1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam

17 3,5K 12
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại bài viết
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể nói, “lý luận” và “thực tiễn” là hai phạm trù thường xuyên được đề cập đến trong các hoạt động của con người. Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau và nó là một trong những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung và của lý luận nhận thức macxit nói riêng. Trong bất kỳ một lĩnh vực hoạt động nào của con người thì những vấn đề về lý luận và thực tiễn phải được đưa ra xem xét trong mối liên hệ với nhau. Có như vậy hoạt động của con người mới có thể đi đúng hướng và đạt được hiệu quả cao. Lịch sử phát triển đã chứng minh rằng phải luôn kết hợp giữa lý luận và thực tiễn trong mọi hoạt động. Nếu có sự vi phạm nguyên tắc này thì kết quả thu được sẽ không được như mong muốn. Đối với Việt Nam, chúng ta đã từng đi qua những cuộc chiến tranh để bảo vệ nền độc lập của đất nước.Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, nhân dân ta bắt tay vào khôi phục nền kinh tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình này, chúng ta gặp vô vàn khó khăn những cũng có những điều kiện thuận lợi nhất định. Trong từng giai đoạn phát triển, Đảng và Nhà nước có những đường lối chiến lược phát triển đất nước khác nhau. Trải qua nhiều thay đổi về đường lối quản lý, hiện nay nền kinh tế nước ta đã tìm được hướng đi đúng mặc dù vẫn còn không ít sai lầm cần phải sửa đổi. Đạt được những thành tựu như vậy là do Đảng và Nhà nước ta đã đi từ thực tiễn hoàn cảnh đất nước mà có được những lý luận đúng đắn để đưa ra những chính sách kinh tế - xã hội phù hợp. Với mong muốn được tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này, em đã chọn đề tài: “Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam”.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Có thể nói, “lý luận” và “thực tiễn” là hai phạm trù thường xuyên được

đề cập đến trong các hoạt động của con người Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau và nó là một trong những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung và của lý luận nhận thức macxit nói riêng

Trong bất kỳ một lĩnh vực hoạt động nào của con người thì những vấn

đề về lý luận và thực tiễn phải được đưa ra xem xét trong mối liên hệ với nhau Có như vậy hoạt động của con người mới có thể đi đúng hướng và đạt được hiệu quả cao Lịch sử phát triển đã chứng minh rằng phải luôn kết hợp giữa lý luận và thực tiễn trong mọi hoạt động Nếu có sự vi phạm nguyên tắc này thì kết quả thu được sẽ không được như mong muốn

Đối với Việt Nam, chúng ta đã từng đi qua những cuộc chiến tranh để bảo vệ nền độc lập của đất nước.Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, nhân dân ta bắt tay vào khôi phục nền kinh tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong quá trình này, chúng ta gặp vô vàn khó khăn những cũng có những điều kiện thuận lợi nhất định Trong từng giai đoạn phát triển, Đảng và Nhà nước có những đường lối chiến lược phát triển đất nước khác nhau Trải qua nhiều thay đổi về đường lối quản lý, hiện nay nền kinh tế nước ta đã tìm được hướng đi đúng mặc dù vẫn còn không ít sai lầm cần phải sửa đổi Đạt được những thành tựu như vậy là do Đảng và Nhà nước ta đã đi từ thực tiễn hoàn

cảnh đất nước mà có được những lý luận đúng đắn để đưa ra những chính

sách kinh tế - xã hội phù hợp

Với mong muốn được tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này, em đã chọn đề

tài: “Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam”

Em xin chân thành các thầy cô giáo và các bạn đã giúp em hoàn thành bài viết này

Trang 2

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.Thực tiễn:

1.1.1.Khái niệm:

Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội

Hoạt động thực tiễn là quá trình con người sử dụng công cụ phương tiện vật chất, sức mạnh vật chất tác động vào tự nhiên xã hội để cải tạo làm biến đổi cho phù hợp với nhu cầu của mình Hoạt động thực tiễn là quá trình tương tác giữa chủ thể và khách thể trong đó chủ thể hướng vào việc cải tạo khách thể trên cơ sở đó nhận thức khách thể Vì vậy thực tiễn là mắt khâu trung gian nối liền ý thức của con người với thế giới bên ngoài

Thực tiễn là hoạt động có tính chất loài (loài người) Hoạt động đó không thể tiến hành chỉ bằng vài cá nhân riêng lẻ mà phải bằng hoạt động của đông đảo quần chúng nhân dân trong xã hội Đó là hoạt động của nhiều tầng lớp, nhiều giai cấp Chủ thể không phải là một vài cá nhân mà là cả xã hội trong giai đoạn lịch sử nhất định Cho nên xét về nội dung cũng như về phương thức thực hiện, thực tiễn có tính lịch sử xã hội

Thực tiễn là hoạt động vật chất gắn liền với sự biến đổi tiến bộ của tự nhiên xã hội loài người nhằm cải tạo tự nhiên xã hội Nhưng hoạt động vật chất nào đi ngược lại với khoa học tự nhiên và xã hội thì không goị là hoạt động thực tiễn

Thực tiễn có ba dạng cơ bản:

- Hoạt động sản xuất vật chất: đây là hoạt động thực tiễn cơ bản và quan trọng nhất vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người

Trang 3

- Hoạt động chính trị – xã hội: nhằm cải tạo, biến đổi xã hội, phát triển các quan hệ xã hội, chế độ xã hội

- Hoạt động thực nghiệm khoa học: là hoạt động nhằm rút ngắn độ dài của quá trình con người nhận thức và biến đổi thế giới

1.1.2.Vai trò:

Thực tiễn là nguồn gốc, cơ sở của nhận thức Mọi nhận thức đều bắt nguồn từ thực tiễn, tác động vào sự vật hiện tượng buộc nó bộc lộ thuộc tính trên cơ sở đó khái quát, rút ra bản chất của sự vật hiện tượng, biến nó thành vật cho ta

Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm nghiệm nhận thức, thước đo để đánh giá nhận thức Thước đo không cố định, luôn luôn vận động, phát triển, nhưng vẫn đủ để kiểm nghiệm nhận thức và lý luận, vừa mang tính tuyệt đối vừa mang tính tương đối Từ thực tiễn mà con người sáng tạo ra các phương pháp

để cải tạo chính thực tiễn

1.2.Lý luận:

1.2.1.Khái niệm:

Lý luận là một hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn phản ánh mối liên hệ bản chất những quy luật của thế giới khách quan Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người,

là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” Lý luận được hình thành từ kinh nghiệm, trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm, nhưng lý luận không hình thành một cách tự phát từ kinh nghiệm và không phải mọi lý luận đều trực tiếp xuất phát kinh nghiệm Do tính độc lập tương đối của nó, lý luận có thể đi trước những dữ kiện kinh nghiệm Tuy nhiên điều đó không làm mất đi mối liên hệ giữa lý luận với kinh nghiệm Khác với kinh nghiệm, lý luận mang tính trừu tượng và khái quát cao nên nó

Trang 4

đem lại những hiểu biết sâu sắc về bản chất, tính quy luật của các sự vật, hiện tượng khách quan Như vậy lý luận thể hiện tính chân lý sâu sắc hơn, chính xác hơn, hệ thống hơn, nghĩa là nó có tính bản chất sâu sắc hơn và do đó phạm vi ứng dụng của nó cũng phổ biến, rộng rãi hơn nhiều so với tri thức kinh nghiệm

1.2.2.Vai trò:

Lý luận có các vai trò sau đây:

- Khái quát kinh nghiệm thực tiễn, tổng kết thực tiễn

- Vạch ra những qui luật vận động phát triển của thực tiễn

- Liên kết, tập hợp, giáo dục, thuyết phục, động viên, tổ chức thực hiện

- Chỉ đạo và cải tạo cuộc sống

1.3.Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn:

Lý luận và thực tiễn thống nhất với nhau, không chia cắt, không tách rời, không được coi trọng mặt nào Lý luận được hình thành không phải ở bên ngoài thực tiễn mà trong mối liên hệ với thực tiễn Do đó, thực tiễn và lý luận luôn có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau trong đó thực tiễn giữ vai trò quyết định lý luận

1.3.1.Thực tiễn quyết định lý luận:

Vai trò của thực tiễn được biểu hiện trước hết ở chỗ thực tiễn là cơ sở động lực mục đích chủ yếu và trực tiếp của lý luận Triết học Mác – Lênin chỉ ra rằng con người quan hệ với thế giới bắt đầu không phải bằng lý luận mà bằng thực tiễn Chính trong quá trình hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới buộc con ngươì phải nhận thức thế giới do đó mà lý luận của con người mới được hình thành và phát triển Bằng hoạt động thực tiễn, con người tác động vào thế giới buộc thế giới khách quan phải bộc lộ những tính chất quy luật của nó trên cơ sở đó mà con người nhận thức được chúng Thực tiễn cung cấp những

Trang 5

tài liệu cho lý luận Do đó không có thực tiễn thì không có lý luận và không

có cả khoa học Hiểu biết của con người xét đến cùng phải bắt nguồn từ thực tiễn

Quá trình biến đổi thế giới là quá trình con người ngày càng đi sâu vào nhận thức thế giới, khám phá những bí mật của thế giới làm phong phú sâu sắc tri thức của mình về thế giới Thực tiễn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ và giới hạn phát triển của lý luận và sự phát triển của các ngành khoa học Nhu cầu của thực tiễn đòi hỏi phải có tri thức mới Tổng kết kinh nghiệm, khái quát nhận thức, thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các ngành khoa học

Thực tiễn còn có tác dụng rèn luyện các giác quan của con người Nó là

cơ sở để chế tạo ra những dụng cụ máy móc hỗ trợ cho nhận thức của con người

Thực tiễn là mục đích của lý luận Triết học Mác – Lênin chỉ ra rằng từ hoat động thực tiễn mà có tri thức và khoa hoc Lý luận khoa học sau khi ra đời phải quay về phục vụ thực tiễn hướng dẫn chỉ đạo thực tiễn, chỉ có ý nghĩa thực sự khi chúng được vận dụng vào thực tiễn, cải tạo thực tiễn, phục

vụ mục tiêu phát triển chung

Tóm lại sự phân tích trên đây về vai trò của thực tiễn đối với lý luận đòi hỏi phải quán triệt quan điểm thực tiễn Quan điểm này yêu cầu lý luận phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sơ thực tiễn, đi sâu, đi sát thực tiễn, nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn Nếu xa rời thực tiễn thì sẽ dẫn tới sai lầm của bệnh chủ quan, giáo điều, máy móc, quan liêu

1.3.2.Sự tác động trở lại của lý luận đối với thực tiễn:

Triết học Mác - xít chỉ ra rằng coi trọng thực tiễn không có nghĩa là coi nhẹ lý luận, hạ thấp vai trò của lý luận mà phải thấy được vai trò tác động tích cực của lý luận đối với thực tiễn Vai trò của lý luận đối với thực tiễn được thể hiện ở các điểm sau:

Trang 6

- Lý luận khái quát những kinh nghiệm thực tiễn Do đó lý luận dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn, điều chỉnh hoạt động thực tiễn đạt kết quả cao Lý luận khoa học làm cho hoạt động của con người trở nên chủ động tự giác, hạn chế tình trạng mò mẫm tự phát Chủ tịch Hồ Chí Minh có viết “không có lý luận thì lúng túng nhắm mắt mà đi” Còn Lênin khẳng định “ không có lý luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng”

- Lý luận góp phần vào việc tổ chức giáo dục thuyết phục quần chúng Lý luận một khi đã thâm nhập vào quần chúng sẽ trở thành lực lượng vật chất

- Lý luận có thể dự báo tương lai, từ đó hấp dẫn con người trong cuộc sống hiện tại

Do tính gián tiếp, tính trừu tượng cao trong sự phản ánh hiện thực nên

lý luận có khả năng xa rời thực tiễn và trở thành ảo tưởng Khả năng ấy càng tăng lên nếu lý luận đó lại bị chi phối bởi những tư tưởng không khoa học hoặc phản động Vì vậy, phải coi trọng lý luận, nhưng không được cường điệu hoá vài trò của lý luận mà coi thường thực tiễn và tách rời lý luận với thực tiễn Điều đó cũng có nghĩa là phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong lý luận khoa học và hoạt động cách mạng “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác – Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng

Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”

Tóm lại sự tác động trở lại của Nhận thức đối với thực tiễn theo hai hướng: nếu nhận thức phù hợp với thực tiễn thì nó thúc đẩy thực tiễn phát triển, nếu nhận thức phản ánh sai thực tiễn thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển thực tiễn

CHƯƠNG 2 MỐI QUAN HỆ GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI Ở VIỆT

NAM

Trang 7

2.1.Thời kỳ trước đổi mới ( trước năm 1987)

Hợp tác xã hoá ở miền Bắc bắt đầu thực hiện từ năm 1958, đến năm

1960 cơ bản hoàn thành Khi đó chúng ta cho rằng làm ăn tập thể ưu việt hơn làm ăn cá thể, kinh tế cá thể tự phát dẫn đến phân hóa giàu nghèo, phân chia giai cấp Làm ăn tập thể sẽ tạo ra sức mạnh, sẽ giải quyết được những vấn đề kinh tế xã hội của cộng đồng nông thôn Do vậy, hợp tác xã hoá được thực hiện đồng nhất với tập thể hoá, xoá bỏ sản xuất theo hộ, chỉ cho phép tồn tại dưới hình thức kinh tế phụ gia đình, mọi tư liệu sản xuất đều thuộc về tập thể,

tổ chức lao động tập trung dưới sự chỉ huy điều hành của ban chủ nhiệm hợp tác xã và ban chỉ huy đội, phân phối theo ngày công, sau khi trừ chi phí sản xuất, khấu trừ nộp cho nhà nước và phúc lợi xã hội ở nông thôn, ban chủ nhiệm làm cả chức năng của chính quyền cơ sở Tuy vậy nhờ lao động tập thể

và sử dụng tập trung các nguồn lực nên đã xây dựng được những công trình thuỷ lợi, kiến thiết đồng ruộng, đường giao thông, trường học bộ mặt miền Bắc cũng có những thay đổi đáng kể

Song tổ chức hợp tác xã ấy vốn chứa đựng những khuyết tật:

- Chế độ công hữu dưới hình thức tập thể dường như không có ai là chủ đích thực dẫn đến tư liệu sản xuất không được sử dụng có hiệu quả và bị huỷ hoại

- Quản lý lao động, sản xuất tập trung làm cho người lao động phụ thuộc, bị động, thiếu chủ động, sáng tạo

- Của cải làm ra dùng để bao cấp cho phúc lợi xã hội nông thôn, chi dùng phung phí, phân chia cho người lao động quá ít, không khuyến kích người lao động hăng say sản xuất

- Các hợp tác xã lại tồn tại tương đối biệt lập với nhau, trao đổi sản phẩm lại gắn liền với hệ thống quốc doanh mang tính giao nộp cấp phát, phi thị trường

Trang 8

- Hệ thống quốc doanh ấy lại được tổ chức theo cấp hành chính Mỗi xã, phường còn có hợp tác xã mua bán tín dụng, nơi có nghề truyền thống còn có hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp

Những khuyết tật trên của hợp tác xã nông nghiệp đã phát sinh những tiêu cực ngay từ giai đoạn đầu Nhưng chúng ta lại cho rằng những tiêu cực

ấy là do chế độ sở hữu tiên tiến, chỉ cần hoàn thiện chế độ quản lý thì sẽ phát huy tính ưu việt của hợp tác xã, thậm chí có ý kiến cho rằng chúng ra đã có quan hệ sản xuất tiên tiến cần phải kéo lực lượng sản xuất lên cho nó phù hợp Điều này trái với qui luật lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất của chủ nghĩa Mác

Trên cơ lý luận đó, chúng ta mở cuộc vận động cải tiến vòng một, vòng hai, vận động dân chủ áp dụng điều lệ mẫu vào các hợp tác xã Các cuộc vận động ấy, một mặt thực hiện khoán nhóm, ba khoán cho đội sản xuất, mặt khác lại mở rộng quy mô hợp tác xã, hoàn thiện chế độ thống quản Qua ba lần thực hiện cải tiến quản lý, tuy có giảm mức độ nhất định những tiêu cực trong các hợp tác xã, nhưng về cơ bản chưa khắc phục được

Trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước miền Bắc vừa là hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam, vừa trực tiếp đánh trả chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ Do tác động của chiến tranh và có nguồn viện trợ không hoàn lại từ các nước XHCN, các hợp tác xã lại có thêm sức mạnh tư tưởng, tâm lý và vật chất để củng cố, những tiêu cực vốn có bên trong chưa bộc lộ ra Mô hình tổ chức hợp tác xã kiểu tập trung bao cấp tỏ ra có tác dụng tích cực Bởi vì nó có thể huy động tối đa sức người, sức của cho cuộc chiến đấu, “ thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, tất cả cho tiền tuyến, cho chiến thắng Hợp tác xã còn hỗ trợ, giúp đỡ những gia đình có người đi chiến đấu và phục vụ chiến đấu, đảm bảo thực hiện chính sách hậu phương quân đội

Trang 9

Lênin nói khuyết điểm chính là ưu điểm đã được kéo dài Đúng vậy, trong kháng chiến chống Mỹ, mô hình hợp tác xã ở Miền bắc khá phù hợp, với quyết tâm tất cả cho tiền tuyến, cho thống nhất đất nước, Đảng ta đã huy động được sức mạnh toàn dân, miền bắc thi đua sản xuất chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến miền nam Năm 1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, cả dân tộc bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh cuộc chiến tranh lạnh và cấm vận kinh tế, điều kiện thực tiễn

đã thay đổi, mô hình kinh tế đó dần dần bộc lộ những mâu thuẫn, nền kinh tế Việt Nam lâm vào khủng hoảng ngày càng trầm trọng Thực tiễn đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải đổi mới đường lối phát triển kinh tế – xã hội Tuy nhiên do chưa nhận thức đúng thực tiễn, Đảng và Nhà nước ta vẫn vận hành nền kinh tế kế hoạch tập trung, quan liêu, bao cấp, đã mắc phải những khuyết điểm như:

- Quá nóng vội trong tiến trình cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần gọi là phi xã hội chủ nghĩa tại các tỉnh, thành phố phía Nam Đối với các địa phương phía Bắc, việc nóng vội đưa hàng loạt hợp tác xã bậc thấp lên bậc cao chẳng những đã không đạt được mục đích đẩy quan hệ sản xuất đi trước

để thúc đẩy lực lượng sản xuất lên theo mà ngược lại đã kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Trên mặt trận nông nghiệp, mặc dù tỷ lệ nông dân tham gia vào hợp tác xã tăng nhanh qua mỗi năm, nhưng sản lượng lương thực từ 13,5 triệu tấn năm 1976 cũng chỉ tăng lên được 18,2 triệu tấn năm

1985 Đến năm 1985, mặc dù cả nước có tới 14052 hợp tác xã nông nghiệp nhưng một bộ phận không nhỏ các hợp tác xã ở trong tình trạng “treo biển hợp tác xã” một bộ phận không nhỏ xã viên hợp tác xã đã quay về làm kinh tế gia đình, và đa số đã chăm chút cho việc sản xuất và thu hoạch trên phần đất 5% của mình Trên thực tế đời sống kinh tế xã hội nông thôn ngày càng xuất hiện nhiều sự so sánh giữa kinh tế tập thể, kinh tế gia đình, kinh tế hộ với nhau Tuy chưa có tuyên bố chính thức, nhưng đã xuất hiện tình trạng tự giải

Trang 10

thể của mô hình hợp tác xã với những quy mô, hình thức và phạm vi khác nhau không chỉ trong nông nghiệp mà cả trong các lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ…

- Phát triển tràn lan các xí nghiệp quốc doanh trong hầu hết các ngành của nền kinh tế quốc dân, vượt quá khả năng của Nhà nước về nhiều phương diện Mặc dù tăng mạnh các cơ sở quốc doanh trong nền kinh tế như vậy nhưng tổng sản phẩm xã hội được tạo ra từ thành phần kinh tế quốc doanh trong giai đoạn này chỉ tăng 1,5 lần

- Không thừa nhận địa vị pháp lý của một lực lượng sản xuất to lớn trong xã hội thuộc các loại hình sở hữu gọi là phi xã hội chủ nghĩa, lực lượng này bao gồm các hộ nông dân chưa vào hợp tác xã, những người làm ăn cá thể trong các ngành nghề tiểu thủ công, những người kinh doanh cá thể trong các ngành thương mại dịch vụ

- Phát triển nền kinh tế theo phương thức tự cung tự cấp, phương thức đổi hàng trong khuôn khổ Hội đồng tương trợ kinh tế, chấp nhận cấm vận và bao vây kinh tế của các thế lực thù địch Một nền kinh tế khép kín và bị khép kín như vậy đã làm mất đi những khả năng tiềm tàng, những khả năng trong tầm tay của việc sử dụng và phát triển những lực lượng sản xuất từ hợp tác quốc tế đem lại Trong giai đoạn 1976-1985 , mặc dù đã xây dựng được 1307 xí nghiệp nhà nước nhưng đó chỉ là những xí nghiệp 100% vốn nhà nước, không

có đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp của nước ngoài vào Việt Nam Nhược điểm của những xí nghiệp quốc doanh này là đã đầu tư sử dụng trang thiết bị, công nghệ lạc hậu vài ba chục năm so với các nước trong khu vực, do vậy đã để lại những hậu quả rất khó khăn về mặt hiệu quả đầu tư, sản xuất kinh doanh của

xí nghiệp Những nguồn vốn này nếu Nhà nước đầu tư vào sửa chữa, nâng cấp, xây dựng mới các công trình hạ tầng kinh tế kỹ thuật cho nền kinh tế thì hiệu quả đầu tư sẽ cao hơn rất nhiều so với đầu tư vào những xí nghiệp quốc doanh yếu kém

Ngày đăng: 02/08/2013, 09:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w