1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá Chương trình Quốc gia, Chu kỳ 8 của UNFPA hỗ trợ Chính phủ Việt Nam (2012-2016)

140 184 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 4,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ viết tắt APRO Văn phòng UNFPA Khu vực Châu Á Thái Bình ASPD Đánh giá về Tình hình Dân số và Phát triển tại CCPD Tài liệu Chương trình Chung MOCST Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch CO

Trang 1

Đánh giá Chương trình Quốc gia, Chu kỳ 8 của UNFPA hỗ trợ Chính phủ Việt Nam

Trang 2

Bản đồ Việt Nam với các tỉnh đang có các can thiệp của UNFPA 11

3 Các chiến lược chương trình và kế hoạch của UNFPA/ các tổ chức liên hợp quốc 32

Trang 3

Phụ lục 1: Điều khoản Tham chiếu 86

Annex 9: Results of survey on UNFPA’s Global Strategy applicability to Việt Nam 129

Phụ lục 10: Cơ sở phân tích các hoạt động của Chương trình Quốc gia 132

Trang 4

Từ viết tắt

APRO Văn phòng UNFPA Khu vực Châu Á Thái Bình

ASPD Đánh giá về Tình hình Dân số và Phát triển tại

CCPD Tài liệu Chương trình Chung MOCST Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

CO Văn phòng UNFPA tại Việt Nam MOHA Bộ Nội vụ

CP8 Chương trình Quốc gia Chu kỳ 8 của UNFPA MOLISA Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

CPE Đánh giá Chương trình Quốc gia MPI Bộ Kế hoạch và Đầu tư

DaO Quy về Một mối (LHQ) NGO Tổ chức phi chính phủ

DPO Khung Dự án Chi tiết NIP Đối tác thực hiện dự án cấp trung ương

DVP Phòng tránh bạo hành gia đình ODA Hỗ trợ Phát triển Chính thức

FP Kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) OP Kế hoạch Một LHQ

GBV Bạo hành giới PCSA Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội

GDP Tổng Sản phẩm Quốc nội PD Dân số và Phát triển

GNI Tổng Thu nhập Quốc gia PPP Sức mua tương đương

GSO Tổng cục thống kê RH Sức khỏe Sinh sản (SKSS)

HDI Chỉ số Phát triển Con người SEDP Chiến lược Phát triển Kinh tế - Xã hội

HIV Vi rút suy giảm miễn dịch ở người SRB Tỷ suất giới khi sinh

HPPMG Hướng dẫn Quản lý Dự án và Chương trình SRH Sức khỏe Sinh sản và Tình dục (SKSS và TD) ICDS Điều tra Nhân khẩu học giữa kỳ TOR Điều khoản Tham chiếu

ICPD Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển UNFPA Quỹ Dân số Liên hợp quốc

MDC Quốc gia phát triển hơn WTO Tổ chức Thương mại Thế giới

MIC Quốc gia có thu nhập trung bình

Trang 5

Danh sách các biểu đồ

Hình 1: Bản đồ Việt Nam và các tỉnh thực hiện dự án của UNFPA 11

Hình 4: Định hướng Chiến lược của Văn phòng UNFPA năm 2012 32

Hình 5: Phương thức UNFPA kêu gọi sự tham gia của các quốc gia theo từng mức độ 33

Hình 6: Tổng quan về Ngân sách và Giải ngân của Văn phòng UNFPA tại Việt Nam, giai đoạn 2012-2015 37

Hình 7: Giải ngân của Văn phòng UNFPA tại Việt Nam trong năm 2014 theo đầu ra 38

Hình 8: Ngân sách của Chương trình Quốc gia theo nội dung chương trình 39

Hình 9: So sánh Ngân sách giữa các nội dung trong Chương trình Quốc gia, giai đoạn 2012-2015 39

Hình 10: Chuỗi kết quả của Chương trình Quốc gia của Văn phòng UNFPA tại Việt Nam 41

Hình 12: Các liên kết giữa Kết luận và Khuyến nghị 85

Danh sách các bảng Bảng 1: Giải thích về các Tiêu chí đánh giá 17

Bảng 2: Sự tiến bộ của Việt nam hướng tới Mục tiêu Phát triển Thiên Niên Kỷ 25

Bảng 3: Kết quả mong đợi từ Chương trình Quốc gia của UNFPA 34

Bảng 4: Các cấu phần của Chương trình Quốc gia 36

Bảng 5: Thành tựu của Chương trình Chung xét theo các chỉ số (Văn phòng đại diện UNFPA tự đánh giá) 53

Trang 6

Lời cảm ơn

Nhóm đánh giá xin cảm ơn cán bộ và nhân viên Văn phòng UNFPA tại Việt Nam và văn phòng UNFPA trụ

sở chính đã hỗ trợ thực hiện đánh giá này Cảm ơn Ông Nguyễn Xuân Hồng, Cán bộ Chương trình, Văn phòng UNFPA tại Việt Nam (Quản lý dựa vào kết quả, Giám sát, phối hợp) đã phối hợp và giám sát tổng thể cuộc đánh giá này, và Bà Ritsu Nacken, quyền Trưởng Đại diện lâm thời, văn phòng UNFPA, đã có những hướng dẫn và hỗ trợ chiến lược Valeria Carou-Jones, Chuyên gia Đánh giá, Văn phòng Đánh giá của UNFPA và Franciscus Noij, Chuyên gia về Giám sát và Đánh giá của văn phòng UNFPA Khu vực Châu

Á Thái Bình Dương về những đóng góp kỹ thuật Cảm ơn chị Nguyễn Thúy Nga, Trợ lý Chương trình, với những hỗ trợ về hậu cần tuyệt vời Cảm ơn các nhóm chương trình của văn phòng UNFPA thực sự tham gia và hỗ trợ cuộc đánh giá thông qua các cuộc tham vấn cá nhân, cung cấp tài liệu tham khảo và góp ý vào bản báo cáo sơ thảo

Cảm ơn các đại diện mà Nhóm đánh giá gặp gỡ tại cấp trung ương và cấp tỉnh đều rất sẵn lòng dành thời gian và chia sẻ các ý kiến cụ thể Đặc biệt là đại diện của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tham gia trong quá trình đánh giá và đã có những hỗ trợ quý báu Cảm ơn các bên đối tác khác của UNFPA từ các tổ chức Liên hợp quốc, nhà tài trợ, đối tác hoặc từ các khu vực khác đều đã dành thời gian và chia sẻ ý kiến trong suốt quá trình đánh giá

Ngoài ra, nhóm đánh giá xin chân thành cảm ơn Nhóm Tư vấn Đánh giá đã đóng góp vào khung báo cáo

và các bản thảo của báo cáo đánh giá này

Bản báo cáo này được chị Hoàng Bích Thủy dịch sang tiếng Việt

Jo Kaybryn, Bs Phan Bích Thủy, Nguyễn Thị Hương Thảo, Bùi Thị Thu Hương, Enrique Wedgwood Young

và Laura McCal

Trang 7

Tóm tắt chính

Bối cảnh

Báo cáo này trình bày các kết quả của cuộc đánh giá Chương trình Quốc gia chu kỳ 8 của UNFPA tại Việt Nam trong giai đoạn 2012-2016 Chương trình Quốc gia có ba cấu phần: Dân số và Phát triển; Bình đẳng Giới và Sức khỏe Sinh sản và Tình dục

Mục tiêu và phạm vi đánh giá

Mục đích tổng thể của cuộc Đánh giá Chương trình Quốc gia (CPE) nhằm đánh giá trách nhiệm của UNFPA và cụ thể là của văn phòng UNFPA tại Việt Nam về tính phù hợp và quá trình thực hiện Chương trình Quốc gia chu kỳ 8 (CP8) trong thực tế và bối cảnh phát triển kinh tế-xã hội đang thay đổi nhanh chóng của Việt Nam, trong khuôn khổ định hướng của Kế hoạch Chiến lược mới của UNFPA (cho thời gian sắp tới); và cung cấp bằng chứng để thiết kế chương trình mới tại Việt Nam

Mục tiêu cụ thể của cuộc đánh giá này nhằm có được một đánh giá độc lập về tính phù hợp và tình hình thực hiện hoạt động của chu kỳ 8 với các đầu ra và kết quả theo kế hoạch đồng thời là một phần thực hiện Kế hoạch tổng thể Một LHQ; đánh giá vị thế của Văn phòng UNFPA tại Việt Nam trong cộng đồng phát triển và các đối tác trong nước về khả năng đáp ứng các nhu cầu trong nước đồng thời đóng góp quý báu vào mục đích và quy trình phát triển của cả nước; rút ra bài học kinh nghiệm từ các dự án đang được thực hiện và dự án đã kết thúc và đưa ra các đề xuất hành động và chiến lược để thiết kế và thực hiện chu kỳ tiếp theo

Cuộc đánh giá nhắm tới tất cả các hoạt động đã lên kế hoạch và/hoặc được thực hiện ở tất cả các cấu phần, lĩnh vực mà UNFPA hỗ trợ trong giai đoạn được đánh giá (tháng 6/2012 – tháng 10/2015) bao gồm tất cả các hoạt động dự án viện trợ và các dự án chung (phối hợp giữa UNFPA và các cơ quan LHQ khác)

Phương pháp

Cuộc đánh giá được cấu trúc dựa trên nền tảng của bốn trong số năm chuẩn mực đánh giá của Hội đồng

Hỗ trợ Phát triển của Tổ chức Hỗ trợ Phát triển và Hợp tác Kinh tế (OECD DAC): Phù hợp, Hiệu quả, Hiệu suất và Bền vững Ngoài ra cuộc đánh giá cũng nhắm tới thêm hai tiêu chí về Phối hợp giữa các cơ quan LHQ và Giá trị Gia tăng

Quá trình thu thập dữ liệu bao gồm: rà soát các tài liệu, chính sách và chương trình của các can thiệp/dự

án chính; phỏng vấn bán cấu trúc với các bên có liên quan bao gồm các đối tác thực hiện dự án; thảo luận nhóm tại cộng đồng; và đánh giá nhanh các cán bộ, nhân viên của UNFPA về các giả định và rủi ro chiến lược Quá trình thu thập dữ liệu được diễn ra tại Hà Nội và cả ở tuyến xã, tuyến huyện và tuyến tỉnh tại hai tỉnh Quảng Bình và Bến Tre Phương pháp kiểm tra chéo được thực hiện trong suốt quá trình đánh giá để kiểm tra và làm rõ các nguồn thông tin

Trong quá trình đánh giá, đoàn đánh giá cũng đã gặp phải các trở ngại bao gồm phương pháp và bối cảnh Các thách thức gồm: dữ liệu về quá trình thực hiện dự án và theo dõi, giám sát không được lưu tại một nơi và cũng không được thu thập liên tục, tiến trình hoạt động của các hoạt động cũng không được thu thập một cách hệ thống cho dù cũng không được tài liệu hóa theo mẫu báo cáo của dự án Sự khác biệt trong thiết kế và thực hiện chương trình tại Việt Nam cũng khác so với tại các quốc gia khác bởi vì

Trang 8

bối cảnh sáng kiến Quy về một mối của các cơ quan LHQ, thời gian để phân tích và viết báo cáo cũng ngắn hơn so với các cuộc đánh giá trước đó của UNFPA nhằm có kịp các kết quả để đóng góp vào quá trình lập kế hoạch đang được tiến hành ở cấp quốc gia

Kết quả

Nhìn chung, văn phòng UNFPA tại Việt Nam rằng họ tạo ra được cơ sở dữ liệu toàn quốc và tiến hành các nghiên cứu để xây dựng nên các ưu tiên của Chương trình Quốc gia Chương trình Quốc gia được chứng minh là đúng hướng với nhiều kế hoạch khung trong hệ thống UNFPA, cam kết quốc tế, các tổ chức LHQ tại Việt Nam và ở cấp trung ương, và là một thành viên chủ động trong xây dựng nội dung về SKSS và tình dục, dân số và các vấn đề về bạo hành giới Các chủ đề của chương trình đều đúng hướng với nhu cầu của nhân dân Cách thức làm việc (trong bối cảnh thực hiện các can thiệp) được tập trung làm việc với các cơ quan chính phủ như là các đối tác chính thực hiện dự án Đây là một chiến lược hợp

lý trong việc củng cố các cơ chế chính (như quản trị) để đáp ứng các vấn đề phù hợp với UNFPA, mặc dù vẫn có nguy cơ là sự độc lập (hoặc sự độc lập cảm nhận được) của UNFPA lại có thể biến mất Điều quant rọng đối với UNFPA là vừa duy trì các mối quan hệ với các đối tác phía chính phủ và vừa phải mở rộng thêm mối quan hệ với nhiều đối tác khác, đặc biệt là các tổ chức phi chính phủ để nâng cao năng lực cho họ và mối quan hệ của họ với chính phủ

Văn phòng UNFPA tại Việt Nam luôn tập trung vào các nội dung nằm trong lợi thế so sánh của tổ chức (SKSS và TD, Dân số và Bạo hành giới) nhưng trong các nội dung này thì cũng giải quyết nhiều nội dung

và đạt được nhiều kết quả ấn tượng Thách thức chính khi đánh giá phạm vi hiệu quả của Chương trình Quốc gia là phạm vi công việc đã hoàn thành và được lưu ở nhiều nơi (tài liệu) và thông tin lại xuyên suốt trong tất cả các tài liệu này Có một số vấn đề về cấu trúc trong cả thiết kế chương trình, các cấu phần và hệ thống Giám sát & Đánh giá Thiết kế của chương trình rốt cuộc cũng thể hiện bằng các dự án được thực hiện, trong đó có phần giám sát và báo cáo Tuy nhiên, giám sát chỉ dừng ở đầu ra nói chung nên bỏ lỡ cơ hội đo được tính hiệu quả của can thiệp khi được thực hiện và/hoặc tiến triển, và nói chung

có một khoảng hổng trong tài liệu hóa một cách hệ thống các hoạt động của chương trình nằm ngoài định dạng của dự án Nhìn tổng thể, khó lần theo và xác định “câu chuyện thành công” của chương trình, cho dù chương trình quốc gia đạt được kết quả đáng kể trong suốt thời gian của chu kỳ này

Ở các địa phương có sẵn và đầy đủ số liệu về dân số và phát triển thì nơi đó số liệu được dùng một cách hiệu quả để xây dựng chính sách và chiến lược, như vậy có thể nói rằng Văn phòng UNFPA tại Việt Nam

đã có khởi đầu hiệu quả trong việc thay đổi cách ghi nhận và sử dụng số liệu của các nhà hoạch định chính sách Thu tạo và phân tích số liệu là một nội dung công việc của UNFPA được ghi nhận và đánh giá cao trên toàn cầu Tuy nhiên, việc các bên có liên quan trừ Tổng cục thống kê sử dụng số liệu chưa hệ thống đặc biệt là các nhà hoạch định chính sách: phản ánh bản chất lâu dài khi kết hợp thay đổi này trong xây dựng chính sách

Các sáng kiến chính sách SKSS và TD chứng minh tính hiệu quả trong thực hiện cách tiếp cận lồng ghép

và đa chiều, trong đó UNFPA chú trọng nhiều vào nội dung SKSS và TD, vị thành niên, KHHHGĐ và HIV, và duy trì mối quan hệ hợp tác với các bên đối tác phía chính phủ Điều này đã đặt UNFPA ở một vị trí chiến lược và đóng góp vào việc tiếp tục xây dựng và sửa đổi chính sách và môi trường chính sách

Sự hỗ trợ đáng kể của các bên có liên quan để ứng phó với bạo hành giới, cụ thể là bạo hành gia đình, bình đẳng giới, và mất cân bằng giới khi sinh (cũng là một vấn đề của Dân số và Phát triển) Các ứng phó

đó được thể hiện trong các cam kết của quốc gia UNFPA cũng thể hiện khả năng chuyên môn trong việc giải quyết các vấn đề phức tạp

Trang 9

Hiệu suất được UNFPA được đánh giá bằng chính tỷ lệ giải ngân, bên cạnh việc đo xem các lựa chọn phù hợp nhất so với quyết định chi tiêu như thế nào, hiệu suất còn được đo lường qua việc UNFPA tác động

để huy động từ các nguồn lực khác Có các tài liệu minh chứng các hỗ trợ khác mà Văn phòng UNFPA tại Việt Nam huy động được và cùng với các đối tác phía chính phủ huy động nguồn lực của chính phủ đối với các dự án Nếu nhìn vào hệ thống nội tại của UNFPA, các đối tác chia sẻ là có vấn đề về tính toán thời gian, và nhận xét chung về phần việc của UNFPA (và các cơ quan LHQ khác) là đã cố gắng hết mức

để phù hợp ở cấp độ quốc gia nhưng cũng chỉ đạt được ở mức tới hạn do cơ cấu thể chế của mỗi cơ quan LHQ

UNFPA đã đầu tư xây dựng các mối quan hệ đối tác hiệu quả với các đối tác phía chính phủ và đem lại kết quả là một loạt các thay đổi về chính sách và xây dựng năng lực thể chế có thể đem lại tác động lâu dài Tuy nhiên, vấn đề về tính bền vững có vẻ không đưa làm trọng tâm trong quá trình thiết kế Chương trình Quốc gia, là quá trình tồn tại lâu dài trong các chu kỳ trước ở Việt Nam với phương thức hoạt động tương tự nhau

Lợi thế so sánh của UNFPA chính là sự hỗ trợ kỹ thuật, khả năng chuyên môn về các lĩnh vực chuyên đề trọng tâm cụ thể là về số liệu, và sự sẵn sàng và khả năng giải quyết các vấn đề phức tạp và nhạy cảm

Sự điều phối nói chung khá hiệu quả bao gồm cả điều phối ở các cấp độ cao nhờ kết quả của cách tiếp cận chung trong Kế hoạch Một LHQ và chia sẻ thời gian của nhân viên (theo nội dung trọng tâm) theo thỏa thận giữa các đối tác LHQ Tuy nhiên có vẻ chưa thật sự có được sự hài hòa do các hạn chế của sự khác biệt hệ thống giữa các cơ quan LHQ

Bài học kinh nghiệm

Văn phòng UNFPA tại Việt Nam xác định được các khối phức tạp ngày càng lớn dần trong thực hiện và xây dựng chính sách và tạo ảnh hưởng tới xây dựng chính sách ở Việt Nam nhờ kết hợp nhiều chiến lược Thách thức trong việc thu hẹp khoảng cách giữa chính sách và thực hiện chưa được hoàn thành một cách tổng thể, văn phòng UNFPA tại Việt Nam đã xây dựng được mối quan hệ hợp tác hiệu quả với các nhà hoạch định chính sách Đây chính là những người tạo ra được một môi trường thuận lợi để xây dựng và/hoặc chỉnh sửa chính sách

Các mong đợi về huy động nguồn lực cũng chưa đạt được kết quả như mong đợi trong chu kỳ này và chưa đáp ứng các mong đợi của các bên đối tác có liên quan Kế hoạch tham vọng của Chương trình Quốc gia Chu kỳ 8 mang lại kết quả chưa hoàn chỉnh thay vì một khung kết quả hoặc các tình huống trường hợp khác có thể điều chỉnh Chương trình Quốc gia chu kỳ tiếp theo có cơ hội để thiết kế chiến lược tổng thể và các cấu phần trong chương trình nhằm tạo ra các hoạt động có tính nối tiếp lần lượt và

bổ sung cho nhau

Một số khuyến nghị từ cuộc Đánh giá Giữa kỳ trước đó vẫn còn có ý nghĩa và cần cập nhật thêm một số

đề xuất để đáp ứng với bối cảnh đang đổi thay: Xem lại và nâng cao kỹ năng cho đội ngũ cán bộ nhân viên của Văn phòng UNFPA tại Việt Nam vẫn còn có ích và quá trình đó có thể được bổ sung nhờ xem lại hoặc xác định vai trò và các kỹ năng cụ thể để có thể thực hiện lồng ghép các nội dung của cơ quan Bên cạnh việc giảm bớt mối quan hệ đối tác “kiểu truyền thống” (tức là dự án cấp kinh phí), Văn phòng UNFPA tại Việt Nam nên cân nhắc việc xác định lại các loại hình đối tác và khái niệm mới có thể làm tăng vai trò có liên quan Tận dụng cơ hội học hỏi từ các mô hình trong chu kỳ 8 vẫn luôn hữu ích kèm theo cách tiếp cận mang tính phân tích để hiểu rõ được các quy trình (chứ không chỉ là các kết quả và tác động) Điều này sẽ giúp xây dựng các chiến lược để thu hẹp khoảng cách giữa chính sách và thực hiện

Trang 10

Với bối cảnh ngày càng thay đổi về tính sẵn có của các nguồn lực, điều quan trọng hơn bao giờ hết là một cách chiến lược phối hợp và chuyển đổi có tham gia của các cơ quan LHQ khác và các bên vận động chính sách chứ không phải là các phương thức cạnh tranh lẫn nhau giữa các bên

Kết luận chính

UNFPA đã tạo lập và thúc đẩy mối quan hệ hợp tác mạnh mẽ với Chính phủ và một số các bên có liên quan quan trọng và chiến lược; và tạo được vị thế tiếp tục mở rộng mối quan hệ đối tác Điều có vẻ quan trọng là UNFPA khuyến khích các bên có liên quan tham gia nhiều hơn một phần bởi vì sự cam kết trên toàn cầu và hợp tác với các tổ chức xã hội, nhưng cũng bởi vì cơ hội ở Việt Nam về các cách tiếp cận sáng tạo hơn để đáp ứng các nhu cầu của người dân Bằng cách này, UNFPA sẽ có vai trò trong việc kết nối mối hợp tác giữa chính phủ và các bên cung cấp dịch vụ (tiềm năng)

Cần phải tận dụng các cơ hội học tập trong chu kỳ này để xây dựng cho chu kỳ tiếp theo, đặc biệt liên quan đến việc phân tích và hiểu rõ các khoảng hổng giữa chính sách và thực hiện Cho dù thế nào thì cách tiếp cận của dự án vẫn tiếp tục được đưa vào chu kỳ tiếp theo, khi đó quan trọng là tận dụng các kinh nghiệm hiện có Một số dự án nâng cao năng lực đã giúp cho việc học hỏi và nâng cao kỹ năng thành công hơn các dự án còn lại; một số mô hình được nhân rộng và một số khác thì lại không Điều quan trọng đối với văn phòng UNFPA tại Việt Nam là cùng với các đối tác phân tích các lý do thành công cũng như nguyên nhân của các thách thức Các phân tích như vậy sẽ rất có giá trị với UNFPA và các bên đối tác LHQ có liên quan đang thực hiện cách tiếp cận tương tự

Nâng cao năng lực là một sự đầu tư của UNFPA, cần phải chiến lược hơn với các kết quả mong muốn, bao gồm phối hợp với các bên khác cũng có các hỗ trợ về nâng cao năng lực Cách tiếp cận của UNFPA thông qua Một Kế hoạch đã tránh được trùng lặp với các cơ quan LHQ khác, nhưng cũng chính là Một LHQ thì cũng có nhiều cơ hội để áp dụng cách tiếp cận hợp tác hơn với sự chuyển giao các kỹ năng và kết quả để có được nâng cao năng lực toàn diện hơn

Chiến lược giám sát và đánh giá cần được cập nhật để có được nhiều hoạt động khác nhau liên quan đến vận động chính sách và tạo ảnh hưởng Với hệ thống giám sát hiện tại có vẻ khó khăn trong việc giám sát các hoạt động ngoài khuôn khổ của dự án, bởi vì các hoạt động đó thường không nằm hẳn trong các dự án mà còn bởi vì các hoạt động đó hay lặp lại hơn (ví dụ như các đối thoại hoặc các đối tác đang tiếp tục) hoặc có vấn đề thách thức với giám sát mang tính xây dựng bởi vì tác động lan tỏa của chúng tỏa ví dụ như các chiến dịch truyền thông Đây chính là các khoảng hổng trong việc tài liệu hóa các câu truyện thành công, tiến độ và bước tiếp theo của các chiến lược không thuộc dự án một cách rõ ràng

UNFPA đã định vị được về chuyên môn ở một số lĩnh vực, thể hiện sự đóng góp đối với Việt Nam, ví dụ như thu tạo và sử dụng bằng chứng và số liệu để xây dựng chính sách, và trong việc giải quyết vấn đề nhạy cảm và phức tạp như giới tính khi sinh UNFPA cũng đang tiếp tục với một số các nội dung trọng tâm và phù hợp khác ví dụ như các nhu cầu của dân tộc thiểu số Trong bối cảnh của Việt Nam đang trên

đà đạt được các Mục tiêu Thiên niên kỷ, số liệu tổng hợp và các thành tựu không làm rõ được sự bất cân bằng giữa đại đa số nhân dân với các nhóm dân số dễ bị tổn thương, chưa được quan tâm và dân tộc thiểu số Điều này thể hiện tầm quan trọng của việc cần thu thập bằng chứng và có được số liệu cụ thể hơn để xác định các nhu cầu cụ thể của các nhóm bị đẩy ra lề xã hội mà chính trong mỗi nhóm, họ cũng không đồng nhất

Trang 11

UNFPA cũng ghi lại tất cả các phương thức thực hiện cần thiết cho chương trình chu kỳ sau và cần tiếp tục nâng cao kỹ năng và kinh nghiệm trong các nội dung này để duy trì khả năng đóng góp hiệu quả trong bối cảnh của Việt Nam

Đề xuất chính

• Văn phòng UNFPA tại Việt Nam cần lập kế hoạch và phối hợp với các đối tác có liên quan để

giải quyết khoảng cách giữa chính sách và thực hiện: các thách thức ở nhiều nội dung đa chiều bao gồm: các vấn đề về hệ thống theo ngành dọc và theo ngành ngang, thiếu hụt năng lực và

nguồn lực; các nút thắt; và khoảng cách đáng kể trong cơ sở hạ tầng liên quan tới cung cấp dịch

vụ đòi hỏi phải có sự đầu tư lâu dài của các khu vực khác nhau UNFPA cần rà soát lại kế hoạch chiến lược và hoạt động cùng với các đối tác LHQ khác để xem xét phương pháp tiếp cận ‘toàn ngành’ cần thiết để giải quyết khoảng cách giữa chính sách và thực hiện bao gồm làm việc với

cơ quan Chính phủ, các đối tác LHQ, các nhà tài trợ và tất cả các đối tác phát triển

• Đảm bảo làm rõ cách tiếp cận và mục đích của chương trình chu kỳ tiếp theo: Văn phòng

UNFPA tại Việt Nam cần xem lại và xác định rõ phương thức hoạt động được các đối tác mong đợi trong chương trình chu kỳ tới có ý nghĩa như thế nào trong thực tiễn bối cảnh của Việt

Nam Điều này ghi nhận một cách rõ ràng rằng chiến lược toàn cầu của UNFPA cần được bổ

sung chỉnh sửa theo bối cảnh của quốc gia sở tại, các khái niệm, hoạt động, giả định và nguy cơ đều cần được cân nhắc và suy nghĩ thấu đáo dựa trên các hoàn cảnh thực tiễn

• Xem lại cách tiếp cận về giám sát: UNFPA cần đầu tư để xem lại cách tiếp cận để hoàn thành

các kết quả khi các hoạt động không còn tiếp cận theo cách dựa vào các dự án Đồng thời, cân nhắc lại cách tiếp cận giám sát trong bối cảnh Việt Nam và thực tế UNFPA chú trọng hơn vào

đối thoại chính sách, và điều đó có ý nghĩa như thế nào đối với việc đo lường các chỉ số và kết quả thay vì đo lường đầu ra

• Duy trì và tiếp tục các mảng nội dung kỹ thuật trọng tâm, quan trọng và phù hợp: UNFPA nên

tiếp tục trên nền tảng thế mạnh kỹ thuật sẵn có liên quan đến giải quyết các nội dung nhạy cảm

và phức tạp mà các tổ chức và cơ quan khác chưa có đủ năng lực để thực hiện như mất cân

bằng giới tính khi sinh, SKSS và TD cho vị thành niên UNFPA cũng có thể phát triển trên nền

tảng các thế mạnh so sánh như số liệu biến động dân số

• Mở rộng tầm ảnh hưởng và xây dựng chiến lược hoặc hợp tác đối tác: UNFPA có vị thế vững

vàng trong việc hài hòa mục tiêu của tổ chức với nhu cầu phát triển của quốc gia, và vì thế

mang lại quan điểm nhiều chiều về các nhu cầu mới nổi/hoặc chưa được khai thác (đặc biệt ở các vùng có sự khác biệt) để tạo ảnh hưởng về chính sách Từ đó việc xác định nhu cầu và các

đối tác cũng cần được đa dạng và mở rộng, và cùng kết hợp với nhóm các đối tác lớn hơn để có được các đóng góp theo từng mục tiêu chủ đề

• Xây dựng tầm nhìn lâu dài và đánh giá để lập kế hoạch trung hạn: UNFPA nên cân nhắc lập kế

hoạch chiến lược với tầm nhìn lâu dài hơn phù hợp với con đường phát triển của Việt Nam,

nhằm xây dựng các bước trung hạn ưu tiên cho chu kỳ tới Nếu tưởng tượng một tương lại dài

lâu hơn khi không còn cần có UNFPA, khi đó có thể bắt đầu xác định được hiện tại UNFPA có

thể đầu tư gì vào thể chế, tổ chức và chức năng để có được năng lực bền vững lâu dài cho

tương lai

Trang 12

Bản đồ Việt Nam với các tỉnh đang có các can thiệp của UNFPA

Hình 1: Bản đồ Việt Nam và các tỉnh thực hiện dự án của UNFPA

Trang 13

Việt Nam: Các thông tin và số liệu chính

Địa lý và Nhân khẩu học

phía Tây và biển Đông ở phía Đông

Chính trị và Chính phủ

• 1976: Thống nhất hai miền Nam Bắc Việt Nam Tuyên bố nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

• 1986: Nguyễn Văn Linh trở thành Tổng bí thư và tiến hành cải cách kinh tế

• 2007: Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO

• 2010: Việt Nam đạt thành tựu trong Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ

Kinh tế

Tổng Thu nhập Quốc gia tính theo đầu

Tỷ lệ tăng trưởng Tổng sản phẩm Quốc

thép, xi măng, phân hóa học, kính, lốp cao su, dầu mỏ và điện thoại

di động [7]

Chỉ số Xã hội

Trang 14

Tuổi thọ khi sinh: 76 (2013) [10]

3: Cải thiện bình đẳng giới và tăng quyền

năng cho người phụ nữ Bình đẳng giữa bé gái và bé trai trong giáo dục tiểu học Tỷ lệ nữ cao trong khối lao động được trả lương ở khu vực phi

nông nghiệp Đại diện nữ trong quốc hội khá cao 4: Giảm tử vong trẻ Tỷ lệ tử vong trẻ thấp

5: Nâng cao sức khỏe bà mẹ Tỷ lệ tử vong mẹ thấp

Tiếp cận dễ dàng tới SKSS 6: Phòng chống HIV/AIDS, Sốt rét và các

bệnh tật khác Tỷ lệ nhiễm HIV thấp (0.03%) Tỷ lệ tử vong trung bình

7: Đảm bảo bền vững về môi trường Mật độ rừng bao phủ cao

Tỷ lệ dân sử dụng nguồn nước sạch tăng cao (97,6%)

Tỷ lệ dân sử dụng nhà/thiết bị vệ sinh được cải thiện (78%)

Tỷ lệ người sống trong khu ổ chuột ở mức trung bình (27,2%) 8: Xây dựng Đối tác toàn cầu để phát triển Tỷ lệ sử dụng internet cao (48,3 người sử dụng trên 100 dân)

Trang 15

1 Giới thiệu

1.1 Mục đích và mục tiêu của cuộc Đánh giá Chương trình Quốc gia

Theo chính sách đánh giá của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNPFA) (2003), các chương trình quốc gia phải được đánh giá ít nhất một lần trong mỗi hai chu kỳ.[21] Trong bối cảnh của Delivering as One (Quy về một mối (DaO)1, theo quy trình đánh giá của chương trình quốc gia, UNPFA không thực hiện đánh giá cho đến chu kỳ thứ bảy (2006-2011),[22] và UNPFA tiến hành đánh giá chương trình hỗ trợ trong chu kỳ thứ 8, vào năm 2015 Đánh giá Giữa kỳ cũng đã được tiến hành cho chu kỳ 7 [23] và chu kỳ 8 [24] Văn phòng UNFPA tại Việt Nam đang thực hiện chương trình quốc gia thứ 8 (CP8) trong vòng năm năm (2012- 2016) Cuộc đánh giá này được thực hiện vào thời điểm cuối của chu kỳ Mục đích của cuộc đánh giá nhằm:

• Tìm hiểu trách nhiệm của UNFPA và Văn phòng UNFPA tại Việt Nam trong quá trình thực hiện Chương trình Quốc gia chu kỳ 8 (CP8) trong môi trường kinh tế-xã hội đang biến đổi không

ngừng và thực tiễn của Việt Nam, trong khuôn khổ kế hoạch chiến lược sắp công bố của

UNPFA; và

• Tìm kiếm các bằng chứng cho việc thiết kế một chương trình quốc gia mới tại Việt Nam

Độc giả chính và người sử dụng báo cáo đánh giá này là những người ra quyết định ở UNFPA, Văn phòng tại Việt Nam, Văn phòng UNFPA Khu vực Châu Á Thái Bình dương, các văn phòng tại các quốc gia khác, các phòng ban tại văn phòng UNFPA trụ sở chính, Ban Điều hành, các đối tác phía chính phủ, các đối tác thực hiện dự án tại cấp trung ương, các tổ chức xã hội dân sự, cũng như các đối tác phát triển khác (như các tổ chức LHQ và các nhà tài trợ) tại Việt Nam

Mục tiêu cần đạt được của việc đánh giá chương trình quốc gia (CTQG) là:

• Cung cấp một đánh giá độc lập của sự phù hợp và tình hình thực hiện CTQG chu kỳ 8 so với đầu

ra và kết quả đã đặt ra như một phần của việc thực hiện bản Một Kế hoạch tổng thể;

• Đánh giá vị thế của Văn phòng UNFPA tại Việt Nam trong cộng đồng phát triển và các đối tác

trong nước về khả năng đáp ứng các nhu cầu trong nước đồng thời đóng góp giá trị vào mục

đích và quy trình phát triển của cả nước;

• Rút ra bài học kinh nghiệm từ các dự án hiện tại và dự án đã kết thúc và đưa ra các đề xuất

hành động và chiến lược để thiết kế và thực hiện chu kỳ tiếp theo [23]

1 Việt Nam là một quốc gia mà Liên Hợp Quốc đang cố gắng Quy về một mối Điều đó có nghĩa là Hệ thống Liên Hợp Quốc nên “Quy về Một mối” trên phạm vi quốc gia, với một lãnh đạo, một chương trình, một ngân sách và, nếu phù hợp, một văn phòng duy nhất được Tổng Thư ký

đề nghị vào tháng 11 năm 2006 trong hôi nghị cấp cao về Hệ thống Liên hợp Quốc Mở rộng trong các lĩnh vực Phát triển, Hỗ trợ Nhân đạo và Môi trường, tiếp sau Văn bản kết quả của Cuộc họp Thế giới Cấp cao năm 2005 (Nghị quyết Đại hội đồng A/60/1) trong đó các Quốc gia Thành viên đề xuất thực hiện các cải cách hoạt động phát triển nhằm tới sự hiện diện của các Văn phòng Liêp Hợp Quốc tại mỗi quốc gia một cách hiệu quả hơn, hiệu suất cao hơn, gắn kết hơn, phối hợp tốt hơn và thực hiện hoạt động tốt hơn

Trang 16

Mặc dù không phải là một mục tiêu rõ ràng được xây dựng vào thời điểm thiết kế đánh giá (có nghĩa là: không có trong điều khoản tham chiếu), một vấn đề quan trọng nảy sinh trong khi đánh giá có liên quan đến hiểu và lột tả khoảng hổng giữa chính sách và thực thi chính sách Điều này được nhắc đi nhắc lại trong các cuộc gặp với văn phòng UNFPA và các đối tác có liên quan và trở thành một chủ đề đáng ghi chú trong hoàn cảnh thực hiện các dự án của UNFPA tại Việt Nam Điều này không chỉ được nêu bởi các

cơ quan chính phủ, phi chính phủ, các đối tác phát triển kể cả các cơ quan LHQ Do vậy, nội dung này được khai triển trong các kết quả đánh giá và trong phần khuyến nghị cũng nêu cụ thể về vấn đề này

1.2 Phạm vi đánh giá

Cuộc đánh giá này xem xét tất cả các hoạt động được lên kế hoạch và/hoặc được tiến hành ở tất cả các quốc gia mà UNPFA hỗ trợ trong thời gian cần được đánh giá (6/2012 – 10/2015) bao gồm các hoạt động viện trợ và các chương trình hợp tác giữa UNPFA và các cơ quan LHQ khác Chương trình hỗ trợ của Văn phòng UNFPA tại Việt Nam thực hiện trong ba cấu phần sau:

• Sức khỏe tình dục và sinh sản

• Bình đẳng giới

• Dân số và phát triển

Các hoạt động được lên kế hoạch và được thực hiện đều có trong bản kế hoạch hoạt động của 11 dự án

và hai dự án chung với UNICEF.2 Bên cạnh các đánh giá tác động như đã dự tính trước của chương trình quốc gia, cuộc đánh giá này cũng nhằm xác định các tác động không được dự tính trước Với phạm vi địa

lý của đánh giá, cuộc đánh giá chỉ tìm hiểu các hỗ trợ của UNFPA tại cấp trung ương và các tuyến dưới Cuộc đánh giá cũng tìm hiểu các can thiệp được cấp kinh phí từ dự án và các nguồn khác

1.3 Phương pháp và quá trình đánh giá

Phương pháp đánh giá dựa trên các hướng dẫn trong cuốn Sổ tay Đánh giá Chương trình Quốc gia của UNFPA gồm các công cụ, tài liệu tham khảo và các mẫu để sử dụng trong suốt quá trình đánh giá [26] Quá trình đánh giá bắt đầu từ tháng 7/2015 đến tháng 1/2016 qua năm giai đoạn như sau:

tích dữ liệu Viết báo cáo Điều chỉnh nội dung, chia sẻ báo

cáo và theo dõi tiếp theo

2 Sáu dự án đều là mới của UNFPA (Bộ Lao động và Thương binh Xã hội (MOLISA), Bộ Văn hóa thể thao và du lịch (MOCST), Bộ Nội vụ (MOHA),

Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội, tỉnh Hải Dương và Quảng Bình) Bốn dự án chung với các các cơ quan LHQ khác (Tỉnh Ninh Thuận và Kon Tum cùng với UNICEF; Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội cùng với Phụ nữ Liên Hợp Quốc; và Tổng Cục Thống kê cùng với

UNHABITAT)

Trang 17

Giai đoạn 1: Chuẩn bị

Trước khi có sự tham gia của Nhóm Đánh giá độc lập, UNFPA tiến hành giai đoạn đầu tiên - Chuẩn bị Đối với các cuộc đánh giá chương trình quốc gia, thông thường trong Giai đoạn Chuẩn bị thường có chuyến đi đánh giá nhanh của Nhóm Đánh giá nhưng trong phạm vi cuộc đánh giá này thì không thực hiện do hạn chế về thời gian và tài chính

Giai đoạn 2: Thiết kế

Trong Giai đoạn Thiết kế (7 tháng 8 đến 4/9/2015), Nhóm Đánh giá xin ý kiến của các cán bộ chủ chốt của UNFPA, bao gồm Quản lý Đánh giá và Đại diện trưởng, và tham dự một buổi định hướng của Quản lý Đánh giá Cũng trong thời gian này, các thành viên của nhóm đánh giá cũng gặp gỡ với các cán bộ chương trình Tiếp theo đó, Quản lý Đánh giá cũng giới thiệu sơ lược về hệ thống theo dõi, giám sát quản lý trên mạng cho hai thành viên của nhóm đánh giá Trong Giai đoạn Thiết kế, nhóm đánh giá cũng tiến hành rà soát các văn bản, tài liệu (tài liệu chương trình và bối cảnh), áp dụng các công cụ bảng biểu theo cấu trúc, công cụ thu thập và phân tích dữ liệu theo cấu trúc đã thiết kế trước

Giai đoạn 3: Thu thập và phân tích dữ liệu

Giai đoạn 3 bao gồm hai phần chính gồm từ ngày 12 tháng 10 đến ngày 6 tháng 11 năm 2015 Nhóm Đánh giá tiến hành rà soát lại các văn bản, tài liệu cho UNFPA cũng cấp và các tài liệu đã tìm hiểu được trong giai đoạn thiết kế Phần hai gồm thu thập dữ liệu tại các điểm nghiên cứu ở Việt Nam Trước tiên, Nhóm Đánh giá họp với văn phòng UNFPA tại Hà Nội, và tiếp theo là đến làm việc tại tỉnh Quảng Bình và Bến Tre Giai đoạn thu thập dữ liệu thực hiện chính trong khoảng thời gian từ ngày 12/10 đến ngày 6/11 Giai đoạn này bao gồm một tuần rà soát kỹ lưỡng và phỏng vấn sơ bộ trên Skype (và gặp mặt phỏng vấn khi có thể và cần thiết), hai tuần thu thập dữ liệu ở Hà Nội và tại hai tỉnh (từ ngày 19 đến này 30/10) và tiếp theo là một tuần, từ ngày 2-6/11, để tiếp tục các công việc tồn đọng Nhóm Đánh giá cũng họp sơ kết với các bên có liên quan và chia sẻ cũng như thảo luận về kết quả ban đầu

Giai đoạn 4: Báo cáo

Giai đoạn bốn bao gồm phân tích và tiếp tục các công việc còn lại với cán bộ của UNFPA khi cần (trên thư điện tử và qua Skype); và sơ thảo báo cáo Các kết quả chính của báo cáo cũng được chia sẻ và trình bày tới các bên có liên quan của UNFPA bao gồm các đối tác phía chính phủ vào ngày 10/11/2015 Bản thảo đầu tiên của báo cáo được trình tới UNFPA ngày 12/11/2015 Từ 30/11 đến 10/12 là thời gian xin ý kiến góp ý của UNFPA và các bên có liên quan Bản báo cáo cuối cùng hoàn thành vào ngày 15/12/2015

Giai đoạn 5: Điều chỉnh nội dung, chia sẻ báo cáo và theo dõi tiếp theo

Giai đoạn cuối này, UNFPA sẽ chia sẻ báo cáo đánh giá tới các bên có liên quan để lấy ý kiến về các đề xuất, chuẩn bị các nội dung điều chỉnh phù hợp, rà soát đảm bảo chất lượng báo cáo, và gửi báo cáo đánh giá rộng rãi

1.4 Tiêu chí đánh giá và câu hỏi đánh giá

Cuộc đánh giá này dựa trên bốn trong năm tiêu chuẩn đánh giá của Hội đồng Hỗ trợ Phát triển của Tổ chức Hỗ trợ Phát triển và Hợp tác Kinh tế (OECD DAC): Phù hợp, Hiệu quả, Hiệu suất và Bền vững

Trang 18

Bảng 1: Giải thích về các Tiêu chí đánh giá

Tiêu chí Giải thích trong Đánh giá Chương trình Quốc gia[27]

Phù hợp Nguyên tắc về tính phù hợp thường được xem là thực sự tương đương với ‘phù hợp với các ưu

tiên của chính phủ’ nhưng điều đó cũng có thể bao hàm sự phù hợp với nhu cầu của người dân

và cụ thể trong ngữ cảnh đánh giá này, còn phù hợp với quyền của nhóm dân số dễ bị tổn thương Với mục đích của nghiên cứu này, UNFPA đã định nghĩa tính phù hợp là: các mục tiêu

mà Chương trình Quốc gia chu kỳ 8 đáp ứng được nhu cầu của người dân ở cấp độ quốc gia – đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương, và đồng thời cũng phù hợp với ưu tiên của chính phủ xuyên suốt trong cả chương trình và phù hợp với kế hoạch chiến lược (SP) của UNFPA

Hiệu quả Trong phạm vi đánh giá chương trình quốc gia này, UNFPA định nghĩa sự hiệu quả như sau: các

đầu ra mà Chương trình Quốc gia chu kỳ 8 đạt được, và các đầu ra này đóng góp để đạt được các kết quả của cả Chương trình Quốc gia chu kỳ 8

Hiệu suất Là các đầu ra và kết quả mà Chương trình Quốc gia chu kỳ 8 có được với lượng nguồn lực phù

hợp – kính phí, chuyên gia, thời gian, chi phí hành chính, v.v.

Bền vững Đặc biệt với quốc gia cho thu nhập trung bình thấp như ở Việt Nam, điều này có thể có hàm ý về

ảnh hưởng/vận động chính sách và vai trò kiểu mẫu/thử nghiệm đối với các cơ quan, tổ chức như UNFPA Điều khoản tham chiếu cho đánh giá này định nghĩa tính bền vững là các lợi ích từ các can thiệp được UNFPA hỗ trợ kinh phí vẫn tiếp tục sau khi đã kết thúc, hoặc được kết nối, cụ thể là vẫn tiếp tục kiên nhẫn trước các rủi ro khác

Ngoài các tiêu chí chuẩn về đánh giá ở trên, cuộc Đánh giá Chương trình Quốc gia này cũng yêu cầu có thêm hai tiêu chí nữa:

• Sự phối phợp với các cơ quan Liên Hợp Quốc (UNCT) (mức độ tích cực của UNFPA khi là một

thành viên và đóng góp vào cơ chế phối hợp hiện tại của UNCT)

• Gia tăng giá trị (mức lợi ích mà Chương trình Quốc gia chu kỳ 8 đóng góp vào kết quả kết hợp

với các can thiệp của các cơ quan phát triển khác)

Các câu hỏi đánh giá được nêu trong Điều khoản Tham chiếu phù hợp với từng tiêu chí như sau:

Hiệu quả

• CÂU 3 Các can thiệp cho UNFPA hỗ trợ trong lĩnh vực dân số và phát triển có hiệu quả như thế nào trong việc củng cố các chính sách quốc gia thông qua lồng ghép với các phân tích dựa vào bằng chứng về biến động dân số và liên kết với các chỉ tiêu phát triển bền vững của quốc gia?

• CÂU 4 Các can thiệp do UNFPA hỗ trợ trong lĩnh vực SKSS và TD có hiệu quả như thế nào trong việc đáp ứng nhu cầu của người trẻ, các vấn đề về SKSS và TD, quyền sinh sản, KHHGĐ và HIV

trong các chính sách quốc gia có liên quan?

Trang 19

• CÂU 5 Các can thiệp do UNFPA hỗ trợ trong lĩnh vực giới có hiệu quả như thế nào trong việc

cải thiện ứng phó với bạo hành giới và gia tăng bình đẳng giới?

• CÂU 6 Chương trình tổng thể của UNFPA đã lồng ghép giới và cách tiếp cận dựa trên quyền

như thế nào?

Hiệu suất

• CÂU 7 Các nguồn lực (công cụ tài chính, khung quy định hành chính, nhân viên, thời gian và

quy trình) được sử dụng hiệu quả như thế nào trong việc đạt được các kết quả mong đợi của

chương trình?

• CÂU 8 Các yếu tố nào hạn chế và thúc đẩy hoàn thành được các kết quả mong đợi?

Bền vững

• CÂU 9 Các thành tựu có được trong chu kỳ này liên quan đến thiết lập quan hệ đối tác, nâng

cao năng lực, lồng ghép Chương trình Quốc gia vào quá trình lập chương trình của quốc gia và các đối tác được duy trì bền vững như thế nào?

Sự phối hợp giữa các cơ quan Liêp Hợp Quốc (UNCT)

• CÂU 10 Văn phòng UNFPA tại Việt Nam đã đóng góp như thế nào vào việc tạo ra sự phối hợp tốt giữa các cơ quan LHQ, đặc biệt trong quan điểm tránh chồng chéo?

Gia tăng giá trị

• CÂU 11 Thế mạnh so sánh chính của văn phòng UNFPA tại Việt Nam là gì – cụ thể là so với các

cơ quan LHQ khác trong các nội dung chương trình?

1.5 Phương pháp và công cụ dùng trong thu thập và phân tích số liệu

Nhóm đánh giá sử dụng các phương pháp sau để thu thập dữ liệu trong các giai đoạn của cuộc đánh giá:

rà soát văn bản, tài liệu; phỏng vấn sâu bán cấu trúc, thăm thực địa, thảo luận nhóm, và nhóm tập trung Kiểm tra chéo các nguồn thông tin được thực hiện trong suốt quá trình đánh giá để so sánh và đối chiếu kết quả

Rà soát văn bản, tài liệu

Văn phòng UNFPA tại Việt Nam đã cho phép nhóm đánh giá tiếp cận tới mọi văn bản, tài liệu bao gồm các tài liệu của chương trình, Khung dự án chi tiết (DPO), Kế hoạch hoạt động hàng năm (AWP), Báo cáo năm của dự án, Báo cáo năm của Văn phòng UNFPA tại Việt Nam (COARs), Báo cáo Đánh giá nhanh về tình hình Dân số và Phát triển(ASPD), Báo cáo Đánh giá giữa kỳ của Chu kỳ 8, dữ liệu Atlas về các can thiệp được cấp kinh phí và chi tiêu thực tế, báo cáo hoạt động, đề xuất chương trình chung, đánh giá, báo cáo kiểm toán, các nghiên cứu và đánh giá nhu cầu có liên quan, báo cáo theo dõi, giám sát cũng như các bản thỏa thuận đã được các đối tác ký Tổng số, văn phòng UNFPA tại Việt Nam đã chia sẻ 370 văn bản, tài liệu với Nhóm Đánh giá Nhóm Đánh giá xếp ưu tiên khoảng 50 văn bản và tài liệu để nghiên cứu sâu một cách có hệ thống, nhưng tham chiếu tất cả các văn bản trong suốt Giai đoạn thu thập và phân tích dữ liệu để xác định các bằng chứng

Trang 20

Lý do thực hiện Rà soát văn bản, tài liệu: Phần rà soát văn bản, tài liệu đóng vai trò quan trọng Qua đó, nhóm đánh giá có được sự hiểu biết chính xác về phạm vi cách tiếp cận của UNFPA và bối cảnh hoạt động Nhóm đánh giá có cơ hội ghi nhận lại các bằng chứng ở mọi lúc, mọi nơi Điều quan trọng hơn là trong quá trình đánh giá, nhóm đánh giá cũng có cơ hội đánh giá mức độ tiếp cận tới nguồn dữ liệu và bằng chứng và từ đó xác định được các nội dung chính cần hỏi thêm chi tiết

Hạn chế và thiên lệch: Thông thường rà soát tài liệu sẽ giúp nắm rõ được đối tượng/chủ đề cần đánh giá, tuy nhiên kết quả lại phụ thuộc vào chất lượng của các tài liệu sẵn có và số lượng các tài liệu phù hợp, có liên quan có thể rà soát được trong một khoảng thời gian cần thiết Như đã chia sẻ ở trên, nhóm đánh giá ưu tiên rà soát một cách hệ thống khoảng 50 tài liệu tuy nhiên các tài liệu và nguồn tham khảo thì nhiều hơn như vậy rất nhiều Trong quá trình đánh giá, nhóm đánh giá cũng có thêm nhiều tài liệu do UNFPA cung cấp và tự tham khảo Có tổng số khoảng 400 tài liệu đã được chia sẻ với nhóm đánh giá, tuy nhiên nhóm không thể rà soát hoặc phân tích cách tổng thể tất cả các tài liệu này Nhóm đánh giá cũng ghi chú hoặc trích dẫn cụ thể các trường hợp như vậy trong nội dung báo cáo này

Phỏng vấn bán cấu trúc

Trong Giai đoạn thu thập dữ liệu tại thực địa, các đánh giá viên tiến hành phỏng vấn sâu bán cấu trúc với các bên có liên quan bao gồm đại diện của các Bộ, các cơ quan LHQ, các nhà tài trợ, các tổ chức phi chính phủ Các cuộc phỏng vấn này được tiến hành tại cấp trung ương và các tuyến dưới (tỉnh, huyện, xã) trong một số dự án

Lý do: phỏng vấn bán cấu trúc thường được áp dụng một cách tốt nhất trong các tình huống người phỏng vấn có cơ hội gặp với đối tượng và có nhiều thành viên của nhóm đánh giá muốn tham dự cuộc phỏng vấn đó Hướng dẫn hay còn gọi là bảng hỏi phỏng vấn đã giúp cho phương pháp phỏng vấn được nhất quán trong các thành niên nhóm đánh giá và là bản hướng dẫn các nội dung thiết thực cần đề cập trong mỗi cuộc phỏng vấn (và cũng để đảm bảo sự nhất quán trong tất cả các cuộc phỏng vấn) Ngoài ra, phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc cũng cho phép sử dụng các câu hỏi mở để tạo điều kiện cho các đối tượng được phỏng vấn chia sẻ các nội dung quan trọng nhất và phù hợp nhất đối với cá nhân đó Hướng dẫn phỏng vấn bán cấu trúc cũng có cả các chỉ dẫn rõ ràng cho phỏng vấn viên nhằm có được số liệu định tính có thể tin cậy được và so sánh được

Hạn chế và thiên lệch: Hạn chế biết trước của phương pháp này là phụ thuộc vào kỹ năng của phỏng vấn viên, giúp họ có cơ hội hỏi các câu hỏi khai thác thêm tương ứng Kết quả của quá trình phỏng vấn chính

là ý kiến chủ quan của người được phỏng vấn, và do vậy, nhóm đánh giá cần cân nhắc thông tin nào có thể được làm rõ hơn từ các nguồn khác, và thông tin nào chỉ đại diện cho một nhóm nhỏ

Phỏng vấn cá nhân và Thảo luận nhóm tập trung

Tại thực địa, các bên liên quan của dự án bao gồm lãnh đạo địa phương, giáo viên, cán bộ y tế, khu vực

tư nhân như dược sĩ và các đại diện nhân dân Các cuộc họp được tổ chức ở dạng thảo luận nhóm tập trung và phỏng vấn cá nhân

Lý do: Thảo luận nhóm nhằm mang lại không khí có sự đa dạng của nhóm để khuyến khích sự trao đổi trong nhóm các thành viên tham gia

Hạn chế và thiên lệch: Thảo luận nhóm đòi hỏi kỹ năng cụ thể của người điều hành thảo luận nhóm, ví

dụ như có thể ‘điều hành’ nhưng không lấn án không khí thảo luận, và xây dựng được niềm tin của các thành viên để tất cả có thể tham gia thảo luận mà không cảm thấy bị áp lực Trong quá trình đánh giá

Trang 21

này, có một số tình huống khi thảo luận về các nội dung nhạy cảm với người trực tiếp nhận dịch vụ là khách hàng/bệnh nhân và người cung cấp dịch vụ Trong cả hai tình huống này, hai người trong nhóm đánh giá phụ trách thảo luận với một nhóm người cung cấp dịch vụ và một thành viên nhóm đánh giá làm việc riêng với khách hàng Trong một vài tình huống khác thì phương pháp này không thành công lắm vì các đối tác có liên quan tại điểm dự án cùng họp lại thành một nhóm và có cả người cung cấp dịch

vụ trong nhóm này Khi đó, người điều hành thảo luận nhóm không thể nói người cung cấp dịch vụ không tham gia thảo luận và vì thế họ điều hành cuộc thảo luận nhóm thật tế nhị sao cho cuộc trao đổi tập trung vào dự án nói chung chứ không nhấn mạnh đến các lý do cụ thể mà người khách hàng đến với

cơ sở y tế Điều này khiến cho cán bộ đánh giá không hài lòng vì cuộc trò chuyện lại trở thành thảo luận các vấn đề cá nhân chứ không phải vì bản thân người cung cấp dịch vụ Về đạo đức nghiên cứu thì cách thực hiện này không phù hợp nhưng theo văn hóa vùng miền thì lại chấp nhận được

Thảo luận nhóm được thực hiện khi nhóm đánh giá đi thực địa tại các tỉnh dự án Có hai tỉnh được chọn dựa trên một số các yếu tố chứ không phải chọn ngẫu nhiên Một số tỉnh khác không được đưa vào danh sách đánh giá vì họ cũng vừa phải tham dự các cuộc đánh giá khác, và một số khác lại vừa tham gia vào cuộc đánh giữa kỳ của UNFPA UNFPA cũng thương thảo với chính phủ về các tỉnh nên được đưa vào đánh giá này Các tỉnh được lựa chọn cho đánh giá này có các đặc điểm khác nhau (một tỉnh đang thực hiện chu kỳ thứ hai với UNFPA, và tỉnh kia đang là chu kỳ đầu tiên) Vì vậy, mặc dù nhóm đánh giá không tác động gì đến sự chọn tỉnh tham gia đánh giá, hai tỉnh này cũng vẫn có thể mang lại sự khác biệt

và cũng thăng bằng cán cân đánh giá

Phỏng vấn sâu và Nhóm tập trung (tổng số là 110 người)

Phỏng vấn sâu

7 (Quảng Bình)

6 (Quảng Bình) Lãnh đạo của các cơ quan LHQ/đại diện và thành viên của nhóm các

Trang 22

Nhóm tình nguyện viên tại Bến Tre 4

Lãnh đạo địa phương, khu vực tư nhân và cán bộ thực hiện dự án tại

20

Điều tra cùng cán bộ của UNFPA

Trong quá trình thu thập dữ liệu, các đánh giá viên nhận thấy thiếu các nội dung về phương thức hoạt động của UNFPA, cụ thể là liên quan tới rủi ro và giả định trong lý thuyết thay đổi của Kế hoạch Chiến lược toàn cầu Để giải quyết tình trạng thiếu dữ liệu về nội dung này, nhóm nghiên cứu đã xây dựng phiếu điều tra và để cán bộ nhân viên của UNFPA điền nhằm đánh giá cảm nhận của họ về mức độ rủi ro

và giả định có thể có trong bối cảnh hiện tại của quốc gia

Hạn chế và thiên lệch: Điều tra không được lên kế hoạch từ đầu mà nảy sinh nhu cầu trong khi thu thập

số liệu Vì thế có ít ý kiến tham khảo từ văn phòng UNFPA tại Việt Nam Bản thân cuộc điều tra cũng chỉ hạn chế và tập trung vào các nguy cơ và giả định của chiến lược toàn cầu của UNFPA, và chỉ chỉnh sửa từ ngữ và khái niệm cho phù hợp bối cảnh của Việt Nam đã có thể làm cho dễ dàng tiếp cận các đối tượng được nghiên cứu

1.6 Hạn chế và trở ngại

Phần này mô tả các hạn chế và trở ngại mà Nhóm Đánh giá gặp phải trong quá trình thu thập và phân tích dữ liệu Nhóm đánh giá cũng nêu chi tiết các biện pháp mà nhóm thực hiện để vượt qua các trở ngại này

Dữ liệu theo dõi tiến độ và tác động vừa ít vừa tản mát

Dữ liệu theo dõi, giám sát được ghi lại ở nhiều nơi, gồm các Báo cáo dự án hàng năm, các báo cáo năm của cả văn phòng UNFPA tại Việt Nam, các báo cáo năm của Một kế hoạch, các báo cáo chuyến đi giám sát và hệ thống giám sát lưu trên trang web Với chỉ một trong các báo cáo này thì khó có thể phân định được tiến độ của các dự án theo thứ tự Theo dõi, giám sát tiến độ hoàn thành mục tiêu cũng không theo định dạng các báo cáo dự án (ví dụ như viện trợ và vận động chính sách) và không được lưu lại một cách hệ thống Phần lớn các nội dung này được tự hiểu giữa các trưởng nhóm và các thành viên Quan trọng là, các quyết định thường không được ghi chép ra một cách công khai, và điều đó đặc biệt quan trong khi có các thay đổi liên quan tới một dự án nào đó hoặc hướng thực hiện của hoạt động hoặc các

kế hoạch Kết quả là nhóm đánh giá không dễ dàng tiếp cận được tới các “câu truyện thành công” của Chương trình Quốc gia và các dự án tại tỉnh Nhìn chung, hệ thống Theo dõi và Đánh giá của UNFPA dường như thiếu sự linh hoạt để đáp ứng hơn với hoàn cảnh đặc biệt của chương trình quốc gia so với

hệ thống khác của Việt Nam như Quy về một mối LHQ (Delivers as One UN)

Không nêu rõ các bên được hưởng lợi theo mong đợi và thiếu dữ liệu đầu kỳ

Một vài dự án là các mô hình thử nghiệm với các bên được hưởng lợi ở cộng đồng theo tác động của hoạt động, tuy nhiên, bên hưởng lợi lại chính là đối tác thực hiện dự án ở các cấp khác nhau (ví dụ cấp trung tương, tỉnh và huyện) Tương tự vậy, các dự án khác nhằm tới các đối tác tuyến trung ương lại có

cả mong đợi về kết quả và nâng cao năng lực Nhóm đánh giá không có được các dữ liệu đánh giá (bao gồm các báo cáo tiến độ hoặc thông tin đầu kỳ) về năng lực của các đối tác thực hiện dự án vì thế nhóm

Trang 23

đánh giá không thể lượng hóa hoặc định tính hóa được tiến độ hoàn thành các mục tiêu về nâng cao năng lực

Các bên có liên quan được xác định trong phạm vi nhỏ hẹp

UNFPA khởi đầu xác định các bên có liên quan một cách nhỏ hẹp là các đối tác thực hiện dự án, toàn bộ

là các cơ quan nhà nước phía Việt Nam (và định nghĩa này được áp dụng bởi chính các cơ quan phía nhà nước [28]) Định nghĩa này phù hợp nội dung trong cuốn Tài liệu/Sổ tay/Hướng dẫn Đánh giá Chương trình Quốc gia của UNFPA [26] Theo quan điểm của nhóm nghiên cứu, trong quá trình đánh giá, định nghĩa này làm hạn chế phạm vi rà soát các hoạt động của Văn phòng UNFPA tại Việt Nam trong mối tương quan với cả chương trình chứ không chỉ đơn giản là tổng hợp của các dự án Để giảm thiểu hạn chế, sau khi tham khảo ý kiến của văn phòng UNFPA tại Việt Nam, nhóm đánh giá đã đề xuất danh sách các bên có liên quan đa dạng thành viên hơn tham gia vào đánh giá này

Sự cạnh tranh do yêu cầu của các đánh giá khác nhau

Vào thời điểm tiến hành Cuộc Đánh giá Chương trình Quốc gia của UNFPA, cũng có các đánh giá và nghiên cứu khác tại các cơ quan LHQ cũng như các đối tác khác Điều này chính là mối lo ngại không nhỏ

vì các nghiên cứu đều đòi hỏi thời gian và nguồn lực của các bên của liên quan, trong cùng một giai đoạn các bên có liên quan sẽ bị bận bịu một cách bất thường, bên cạnh đó nhóm đánh giá cũng còn lo ngại đến chất lượng của các câu trả lời của các đại diện khi tham dự vào các nghiên cứu tương tự nhau, có thể làm cho người trả lời mệt mỏi hoặc bị hỏi lặp lại thông tin

Hạn chế/Thách thức Giải pháp nhóm đánh giá đã thực hiện

Dữ liệu theo dõi, giám

sát vừa ít vừa tản mát Bằng nhiều cách, nhóm đánh giá cố gắng thu thập từ nhiều nguồn để có được bức tranh tổng thể về tiến độ thực hiện Với các quyết định không

được tài liệu hóa, UNFPA cung cấp thêm các tài liệu giải thích về các thay đổi đó và kết quả chính

Không nêu rõ các bên

được hưởng lợi theo

mong đợi và thiếu dữ

liệu đầu kỳ

Do không có dữ liệu định lượng đầu kỳ, các thành viên của nhóm đánh giá tìm các dữ liệu định tính sẵn có và các thông tin về cảm nhận của các bên có liên quan về năng lực và tác động khi họ hợp tác với UNFPA

Các bên có liên quan

được xác định trong

phạm vi nhỏ hẹp

Các thành viên của nhóm đánh giá tìm đến nhiều đối tượng hơn bao gồm

cả các tổ chức phi chính phủ và các chuyên gia độc lập Ngoài ra, UNFPA cũng phối hợp để có thể gặp gỡ và trao đổi với các tổ chức LHQ khác và một số nhà tài trợ

sự chồng chéo và chia sẻ dữ liệu với sự cho phép của người trả lời

Những hạn chế thuộc phạm trù hoàn cảnh

Chương trình quốc gia UNFPA không điển hình

Trang 24

UNFPA trong một quốc gia đang thực hiện cách tiếp cận Quy về Một Mối trong Giai đoạn hai, có trọng trách đa nhiệm vụ, có nghĩa là các Kế hoạch Chiến lược của UNFPA (2011-2013 và 2014 - 2017) và “Một

Kế hoạch” của Quy về Một Mối các tổ chức LHQ, và kết quả là không có một bản Kế hoạch Hành động Quốc gia (CPAP) nào Thay vì thế, cam kết của UNFPA lại nằm trong bản Một Kế hoạch và tương ứng với các mức độ của đầu ra và kết quả của Bản Một Kế hoạch và Kế hoạch Chiến lược Mức độ chi tiết và tương quan với các bản kế hoạch khác nhau đã làm cho các mục tiêu cấp quốc gia của UNFPA thiếu rõ ràng khi so sánh với các hướng dẫn Đánh giá Chương trình Quốc gia của UNFPA và phương pháp chuẩn

Khung thời gian của quá trình đánh giá

Để kịp đóng góp vào quá trình lập kế hoạch đang tiến hành trong nước, thời gian dành cho đánh giá thực sự bị eo hẹp, kèm theo việc chậm chễ triển khai thu thập dữ liệu tại thực địa, mặc dù vậy các giai đoạn tiếp sau và thời điểm nộp sản phẩm lại không thay đổi Điều đó có nghĩa là bản thảo đầu tiên của bảo cáo đánh giá được nộp tới Văn phòng UNFPA tại Việt Nam chỉ trong vòng chưa đến 10 ngày sau khi hoàn thành thu thập các số liệu chính tại địa phương Nhìn chung, các giai đoạn phân tích và báo cáo bị

co ngắn lại khiến cho khó thực hiện phân tích thật đầy đủ như mong muốn một số nội dung của chương trình Khung thời gian dành cho giai đoạn phân tích và báo cáo của Đánh giá Chương trình Quốc gia này khác xa với các đánh giá khác, ví dụ ba tháng rưỡi là thời gian dành cho bản sơ thảo đầu tiên và bản sơ thảo lần hai trong Đánh giá Chương trình Quốc gia ở Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 2014 [29] và 10 tháng là thời gian để tổng hợp trong Đánh giá Chương trình Quốc gia ở Lebanon (2013-2014) [30] Có một số tài liệu rất thiết thực lại được chia sẻ với nhóm đánh giá quá trễ trong quá trình phân tích tổng thể và chắt lọc thông tin (ví dụ các nguyên tắc và lý thuyết thay đổi đối với từng can thiệp của mỗi cấu phần chương trình), và nội dung của các tài liệu này được đưa vào phần chú giải cuối trang và các phần tham khảo

Trang 25

2 Bối cảnh quốc gia

2.1 Thách thức phát triển và chiến lược quốc gia

Chương trình Quốc gia của UNFPA tại Việt Nam trong giai đoạn 2012-2016 cùng đồng thời với bối cảnh quốc gia phát triển nhanh chóng, và được làm rõ trong bản Điều khoản Tham chiếu của cuộc đánh giá này Việt Nam đạt mức là quốc gia có thu nhập trung bình thấp (MIC) từ năm 2010 và đã có nhiều tiến

bộ ở cấp quốc gia trong việc hoàn thành nhiều Mục tiêu Phát triển Thiên Niên kỷ, với những thay đổi đáng kể được khi nhận ở một số lĩnh vực, ví dụ như trong tiếp cận tới dịch vụ y tế,3 giáo dục,4 và việc làm.5 Việt Nam đang đi đúng tiến độ để đạt được hoặc đã đạt được phần lớn các Mục tiêu Phát triển Thiên Niên kỷ Mặc dù số liệu theo dõi, giám sát vẫn tiếp tục là một thách thức, Việt Nam vẫn được lấy ví

dụ là một trong các quốc gia thực hiện Chương trình Chung về Giới đạt được nhiều bằng chứng thay đổi

ở cấp quốc gia với các số liệu về nội dung bình đẳng giới và Tăng quyền năng cho phụ nữ.[31]

Việt Nam vẫn đang tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức Bất chấp sự phát triển kinh tế nhanh chóng trên cả nước, 17,2% dân số vẫn sống dưới mức nghèo vào năm 2012,[32] và trong số các dân tộc thiểu

số, thì con số nghèo vẫn ở mức cao hơn nhiều so với mức độ nghèo trung bình của cả nước đang ở mức 59.2% theo dữ liệu của năm 2012.6 Sự biến động dân số ngày càng thay đổi và bất bình đẳng là các nội dung chính trong vấn đề phát triển Dữ liệu sẵn có cho thấy có bất bình đẳng về giới và dân tộc thiểu số

Số liệu về bạo hành giới cho thấy có tăng lên cả chiều sâu và chiều rộng và chỉ có một tỷ lệ nhỏ phụ nữ tìm đến dịch vụ y tế và hỗ trợ xã hội và tư vấn pháp lý Một trong các vấn đề mới nổi gần đây là sự gia tăng về mất cân bằng giới tính khi sinh

Khung chính sách của Việt Nam chủ trương nhấn mạnh vào phát triển cụ thể là thông qua tăng cường thể chế trong quản trị quốc gia và cơ sở hạ tầng cung cấp dịch vụ thông qua chiến lược Phát triển Kinh tế

- Xã hội (SEDP)[33] với sự đầu tư đáng kể của Chính phủ về các nội dung SKSS và TD, kế hoạch hóa gia đình và giải đáp dân số Đầu tư vào dịch vụ và năng lực được thực hiện đồng thời với việc tạo nền móng cho các văn bản quy phạm về bình đẳng giới khá tiến bộ, thể hiện trong Chiến lược Quốc gia (2011-2020) và Chương trình Quốc gia về Bình đẳng Giới (2011-2015).7 Điều chưa rõ ở giai đoạn này là mức độ cam kết của chính phủ được đưa vào (hoặc có lộ trình đạt mục tiêu) các kế hoạch thực hiện trong cả nước Năm 2015 cũng chứng kiến một loạt các thay đổi phức hợp với các mục tiêu phát triển tầm quốc

tế và quốc gia với các sửa đổi trong Kế hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội (tới hạn vào cuối năm 2015) và các nội dung mới nổi về Mục tiêu Phát triển Bền vững hiện đang được tranh luận và hoàn thiện để hoàn thành Mục tiêu Phát triển Thiên Niên Kỷ

3 Ví dụ, để đảm bảo tiếp cận dễ dàng tới các dịch vụ dự phòng, điều trị, chăm sóc và hỗ trợ người có HIV, Tài liệu Chương trình Chung cho Việt Nam, 2012-2016, DP/FPA/OPS-ICEF/CCPD/2011/VNM/1

4 Tỷ lệ tham gia thực vào bậc tiểu học là 91.5% đối với em gái và 92.3% đối với em trai; Tỷ lệ tham gia thực vào trung học cơ sở là 82.6% đối với

em gái và 80.1% đối với em trai, và với trung học là 63.1% đối với em gái và 53.7% đối với em trai, theo báo cáo của Chính phủ Việt Nam tới UNDP (2010): Việt Nam đã đi được hai phần ba quãng đường để hoàn thành các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ và tầm nhìn tới 2015, Hà Nội, tháng 7 năm 2010

5 Tỷ lệ tham gia vào lực lượng lao động là 73% đối với phụ nữ so với 82% đối với nam giới, theo báo cáo của Chính phủ Việt Nam tới UNDP (2010): Việt Nam đã đi được hai phần ba quãng đường để hoàn thành các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ và tầm nhìn tới 2015, Hà Nội, tháng 7 năm 2010

6 Đếm đầu số lượng nghèo đói là 9.9 trong số hộ gia đình người Kinh và Hoa, và 59.2 là trong số các hộ gia đình dân tộc “khác”, Điều tra mức sống và hộ gia đình Việt Nam, 2012

7 Thay thế cho Chiến lược Quốc gia vì Sự tiến bộ của Phụ nữ (2001-2010)

Trang 26

Theo Báo cáo Phát triển Con người, Việt Nam xếp hạng ở thứ 121 trên tổng số 187 quốc gia về Chỉ số Phát triển Con người.[8] Trong tổng số dân là 90.730.000 (2014)[1], thì có 67% sống ở các khu vực nông thôn [3] và tỷ lệ thất nghiệp là 2% vào năm 2013.[9] Việt Nam đứng thứ 48 trong tổng số 148 nước xếp loại Chỉ số Bất bình đẳng Giới năm 2012.[34]Chi phí cho y tế ở Việt Nam chiếm 6,0% tổng sản phẩm quốc nội (2013).[14] tỷ lệ tử vong trẻ dưới 5 tuổi là 22 trên 1,000 trẻ đẻ ra sống (2013)[11] và tỷ lệ tử vong mẹ

là 67 trên tổng số 100.000 ca sinh sống vào năm 2011.[12]

Theo dòng lịch sử hiện tại của Việt Nam, hay nói chính xác hơn là của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nửa sau của thế kỷ 20 đã chứng kiến nhiều những xung đột, bao gồm Việt Nam giành độc lập

từ tay thực dân Pháp vào năm 1945 và sau đó là đất nước bị chia hai miền Nam, Bắc (vào năm 1954) Cuộc xung đột giữa Việt Nam và Mỹ kết thúc năm 1975 và thống nhất đất nước từ năm 1976 Từ năm

2000, Việt Nam chứng kiến tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2007, và cộng đồng chung ASEAN và Hiệp định Thương mại xuyên Thái bình dương vào năm 2015 Tổng thu nhập quốc dân tính theo đầu người là $5.350 vào năm 2014[5], tỷ lệ tăng trưởng cùng năm là 6% với tổng sản phẩm quốc nội tính trên đầu người đạt $2.052.3 vào năm 2014[6]

Bảng phân tích bối cảnh quốc gia dưới đây được tóm lược từ Báo cáo Đánh giá Tình hình Dân số và Phát triển ở Việt Nam (ASPD) mà Nhóm Đánh giá mới được chia sẻ gần đây.[35]

Bảng 2: Sự tiến bộ của Việt nam hướng tới Mục tiêu Phát triển Thiên Niên Kỷ

1: Xóa đói và giảm nghèo Tỷ lệ nghèo giảm (2,44%), tỷ lệ đói cũng khá thấp (11,0%)

2: Hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học Tỷ lệ tới trường cao (98,1%)

3: Cải thiện bình đẳng giới và tăng quyền

năng cho người phụ nữ Bình đẳng giữa bé gái và bé trai trong giáo dục tiểu học Tỷ lệ nữ cao trong khối lao động được trả lương ở khu vực phi nông

nghiệp Đại diện nữ trong quốc hội khá cao 4: Giảm tử vong trẻ Tỷ lệ tử vong trẻ thấp

5: Nâng cao sức khỏe bà mẹ Tỷ lệ tử vong mẹ thấp

Tiếp cận dễ dàng tới SKSS 6: Phòng chống HIV/AIDS, Sốt rét và các

bệnh tật khác Tỷ lệ nhiễm HIV thấp (0,03%) Tỷ lệ tử vong trung bình

7: Đảm bảo bền vững về môi trường Mật độ rừng bao phủ cao

Tỷ lệ dân sử dụng nguồn nước sạch tăng cao (97,6%)

Tỷ lệ dân sử dụng nguồn an improved sanitation facility cao (78%)

Tỷ lệ người sống trong khu ổ chuột ở mức trung bình (27,2%) 8: Xây dựng Đối tác toàn cầu để phát triển Tỷ lệ sử dụng internet cao (48,3 người sử dụng trên 100 dân)

Trang 27

Dân số và Phát triển (PD)

Dân số của Việt Nam vào năm 2014 có gần 90,5 triệu[34] và được dự tính là sẽ tăng lên 100 triệu vào năm 2025 Tỷ suất sinh giảm từ 6,81 (1965-1969) xuống đạt mức sinh thay thế vào năm 2003[35]: đó chính là mục tiêu cốt lõi của chính sách dân số của nhà nước Tuy nhiên, các con số trung bình không thể hiện sự khác biệt vùng miền, một số vùng có tỷ suất sinh cao8 và một số tỉnh và thành phố lại có tỷ suất sinh thấp hơn.9 Tuy vậy, sự đa dạng của dân số lại nằm ngoài các chỉ tiêu về dân số và tỷ lệ sinh, và luật dân số sơ thảo của Việt Nam cũng tập trung nhiều hơn đến giảm sinh và vào sức khỏe sinh sản chứ chưa giúp giải quyết các vấn đề dân số và phát triển lớn hơn Các vấn đề bao gồm phân chia dân số, già hóa dân số, mất cân bằng giới khi sinh (SRB), và di cư

Phân chia dân số muốn nói đến tình trạng nhân khẩu học của Việt Nam được phân chia thành tỷ lệ dân

số trong tuổi lao động so với người phụ thuộc, với một nửa là ở độ tuổi lao động dưới 34 tuổi, và tổng

số dân ở tuổi lao động nhiều gấp đôi số dân phụ thuộc Đây là một cơ hội cho phát triển kinh tế Tuy nhiên nếu một quốc gia không có lực lượng lao động lành nghề về kỹ thuật, thì quốc gia đó sẽ ngày càng đối mặt với các vấn đề về thất nghiệp và không sử dụng hết nguồn lực lao động,10 và vì thế cần có đầu

tư vào đào tạo và khuyến khích lực lượng thanh niên tham gia vào thị trường việc làm

Dân số Việt Nam đang bị già đi với tốc độ nhanh hơn ở các nước khác trong khu vực, với hơn ¼ dân số trên 60 tuổi vào năm 2049.[38] Khi đó, sự đổi thay này sẽ đòi hỏi nhu cầu cần tăng cường an sinh xã hội Mặc dù Việt Nam đã và đang triển khai hệ thống an sinh xã hội tứ trụ (hỗ trợ xã hội; thu nhập từ công việc và giảm nghèo; bảo hiểm xã hội và các dịch vụ xã hội), nhưng nhìn tổng thể sự đáp ứng các nhu cầu này lại thiếu đi sự phối hợp và toàn diện mà chính phủ đang hướng tới giải quyết thông qua kế hoạch của Kế hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội (SEDP) mới

Vấn đề di cư ngày càng gia tăng và thay đổi, ở trong mỗi quốc gia và ở tầm quốc tế Như đã đề cập ở trên là dân số vùng nông thôn của Việt Nam chiếm 67% vào năm 2013, nhưng đây không phải là một con

số tĩnh và số dân vùng thành thị đang ngày càng gia tăng, điều này xảy ra tương tự ở cấp khu vực và xu hướng toàn cầu Di cư trong mỗi quốc gia tạo cơ hội để có nền giáo dục tốt hơn và nhiều cơ hội việc làm hơn, nhưng lại đi kèm với các nguy cơ về mất an ninh, thất nghiệp, kém tiếp cận tới các dịch vụ và bị bóc lột Dữ liệu về di cư còn nhiều khoảng hổng cho dù các quốc gia đều thực hiện định kỳ Điều tra về Di cư trên Toàn quốc năm 2004: Các điều tra định nghĩa một người di cư là người có sự di chuyển trong 5 năm trở lại đây, mà không bao hàm ý nghĩa về số lượng số người di cư ngắn hạn (tuy nhiên đây là chủ điểm của cuộc Điều tra về Di cư trên Toàn quốc năm 2015) So với các quốc gia trong khu vực, Việt Nam xuất khẩu lao động với số lượng nhỏ ra thị trường quốc tế nhưng theo Tổ chức Lao động Quốc tế ILO, điều này cũng sẽ thay đổi nhanh chóng trong tương lai.11 Việt Nam hình như chưa chuẩn bị gì cho sự thay đổi này ở khía cạnh chính sách

8 Tây nguyên, ven biển miền Trung và Miền Bắc, Vùng núi và Trung du phía Bắc

9 TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Hậu Giang và Cà Mau

10 Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Bảo vệ Thất nghiệp ở Việt Nam, 2012 cho biết tỷ lệ thất nghiệp trong lực lượng lao động là 2.5%, trong đó một nửa là ở độ tuổi từ 15-24 (trích từ báo cáo báo cáo Đánh giá Tình hình Dân số và Phát triển tại Việt Nam năm 2015)

11 Tham khảo Tổ chức Lao động Quốc tế ILO, Tờ tóm tắt Chính sách của ILO, 2015 ILO tham gia vào công việc dự án (nghiên cứu, hỗ trợ chính

sách) về công nhân di cư làm việc tại Vùng Đại Mê kông để bảo vệ người lao động không bị bóc lột (trích từ báo cáo Đánh giá Tình hình Dân số

và Phát triển tại Việt Nam 2015)

Trang 28

Là một quốc gia đứng thứ 7 trong bảng Chỉ số Nguy cơ Khí hậu toàn cầu năm 2015 [39], Việt Nam là một quốc gia có nguy cơ cao bị ảnh hưởng bởi các tác động biến đổi khí hậu Chính phủ Việt Nam đã có những ứng phó với nguy cơ về biến đổi khí hậu thông qua các chiến lược và chính sách nhưng để có được một kế hoạch ứng phó toàn diện, vẫn cần có sự tập trung vào tác động dân số chứ không chỉ là các thách thức về kinh tế và kỹ thuật

Sức khỏe Sinh sản và Tình dục (SKSS và TD)

Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng về sức khỏe sinh sản và tình dục (SKSS và TD), tuy nhiên, như đã nêu trên, có tồn tại sự khác biệt giữa đại đa số dân số và các nhóm dân số dễ bị tổn thương Đây là một bằng chứng đặc biệt về tỷ lệ giảm nghèo, và bất bình đẳng ngày càng gia tăng ảnh hưởng đến nhóm dân số bị thiệt thòi bao gồm dân tộc thiểu số, người dân ở vùng sâu vùng xa, thanh niên nghèo và cận nghèo, người bị khuyết tật, người di cư trong nước, các hộ gia đình có phụ nữ là chủ

hộ và các phụ nữ thuộc các diện dễ bị tổn thương khác và thanh niên.[43] Tất cả các điều này vô cùng quan trọng vì mức độ bất bình đẳng cũng thể hiện ở mức độ sẵn có và chất lượng dịch vụ sức khỏe sinh sản và tình dục cho các đối tượng này, và mặc dù có số liệu về các nhóm dân số dễ bị tổn thương nhưng vẫn chưa có số liệu nhất quán giữa các phân loại khác nhau về tính dễ bị tổn thương

Tỷ lệ tử vong mẹ gần đạt tới chỉ tiêu của Việt Nam là 58,3.[41]Khoảng 2/3 nỗ lực này là nhờ nỗ lực về mang thai an toàn hơn, với 93,6% các ca sinh được sinh tại cơ sở y tế và có sự hỗ trợ của cán bộ đã được đào tạo trong 93,8% các ca sinh.[39] Vào năm 2014, phần lớn các phụ nữ mang thai (95,8%) đều được chăm sóc trước sinh ít nhất là một lần trong thai kỳ, tuy vậy chỉ có 73,7% đã đi khám đủ tối thiểu là 4 lần trước sinh.12 Kiến thức về HIV thì khá đầy đủ tuy nhiên chưa sâu với dưới một nửa phụ nữ ở độ tuổi 15-

49 có thể trả lời đúng 3 đường lây lan HIV Thái độ phân biết đối xử và kỳ thị người có HIV vẫn còn là phổ biến.13 Liên quan đến kế hoạch hóa gia đình, tỷ lệ chưa đáp ứng nhu cầu các biện pháp tránh thai là 6.,%.[17] Theo báo cáo Đánh giá Tình hình Dân số và Phát triển tại Việt Nam thì với năng lực hiện tại, chương trình quốc gia về KHHGĐ chỉ đáp ứng 40% nhu cầu sử dụng bao cao su.[43]

Tỷ lệ sinh con tại cơ sở y tế và dưới sự hỗ trợ của cán bộ y tế đã được đào tạo trong khi sinh, vẫn còn có

sự khác nhau ở cấp khu vực, tuy nhiên tỷ lệ tử cong trẻ và mà mẹ ở các vùng núi có thể cao gấp 3 lần ở vùng đồng bằng.[42] Sự khác biệt cũng tồn tại và ngày càng tăng giữa các hộ nghèo và hộ khá giả hơn, và điều này cũng trùng hợp với sự gia tăng của dịch vụ khu vực tư nhân bên cạnh khu vực dịch vụ công Nói chung, các thách thức đối với y tế công cộng chính là năng lực của lực lượng lao động (cả về chất lượng

và số lượng) và thiếu các dịch vụ kết nối, đặc biệt trong các loại hình dịch vụ về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục, kế hoạch hóa gia đình và HIV cũng như các bệnh không lây

Với số lượng thanh niên chiếm đa số trong tổng dân số, chính phủ đã tập trung hơn và huy động phát triển lực lượng này, thông qua việc ban hành Luật Thanh niên Quốc gia năm 2005, và gần đây là Chiến lược Phát triển Thanh niên giai đoạn 2011-2020 Tuy nhiên, Chiến lược Dân số và Sức khỏe Sinh sản giai đoạn 2011-2020 và Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Y tế giai đoạn 2012-2015 nhằm giải quyết các vấn đề liên quan tới sức khỏe của người trẻ, bao gồm sức khỏe sinh sản và tình dục vị thành niên

12 Tổ chức y tế thế giới (WHO) khuyến nghị từ 4 lần trở lên Chuẩn hiện tại ở Việt Nam là 5 lần trở lên

13 Chỉ số về bêu xấu cũng cho thấy người có HIV (PLHIV) bị bêu xấu nhiều trừ khi trong hệ thống y tế với các đánh giá khẳng định rằng có thể nhân rộng các dịch vụ liên quan đến HIV, để có thể tiếp cận tới điều trị kháng virút và 1/3 số lượng xét nghiệm HIV là nhờ hệ thống chuyển gửi

từ dịch vụ y tế Phân biệt đối xử với phụ nữ có HIV cùng được Hội đồng CEDAW đưa vào tổng kết quan sát Báo cáo của Chính phủ Việt Nam vào ngày 24 tháng 7 năm 2015 ở trang 10 (trích từ báo cáo Đánh giá Tình hình Dân số và Phát triển tại Việt Nam 2015)

Trang 29

(ASRH) Đây cũng chính là một ví dụ của sự không liên kết trong chính sách tập trung vào thanh niên và

vị thành niên Thanh niên là lực lượng ngày càng được học hành và có tiềm năng hơn so với trước đây, báo cáo Đánh giá Tình hình Dân số và Phát triển tại Việt Nam lại ghi nhận rằng nhóm dễ bị tổn thương vẫn là các nhóm thanh niên từ các gia đình nghèo, phụ nữ trẻ, thanh niên người dân tộc thiểu số, thanh niên sống ở các khu vực xa xôi hẻo lánh, thanh niên di cư và những thanh niên bị khuyến tật về thể chất

và trí tuệ, và những người có HIV/AIDS hoặc những thanh niên hành nghề mại dâm.[40]

Bình đẳng giới

Trong nhiều khía cạnh của bình đẳng giới, Việt Nam đã có những tiến bộ to lớn, tuy nhiên vẫn còn các vấn đề nghiêm trọng cần được giải quyết như tỷ lệ phụ nữ bị bạo hành khá cao Chính phủ cam kết xóa hoàn toàn bạo hành gia đình và bạo hành giới và một số luật đã được ban hành để củng cố mục đích này: Luật về Bình đẳng giới và Luật Dân sự về Phòng chống và Kiểm soát bạo lực gia đình năm 2007 Để tạo điều kiện thực hiện Luật Dân sự về Phòng chống và Kiểm soát bạo lực gia đình, chính phủ đã ban hành Kế hoạch Hành động Quốc gia Phòng chống và Kiểm soát bạo lực gia đình giai đoạn 2014-2020 Ngoài ra, Việt Nam đã xây dựng được mô hình Gói Can thiệp tối thiểu (MIP), bao gồm dự phòng ở tuyến

cơ sở, xác định các hỗ trợ và can thiệp dự phòng ở tuyến hai/tuyến tỉnh, huyện và giảm nhẹ tác động đặc biệt cho những người bị ảnh hưởng bởi bạo hành ở tuyến trung ương.[45]

Nghiên cứu quốc gia của Tổng cục Thống kê vào năm 2010 cho thấy 58% phụ nữ được hỏi đã trả lời rằng

đã chịu đựng ít nhất một loại hình bạo hành về thể chất, tình dục hoặc tinh thần.[44, 45] Khả năng bị bạo hành thường có liên quan nhiều đến mức độ học vấn thấp, tình trạng kinh tế, tuổi và khu vực địa lý (với phụ nữ ở các vùng nông thôn có nguy cơ cao hơn) và sắc tộc Nguyên nhân của bạo hành giới cũng

có nhiều: và đó có thể là từ kết quả của bất bình đẳng giới và lại chính là nguyên nhân tiếp tục tạo nên bất bình đẳng giới

Cách tiếp cận để giải quyết bạo hành giới rất phức tạp, ví dụ là mặc dù đã có nhiều bước được tiến hành

để có sự tham gia của nam giới và các bé trai, nhưng vẫn còn rất nhiều công việc cần làm để đảm bảo rằng giải quyết vấn đề bạo hành giới tại tuyến cơ sở được toàn diện và được định hướng bởi một chiến lược chung.[43] Thông thường các ca bạo hành không được báo cáo do bị coi là sự xấu hổ nên thái độ vẫn tồn tại thường là tha thứ cho bạo hành phụ nữ (kể cả ở phụ nữ và nam giới) Ngoài ra, với dịch vụ không toàn diện và thiếu kiến thức về luật pháp hiện hành trong hàng ngũ lãnh đạo địa phương do vậy người phụ nữ bị bạo hành cũng ít có động cơ tìm đến sự giúp đỡ

Tỷ suất giới khi sinh (SRB) với 110,6 bé trai so với 100 bé gái vào năm 2009, tăng lên tới 112,6 vào năm

2013 [48, 49], cao hơn nhiều so với tỷ suất thông thường là 105-106 bé trai trên 100 bé gái khi sinh Điều này đánh dấu một sự thay đổi đáng kể đang xảy ra trong 10 năm qua khi mà số liệu của năm 2000 mới chỉ là 106 bé trai trên 100 bé gái khi sinh Lý do được xem là do tăng phá thai lựa chọn giới tính vì các cặp cha mẹ thích có con trai, đặc biệt trong các gia đình khá giả và có học vấn cao, nhưng các nguyên nhân tiềm ẩn lại là sự kết hợp của yếu tố xã hội, văn hóa cũng như kinh tế một cách phức tạp14 Ở Việt

14 Sở thích con trai tồn tại lâu đời làm tăng mất cân bằng giới khi sinh là một vấn đề nổi cộm hiện tại của công nghệ xác định giới tính và các chính sách “kiểm soát sinh đẻ” càng làm cho tỷ suất sinh giảm nhanh chóng Từ năm 1975, chính sách cho phép mỗi gia đình có từ 2 đến 3 con, nhưng từ năm 1988, mỗi gia đình chỉ được có 2 con Năm 1993, chính sách “1 đến 2 con” chính thức được ban hành với Nghị quyết của Đản Cộng sản tạo nền tảng văn bản pháp lý cao nhất về dân số, Pháp lệnh Dân số năm 2003 (hiện còn đang có hiệu lực) Điều 10 cỉa Pháp lệnh đã được sửa đổi vào năm 2008 và quy định rằng: "mỗi cặp vợ chồng và cá nhân có quyền và trách nhiệm [ ] có một hoặc 2 con, các trường hợp ngoại lệ sẽ do Nhà nước quyết định.” Chính sách hiện tại vi phạm quyền của người phụ nữ và nam giới được tự do và tự chịu trách nhiệm

Trang 30

Nam, theo Hiến pháp, Pháp lệnh Dân số 2003, Luật Bình đẳng Giới và Nghị định Chính phủ số 114, phá thai lựa chọn giới tính là bất hợp pháp, và chính phủ cam kết hành động nhằm đưa mức tỷ suất giới khi sinh trở về bình thường [50], mặc dù tăng cường luật pháp gần như không giúp cải thiện được tình hình Tuy nhiên cũng có căng thẳng cố hữu giữa việc thực thi luật về ngăn cấm phá thai lựa chọn giới tính và ủng hộ quyền về sức khỏe sinh sản và tình dục của người phụ nữ

Trên toàn cầu, tảo hôn15 (lập gia đình trước 18 tuổi) xảy ra ở 1/3 số nữ thanh niên tại các nước đang phát triển và thu nhập trung bình.[50] Nếu đặt lên so sánh, tỷ lệ này ở Việt Nam chỉ thấp ở 12% trong tổng số các cặp vợ chồng bao gồm cả những người dưới 18 tuổi, điều này thường xảy ra ở nhóm dân tộc thiểu số Theo luật pháp Việt Nam, tuổi được phép lập gia đình là 18 đối với phụ nữ và 20 đối với nam giới.[51] Chính phủ cũng xác định các vùng hay xảy ra tình trạng tảo hôn nhưng do không có số liệu đáng tin cậy vì các gia đình có thể không báo cáo về tình trạng này Cũng tương tự như các nỗ lực giải quyết vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh và bạo hành giới, thay đổi hành vi có liên quan đến tảo hôn sẽ cần thời gian và nhiều giải pháp

2.2 Vai trò của viện trợ nước ngoài

UNFPA cũng ở trong hoàn cảnh tương tự với nhiều cơ quan LHQ và Viện trợ Phát triển Chính thức (ODA) khi Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp, với ngân sách của chu kỳ 8 là $33.1 triệu (bao gồm $22.5 triệu từ các nguồn thường xuyên)16 giảm xuống còn $12 triệu (nguồn thường xuyên) trong chu kỳ tới Trong chiến lược quốc gia và toàn cầu của UNFPA đã cân nhắc tới mức độ ưu tiên sẽ tập trung vào các nỗ lực vận động và đối thoại chính sách hơn là thực hiện dự án cụ thể

Viện trợ nước ngoài đóng một vai trò quan trọng ở Việt Nam từ cuối những năm 1970s, với các nguồn việc trợ lớn thay đổi theo thời gian Với nền kinh tế đang tăng trưởng ở mức thu thập thấp đến trung bình, các nhà tài trợ thay đổi cam kết viện trợ và Viện trợ Phát triển Chính thức (ODA) cũng đang giảm xuống từ nhiều nguồn Bản phân tích toàn diện về nguồn tài chính phát triển của Việt Nam công bố trong báo cáo chung của các tổ chức LHQ, phái đoàn liên minh châu Âu EU và Bộ Kế hoạch và Đầu tư.[52] Con số thống kê và thông tin chính đã miêu tả mức độ và sự thay đổi trong nguồn viện trợ như sau:

• Thu nhập công gần đạt gấp ba tính từ năm 2006, lên tới hơn 800 tỷ đồng tương đương với

US$39 triệu, nhưng giảm 9% trên các lĩnh vực cụ thể vào năm 2010

• Nợ Chính phủ tăng trung bình từ 30% một năm vào năm 2006, chủ yếu là từ trái phiếu trong

nước để hỗ trợ các gói kích thích tăng trưởng

• Hỗ trợ Phát triển Chính chức tăng nhanh chóng vào năm 2009, vì các ngân hàng phát triển tăng cho vay để giải quyết khủng hoảng kinh tế toàn cầu Các mức này được duy trì với lượng cho

vay hàng năm gần $4 tỷ đô la

quyết định thời điểm và số con muốn có, và cũng bất đồng với Công ước CEDAW (công ước loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (Điều 16e) và Chương trình Hành động của Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển năm 1994 (đoạn 7.3) Nguồn: UNFPA

15 Thường được nói đến như ‘lập gia đình khi còn trẻ con’ ở Việt Nam Cụm từ ‘Tảo hôn/kết hôn sớm’ được dùng tuân theo khái niệm quốc tế

16 Dữ liệu do Văn phòng UNFPA tại Việt Nam cung cấp

Trang 31

• Hỗ trợ phát triển chính chức (ODA) sẽ giảm gần vào các năm tới và sẽ giảm nhanh chóng vào

$97.4 triệu đô la và dự tính ngân sách song phương của năm 2015/2016 sẽ là $58.4 triệu; như vậy giảm tới 40% ngân sách hàng năm[54] Hỗ trợ Phát triển Chính chức ODA của Ngân hàng Phát triển Châu Á cho Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2013 cho thấy nhiều mức độ khác nhau nhưng giảm khá đều đặn từ năm 2011 trở đi (tham khảo Hình 2).[54] Số liệu của Ngân hàng Thế giới cũng cho thấy mức độ phối hợp tài chính của bốn trong số năm thể chế 17 giảm từ gần $3 tỷ xuống khoảng $1,3 tỷ vào những năm 2014

và 2015 (tham khảo Hình 3).[55]

17 Liên liệp Tài chính Quốc tế (IFC), Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA), Ngân hàng Quốc tế về Tái thiết và Phát triển (IBRD) và Cơ quan Bảo hiểm Đầu tư Đa phương (MIGA)

Trang 32

Hình 2: Hỗ trợ tài chính của ADB cho Việt Nam giai đoạn

2006-2013 Hình 3: Hỗ trợ tài chính của Ngân hang Thế giới cho Việt Nam giai đoạn 2009-2015

Trang 33

3 Các chiến lược chương trình và kế hoạch của UNFPA/ các tổ chức liên hợp quốc

3.1 Chiến lược của văn phòng UNFPA tại Việt Nam

Chương trình Quốc gia chu kỳ 8th của UNFPA tại Việt Nam giai đoạn 2012-2016 vận dụng kết hợp hai chu

kỳ Kế hoạch Chiến lược của UNFPA Toàn cầu giai đoạn 2008-2013 và 2014-2017 Kế hoạch Chiến lược hiện tại của UNFPA một lần nữa khẳng định định hướng chiến lược được vạch ra sau đánh giá giữa kỳ của kế hoạch 2008-2013 có bổ sung một số các thay đổi về tổ chức để đạt được kỳ vọng của tổ chức [56] Điều này bao gồm củng cố khung kết quả, mô hình hoạt động mới, và cải thiện phân bổ nguồn kinh phí

Dựa trên Kế hoạch Chiến lược giai đoạn 2008-2013, Văn phòng UNFPA tại Việt Nam, xây dựng kế hoạch trong nước vào năm 2012.[57] Văn phòng UNFPA áp dụng cách tiếp cận tam giác chiến lược ở các nội dung có lợi thế so sánh và phù hợp với Kế hoạch Một UN/Tài liệu Chương trình Chung 2012-2016 Cách tiếp cận tam giác chiến lược đã xác định định hướng chiến lược tổng thể của văn phòng UNFPA tại Việt Nam: nâng cao năng lực cho các đối tác thực hiện dự án; thu tạo bằng chứng; và thực hiện đối thoại chính sách dựa trên các bằng chứng cụ thể và năng lực chất lượng (tham khảo Hình 4).[57]

Hình 2: Định hướng Chiến lược của Văn phòng UNFPA năm 2012

Trong số những điều tối quan trọng đối với hoàn cảnh của Việt Nam, Kế hoạch Chiến lược của UNFPA đã xác định các cách thức phù hợp để có sự tham gia của các bên trong việc hoàn thành các ưu tiên của

Trang 34

quốc gia sở tại UNFPA cũng phân nhóm các quốc gia dựa vào nhu cầu [phát triển] và khả năng đối ứng

về tài chính Với nội dung này, Việt Nam được đánh giá là cho nhu cầu thấp và khả năng cao về đối ứng tài chính trong các chương trình Cách thức UNFPA kêu gọi dự tham gia của các quốc gia trong hoàn cảnh này (các ô màu hồng trong bảng dưới đây ở Hình 5), ví dụ như ở Việt Nam, nên tập trung vào vận động và đối thoại/tư vấn chính sách.[58]

Hình thức tham gia, theo hoàn cảnh

Nhu cầu

Trung bình thấp A/P, KM, CD, SD A/P, KM, CD, SD A/P, KM, CD A/P

A/P: Vận động và đối thoại/tư vấn chính sách

KM: Quản trị tri thức

CD: Xây dựng năng lực SD: Cung cấp dịch vụ

Hình 3: Phương thức UNFPA kêu gọi sự tham gia của các quốc gia theo từng mức độ

Sự ra đời của Kế hoạch Chiến lược hiện tại của UNFPA khiến cho Văn phòng UNFPA tại Việt Nam cần rà soát lại Chương trình Quốc gia nhằm đảm bảo sự liên kết Đây là một quá trình bình thường được thực hiện tại tất cả các văn phòng UNFPA tại các nước và văn phòng mỗi nước đều được chia sẻ các hướng dẫn và công cụ để rà soát lại kế hoạch quốc qua nhằm đảm bảo sự liên kết tới Kế hoạch Chiến lược Các thay đổi đáng kể trong phân bổ các nguồn lực tới các văn phòng quốc gia dựa vào sự ưu tiên của các phương thức tham gia của quốc gia sở tại sẽ bắt đầu có hiệu lực từ Chương trình Quốc gia chu kỳ 9, văn phòng đại diện tại quốc gia sở tại cũng đã thực hiện Đánh giá Giữa kỳ của chu kỳ hiện tại

Với sự phối hợp hướng về nội dung trọng tâm Quy về một mối/DAO đang được thực hiện khá thành công trong các tổ chức LHQ, Đánh giá Giữa kỳ của Chương trình Quốc gia Chu kỳ 8 đã chỉ ra nội dung cần đảm bảo sự phối hợp tạo ra các lợi ích cho các đối tác tại nước sở tại và nhằm tăng cường sự cân đối với

và giữa các đối tác phía nhà nước Việt Nam [25] Trong thời gian tới, tới bản chất nhạy cảm và hướng tới giải quyết các khoảng hổng bình đẳng, các nội dung cần được ưu tiên bao gồm hòa nhập và bảo trợ xã hội, phát triển năng lực, bình đẳng giới và duy trì tính bền vững Đánh giá Giữa kỳ cũng nêu bật tầm quan trọng của UNFPA nên tập trung vào lợi thế so sánh của tổ chức về dân số và phát triển, quyền sức khỏe sinh sản và tình dục chú trọng cụ thể vào các nhóm dễ bị tổn thương bao gồm thanh niên, và tình trạng mất cân bằng giới khi sinh Phương thức thực hiện cũng được xác định là phải thay đổi vừa để duy trì tính bền vững và tính hiệu quả vừa có một gói nội dung đa dạng hơn bao gồm cả vận động chính sách

Trang 35

(tập trung vào hoạch định chính sách dựa vào bằng chứng), vận động và kiến tạo dữ liệu và quản trị tri thức

3.2 Các kết quả mong đợi từ Chương trình Quốc gia

Như đã mô tả ở trên, Chương trình Quốc gia của UNFPA được xây dựng có liên kết với UNDP và UNICEF như một phần trong Tài liệu Chương trình Chung (Tài liệu Chương trình Chung) cho Việt Nam, giai đoạn 2012-2016 Trách nhiệm của văn phòng UNFPA nằm ở 3 Nội dung trọng tâm số của Kế hoạch Một LHQ (OP), có kèm theo kết quả và đầu ra của Kế hoạch Một LHQ

Cụ thể là Văn phòng UNFPA tại Việt Nam đóng góp 8 trong số 43 đầu ra của Kế hoạch Một LHQ (OP) tương đương với 8 kết quả của UNFPA như đã nêu trong bản Tài liệu Chương trình Chung (CCPD) [27], trong đó mỗi cán bộ chương trình chịu trách nhiệm về một kết quả [57] Kết quả là cuộc đánh giá này cho là Chương trình Quốc gia của UNFPA là không điển hình vì văn phòng UNFPA tổng kết hoạt động của mình thông qua lăng kính của bản Kế hoạch Một LHQ chứ không phải chỉ thông quan lăng kính của Kế hoạch Chiến lược của UNFPA Tham khảo Kế hoạch Một LHQ trên trang web của UNFPA hoặc

http://vietnam.unfpa.org/public/lang/en/pid/5550

Kết quả và đầu ra của Kế hoạch Một LHQ được phiên giải thành các Kết quả cụ thể như sau:

Bảng 3: Kết quả mong đợi từ Chương trình Quốc gia của UNFPA

Nội dung trọng tâm số 1 của Kế hoạch Một LHQ: phát triển toàn diện, bình đẳng và bền vững

Kết quả của Kế hoạch Một LHQ: 1.1 Các cơ quan cấp trung ương xây dựng và giám sát các chính sách phát triển kinh tế - xã hội dựa vào các bằng chứng và lấy con người làm trọng tâm để đảm bảo Việt Nam phát triển một cách chất lượng là quốc gia có thu nhập ở mức trung bình

• Kết quả 1 trong Tài liệu Chương trình Chung: Sẵn có số liệu chất lượng cao, chia theo nhóm

tuổi, giới tính và các yếu tố nhân khẩu học, và tăng cường năng lực của Bộ Kế hoạch và Đầu

tư/Tổng Cục Thống kê và các Bộ có liên quan để sử dụng các số liệu nói trên trong lập kế hoạch, giám sát và đánh giá các chính sách và chiến lược phát triển xã hội và dân số, ở cấp trung ương

và tuyến tỉnh trên toàn quốc

Nội dung trọng tâm số 2 của Kế hoạch Một LHQ: tiếp cận được tới các dịch vụ bảo trợ xã hội và dịch vụ thiết yếu, có chất lượng

Kết quả của Kế hoạch Một LHQ: 2.1, 2.2, 2.3 và 2.4

• Kết quả 2.1: Có được một chương trình bảo trợ xã hội Quốc gia hiệu quả hơn tăng hỗ trợ chất lượng và tiếp cận bình đẳng đối với hầu hết các nhóm dân số bị thiệt thòi và dễ bị tổn thương;

• Kết quả 2.2: Tăng cường quản lý hiệu quả và chất lượng một hệ thống y tế quốc gia toàn diện, bao gồm bảo vệ sức khỏe và nâng cao sức khỏe, chú trọng vào việc đảm bảo tiếp cận bình đẳng hơn cho hầu hết các nhóm dân bị thiệt thòi và dễ bị tổn thương;

• Kết quả 2.3: Tăng cường quản lý hiệu quả và chất lượng một hệ thống giáo dục và đào tạo, và

Trang 36

tăng cường phổ cập tiểu học và trung học cơ sở và giáo dục thường xuyên, đặc biệt cho hầu hết các nhóm dân bị thiệt thòi và dễ bị tổn thương;

• Kết quả 2.4: Các cơ quan trung ương và địa phương, cùng hợp tác với các cộng đồng, chủ động hơn trong việc giải quyết bất bình đẳng thông qua việc thực hiện và giám sát luật, chính sách và các chương trình nhằm tăng cường bình đẳng giới và tăng quyền năng cho phụ nữ, và ứng phó hiệu quả và bền vững với HIV, giảm phân biệt đối xử và kỳ thị

• Kết quả 2 trong Tài liệu Chương trình Chung: Có được các bằng chứng về các khoảng cách giữa chính sách – thực hiện trong hệ thống bảo trợ xã hội cho người già, thanh niên, di cư và dân tộc thiểu số và tăng cường năng lực của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Bộ có liên quan để sử dụng các bằng chứng nêu trên trong các chiến lược và chính sách quốc gia và địa phương phù hợp

• Kết quả 3 trong Tài liệu Chương trình Chung: Năng lực của Bộ Y tế được nâng cáo để cải thiện

hệ thống y tế, bao gồm cả một Chương trình Quản lý Thông tin Y tế toàn diện và chiến lược

nguồn nhân lực dựa vào năng lực hướng đặc biệt chú trọng tới nhóm dân tộc thiểu số

• Kết quả 4 trong Tài liệu Chương trình Chung: Các lựa chọn chính sách dựa trên bằng chứng sẵn

có để nhân rộng trên toàn quốc nhằm tăng tính thiếp cận toàn cầu tới sức khỏe sinh sản và tình dục, cụ thể cho nhóm dân số dễ bị tổn thương, bao gồm thanh niên và dân tộc thiểu số

• Kết quả 5 trong Tài liệu Chương trình Chung: Các lựa chọn chính sách dựa trên bằng chứng sẵn

có cho các cơ quan chức năng để cung cấp các dịch vụ sức khỏe sinh sản và tình dục, bao gồm phòng tránh HIV và dịch vụ cho người hành nghề mại dâm

• Kết quả 6 trong Tài liệu Chương trình Chung: Xây dựng kế hoạch ứng phó của Quốc gia để giải quyết mất cân bằng giới khi sinh, áp dụng cách tiếp cận nhạy cảm về văn hóa

• Kết quả 7 trong Tài liệu Chương trình Chung: Xây dựng gói dịch vụ toàn diện tối thiểu về phòng tránh bạo lực giới, chăm sóc và điều trị, bảo vệ và dịch vụ hỗ trợ dựa trên các bằng chứng, kinh nghiệm hay và bài học của các mô hình thí điểm

Nội dung trọng tâm số 3 của Kế hoạch Một LHQ: quản trị và có sự tham gia

Kết quả của Kế hoạch Một LHQ: 3.1 Các cơ quan có thẩm quyền có thể xây dựng luật và giám sát sựt hực hiện của các cơ quan nhà nước và đại diện cho các nguyện vọng của người dân Việt Nam, đặc biệt là của phụ nữ, dân tộc thiểu số và các nhóm dân số dễ bị tổn thương và bị thiệt thòi

• Kết quả 8 trong Tài liệu Chương trình Chung: Các cơ quan có thẩm quyền tuyến trung ương và địa phương được hỗ trợ ở tuyến trung ương và địa phương, để xây dựng các chính sách và

chiến lược dựa vào bằng chứng trong các nội dung về dân số, sức khỏe sinh sản và giới, và quản

lý việc thực hiện

3.3 Các can thiệp cụ thể

Trang 37

Chương trình Quốc gia gồm các dự án, được liệt kê dưới đây, nhằm hỗ trợ hoàn thành kết quả và đầu ra của Kế hoạch Một LHQ và vì thế mục đích bao trùm là nhằm hỗ trợ Chính phủ Việt Nam hoàn thành Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ UNFPA thực hiện các can thiệp ở tất cả các lĩnh vực sau

Bảng 4: Các cấu phần của Chương trình Quốc gia

Kết quả trong Tài liệu

Chương trình Chung

Dự án

Nội dung trọng tâm số 1 của Kế hoạch Một LHQ: phát triển toàn diện, bình đẳng và bền vững

Kết quả 1 trong Tài liệu

Chương trình Chung

Củng cố thu thập số liệu trên toàn quốc

Nội dung trọng tâm số 2 của Kế hoạch Một LHQ: tiếp cận được tới các dịch vụ bảo trợ xã hội và dịch vụ thiết yếu, có chất lượng

Kết quả 2 trong Tài liệu

Chương trình Chung

Can thiệp Chăm sóc cho người già

Kết quả 3 trong Tài liệu

Chương trình Chung

Can thiệp tăng cường hệ thống y tế

Kết quả 4 trong Tài liệu

Tăng cường năng lực trên toàn quốc để đáp ứng nhu cầu của người có HIV và AIDS

Kết quả 6 trong Tài liệu

Chương trình Chung

Can thiệp về mất cân bằng giới khi sinh

Kết quả 7 trong Tài liệu

Chương trình Chung

Tăng cường năng lực trên toàn quốc để đáp ứng nhu cầu của người bị bạo hành gia đình

Nội dung trọng tâm số 3 của Kế hoạch Một LHQ: quản trị và có sự tham gia

Kết quả 8 trong Tài liệu

Chương trình Chung

Tăng cường năng lực trên toàn quốc về luật pháp và chính sách

3.4 Đối tượng đích mong đợi

Các dự án hoặc các lĩnh vực của Chương trình Quốc gia thường có các nhóm đích rõ ràng, ví dụ như vị thành niên, dân tộc thiểu số, phụ nữ bị ảnh hưởng bởi bạo lực gia đình, người cao tuổi và song hành với các đối tượng này là những nhóm người cung cấp dịch vụ có liên hệ trực tiếp với họ như người cung cấp dịch vụ tư nhân Thông thường, các quản lý chương trình và các nhà hoạch định chính sách cấp trung

Trang 38

ương cũng được xác định là các nhóm đối tượng đích mong đợi Các nguồn dữ liệu cũng bao gồm các văn bản, bằng chứng rõ ràng về số lượng đối tượng đích của Chương trình Quốc gia hoặc số lượng đối tượng dự án tiếp cận được theo từng vùng địa lý Tuy nhiên, theo như các tài liệu nhóm đánh giá được cung cấp, các hoạt động chương trình được thực hiện tại 5 trong số 63 tỉnh thành của Việt Nam Năm tỉnh thành này ở cả miền Bắc, miền Trung và miền Nam Ngoài ra có thêm tám hoạt động chương trình được tập trung hỗ trợ tuyến trung ương, về lâu dài có tiềm năng tiếp cận rộng rãi trên toàn quốc Tham khảo Phụ lục về bản đồ các can thiệp của UNFPA

3.5 Nguồn lực

Theo báo cáo Đánh giá Giữa kỳ của Chương trình Quốc gia chu kỳ 8, từ số số liệu của chương trình cho thấy tổng số 33.100.000 đô la Mỹ được cấp cho chu kỳ năm năm, bao gồm $22,5 triệu đô la là từ nguồn thường xuyên, và $10.6 triệu đô la là từ các nguồn khác Tuy nhiên, nguồn huy động không đạt được theo như kế hoạch ban đầu mà ít hơn so với dự định là 13 triệu đô la [26] Dữ liệu ATLAS cho thấy có tổng số 17.843.653 đã được phân bổ (giải ngân) trong các năm từ 2012-2015 cho các dự án (Hình 6-9) Ngân sách cho các năm từ 2012-2014 (có nghĩa là không bao gồm năm 2015) là 13.257.260 đô la, và đã chi tiêu hết 12.956.863 đô la tức là giải ngân được 98% Các chi tiêu vẫn duy trì nhất quán ở mức gần với ngân sách tối đa cho thấy mức độ giải ngân/khả năng thực hiện hoạt động cao là nhờ Văn phòng UNFPA tại Việt Nam và các đối tác của dự án Bảng ở Phụ lục thể hiện tỷ lệ thực hiện dự án theo các năm Ngân sách cho năm thứ nhất của Chương trình Quốc gia lúc đầu đặt là 4.5 triệu đô la từ nguồn thường xuyên, nhưng trong năm 2012 lại thấy có sự chậm trễ trong khởi đầu các hoạt động chương trình (có nghĩa là tận nửa sau của năm mới thực hiện) do một số thủ tục khởi động dự án phức tạp hơn dự kiến bao gồm phát triển, góp ý và hoàn thiện các Kế hoạch Hoạt động Năm cùng với các đối tác thực hiện dự án Điều này dẫn tới việc văn phòng UNFPA phải trả lại văn phòng UNFPA trụ sở chính tới 50% mức trần chương trình hàng năm.[59, 60]

Hình 4: Tổng quan về Ngân sách và Giải ngân của Văn phòng UNFPA tại Việt Nam, giai đoạn 2012-2015

Ngân sách $2,353,235 $5,587,591 $5,316,434 $4,586,393Giải ngân $2,286,619 $5,480,610 $5,189,635

Trang 39

Hình 5: Giải ngân của Văn phòng UNFPA tại Việt Nam trong năm 2014 theo đầu ra

Đầu ra 10: Bạo hành Giới và các thực hành có hại Đầu ra 12: Số liệu về Dân số và Phát triển

Đầu ra 14: Các chính sách dựa trên quyền Đầu ra 15: Số liệu để Theo dõi và đánh giá các chính sách

Trang 40

Hình 6: Ngân sách của Chương trình Quốc gia theo nội dung chương trình

Hình 7: So sánh Ngân sách giữa các nội dung trong Chương trình Quốc gia, giai đoạn 2012-2015

3.6 Mô hình logic/lý thuyết thay đổi

Vào thời điểm đánh giá, Chương trình Quốc gia không xây dựng một khung lý thuyết thay đổi Tuy nhiên, trong các nội dung cụ thể của chương trình có xây dựng các nguyên tắc và khung khái niệm, ví dụ đối với nội dung về thanh niên, bạo hành giới, Sức khỏe sinh sản và tình dục, mại dâm , v.v Ngôn ngữ và ý tưởng của “các lý thuyết thay đổi” khá là mới đối với UNFPA mà trước đó đã đầu tư đáng kể vào các

Dân số và Phát triển Giới

Hỗ trợ hành chính/chương trình

0500000

1000000

1500000

2000000

2500000

Dân số và Phát triển Giới Sức khỏe sinh sản

So sánh Ngân sách giữa các Nội dung trong Chương

trình Quốc gia, giai đoạn 2012-2015

Ngày đăng: 17/04/2018, 03:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w