Ngày nay, khi đề cập đến giá trị của một doanh nghiệp, các nhà kinh tế học không chỉ xét đến các yếu tố như: công nghệ, nhà xưởng, vốn, nguồn nhân lực,... mà còn rất quan tâm đến một yếu tố mới, một yếu tố cực kỳ quan trọng, được đánh giá là có tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp - đó chính là văn hóa doanh nghiệp. Văn hoá doanh nghiệp là tổng hợp những quan niệm chung mà các thành viên trong doanh nghiệp học được cách giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh. Một nền văn hóa doanh nghiệp luôn luôn là mục tiêu mà các doanh nghiệp cần phải hướng tới. Văn hoá doanh nghiệp không thể hình thành “ngày một, ngày hai” mà sự phát triển của nó là cả một quá trình lịch sử lâu dài. Văn hoá doanh nghiệp là “ngôi nhà” mà sự xây dựng và hình thành văn hóa của mỗi thành viên chính là các viên gạch để xây nên ngôi nhà đó. Văn hóa doanh nghiệp hình thành nhanh hay chậm, tác động tích cực hay tiêu cực đến sự phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc vào sự cố gắng phấn đấu, nỗ lực của mỗi thành viên trong doanh nghiệp đó. Lịch sử phát triển của nền kinh tế thế giới cũng đã cho thấy: nếu không có một giá trị văn hoá riêng, bản sắc riêng thì một doanh nghiệp không thể đứng vững, phát triển và không thể tạo được “dấu ấn” của mình đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia nói riêng và đối với nền kinh tế thế giới nói chung. Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ xin trình bày khái quát về văn hoá doanh nghiệp và đặc biệt là việc phát huy vai trò của nó trong quá trình đổi mới, cụ thể hơn là tại Công ty Tài Chính Dầu Khí – PVFC.
Trang 1Văn hoá doanh nghiệp là tổng hợp những quan niệm chung mà các thànhviên trong doanh nghiệp học được cách giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý cácvấn đề với môi trường xung quanh Một nền văn hóa doanh nghiệp luôn luôn làmục tiêu mà các doanh nghiệp cần phải hướng tới
Văn hoá doanh nghiệp không thể hình thành “ngày một, ngày hai” mà sựphát triển của nó là cả một quá trình lịch sử lâu dài Văn hoá doanh nghiệp là
“ngôi nhà” mà sự xây dựng và hình thành văn hóa của mỗi thành viên chính làcác viên gạch để xây nên ngôi nhà đó Văn hóa doanh nghiệp hình thành nhanhhay chậm, tác động tích cực hay tiêu cực đến sự phát triển của doanh nghiệp phụthuộc vào sự cố gắng phấn đấu, nỗ lực của mỗi thành viên trong doanh nghiệp đó
Lịch sử phát triển của nền kinh tế thế giới cũng đã cho thấy: nếu không cómột giá trị văn hoá riêng, bản sắc riêng thì một doanh nghiệp không thể đứngvững, phát triển và không thể tạo được “dấu ấn” của mình đối với nền kinh tế củamỗi quốc gia nói riêng và đối với nền kinh tế thế giới nói chung
Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ xin trình bày khái quát về văn hoá doanh nghiệp và đặc biệt là việc phát huy vai trò của nó trong quá trình đổi mới,
cụ thể hơn là tại Công ty Tài Chính Dầu Khí – PVFC
Trang 2CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP
1- Văn hoá doanh nghiệp là gì?
Văn hoá là tổng thể tổng hợp bao gồm kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật,đạo đức, luật pháp, thói quen và bất kỳ năng lực hành vi nào khác mà mỗi cá nhânvới tư cách thành viên của xã hội đạt được
Theo nghĩa rộng, văn hoá là bao gồm tất cả những gì con người đã tạo ra.Theo nghĩa hẹp, văn hoá xác định đặc trưng của một dân tộc, tộc người,một xã hội, hay một tầng lớp xã hội trong mối tương quan với xã hội khác, dântộc khác, tộc người khác, hay tầng lớp xã hội khác Vì vậy, có thể hiểu:
Vân hoá doanh nghiệp - Business Culture (VHDN) là toàn bộ những giá
trị tinh thần mà DN tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh, tác động tới tìnhcảm, lý trí và hành vi của các thành viên cũng như sự phát triển bền vững của
DN
VHDN gắn với đặc điểm từng dân tộc, trong từng giai đoạn phát triển, cho đếntừng doanh nhân, từng người lao động, do đó phong phú, đa dạng VHDN là cơ
sở của toàn bộ các chủ trương, biện pháp cụ thể trong sản xuất kinh doanh của
DN, chi phối kết quả kinh doanh Chính vì vậy, có thể nói, thành công hay thấtbại của các DN đều gắn với việc có hay không VHDN
Trước hết, VHDN bao gồm sự tôn trọng luật pháp trong kinh doanh cũngnhư đăng ký thương hiệu, tôn trọng các quyền về sở hữu tài sản trí tuệ, nộp thuế,bảo vệ môi trường, bảo hộ lao động cũng như các quy định pháp luật trong quản
lý doanh nghiệp như điều lệ công ty, tôn trọng quyền hạn và lợi ích của cổ đônghay thành viên góp vốn, tôn trọng cổ đông thiểu số
Trang 3Nỗ lực hình thành và xây dựng văn hóa kinh doanh phải đến từ hai phía:doanh nghiệp và cơ quan bảo vệ pháp luật, cơ quan nhà nước Pháp luật phải rõràng, dễ hiểu, chính xác, không phân biệt đối xử và nhất quán trong cả nước đốivới các loại hình doanh nghiệp khác nhau Cơ quan bảo vệ pháp luật và cơ quannhà nước phải thực thi pháp luật trên cơ sở tôn trọng doanh nghiệp và thực tế,không vì lợi của một bên mà làm thiệt hại cho bên kia Việc sửa đổi, thay đổi, bổsung pháp luật là cần thiết, song phải được thảo luận công khai với các doanhnghiệp, việc công bố và thực hiện phải cho phép doanh nghiệp có thời gian cầnthiết để chuẩn bị và thực hiện Đòi hỏi doanh nghiệp kinh doanh có văn hoá cũngphải đòi hỏi các cơ quan nhà nước cũng phải có văn hoá công sở, văn hoá trongứng xử với công dân và doanh nghiệp Phải cùng nhau phấn đấu và nỗ lực xâydựng văn hoá kinh doanh, không thể chỉ đòi hỏi một phía doanh nghiệp nỗ lực.
2- Xây dựng văn hoá DN trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay
2.1 Cái nhìn chung về VHDN trên thế giới
Cạnh tranh trên quy mô toàn cầu cùng với tác động to lớn của công nghệthông tin đang là áp lực to lớn đối với phát triển kinh tế của nước ta hiện nay.Chính phủ cam kết tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển và chínhcác doanh cũng xuất hiện các nhu cầu phải thay đổi tổ chức của mình Hiện nay,vấn đề xây dựng văn hóa tổ chức nói chung và văn hoá DN nói riêng được đề cậpđến cả về mặt lý thuyết lẫn thực tiễn
Văn hoá tổ chức là loại quy ước cơ bản mà một nhóm người nhất định nói ra, pháthiện ra hay xây dựng nên để giải quyết những vấn đề về sự thích ứng bên ngoài
và sự hoà nhập với bên trong và những quy ước này phải được coi là có hiệu lực
và là chuẩn mực để các thành viên mới của tổ chức thấm nhuần và tuân thủ Vănhoá tổ chức bao gồm các yến tố:
Trang 4- Yếu tố giá trị: Giá trị là sự tin tưởng vào những gì là tốt nhất cho một tổchức và loại thái độ nào là cần thiết: sự minh bạch, sự hoàn thành tráchnhiệm, sự sáng tạo, năng động.
- Yếu tố chuẩn mực: là những quy tắc không thành văn hướng dẫn cách cư
xử Những chuẩn mực này chỉ thẻ hiện bằng lời nói hoặc bằng thái độ vànếu vi phạm những chuẩn mực này thì cũng bị xử lý: vi phạm những tiêuchuẩn công việc đã được phê chuẩn, cách cư xử của sếp đối với nhân viên,đạo đức nghề nghiệp
- Yếu tố đồ tạo tác: là những khía cạnh hữu hình của một tổ chức mà người
ta có thể nghe được, nhìn thấy hoặc cảm thấy: môi trường làm việc, giọngnói, ngôn ngữ sử dụng trong các bức thông điệp, cách giao tiếp trong cáccuộc mít tinh
- Không khí của tổ chức: là khái niệm được sử dụng để phản ánh sự làm việcthoải mái ở mức độ cao: nhân viên cấp dưới được tin tưởng ở mức độ nào,
tổ chức có chấp nhận rủi ro hay nó giữ ở mức an toàn nhất, thái độ thânthiện hay thù ghét giữa các thành viên, xung đột trong tổ chức có được giảiquyết hay lờ đi
- Phong cách quản lý: miêu tả cách thể hiện thái độ và quyền lực của quản lýtrong việc thực hiện các mục tiêu của tổ chức Phong cách quản lý thể hiệntheo nhiều cách khác nhau: độc đoán hay dân chủ, khó tính hay dễ dãi,cứng nhắc hay mềm dẻo
Áp dụng văn hóa tổ chức vừa nêu trên vào sẽ thấy các DN không phải không cóvăn hóa của mình Song điều khiến ta quan tâm là ở chỗ những định nghĩa đã nêutrên là những quy ước bất thành văn, nó quy định cách thức thực sự mà conngười đối xử hàng ngày với nhau trong tổ chức và ẩn sâu vào lòng tin nên có vaitrò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu của tổ chức Như vậy, VHDN có thểủng hộ hoặc chống lại tổ chức Vấn đề còn ở chỗ, các nhà quản lý nhận thức tới
Trang 5đâu và biết cách sử dụng nó để phát triển tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt độnghay không?
Thí dụ: Công ty Intel nhấn mạnh tính mềm dẻo, phong thái quyết định công việc
và cách tiếp cận hướng nội về việc thông tin, chú trọng hợp tác, trách nhiệm tậpthể và quyết định trên cơ sở thoả thuận Biện pháp quản lý này gắn với việc đềcao văn hoá nhóm
Trong khi đó, Công ty Protor and Gamble (P &G) đề cao văn hoá thịtrường nên họ nhấn mạnh cạnh tranh, thành tựu và chất lượng, hoạch định nhữngcuộc tấn công trực diện đối thủ
Không phải ngẫu nhiên mà NOKIA trở thành một thương hiệu điện thoại diđộng nổi tiếng nhất thế giới (chiếm đến 40% thị phần) và là niềm tự hào của nướcPhần Lan nhỏ bé Luôn luôn đổi mới công nghệ và quan trọng nhất là “tính nhânbản” được khắc hoạ trong mỗi sản phẩm là “chìa khoá vàng” để NOKIA thànhcông trên mọi thị trường, từ Châu âu đến Châu á và làm một cuộc chinh phụcngoạn mục đối với thị trường khó tính như Bắc Mỹ (vốn là thị trường truyềnthống của tập đoàn MOTOROLA) Đồng thời, các nhà lãnh đạo tập đoàn NOKIAcũng đã rất thành công khi chú ý cải tiến những nét văn hóa riêng của khách hàng
ở các thị trường khác nhau Mỗi khách hàng đều cảm nhận được “tính văn hoáriêng biệt” khi sử dụng sản phẩm và dịch vụ của NOKIA
Những thí dụ trên cho thấy lãnh đạo của các công ty đã rất thành côngtrong những đặc tính riêng của văn hoá DN mình trong kinh doanh VHDN khácnhau dẫn đến sự khác nhau trong việc lựa chọn những biện pháp quản lý khácnhau Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế như hiện nay khiến sự xuất hiệncủa các công ty đa quốc gia, công ty liên doanh với nước ngoài ngày một nhiềukèm theo đó là những đụng độ giữa các nền văn hoá khác nhau Không quan tâmđến điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Ví như sự va chạm giữa một số ít nhà quản lý nước ngoài với người lao động
Trang 6nước ta trong một số doanh nghiệp liên doanh do những nét khác biệt về văn hóakhông được quan tâm lắm.
2.2 Quá trình đổi mới với văn hoá doanh nghiệp Việt Nam
Nghiên cứu VHDN là khuynh hướng đã bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam và
đã đo đếm được hiệu quả của nó
VHDN Việt Nam được hình thành là một phần quan trọng của VH ViệtNam được lưu truyền và bồi đắp từ thế hệ này đến thế hệ khác Nó tiếp thunhững nhân tố văn hóa trong kinh doanh hình thành qua nhiều năm của các nềnkinh tế hàng hoá trên thế giới, đồng thời tiếp thu và phát huy những tinh hoa vănhoá trong kinh doanh của ông cha, vận dụng phù hợp với đặc điểm ngày nay, đó
là hiện đại hóa truyền thống đi đôi với truyền thống hoá hiện đại Chỉ có như vậy,
mới kết hợp được tốt truyền thống và hiện đại, đó là sự kết hợp có chọn lọc vànâng cao, từng bước hình thành VHDN mang bản sắc Việt Nam
2.2.1 Một số đặc điểm nổi bật của VHDN Việt Nam:
- Từ công cuộc đổi mới đã hình thành mục đích kinh doanh mới, đó là kinhdoanh vì lợi ích của mỗi doanh nghiệp và lợi ích cả dân tộc Tối đa hoá lợinhuận là động cơ thúc đẩy ý chí cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp, cần đặcbiệt quan tâm, không vì nhấn mạnh mục lợi ích chung mà coi nhẹ mụcđích kinh doanh của mỗi cá nhân Mục đích ấy đang được thể hiện ngàycàng rõ nét trong chiến lược phát triển của mỗi doanh nghiệp đặc biệt là
DN có hàng hoá được người tiêu dùng bình chọn đạt chất lượng cao trongnhững năm gần đây Tuy nhiên, mục đích kinh doanh của mỗi doanh nhân
ở nước ta hiện nay cũng rất đa dạng về tính chất: có những người chỉ mongkiếm được nhiều tiền, cũng có người muốn vươn lên tiếp nối truyền thốnggia đình, hoặc khao khát hoàn thiện bản thân
Trang 7- VHDN đòi hỏi sự gắn bó chặt chẽ hiệu quả kinh doanh và tính nhân vănTrong kinh doanh, không thể đạt hiệu quả bằng bất cứ giá nào mà coi nhẹnhững giá trị nhân văn (tôn trọng con người, bảo vệ môi trường) Điều đặcbiệt quan trọng là nâng cao tinh thần cộng đồng dân tộc trong mỗi hoạtđộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, một đặc điểm của VHDN
mà chúng ta cần xây dựng, đề cao trách nhiệm xã hội như: xoá đói giảmnghèo, cứu trợ, các hoạt động từ thiện
Điều cần nhấn mạnh hiện nay là khắc phục chủ nghĩa thực dụng, dùng mọithủ đoạn để đạt lợi nhuận cao, thậm chí siêu lợi nhuận Có thể thấy rõnhược điểm về mặt này của doanh nghiệp nước ta như: cạnh tranh bất hợppháp, tranh giành thị trường, hạ giá, phá giá
Do vậy, cần đặc biệt phát huy vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp, cungcấp nhiều loại dịch vụ đa dạng , giải quyết những vấn đề mà từng DN riêng
lẻ không tự giải quyết được
- Hình thành và phát huy VHDN trước hết là phải đưa vào con người.VHDN là lý tưởng và các nguyên tắc chi phối hành động của DN cũng nhưmỗi thành viên, là hệ giá trị tạo nên nguồn lực cho sự phát triển bền vữngcủa mỗi DN, do vậy, càng cần thiết phát huy nhân tố con người trong DN.VHDN của từng DN Việt Nam có những nét chung và nét riêng Chúng tanhấn mạnh việc tạo dựng và bảo vệ thương hiệu của DN, thể hiện uy tín, vị thếcủa doanh nghiệp, là tài sản được xây dựng, tích tụ một cách có ý thức trong quátrình phát triển của doanh nghiệp Thương hiệu là niềm tự hào của DN, tạo raniềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm và dịch vụ mà DN cung ứng
2.2.2 Những tác động của VHDN trong bối cảnh hội nhập, đổi mới
- Tạo ra bản sắc riêng và tính thống nhất, sự cam kết về mục đích tới cácthành viên
Trang 8- Cải tiến hoặc bóp méo một hệ thống chính thức, ví dụ như hệ thống thôngtin giao tiếp.
- Gây ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi chiến lược và cơ cấu tổ chức
Và chúng ta cũng phải đối mặt với câu hỏi: Văn hoá dân tộc mạnh, yếu ở điểmnào, ảnh hưởng của nó tới VHDN hiện nay ra sao? Không quan tâm tới vấn đềnày, chúng ta sẽ không thành công trong mở cửa và hội nhập vào nền kinh tế thếgiới
Trong quan hệ kinh doanh với đối tác nước ngoài, văn hoá kinh doanh càng trởnên quan trọng cho thành công của doanh nghiệp Ngoại ngữ là cơ sở để tiếp cậnnền văn hoá của các đối tác và cũng là phương tiện giao tiếp hàng đầu đối vớidoanh nghiệp Trình độ ngoại ngữ cần phải đạt được là ngoại ngữ kinh doanh,vượt trên trình độ phổ thông để phân biệt chính xác và tinh tế trong biểu đạt, sựchính xác của hợp đồng Trong các ngôn ngữ khác nhau, có ngôn ngữ đã pháttriển ngôn ngữ kinh doanh và đạt được trình độ chính xác về khoa học, côngnghệ hay thương mại, phải rất thận trọng và tìm cách biểu đạt chuẩn xác nhấttrong hợp đồng
Thái độ và phong cách giao tiếp là cánh cửa trong quan hệ hợp tác với cácđối tác Ngoài trình độ giáo dục cơ bản, sự lịch thiệp và tôn trọng đối tác, cần họchỏi những kiến thức cơ bản về phong tục, tập quán của đối tác Sự đúng giờ, chàohỏi lịch sự, trang phục, thái độ niềm nở, ngôn ngữ cơ thể bao gồm thái độ, sự đilại, cử chỉ là những điều phải chú ý trong quan hệ đối tác ở từng nước với nềnvăn hóa khác nhau Người Nhật thích tặng và nhận quà và hay xin lỗi, người Mỹthích nói thẳng và hay nói chuyện khôi hài, người Trung Quốc thích màu vàng vàmàu đỏ, thích chữ song hỷ, hay chữ phúc, trong khi người Arập thích màu xanh
da trời, rất tôn trọng kinh Koran Tôn giáo và tín ngưỡng có tầm quan trọng khácnhau, tuỳ theo từng nền văn hoá Trong một nền tôn giáo đa văn hoá, cần hết sức
tế nhị và nhạy bén để biết tôn giáo chính và những tôn giáo phụ khác Điều quan
Trang 9trọng là không được mắc bất kỳ sai lầm thô bạo nào, dẫn đến hiểu lầm về tôngiáo trong kinh doanh.
Trong khi phải hiểu biết, tôn trọng và thích nghi văn hoá của đối tác, phảikiên định nền văn hoá dân tộc, những giá trị bền vững của văn hóa dân tộc tronggiao tiếp kinh doanh, kiên trì những yếu tố giá trị kinh doanh của dân tộc mình Nếu doanh nhân tự từ bỏ mọi giá trị văn hoá của nước mình, từ bỏ mọi thói quen
và theo đuổi vô điều kiện tất cả các thói quen của bên đối tác, về lâu dài, doanhnhân đó sẽ tự dẫn mình đến chỗ bế tắc Vì doanh nhân sẽ phải giao tiếp trong mộtmôi trường mình không quen thuộc và ít hiểu biết hơn đối tác Xây dựng nhữngchuẩn mực trong giao tiếp, xác định các điều kiện tối thiểu không thể nhânnhượng trong đàm phán và kinh doanh là điều sống còn với mỗi doanh nghiệp.Không nên đi từ bất cập sang thái quá, từ chỗ không biết tý gì và không tôn trọngcác điều tối thiểu trong văn hoá của đối tác chuyển sang theo đuôi hoàn toàn vìđối tác, tự từ bỏ các giá trị văn hoá của chính mình
3- Những điều kiện chủ yếu nhằm phát huy vai trò của VHDN trong quá trình đổi mới hiện nay
Liệu VHDN có thể thay đổi được và sự thay đổi có thể lập kế hoạch theo nhữngđịnh hướng kết quả đầu ra mong muốn? VNDN có thể thay đổi và phát huy đượcvai trò của nó nếu có các điều kiện sau:
1 Khi DN đứng trước nguy cơ khủng hoảng, trước sự thay đổi to lớn của môi
trường xung quanh, cần tạo ra những thay đổi bước ngoặt, có xuất hiện tưtưởng đổi mới Hiện chúng ta đang ở thời điểm này Ngoài những tác độngquốc tế ra, trong nước tình hình kinh tế cũng đang chuyển mình Nhiềudoanh nghiệp mới ra đời, VHDN truyền thống đang bị thử thách, sàng lọc
của thời gian Lúc này, cần sự định hướng, sự sáng tạo của cá nhân, tổ chức để biến cải cái cũ, tinh tuyển cái mới cho văn hóa dân tộc, VHDN giai đoạn hiện nay.
Trang 102 Lãnh đạo DN đã nhận thức ra sự cần thiết phải thay đổi, xây dựng VHDN
để phù hợp với sự thay đổi của môi trường Đây cũng là điều kiện tiên
quyết cho sự thay đổi của DN Lãnh đạo cần đưa ra những tuyên bố rõ ràng
về sứ mệnh, nhiệm vụ của DN mình, gây được ấn tượng về quan điểm, vềgiá trị mà DN sẽ đề xướng Trong thực tế, đã có không ít DN không thànhcông trong việc này Họ thường ở trong tình trạng không đưa ra nhữngtuyên bố rõ ràng về nhiệm vụ của mình, hoặc có sự không phù hợp giữanhững tuyên bố này với những cách thức thực thi chúng trong DN Nếunhư ở đây cần một lời cảnh báo thì đó là thường hay có khoảng cách đáng
kể giữa những điều tốt đẹp được nói ra trong tuyên bố về nhiệm vụ vóithực tế của hành vi quản lý của DN Tình trạng mập mờ này sẽ khiến nhânviên rơi vào lúng túng hoặc tự phát hành động Tính thống nhất của DN sẽ
bị hạn chế
3 Có các hoạt động tích cực phù hợp với các giá trị mới, các thủ tục mới
- Tuyển chọn nhân viên gắn với định hướng giá trị của tổ chức là điều cầnđược khẳng định Sự tuyển chọn không chỉ là kiến thức và kỹ năng phùhợp với vị trí mà DN cần, mà còn phải có sự phù hợp giữa định hướng giátrị của DN và người thi vào Một người đề cao hiệu quả kinh tế vào làmviệc ở tổ chức NGO sẽ nảy sinh xung đột Do đó, các công việc như: đăngquảng cáo tuyển người của tổ chức trên hệ thống thông tin cần thể hiện rõràng quan điểm, giá trị mà tổ chức yêu cầu vì đây còn là sự lan truyền giátrị Trong quy trình quản lý nhân sự, nếu chú trọng làm tốt khâu tuyển chọnthì các khâu khác đỡ phải xử lý hậu quả
- Các nhà quản lý phải gương mẫu đi đầu Họ chính là biểu tượng để nhânviên noi theo Có một thực tế là các nhân viên thường bắt chước theo sếpcách nói năng và hành động Các chương trình đào tạo và huấn luyện cầnđược cập nhật đề thúc đẩy quá trình đưa cái mới vào công ty Bởi hội nhậpvào nền kinh tế thế giới là bước vào một xã hội học tập Học tập suốt đời
Trang 11để tìm được chỗ đứng trong xã hội Các công ty trên thế giới ngày nay càngnhận ra rằng: Các biện pháp thu hút người tài bằng tăng lương, kỳ nghỉ,nhà ở không còn là biện pháp căn bản Họ đã hướng công tác đào tạo đểnâng cao năng lực cho các thành viên của mình.
- Việc khen thưởng, đề bạt vào các chức danh, các biểu tượng về địa vị vàtiêu chí đề bạt cần nhất quán với các tuyên bố về nhiệm vụ, về giá trị mà
DN hướng tới
- Các lôgô, khẩu hiệu, ngôn ngữ, huyền thoại trong công ty, kiến trúc và mầusắc trang trí cũng ảnh hưởng đáng kể đến hành vi ứng xử của nhân viên,đời sống văn hoá của DN Các DN của chúng ta phần lớn chưa nhận thức
ra ảnh hưởng của các yếu tố trên trong việc tạo ra nét văn hoá riêng, ấntượng riêng của DN trong một thế giới cạnh tranh
4 Có những can thiệp hướng vào các bộ phận của DN, luồng công việc và cơ cấu tổ chức Hoàn thiện cơ cấu tổ chức phù hợp với định hướng giá trị, nhiệm vụ của DN Trong thực tế, có không ít trường hợp người ta đưa ra
những tuyên bố về nhiệm vụ mới của tổ chức nhưng lại không đầu tư thíchđáng cho việc rà soát lại cơ cấu tổ chức Hệ quả xảy ra là mục tiêu sẽkhông đạt được, có sự xung đột giữa “văn hóa được tán thành” và “văn hóatrong thực tế”
5 Khi DN có sự mở rộng, thay đổi nhiệm vụ và định hướng lại các giá trị cơ bản trong tổ chức thì cũng cần xây dựng lại các văn bản quy định của tổ chức Các văn bản quy định này phải rõ ràng, thực tế và khả thi Hơn nữa,
phải lôi kéo được sự tham gia của tất cả các nhân viên ở tất cả các cấp vàoviệc xây dựng văn bản này, khắc phục tính thụ động trông chờ vào cấp trênthường có trong các tổ chức của chúng ta
6 Cuối cùng, một điều kiện không thể thiểu là cần tới một thời gian hợp lý cho sự thay đổi VHDN: từ 5 đến 10 năm Vì cái mới đưa vào một tổ chức,
Trang 12đề trở thành văn hóa phải là cái được các thành viên chấp nhận và chia sẻ.
Do đó, cần tới độ dài thời gian cần thiết, đủ cho sự kiểm nghiệm
Các điền kiện 1 và 5 là cái thuộc về khách quan, còn điều kiện 2, 3, 4 lạithuộc về chủ quan của người quản lý để tạo ra quá trình hoà nhập giữa “vănhoá tán thành” và “văn hóa trong thực tế” của DN
Thực tế cho thấy đã có không ít điển hình thành công và những nhà quản lý giỏi,biết vận dụng các biện pháp hữu hiệu để thay đổi nề nếp, phong cách và lối làmviệc của một tổ chức để mang lại hiệu quả cho một DN trên thương trường
CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ PVFC
TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI
1- Văn hoá PVFC là gì?
Từ một doanh nghiệp mới được thành lập năm 2000 của Tổng Công ty Dầukhí Việt Nam, Công ty Tài Chính Dầu Khí – PVFC đã tăng trưởng và phát triểntrở thành một định chế tài chính có uy tín, một thành viên quan trọng trongPETROVIETNAM Việc phát triển theo các tiêu thức: tôn trọng, dân chủ, tin cậy
và năng lực ngay từ những ngày đầu tiên đến nay đã thúc đẩy những ước mơ khátvọng lớn hơn trong mỗi thành viên và cả tập thể Và mỗi người trong PVFC vẫn