TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG PHẠM QUẾ LAN ẢNH HƯỞNG CỦA ẨM ĐỘ KHÔNG KHÍ Ở NHIỆT ĐỘ PHÒNG THÍ NGHIỆM VÀ BENOMYL ĐẾN SỰ THAY ĐỔ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ TRỒNG TRỌT
Cần Thơ - 2008
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
PHẠM QUẾ LAN
ẢNH HƯỞNG CỦA ẨM ĐỘ KHÔNG KHÍ Ở NHIỆT ĐỘ
PHÒNG THÍ NGHIỆM VÀ BENOMYL ĐẾN
SỰ THAY ĐỔI MỘT SỐ ĐẶC TÍNH CỦA TRÁI BƯỞI NĂM ROI SAU THU HOẠCH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ TRỒNG TRỌT
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Trồng Trọt với đề tài
“ẢNH HƯỞNG CỦA ẨM ĐỘ KHÔNG KHÍ Ở NHIỆT ĐỘ
PHÒNG THÍ NGHIỆM VÀ BENOMYL ĐẾN
SỰ THAY ĐỔI MỘT SỐ ĐẶC TÍNH CỦA TRÁI BƯỞI NĂM ROI SAU THU HOẠCH”
Do sinh viên Phạm Quế Lan thực hiện
Kính trình lên hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày……tháng……năm 2008
Cán bộ hướng dẫn Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận với đề tài
“ẢNH HƯỞNG CỦA ẨM ĐỘ KHÔNG KHÍ Ở NHIỆT ĐỘ
PHÒNG THÍ NGHIỆM VÀ BENOMYL ĐẾN
SỰ THAY ĐỔI MỘT SỐ ĐẶC TÍNH CỦA TRÁI BƯỞI NĂM ROI SAU THU HOẠCH”
Do sinh viên Phạm Quế Lan thực hiện
Luận văn tốt nghiệp đã được hội đồng đánh giá ở mức:………
Duyệt khoa Cần Thơ, ngày……tháng……năm 2008
Trưởng Khoa Nông Nghiệp và SHƯD Chủ tịch hội đồng
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Phạm Quế Lan
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 6TIỂU SỬ CÁ NHÂN
Họ và tên: Phạm Quế Lan Giới tính: Nữ Sinh ngày: 26/08/1986 Dân tộc: Kinh Nơi sinh: ấp Định Phước, xã Định Môn, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ Con ông Phạm Minh Thuấn và bà Trần Thị Kim Lệ
Đã tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2004 tại trường THPT Lưu Hữu Phước, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ
Trúng tuyển vào trường Đại Học Cần Thơ năm 2004, ngành Trồng Trọt khóa
30, thuộc Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ
Ngày……tháng……năm 2008
Người khai ký tên
Phạm Quế Lan Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 7LỜI CẢM TẠ
Kính dâng
Cha mẹ suốt đời tận tụy vì con
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
PGS.TS Nguyễn Bảo Vệ, TS Trần Thị Kim Ba đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt nhiều kiến thức và đóng góp những ý kiến quý báu để tôi hoàn thành việc nghiên cứu và luận văn tốt nghiệp này
Quí thầy cô Trường Đại Học Cần Thơ đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập ở trường
Xin chân thành cám ơn
Các chị Đinh Thị Bích Thúy, Nguyễn Thị Kiều, Tô Thị Thanh Bình, các bạn lớp Trồng Trọt và Nông Học khóa 30 đã cộng tác phân tích mẫu trong quá trình thực hiện Luận văn tốt nghiệp
Cố vấn học tập Nguyễn Thị Xuân Thu và các bạn lớp Trồng Trọt khóa 30 đã giúp đỡ trong suốt khóa học
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 8
PHẠM QUẾ LAN, 2008 “Ảnh hưởng của ẩm độ không khí ở nhiệt độ phòng thí nghiệm và Benomyl đến sự thay đổi một số đặc tính của trái bưởi Năm Roi sau thu hoạch” Luận Văn Tốt Nghiệp Đại Học, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Bảo Vệ
TÓM LƯỢC
Đề tài “Ảnh hưởng của ẩm độ không khí ở nhiệt độ phòng thí nghiệm và Benomyl đến sự thay đổi một số đặc tính của trái bưởi Năm Roi sau thu hoạch” được thực hiện nhằm mục tiêu tìm ẩm độ thích hợp và hiệu quả của thuốc Benomyl
mà không làm thay đổi các đặc tính của trái bưởi Năm Roi sau thu hoạch Thí nghiệm được bố trí theo thể thức thừa số hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm hai nhân tố: (1)
ẩm độ (75±3%, 90±2% và 99±1%) và (2) nồng độ thuốc Benomyl (0 ppm và
1000 ppm), có 6 nghiệm thức và 6 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại là 36 trái
Kết quả được ghi nhận như sau: Việc xử lý Benomyl không ảnh hưởng đến những những đặc tính của trái bưởi Năm Roi sau thu hoạch Trái bưởi Năm Roi được bảo quản ở ẩm độ 99% cho kết quả tốt nhất Tỷ lệ trái bị thiệt hại do bệnh thấp (13,1%) Hàm lượng nước vỏ trái và hàm lượng nước thịt trái giảm ít (76,5% và 89,3%), tỷ lệ hao hụt trọng lượng của trái rất thấp (4,73%) Độ Brix và pH dịch trái tăng nhẹ (10,3% và 3,85), hàm lượng vitamin C giảm (9,62 mg/100g dịch trái) Cường độ hô hấp giảm theo thời gian sau thu hoạch (13,12 lít O2/kg/giờ) Về đánh giá cảm quan thì đến tuần thứ 13 trái vẫn còn ở mức chấp nhận được, màu sắc của trái đã chuyển sang màu xanh vàng, vỏ trái còn rất cứng, láng và bóng, trái có vị ngọt chua và mùi đặc trưng Có thể tồn trữ trái bưởi Năm Roi ở ẩm độ không khí 99±1% trong điều kiện nhiệt độ phòng thí nghiệm và không cần xử lý Benomyl trong quá trình tồn trữ
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 9MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
1.2 Những biến đổi của trái sau thu hoạch 5
1.3 Các yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến quá trình tồn trữ của trái
13
1.3.1 Nhiệt độ 13
1.3.3 Thành phần của khí quyển tồn trữ 14 1.4 Benomyl chất hoá học sử dụng trong công nghệ bảo quản sau
thu hoạch
15
1.4.2 Một số ứng dụng của Benomyl trong bảo quản sau thu
hoạch
16
1.5 Một số bệnh gây hại quan trọng thường gặp trên trái có múi 17 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 10sau thu hoạch
1.6.1 Bảo quản bằng ẩm độ 18 1.6.2 Bảo quản lạnh 18
2.1 Phương tiện thí nghiệm 20
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm 20 2.2 Phương pháp thí nghiệm 21 2.2.1 Bố trí thí nghiệm 21 2.2.2 Cách tiến hành thí nghiệm 22
2.3.4 Tỷ lệ trái bị thiệt hại do bệnh 24
2.3.6 Đánh giá cảm quan một số thay đổi của trái sau thu
2.3.12 Đo hô hấp 28
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 32
3.1 Ảnh hưởng của ẩm độ và Benomyl đến sự hao hụt trọng lượng của trái
32 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 113.2 Ảnh hưởng của ẩm độ và Benomyl đến hàm lượng nước vỏ trái
PHỤ LỤC 2
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 12DANH SÁCH BẢNG
Bảng Tựa bảng Trang
2.2 Thang đánh giá cảm quan một số đặc tính của trái bưởi Năm Roi 25
3.1 Tỷ lệ (%) hao hụt trọng lượng của trái bưởi Năm Roi vào thời điểm 13
tuần sau thu hoạch
3.8 Hàm lượng vitamin C (mg/100g dịch trái) của trái bưởi Năm Roi vào
thời điểm 13 tuần sau thu hoạch
53 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 13DANH SÁCH HÌNH
2.1 Khung thí nghiệm dùng để bảo quản trái và máy phun ẩm độ 21
3.1 Tỷ lệ hao hụt trọng lượng của trái bưởi Năm Roi ở ba mức ẩm độ theo
thời gian sau thu hoạch
32
3.2 Tỷ lệ hao hụt trọng lượng của trái bưởi Năm Roi ở các nghiệm thức
có và không có xử lý Benomyl theo thời gian sau thu hoạch
33
3.3 Hàm lượng nước vỏ trái bưởi Năm Roi ở ba mức ẩm độ theo thời gian
sau thu hoạch
35
3.4 Hàm lượng nước vỏ trái bưởi Năm Roi ở các nghiệm thức có và
không có xử lý Benomyl theo thời gian sau thu hoạch
36
3.5 Hàm lượng nước thịt trái bưởi Năm Roi ở ba mức ẩm độ theo thời
gian sau thu hoạch
38
3.6 Hàm lượng nước thịt trái bưởi Năm Roi ở các nghiệm thức có và
không có xử lý Benomyl theo thời gian sau thu hoạch
38
3.7 Độ khác màu của vỏ trái bưởi Năm Roi ở ba mức ẩm độ theo thời
gian sau thu hoạch
40
3.8 Độ khác màu của vỏ trái bưởi Năm Roi ở các nghiệm thức có và
không có xử lý Benomyl theo thời gian sau thu hoạch
3.11 Độ khác màu của dịch trái bưởi Năm Roi ở các nghiệm thức có và
không có xử lý Benomyl theo thời gian sau thu hoạch
44
3.12 Trị số pH của dịch trái bưởi Năm Roi ở ba mức ẩm độ theo thời gian
sau thu hoạch
46
3.13 Trị số pH của dịch trái bưởi Năm Roi ở các nghiệm thức có và không
có xử lý Benomyl theo thời gian sau thu hoạch
46 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 143.14 Độ Brix của dịch trái bưởi Năm Roi ở ba mức ẩm độ theo thời gian
sau thu hoạch
48
3.15 Độ Brix của dịch trái bưởi Năm Roi ở các nghiệm thức có và không
có xử lý Benomyl theo thời gian sau thu hoạch
49
3.16 Hàm lượng vitamin C của trái bưởi Năm Roi ở ba mức ẩm độ theo
thời gian sau thu hoạch
51
3.17 Hàm lượng vitamin C của trái bưởi Năm Roi ở các nghiệm thức có và
không có xử lý Benomyl theo thời gian sau thu hoạch
51
3.18 Cường độ hô hấp của trái bưởi Năm Roi ở ba mức ẩm độ theo thời
gian sau thu hoạch
54
3.19 Cường độ hô hấp của trái bưởi Năm Roi ở các nghiệm thức có và
không có xử lý Benomyl theo thời gian sau thu hoạch
55
3.20 Tỷ lệ bệnh của trái bưởi Năm Roi ở ba mức ẩm độ theo thời gian sau
thu hoạch
56
3.21 Tỷ lệ bệnh của trái bưởi Năm Roi ở các nghiệm thức có và không có
xử lý Benomyl theo thời gian sau thu hoạch
56
3.22 Tỷ lệ rụng cuống của trái bưởi Năm Roi ở ba mức ẩm độ theo thời
gian sau thu hoạch
57
3.23 Tỷ lệ rụng cuống của trái bưởi Năm Roi ở các nghiệm thức có và
không có xử lý Benomyl theo thời gian sau thu hoạch
58
3.24 Đánh giá cảm quan trái bưởi Năm Roi theo thời gian sau thu hoạch 59 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 15MỞ ĐẦU
Bưởi là đặc sản quý của nước ta, có giá trị dinh dưỡng cao và có tác dụng tốt đối với sức khỏe con người Trong thành phần của bưởi chứa nhiều chất khoáng, chất xơ, vitamin, đặc biệt là vitamin C rất cần thiết cho cơ thể
Trong số các giống bưởi thì bưởi Năm Roi (Citrus maxima var Năm Roi) là
giống bưởi có phẩm chất ngon và giá trị kinh tế cao Theo Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam (2007) thì Đồng Bằng Sông Cửu Long có hơn 10.000 ha bưởi Năm Roi, sản lượng lên đến 60.000 tấn/năm Theo quy hoạch của Viện Quy Hoạch Thiết
Kế Nông Nghiệp - Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, đến năm 2010 diện tích trồng bưởi Năm Roi ở Đồng Bằng Sông Cửu Long là 13.000 ha, tăng khoảng 3.000 ha so với hiện nay Vùng trồng bưởi Năm Roi nổi tiếng ở khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long là xã Mỹ Hòa, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long Các nhà vườn trồng bưởi Năm Roi ở đây thu nhập bình quân 100 triệu đồng/ha/năm (Trung tâm thông tin nông nghiệp nông thôn Vĩnh Long, 2008)
Hiện nay, bưởi Năm Roi đã có thương hiệu riêng và thị trường tiêu thụ không dừng lại ở châu Á mà đã mở rộng trên thế giới Tuy nhiên, nếu tồn trữ trong điều kiện bình thường thì sự hao hụt sau thu hoạch khá lớn chiếm khoảng 30% (Hà Thanh Toàn, 2003) Nguyên nhân là do trong quá trình tồn trữ trái bị mất nước làm màu sắc và hình dáng trái xấu đi, đồng thời nấm bệnh tấn công làm trái mau hư
Sự mất nước rất quan trọng vì nó làm mất trọng lượng, làm giảm giá trị dinh dưỡng và giảm giá trị thương phẩm của trái (Hà Thanh Toàn, 2003; Nguyễn Thị Tuyết Mai, 2005) Một trong những biện pháp để khắc phục hiện tượng mất nước của trái là giữ ẩm độ không khí của môi trường bảo quản luôn cao để giảm sự thoát hơi nước qua bề mặt vỏ trái (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004) Ngoài ra,
ẩm độ tồn trữ cao sẽ làm giảm cường độ hô hấp của trái sau thu hoạch (Hà Văn Thuyết và Trần Quang Bình, 2002) Tuy nhiên, ẩm độ môi trường bảo quản cao sẽ tạo điều kiện cho nấm bệnh gây hại trên vỏ trái sau thu hoạch (Nguyễn Minh Thủy, 2000)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 16Để giải quyết vấn đề này, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện bằng cách sử dụng các màng tổng hợp (PE, PVC, ) để bao trái Nhưng vấn đề ảnh hưởng của ẩm
độ không khí và thuốc Benomyl đến sự thay đổi một số đặc tính của trái bưởi Năm Roi sau thu hoạch thì chưa được nghiên cứu nhiều Do đó, đề tài “Ảnh hưởng của
ẩm độ không khí ở nhiệt độ phòng thí nghiệm và Benomyl đến sự thay đổi một số đặc tính của trái bưởi Năm Roi sau thu hoạch” được tiến hành nhằm mục tiêu tìm
ẩm độ thích hợp và hiệu quả của thuốc Benomyl mà không làm thay đổi các đặc tính của trái bưởi Năm Roi sau thu hoạch
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 17CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 SƠ LƯỢC VỀ CÂY BƯỞI NĂM ROI
Bưởi Năm Roi có tên khoa học là Citrus maxima var Năm Roi Nguồn gốc
bưởi Năm Roi được ghi nhận là ở huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long (Nguyễn Văn Luật, 2006; Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004) Tuy nhiên, theo Sở Khoa Học Công Nghệ & Môi Trường tỉnh Vĩnh Long (2003) cho rằng bưởi Năm Roi có nguồn gốc ở Long Tuyền - Cần Thơ được mang về trồng nhiều ở các tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre, Cần Thơ, Tiền Giang,
Bưởi Năm Roi có nhiều phẩm chất ngon như: vị ngọt (độ brix từ 9-12%), không đắng, mùi thơm, hầu như không có hạt và có thể tồn trữ được lâu nên rất được ưa chuộng ở thị trường trong nước và cả thế giới (Nguyễn Hùng Cường, 2004) Ngoài phẩm chất ngon, trái còn có hình dạng đặc trưng là hình quả lê, khi chín có màu xanh vàng hoặc vàng sáng khá hấp dẫn, trọng lượng trung bình từ 0,9-1,45 kg/trái, tỉ lệ thịt/trái lớn hơn 50% Mỗi trái trung bình có 12 múi, mỗi múi có vách dai và cứng nên có thể tách rời khỏi tép dễ dàng Đồng thời, thịt trái có màu vàng, hơi cứng, có những con tép lớn đồng nhất nên có khả năng dính vào nhau khi tách khỏi vách múi, đây là ưu điểm khi đóng hộp bưởi Năm Roi được thị trường ưa chuộng (Trần Thượng Tuấn, 1999; Nguyễn Văn Luật, 2006)
* Thành phần dinh dưỡng của bưởi
Trong thịt trái có chứa vitamin A, B1, B2, PP, đặc biệt là vitamin C chiếm
tỷ lệ cao nhất từ 40-55 mg/100g phần ăn được (Bảng 1.1)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 18Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng của bưởi (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong,
2004)
Nước Tro Protein Carbohydrate
Xơ Năng lượng
Ca
P
Fe
A B1 B2
83,4 0,4 0,5 15,3 0,7
59
30
19 0,7 0,02 0,05 0,01 0,1
42
Bưởi chứa rất nhiều vitamin đặc biệt là vitamin C nên ngoài việc ăn tươi giảm cholesterol còn được chế biến thành nước ép bưởi đóng lon tiêu thụ rộng khắp trên thị trường trong nước và xuất khẩu Vỏ trái giàu pectin được sử dụng làm mứt, kẹo, nem chay, chiết xuất tinh dầu cho mỹ phẩm, Ngoài ra, vỏ bưởi nấu lấy nước uống
sẽ làm tiêu mỡ giảm béo phì (Viện Y dược học dân tộc thành phố Hồ Chí Minh, 2007)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 191.2 NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA TRÁI SAU THU HOẠCH 1.2.1 Các biến đổi vật lý
* Sự thoát hơi nước
Phần lớn các loại trái tươi chứa từ 65-95% nước khi thu hoạch Khi trái còn trên cây, lượng nước bốc hơi được bù đắp thường xuyên nhờ sự hấp thu nước của rễ cây nhưng sau khi thu hoạch, lượng nước mất đi không được bù đắp lại Trong quá trình bảo quản, trái bị giảm khối lượng do mất nước chiếm 75-85% và do tiêu hao
chất khô trong quá trình hô hấp chiếm 15-25% (Quách Đĩnh và ctv., 1996; Phạm
Văn Côn, 2006) Vì vậy, sự mất nước của trái tươi sau thu hoạch có ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng sinh lý cũng như chất lượng của trái
Sự thoát hơi nước của trái sau thu hoạch là quá trình nước tự do trong trái khuếch tán ra bên ngoài môi trường Sự thoát hơi nước tùy thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ háo nước của hệ keo trong tế bào; cấu tạo và trạng thái của mô bao che;
độ chín của trái; cách bao gói; thời gian và phương pháp tồn trữ; cường độ hô hấp
và sự sinh ra nước (Quách Đĩnh và ctv., 1996; Phạm Văn Côn, 2006; Nguyễn Mạnh
Khải, 2006)
Theo Phạm Văn Côn (2006) cho rằng do trong quá trình thu hoạch bị những
va đập cơ học hoặc nấm bệnh nên ảnh hưởng nhiều đến sự thoát hơi nước, từ những vết thương nhỏ vài centimét vuông trên một trái cam có thể làm tăng sự thoát hơi nước lên 3-4 lần Do đó, khi diện tích vết thương tăng gấp đôi thì sự mất nước có thể tăng lên hơn hai lần Trong quá trình bảo quản, sự thoát hơi nước thay đổi tùy theo giai đoạn Giai đoạn đầu (sau khi thu hái) trái thoát hơi nước mạnh, giai đoạn giữa giảm đi và giai đoạn cuối cùng khi trái bắt đầu hư hỏng thì sự thoát hơi nước lại tăng lên vì đó là quá trình lão hóa của các hệ keo, làm giảm tính háo nước
Quá trình thoát hơi nước ở trái cũng phụ thuộc vào các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, ẩm độ môi trường, tốc độ chuyển động của không khí trong môi trường bảo quản Sự chênh lệch về áp suất hơi nước trên bề mặt sản phẩm và áp suất hơi nước trong không khí càng lớn thì sự thoát hơi nước càng nhanh (Nguyễn Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 20Mạnh Khải, 2006) Các nghiên cứu cho thấy, nếu bảo quản trái tươi ở nhiệt độ 00C
và ẩm độ không khí là 100% thì tốc độ thoát hơi nước rất thấp, nhưng ở cùng nhiệt
độ bảo quản mà ẩm độ không khí là 90% thì tốc độ thoát hơi nước đã tăng lên 6 lần
và khi ẩm độ giảm xuống 80% thì tốc độ thoát hơi nước tăng lên 12 lần Nhiệt độ bảo quản quá cao hay quá thấp đều có thể làm tổn thương tế bào, gây rối loạn trao đổi chất, ảnh hưởng đến tốc độ thoát hơi nước của trái
Ánh sáng mặt trời cũng ảnh hưởng đến quá trình thoát hơi nước Ánh sáng làm tăng nhiệt độ của trái tươi, làm tăng độ mở khí khổng, tăng tính thấm của nguyên sinh chất trong tế bào, do đó cũng làm tăng sự thoát hơi nước (Nguyễn Thị
Bích Thủy và ctv., 2007)
Sự thoát hơi nước của trái tươi sau thu hoạch làm cho trái bị héo, giảm mẫu
mã, giảm sức đề kháng Nếu mất nước quá nhiều trái sẽ không còn giá trị thương phẩm Trong thực tế bảo quản, để làm giảm sự mất nước của trái, người ta thường
áp dụng các biện pháp: hạ thấp nhiệt độ, tăng độ ẩm và giảm tốc độ chuyển động của không khí trong kho bảo quản (Phạm Văn Côn, 2006)
* Sự giảm khối lượng tự nhiên
Sự giảm khối lượng tự nhiên là sự giảm khối lượng của trái do thoát hơi nước và tổn hao các chất hữu cơ trong khi hô hấp (Phạm Văn Côn, 2006) Trong đó, khoảng 75-85% sự giảm khối lượng là do mất nước còn 15-25% là do tiêu hao chất
khô trong quá trình hô hấp (Quách Đĩnh và ctv.,1996) Khối lượng trái giảm đi
trong thời gian bảo quản dài ngày phụ thuộc vào nhiều yếu tố: giống, loại, vùng khí hậu trồng trọt, kỹ thuật canh tác, mùa vụ, độ chín thu hoạch, độ nguyên vẹn, kỷ thuật bảo quản, thời gian bảo quản (Nguyễn Minh Thủy, 2000; Tống Thị Ánh Ngọc, 2002; Phạm Văn Côn, 2006; Nguyễn Thị Bích Thủy, 2007) Do vậy, trong bất kỳ điều kiện bảo quản nào cũng không thể tránh khỏi sự giảm khối lượng tự nhiên Tuy nhiên, khi tạo được điều kiện tồn trữ tối ưu thì có thể giảm đến mức tối thiểu
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 21* Sự sinh nhiệt
Theo Nguyễn Minh Thủy (2003) cho rằng tất cả lượng nhiệt sinh ra trong trái tươi khi tồn trữ là do hô hấp, trong đó 2/3 lượng nhiệt này tỏa ra môi trường xung quanh, còn 1/3 được dùng vào các quá trình trao đổi chất bên trong
Tùy theo hàm lượng oxy và carbonic có trong thành phần không khí của môi trường bảo quản mà trong trái sẽ diễn ra quá trình hô hấp hiếu khí hoặc yếm khí Lượng nhiệt sinh ra trong quá trình hô hấp có thể tính:
Trong quá trình hô hấp hiếu khí:
C6H12O6 + 6O2 → 6CO2 + 6H2O + 674 Kcal
Trong quá trình hô hấp yếm khí:
C6H12O6 → 2CO2 + 2C2H5OH + 28 Kcal
Do đó, trong quá trình tồn trữ trái cần được duy trì các thông số nhiệt độ, độ
ẩm tối ưu Khi nhiệt độ tăng thì cường độ hô hấp mạnh lên nên trái tổn hao nhiều chất hữu cơ dự trữ và tuổi thọ rút ngắn lại Bên cạnh đó, khi nhiệt độ và độ ẩm tăng lên đến mức độ thích hợp cho các vi sinh vật phát triển thì nhiệt lượng sinh ra lại tăng hơn nữa do sự hô hấp của vi sinh vật cộng hưởng vào Đó là điều kiện dẫn đến
sự hư hỏng trái một cách nhanh chóng (Nguyễn Thị Bích Thủy và ctv., 2007)
1.2.2 Các biến đổi sinh lý - sinh hoá
* Hô hấp
Theo Hà Văn Thuyết và Trần Quang Bình (2000) thì hô hấp là quá trình sinh học cơ bản xảy ra trong trái tươi khi bảo quản Trong quá trình này, một loạt các biến đổi trung gian của các chất sẽ xảy ra với hàng loạt sự tham gia của các men khác nhau, các chất dinh dưỡng trong trái sẽ bị phân giải để tiến hành các quá trình trao đổi chất, nhiều chất như đường, axit hữu cơ, các chất pectin và một số chất khác sẽ bị hao phí đi Do đó, hô hấp làm tiêu hao một lượng lớn chất khô dự trữ Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 22trong trái dẫn đến sự giảm khối lượng tự nhiên của trái trong quá trình tồn trữ (Trần Minh Tâm, 2000)
Tùy theo lượng oxy của môi trường mà trái sẽ tiến hành hô hấp hiếu khí hay yếm khí Trong điều kiện đủ oxy, hô hấp hiếu khí sẽ diễn ra tạo thành CO2, nước và năng lượng Năng lượng tỏa ra dưới dạng nhiệt, nếu không làm thông gió đầy đủ thì
sự sinh nhiệt sẽ kích thích trở lại làm tăng cường độ hô hấp, tích tụ thêm hơi nước Nhiệt độ và ẩm độ cao còn là nguyên nhân thúc đẩy hoạt động của nhiều vi khuẩn
và nấm mốc gây hại Khi hiện tượng oxy của môi trường không khí không đủ để tiến hành hô hấp hiếu khí thì sẽ xảy ra hô hấp yếm khí, các tế bào mất dần khả năng hấp thu oxy và tích tụ các hợp chất như rượu, andehit, axit axetic và axit lactic, có tác dụng giết chết tế bào Đồng thời, lượng nhiệt sinh ra trong quá trình hô hấp yếm khí thấp hơn 20 lần so với hô hấp hiếu khí, vì thế sẽ tiêu hao một lượng lớn chất dự trữ để đảm bảo nhiệt lượng duy trì quá trình sống Cho nên, khối lượng tự nhiên ít giảm đi trong quá trình hô hấp yếm khí nhưng chất khô lại tiêu hao nhiều trong quá
trình này (Quách Đĩnh và ctv., 2000)
Trong quá trình chín của trái thì hô hấp được xem như là trung tâm của sự biến dưỡng và quá trình chín của trái phụ thuộc vào cường độ hô hấp (Trần Thị Kim
Ba, 1998) Tuy nhiên, cường độ hô hấp ở mỗi loại trái khác nhau và dựa vào cường
độ hô hấp phân biệt được hai nhóm trái: trái có bộc phát hô hấp và trái không có bộc phát hô hấp Họ citrus thuộc nhóm trái không có bộc phát hô hấp nên không có biểu hiện gia tăng hoạt tính hô hấp cũng như việc sản sinh khí ethylene ở điều kiện
tự nhiên sau thu hoạch như những trái thuộc nhóm có bộc phát hô hấp (Bùi Trang Việt, 2000; Mai Trần Ngọc Tiếng, 2001) Tuy nhiên, đối với nhóm trái có múi thì những nhân tố như nhiệt độ, ẩm độ, các thành phần O2, CO2, C2H4, sự trầy xước bầm tím và sự xâm nhiễm của vi sinh vật đều có ảnh hưởng đến tỷ lệ hô hấp dẫn đến sự thay đổi chất lượng trái trong quá trình bảo quản (Murata, 1997)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 23* Quá trình chín của trái sau thu hoạch
Sự chín của trái sẽ trải qua nhiều thay đổi sinh hóa sau thu hoạch Các thay đổi có thể xảy ra trong quá trình chín như sự thay đổi về màu sắc, thành phần carbohydrate, cường độ hô hấp, tốc độ sản sinh ethylene, thay đổi về tính thấm của
mô, sự mềm trái, thay đổi các axit hữu cơ, protein và sản sinh các chất bay hơi (Lê Văn Hòa, 2002)
Theo Trần Minh Tâm (2000), các loại trái sau khi thu hoạch về quá trình chín sinh lý sinh hóa vẫn tiếp tục xảy ra, quá trình đó gọi là quá trình chín tiếp hay chín sau Trong sản xuất, thường không thể hái đúng vào thời kỳ chín sinh lý mà thường hái trước, vì vậy phải có quá trình chín sau mới sử dụng được Quá trình chín sau là quá trình tự nhiên do enzyme nội tại của trái tiến hành Trong quá trình này, sự hô hấp nghiêng về phía yếm khí, quá trình thủy phân tăng lên, tinh bột và protopectin bị thủy phân, lượng axit và chất chát đều giảm xuống, protein tăng lên Đối với trái khi bảo quản, trái càng chín, càng có vị ngọt do tinh bột biến thành đường, đồng thời saccharose bị thủy phân thành glucose, fructose Lượng saccharose tuy bị thủy phân nhưng vẫn tăng lên vì quá trình tích tụ nhiều hơn là thủy phân Lượng axit hữu cơ giảm đi vì có quá trình tác dụng giữa axit với rượu để tạo thành các este và do hiện tượng hô hấp cho nên lượng rượu dùng để tổng hợp este ít hơn lượng rượu tạo thành bởi quá trình hô hấp yếm khí, vì vậy rượu trong trái vẫn tăng lên
Khi trái chín, protopectin giảm do chuyển hóa thành pectin làm cho khả năng liên kết giữa tế bào và mô yếu và trái mềm Axit giảm do quá trình hô hấp và quá trình decarboxyl hóa axit tạo thành CO2 và CH3CHO, quá trình tổng hợp đường tăng và sau đó giảm Vitamin C giảm do quá trình khử trong các mô bị phá hủy không khí xâm nhập, các chất màu chlorophyl giảm và carotene tăng (Nguyễn Minh Thủy, 2003)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 24* Sự thay đổi màu sắc vỏ trái
Vỏ trái chứa nhiều sắc tố chlorophyl và cả carotenoit khi còn xanh Đến khi bắt đầu chín, có sự biến đổi hàm lượng các sắc tố đó gây ra sự biến đổi màu sắc của trái, chỉ biến đổi chlorophyl mà không phân hủy carotenoit (Phạm Văn Côn, 2006)
Sự thay đổi màu sắc của trái trong tiến trình chín trải qua hai hiện tượng:
+ Sự giảm diệp lục tố trong khi trái chín do có sự giảm tỉ lệ hàm lượng diệp lục tố a làm cho màu lục biến mất
+ Sự tổng hợp các sắc tố mới như: carotenoit, lycopene, anthocyamin,…
Sự mất màu xanh là do sự phân hủy cấu trúc của diệp lục tố, sự thay đổi pH của màng lạp thể, thể hiện qua việc tiết axit hữu cơ từ không bào và các hệ thống oxy hóa, do tác dụng của nhiệt độ và sự có mặt của enzyme chlorophyllase Sự thay đổi màu phụ thuộc vào một trong những yếu tố vừa nêu để phân hủy cấu trúc diệp lục tố (Hart Mann, 1992)
Tùy thuộc vào từng loại trái mà khi chín có màu sắc khác nhau Với trái có
múi đó là sự xuất hiện chất màu carotenoit vàng và cam (Eilati và ctv.,1969) Theo
Phạm Văn Côn (2006), cam quýt giảm nhanh hàm lượng chlorophyl và tăng hàm lượng carotenoit
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 25* Sự thay đổi mùi vị
Trong quá trình chín của trái, vách tế bào trở nên thấm hơn Do đó, mùi hương thoát ra ngoài làm cho trái có mùi thơm ngon, có hương vị đặc trưng cho mỗi loại trái (Looney, 1970) Thành phần tạo mùi vị hiện diện một lượng rất ít, bao gồm những chất như alcohol, aldehyde, keton, este, terenoit (Stove và Simmonds, 1987) Trái có múi không chứa tinh bột nên không có sự cải thiện chất lượng trái sau thu hoạch Mặc dù chúng ta có cảm giác nước trái hơi ngọt hơn sau khi tồn trữ, nhưng cảm giác này là do lượng axit bị phân hủy nhanh hơn đường (Salunkhe và Desai, 1984) Theo kết quả nghiên cứu của Phan Cát Lan Chi (2000), bưởi Năm Roi sau tồn trữ có độ đường tăng và độ chua giảm
* Cellulose và Hemicellulose
Cellulose có trong trái ở các phần vỏ và mô nâng đỡ Khi bảo quản, cellulose ít bị biến đổi Tuy nhiên, có nghiên cứu cho thấy hiện tượng cellulose giảm đi do bị thủy phân Hàm lượng cellulose trong bưởi chiếm 1,4% Hemicellulose (bán cellulose) vừa là vật liệu cấu trúc vỏ tế bào, vừa là nguyên liệu
dự trữ năng lượng cho các quá trình trao đổi chất Hemicellulose trong trái chủ yếu
là pentosan khi thủy phân sẽ cho các pentose: galactose, manose, xylose, arabinose (Phạm Văn Côn, 2006) Theo Phạm Thu Cúc (2002), hemicellulose không tan trong nước nhưng tan trong dung dịch kiềm, nó dễ dàng bị thủy phân bởi axit hơn cellulose
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 26* Pectin
Pectin là glucid cao phân tử, chiếm khoảng 1,0-1,5% trong trái (Trần Minh Tâm, 2000) Trong quá trình phát triển và già chín của trái, hàm lượng pectin luôn biến đổi, thường cao nhất khi chín tới, sau đó giảm khi trái thối rửa, pectin bị phân hủy hầu hết (Phạm Văn Côn, 2006)
* Vitamin C
Trên nhóm cam quýt thì vitamin C chiếm ưu thế có thể lên đến 130-170 mg/g trọng lượng Trong quá trình chín, vitamin C sẽ giảm đi nhanh hơn do các quá trình khử trong các mô bị phá hủy và không khí xâm nhập Ngoài ra, vitamin C là chất dễ bị oxy hóa và chuyển thành dạng dehydroascorbic dễ bị phân hủy dưới tác
dụng của nhiệt độ (Quách Đĩnh và ctv.,1996; Trần Minh Tâm, 2000; Lee và Kacler,
2000)
Theo Kays (1991) thì hàm lượng vitamin C giảm khá nhanh với trái sau thu hoạch và giảm nhiều với những trái bị hư hỏng Đồng thời, sự giảm vitamin C càng cao khi nhiệt độ và thời gian tồn trữ tăng lên
* Độ cứng của trái
Theo Manto và Modi (1969) thấy rằng sau thu hoạch độ cứng của trái bị giảm do ehtylene trực tiếp gợi sự hoạt động của một số enzyme thủy phân nhất là pectinase làm phân hủy hợp chất pectin ở vách tế bào làm cho vách tế bào mềm đi
và thay đổi cấu trúc cũng như giảm sự kết dính giữa các tế bào với nhau Đối với trái có múi, độ cứng của trái còn tùy thuộc vào sự tổn thương vỏ và sự mất trọng
lượng tươi của trái (Rodov và ctv., 1997)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 271.3 CÁC YẾU TỐ NGOẠI CẢNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH
TỒN TRỮ CỦA TRÁI 1.3.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố rất quan trọng có tính chất quyết định thời hạn bảo quản trái tươi Sự thay đổi nhiệt độ trước hết ảnh hưởng đến cường độ hô hấp Sự biến động nhiệt độ gây ảnh hưởng lớn đến thời hạn bảo quản, trong thực tế cho phép nhiệt độ dao động trong khoảng ± 0,50C (Hà Văn Thuyết và Trần Quang Bình, 2000)
Theo Lê Văn Hòa (2000), đối với các loại trái không có hô hấp cao đỉnh khi nhiệt độ càng thấp thì càng giảm tốc độ hư hỏng Tuy nhiên, nếu nhiệt độ xuống quá thấp thì có thể xảy ra hiện tượng tổn thương lạnh và gây ra các rối loạn sinh lý sinh hóa trong quá trình bảo quản, đồng thời sự biến động nhiệt độ gây ra ảnh hưởng lớn đến thời gian tồn trữ Vùng nhiệt đới không thích hợp với việc bảo quản lạnh trái tươi bằng vùng ôn đới
Phần lớn các quá trình sinh lý của sản phẩm xảy ra trong quá trình bảo quản
là nhờ tác dụng của các loại men, các men này phụ thuộc vào nhiệt độ, mỗi loại men đều thích ứng với một nhiệt độ nhất định, khi nhiệt độ tăng lên thích nghi với điều kiện hoạt động của men thì cường độ hô hấp sẽ phát triển cao độ, nếu vượt quá giới hạn tối thích thì hoạt tính của men giảm đi hoặc mất hẳn và cường độ hô hấp giảm xuống (Trần Minh Tâm, 2000) Bên cạnh việc duy trì nhiệt độ thích hợp khi tồn trữ cần đảm bảo nhiệt độ ổn định, sự tăng giảm nhiệt độ đột ngột sẽ làm thay đổi cường
độ hô hấp, gây ra các hiện tượng bệnh lý cho trái (Tống Thị Ánh Ngọc, 2000)
1.3.2 Độ ẩm tương đối của không khí
Độ ẩm tương đối của không khí trong phòng bảo quản có ảnh hưởng rất lớn đến sự thoát hơi nước của trái vì sự thoát hơi nước từ trong trái ra ngoài là một quá trình vật lý, nó càng được tăng cường nếu độ ẩm trong không khí càng thấp xa độ Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 28ẩm bảo hòa, từ đó làm cho trái không những giảm trọng lượng tự nhiên mà còn làm cho bề mặt trái bị héo, nhăn, làm giảm giá trị cảm quan và giá trị thương phẩm của trái Ngoài ra, sự mất nước còn làm rối loạn quá trình trao đổi chất và mất khả năng
tự đề kháng với những tác động bên ngoài Ngược lại, khi độ ẩm môi trường cao sẽ hạn chế sự thoát ẩm và sự hô hấp hiếu khí, nhưng độ ẩm cao sẽ tạo điều kiện cho vi sinh vật, nấm mốc và vi khuẩn phát triển
Vì vậy, trong quá trình tồn trữ trái, độ ẩm không khí cần được duy trì tối ưu
để chống thoát hơi nước và hạn chế sự phát triển của vi sinh vật gây thối hỏng, có thể tăng ẩm nhân tạo bằng cách đặt chậu nước hay phun sương vào kho bảo quản Đối với các loại trái như cam, bưởi, lê, táo, cần duy trì ẩm độ 80-90% để bảo quản được lâu hơn (Phạm Văn Côn, 2006)
1.3.3 Thành phần của khí quyển tồn trữ
Thành phần chất khí trong môi trường tồn trữ có thể ảnh hưởng đến tuổi thọ của sản phẩm Sự thay đổi nồng độ các chất khí hô hấp (CO2 và O2) có thể kéo dài
tuổi thọ của sản phẩm trong tồn trữ (Nguyễn Thị Bích Thủy và ctv., 2007) Nồng độ
oxygen phải được giảm hơn 10% nhằm làm chậm tiến trình hô hấp Việc tăng hàm lượng khí CO2 và giảm O2 có ảnh hưởng độc lập rất lớn đến phản ứng hô hấp và trao đổi chất Sự giảm hàm lượng oxygen cần thiết để làm chậm hô hấp và phụ thuộc
vào nhiệt độ tồn trữ (Will và ctv., 1998)
Khí oxygen là thành phần không khí tham gia quá trình hô hấp của trái, nếu hàm lượng khí oxygen càng cao sẽ kích thích quá trình hô hấp và ngược lại, khi nồng độ oxygen thấp sẽ ức chế quá trình hô hấp Tuy nhiên, nếu hàm lượng khí oxygen quá thấp dưới 5%, quá trình hô hấp yếm khí xảy ra làm trái có vị chua, các hoạt động biến dưỡng bị xáo trộn và rút ngắn thời gian bảo quản (Lê Văn Hòa, 2001)
Hàm lượng khí CO2 cao làm chậm lại quá trình hô hấp và cũng kiểm soát được sự phát triển của mầm bệnh Nồng độ CO2 trong không khí là 0,035% hay
350ppm (Lê Văn Hoà, 2001) Theo Quách Đĩnh và ctv (1996), tăng hàm lượng CO2 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 29và giảm O2 trong khí quyển có tác dụng hạn chế hô hấp (hiếu khí) của trái Khi hàm
lượng CO2 tăng lên đến 3-5% và lượng O2 giảm đi tương ứng (chỉ còn 16-18%) thì
thời gian tồn trữ trái có thể tăng gấp 3-4 lần so với khi giữ ở khí quyển thường
(0,03% CO2, 21% O2, 79% N2) Nhưng nếu CO2 tăng quá 10% sẽ sinh ra quá trình
hô hấp yếm khí, phá vỡ cân bằng các quá trình sinh lý, làm tiêu hao chất khô nhiều,
trái mất khả năng đề kháng tự nhiên, dẫn đến sự thâm đen và thối hỏng
Ngoài ra, trong quá trình tồn trữ thì sự thông gió là cần thiết để thay đổi nhiệt
độ, ẩm độ và thành phần không khí thích hợp tạo điều kiện tốt trong quá trình tồn
trữ (Hà Văn Thuyết và Trần Quang Bình, 2000)
1.4 BENOMYL - CHẤT HÓA HỌC SỬ DỤNG TRONG CÔNG NGHỆ BẢO QUẢN SAU THU HOẠCH
Benomyl là một trong những hóa chất sử dụng hiệu quả trong quá trình bảo quản
trái sau thu hoạch (Hà Văn Thuyết và Trần Quang Bình, 2000; Nguyễn Minh Thủy,
* Tính chất: Đây là loại thuốc trừ bệnh nội hấp, phổ tác dụng rộng, trừ được nhiều
loại nấm gây bệnh trên rau màu và cây ăn trái (Phạm Văn Biên và ctv., 2000; Đào
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 30Văn Hoằng, 2005) Đặc biệt được sử dụng rất lâu đời trong việc quản lý nấm bệnh sau thu hoạch (Trần Văn Hai, 2005; Nguyễn Minh Thủy, 2003) Độ độc: thuộc nhóm độc IV LD50: qua miệng > 10000 mg/kg, qua da > 10000 mg/kg, xông hơi >
2 mg/l Mức dư lượng cho phép: 7-10 mg/kg, thời gian cách ly: trên các loại ăn trái
từ 7-14 ngày (Trần Quang Hùng, 1999) Benomyl phân hủy trong môi trường axit, kiềm mạnh, điều kiện bảo quản ẩm, không ăn mòn kim loại (Trần Văn Hai, 2005)
1.4.2 Một số ứng dụng của Benomyl trong bảo quản sau thu hoạch
Theo Harris (1988), khi nhúng trái vào nước 520C có Benomyl nồng độ 0,1% trong thời gian từ 1-3 phút có hiệu quả đối với nấm bệnh trên trái sau thu hoạch Benomyl sử dụng nồng độ 500 ppm và 1000 ppm có tác dụng giảm nhanh chóng tỷ
lệ hư hỏng của trái xoài cát Hòa Lộc (Đỗ Minh Hiền và ctv., 2002) Theo Nguyễn
Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh (2002) cho rằng, khi nhúng trái vào dung dịch Benomyl nồng độ 0,1% có hiệu quả đối với Penicillium italicum Wehmer gây bệnh mốc xanh trên cam quýt Tuy nhiên, theo Lê Thị Thu Hồng (2003) thì Benomyl cũng được dùng để phòng trừ bệnh mốc xanh (Penicillium italicum Wehmer) khi bảo quản cam nhưng chỉ ở nồng độ 500 ppm Theo Trần Văn Hai (2005), có thể sử dụng Benomyl để xử lý nông sản sau thu hoạch từ 25-200 g a.i/100 lít nước Nguyễn Thị Tuyết Mai (2005) nghiên cứu xử lý bệnh hại sau thu hoạch trên cam Sành bằng Benomyl ở nồng độ 500 ppm và 1000 ppm đã có hiệu quả tốt trong phòng trừ nấm bệnh và kéo dài thời gian bảo quản trái cam Sành sau thu hoạch trong thời gian 8 tuần ở điều kiện nhiệt độ 80C và ẩm độ 80%
Tuy nhiên, Benomyl là thuốc hóa học đã được ban hành luật cấm ở một số quốc gia trên thế giới; mặc dù vẫn nằm trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng của Việt Nam Theo Lim và Miller (1997), Benomyl là hóa chất có khả năng gây ung thư cao và nguy hại đến mắt, có ảnh hưởng đến động vật có vú gây ra dị dạng, quái thai, ảnh hưởng đến màng ruột và cả mù mắt
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 311.5 MỘT SỐ BỆNH GÂY HẠI QUAN TRỌNG THƯỜNG GẶP TRÊN
TRÁI CÓ MÚI SAU THU HOẠCH
Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2003), có ba yếu tố chính làm giới hạn thời gian tồn trữ trái có múi ở vùng Á nhiệt đới sau thu hoạch: (1) hư hỏng
về mặt sinh học, trái hô hấp mạnh sau thu hoạch làm trái chín nhanh, thời gian bảo quản ngắn; (2) hư hỏng về mặt cơ học, trái bị mất nước và bị oxy hóa làm hình dáng
và màu sắc trái xấu đi và (3) hư hỏng về mặt bệnh học, trái bị nấm bệnh tấn công trong quá trình tồn trữ làm trái mau hư
Theo Mai Văn Trị (1997), sự gây hại của nấm bệnh và quá trình chín nhanh của trái là những nhân tố giới hạn quan trọng trong việc bảo quản, xuất khẩu trái cây ở vùng nhiệt đới Vi sinh vật gây ra hiện tượng thối nhũn trên trái làm cho sản phẩm không thể tiêu thụ được Các loại nấm bệnh tiềm ẩn sẵn có trên vỏ trái sau thu hoạch khi gặp điều kiện thuận lợi thì các mầm bệnh phát sinh nhanh chóng, xâm nhiễm vào trái và gây hư hỏng sản phẩm (Lê Văn Hòa, 2003) Ở Việt Nam, việc thu hoạch, vận chuyển, bảo quản không đúng cách đã làm cho trái bị hư hỏng nặng chiếm từ 10-30% (Nguyễn Mạnh Khải, 2005)
Theo Ron Wills và ctv (1998), bệnh mốc xanh lam (do Penicilium
digitatum) và bệnh mốc xanh lá cây (do Penicillium itacillicum) là hai bệnh gây hại
chính trên trái cây có múi sau thu hoạch Theo Nguyễn Khiết Tâm (2004), trên trái
bưởi Năm Roi ở giai đoạn sau thu hoạch có ba chi nấm gây bệnh: Aspergillus sp (bệnh thối nhũn), Penicillium sp (bệnh mốc trái), Coletotrichum sp (thán thư)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 321.6 MỘT SỐ BIỆN PHÁP BẢO QUẢN TRÁI CÓ MÚI 1.6.1 Bảo quản bằng ẩm độ
Ẩm độ trong tồn trữ có ảnh hưởng trực tiếp lên sự mất nước của trái tươi làm
giảm chất lượng, giảm lợi nhuận và khó bán (Bachmann và ctv., 2000)
Theo Wilson và ctv (1995), phần lớn trái tươi giữ được phẩm chất tốt khi
bảo quản ở ẩm độ cao (80-95%) nhưng ở ẩm độ này nấm bệnh dễ phát triển Nhiệt
độ lạnh trong phòng bảo quản làm giảm sự phát triển của bệnh nhưng giữ được ẩm
độ cao thường phức tạp bởi vì máy lạnh làm giảm ẩm độ bảo quản
Trong nghiên cứu tìm ẩm độ thích hợp bảo quản trái quýt Okitsu ở nhiệt độ
200C cho thấy, sau 4 tuần tồn trữ ở ẩm độ ≥95% thì trái có tỷ lệ hao hụt trọng lượng thấp là 3,2% so với ẩm độ ≤65% là 27%, đồng thời ở ẩm độ ≥95% có tổng chất rắn hòa tan thấp hơn so với ẩm độ ≤65% Trong suốt thời gian tồn trữ, ở ẩm độ ≤65% trái đã có những biến đổi theo chiều hướng xấu một cách nhanh chóng so với ẩm độ
≤95% Từ kết quả trên cho thấy, tồn trữ trái quýt Okitsu ở điều kiện ẩm độ cao là một phương pháp quan trọng giúp giảm sự lão hóa và duy trì giá trị thương phẩm
của trái (Aquino và ctv., 2003)
1.6.2 Bảo quản lạnh
Việc tồn trữ và vận chuyển trái trong điều kiện nhiệt độ thấp cũng rất quan trọng Giữ trái ở nhiệt độ thấp tuy giá thành cao nhưng cho phép kéo dài thời gian tồn trữ và vận chuyển đến nơi tiêu thụ mà vẫn giữ được chất lượng tốt Ở Florida, bảo quản lạnh như một chứng nhận kiểm dịch cho trái cây có múi ở những vùng bị nhiễm ruồi đục trái Bưởi được bảo quản ở 10-150C khoảng một tuần nhằm gia tăng tính kháng lạnh trước khi đưa vào xử lý lạnh ở nhiệt độ thấp hơn để diệt ruồi (Mohamed, 2003)
Theo Nguyễn Hùng Cường và ctv (2004) khi tồn trữ bưởi Năm Roi ở nhiệt
độ 12-140C có thể khống chế bệnh thối trái, duy trì cuống trái, giảm mất nước và Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 33kéo dài thời gian tồn trữ Trong nghiên cứu tìm nhiệt độ thích hợp bảo quản cam Sành cho thấy, ở nhiệt độ 4-60C sau 48 ngày cam Sành vẫn giữ được màu xanh và cảm quan bên ngoài, ít hao hụt khối lượng và ít biến đổi chất lượng (Nguyễn Văn
Mười và ctv., 2004)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 34CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
Thí nghiệm được tiến hành từ tháng 12/2007 đến tháng 3/2008, tại phòng thí nghiệm bộ môn Khoa Học Cây Trồng, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng thuộc trường Đại Học Cần Thơ
2.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM 2.1.1 Mẫu trái bưởi Năm Roi
Mẫu trái bưởi Năm Roi được thu thập từ vườn của nông dân tại quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ Trái được thu hoạch lúc 6,5 tháng tuổi, có cùng kích cỡ (có trọng lượng khoảng 1,2-1,5 kg/trái), không bị sâu bệnh và không bị trầy xước
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm
- Các dụng cụ đo và phân tích: độ Brix (Atago), máy đo màu sắc trái (Minolta CR-10), pH kế (Orion), cân phân tích,…
- Hoá chất dùng để xử lý: Benomyl 1000 ppm, dạng bột trắng nguyên chất
- Phương tiện bảo quản: Khung thí nghiệm để bảo quản trái, máy Ultrasonic wave Humidifies - HU - 653 (Samsung) tạo ẩm độ (Hình 2.1)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 35
Hình 2.1 Khung thí nghiệm dùng để bảo quản trái (a) và máy phun ẩm độ (b)
2.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 2.2.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức thừa số hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm hai nhân tố:
- Nhân tố thứ nhất: Ẩm độ + 75±3%
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 36Bảng 2.1 Các nghiệm thức được bố trí trong thí nghiệm
2.2.2 Cách tiến hành thí nghiệm
- Tạo sáu khung thí nghiệm ứng với sáu nghiệm thức và đặt trong điều kiện phòng thí nghiệm có nhiệt độ trung bình là 28±2 0C Mỗi khung thí nghiệm được thiết kế như sau: Tạo khung sắt cao 3 m, ngang 2 m, rộng 1 m Mỗi nghiệm thức là
1 khung, có 6 ngăn cho 6 lần lặp lại
- Nghiệm thức 1 và nghiệm thức 2 để trong điều kiện phòng thí nghiệm có
ẩm độ trung bình 75±3%
- Nghiệm thức 3 và nghiệm thức 4 bao nylon xung quanh để giữ ẩm độ, có
ẩm độ trung bình 90±2%
- Nghiệm thức 5 và nghiệm thức 6 bao nylon xung quanh tạo ẩm độ 99±1%
Ẩm độ 99±1% được tạo bằng cách dùng máy Ultrasonic wave Humidifies-HU-653 (Samsung) tạo ẩm độ thổi vào khung thí nghiệm đến khi đạt ẩm độ 99±1%, sau đó quan sát thời gian ẩm độ trong khung bị giảm xuống, dùng máy tạo ẩm độ thổi tiếp
để đạt ẩm độ 99±1% Thực hiện thăm dò nhiều lần để cài đặt thời gian cho máy tự động phun nếu ẩm độ trong khung giảm xuống
- Ghi nhận nhiệt độ và ẩm độ phòng thí nghiệm, nhiệt độ và ẩm độ trong khung thí nghiệm (sáng 8-9 giờ, chiều 3-4 giờ/ngày), nhiệt độ trung bình là
Trang 37- Thu hoạch trái bằng cách dùng kéo cắt cuống trái khoảng 1 cm Sau khi thu hái về, trái được rửa dưới vòi nước sạch, sau đó 1/2 số trái được xử lý bằng dung dịch Bemomyl 1000 ppm trong 10 phút ở nhiệt độ 520C Kế đến, trái được vớt ra để
khô rồi cho vào từng khung ứng với các nghiệm thức trên
2.3 CHỈ TIÊU THEO DÕI
Tất cả các chỉ tiêu đều được ghi nhận vào các thời điểm 0, 2, 4, 6, 8 và 13 tuần sau khi tồn trữ
2.3.1 Sự thay đổi màu sắc vỏ trái
Màu sắc vỏ trái được đo bằng máy đo màu Minolta CR-10
Cách đo: Được đo cố định trên 3 vị trí khác nhau của trái (đầu trái, giữa trái
và đít trái), mỗi vị trí đo 3 điểm và lấy giá trị trung bình Mỗi lần lặp lại có 10 trái
2.3.2 Sự hao hụt trọng lượng trái
Sự hao hụt trọng lượng được tính bằng cách cân trọng lượng trái ban đầu và cân trọng lượng trái tại từng thời điểm quan sát, sau đó tính hiệu số để có được tỷ lệ hao hụt trọng lượng, được tính theo công thức:
Mi – Mf
L (%) = x 100
MiTrong đó: L: tỷ lệ hao hụt trọng lượng (%)
Mi: khối lượng trái ban đầu (g)
Mf: khối lượng trái tại các thời điểm ghi nhận chỉ tiêu (g)
Trang 382.3.4 Tỷ lệ trái bị thiệt hại do bệnh
Được tính bằng cách đếm tổng số trái bị bệnh (do nấm, thối trái, ) trên tổng
số trái theo thời gian quan sát
Kết quả được tính theo công thức:
Tổng số trái bị bệnh
Tỷ lệ trái bị thiệt hại (%) = x 100
Tổng số trái quan sát
2.3.5 Hàm lượng nước vỏ trái
Hàm lượng nước vỏ trái được xác định bằng phương pháp sấy khô
Cách tiến hành: Tách 1/4 vỏ trái đem cân (KL1) sau đó sấy ở nhiệt độ 1050C đến khi trọng lượng không đổi (KL2)
KL1 - KL2 Hàm lượng nước vỏ trái (%) = x 100 KL1
Trong đó: KL1: trọng lượng mẫu ban đầu (g)
KL2: trọng lượng mẫu sau khi sấy (g) Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 392.3.6 Đánh giá cảm quan một số thay đổi của trái sau thu hoạch
Sự biến đổi của trái sau thu hoạch được đánh giá cảm quan dựa trên các chỉ tiêu sau (Bảng 2.2):
Bảng 2.2 Thang đánh giá cảm quan một số đặc tính của trái bưởi Năm Roi
Mức độ
(3)
Trung bình (2)
Xấu (1)
trí ở 10 vị trí khác nhau (cách biệt nhau)
Trước khi đánh giá không được hút thuốc, không ăn những chất ngọt (những loại trái cây khác, kẹo và không được uống cà phê, trà) Đánh giá xong một nghiệm
thức được tráng miệng bằng nước trước khi chuyển sang đánh giá nghiệm thức
khác
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 402.3.8 Định lượng vitamin C
Định lượng vitamin C (axit ascorbic) theo phương pháp Muri
Được xác định dựa trên tính khử của 2,6 dichlorophenol indophenol Dạng oxy hóa của thuốc thử 2,6 dichlorophenol indophenol có màu bị khử bởi axit ascorbic có trong dịch trích của nguyên liệu thực vật tạo thành dung dịch không màu Ở điểm trung hòa của tất cả axit ascorbic thì thuốc thử dư không bị khử sẽ có màu hồng trong dung dịch axit
* Cách tiến hành định lượng vitamin C (axit ascorbic)
- Tiến hành cân, nghiền mẫu trái cây: Cân 5 g mẫu trái cây (cho vào cối sứ)
Dùng dao thái nhỏ mẫu ra Cho vào cối sứ 20 ml HCl 1% Tiến hành nghiền mẫu ra Rửa và tráng dụng cụ bằng axit oxalic 1% Dùng axit oxalic 1% để lên thể tích Trong bình định mức 100 ml, lắc kỹ để yên 10 phút, lọc qua giấy lọc lấy dịch trong
- Dùng pipet lấy dịch lọc đem chuẩn độ: Lấy 10 ml dịch lọc cho vào bình
tam giác có dung tích 50 ml Cho 2,6 dichlorophenol indophenol 0,001 N vào trong buret để chuẩn độ dịch lọc cho đến lúc xuất hiện màu hồng nhạt bền sau 1 phút
- Chuẩn bị mẫu đối chứng: Dùng 8 ml axit oxalic 1% và 2 ml HCl 1%.Cho
vào bình tam giác đem chuẩn độ bằng 2,6 dichlorophenol indophenol đến khi màu phớt hồng
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu