TÓM TẮT TỔNG QUAN Dự án “Tăng cường tiếp cận thị trường và khuyến khích phụ nữ Raglai làm chủ kinh tế tại tỉnh Ninh Thuận” dự án PWEL Ninh Thuận, mã số RVNA93, được tài trợ bởi tổ chức
Trang 1BÁO CÁO KẾT QUẢ
ĐÁNH GIÁ CUỐI KỲ DỰ ÁN “TĂNG CƯỜNG TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG VÀ KHUYẾN KHÍCH PHỤ NỮ RAGLAI LÀM CHỦ
KINH TẾ TẠI TỈNH NINH THUẬN”
Hà Nội, tháng 4 năm 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Nhóm đánh giá xin chân thành cảm ơn các cán bộ tổ chức Oxfam, đặc biệt là ông Mai Thế Long, cán bộ Chương trình Sinh kế, về sự hợp tác và các hỗ trợ về chuyên môn, tổ chức và tạo điều kiện thuận lợi để nhóm hoàn thành cuộc đánh giá này
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự hợp tác và giúp đỡ của Ban điều hành dự án “Tăng
cường tiếp cận thị trường và khuyến khích phụ nữ Raglai làm chủ kinh tế tại tỉnh Ninh Thuận” (dự án PWEL Ninh Thuận, mã số RVNA93) và cán bộ các ban ngành, đoàn thể liên
quan tại hai huyện Bác Ái và Thuận Bắc trong quá trình triển khai đánh giá tại thực địa và đóng góp ý kiến cho báo cáo kết quả đánh giá
Đặc biệt, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các cán bộ Ban quản lý dự án, thành viên các nhóm sở thích và người dân ba xã Phước Tiến, Phước Tân và Lợi Hải về sự hợp tác nhiệt tình trong quá trình làm việc tại thực địa để thu thập thông tin cho cuộc đánh giá này
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
Danh mục bảng, hộp và hình 5
TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT 6
TÓM TẮT TỔNG QUAN 7
I GIỚI THIỆU 10
I.1 Tóm tắt dự án 10
I.2 Mục tiêu của cuộc đánh giá 14
I.3 Nội dung đánh giá 14
I.4 Phương pháp đánh giá 15
I.5 Triển khai cuộc đánh giá 15
I.6 Một số hạn chế của cuộc đánh giá 15
II NHỮNG PHÁT HIỆN CHÍNH 16
II.1 Những phát hiện chung 16
II.2 Những phát hiện riêng 21
Đóng góp của dự án vào phát triển KT-XH của địa phương 21
Những hoạt động dự án được đánh giá cao nhất 23
Một số hoạt động dự án chưa đạt kết quả mong muốn 26
II.3 Tính phù hợp của dự án 26
Việc hướng nhóm đối tượng là đúng đắn 26
Phương pháp tiếp cận khoa học và hợp lý 26
Tuy nhiên cần phân biệt và kết hợp 2 nhóm đối tượng hưởng lợi chính 27
II.4 Hiệu quả thực hiện dự án 27
Đã có thay đổi về sản lượng và thu nhập của bà con nhưng vẫn còn khiêm tốn 27
II.5 Tính công bằng của dự án 29
Đảm bảo sự bình đẳng 29
Ít thay đổi liên quan đến ra quyết định 29
II.6 Tác động của dự án 30
Trang 4II.7 Tính bền vững và khả năng nhân rộng một số hoạt động của dự án 32
Duy trì các nhóm phụ nữ như hiện nay với nòng cốt là các thành viên tích cực 32
Kết quả vận động chính sách của Oxfam 32
II.8 Quản lý dự án và quan hệ đối tác 33
Về tổ chức quản lý dự án 33
Về quan hệ đối tác giữa Oxfam và địa phương 34
II.9 Những hạn chế/khó khăn của dự án 34
III MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ KHUYẾN NGHỊ 35
III.1 Bài học kinh nghiệm 35
III.2 Khuyến nghị chung 36
III.3 Khuyến nghị cho huyện Bác Ái 37
III.4 Khuyến nghị cho huyện Thuận Bắc 37
III.5 Khuyến nghị cho Oxfam 37
IV KẾT LUẬN 37
V PHỤ LỤC 38
1 Câu chuyện điển hình 38
2 Điều khoản tham chiếu (TOR) 46
3 Kế hoạch và lịch đánh giá hiện trường từ ngày 31/3/2015 đến 3/4/2015 50
4 Danh sách đối tượng phỏng vấn và thảo luận nhóm 54
5 Các chỉ số theo dõi và đánh giá của dự án RVNA93 58
6 Tổng hợp đánh giá chi tiết kết quả dự án 63
VI TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Trang 5Danh mục bảng, hộp và hình
Bảng 1.1 Đối tượng hưởng lợi của dự án 14
Bảng 2.1 Cơ cấu chăn nuôi heo của các hộ tham gia dự án trong các năm gần đây ở hai huyện Bác Ái và Thuận Bắc 20
Bảng 2.2 Bà con tự đánh giá, cho điểm các hoạt động của dự án 25
Hộp 2.1 Kết quả thực hiện Đầu ra 1.1 16
Hộp 2.2 “Nếu em làm được, thì ai cũng có thể làm được!” 16
Hộp 2.3 Kết quả thực hiện Đầu ra 1.2 17
Hộp 2.4 Kết quả thực hiện Đầu ra 2.1 17
Hộp 2.5 Kết quả thực hiện Đầu ra 2.2 18
Hộp 2.6 Thực hiện Kết quả 3 19
Hộp 2.7 Giấc mơ Chapi 30
Hình 2.1 So sánh mức độ đầu tư của Oxfam với đầu tư của Nhà nước 22
Hình 2.2 Các giải pháp xử lý heo bệnh của bà con Raglai 23
Trang 6GALS/WEMAN Hệ thống học hỏi hành động về giới của Oxfam
TD&ĐG Theo dõi và đánh giá
Trang 7TÓM TẮT TỔNG QUAN
Dự án “Tăng cường tiếp cận thị trường và khuyến khích phụ nữ Raglai làm chủ kinh tế tại
tỉnh Ninh Thuận” (dự án PWEL Ninh Thuận, mã số RVNA93), được tài trợ bởi tổ chức
Oxfam trong giai đoạn 2011 - 2015 với mục tiêu “Nâng cao vị thế kinh tế và xã hội cho 3.000
phụ nữ dân tộc Raglai tại tỉnh Ninh Thuận” cùng 3 kết quả trung hạn (Kết quả 1: Thu nhập
của 3000 phụ nữ Raglai và gia đình họ (1.000 người hưởng lợi trực tiếp và 2.000 người hưởng lợi gián tiếp) được tăng lên; Kết quả 2: Vị thế và vai trò của phụ nữ Raglai trong gia đình và cộng đồng của họ được cải thiện; và Kết quả 3: Các kế hoạch và chương trình của Chính phủ phản ánh các biện pháp và hành động cụ thể nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp và người sản xuất quy mô nhỏ) Trải qua 4 năm thực hiện, tổ chức Oxfam và đối tác địa phương ở Ninh Thuận
tổ chức đánh giá dự án1 để: i) Đo lường những thành tựu/hạn chế và những thay đổi trong tương quan với các mục tiêu/ kết quả đề ra, đánh giá quan hệ đối tác giữa các đối tác và Oxfam và năng lực của đối tác; ii) Tài liệu hóa các thực hành tốt/chưa tốt và các bài học rút ra
từ dự án để phụ nữ dân tộc Raglai áp dụng tốt hơn và để phục vụ vận động chính sách; và iii) Đưa ra các khuyến nghị cụ thể để đóng góp cho các dự án tương tự trong tương lai hoặc để cải thiện vai trò lãnh đạo và khả năng tiếp cận thị trường của phụ nữ Raglai
Một số phát hiện chính từ cuộc đánh giá:
1 Dựa trên các kết quả thực hiện và tác động của dự án đến cộng đồng người Raglai nói chung và phụ nữ Raglai nói riêng, cũng như đến các đối tác địa phương, có thể kết luận
dự án RVNA93 nhìn chung đã đạt các mục tiêu đề ra Trong 3 kết quả mong đợi của dự án
thì kết quả 1 đạt tốt nhất, sau đó là kết quả 2 và kết quả 3 Các chỉ tiêu quan trọng như số nhóm sở thích được thành lập và hoạt động, số người hưởng lợi, thu nhập của bà con và số lượng đàn heo tăng, năng lực sản xuất và tiếp cận thị trường của Hội Phụ nữ (HPN), thành viên các nhóm sở thích được cải thiện v.v đều đạt Tuy nhiên, phạm vi hoạt động hẹp (chỉ bao gồm 2/9 xã ở huyện Bác Ái và 1/6 xã ở huyện Thuận Bắc), cùng việc điều chỉnh thu hẹp lĩnh vực hỗ trợ từ một số lĩnh vực sản xuất chính của đồng bào Raglai (trồng lúa, trồng bắp, nuôi bò, nuôi heo đen) xuống duy nhất phát triển chuỗi sản phẩm heo đen từ năm 2013 đã khiến một số chỉ tiêu không đạt và tác động của dự án bị hạn chế so với
mong đợi ban đầu
2 Dự án đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ giúp phụ nữ Raglai cải thiện được vị thế
và vai trò của họ trong gia đình và cộng đồng Đã thành lập/củng cố được 22 nhóm sở
thích do phụ nữ làm chủ với trên 330 thành viên, đa số là phụ nữ Raglai nghèo Năng lực
về sản xuất, thị trường và kinh doanh của phụ nữ Raglai trong chăn nuôi heo đen có áp dụng khoa học kỹ thuật (KHKT), tham gia bán hàng ở chợ phiên, điều hành sinh hoạt nhóm, v.v đã được cải thiện đáng kể Đóng góp vào thu nhập, cùng tiếng nói của người
phụ nữ trong gia đình đã tăng lên
1
Nhóm tư vấn đánh giá dự án từ Trung tâm Nghiên cứu chính sách phát triển bền vững (CSDP) gồm: ThS Vũ Ngọc Anh, trưởng nhóm, cùng các thành viên ThS Hoàng Xuân Trường, TS Đào Hoàng Mai và ThS Dương Thành Trung
Trang 83 Dự án rất phù hợp về phương pháp tiếp cận và đối tượng hưởng lợi Tuy vẫn còn một số
hạn chế (như một số mục tiêu và chỉ tiêu đặt ra khá tham vọng, thời gian thực hiện tương đối ngắn, kinh phí và qui mô triển khai hạn hẹp, mô hình quản lý dự án chưa thống
nhất/đồng bộ, v.v.), nhưng dự án RVNA93 đã giới thiệu với đối tác địa phương và quốc
gia một phương thức tiếp cận sáng tạo và hiệu quả cho giảm nghèo và cải thiện vị trí xã hội đối với đối tượng phụ nữ Raglai nói riêng và đồng bào dân tộc thiểu số nói chung thông qua hướng dẫn họ thực hành sản xuất và tiếp cận thị trường bằng sản phẩm heo đen
4 Tính bình đẳng của dự án nhìn chung được đảm bảo với phụ nữ dân tộc Raglai là đối
tượng hưởng lợi chính Tuy nhiên, việc ưu tiên đối tượng tham gia các hoạt động dự án là
phụ nữ, trong khi đàn ông ít tham gia, có thể dẫn đến tình trạng triển khai về gia đình gặp nhiều khó khăn do đàn ông là lao động chính Trong cộng đồng Raglai, đàn ông cũng nên được coi là một đối tượng tuyên truyền chính - họ cần được quan tâm đúng mức hơn để có thể vừa tích cực tham gia làm kinh tế gia đình, vừa giúp phụ nữ có thời gian nghỉ ngơi và học tập Ngoài ra, dự án cần quan tâm hơn đến nhóm thanh niên Raglai từ 15 đến 35 tuổi
vì họ là những người có khả năng nắm bắt tốt các kiến thức KHKT và thị trường
5 Sự đóng góp của dự án Oxfam vào sự phát triển KT-XH của địa phương nói chung là khá
khiêm tốn so với những đóng góp từ các chương trình, chính sách của Nhà nước, cũng như những nỗ lực của chính quyền và người dân địa phương Tuy nhiên, phương pháp
tiếp cận giảm nghèo của Oxfam được cho là hiệu quả hơn so với các chương trình/dự án giảm nghèo của nhà nước ở tính khoa học, thực tế, có sự tham gia rộng rãi, lấy người hưởng lợi và cộng đồng làm trung tâm Việc lập kế hoạch được làm từ dưới lên, có sự tham gia đã đáp ứng đúng nhu cầu của người dân và phát huy được thế mạnh của địa phương Phương pháp đào tạo theo hình thức “cầm tay chỉ việc” đã giúp chị em phụ nữ Raglai nắm được các kiến thức cần thiết để áp dụng vào sản xuất và tiếp cận thị trường
6 Những hoạt động dự án được đánh giá cao nhất gồm: i) các hoạt động nâng cao năng lực
cho thành viên và đối tác (tập huấn chuyên môn, sinh hoạt nhóm sở thích, hỗ trợ phụ nữ Raglai tham gia các phiên chợ/hội chợ, tham quan học tập, hỗ trợ thành viên các nhóm tham gia lập kế hoạch sản xuất nhóm theo phương pháp Hệ thống học hỏi hành động về giới (GALS/WEMAN)); ii) tổ chức các cuộc đối thoại chính sách phát triển kinh tế địa phương và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa/HTX/kinh tế tổ nhóm giữa thành viên với đại diện chính quyền địa phương; iii) cung cấp hỗ trợ “phần cứng” cho các hộ dân (heo giống, vật tư làm chuồng, xây dựng một số mô hình sản xuất và kinh doanh cho một số thành viên tích cực của DA), v.v Bên cạnh đó, vẫn còn một số hoạt động được triển khai nhưng chưa mang lại kết quả mong muốn: các hoạt động thuộc Hợp phần 4 (Hỗ trợ trưởng, phó nhóm sở thích đi liên hệ với các chủ lò mổ, siêu thị, cửa hàng và nhà hàng để quảng bá sản phẩm của nhóm; Hỗ trợ trưởng, phó nhóm, thành viên nhóm sở thích kinh doanh giỏi tham dự hội thảo ngành hàng liên quan, diễn đàn về sản xuất kinh doanh cấp tỉnh/huyện; Hội thảo "Tìm đầu ra bền vững cho sản phẩm heo đen"; Hỗ trợ giới thiệu, quảng bá sản phẩm địa phương đến các siêu thị và nhà hàng ) không thực hiện được do thực trạng phát triển chăn nuôi heo đen còn hạn chế; một số mô hình (ví dụ: trồng rau, nuôi heo nhốt chuồng, nuôi giun quế ở xã Phước Tân) không thành công do tập quán chăn
Trang 9nuôi cũ theo kiểu tự nhiên vẫn còn hằn sâu trong ý thức của bà con Raglai và do điều kiện
tự nhiên khó khăn
7 Dự án đã có tác động rất tích cực đến các đối tượng hưởng lợi Đầu tiên là thay đổi tư
duy và nhận thức về sản xuất áp dụng tiến bộ KHKT và tiếp cận thị trường của người dân Raglai nói chung và phụ nữ Raglai nói riêng Tất cả đối tác và người dân được phỏng vấn
đều coi đây là thay đổi quan trọng nhất Qua được tập huấn, hướng dẫn và thực hành theo
kiểu “cầm tay chỉ việc”, nhiều phụ nữ Raglai đã biết tính toán chi phí sản xuất, hỏi giá hàng và mặc cả khi đi chợ, sử dụng cân khi mua bán; đồng bào Raglai không còn nuôi heo đen như một thứ “của để dành” mà đã biết tính toán chi phí và lợi nhuận, biết nuôi nhốt, ủ cám, trồng rau, chuẩn bị thức ăn, trích thuốc, thiến lợn, kêu cán bộ thú y khi thấy gia súc
bị bệnh, v.v Đi chợ bán hàng đã trở thành một thói quen mới đối với nhiều thành viên các nhóm sở thích và gia đình họ Thứ hai, phụ nữ Raglai cũng trở nên mạnh dạn hơn khi tham gia các hoạt động xã hội/cộng đồng (tham gia sinh hoạt nhóm, đi tập huấn, đi họp thôn ), nói lên ý kiến/suy nghĩ của mình Thứ ba, con heo đen Ninh Thuận đã bước đầu được quảng bá ra thị trường trong và ngoài tỉnh một cách khá bài bản - tại Bác Ái đã có điểm thu gom có hợp đồng thu mua heo với các nhóm và bán heo cho thị trường Đà Lạt; tại Thuận Bắc đã có lò mổ có hợp đồng mua bán heo với các nhóm và bán heo cho các thành phố lớn như Vũng Tàu, Nha Trang Tiếp đến là thay đổi trong phong cách làm việc của cán bộ đối tác như năng lực xử lý công việc tăng lên, làm việc/lập kế hoạch có sự tham gia, biết lắng nghe ý kiến của các bên liên quan, v.v
8 Những hoạt động có thể duy trì sau khi dự án kết thúc: i) thành viên các nhóm sở thích tin
rằng họ vẫn tiếp tục sinh hoạt nhóm, đi chợ, nuôi heo đen, đóng góp vào quỹ nhóm để cho nhau vay quay vòng; ii) đối tác địa phương đề cập lồng ghép các yếu tố tích cực của dự án vào các chính sách hiện nay của Nhà nước (như Chương trình 30a hỗ trợ các hộ khá làm điểm về tiếp cận thị trường; DA Tam Nông hỗ trợ các nhóm nuôi bò, nuôi heo, trồng chuối, v.v.); iii) đội ngũ cán bộ địa phương và người dân đã được dự án tập huấn và học được phương pháp làm việc của Oxfam (ví dụ: lập kế hoạch có sự tham gia, cách giao tiếp, tổ chức đối thoại chính sách, v.v.) được trông đợi sẽ áp dụng trong thực tế công việc của mình
Một số khuyến nghị:
1 Đối tượng hưởng lợi của dự án là phụ nữ và cộng đồng dân tộc Raglai thuộc nhóm nghèo nhất và khó khăn nhất ở Việt Nam, đang bị nhiều tập tục truyền thống cản trở, điều kiện sản xuất khó khăn, khả năng áp dụng KHKT rất hạn chế , do đó, việc hỗ trợ họ cần được thực hiện một cách lâu dài, bài bản với sự vào cuộc của tất cả các bên liên quan (chính quyền, các tổ chức quốc tế, các tổ chức địa phương, doanh nghiệp, chuyên gia và người dân) UBND huyện và các ban ngành địa phương cần chủ động vào cuộc, không nên coi đây là công việc của dự án
2 Khi làm việc với cộng đồng Raglai, một cộng đồng mẫu hệ, không nên chỉ tập trung vào đối tượng phụ nữ, mà cần quan tâm cả đến các phụ nữ có tuổi, thanh niên và nam giới Raglai Có như vậy mới huy động được đầy đủ lực lượng và mang lại tác động đến tất cả các đối tượng cần thiết
Trang 103 Đối tác địa phương ở 2 huyện Bác Ái và Thuận Bắc xem xét phối hợp sử dụng nguồn vồn
từ các CT/DA khác ở địa phương (DA Tam Nông, CT Nông thôn mới, CT 30a, Chương trình giảm nghèo giai đoạn 2016-2020 v.v.) để tiếp tục duy trì và nâng cấp hoạt động của các nhóm nuôi heo đen (ví dụ: bổ sung heo giống, vốn vay quay vòng cho các nhóm để phòng ngừa rủi ro và duy trì đàn heo, nâng cấp chất lượng hệ thống cán bộ thú y tuyến xã, xây dựng cán bộ thú y tuyến thôn; tiếp tục hỗ trợ các hộ sản xuất giỏi tại 2 huyện, đặc biệt
là người Raglai, tham gia hội chợ thương mại cấp tỉnh/huyện.)
4 Oxfam nên tổ chức tài liệu hóa và chia sẻ các bài học kinh nghiệm thực hiện dự ánA RVNA93 ở cấp địa phương (tỉnh Ninh Thuận), cũng như cấp quốc gia
I GIỚI THIỆU
I.1 Tóm tắt dự án
Dự án “Tăng cường tiếp cận thị trường và khuyến khích phụ nữ Raglai làm chủ kinh tế” (dự
án PWEL Ninh Thuận, mã số RVNA93), được tài trợ bởi tổ chức Oxfam trong giai đoạn 2011
- 2015 với tổng ngân sách hỗ trợ trực tiếp cho địa phương là 260.000 Bảng Anh (tương đương 8.580.000.000 đồng) Dự án được xây dựng nhằm phát triển vai trò làm chủ kinh tế của phụ
nữ Raglai - một cộng đồng theo chế độ mẫu hệ ở ba xã: Phước Tân và Phước Tiến (huyện Bác Ái) và Lợi Hải (huyện Thuận Bắc), tỉnh Ninh Thuận, thông qua hỗ trợ sản xuất hàng hóa và định hướng kinh doanh, tăng cường các cơ hội tham gia vào thị trường và đóng vai trò chủ động trong các hoạt động kinh tế của gia đình
Bác Ái là huyện nghèo nhất nằm ở cực bắc tỉnh Ninh Thuận Đây là địa bàn có diện tích lớn
và là nơi sinh sống chủ yếu của đồng bào dân tộc Raglai Dân số của huyện là 24.350 người (50,15% nam và 49,85% nữ), khoảng 94% là người dân tộc Raglai Tỷ lệ hộ nghèo năm 2009
là 54% và huyện Bác Ái nằm trong danh sách 62 huyện nghèo nhất Việt Nam và được hỗ trợ đặc biệt theo Nghị quyết 30a của Chính phủ Huyện Bác Ái có ít dân cư, nhưng có diện tích đất nông nghiệp khá lớn (92.200 ha), trong đó 10.000 ha được dùng cho trồng trọt (trung bình 0,42 ha/người) Tuy nhiên, đất đai ở đây kém màu mỡ và chỉ khoảng 20-25% số diện tích này được cung cấp nước tưới đầy đủ Trong những năm gần đây một phần đáng kể diện tích đất canh tác đã được xây dựng hệ thống thủy lợi và nhà máy thủy điện
Huyện Thuận Bắc nằm cách thành phố Phan Rang-Tháp Chàm 10km về phía bắc Tổng diện
tích tự nhiên 31.924 ha, dân số 37.850 người (50,2% nam và 49,8% nữ), 90% dân số sống dựa vào sản xuất nông nghiệp Tương tự như Bác Ái, phần lớn dân số của huyện là người dân tộc Raglai Một số xã như Phước Kháng, Phước Chiến có gần 100% là người Raglai, các xã khác
là Công Hải, Lợi Hải và Bắc Sơn, tuy có ít người Raglai hơn nhưng họ vẫn là nhóm đông nhất Đất nông nghiệp bình quân theo đầu người của huyện chỉ bằng khoảng một nửa mức
Trang 11bình quân so với Bác Ái và hầu như không thể mở rộng Tuy nhiên, huyện Thuận Bắc lại có
hệ thống thủy lợi rất tốt, có thể cung cấp nước cho 70% diện tích đất canh tác lúa nước
Cả hai huyện Thuận Bắc và Bác Ái đều có địa hình tự nhiên thích hợp cho chăn nuôi gia súc, trồng trọt và trồng rừng Diện tích đất rừng khá lớn, chiếm bốn phần năm diện tích huyện Bác
Ái và một nửa diện tích huyện Thuận Bắc Tuy nhiên, điều kiện thời tiết không thuận lợi như lượng mưa thấp, mùa khô kéo dài gây ra tình trạng thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp cũng như nước dùng cho sinh hoạt hàng ngày của người dân; hạn hán thường xuyên xảy ra
Xuất phát điểm cho phương pháp tiếp cận PWEL của dự án là coi đây là một trong các quyền
- phụ nữ có quyền tham gia bình đẳng, đầy đủ và kiểm soát bình đẳng trong nền kinh tế Tổ chức Oxfam cho rằng sự bất bình đẳng giới làm chậm phát triển kinh tế; và ngược lại, bình đẳng giới có thể tăng hiệu quả đầu tư trong sản xuất nông nghiệp và các sáng kiến sinh kế khác PWEL khuyến khích phụ nữ được cải thiện cả vị thế kinh tế và xã hội để thoát nghèo Điều này có nghĩa đảm bảo các nguồn lực kinh tế và sức cạnh tranh trên thị trường trong khi thay đổi thái độ và niềm tin có thể tạo ra mối quan hệ bình đẳng với nam giới và bình đẳng ra quyết định về kinh tế ở cấp độ cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng hoặc cấp độ cao hơn2
Mục tiêu chung của dự án là “Nâng cao vị thế kinh tế và xã hội cho 3.000 phụ nữ dân tộc
Raglai tại tỉnh Ninh Thuận” Để đạt mục tiêu chung này, dự án đưa ra các mục tiêu cụ thể sau:
Nâng cao kiến thức và kỹ năng của phụ nữ Raglai về sản xuất hàng hóa và tiếp cận
nền kinh tế thị trường;
Tăng cường sức mạnh của phụ nữ Raglai trong các quan hệ kinh tế thông qua thúc đẩy liên kết các tổ nhóm sở thích/kinh doanh vừa và nhỏ;
Phát triển hoạt động sản xuất và thị trường hàng hóa thông qua vận động chính sách
và hỗ trợ trực tiếp cho các doanh nghiệp và tổ nhóm nông dân sản xuất;
Thúc đẩy sự thay đổi trong phân công lao động giữa nam và nữ trong gia đình để tạo điều kiện cho người phụ nữ tham gia vào các hoạt động kinh tế giúp tăng thu nhập gia
đình
cùng các kết quả mong đợi:
Kết quả trung hạn 1: Thu nhập của 3.000 phụ nữ Raglai và gia đình họ được tăng lên
(trong đó 1.000 người là hưởng lợi trực tiếp và 2.000 là gián tiếp) Với hai đầu ra -
Đầu ra 1.1: Năng lực về sản xuất, thị trường và kinh doanh của phụ nữ Raglai trong
các ngành hàng mục tiêu được cải thiện; Đầu ra 1.2: Chất lượng và chức năng của các
dịch vụ nông nghiệp được củng cố
Kết quả trung hạn 2: Vị thế và vai trò của phụ nữ Raglai trong gia đình và cộng đồng
của họ được cải thiện Với 3 đầu ra - Đầu ra 2.1: Đàn ông Raglai đóng vai trò tích cực hơn trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình và chia sẻ công việc nhà; Đầu ra 2.2: Phụ
nữ Raglai năng động hơn, có tiếng nói mạnh mẽ hơn và vị trí tốt hơn trong các tổ chức
cộng đồng; và Đầu ra 2.3: Năng lực của các tổ chức phụ nữ trong lĩnh vực phụ nữ làm
chủ kinh tế được nâng lên
2 Trích văn kiện dự án RVNA93
Trang 12 Kết quả trung hạn 3: Các kế hoạch và chương trình của Chính phủ phản ánh các biện
pháp và hành động cụ thể nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp và người sản xuất quy mô
nhỏ Với hai đầu ra: Đầu ra 3.1: Nhận thức của chính quyền địa phương về quyền và
năng lực sở hữu kinh tế của phụ nữ được cải thiện; và Đầu ra 3.2: Các doanh nghiệp
nhỏ/hộ kinh doanh cá thể xây dựng được kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình làm
cơ sở đề xuất đầu vào cho các chương trình của Chính phủ
Các hợp phần của dự án:
Trong giai đoạn đầu (2011-2013), dự án triển khai theo 6 hợp phần:
Hợp phần 1: Nghiên cứu thị trường có yếu tố giới và thiết kế dự án
Hợp phần 2: Xây dựng năng lực cho các nhóm sở thích
Hợp phần 3: Nâng cao chất lượng dịch vụ khuyến nông và thú y
Hợp phần 4: Hỗ trợ phát triển thị trường
Hợp phần 5: Nâng cao vị thế kinh tế của phụ nữ trong gia đình và cộng đồng
Hợp phần 6: Vận động cơ quan chính phủ có các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và nông dân có quy mô sản xuất nhỏ
Ngoài ra còn phần Chi phí quản lý cho đối tác chiếm khoảng 10% ngân sách của dự án Các
hợp phần 1-4 đóng góp cho việc đạt Kết quả trung hạn 1 Hợp phần 5 đóng góp cho việc đạt Kết quả trung hạn 2 và Hợp phần 6 đóng góp cho việc đạt Kết quả trung hạn 3
Từ năm 2013 đến khi kết thúc (tháng 3/2015), dự án chỉ tập trung vào phát triển chăn nuôi heo đen và tiếp thị sản phẩm heo đen theo các nội dung chính sau:
Ba nội dung chính đầu tiên đóng góp cho việc đạt Kết quả trung hạn 1 và nội dung chính thứ
tư đóng góp cho việc đạt Kết quả trung hạn 3; DA bỏ các hoạt động đóng góp cho Kết quả trung hạn 2 (Chi tiết xem Phụ lục 4 – Các chỉ số Theo dõi và đánh giá của dự án)
Đối tác thực hiện dự án: UBND và HPN cấp huyện và xã ở 2 huyện Bác Ái và Thuận Bắc
Ngoài ra, trong quá trình triển khai, dự án cũng làm việc với HPN tỉnh và Sở NN&PTNT với
tư cách đơn vị cung cấp hỗ trợ kỹ thuật
Tháng 3/2011, Oxfam và UBND huyện Bác Ái đã ký thỏa thuận tài trợ 3 năm
2011-2014 với cam kết hỗ trợ dự kiến là 81.270 Bảng Anh tương đương 2.675.750.000đ
Ngày 24/8/2012 UBND tỉnh Ninh Thuận ra quyết định số 1636/QĐ-UBND về phê duyệt dự án tại huyện Bác Ái
Trang 13 Tháng 3/2011, Oxfam và UBND huyện Thuận Bắc đã ký thỏa thuận tài trợ 3 năm
2011-2014 với cam kết hỗ trợ dự kiến là 80.997 Bảng Anh tương đương
2.666.750.000đ Ngày 28/9/2012 UBND tỉnh Ninh Thuận ra quyết định số
1952/QĐ-UBND về phê duyệt dự án tại huyện Thuận Bắc
Mặc dù là một dự án qui mô nhỏ, nhưng cấu trúc quản lý lại khá đa dạng:
Ở cấp huyện có Ban điều hành dự án huyện Ban điều hành dự án huyện Bác Ái kế
thừa BĐH từ dự án cũ (RVNA63) gồm 5 thành viên: một Phó chủ tịch UBND làm Trưởng ban, Chánh Văn phòng UBND huyện làm Phó trưởng ban, cán bộ Văn phòng
UBND huyện làm Điều phối viên (ĐPV) và 01 kế toán là thành viên, không có đại diện HPN3 Ban điều hành dự án huyện Thuận Bắc được thành lập mới gồm 7 thành viên: một Phó chủ tịch UBND làm Trưởng ban, Chủ tịch HPN làm Phó trưởng ban, Phó chủ tịch HPN làm ĐPV, đại diện Văn phòng UBND huyện, Phòng NN&PTNT, Phòng KT-HT và 01 kế toán là thành viên Trong khi UBND huyện Bác Ái nắm vai trò điều hành dự án, thì huyện Thuận Bắc lại giao vai trò này cho HPN huyện và HPN
xã Lợi Hải
Ở cấp xã: BQL DA cấp xã được thành lập tại hai xã huyện Bác Ái cũng chỉ gồm các
thành viên UBND (Chủ tịch UBND xã làm Trưởng ban và cán bộ Văn phòng UBND làm thư ký) Việc điều hành dự án ở xã Lợi Hải hoàn toàn do HPN huyện và HPN xã đảm nhiệm, không có sự tham gia của UBND xã BQL DA xã có trách nhiệm hỗ trợ BĐH DA cấp huyện trong việc lập kế hoạch và thực thi dự án, đảm bảo chất lượng và tiến độ của các hoạt động được phân công ở xã Hàng quý đại diện của BQL DA xã tham gia họp giao ban với BĐH DA huyện để xây dựng kế hoạch, chia sẻ những kinh nghiệm trong quá trình thực hiện dự án
Đối tác cấp tỉnh: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Sở NN&PTNT) và HPN
tỉnh Tuy nhiên, hai đối tác này không tham gia trực tiếp vào việc quản lý ngân sách
và thực thi dự án mà chỉ chịu trách nhiệm về tư vấn kỹ thuật và hỗ trợ chính sách Ví
dụ, Sở NN&PTNT được tham vấn về nhu cầu xây dựng năng lực và kế hoạch chuyên biệt nào đó của tỉnh đối với các hệ thống khuyến nông và thú y ở cấp huyện Các chuyên gia của Sở NN&PTNT được mời để cung cấp các khóa tập huấn và hỗ trợ thích hợp về kỹ thuật Mặt khác, dự án sẽ vận động hành lang Sở NN&PTNT để lồng ghép phương pháp tiếp cận của PWEL vào hoạt động của họ(Ví dụ: DA Tam Nông) HPN tỉnh hỗ trợ kỹ thuật trong việc nâng cao vai trò lãnh đạo của phụ nữ, tập huấn về giới, tư vấn triển khai các hoạt động truyền thông về bình đẳng giới và chống bạo lực
gia đình và áp dụng Hệ thống học hỏi hành động về giới (GALS/WEMAN) để lập kế
hoạch hành động của từng nhóm trên địa bàn hai huyện
Đối tượng hưởng lợi của dự án: Những người được hưởng lợi trực tiếp từ dự án là cộng
đồng người dân tộc Raglai bao gồm cả phụ nữ, trẻ em và nam giới ở 3 xã mục tiêu Ngoài ra,
3
Theo đối tác huyện Bác Ái, lý do HPN huyện và xã không tham gia vào BĐH là do thiếu cán bộ, một số chị đi học tại chức
Trang 14dự án cũng hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động tại địa phương, các đơn vị cung cấp
dịch vụ khuyến nông và thú y của địa phương để họ có thể hỗ trợ một cách hiệu quả cho người dân Raglai trong quá trình sản xuất theo định hướng thị trường (xem Bảng 1.1)
Bảng 1.1 Đối tượng hưởng lợi của dự án
Dân số Huyện Bác Ái (02 xã) Thuận Bắc (01 xã) Tổng số mục
Nguồn: Tờ rơi của Oxfam
Lập kế hoạch, theo dõi và đánh giá:
Theo thỏa thuận giữa Oxfam và đối tác, kế hoạch và ngân sách dự án sẽ được lập theo từng huyện và theo từng năm để trình Oxfam phê duyệt Mỗi khi cần thay đổi thì đối tác phải kiến nghị bằng văn bản gửi Oxfam và Oxfam cũng trả lời băng văn bản
Đối tác cấp huyện gửi báo cáo tiến độ và báo cáo tài chính hàng quý, báo cáo năm về Oxfam
I.2 Mục tiêu của cuộc đánh giá
Đo lường dự án (thành tựu/ thất bại và những thay đổi trong tương quan với các mục tiêu/ kết quả đề ra), và đánh giá quan hệ đối tác giữa các đối tác và Oxfam và năng lực của đối tác;
Tài liệu hóa các thực hành tốt/chưa tốt và các bài học rút ra từ dự án để phụ nữ thiểu
số Raglai áp dụng tốt hơn và để phục vụ vận động chính sách;
Đề xuất các khuyến nghị cụ thể để đóng góp cho các dự án tương tự trong tương lai hoặc để cải thiện vai trò lãnh đạo và khả năng tiếp cận thị trường của phụ nữ thiểu số Raglai
I.3 Nội dung đánh giá
Tập trung vào việc đánh giá việc đạt được các kết quả của dự án theo Khung lô gic đơn giản (điều chỉnh4
) của Dự án Ngoài ra, cuộc đánh giá sẽ đi sâu vào các khía cạnh sau của dự án:
4
Ghi chú: ban đầu DA được thiết kế để hỗ trợ đồng bào Raglai trong một số lĩnh vực sản xuất nông nghiệp bao gồm cả trồng trọt và chăn nuôi Tuy nhiên, do một số khó khăn (bao gồm cả ngân sách) nên từ năm 2013, DA
Trang 15 Tính phù hợp (với nhu cầu của người dân và đối tác địa phương, cũng như định hướng hoạt động của Oxfam)
Tính hiệu quả: hoạt động nào vượt/không đạt mong đợi
Tính công bằng: bình đẳng giới và xã hội
Tính bền vững: những hoạt động nào vẫn tiếp tục sau khi DA kết thúc
Khả năng nhân rộng: những hoạt động nào đã/sẽ được đối tác triển khai ra ngoài vùng
DA
Mối quan hệ đối tác
I.4 Phương pháp đánh giá
Nghiên cứu tài liệu thứ cấp: văn kiện dự án, báo cáo, số liệu điều tra ban đầu, thông
tin liên quan từ các nguồn khác (internet, blog…)
Phỏng vấn cá nhân và phỏng vấn nhóm: BĐH DA 2 huyện và 3 xã, đối tác địa phương
cấp tỉnh (Sở NN&PTNT, HPN, DA Tam Nông)
Thảo luận nhóm: nhóm cán bộ xã, trưởng thôn, nhóm hộ dân, nhóm phụ nữ
Thu thập câu chuyện điển hình: thành viên, trưởng nhóm, đối tác, doanh nghiệp
Quan sát: nhà dân, chuồng trại, chợ, cửa hàng, thái độ của thành viên, đối tác và cộng
đồng… (Xem Phụ lục 4)
I.5 Triển khai cuộc đánh giá
Oxfam tuyển tư vấn độc lập: tháng 2/2015
Xây dựng KH đánh giá và lịch đánh giá (xem Phụ lục 3)
Triển khai đánh giá các bên liên quan chính tại địa phương
I.6 Một số hạn chế của cuộc đánh giá
Thời gian đi hiện trường tương đối ngắn;
Một số đối tác chủ chốt bận không tham gia được hoặc đã chuyển công tác;
Báo cáo không đầy đủ, cấu trúc thay đổi nên khó tổng hợp thông tin
Kinh phí hạn hẹp
Trang 16II NHỮNG PHÁT HIỆN CHÍNH
II.1 Những phát hiện chung
Dựa trên các kết quả thực hiện và tác động của dự án đến cộng đồng người Raglai nói chung
và phụ nữ Raglai nói riêng, cũng như tới các đối tác địa phương, có thể kết luận nhìn chung
dự án RVNA93 đã đạt các mục tiêu đề ra Trong 3 kết quả mong đợi của dự án thì kết quả 1
đạt tốt nhất, sau đó là kết quả 2 và kết quả 3 Số người hưởng lợi trực tiếp - thành viên các nhóm sở thích và gia đình họ (nếu tính trung bình mỗi gia đình người Raglai có 4-5 thành viên) là trên 1.000; số người hưởng lợi gián tiếp ít nhất cũng tương đương và thường cao hơn
số người hưởng lợi trực tiếp Chi tiết xem Phụ lục 6 – Tổng hợp kết quả thực hiện dự án
Đối với Đầu ra 1.1: Năng lực về sản xuất, thị trường và kinh doanh của phụ nữ Raglai trong
các ngành hàng mục tiêu do dự án hỗ trợ được cải thiện - phần lớn các chỉ tiêu đưa ra đều
đạt và vượt kế hoạch (xem Hộp 2.1)
Hộp 2.1 Kết quả thực hiện Đầu ra 1.1
Chỉ số 1.1.1: Ít nhất 70% người hưởng lợi trực tiếp có thu nhập hộ gia đình tăng thông
qua các hoạt động dự án: Cơ bản Đạt theo báo cáo của đối tác Ví dụ cụ thể xem Hộp
2.2
Chỉ số 1.1.2: Thu nhập hộ gia đình trung bình hàng năm (10% trên tổng số hộ mục tiêu)
tăng 5%: Đạt nhưng cần nói rõ đây là do đóng góp của nhiều yếu tố (chính sách hỗ trợ
của Nhà nước, sự nỗ lực của chính quyền và người dân địa phương và hỗ trợ của Oxfam)
Chỉ số 1.1.3: 100% phụ nữ Raglai tiếp cận với thông tin thị trường từ ít nhất một nguồn
Đạt, đặc biệt trong trường hợp áp dụng cho thành viên các nhóm sở thích và gia đình họ
Chỉ số 1.1.4 (điều chỉnh bỏ sản lượng bò): Số lượng heo đen tăng 30% so với năm đầu
của dự án: vượt chỉ tiêu (xem bảng 2.1 trong báo cáo)
Hộp 2.2 “Nếu em làm được, thì ai cũng có thể làm được!”
Katơr Thị Hồng Đẹp, 22 tuổi, sống với chồng và con gái 3 tuổi ở xã Lợi Hải, huyện Thuận Bắc Trước đây, nguồn thu của gia đình chị khá khiêm tốn – chủ yếu đến từ trồng ngô và lúa (trên diện tích chỉ có
Trang 17500 m ) và nuôi heo đen - chỉ đủ 50% chi phí sinh hoạt, nên bữa ăn hàng ngày của gia đình rất đạm bạc Sau khi tham gia hai khóa tập huấn về kỹ năng và tổ chức kinh doanh, tính toán giá cả hàng hóa của dự án, Đẹp mở một quầy bán hoa quả ở chợ thôn Giờ đây, hàng ngày chị bán hoa quả và đôi khi
cả heo đen, còn chồng vẫn làm nông nghiệp Cuộc sống của gia đình chị đã trở nên tốt hơn nhờ thu nhập thêm từ buôn bán nhỏ “Hàng ngày em bán được nhiều hoa quả và thu được khoảng 100.000đ tiền lãi Số tiền này giúp gia đình em trang trải chi phí sinh hoạt hàng ngày: 20.000đ để trả tiền học và mua sữa cho con gái, 40.000đ mua thức ăn và 40.000đ để dành cho tương lai.” Đẹp đã xây dựng được các mối quan hệ tốt với những người bán hàng trong chợ Chị biết cách chọn loại hoa quả tốt và định giá hợp lý cho hàng của mình Với kinh nghiệm tích lũy được, chị muốn vay thêm vốn để mở rộng kinh doanh Chị chia sẻ “Em muốn được tập huấn thêm về các loại hoa quả đang bán và muốn đưa ra được lời khuyên cho những người mua – mỗi loại hoa quả có những chất bổ gì và mang lại tác dụng thế nào đến sức khỏe con người.” Đẹp muốn các chị em Raglai khác cũng tham gia dự án như mình bởi chị nghĩ “Nếu em làm được, thì ai cũng có thể làm được! Lúc đầu có thể sẽ khó khăn, nhưng cần biết chọn loại hàng mình muốn bán và tin tưởng vào bản thân”
Nguồn: http://www.oxfamblogs.org/vietnam/2015/01/26/if-i-can-do-it-anybody-can/#sthash.KnKOQf5G.dpuf
Đối với Đầu ra 1.2 Chất lượng và chức năng của các dịch vụ nông nghiệp được củng cố, kết
quả đạt được là tích cực với bà con, nhưng mạng lưới thú y và khuyến nông của địa phương vẫn cần nhiều sự cải thiện (xem Hộp 2.3)
Hộp 2.3 Kết quả thực hiện Đầu ra 1.2
Chỉ số 1.2.1: Mạng lưới thú y và khuyến nông được tăng cường và duy trì tốt Nhiều nỗ
lực đã được thực hiện, mạng lưới khuyến nông và thú y đã được tăng cường Tuy nhiên, chủ yếu là ý thức và kiến thức của bà con Raglai về các loại bệnh và cách phòng chống các loại bệnh thông thường cho heo đen đã được cải thiện đáng kể Vẫn còn nhiều công việc phải làm do trong 3 xã chỉ có xã Phước Tiến có cán bộ thú y đạt tiêu chuẩn, ở hai huyện vẫn chưa có đội ngũ thú y thôn bản
Chỉ số 1.2.2: Một kênh thông tin thị trường chính thức hoặc không chính thức được thiết
lập để phục vụ nhu cầu của người sản xuất Đạt Các kênh như: xây dựng và cập nhật
cuốn danh bạ/danh sách các tác nhân cung cấp các dịch vụ thú y, khuyến nông và các dịch vụ hỗ trợ phát triển kinh doanh; phát thanh thông tin thị trường trên loa của thôn; hỏi cán bộ tham gia điều hành DA (như anh Hùng, chị Hà, anh Tú, chị Tốt ); hỏi người quen, đại lý quan điện thoại di động đã được thiết lập và bà con sử dụng
Việc thực hiện Kết quả trung hạn 2: Vị thế và vai trò của phụ nữ Raglai trong gia đình và
cộng đồng của họ được cải thiện đã đạt được một số kết quả là đáng khích lệ nhưng mới là
bước đầu, tập trung vào các gia đình thành viên tích cực trong các nhóm sở thích Có một số
chỉ báo tích cực cho thấy đàn ông Raglai đóng vai trò năng động hơn trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình và chia sẻ công việc nhà, nhưng sự thay đổi là chưa rõ ràng (xem Hộp 2.4
và 2.5)
Hộp 2.4 Kết quả thực hiện Đầu ra 2.1
Chỉ số 2.1.1: Số giờ nam giới làm việc nhà tăng 10% Không có số liệu khảo sát ban
đầu và thông tin định lượng về chỉ số này Tuy nhiên, kết quả phỏng vấn cho thấy việc
phụ nữ Raglai đi chợ đã “giải phóng” họ và con gái khỏi một số công việc sản xuất và
“tái phân công” lại cho người đàn ông
Trang 18Chỉ số 2.1.2: Số giờ nam giới tham gia sản xuất và buôn bán tăng 20% Không có số
liệu khảo sát ban đầu và thông tin định lượng về chỉ số này Nhưng các ý kiến phỏng
vấn người dân cho rằng nam giới các hộ Raglai có vợ đi chợ đã tham gia tích cực hơn vào việc giúp vợ chuẩn bị hàng hóa và đi chợ, cũng như làm các công việc sản xuất và trong nhà
Chỉ số 2.1.3: Ít nhất 70% phụ nữ được sự hỗ trợ tăng lên từ các đối tác nam cũng như
các thành viên nam trong gia đình khi kết thúc dự án Không có số liệu khảo sát ban
đầu và thông tin định lượng về chỉ số này Tuy nhiên, qua phỏng vấn có thể khẳng định
đa số phụ nữ Raglai tham gia thị trường đã nhận được sự giúp đỡ tăng lên từ nam giới trong gia đình họ
Liên quan tới Đầu ra 2.2 Phụ nữ Raglai, đặc biệt là thành viên các nhóm sở thích, đã trở nên
năng động hơn trước đây trong đổi mới tư duy sản xuất và tiếp cận thị trường Tuy nhiên, đây cũng chỉ là tiến bộ ban đầu, cần nhiều nỗ lực để duy trì và củng cố sự tiến bộ này
Hộp 2.5 Kết quả thực hiện Đầu ra 2.2
Chỉ số 2.2.1: Số lượng phụ nữ có vị thế và vai trò cao hơn so với nam giới trong gia đình
và cộng đồng tăng lên Không có số liệu khảo sát ban đầu và thông tin định lượng,
nhưng có thể kết luận chỉ số này đạt thông qua các cán bộ HPN (ở huyện Thuận Bắc, xã Lợi Hải và xã Phước Tiến), các chị trưởng, phó nhóm và những thành viên tích cực của các nhóm sở thích Năng lực và uy tín của chị em trong gia đình và cộng đồng đã được nâng cao đáng kể qua tích cực tham gia các hoạt động của DA (tập huấn, sinh hoạt nhóm, sản xuất và bán hàng )
Chỉ số 2.2.2: Số giờ phụ nữ dành cho nghỉ ngơi tăng 10% Không có số liệu khảo sát
ban đầu và thông tin định lượng Trên thực tế, việc tham gia các hoạt động sản xuất
theo hướng áp dụng KHKT và thị trường của DA khiến cho thời gian làm việc của cả phụ
nữ và nam giới Raglai tăng lên
Chỉ số 2.2.4: 100% các thành viên nữ của các nhóm sở thích tham gia vào các cuộc họp
thường kỳ được tổ chức bởi nhóm sở thích hoặc Hội phụ nữ Đạt Tất cả các nhóm sở
thích đều duy trì sinh hoạt định kỳ do HPN và nhóm tổ chức
Chỉ số 2.2.5: 90% các thành viên nữ của các nhóm sở thích tham gia vào các hoạt động,
sự kiện kinh tế-xã hội và văn hóa trong cộng đồng Đạt nếu tính các sự kiện như: tập
huấn, hội thảo, đi chợ, tham gia sinh hoạt nhóm, truyền thông, hội chợ, tham quan, v.v
Chỉ số 2.2.6: 650 phụ nữ tham gia đóng góp vào những quyết định quan trọng của hộ gia đình (VD: sử dụng nguồn lực, chăn nuôi, đất đai và giáo dục cho con cái) Do thiếu
thông tin ban đầu nên không đánh giá chính xác được chỉ số này Tuy nhiên, 100% người được phỏng vấn, cả đối tác và thành viên nhóm sở thích, đều cho rằng phụ nữ Raglai tham gia đóng góp vào những quyết định quan trọng trong gia đình
Đầu ra 2.3: Năng lực của các tổ chức phụ nữ trong lĩnh vực phụ nữ làm chủ kinh tế được
nâng lên bước đầu đạt kết quả, đặc biệt là HPN huyện Thuận Bắc và xã Lợi Hải, các nhóm sở
thích trong ba xã dự án Ngược lại, năng lực của HPN huyện Bác Ái và xã Phước Tân bị đánh giá là hạn chế do ít tham gia vào thực hiện dự án Hoạt động “Hỗ trợ trưởng, phó nhóm, thành viên nhóm sở thích kinh doanh giỏi tham dự hội thảo ngành hàng liên quan, diễn đàn về sản
Trang 19xuất kinh doanh cấp tỉnh/huyện” thực hiện không đạt kết quả mong muốn phải chuyển sang hoạt động khác do thực tế phát triển chăn nuôi heo đen ở 3 xã dự án còn khá hạn chế
Kết quả trung hạn 3: Các kế hoạch và chương trình của Chính quyền phản ánh các biện pháp
và hành động cụ thể nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp và người sản xuất quy mô nhỏ đạt ở mức
trung bình Dự án đã nỗ lực tổ chức các hoạt động đối thoại và vận động chính sách, tuyên truyền cho các mô hình phụ nữ giảm nghèo Việc hỗ trợ các hộ làm thử các mô hình sản xuất
và kinh doanh khác nhau với phụ nữ Raglai là rất đúng đắn và được cộng đồng đánh giá cao Tuy nhiên, khó khăn/vấn đề là tìm kiếm đủ kinh phí, duy trì sự bền vững và nhân rộng các mô hình này (xem Hộp 2.6)
Hộp 2.6 Thực hiện Kết quả 3
Chỉ số 3.1.1: Một mạng lưới người thực hành WEL sẽ được thiết lập và hoạt động (tạo ra
diễn đàn) để các bên liên quan chia sẻ và thảo luận các cách tiếp cận và ứng dụng WEL
Đạt thông qua i) Nhóm công tác hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế - GED của Oxfam; và ii)
cuộc đối thoại chính sách, tham quan học tập, hội nghị tuyên truyền vận động chính sách cấp huyện và tỉnh Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để duy trì được mạng lưới này sau khi DA kết thúc
Chỉ số 3.1.2: Số lượng phụ nữ nắm giữ vai trò lãnh đạo trong các tổ chức đoàn thể xã và
thôn tăng 15% Không có số liệu và DA có vẻ không gây được ảnh hưởng đáng kể nào
Chỉ số 3.2.1: 20 doanh nghiệp quy mô nhỏ / hộ kinh doanh cá thể sẽ được tư vấn về các
thủ tục hành chính, khung pháp lý để thành lập và phát triển Hỗ trợ tài chính và kĩ thuật
ở mức khiêm tốn sẽ được cung cấp để thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp quy
mô nhỏ / hộ kinh doanh cá thể Đạt - 3 mô hình nuôi heo bán thả rông (2 ở Bác Ái, 1 ở Thuận Bắc); 10 mô hình trồng rau chăn nuôi ở Phước Tân; 10 mô hình hộ kinh doanh ở Phước Tiến và Lợi Hải, v.v
Chỉ số 3.2.2: Gia tăng trong phân bổ nguồn lực của chính phủ cho các hộ nông dân sản
xuất quy mô nhỏ và doanh nghiệp quy mô nhỏ được thể hiện trong kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của chính phủ/chính quyền địa phương Có chuyển biến - Oxfam đã làm việc với DA Tam Nông về vấn đề này; đối tác cấp huyện phản ánh đã áp dụng thử trong
CT 30a, CT Giảm nghèo
Tuy vẫn còn một số hạn chế (như một số mục tiêu và chỉ tiêu đặt ra khá tham vọng5, thời gian thực hiện tương đối ngắn, kinh phí và qui mô hạn hẹp, mô hình quản lý dự án đa dạng, v.v.),
nhưng dự án RVNA93 đã đưa ra cho đối tác địa phương và quốc gia một phương thức tiếp
cận hiệu quả cho giảm nghèo và cải thiện vị trí xã hội đối với đối tượng phụ nữ Raglai nói riêng và đồng bào dân tộc thiểu số nói chung, cùng một số mô hình sáng tạo (ví dụ: trồng
chuối và khoai lang, nuôi giun quế làm thức ăn cho heo; làm chuồng và vườn nuôi heo bán
chăn thả…) Theo nhóm đánh giá, dự án RVNA93 đã “làm điều không thể trở thành có thể”
đối với nhóm đối tượng rất khó khăn là cộng đồng người Raglai – giúp phụ nữ nghèo Raglai nói riêng và đồng bào Raglai nói chung bước đầu vượt qua những thói quen, tập tục, tư duy
5
Ví dụ: Tổng số người hưởng lợi; 80 cán bộ khuyến nông và thú y được đào tạo trở thành tập huấn viên; 25% phụ nữ nắm giữ các vai trò quan trọng trong chính quyền, tổ chức đoàn thể hoặc tổ chức dân sự địa phương; Số giờ phụ nữ dành cho nghỉ ngơi tăng 10%, v.v.
Trang 20truyền thống hạn chế để phát triển sản xuất theo hướng áp dụng KHKT, dần tiếp cận thị trường và cải thiện cuộc sống
Dự án đã đạt được một số kết quả ban đầu đáng khích lệ Nhiều chỉ tiêu kế hoạch đưa ra ban
đầu đã đạt (chi tiết xem Phụ lục 6):
22 nhóm sở thích với trên 300 thành viên, đa số là phụ nữ Raglai nghèo đã được thành lập
và củng cố (10 nhóm ở Bác Ái với 155 thành viên và 12 nhóm ở Thuận Bắc với 180 thành
viên) Đầu tiên, dự án hỗ trợ cả các nhóm nuôi bò và trồng bắp, nhưng từ 2013 đã chuyển
về mô hình chăn nuôi heo đen Các nhóm này đang duy trì nề nếp sinh hoạt định kỳ 1 tháng/lần, đóng quỹ tiết kiệm để cho vay quay vòng
Tình hình nuôi heo của các hộ thành viên tăng đều (xem Bảng 2.1) Tổng đàn heo đen của
các thành viên tăng từ 200 lên 784 con
Bảng 2.1 Cơ cấu chăn nuôi heo của các hộ tham gia dự án trong các năm gần đây
ở 2 huyện Bác Ái và Thuận Bắc (Đơn vị: con/hộ)
Số lượng heo các năm
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
1,00 1,81 4,13
Cơ cấu giống heo năm 2013
Heo cái sinh sản
Heo thịt
Heo con
1,67 0,36 2,18
Nguồn: Kết quả khảo sát của nhóm chuyên gia Hoàng Xuân Trường
Cũng cần nói thêm là mặc dù có các can thiệp của dự án, nhưng trình độ chăn nuôi heo đen của đồng bào Raglai ở 2 huyện còn rất hạn chế - qui mô vẫn đang rất nhỏ (bình quân 2,68 con/hộ) trong đó chủ yếu là heo nái (1,66 con/hộ); tỷ lệ đẻ và sống sau cai sữa của heo đen là rất thấp (chỉ là 2,18 con/hộ trong khi đáng lẽ phải là 14-15 con/năm) Kết quả thấp này có thể
do chất lượng heo mẹ giảm, tỷ lệ thụ thai thấp, tỷ lệ chết sau sinh cao do đồng huyết hoặc thiếu thức ăn, bệnh tật; phong tục lễ cưới của bà con sử dụng nhiều heo, do đó lượng heo đen tiêu thụ trong dân là khá lớn, số heo thịt để bán ra thị trường trung bình chỉ có 0,36 con/hộ Cũng vì những lý do trên mà nhiều hộ Raglai chưa thể thoát nghèo nếu chỉ nuôi heo đen ở trình độ thấp hiện nay - tổng thu từ chăn nuôi heo cũng chỉ ước đạt 1,2 triệu đồng/hộ6
(chỉ bằng 1/10 so với tính toán 12 triệu đồng/hộ của nghiên cứu năm 2012)
Phương pháp tiếp cận giảm nghèo của Oxfam hiệu quả hơn so với các chương trình/dự án giảm nghèo do nhà nước quản lý 100% đối tác được phỏng vấn đều cho rằng phương pháp
tiếp cận giảm nghèo của Oxfam là khoa học, sát thực tế, có sự tham gia rộng rãi và lấy người hưởng lợi, cộng đồng làm trung tâm Việc lập kế hoạch được làm từ dưới lên, có sự tham gia
6
Trang 21nên đáp ứng đúng nhu cầu của người dân, và phát huy được thế mạnh của địa phương Các hoạt động được tiến hành theo hình thức đào tạo giảng viên tại chỗ (TOT) và “cầm tay chỉ việc” v.v đã giúp nhiều phụ nữ Raglai nắm được các kiến thức KHKT thiết yếu áp dụng vào trồng trọt và chăn nuôi Dự án Oxfam, tuy ngân sách khiêm tốn hơn so với các chương trình,
DA khác của Nhà nước, nhưng lại đến được người dân tốt hơn, giúp họ cải thiện cuộc sống Đối tác phản ánh một số Chương trình/DA giảm nghèo của Nhà nước tuy mức đầu tư lớn, nhưng hiệu quả không cao, không tạo được ý thức vươn lên của người dân mà còn tạo ra tâm
lý ỷ lại Tổ chức Oxfam đã đưa ra phương pháp tiếp cận này dựa trên kinh nghiệm hoạt động lâu năm của mình:
Khảo sát kỹ tình hình địa phương và nhóm đối tượng hưởng lợi, đặc biệt là những khía cạnh dân tộc, văn hóa, sinh kế truyền thống của họ để hiểu rõ và lựa chọn phương pháp tiếp cận phù hợp nhất
Tổ chức thực hiện nghiên cứu thị trường trước và trong khi thực hiện dự án để xác định/điều chỉnh định hướng và nội dung hỗ trợ chính
Tập trung vào đối tượng là phụ nữ Raglai và những sinh kế gần gũi với họ (nuôi bò, nuôi heo, trồng bắp )
Tiếp cận theo tổ/nhóm để nâng cao tính tập thể và tương tác cộng đồng giữa các thành viên nghèo, phát huy được tính đầu tàu của các thành viên tích cực
Mạnh dạn đưa yếu tố thị trường vào lĩnh vực sản xuất và kinh doanh
Hỗ trợ toàn diện thông qua các phương pháp sáng tạo và phù hợp, áp dụng xây dựng năng lực kết hợp với thực hành theo kiểu “mưa dầm thấm lâu” và “cầm tay chỉ việc”; gắn xây dựng mô hình với vận động chính sách, v.v
II.2 Những phát hiện riêng
Đóng góp của dự án vào phát triển KT-XH của địa phương
Có thể nói sự đóng góp của dự án Oxfam vào sự phát triển KT-XH của địa phương nói chung
là khiêm tốn so với những đóng góp của các chương trình, chính sách của Nhà nước, cũng như những nỗ lực của chính quyền và người dân địa phương Huyện Bác Ái hiện đang thực
hiện 62 chính sách khác nhau của Nhà nước (bao gồm Chương trình 30a, Chương trình 135,
Nông thôn mới, Dự án Tam Nông, Chương trình 102, Tín dụng Ngân hàng CSXH, v.v…) với ngân sách hàng trăm tỷ đồng mỗi năm cho tất cả 9 xã trong huyện; huyện Thuận Bắc cũng được hưởng các Chương trình mục tiêu quốc gia, dự án Tam nông, Dự án hỗ trợ cho đồng bào dân tộc thiểu số (ADB5), Dự án CPI, v.v So với các chương trình và dự án kể trên, vốn từ Dự
án Oxfam là rất nhỏ bé
Ví dụ: trong Kế hoạch phát triển KT-XH năm 2013 của xã Phước Tiến, tổng nhu cầu nguồn lực tài chính là 19.487.500.000đ, nguồn vốn từ các chương trình/dự án là 10.474.000.000đ, trong đó từ Oxfam là 51 triệu đồng chiếm 0,5%, với cơ cấu như hình 2.1 dưới đây
Trang 22Hình 2.1 So sánh mức độ đầu tư của Oxfam với đầu tư của Nhà nước - Cơ cấu nguồn vốn từ các chương trình/dự án xã Phước Tiến
Nhóm đánh giá quan sát thấy là các hoạt động của Oxfam chỉ được đề cập sơ sài trong các kế hoạch phát triển KT-XH hàng năm của huyện và 2 xã dự án ở Bác Ái và hầu như không được
đề cập trong Kế hoạch phát triển KT-XH hàng năm của huyện Thuận Bắc và xã Lợi Hải Ví
dụ: Kế hoạch phát triển KT-XH 2013 của huyện Bác Ái trong phần Tiểu thủ công nghiệp,
Thương mại và Dịch vụ có đề cập: “Hỗ trợ nhân dân 2 xã Phước Tân và Phước Tiến tham gia
Hội chợ triển lãm Nông nghiệp, nông thôn tại tỉnh Phối hợp với Sở Công thương đăng ký thương hiệu sản phẩm đặc thù trên địa bàn huyện giai đoạn 2011 – 2013 tiếp tục duy trì chợ phiên tại xã Phước Tân và Phước Tiến giúp nhân dân mua bán, trao đổi hàng hóa”; Kế hoạch phát triển KT-XH 2013 của xã Phước Tiến có đề cập đến các nội dung “Duy trì tốt chế độ chợ phiên 04 lần/tháng, thu hút nhiều mặt hàng đặc sản của địa phương Xây dựng hoàn thành thương hiệu heo đen, đồng thời thành lập điểm thu mua giết mổ tại địa phương Tuyên truyền
kỹ thuật về cách phòng và điều trị bệnh cho heo địa phương cho 6 nhóm cùng sở thích” Một
lý do có thể xuất phát từ phương thức tổ chức quản lý và thực hiện dự án ở 2 huyện hoàn toàn khác nhau: ở Bác Ái, dự án triển khai qua UBND huyện và UBND 2 xã, do đó có được sự quan tâm rất toàn diện của chính quyền địa phuơng Trong khi đó, ở Thuận Bắc, dự án được triển khai qua đối tác HPN huyện xuống HPN xã và các nhóm phụ nữ tại thôn, không qua UBND xã Lý do thứ hai là dự án triển khai ở phạm vi khá hẹp (2/9 xã của huyện Bác Ái và 1/6 xã của huyện Thuận Bắc) nên tầm ảnh hưởng bị hạn chế Lý do thứ ba là dự án tập trung vào hỗ trợ “phần mềm” – tập huấn nâng cao năng lực cho thành viên và đối tác, tuyên truyền vận động chính sách với đối tác chính quyền địa phương và truyền thông cộng đồng Những
hỗ trợ “phần cứng” – trang thiết bị, con giống, vật tư là rất hạn chế
Chương trình 30a 24.6%
Chương trình
135 17.8%
Chương trình Nông thôn mới 32.1%
Dự án Tam nông 25.1%
Dự án Oxfam 0.5%
Trang 23Những hoạt động dự án được đánh giá cao nhất
Hỗ trợ nâng cao năng lực cho thành viên các nhóm sở thích – theo tổng hợp kết quả
báo cáo, đã có gần 2.000 lượt phụ nữ, đặc biệt là đội ngũ trưởng và phó nhóm được nâng cao năng lực trên nhiều lĩnh vực như:
o Các cuộc tập huấn về kết nối thị trường (kinh doanh và quản lý kinh doanh,
hạch toán chi phí, giá cả, kỹ năng bán hàng, v.v.): đối tác và người dân cho rằng các hoạt động này thật mới mẻ và hấp dẫn Tuy nhiên, cũng có ý kiến của đối tác cho rằng thời gian hỗ trợ liên kết thị trường là quá ngắn (bắt đầu từ tháng 6 năm 2014 trong khi dự án kết thúc tháng 3 năm 2015);
o Các khóa tập huấn và tuyên truyền, vận động bà con Raglai về chăn nuôi heo
đen theo phương pháp khoa học (nuôi nhốt hoặc bán thả rông, chuẩn bị thức
ăn, trồng chuối và rau làm thức ăn cho heo, nhận biết một số bệnh gia súc, ): bà con dần nhận thức được tầm quan trọng của phương thức chăn nuôi mới, ít thả rông gia súc hơn; biết chuẩn bị thức ăn, nắm được một số kiến thức cơ bản về thú y (chích thuốc, thiến heo con, đoán bệnh gia súc; thông báo cho cán bộ thú
y, v.v); nhiều hộ đã biết mời cán bộ thú y đến khám chữa bệnh, chỉ còn rất ít trường hợp bà con tự chữa hay bỏ mặc không quan tâm (xem hình 2.2) Đây là những thay đổi, tuy là bước đầu, nhưng rất quan trọng trong nhận thức về sản xuất theo định hướng mới (áp dụng KHKT và tiếp cận thị trường) của đồng bào Raglai;
Hình 2.2 Cách thức bà con Raglai phòng và chữa bệnh cho heo (% hộ dân)
Nguồn: Kết quả khảo sát của nhóm chuyên gia Hoàng Xuân Trường
o Hỗ trợ thành viên các nhóm tham gia lập kế hoạch sản xuất nhóm theo phương pháp Hệ thống Học hỏi hành động về giới (GALS/WEMAN): thông qua hình thức lập kế hoạch bằng hình vẽ đơn giản mà dễ hiểu, bà con DTTS đã nắm rõ
Trang 24các bước trong quá trình chăn nuôi heo đen, những thuận lợi, khó khăn và những công việc họ cần làm trong từng thời điểm
Đối thoại chính sách phát triển kinh tế địa phương và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa/HTX/kinh tế tổ nhóm giữa thành viên với đại diện chính quyền địa phương Đối
tác địa phương cả cấp huyện và xã đánh giá cao hoạt động này, cho rằng nó đầu tư ít nhưng tác động lớn – người dân được tham gia và nêu lên các vấn đề thực tế của họ, cán bộ đầu ngành của huyện lắng nghe, trả lời câu hỏi của bà con và đưa ra các biện pháp giải quyết
Đóng góp vào nâng cao chất lượng dịch vụ khuyến nông và thú y: huyện Bác Ái đã tổ
chức tập huấn TOT cho 22 thú y viên Đến nay, theo phản ánh của Trạm Khuyến nông
và Thú y huyện, trên 10 người vẫn đang hành nghề tốt Một lý do là, ngoài bố trí giảng viên giỏi cấp quốc gia, Oxfam còn tài trợ công cụ thực hành trong tập huấn nên học viên được học và hành nắm vững vấn đề (hiệu quả hơn so với phương pháp “tập huấn chay” trong các CT/DA của Nhà nước)
Hỗ trợ “phần cứng”:
o Cấp heo giống cho các hộ dân, hỗ trợ vật tư làm chuồng HPN Thuận Bắc báo cáo cuối năm 2012 đã cấp 181 con heo giống và tôn làm mái chuồng cho 128
hộ thành viên; đến nay, đàn heo đã tăng lên thành 334 con (tăng 54,2%) Năm
2013, huyện Bác Ái đã hỗ trợ cho 35 hộ xã Phước Tiến và 25 hộ xã Phước Tân mỗi hộ 02 con heo trị giá 1 triệu đồng Điều quan trọng là BQL hai xã đã cụ thể hóa và triển khai tổ chức họp xét nhằm đảm bảo tính công bằng, đồng thời ban hành quy chế chăn nuôi heo được hỗ trợ; tổ chức cho các hộ mua được heo
con giống đảm bảo chất lượng;
o Hỗ trợ tiêm văc xin lần đầu, thiến heo (đối với heo đực), bấm thẻ tai quản lý heo;
o Phối hợp với tổ chức SPIN triển khai thí điểm các mô hình nuôi heo bán thả (1 tại Phước Tân và 1 tại Phước Tiến), kỹ thuật nuôi giun quế, kỹ thuật làm chuồng bằng đệm lót sinh học, và cách ủ chua thức ăn cho heo; các mô hình trồng rau cho chăn nuôi heo v.v
o Hỗ trợ khởi nghiệp vốn kinh doanh cho các thành viên tích cực Ví dụ: chị Sở (bán bánh canh tại thôn Bà Râu 2, xã Lợi Hải), chị Đẹp (bán hoa quả ở thôn Bà Râu 1, xã Lợi Hải); hỗ trợ cho 03 dự án kinh doanh (cửa hàng bánh mì, cửa hàng rau, đồ thủ công mỹ nghệ xã Phước Tiến và cửa hàng cháo xã Phước Tân), hỗ trợ bảng hiệu và trang thiết bị cho 2 hộ giết mổ heo Thuê-Lao (xã Phước Tiến) và Chung-Liệu (xã Lợi Hải);
o Hỗ trợ thành viên tích cực của các nhóm tham gia hội chợ cấp huyện (Bác Ái)
Trang 25trường, chuyển từ việc trao đổi sang mua bán sản phẩm nông nghiệp Ví dụ: Người dân
không còn nuôi heo chỉ để trao đổi, thờ cúng hoặc thích thì bán như trước đây, mà đã biết mua bán heo trên thị trường Quan sát của nhóm đánh giá cho thấy các hộ thành viên ở Bác Ái nuôi nhiều heo hơn ở Thuận Bắc (trung bình 5-7 con/hộ so với 2-3 con/hộ); mặt khác, các thành viên nhóm ở huyện Thuận Bắc dường như biết hạch toán thu chi tốt hơn so với các thành viên nhóm ở Bác Ái Ví dụ: các thành viên nhóm Bà Râu 1 có thể hạch toán khá chi tiết
lợi ích mà heo giống dự án hỗ trợ mang lại cho nhóm như sau: “Ban đầu nhóm được hỗ trợ
21 con heo giống, sau 2 năm vẫn còn 10 con còn sống Từ 21 con heo giống đã giúp tạo ra được khoảng 100 con heo con Heo con được nuôi 1-2 tháng rồi bán với giá 250-350 nghìn/con Như vậy sau 2 năm đã tạo ra nguồn thu từ bán heo cho nhóm là khoảng 30 triệu đồng (trung bình một hộ là 2 triệu đồng)” Hay họ có thể thực hiện các kỹ năng thị trường
như: “Các thành viên nhóm hiện đều mạnh dạn đi chợ bán hàng hóa do gia đình sản xuất
được như gà, rau, bắp, mít để có tiền mua lại các vật dụng cho gia đình và con cái Nếu đi bán gà thì được 500-600 nghìn đồng, bán rau thì được 100 nghìn đồng Khi bán đã biết hỏi hàng xóm hay các đại lý mua hàng để biết giá bán Nếu bán nhiều có thể hỏi vài đại lý xem giá ai mua cao hơn mới bán Nếu bán gà thì có thể bán 1-2 con trước để xem giá thế nào rồi mới bán cả đàn sau.”
Bảng 2.2 Bà con tự đánh giá, cho điểm các hoạt động của dự án
Hoạt động
Chấm điểm (nhiều sao thì mức độ
Tiêm phòng bệnh cho heo ** Cần tập huấn thêm
Nuôi giun quế cho heo ăn * Chưa có ai nuôi vì không có con giống
Trồng rau muống, chuối, cỏ
Nguồn: Kết quả thảo luận nhóm Phụ nữ thôn Bà Râu I, xã Lợi Hải, huyện Thuận Bắc
Trang 26Một số hoạt động dự án chưa đạt kết quả mong muốn
Các hoạt động thuộc Hợp phần 4 “Phát triển thị trường cho nông sản địa phương” như: Hỗ trợ trưởng, phó nhóm sở thích đi liên hệ với các chủ lò mổ, siêu thị, cửa hàng
và nhà hàng để quảng bá sản phẩm của nhóm; Hỗ trợ trưởng, phó nhóm, thành viên nhóm sở thích kinh doanh giỏi tham dự hội thảo ngành hàng liên quan, diễn đàn về sản xuất kinh doanh cấp tỉnh/huyện; Hội thảo "Tìm đầu ra bền vững cho sản phẩm heo đen" tại xã Phước Tiến; Hỗ trợ giới thiệu, quảng bá sản phẩm địa phương đến các siêu thị và nhà hàng Một lý do có thể là thời điểm chưa chín muồi - trình độ chăn nuôi heo đen của bà con còn quá thấp cả về qui mô và chất lượng nên chưa có sản phẩm hàng hóa đưa ra thị trường Sau đó, Ban quản lý DA và Oxfam đã đồng ý thay bằng hoạt động “Thuê tư vấn cấp quốc gia khảo sát, nghiên cứu thị trường đầu ra bền vững cho ngành hàng heo đen, lập kế hoạch sản xuất, kế hoạch kinh doanh cho tổ nhóm nuôi heo đen.”
Bên cạnh đó, các mô hình trồng rau, nuôi heo nhốt chuồng và giun quế ở xã Phước Tân cũng không thành công do tập quán chăn nuôi cũ theo kiểu tự nhiên vẫn còn hằn sâu trong ý thức của bà con Raglai, cần phải có sự hỗ trợ bền bỉ trong một thời gian dài mới có thể khắc phục được
Khi đặt bảng quảng cáo về heo đen ở xã Phước Tiến, Oxfam chưa thông báo cho Trạm Thú y theo qui định của Nhà nước (liên quan đến kiểm dịch động vật) => cần có sự hợp tác với chính quyền địa phương trong lĩnh vực này
II.3 Tính phù hợp của dự án
Có thể kết luận dự án có tính phù hợp cao với hoàn cảnh và điều kiện địa phương, cũng như nhu cầu của nhóm đối tượng - phụ nữ Raglai nghèo và cộng đồng người Raglai
Việc hướng nhóm đối tượng là đúng đắn
Ninh Thuận là một trong những tỉnh nghèo nhất vùng Nam Trung Bộ, người Raglai là cộng đồng nghèo nhất, sống tập trung ở 2 huyện Bác Ái và Thuận Bắc Đồng bào Raglai đang gặp phải nhiều thách thức: điều kiện tự nhiên khắc nghiệt (mưa ít, mùa khô kéo dài dẫn đến tình trạng thiếu nước, đất đai cằn cỗi ), trình độ sản xuất thấp kém chưa quan tâm đầu tư kỹ thuật vào trong sản xuất nông nghiệp, việc gieo trồng chưa theo lịch thời vụ
Phương pháp tiếp cận khoa học và hợp lý
100% đối tác và người dân được hỏi cho rằng dự án của Oxfam đã nghiên cứu kỹ địa bàn triển khai, tham vấn đầy đủ các bên liên quan nên nắm rõ được nhóm đối tượng và nhu cầu của họ “Oxfam hiểu rõ địa bàn và người dân hơn cả HPN” Phần lớn các hoạt động của dự án đáp ứng yêu cầu của người dân (tham gia sinh hoạt nhóm và cộng đồng, nâng cao năng lực về
kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi các sản phẩm truyền thống, tham gia thị trường ) Sự hỗ trợ bao gồm cả trong sản xuất (trồng trọt và chăn nuôi), đến tiêu thụ sản phẩm heo đen
Trang 27Tuy nhiên cần phân biệt và kết hợp 2 nhóm đối tượng hưởng lợi chính
Nhóm phụ nữ Raglai có tuổi là những người tuy khó tiếp cận KHKT và thị trường nhưng lại
có uy tín lớn trong cộng đồng để làm tuyên truyền/vận động/gây ảnh hưởng cộng đồng, với
nhóm phụ nữ Raglai trẻ (thanh niên) có học thức, biết tiếng Việt, biết tính toán để có thể áp
dụng các kiến thức được tập huấn vào làm kinh tế gia đình
Ngoài ra, một số hoạt động của dự án liên quan đến kỹ thuật nên tiếp cận theo hộ gia đình thay vì phụ nữ Ví dụ: các phụ nữ thôn Bà Râu I cho biết đã được tập huấn về thiến heo nhưng lúc về nhà làm thì rất run tay, nếu để chồng đi học thì tốt hơn7 Việc “dành riêng” quyền tham gia dự án cho phụ nữ có thể dẫn đến tình trạng nam giới không biết, không hiểu và ít giúp phụ
nữ chia sẻ công việc nhà
II.4 Hiệu quả thực hiện dự án
Nhóm đánh giá đồng ý với nhận xét của HPN tỉnh cho rằng mô hình dự án Oxfam khá hiệu quả vì đã giúp được phụ nữ DTTS nghèo và cán bộ HPN nâng cao năng lực làm kinh tế, tiếp cận thị trường và giảm nghèo
Điểm sáng nhất của dự án là đây qua tham gia sinh hoạt nhóm định kỳ, tập huấn và tham gia mua bán trên thị trường nhiều phụ nữ Raglai đã trở nên tự tin và mạnh dạn hơn trong giao tiếp
xã hội khác hẳn sự rụt rè, nhút nhát trước đây
Việc nuôi heo đen theo hướng kinh doanh bước đầu đã giúp bà con Raglai tăng thu nhập cho
hộ - bình quân một năm thêm 1-2 triệu đồng (trước kia không có heo nay đã có heo để bán) Việc đưa cán bộ phụ nữ cấp thôn vào làm trưởng hay phó nhóm là một sáng kiến đáng trân trọng Hơn nữa, trong bối cảnh khuyến khích đồng bào Raglai sản xuất hàng hóa và tiếp cận thị trường, Dự án cũng nên sử dụng cán bộ/phụ nữ người Kinh có tâm huyết và năng lực để phối hợp làm “đầu tàu” cùng các trưởng hay phó nhóm, không nhất thiết phải tuân thủ cứng nhắc tiêu chí “đảm bảo 100% hộ nghèo và DTTS” Trường hợp của anh Hùng, chị Hà và chị Tốt là những minh chứng thuyết phục nhất cho lập luận này (xem các câu chuyện điển hình trong Phụ lục 1)
Các hoạt động đối thoại chính sách, tuyên truyền vận động về bình đẳng giới, bạo lực gia đình cũng được đánh giá là đạt hiệu quả, đầu tư thấp nhưng đã mang lại tác động tích cực
Đã có thay đổi về sản lượng và thu nhập của bà con nhưng vẫn còn khiêm tốn
Chăn nuôi heo đen đã có sự cải thiện hơn trước nhưng vẫn là chăn nuôi nhỏ lẻ - trước khi có dự án thì thường một hộ trung bình chỉ nuôi 2-3 con heo Từ khi thành lập các nhóm nuôi heo thì hiện tại trung bình một hộ trong nhóm nuôi từ 5-7 con Sản xuất của bà con Raglai vẫn phụ thuộc nhiều vào thời tiết, mà mùa khô ở đây kéo dài từ tháng 12 năm trước đến tháng 9 năm sau thường đi cùng hạn hán Tình trạng thiếu
7 Kết quả thảo luận nhóm ngày 2/4/2015, thôn Bà Râu I, xã Lợi Hải, huyện Thuận Bắc
Trang 28nước tưới cũng là nguyên nhân làm cho một số mô hình vườn hộ trồng rau, trồng chuối chưa thành công
Chất lượng sản phẩm lợn đen mặc dù đã cải thiện hơn trước, nhưng vẫn chưa cao và vẫn có nhiều rủi ro về lợn bệnh (chiểm tỷ lệ khoảng 4%8) và tình trạng lai cận huyết Ngoài ra, bà con hiện bán lợn với giá khá cao nên chỉ có một số đối tượng có mối quan hệ tương đối gắn bó với Dự án đứng ra làm đầu mối tiêu thụ Các thu gom hay đầu mối tiêu thụ khác trên thị trường vẫn chưa thấy có lợi ích đáng kể để tham gia vào chuỗi sản xuất hiện tại của bà con Điều quan trọng ở đây là các nhóm cần phải kiên trì thực hiện đúng theo kế hoạch sản xuất kinh doanh đã thống nhất và theo hợp đồng bao tiêu sản phẩm đã ký kết với đầu mối bao tiêu/doanh nghiệp, qua đó giúp người thu mua có được nguồn cung ổn định để họ có thể mở rộng thị trường tiêu thụ cho bà con Công việc này đòi hỏi thời gian, ý thức tăng số lượng đàn heo đen, sự phối hợp nhịp nhàng giữa các thành viên trong một nhóm và giữa các nhóm
Tập huấn về thú y một số nội dung về chích ngừa, thiến heo đực thì các thành viên đã biết làm Tuy nhiên, tập huấn về các loại thuốc thì không ai nhớ và áp dụng được vì tên thuốc dài và khó Tập huấn tính toán thu chi thì thực tế các hộ nuôi heo bằng rau, chuối, cám của nhà mình nên chưa chú trọng đến chi phí đầu vào là bao nhiêu tiền Do vậy nếu tăng đàn heo theo kế hoách sản xuất kinh doanh thì bà con phải lưu ý đến tính toán đầu vào một cách chi ly và thường xuyên hơn
Bên cạnh những hoạt động được người dân và đối tác đánh giá cao, nhóm đánh giá đã ghi nhận những nhận xét đáng lưu ý của đối tác địa phương như:
Oxfam đã đưa ra một phương pháp tiếp cận giảm nghèo toàn diện: giúp người nghèo
và phụ nữ nghèo DTTS thay đổi tư duy truyền thống, hỗ trợ phát triển sản xuất và tiếp
cận thị trường, nâng cao vai trò làm chủ kinh tế của người phụ nữ Raglai Tuy nhiên,
việc DA thu hẹp phạm vi sản phẩm được hỗ trợ (từ ngô, lúa, heo, bò) xuống chỉ còn con heo đen đã hạn chế kết quả và tác động Trên thực tế, con heo đen, mặc dù phù
hợp với đối tượng phụ nữ DTTS, vẫn chỉ là một sản phẩm phụ chưa mang lại sự cải thiện cơ bản về kinh tế Ngoài ra, bà con Raglai đang gặp khó khăn về tìm kiếm giống heo đen có chất lượng Đối tác cho rằng lồng ghép các hình thức sinh kế phù hợp giữa chăn nuôi với trồng trọt là hướng lựa chọn hợp lý nhất để giúp bà con thoát nghèo bền vững
Việc dự án chỉ triển khai ở 3 xã trong tổng số 15 xã của hai huyện là tương đối hẹp, nên tầm ảnh hưởng của dự án là khá hạn chế Oxfam đã có lịch sử hoạt động trước đó
ở nhiều xã thuộc huyện Bác Ái Các đối tác được phỏng vấn cũng coi đây là một hạn chế cơ bản của dự án và nhiều lần đề nghị mở rộng phạm vi
8
Nhóm tư vấn Hoàng Xuân Trường, báo cáo “Nghiên cứu bổ sung chuỗi giá trị lợn đen và hỗ trợ kỹ thuật cho việc thử nghiệm chuỗi giá trị lợn đen tại Ninh Thuận”, tháng 10/2014
Trang 29II.5 Tính công bằng của dự án
Đảm bảo sự bình đẳng
Chồng đã giúp vợ nhiều hơn, tình trạng bạo lực gia đình giảm hơn trước đây Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng chồng say rượu chửi mắng vợ “Bây giờ cuộc sống khá hơn nên gia đình hòa thuận hơn Vì nghèo, không có tiền nên vợ chồng hay cãi lộn.” (Thảo luận nhóm thôn Trà Co
2, xã Phước Tiến)
Nhìn từ bên ngoài, việc Dự án tập trung vào phụ nữ có vẻ đúng đắn Tuy nhiên, trong bối cảnh dân tộc Raglai, một cộng đồng theo chế độ mẫu hệ, thì phương pháp tiếp cận này lại ẩn chứa một số thách thức Nhiều thói quen lạc hậu vẫn tồn tại dai dẳng do bị ràng buộc bởi các phong tục tập quán của chế độ mẫu hệ Ví dụ: khi 2 vợ chồng “có vấn đề” thì người chồng phải ra khỏi nhà với 2 bàn tay trắng; khi 2 vợ chồng gom góp được tài sản mà cha mẹ mất đi thì họ hàng đến lấy hết tài sản nên nhiều nam giới không có động lực làm giàu; tục lệ “bỏ mả” đòi hỏi chi tiêu rất lớn (bò, trâu), nhiều người phải vay mượn; tính ỷ lại và sự hỗ trợ của Nhà nước, v.v Ngược lại, “sức ỳ” của nam giới Raglai còn mạnh, đặc biệt ở lứa tuổi trên 45, họ
thường không chịu phấn đấu với suy nghĩ “Mình làm ra của cải sau này chết có mang đi được
đâu, để lại cho vợ xài hết!” Tỷ lệ ly dị của người Raglai rất thấp, và họ thường “xử lý nội bộ”
không đưa ra tòa Hậu quả (ví dụ: nợ nần) người phụ nữ phải gánh hết
Việc DA ưu tiên đối tượng tham gia các hoạt động chủ yếu là phụ nữ, đàn ông ít tham gia, đã dẫn đến tình trạng khi triển khai về gia đình gặp nhiều khó khăn bởi vì đàn ông là lao động chính mà họ lại không nắm được các thông tin cần thiết Do đó, trong cộng đồng Raglai, thì đàn ông cũng nên được coi là một đối tượng chính Họ cần được quan tâm đúng mức hơn để vừa tích cực tham gia làm kinh tế gia đình, vừa giúp phụ nữ có thời gian nghỉ ngơi và học tập Theo sự phân công truyền thống phụ nữ Raglai đảm nhiệm việc bán hàng, sau đó mua hàng thiết yếu cho gia đình (cá khô, rau, đường, muối ), còn đàn ông lên rẫy chặt chuối, cuốc đất,
làm việc nhà “Vợ đi chợ, còn chồng ở nhà làm ruộng/rẫy và các công việc khác trong nhà.”
Việc chuẩn bị hàng hóa do cả hai vợ chồng cùng làm., con gái lớn giúp mẹ đi chợ
Ít thay đổi liên quan đến ra quyết định
Về quyền ra quyết định trong gia đình của đồng bào Raglai hiện nay thì đa số vẫn có sự bàn bạc thống nhất của cả vợ lẫn chồng Trước đây, người phụ nữ cũng tham gia vào các quyết định, nhưng có phần ít hơn đàn ông Ngày nay do người phụ nữ đi chợ, sản xuất chăn nuôi có thu nhập tăng lên nên quyền quyết định, làm chủ trong gia đình cũng tăng lên
“Việc mua đồ hàng ngày do vợ quyết Việc hỏi giá bán hàng cũng do vợ hỏi nhiều hơn Mua
những thứ đắt tiền thì do 2 vợ chồng và con gái quyết định.” (Thảo luận nhóm thôn Trà Co 2,
xã Phước Tiến)
Bên cạnh đó, cán bộ BĐH huyện phản ánh, đối tượng bị dự án “bỏ quên” là nhóm thanh niên 15-35 tuổi, những người có sức lao động và khả năng tiếp thu kiến thức mới tốt hơn so với
Trang 30các đối tượng trung niên đang tham gia dự án Thế hệ này được đi học, biết chữ, biết nói tiếng phổ thông, biết tính toán, cũng mạnh dạn trong giao tiếp và được tiếp xúc nhiều hơn Do đó hướng dẫn kiến thức cho thế hệ này cũng dễ hơn, qua đó sẽ giúp thay đổi cộng đồng một cách
có hiệu quả trong tương lai gần Ở cấp xã cũng nhận ra vấn đề này và đã có một số hoạt động hướng vào các em như phối hợp nhà trường cho các em xuống tham quan các chợ phiên để các em tiếp xúc, làm quen, học hỏi thực tế…
Dự án cũng chưa có sự chú ý thích đáng hay tập trung tác động vào những người phụ nữ thuộc thế hệ lớn tuổi Những người này vẫn quen với các cách thức chăn nuôi và trồng trọt cũ
và lạc hậu, khó thay đổi Tuy nhiên họ lại chính là những người có tiếng nói quan trọng ảnh hưởng tới gia đình và cộng đồng Vì vậy cần chú ý có những biện pháp riêng, phù hợp để thay đổi cách nghĩ của những đối tượng này Nếu làm được như vậy thì sự thay đổi trong cộng đồng sẽ nhanh chóng và hiệu quả hơn
II.6 Tác động của dự án
Nhận thức của người dân Raglai, đặc biệt là của các thành viên nhóm sở thích về áp dụng
KHKT trong sản xuất và tiếp cận thị trường, thay đổi theo hướng tích cực Tất cả đối tác
và người dân được phỏng vấn đều coi đây là thay đổi quan trọng nhất Qua được tập huấn
và hướng dẫn thực hành, nhiều bà con Raglai lần đầu tiên biết tính toán chi phí sản xuất, giá hàng bán, đi chợ, biết mặc cả khi mua bán, sử dụng cân thay cho ca/lon, khảo giá Trước đây, đồng bào Raglai nuôi con heo đen như một thứ “của để dành”, để sử dụng vào các dịp cúng tế, hay bán đi mỗi khi cần tiền Từ khi tham gia vào các nhóm sở thích, được tập huấn, bà con đã biết tính toán chi phí-lợi nhuận trong việc nuôi heo Thay vì nuôi con heo 3-4 năm, bán được 1,5-2 triệu mà tốn rất nhiều thức ăn, bà con đã biết quay vòng, chỉ 6-7 tháng/ lứa heo mà vẫn bán được ngần ấy tiền mỗi con Bà con biết nuôi nhốt, ủ cám, trồng rau, chuẩn bị thức ăn, trích thuốc, thiến lợn, kêu cán bộ thú y khi thấy gia súc bị
bệnh, v.v Đi chợ bán hàng đã trở thành một thói quen mới đối với nhiều thành viên các
nhóm sở thích và gia đình họ Chợ Phước Tiến được xây mới từ năm 2013 đã giúp bà con
trong xã và xung quanh có cơ hội giao thương 4 lần/tháng Chợ Lợi Hải cũng duy trì sinh hoạt vào các ngày cuối tuần ven quốc lộ 1A
Hộp 2.7 Giấc mơ Chapi
Pinăng Thị Hiếm là một phụ nữ Raglai khoảng 30 tuổi sống ở thôn Suối Rua, xã Phước Tiến, huyện Bác Ái, cùng chồng và 4 đứa con Trước đây, kinh tế của gia đình chị chủ yếu từ trồng trọt, nuôi gà và nuôi lợn đen Khi cần tiền, chị bán lợn và gà cho những người thu gom tại nhà và thường phải bán với giá khá thấp do không biết sử dụng cân mà chỉ đo bằng gang tay Khi Dự án
“Tăng cường tiếp cận thị trường và khuyến khích phụ nữ Raglai làm chủ kinh tế tại tỉnh Ninh Thuận”được thực hiện tại xã Phước Tiến, chị có cơ hội tham gia các khóa tập huấn về nâng cao
nhận thức và kỹ năng kinh doanh, lập kế hoạch và quản lý kinh doanh nhỏ Bên cạnh đó, dự án còn hỗ trợ tổ chức các phiên chợ định kỳ tại xã (trước đây vào Thứ Sáu tuần thứ ba hàng tháng, từ năm 2013 là sáng thứ Sáu hàng tuần) cho chị em tham gia Pinăng Thị Hiếm tích cực tham gia bán các sản phẩm của giá đình làm ra
Trang 31Giờ đây, chị đã biết tính toán chi phí và thu nhập, sử dụng cân và mặc cả khi bán hàng Nếu trước đây chị bán một con gà khoảng 1,5 kg cho người thu gom tại nhà chỉ được 40 – 50.000đ, thì bây giờ chị bán được 100.000đ/kg, tức là cao hơn 3 lần Trong công việc kinh doanh, chị nhận được sự
hỗ trợ đầy đủ từ chồng – ngoài việc làm nông, anh còn đi chặt tre và làm ra các sản phẩm thủ công như đàn Chapi, gùi, cung nỏ, bắt cua núi, thu hái ớt và lá bếp (một loại rau địa phương) để chị mang ra chợ bán
Trung bình một phiên chợ chị bán được hàng hóa trị giá 400-500.000đ Nhờ tham gia bán hàng ở chợ, thu nhập của gia đình chị đã được cải thiện đáng kể so với trước đây
Nguồn: Trần Thu Thủy, thực tập sinh của Oxfam,
http://www.oxfamblogs.org/vietnam/2012/11/22/chapi-dream/#sthash.CFbs88KF.Avl64ZgE.dpuf
Phụ nữ Raglai cũng trở nên mạnh dạn hơn khi tham gia các hoạt động xã hội/cộng đồng
(tham gia sinh hoạt nhóm, đi tập huấn, đi họp thôn ) nói lên ý kiến/suy nghĩ của mình
Từ khi tham gia dự án (tập huấn, thực hành ), bà con đã biết cách quản lý tài chính tốt hơn, biết làm ra sản phẩm mang ra chợ bán, tạo thu nhập cao hơn trước đây
Qua đi chợ, bà con được giao lưu, nắm được thông tin thị trường, các thông tin văn hóa-xã hội từ đó nâng cao được nhận thức
Dự án giúp giải quyết được một phần vấn đề “bán lúa non” - bà con ít bị ràng buộc vào các hộ kinh doanh ở địa phương do đã bắt đầu biết bán hàng cho ai, vào thời điểm nào
Việc chăn nuôi heo đã giúp “phụ nữ giải phóng sức lao động”, họ ít phải làm việc chân tay hơn trước đây và nhường lại công việc cày cuốc cho đàn ông, thu nhập lại ổn định
Trang 32II.7 Tính bền vững và khả năng nhân rộng một số hoạt động của dự án
Duy trì các nhóm phụ nữ như hiện nay với nòng cốt là các thành viên giỏi/tích cực
Dù dự án Oxfam kết thúc, nhưng thành viên các nhóm sở thích được phỏng vấn tin rằng họ vẫn tiếp tục sinh hoạt nhóm, đi chợ, nuôi heo đen Các thành viên tích cực được trông đợi tiếp tục đóng vai trò đầu tàu Các thành viên bảo nhau tiếp tục đóng góp (ví dụ: 10.000đ/tháng) vào quỹ nhóm để cho vay quay vòng
Dự án kết thúc vẫn phải tiếp tục họp nhóm Nhóm đã có quỹ rồi, không giải tán được (Thảo
luận nhóm thôn Ma Ty và Đá Trắng, xã Phước Tân, huyện Bác Ái)
Đối tác đề cập vấn đề lồng ghép các yếu tố tích cực của dự án Oxfam vào các chính sách hiện nay của Nhà nước như: Chương trình 30a (hỗ trợ các hộ khá làm điểm tiếp cận thị trường);
DA Tam Nông xây dựng các nhóm chăn nuôi bò sinh sản (3 nhóm ở xã Công Hải); triển khai lập KH cấp xã có sự tham gia và theo định hướng thị trường
Để kết hợp với các hoạt động của dự án Oxfam, xã Phước Tiến đã xin thêm từ nguồn của dự
án Tam nông 4 lớp tập huấn kỹ năng buôn bán Trong đó, 2 lớp đã tiến hành trong năm 2014, còn 2 lớp đã có kế hoạch triển khai trong 2015 (Phỏng vấn ông Hoàng Văn Đặng, Chủ tịch
UBND xã Phước Tiến, huyện Bác Ái)
Nhiều khả năng các mô hình Oxfam đầu tư thành công như: lò bánh mì ở Phước Tiến, lò mổ Chung –Liệu ở Lợi Hải vẫn tiếp tục hoạt động
Đội ngũ cán bộ địa phương và người dân đã được dự án tập huấn và học được phương pháp làm việc của Oxfam (ví dụ: lập KH có sự tham gia, cách giao tiếp, tổ chức đối thoại chính sách) được trông đợi sẽ áp dụng trong thực tế công việc của mình)
Kết quả vận động chính sách của Oxfam
Cán bộ dự án của Oxfam và chuyên gia đã làm việc trực tiếp với Ban Điều phối dự án Tam Nông, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Ninh Thuận, Trung tâm Khuyến nông, Chi cục Thú y, đại diện Sở Công thương để chia sẻ các kết quả tư vấn khảo sát ban đầu, đặc biệt là Kế hoạch Sản xuất-Kinh doanh (heo đen) Đồng thời, đưa ra một số khuyến nghị chính sách cần sự hỗ trợ của các sở ban ngành nêu trên, đặc biệt là dự án Tam Nông trong việc bổ sung những hạng mục đầu tư nhằm tiếp tục duy trì hỗ trợ cho chuỗi heo đen sau tháng 3/2015 Một số thỏa thuận ban đầu như sau:
Heo đen đã được thể chế hóa là một trong 8 chuỗi giá trị chiến lược phát triển kinh tế của dự án Tam Nông Ninh Thuận Bên cạnh đó, cây chuối cũng đã được bổ sung vào
1 trong 8 chuỗi này như là một nguồn tạo thu nhập cho bà con DTTS và đầu vào để chăn nuôi heo
Lãnh đạo Ban Điều phối dự án Tam Nông đã nhất trí điều chỉnh kế hoạch 6 tháng cuối năm 2014 và chậm nhất là sẽ điều chỉnh kế hoạch hỗ trợ heo đen trong năm 2015 phù hợp với đề xuất của Oxfam