ

82

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 9

xvi

DANH SÁCH HÌNH

3.1 Ảnh hưởng của ethephon lên sự thay đổi màu sắc vỏ trái quýt

Đường ở các nghiệm thức khác nhau vào thời điểm thu hoạch

34

3.2 Sự biểu hiện màu sắc vỏ trái quýt Đường ở các nghiệm thức

ethephon khác nhau vào thời điểm 1 tuần sau thu hoạch

34

3.3 Sự biểu hiện màu sắc vỏ trái quýt Đường ở các nghiệm thức

ethephon khác nhau vào thời điểm 1 tháng sau thu hoạch

35

3 4 Diễn biến sự thay đổi hàm lượng acid tổng của trái quýt Đường ở

các nồng độ ethephon theo thời gian tồn trữ

42

3.5 Diễn biến sự hao hụt trọng lượng trái quýt Đường ở các nghiệm

thức nhiệt độ khác nhau theo thời gian tồn trữ

46

3.6 Hình thái cảm quan trái quýt Đường được bảo quản ở các nhiệt

độ khác nhau sau 4 tuần tồn trữ

49

3.7 Hình thái cảm quan bên ngoài vỏ trái quýt Đường được bảo quản

ở nhiệt độ 12ºC sau 8 tuần bảo quản

50

3.8 Hiện tượng tổn thương lạnh sau 8 tuần tồn trữ trái quýt Đường ở

nhiệt độ 8ºC

50

3.9 Diễn biến sự thay đổi hàm lượng acid tổng (%) của các nghiệm

thức bảo quản ở nhiệt độ khác nhau theo thời gian tồn trữ

51

3.10 Diễn biến sự hao hụt trọng lượng của các nghiệm thức bao màng

chitosan khác nhau theo thời gian tồn trữ

55

3.11 Hình thái cảm quan bên ngoài của trái quýt Đường được bao

màng chitosan ở các nồng độ khác nhau vào thời điểm 1 tuần sau khi tồn trữ

58

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 10

xvii

trữ

3.13 Diễn biến sự thay đổi hàm lượng acid tổng số (%) ở các nghiệm

thức bao màng chitosan khác nhau theo thời gian tồn trữ

63

3.14 Hình ảnh cảm quan bên ngoài của trái quýt sau 8 tuần tồn trữ ở

các nghiệm thức bao PE khác nhau

66

3.15 Diễn biến sự thay đổi hàm lượng acid tổng (%) ở các nghiệm

thức bao màng PE có số lỗ đục khác nhau theo thời gian tồn trữ

68

3.16 Diễn biến tỷ lệ nấm bệnh (%) xuất hiện ở các nghiệm thức bao

PE có số lỗ đục khác nhau theo thời gian tồn trữ

69

3.17 Hiện tượng trái bị nấm bệnh tấn công trong thời gian tồn trữ 70

3.18 Hình thái cảm quan bên ngoài vỏ trái quýt Đường ở thời điểm 2

tuần sau khi tồn trữ

82

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 11

TÓM LƯỢC

Đề tài được thực hiện nhằm mục đích nâng cao phẩm chất, kéo dài thời gian tồn trữ trái quýt Đường để có thể vận chuyển đi xa đặc biệt là hướng tới việc xuất khẩu Có năm thí nghiệm đã được thực hiện: (1) ảnh hưởng của ethephon, gồm năm nghiệm thức: đối chứng (không phun ethephon), ethephon 50, 100, 150 và 200 ppm; (2) ảnh hưởng của nhiệt độ, gồm bốn nghiệm thức: đối chứng (29ºC), 4 , 8 và 12ºC; (3) ảnh hưởng của màng bao chitosan, gồm 4 nghiệm thức: đối chứng (0% chitosan), 0,1, 0,25

và 0,5% chitosan; (4) ảnh hưởng của bao polyethylene (PE), gồm năm nghiệm thức: đối chứng (không bao PE), bao PE không đục lỗ, bao PE đục 5, 10 và 15 lỗ; (5) ảnh hưởng của bao màng chitosan kết hợp với bao PE bảo quản ở 12ºC, gồm bốn nghiệm thức: đối chứng (không bao màng tồn trữ ở nhiệt độ phòng thí nghiệm (29ºC)), bao PE đục 5 lỗ bảo quản ở 12ºC, bao màng chitosan 0,25% bảo quản ở 12ºC và bao chitosan 0,25% kết hợp bao PE bảo quản ở 12ºC Thí nghiệm 1 được thực hiện tại xã Thuận Phước, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp 1 tuần trước khi thu hoạch sau đó thu mẫu về tồn trữ tại Phòng thí nghiệm Sinh Lý Thực Vật thuộc Bộ môn Sinh Lý – Sinh Hoá, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ cùng với các thí nghiệm 2, 3, 4 và 5 từ 8/2005 đến 3/2006 Kết quả được ghi nhận như sau: (1) Xử lý ethephon 100 ppm ở thời điểm 1 tuần trước khi thu hoạch có tác dụng biến đổi màu xanh vỏ trái, ít ảnh hưởng đến các chỉ tiêu phẩm chất bên trong, tuổi thọ của cây, có thể tồn trữ được 5 tuần trong điều kiện phòng thí nghiệm mà chất lượng vẫn chấp nhận được; (2) Bảo quản ở 12ºC có thể tồn trữ trái đến 7 tuần, màu sắc vỏ trái biểu hiện rất đẹp, không phát hiện trái bị nấm bệnh tấn công, không có biểu hiện tổn thương lạnh, tỷ

lệ hao hụt trọng lượng ở mức thấp, các chỉ tiêu pH, độ brix, hàm lượng acid luôn ổn định; (3) Bao màng chitosan nồng độ 0,25% có thể tồn trữ được 4 tuần ở điều kiện nhiệt độ phòng thí nghiệm (29ºC), tỷ lệ hao hụt trọng lượng ở mức thấp, tỷ lệ thiệt hại

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 12

viii

lượng acid luôn duy trì ổn định; (4) Bảo quản trong bao PE có đục 5 lỗ với đường kính mỗi lỗ 1 mm ở điều kiện phòng thí nghiệm có thể tồn trữ được 4 tuần, tỷ lệ hao hụt trọng lượng rất thấp, trái luôn tươi, vỏ trái lên màu khá đẹp, các chỉ tiêu phẩm chất bên trong trái luôn ổn định; (5) Bao màng chitosan 0,25% kết hợp với bao PE đục 5 lỗ đường kính mỗi lỗ 1 mm bảo quản ở 12ºC có thể tồn trữ trên 5 tuần (vì còn đang theo dõi thí nghiệm), tỷ lệ hao hụt trọng lượng rất thấp so với các nghiệm thức còn lại, vỏ trái có vẻ cứng chắc hơn, các chỉ tiêu phẩm chất như: vitamin C, hàm lượng acid tổng,

pH, hàm lượng đường tổng số luôn được duy trì ổn định, màu sắc vỏ trái biểu hiện rất đồng đều và bóng đẹp trong suốt thời gian tồn trữ

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 13

1

MỞ ĐẦU

Cây quýt Đường khá nổi tiếng ở nước ta, nó được trồng rãi rác ở các tỉnh ĐBSCL, rất được nông dân ưa chuộng do có giá trị kinh tế cao và tương đối nhanh cho năng suất

Khác với trái quýt ở vùng ôn đới hay á nhiệt đới, trái quýt ở nước ta khi chín vẫn còn màu xanh, do không có sự chênh lệch cao giữa nhiệt độ ngày và đêm Trong điều kiện như vậy sự phân huỷ chlorophyll ít hay chậm diễn ra nên khi chín trái vẫn còn xanh Để tăng vẻ mỹ quan, thu hút sự chú ý của người tiêu dùng, việc sử dụng ethylene

để làm thay đổi màu sắc vỏ trái là cần thiết; nhưng nếu sử dụng ethylene ở nồng độ cao

có thể làm rụng lá và trái, do đó việc tìm ra nồng độ ethylene thích hợp thì rất cần được nghiên cứu

Một trong những biện pháp được quan tâm hiện nay là việc tồn trữ và vận chuyển trái quýt trong điều kiện nhiệt độ thấp Tuy việc áp dụng biện pháp này giá thành có thể còn khá cao nhưng đây là phương pháp khả thi nhằm duy trì phẩm chất và kéo dài thời gian tồn trữ Biện pháp bảo quản trái quýt ở nhiệt độ thấp làm cho các quá trình sinh lý sinh hoá trong trái bị hạn chế đến mức thấp nhất, trái sẽ chín chậm hơn, các hoạt động

và phát triển của nấm bệnh hay côn trùng cũng bị hạn chế, sự thoát hơi nước ra môi trường xung quanh cũng giảm đi rất nhiều do đó sẽ giảm tổn thất về trọng lượng, trái không bị héo và nhăn vỏ Mặc dù vậy mỗi loại trái cây có thể chịu đựng được một ngưỡng nhiệt độ giới hạn, nếu nhiệt độ cao quá hay thấp quá đều ảnh hưởng đến phẩm chất và thời gian tồn trữ trái Do đó, việc nghiên cứu để tìm ra ngưỡng nhiệt độ tối hảo trong bảo quản trái quýt Đường cũng rất cần thiết

Việc sử dụng các màng bao PE, PVC, chitosan… để bao trái cũng có tác dụng tích cực trong việc hạn chế sự thoát hơi nước, làm giảm bớt cường độ hô hấp và sinh tổng hợp ethylene, giảm hao hụt do nấm bệnh… Tuy nhiên, mỗi loại trái có những đặc tính riêng biệt (cường độ hô hấp, sinh tổng hợp ethylene…), đặc tính này thay đổi ở các độ chín khác nhau, trong điều kiện môi trường khác nhau; hơn nữa mỗi loại màng bao lại có thông số kỹ thuật riêng biệt, do đó việc nghiên cứu trước khi đưa vào ứng

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 14

dụng một loại màng bao nào đó cho các loại trái cây khác nhau cũng cần được nghiên cứu thật kỹ

Vì vậy việc nâng cao phẩm chất, kéo dài thời gian tồn trữ trái quýt là cần thiết, do

đó chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của ethephon xử lý trước

thu hoạch và điều kiện bảo quản đến phẩm chất và thời gian tồn trữ trái quýt Đường” nhằm mục đích:

- Cải thiện giá trị cảm quan của trái

- Kéo dài thời gian tồn trữ mà phẩm chất trái vẫn ổn định và có thể chấp nhận được

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 15

3

CHƯƠNG 1

LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 SƠ LƯỢC VỀ CÂY QUÝT ĐƯỜNG

1.1.1 Nguồn gốc và sự phân bố của quýt Đường

Nhiều kết quả nghiên cứu cho rằng Cam Quýt có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Đông Nam Á Tanaka (1979) đã vạch đường ranh giới vùng

xuất xứ của các giống thuộc chi Citrus từ phía Đông Bắc Ấn Độ (chân dãy

Hymalaya) qua Úc, miền Nam Trung Quốc, Nhật Bản…

Theo Trần Thế Tục, nghề trồng cam quýt ở Trung Quốc đã có từ 3000 –

2002 diện tích trồng cam quýt là 60.000 hecta (Hoàng Ngọc Thuận, 2002) và dự kiến đến năm 2010 tổng diện tích cây có múi ở Việt Nam là 200.000 hecta, đạt năng suất 10 tấn/ha với tổng sản lượng là 2 triệu tấn (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2003)

1.1.3 Thành phần cấu tạo và giá trị dinh dưỡng của quýt Đường

* Cấu tạo

Quả quýt gồm có 3 phần: ngoại, trung và nội quả bì Ngoại quả bì: là phần vỏ ngoài của trái gồm có biểu bì với lớp cutin và các khí khổng Bên dưới lớp biểu bì là lớp tế bào nhu mô vách mỏng, giàu lục lạp nên

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 16

có thể quang hợp được khi trái còn xanh Trong quá trình chín diệp lục tố sẽ bị phân hủy, nhóm sắc tố màu vàng Xanthophyll và Carotene trở nên chiếm ưu thế Màu sắc trái thay đổi từ xanh sang vàng hơi cam Màu sắc trái khi chín ở vùng khí hậu á nhiệt đới thường đẹp, tươi hơn ở vùng khí hậu nhiệt đới - khi chín trái vẫn còn màu xanh nhạt (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2003)

Trung quả bì: là phần phía trong kế ngoại quả bì Đây là một lớp gồm nhiều tầng tế bào hợp thành Có màu trắng, đôi khi có màu vàng nhạt Các tế bào có cấu tạo dài với những khoảng gian bào rộng, chứa nhiều đường, tinh bột, vitamin C và pectin Khi trái còn non hàm lượng pectin cao giữ vai trò quan trọng trong việc hút nước cung cấp cho trái (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2003)

Nội quả bì: gồm có các múi trái được bao quanh bởi vách mỏng trong suốt Bên trong vách múi có các sợi đa bào (hay còn gọi là con tép, lông mập) phát triển

và dầy dần, dịch nước chiếm đầy các múi chỉ chừa lại vài khoảng trống để hột phát triển(Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2003)

* Giá trị dinh dưỡng của quýt Đường

Ở thị trường trong nước và trên thế giới, trái cam quýt được ưa chuộng và sử dụng rộng rãi vì có chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, không những dùng để ăn tươi, chế biến mà còn có giá trị cao trong y học nhất là trong trái có nhiều vitamin C Ngoài ra còn có các vitamin A, B1, B2, PP; vỏ trái giàu pectin được

sử dụng làm xu xoa, mứt, kẹo Thân, lá, vỏ, trái, hạt làm thuốc nam hay trích lấy tinh dầu Vỏ quýt, lá quýt được dùng làm gia vị Trái được chế biến thành nhiều loại sản phẩm như: nước giải khát, mức, rượu bổ (Nguyễn BảoVệ và Lê Thanh Phong, 2003)

1.1.4 Chỉ số và thời gian thu hoạch trái quýt Đường

Theo Trần Thượng Tuấn và ctv (1994) thì trái quýt Đường có thể thu hoạch

khi có 25-50% diện tích vỏ trái chuyển sang màu vàng Hay tỷ lệ giữa độ Brix với lượng acid trong trái thay đổi từ 7/1-10/1 Không nên thu hoạch trái vào lúc có ẩm

độ cao như sáng sớm có sương hoặc sau khi mưa

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 17

5

1.2 CÁC BIẾN ĐỔI XẢY RA SAU THU HOẠCH

Mặc dù sau khi thu hoạch trái bị tách rời khỏi cây mẹ nhưng các quá trình trao đổi chất bên trong trái vẫn tiếp tục diễn ra, nhằm duy trì các quá trình sinh lý sinh hóa cũng như các biến đổi vật lý bên trong quả Đây là quá trình tiếp nhận O2, thải CO2 và một lượng nhiệt đáng kể

Quá trình biến đổi sau thu hoạch là quá trình phân hủy các chất sinh năng lượng nhằm duy trì các hoạt động sống của quả, quá trình này làm cho quả bị biến đổi về trọng lượng, màu sắc, mùi vị, độ khô, độ acid, hàm lượng đường,

1.2.1 Các biến đổi về vật lý

Trái cây sau khi thu hái để trong môi trường bảo quản sẽ xảy ra một số biến đổi vật lý có thể dẫn đến giảm chất lượng cũng như khối lượng Đó là sự bay hơi nước, giảm khối lượng và sự sinh nhiệt Trong trái cây chứa nhiều nước nên luôn xảy ra hiện tượng bay hơi nước từ trái ra môi trường bên ngoài Sự mất nước dẫn đến khô héo, giảm khối lượng gây rối loạn sinh lý, giảm khả năng kháng khuẩn và kết quả là chúng chóng thối rữa (Hà Văn Thuyết và Trần Quang Bình, 2002)

* Sự bay hơi nước

Đây là hiện tượng tất yếu xảy ra khi tồn trữ rau quả Tốc độ và lượng nước mất phụ thuộc vào nhiều yếu tố, có thể yếu tố nội tại của quả, hoặc là do tác động

của môi trường xung quanh

- Yếu tố nội tại:

Mức độ háo nước của hệ keo trong tế bào, phân tử keo trong chất nguyên sinh, hệ keo có tính háo nước sẽ giữ nước tốt hơn, giúp cho rau quả ít mất ẩm hơn, tươi lâu hơn

Quả có cấu trúc vỏ dày, chắc thì hạn chế mất nước hơn các loại quả mềm vỏ mỏng

Quả nguyên vẹn, không bị dập, tổn thương thì ít mất ẩm hơn

Quả thuộc các giống khác nhau, độ già chín khác nhau, thì biến đổi cũng khác nhau

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 18

Quả mất nước thay đổi theo từng giai đoạn khi bảo quản Ở giai đoạn đầu (sau khi thu hoạch) mất nước mạnh, giai đoạn giữa mất nước ít đi và cuối cùng khi chín hay bắt đầu hư hỏng lại càng tăng lên

- Các yếu tố môi trường xung quanh:

Nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ chuyển động của không khí, thành phần khí quyển, cách bao gói, thời gian và các phương pháp tồn trữ

Tốc độ bay hơi nước sẽ tăng khi nhiệt độ tăng, độ ẩm giảm và tốc độ chuyển động không khí cao Do đó, trong quá trình bảo quản để giảm sự mất nước làm héo quả nên hạ thấp nhiệt độ, tăng độ ẩm và giảm tốc độ chuyển động không khí trong kho bảo quản

Ở trái còn non thì các phần tử keo trong chất nguyên sinh và không bào có khả năng giữ nước yếu nên dễ bị mất nước, héo và mất tươi

Ở trái quá chín thì cũng tăng sự thoát hơi nước vì quá trình lão hoá của các

hệ keo do đó làm giảm tính háo nước (Quách Đĩnh và ctv., 1996)

* Sự giảm khối lượng tự nhiên

Sự giảm khối lượng tự nhiên có liên quan mật thiết đến quá trình bay hơi nước và sự tổn hao chất khô do quá trình hô hấp

Quả sau khi thu hoạch, các hoạt động sống vẫn tiếp tục xảy ra, đó là sự đốt cháy chất hữu cơ, sinh ra khí CO2, H2O và năng lượng Quá trình này kết hợp với quá trình bay hơi nước đã trình bày ở trên làm cho quả bị giảm khối lượng tự nhiên Khối lượng giảm đi phụ thuộc vào mùa, giống, loại, phương pháp, điều kiện bảo quản, độ nguyên vẹn của quả, (Nguyễn Minh Thuỷ, 2000; Tống Thị Ánh Ngọc, 2002) Vì thế, trong bảo quản ta cần chọn ra phương pháp thích hợp để hạn chế sự tổn hao này nhằm đảm bảo cho quả vẫn giữ được giá trị cảm quan và giá trị dinh dưỡng trong thời gian tồn trữ

Theo Quách Đĩnh và ctv (1996) sự giảm khối lượng tự nhiên là sự giảm khối

lượng do bay hơi nước và tổn hao các chất hữu cơ trong khi hô hấp Trong đó khoảng 75-85% sự giảm trọng lượng là do sự mất hơi nước còn 15-25% là do tiêu hao chất khô trong quá trình hô hấp

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 19

C6H12O6 2 CO2 + 2 C2H5OH + 28 Kcal Lượng nhiệt sinh ra trong quá trình hô hấp phần lớn (2/3) tỏa ra môi trường xung quanh và phần còn lại (1/3) dự trữ dưới dạng ATP Lượng nhiệt sinh ra này tỏa ra môi trường xung quanh làm nhiệt độ trong phòng tồn trữ tăng, nhiệt độ tăng lại kích thích cường độ hô hấp tăng, khi nhiệt độ và độ ẩm tăng lên đến một mức nào đó lại tạo điều kiện cho các loại vi sinh vật phát triển như nấm mốc và nấm men Điều này ảnh hưởng xấu đến quả khi tồn trữ vì nó làm giảm giá trị dinh dưỡng

và giá trị thương phẩm của quả

1.2.2 Các biến đổi sinh lý - sinh hóa

Các chất bị tiêu hao trong quá trình hô hấp gồm: glucid, acid, pectin,… dẫn đến sinh nhiệt trong kho bảo quản

Trong điều kiện có đủ O2 trong không khí, hô hấp hiếu khí xảy ra, sản phẩm tạo thành là CO2, H2O và năng lượng Năng lượng tỏa ra dưới dạng nhiệt sẽ làm

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 20

tăng nhiệt độ của khối nguyên liệu Mặt khác, hơi nước sinh ra sẽ làm tăng độ ẩm của môi trường đến khi nhiệt độ và độ ẩm tăng đến một mức nào đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật phát triển làm hư hỏng nguyên liệu

Trong điều kiện không có hoặc có ít O2, quá trình hô hấp yếm khí sẽ xảy ra, thải ra môi trường CO2, rượu và một lượng nhỏ năng lượng Tuy loại hô hấp này sinh ra một lượng nhiệt không đủ làm tăng nhiệt độ của khối nguyên liệu nhưng nó làm tổn hao chất dinh dưỡng nhiều hơn quá trình hô hấp hiếu khí Vậy quá trình hô hấp yếm khí tuy làm giảm khối lượng tự nhiên ít hơn so với hô hấp hiếu khí nhưng

nó làm tiêu hao lượng chất khô nhiều hơn

Trong quá trình phát triển của trái cây luôn có mối quan hệ mật thiết với môi trường xung quanh thông qua quá trình trao đổi chất, đó là quá trình đồng hoá và dị hoá Khi trái cây chưa được thu hái thì quá trình đồng hoá, tức là quá trình tổng hợp các chất xảy ra nhiều hơn Sau khi tách khỏi cây mẹ thì chủ yếu lại là quá trình phân giải các chất tích luỹ Như vậy hô hấp là quá trình sinh học cơ bản xảy ra trong trái khi bảo quản (Hà Văn Thuyết và Trần Quang Bình, 2002) Quá trình chín của trái thì hô hấp được xem là trung tâm của sự biến dưỡng và quá trình chín của trái phụ thuộc vào cường độ hô hấp (Trần Thị Kim Ba, 1998)

* Quá trình chín sau thu hoạch

Trong sản xuất trái cây nói chung, trái cam quýt nói riêng thường không thể thu hái vào thời kỳ chín sinh lý mà thường được hái trước với nhiều lý do khác nhau Vì vậy, sau khi thu hái trái sẽ tiếp tục quá trình chín sau đó, quá trình này là quá trình tự nhiên do enzym nội tại của trái tiến hành Trong quá trình này hô hấp nghiêng về phía yếm khí, quá trình thuỷ phân tăng lên, tinh bột và protopectin bị thuỷ phân, lượng acid và chất chát bị giảm xuống Ở một số trái cây, trái càng chín càng có vị ngọt do tinh bột biến thành đường đồng thời saccharose bị thuỷ phân thành glucose và fuctose Mặt dù đường bị thuỷ phân để làm nguyên liệu cho quá trình hô hấp nhưng trái vẫn ngọt vì quá trình tích tụ nhiều hơn thuỷ phân, acid hữu

cơ thì ngược lại (Trần Minh Tâm, 2000)

* Sự thay đổi màu sắc vỏ trái

Sau khi tách khỏi cây mẹ diệp lục tố không được tổng hợp thêm mà sẽ bị phân hủy dưới tác dụng của một số enzym do đó trong quá trình bảo quản màu sắc

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 21

9

của diệp lục tố dễ bị thay đổi dưới tác dụng của nhiệt độ, trong môi trường acid ion

H+ dễ thay thế ion Mg2+ trong phân tử diệp lục tố làm cho nó mất màu xanh Carotenoid có nhiều trong mô và vỏ trái khi chín Khi trái chín carotenoid tồn tại cùng với diệp lục, nó mang tính chất của vitamin A, rất dễ bị oxy hoá bởi không khí Anthocyamin có nhiều trong trái, màu sắc thể hiện không rõ, trong môi trường acid nó có màu đỏ, trong môi trường kiềm nó có màu xanh và trong môi trường trung tính nó có màu hơi tím (Trần Minh Tâm, 2000)

Với quá trình hô hấp và trao đổi chất bên trong trái cây xuất hiện những hợp chất phenol thực hiện những phản ứng tạo màu nhờ xúc tác của enzym polyphenoloxylase Tuỳ thuộc vào từng loại trái cây mà khi chín trái có màu sắc khác nhau Ví dụ màu đỏ của cà chua là do lycopene, màu đỏ của trái dâu là pelargonidin, màu vàng của đu đủ là crytoxanthin, màu vàng của cà rốt là carotenoid (Bautista, 1987) Với cây có múi đó là sự xuất hiện chất màu carotenoid

vàng và cam (Eilati và ctv.,1969; Abele, 1973 trích dẫn bởi Nguyễn Văn Phong,

2000)

* Đường tổng số

Trái cây thường chứa các dạng đường có giá trị dinh dưỡng cao như: fructose, saccharose và một số dạng đường khử khác, trong quá trình bảo quản đường và tinh bột biến động khá lớn Dưới tác dụng của enzym amylase, phosphorylase tinh bột sẽ bị thuỷ phân thành đường do vậy trái thường ngọt hơn sau một thời gian tồn trữ, nhưng lượng đường trong trái có thể giảm vì thời gian bảo quản dài do vậy trái cũng có thể bị lạt Nguyên nhân của quá trình này do lượng đường bị lấy đi để cung cấp nguyên liệu cho quá trình hô hấp và quá trình lên men rượu sự thay đổi này nhiều hay ít, nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào phương pháp bảo quản, độ chín của trái sau thu hoạch (Trần Minh Tâm, 2000)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 22

* Cellulose và Hemicellulose

Thuộc nhóm pentose, chủ yếu nằm ở bộ phận bảo vệ như vỏ trái, vỏ hạt Chúng là thành phần chủ yếu của vách tế bào Hàm lượng cellulose và hemicellulose trong trái chiếm trung bình 0,5-2% Cellulose và hemicellulose có thể

bị thuỷ phân thành các dạng đường galactose, arabinose, xylose (Trần Minh Tâm, 2000) Cellulose rất bền vững và chỉ có thể bị phá vở mạch với acid mạnh hoặc các enzymes có tên gọi là cellulases Cellulases được tìm thấy với lượng thấp trong sản phẩm sau thu hoạch (Kays, 1991; trích dẫn bởi Nguyễn Quốc Hội, 2005)

* Titratable acid (TA)

Acid hữu cơ cũng là nguyên liệu để hô hấp vì vậy trong quá trình bảo quản, acid hữu cơ bị giảm xuống và thường tổn thất nhiều hơn đường nhưng đôi khi không giảm hoặc giảm rất ít Đối với quá trình chín tiếp của trái trong thời gian bảo quản thì sự biến đổi của đường và acid tuỳ thuộc vào nhiều điều kiện khác nhau nhưng nhìn chung tỷ lệ đường/acid vẫn tăng do đó trái càng chín thì càng ngọt Hàm lượng acid hữu cơ giảm ngoài việc cung cấp nguyên liệu cho quá trình hô hấp nó còn tác dụng với rượu sinh ra trong trái để tạo thành các este làm cho trái có mùi thơm đặc trưng (Trần Minh Tâm, 2000)

* Vitamin C

Hàm lượng vitamin trong trái thay đổi tuỳ theo độ chín Đối với trái cây, hàm lượng vitamin là thành phần dinh dưỡng chủ yếu gồm đủ các loại vitamin A, B, PP,

E Trên nhóm cam quýt thì vitamin C chiếm ưu thế có thể lên đến 130-170 mg/g

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 23

11

trọng lượng; hàm lượng vitamin C giảm mạnh trong quá trình bảo quản Trong quá trình chín, vitamin C sẽ giảm đi nhanh hơn do các quá trình khử trong các mô bị phá huỷ và không khí xâm nhập Nhiệt độ càng cao thì sự tổn thất càng lớn do đó bảo quản lạnh sẽ hạn chế được sự tổn thất này Vitamin C là chất dễ bị oxy hoá và chuyển thành dạng dehydroascosbic, ở dạng này dễ bị phân huỷ dưới tác dụng của

nhiệt độ (Quách Đĩnh và ctv., 1996; Trần Minh Tâm, 2000; Lee và Kacler, 2000;

trích dẫn bởi Nguyễn Quốc Hội, 2005)

* Glucid

Là thành phần thay đổi lớn nhất, mạnh nhất trong quá trình tồn trữ cũng như trong quá trình sinh trưởng và phát triển của quả Quá trình đường hóa diễn ra dưới tác dụng của enzym nội tại mà chủ yếu là photphorilaza Tổng hàm lượng đường khi đó tăng lên đến cực đại thì giảm xuống, sự tích tụ đường trong thời kỳ chín không chỉ do đường hóa mà còn do sự thủy phân hemicellulose

Các quá trình sinh lý, sinh hóa của quả vẫn diễn ra đối với quả sau thu hoạch

Do đó, việc bảo quản được đặt ra nhằm duy trì sự sống của chúng cũng như vẫn giữ được giá trị dinh dưỡng và giá trị cảm quan trong thời gian tồn trữ Người ta thấy rằng, trong quá trình bảo quản tất cả các yếu tố thuộc về bản thân nguyên liệu và

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 24

yếu tố thuộc về môi trường bảo quản đều có ảnh hưởng đến thời gian bảo quản của quả Trong đó các yếu tố thuộc về môi trường bảo quản như: nhiệt độ, độ ẩm và thành phần khí quyển đều có ảnh hưởng đến chất lượng của quýt khi bảo quản

1.3.1 Nhiệt độ

Nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng quyết định nhất đến quá trình sống của quả Nhiệt độ càng tăng thì quá trình trao đổi chất xảy ra mạnh hơn Chẳng hạn, khi tăng nhiệt độ lên 10°C thì tốc độ phản ứng tăng lên 2 lần Tuy nhiên, khi nhiệt độ tăng lên đến một mức giới hạn nào đó thì cường độ hô hấp giảm xuống

Để tồn trữ rau quả được lâu phải hạ thấp nhiệt độ bảo quản Tuy nhiên nhiệt

độ đó không dưới điểm đóng băng để không gây tác động cơ học phá hủy tế bào do tinh thể đá gây ra Trường hợp ảnh hưởng của nhiệt độ thấp bất lợi có thể phân biệt được giữa tổn thương do đông lạnh và tổn thương lạnh, dấu hiệu tổn thương lạnh thường thấy là sự biến đổi màu, thối rữa, vết thương lỏm vào vỏ trái dính vào thịt quả và mất khả năng chín bình thường Tổn thương do đông lạnh thường thấy khi nhiệt độ dưới 0°C, các tinh thể nước đá đâm thủng màng tế bào và không thể trao đổi chất bình thường

Mỗi loại rau quả có một nhiệt độ tối ưu, mà ở đó cường độ hô hấp là thấp nhất Nhiệt độ tối ưu còn phụ thuộc vào độ chín của quả khi bảo quản Thông thường khi quả xanh thì nhiệt độ tối ưu cao hơn khi quả chín

Bên cạnh việc duy trì nhiệt độ thích hợp khi tồn trữ cần đảm bảo nhiệt độ ổn định Sự tăng, giảm nhiệt độ đột ngột sẽ làm thay đổi cường độ hô hấp, gây ra các hiện tượng bệnh lý cho rau quả

Hầu hết enzym giảm hoạt tính khi nhiệt độ trên 30°C và bất hoạt ở nhiệt độ trên 40°C (Lê Văn Hoà, 2002) Khi nhiệt độ tăng lên thích nghi với điều kiện hoạt động của enzym thì cường độ hô hấp tăng lên cao độ, nếu vượt quá mức giới hạn tối thích thì hoạt tính của enzym giảm đi hoặc mất hẳn và cường độ hô hấp giảm xuống Với các loại quả không có hô hấp cao đỉnh khi nhiệt độ càng thấp thì càng giảm tốc độ hư hỏng Tuy nhiên, nếu nhiệt độ xuống quá thấp thì có thể xảy ra hiện tượng tổn thương lạnh và gây ra các rối loạn sinh lý sinh hoá trong quá trình bảo

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 25

nhiệt độ tối ưu còn thay đổi theo độ chín của trái (Quách Đĩnh và ctv., 1996)

Do đó, duy trì nhiệt độ môi trường thích hợp và ổn định để giảm cường độ

hô hấp của quả khi bảo quản là một trong những phương pháp được áp dụng rộng rãi

1.3.2 Độ ẩm tương đối của không khí

Độ ẩm tương đối của không khí trong phòng bảo quản có ảnh hưởng lớn đến

sự bốc hơi nước của rau quả Khi độ ẩm môi trường thấp thì không những làm giảm khối lượng tự nhiên của quả mà làm cho bề mặt của quả bị héo, nhăn làm giảm giá trị cảm quan cũng như giá trị thương phẩm của quả Ngoài ra sự mất nước làm rối loạn quá trình trao đổi chất và quả mất khả năng đề kháng với những tác động bất lợi từ bên ngoài Ngược lại, độ ẩm môi trường cao sẽ hạn chế sự thoát ẩm và sự hô hấp hiếu khí, nhưng độ ẩm cao lại tạo điều kiện tốt cho vi sinh vật như nấm mốc, vi khuẩn phát triển (Hà Văn Thuyết và Trần Quang Bình, 2002)

Khi bảo quản các loại trái cây như quýt, để chống bốc hơi nước tốt và bảo

quản lâu cần duy trì độ ẩm 80-90% (Quách Đĩnh và ctv., 1996), những loại quả có

tầng cutin và lớp sáp thường có ở bên ngoài vỏ của nhiều loại trái cây có tác dụng chống sự bốc thoát hơi nước cao và nấm mốc tốt

1.3.3 Thành phần không khí

Thành phần không khí bảo quản có ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của rau quả

Ở điều kiện bình thường không khí chứa 77,56% N2, 21% O2, 0,035% CO2,

hơi nước và các thành phần khí khác Với hàm lượng O2, CO2 như trên sẽ tác động trực tiếp đến quá trình sinh lý, sinh hóa của quả nhất là quá trình hô hấp hiếu khí sẽ

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 26

xảy ra mạnh mẽ Kết quả là khối lượng rau quả bị giảm, sinh nhiệt, tiêu hao chất khô và rút ngắn thời gian bảo quản của quả

Trong khi bảo quản, quá trình hô hấp của quả luôn hấp thu O2 và thải CO2 Khi lượng CO2 tăng và O2 giảm sẽ hạn chế cường độ hô hấp và kéo dài thời gian bảo quản Nhưng khi O2 giảm dưới 2-3% và khi CO2 tăng lên cao > 10% thì hô hấp yếm khí bắt đầu xảy ra, gây rối loạn quá trình sinh lý, làm tiêu hao chất khô nhiều, quả mất khả năng đề kháng tự nhiên làm cho quả nhanh thối hỏng

Đối với quýt, khi O2 giảm xuống 5% và CO2 tăng 5-10% thì hô hấp quả bị giảm và quá trình chín của quả bị chậm lại, cường độ hô hấp cũng giảm và thời gian bảo quản tăng lên

Ngoài ra trong bảo quản thì sự thông gió là cần thiết để thay đổi nhiệt độ, độ

ẩm và thành phần không khí thích hợp tạo điều kiện tốt trong bảo quản

Từ các nhân tố trên, trong quá trình bảo quản ta nên tạo điều kiện thích hợp nhằm hạn chế quá trình hô hấp, kéo dài thời gian bảo quản

1.4 MỘT SỐ BỆNH GÂY HẠI QUAN TRỌNG TRONG BẢO QUẢN

TRÁI CAM QUÝT VÀ CÁCH PHÒNG CHỐNG

Quýt sau khi thu hoạch nếu không được bảo quản kịp thời dễ bị vi sinh vật phát triển và gây bệnh

1.4.1 Các loại bệnh thường gặp

* Bệnh mốc xám

Bệnh này do nấm Penicillium italicum gây ra Nó là loại bệnh phổ biến trong

các loại quả họ Cam quýt Loại bệnh này trước hết xuất hiện ở vết xay xát trên vỏ quả, từ đó lây lan sang quả khác qua tiếp xúc Như vậy, để đề phòng bệnh này quả phải nguyên vẹn, không xây xát, dập nát Điều đó cần được chú ý ngay từ khi thu hoạch và chuyên chở Trong quá trình bảo quản nếu phát hiện quả nhiễm bệnh thì cần phải loại bỏ ngay

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 27

15

* Bệnh mốc xanh

Do nấm Penicillium digitatum gây ra, bệnh loại này làm mềm, thối phần thịt

quả Bệnh bắt đầu từ những quả bị thương khó lây lan sang quả khác Đây là bệnh khá phổ biến thường gây thiệt hại lớn Để phòng chống bệnh này cần chế độ bảo quản thích hợp, tốt nhất là bảo quản lạnh

* Bệnh mốc vàng

Do nấm Botritis cineria gây ra khi trái cam quýt phát triển và được thu hoạch

vào mùa mưa, ẩm ướt hay gặp lạnh khi chúng còn trên cây Loại này làm sơ cứng phần vỏ, múi quả bị khô, đen và đắng Bệnh có khả năng lây sang quả khác do tiếp xúc

* Bệnh thối đen

Do nấm Alternaria citri bệnh thường xuất hiện cả khi trái còn ở trên cây mẹ

và khi bảo quản Đầu tiên xuất hiện trên vỏ với những vết nâu đen, dần dần lan vào thịt quả làm cho toàn bộ quả thâm đen và hỏng

* Bệnh thán thư

Do nấm Colletotrichum gloesporoides xâm nhập Đầu tiên bệnh xuất hiện ở

muốm quả, làm cho muốm bị mềm và thâm đen Bệnh thường xuất hiện vào cuối thời kỳ bảo quản Để phòng chống bệnh này cần phải tránh để trái bị xay xát, đảm bảo cho trái sạch, không dơ bẩn, tốt nhất là tồn trữ ở nhiệt độ lạnh

1.4.2 Cách phòng chống

Một số hoá chất có thể tiêu diệt hoặc ức chế sự phát triển của vi sinh vật, chống lại các tác nhân gây hư hỏng để có thể giữ được chất lượng của trái sau một thời gian tồn trữ Tuy nhiên, hoá chất sử dụng phải nằm trong danh mục được phép

sử dụng, sử dụng đúng liều lượng và đúng cách nhằm đảm bảo an toàn sức khoẻ người tiêu dùng

* Benzoat Natri

Benzoat Natri có khả năng chống lại các nấm gây hại như Alternaria sp và Penicillium sp ở nồng độ thấp 500-2.000 ppm Theo đánh giá của FAO thì Benzoat

Natri là chất rất ít độc, ở người liều lượng gây độc là 6 mg/kg thể trọng Hơn nữa,

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 28

Benzoat Natri khi vào cơ thể người sẽ bị chất Glycin ở thận tác dụng tạo thành acid hypuric và thải ra ngoài theo đường bài tiết, vì thế không ảnh hưởng đến sức khoẻ

người tiêu dùng (Tống Thị Ánh Ngọc, 2002)

* Benomyl

Phun Benomyl ở nồng độ 1.000 ppm có hiệu quả đối với bệnh thán thư và

250 ppm có hiệu quả đối với bệnh thối cuống trên trái xoài (Trần Thị Kim Ba, 1998) Tại Thái Lan, việc nhúng trái xoài vào dung dịch Benomyl ở 55°C trong 5

phút phòng trừ tốt bệnh thối cuống do Lasiodiplodia theobromae gây ra (Sangchote

và Saoha, 1997) Phun benomyl trước thu hoạch và xử lý imazalil, nước nóng, chất trích nấm men sau thu hoạch có thể hạn chế sự thiệt hại do bệnh mốc xanh gây ra

trên quít Satsuma (Yildiz và ctv., 2005) Ngoài ra, Benomyl cũng diệt trừ nấm gây

hại cuống trái cam quýt có hiệu quả Tuy nhiên, hiện nay nhiều quốc gia trên thế giới đã cấm sử dụng benomyl trong bảo quản trái cây vì một số nghiên cứu cho thấy benomyl có ảnh hưởng đến sức khoẻ con người mà đặc biệt là ảnh hưởng đến thị giác trẻ em

* Calcium hypochloride (Chlorine)

Hiện nay chlorine được sử dụng khá phổ biến để xử lý nấm bệnh trong bảo quản trái cây Theo Nguyễn Văn Phong và Đỗ Minh Hiền (2001), nhúng trái bưởi Năm Roi sau thu hoạch trong dung dịch chlorine ở nồng độ 100-150 ppm trong thời gian 5 phút để diệt trừ và ngăn ngừa các loại nấm bệnh tấn công vỏ trái Ngoài ra, chlorine cũng được sử dụng ở nồng độ 200 ppm để phun lên cành mang quả nhằm hạn chế sự xâm nhiễm mầm bệnh lên trái (Bartz, 1998) Khi sử dụng chlorine cũng cần chú ý đến trị số pH, nếu pH trên 8 thì chlorine không có hiệu quả trong việc chống lại bệnh, pH và chlorine tự do phải được đo để xác định nồng độ của dung dịch chlorine Trên cam quýt, nồng độ sử dụng tối thiểu 75 ppm và pH trong khoảng 6,5-7,5 Những nghiên cứu gần đây cho thấy ở nồng độ 100 ppm là cần thiết cho tiêu diệt mầm bệnh Những thuận tiện chính khi sử dụng chlorine là hiệu quả tiêu diệt mầm bệnh cao, phổ rộng và rẻ tiền Tuy nhiên, chlorine có tính ăn mòn dụng cụ và cần thường xuyên theo dõi pH để đảm bảo tác dụng của chlorine (Sargent và Breacht, 2001)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 29

17

1.5 MỘT SỐ BIỆN PHÁP BẢO QUẢN TRÁI CAM QUÝT

Để kéo dài thời gian bảo quản rau quả, hiện nay có nhiều phương pháp khác nhau chúng ta có thể áp dụng từng phương pháp để bảo quản nhưng tốt hơn cả là áp dụng phối hợp các phương pháp đó Sau đây là một trong các phương pháp thường

sử dụng:

1.5.1 Bảo quản ở điều kiện nhiệt độ thấp

Bảo quản ở điều kiện nhiệt độ thấp là một trong những phương pháp phổ biến hiện nay Phương pháp này được sử dụng vì nó hạn chế được quá trình hô hấp cũng như các phản ứng sinh lý, sinh hóa xảy ra trong quá trình bảo quản Ngoài ra,

nó còn ức chế hoạt động của một số vi sinh vật, côn trùng thuộc đối tượng kiểm dịch và giảm hoạt tính của men trong nguyên liệu Do đó khả năng tồn trữ được kéo dài Ở Florida, bảo quản lạnh là một chứng nhận kiểm dịch cho trái cây có múi ở những vùng bị nhiễm ruồi đục trái, bưởi được bảo quản ở 10-12°C khoảng 1 tuần nhằm gia tăng tính kháng lạnh trước khi đưa vào xử lý lạnh ở nhiệt độ thấp hơn để diệt ruồi (Mohamed, 1997 trích dẫn bởi Nguyễn Hùng Cường, 2004)

Quách Đĩnh và ctv (1996) cho rằng, trái cây sau khi thu hái cần đưa nhanh

vào kho lạnh để giảm cường độ hô hấp và sự bốc thoát hơi nước, ngoại trừ khoai tây

và hành tây cần một thời gian ngắn ở nhiệt độ cao để làm lành vết thương (khoai tây), lành sẹo và vỏ ngoài (hành tây), được làm khô nhằm bảo quản tốt hơn Cần loại bỏ các cá thể bị hư dập và cần phân loại theo độ chín Nếu rau quả thu hoạch vào thời kỳ nóng thì trước khi nhập vào phòng tồn trữ cần làm mát ở hành lang kho lạnh hoặc ở phòng làm mát sơ bộ Khi chuyển trái cây từ phòng lạnh ra cũng cần nâng nhiệt từ từ Rau quả tồn trữ ở phòng lạnh không nên để bị tác động của sự thay đổi nhiệt đột ngột, gây đọng nước dễ làm hư hỏng rau quả

Tuy nhiên, việc bảo quản trái cây ở nhiệt độ thấp vấn đề thường gặp phải là hiện tượng tổn thương lạnh, vỏ trái thường có những đốm nâu li ti, thịt trái bị nhũng nước và mềm hay bị hoá nâu… Để tránh hiện tượng này phải bảo quản trái cây ở nhiệt độ thích hợp, nhiệt độ này thay đổi tuỳ giống và tuỳ điều kiện canh tác Hầu hết các loại trái cây nhiệt đới thường mẫn cảm với nhiệt độ thấp cho nên việc giảm

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 30

nhiệt độ trong bảo quản bị hạn chế vì trái sẽ bị tổn thương do lạnh hoặc do đông lạnh Do đó, khi hạ nhiệt độ bảo quản cần chú ý đến ngưỡng của từng loại trái cây Trái cây có múi có thể bảo quản hoặc vận chuyển ở nhiệt độ 5-15°C và nếu duy trì

ở nhiệt độ này chúng ta có thể giữ trái tươi được khoảng 2-3 tháng với chất lượng

ngon (Jobling và ctv., 2002 và El-Hilali, 2002)

Nguyễn Hùng Cường (2004) đã tồn trữ trái bưởi Năm Roi ở nhiệt độ 14°C có thể khống chế bệnh thối trái, duy trì cuống trái, giảm mất nước và kéo dài thời gian tồn trữ Nguyễn Quốc Hội (2005) đã tồn trữ quýt Hồng ở nhiệt độ 15°C có thể giữ được 8 tuần nhưng chất lượng có thể chấp nhận được, bên cạnh đó có thể cải thiện màu sắc trái rất tốt

12-Tuy nhiên, trong phương pháp này có sự biến đổi quan trọng nhất là biến đổi

ẩm độ, tức là quá trình bay hơi nước gây hao hụt khối lượng rau quả và làm rau quả

bị héo khô bề mặt Sự bay hơi nước này được khắc phục bằng nhiều cách:

+ Giảm bề mặt bay hơi riêng bằng cách đóng gói bao bì kỹ, phủ kín sản phẩm Ở đây sử dụng phương pháp bao màng chitosan kết hợp bao gói PE hay bao xốp nhằm ngăn cản sự bay hơi nước từ bề mặt

+ Không nên thông gió nhiều khi làm lạnh mà chỉ đủ cho rau quả hô hấp hạn chế

+ Tăng độ ẩm không khí trong phòng lạnh bằng cách phun ẩm vào kho bảo quản Độ ẩm tốt nhất 80-90%, ở độ ẩm này không những tránh sự khô héo

bề mặt, giữ được chất lượng quả, mà còn hạn chế sự phát triển của vi sinh vật gây hại

Với phương pháp này phải mất chi phí cao để tạo ra môi trường truyền lạnh, các cấu tạo cách nhiệt tốt, các bộ phận điều chỉnh lạnh… Do đó thường sử dụng phổ biến trong công nghiệp

Bên cạnh các phương pháp được trình bày ở trên người ta còn sử dụng các phương pháp cổ điển như: bảo quản trong cát hay phương pháp hiện đại là bảo quản bằng tia bức xạ

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 31

19

1.5.2 Bảo quản trong không khí điều chỉnh (thành phần khí)

* Phương pháp MAP: (Modified Atmosphere Packaging)

Mục đích của phương pháp này là làm giảm hoạt động hô hấp và các phản ứng trao đổi chất thông qua sự tăng hàm lượng CO2 và giảm O2 bằng cách sử dụng các loại bao bì có những tính chất đặc biệt, nhất là hạn chế việc mất ẩm và chất lượng của quả

Nguyên tắc của MAP là tạo hệ thống tồn trữ là hệ thống động Ban đầu, bên trong bao bì hàm lượng oxy giảm dần do bị sử dụng bởi nguyên liệu và hàm lượng

CO2 tăng dần do quá trình hô hấp

Quá trình này tiếp tục diễn ra đến khi điều kiện cân bằng đạt được tại thời điểm tốc độ tiêu thụ O2 bằng tốc độ sinh CO2, trong đó O2 khuếch tán vào bên trong

và CO2 khuếch tán ra ngoài màng bao gói Do đó, hàm lượng O2 giảm dần và CO2

tăng trong bao bì bảo quản Khi đó tốc độ hô hấp bằng tốc độ thấm khí

Với phương pháp này ta có thể sử dụng màng bao một màng hay màng bao hai màng, bao gói được sử dụng phải là loại bao bì có khả năng thấm khí Khả năng thấm khí này phụ thuộc cấu trúc màng, độ dày màng, nhiệt độ, hàm lượng O2 và

CO2 và bản chất của khí Ngoài ra, để quá trình thoát khí CO2 trong bao bì hạn chế

sự hô hấp yếm khí người ta sử dụng bao bì đục lỗ với số lỗ chiếm 2-5% diện tích bao bì (Phan Thị Anh Đào, 2003)

Bao bì cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình bảo quản Ngoài tác dụng đóng gói rau quả không bị va chạm, dập hư, nó còn có tác dụng trực tiếp đến sự biến đổi của rau quả Điều dễ nhận thấy đầu tiên là sự giữ ẩm nguyên liệu, chống mất mát khối lượng do bay hơi nước

Nguyên lý chung của bao bì là việc sử dụng các loại vật liệu làm bao bì tương tự như plastic hầu như có hiệu quả trong việc hạn chế sự mất ẩm và chất dinh dưỡng trong rau quả tươi Các loại bao bì như thùng carton tráng sáp bao da hoặc các loại bao bì được xử lý đặc biệt khác làm mất ẩm một cách có ý nghĩa

Tùy theo từng loại rau quả khác nhau và điều kiện xử lý mà sử dụng từng loại bao bì thích hợp để đạt kết quả tối ưu nhất

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 32

Trong khả năng nghiên cứu của đề tài bên cạnh việc sử dụng màng bao PE chúng tôi còn sử dụng bao bì hai màng bao: màng chitosan quanh trái, sau đó đựng trong các bao PE Phương pháp này có các ưu điểm nổi bật sau: làm giảm sự mất

ẩm, giảm các hư hỏng thuộc về cơ học, tăng tính hấp dẫn bề mặt và không đòi hỏi thiết bị đặc biệt

* Phương pháp CA (Control Atmosphere)

Là phương pháp bảo quản rau quả tươi trong môi trường khí quyển mà thành phần khí CO2, O2 được kiểm soát (Quách Đĩnh, 1996)

Mục đích của phương pháp này: nhằm làm giảm quá trình sinh lý, sinh hóa, chẳng hạn như làm giảm quá trình hô hấp, giảm mức độ sản sinh ethylene, làm chậm quá trình chín và mềm hóa

Nguyên lý: Ta thêm hoặc bớt thành phần khí nhằm tạo thành phần khí khác biệt với khí quyển bình thường Nói cách khác là tăng lượng CO2, giảm O2 (có thể tăng lượng N2) so với môi trường khí quyển bình thường

Phương pháp tạo khí quyển có kiểm soát Phòng tồn trữ kín: trong quá trình tồn trữ do hô hấp nên thành phần khí không duy trì nhất định mà có sự tăng CO2, giảm O2 Để duy trì mức độ thích hợp giữa CO2 và O2 không chênh lệch quá lớn bằng cách hấp thu bớt lượng CO2 sinh ra + Bằng phương pháp vật lý: cho CO2 qua hệ thống tháo CO2 thừa

+ Bằng phương pháp hóa học: CO2 được hấp thu bằng NaOH, Ca(OH)2 hay

H2O

Điều chỉnh khí quyển nhân tạo (CO2, O2, N2) Trước khi đưa rau quả vào kho bảo quản, người ta điều chỉnh bằng cách đưa khí N2 vào phòng hoặc không khí đã rút bớt O2 đến nồng độ cho phép Loại O2trong không khí đến nồng độ cho phép như sau:

Sử dụng O2 làm chất xúc tác cho phản ứng đốt cháy propan

Từ sự đốt cháy không khí có kiểm soát

Người ta thấy rằng, phương pháp bảo quản trong khí quyển được kiểm soát

có hiệu quả tốt khi kết hợp với làm lạnh Đây là phương pháp sử dụng với qui mô lớn, có thể kéo dài thời gian bảo quản và hạn chế tối đa sự thay đổi chất lượng Tuy

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 33

21

nhiên, nó phức tạp, đòi hỏi sự chú ý trong việc đầu tư cũng như việc vận hành kho bảo quản Tính ổn định của quá trình bảo quản không cao, bên cạnh đó còn phụ thuộc vào thời vụ, điều kiện, loại rau quả (Phan Thị Anh Đào, 2002)

1.6 BIỆN PHÁP XỬ LÝ NHẰM LÀM MẤT

MÀU XANH VỎ TRÁI

Theo Nguyễn Quang Thạch và ctv (2000) thì: Ethylene là một hocmon thực

vật có chức năng chính là gây lão hóa các bộ phận của cây trồng và thúc đẩy quá trình chín của trái

Dưới tác dụng của ethylene màng tế bào có những biến đổi cơ bản, tính thấm của màng tăng lên do ethylene có ái lực cao với lipit, đều đó dẫn đến giải phóng các enzym vốn tách rời với cơ chất do màng ngăn cách và đồng thời các enzym gây ra các phản ứng có liên quan với các quá trình sinh lý, sinh hóa của cây như: quá trình chín, quá trình thoát hơi nước, quá trình trao đổi protein

Ethylene gây hoạt hóa các gene cần thiết cho quá trình tổng hợp các enzym mới, xúc tác cho các phản ứng hóa sinh xảy ra trong cây trồng như các enzym hô hấp, enzym xúc tác cho các phản ứng biến đổi diệp lục, acid hữu cơ…

* Ethylene với sự phát triển và chín của trái

Sự phát triển và chín của trái gắn liền với sự tăng hô hấp của nó Tùy theo đặc điểm hô hấp của trái khi chín, người ta chia ra làm hai loại trái:

Trái có hô hấp cao đỉnh (Climacteric fruits) và trái không có hô hấp cao đỉnh (Non- Climacteric fruits) Ở trái có hô hấp cao đỉnh giai đoạn đầu của quá trình chín cường độ hô hấp tăng lên đột ngột, sau đó giảm mạnh Song song với quá trình này ethylene cũng được sản sinh nhiều, điều đó chứng tỏ ethylene đã giữ vai trò quan trọng trong việc tạo ra hô hấp cao đỉnh và kích thích quá trình chín

Đối với trái không có hô hấp cao đỉnh trong quá trình chín phát sinh ra ethylene ít hơn trái có hô hấp cao đỉnh Do đó ở trái có hô hấp cao đỉnh xử lý ethylene ngoại sinh có thể làm quả chín nhanh rõ rệt, còn ở trái không có hô hấp cao đỉnh hiệu quả xử lý ethylene để thúc chín không rõ Quá trình sinh tổng hợp ethylene đã được tìm ra vào khoảng năm 1960 Sau đó được bổ sung bởi Adams và Yang (1979) và sau cùng đã được Yang và Hoffman hoàn thiện

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 34

Ethephon là một chất tổng hợp nó phóng thích ra ethylene có tên hóa học là (2 – chloroethyl)phosphonic acid

Ethephon không liên kết chặt chẽ trong mô cây trồng, nó có thể được loại bỏ

dễ dàng bằng cách rửa Trong cây ethylene được giải phóng từ ethephon theo sơ đồ sau:

O H2O

Cl - CH2 - CH2 - P – OH + OH- CH2 = CH2 + H2PO-4 + Cl-

OH (2 – chloroethyl)phosphonic acid Ethylene

(ethephon) Phun ethephon ở nồng độ từ 100-200 ppm trước khi trái chuyển màu 20-25 ngày đã có hiệu quả trong việc làm gia tăng màu sắc vỏ trái quýt Đường khi chín và

có thể thu hoạch trước so với bình thường từ 1-3 tuần Hiệu quả của việc làm mất màu xanh vỏ trái khi chín có thể gia tăng khi kết hợp với việc xử lý trong buồng khí

ethylene (Pons và ctv., 1992; trích dẫn bởi Trần Quốc Nhân, 2005)

Ethephon đã được ứng dụng trước thu hoạch trên chanh ở Florida để làm mất màu xanh vỏ trái lúc thu hoạch (Sherman, 1985; trích dẫn bởi Trần Quốc Nhân, 2005)

Việc xử lý ethylene ở nồng độ 18 ppm trong 37 giờ đã làm mất màu hoàn toàn trái cam sành ( Nguyễn Văn Phong, 2000)

Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2003), nhúng trái trong dung dịch ethephon nồng độ 1000 ppm trong 5 phút rồi đặt trong phòng kín 6-7 ngày, vỏ trái cam quýt sẽ chuyển sang màu vàng

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 35

23

CHƯƠNG 2

PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 PHƯƠNG TIỆN

2.1.1 Thời gian và địa điểm

2.1.2 Phương tiện

* Nguyên liệu

Giống quýt Đường (Citrus nobilis var microcarpa Hassk), có cùng độ tuổi

(trên 5 năm tuổi) và được canh tác trong cùng điều kiện

* Vật liệu thí nghiệm Hóa chất sử dụng

Glycerol, chitosan, phenolphthalein, ethephon, 2-6dichlorophenol indophenol, NaOH, methanol và một số hóa chất khác

- Máy đo màu Minolta CR-300

- Máy đo độ Brix

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 36

- Các dụng cụ phân tích vitamin C

- Dụng cụ thủy tinh

- Một số dụng cụ và thiết bị khác phục vụ cho quá trình thí nghiệm

2.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

Trái quýt Đường tươi được lựa chọn theo tiêu chuẩn sau:

+ Không bị khuyết tật, sâu bệnh hay bị tổn thương cơ học + Độ chín và kích thước tương đối đồng đều

+ Thu hoạch ở thời điểm 25-50% diện tích vỏ trái chuyển sang màu vàng, hay tỷ lệ giữa độ brix với lượng acid trong trái thay đổi từ 7/1-10/1

Sau khi lựa chọn mẫu quýt xong dùng nước rửa sạch bụi đất để làm sạch và bóng đẹp bề mặt trái Tránh thao tác mạnh tay sẽ làm vỡ các túi tinh dầu trong lớp

2.2.1 Thí nghiệm 1 Khảo sát ảnh hưởng của

Ethephon đến sự thay đổi màu sắc vỏ trái quýt Đường

Thí nghiệm được thực hiện tại vườn quýt Đường trên 5 năm tuổi, của nông dân ở xã Thuận Phước, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp Các nghiệm thức được xử

lý ở thời điểm 1 tuần trước khi thu hoạch

Trang 37

NT5 Phun ethephon ở nồng độ 200 ppm

Số trái cần cho thí nghiệm: 15 x 3 x 5 = 225 trái Các nghiệm thức được phun ở thời điểm 1 tuần trước khi thu hoạch (cần hạn chế tối đa ethephon bám vào lá)

* Phương pháp

Trái sau khi rữa sạch và xử lý nấm bệnh bằng Chlorine ở nồng độ 400 ppm được đem vào bảo quản trong điều kiện nhiệt độ bình thường (nhiệt độ phòng thí nghiệm) Sau đó, theo dõi và ghi nhận một số chỉ tiêu: acid tổng, pH, độ brix, hàm lượng đường tổng số, sự hao hụt trọng lượng, tỷ lệ nấm bệnh, tỷ lệ rụng cuống, màu

sắc vỏ trái ở các thời điểm 0, 1, 2, 3, 4,5 và 6 tuần sau khi thu hoạch

2.2.2 Thí nghiệm 2 Khảo sát ảnh hưởng của

nhiệt độ đến phẩm chất và thời gian bảo quản trái quýt Đường

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 38

Số trái cần cho thí nghiệm: 12 x 4 x 3 = 144 trái

* Phương pháp

Trái sau khi rữa sạch và xử lý nấm bệnh bằng Chlorine ở nồng độ 400 ppm được đem vào bảo quản ở các nhiệt độ theo nghiệm thức kể trên; theo dõi và ghi nhận một số chỉ tiêu: acid tổng, pH, độ brix, hàm lượng đường tổng số, sự hao hụt trọng lượng, tỷ lệ nấm bệnh, tỷ lệ rụng cuống vào thời điểm 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 tuần sau khi thu hoạch

Sau khi có kết quả của các thí nghiệm trên, chọn ra nghiệm thức có hiệu quả nhất để tiến hành thí nghiệm 5

2.2.3 Thí nghiệm 3 Khảo sát ảnh hưởng của biện pháp

bao trái bằng chitosan đến phẩm chất và thời gian bảo quản trái quýt Đường

* Mục đích

Hạn chế sự bốc thoát hơi nước, hạn chế nấm bệnh, duy trì phẩm chất và kéo

dài thời gian tồn trữ

NT3 0,25% chitosan NT4 0,5% chitosan

Số trái cần cho thí nghiệm: 12 x 4 x 3 = 144 trái

* Phương pháp

Trái sau khi rữa sạch và xử lý nấm bệnh bằng Chlorine ở nồng độ 400 ppm được đem vào bảo quản trong điều kiện nhiệt độ bình thường (nhiệt độ phòng thí nghiệm), sau đó theo dõi và ghi nhận một số chỉ tiêu: acid tổng, pH, độ brix, hàm lượng đường tổng số, hàm lượng chất khô, sự hao hụt trọng lượng, tỷ lệ nấm bệnh,

tỷ lệ rụng cuống ở các thời điểm 0, 1, 2, 3 và 4 tuần sau khi thu hoạch

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 39

27

* Chuẩn bị chitosan

Sau khi cân chitosan xong cho acid lactic vào (tỉ lệ acid:chitosan = 1:1), trộn đều hỗn hợp trên để khoảng 30 phút Tiếp tục cho Glycerol vào khuấy đều khoảng 5-10 phút, cuối cùng cho nước cất vào đến vạch định mức, khuấy đều dung dịch trên và để khoảng 12 giờ nữa cho chitosan tan hết và tạo thành dung dịch trong suốt; điều chỉnh pH của dung dịch này đến mức gần trung tính (pH = 5.7) là có thể thực hiện việc bao màng cho trái quýt

2.2.4 Thí nghiệm 4 Khảo sát ảnh hưởng của biện pháp bao gói

bằng bao Polyethylen (PE) đến chất lượng và thời gian bảo quản quýt Đường

* Mục đích

Hạn chế sự bốc thoát hơi nước, hạn chế tổn thương lạnh, duy trì phẩm chất

và kéo dài thời gian tồn trữ

Số trái cần cho thí nghiệm: 12 x 3 x 5 = 180 trái

* Phương pháp

Trái sau khi rửa sạch và xử lý nấm bệnh bằng Chlorine ở nồng độ 400 ppm được đem vào bảo quản trong điều kiện nhiệt độ bình thường (nhiệt độ phòng thí nghiệm), sau đó theo dõi và ghi nhận một số chỉ tiêu: acid tổng, pH, độ brix, hàm

lượng đường tổng số, sự hao hụt trọng lượng, tỷ lệ nấm bệnh, tỷ lệ rụng cuốn ở các

thời điểm 0, 1, 2, 3 và 4 tuần sau khi thu hoạch

Độ dày của bao PE là 0,065 mm, chiều dài bao 18 cm, chiều rộng bao 15 cm Đường kính lỗ đục là 1 mm

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 40

Sau khi có kết quả của thí nghiệm Tìm ra nghiệm thức có hiệu quả nhất để tiến hành thí nghiệm 5

2.2.5 Thí nghiệm 5 Khảo sát ảnh hưởng của

biện pháp kết hợp giữa nhiệt độ, chitosan và bao

PE đến phẩm chất và thời gian bảo quản trái quýt Đường

Thí nghiệm được bố trí như sau:

NT1 đối chứng (trái để ở nhiệt độ phòng + không bao gói) NT2 trái để ở nhiệt độ lạnh chọn từ TN2 + bao PE chọn từ thí nghiệm 4

NT3 trái để ở nhiệt độ lạnh chọn từ TN2 + bao chitosan chọn từ TN3 NT4 trái để ở nhiệt độ lạnh chọn từ TN2 + bao chitosan chọn từ TN3 + bao

đích: Biện pháp kết hợp giữa nhiệt độ, tosan và polyethylen

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Ngày đăng: 17/04/2018, 07:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm