1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh Giá, Đo Lường Tác Động Của Các Nhân Tố Trong Chính Sách Tiền Tệ Đến Giá Vàng Là Yêu Cầu Cần Thiết Nhằm Tìm Ra Giải Pháp Kiểm Soát Giá Vàng Tại Thị Trường Việt Nam

53 220 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Đo lường tác động của các nhân tố tỷ giá, lạm phát, lãi suất… trong chính sách tiền tệ đến giá Vàng tại thị trường Việt Nam.. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và đo lường Chương 4: Dữ

Trang 1

Mục tiêu nghiên cứu:

- Xác định mối quan hệ giữa các yếu tố của chính sách tiền tệ đến giá vàng

- Đo lường tác động của các nhân tố (tỷ giá, lạm phát, lãi suất…) trong chính sách tiền tệ đến giá Vàng tại thị trường Việt Nam

- Đề xuất một số giải pháp mang tính chính sách nhằm ổn định thị trường vàng tại Việt Nam

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố của chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến giá Vàng tại Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Giá vàng SJC tại Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu

Nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp định lượng để đo lường tương quan giữa giá vàng trong nước với các nhân tố trong chính sách tiền tệ Nguồn dữ liệu được lấy

Trang 2

2

theo tháng trong 10 năm, từ tháng 1/2001 đến tháng 12/2011, thu được 132 quan sát,

và kiểm định qua 3 mô hình: Hồi quy đơn, hồi quy bội và hồi quy bội log-log

Kết cấu của đề tài:

Đề tài nghiên cứu được thực hiện trong 5 chương với kết cấu như sau:

Chương 1: Tổng quan về mối quan hệ giữa vàng và chính sách tiền tệ tại Việt Nam qua các giai đoạn

Chương 2: Những nghiên cứu tổng quan và cơ sở lý thuyết

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và đo lường

Chương 4: Dữ liệu thu thập và kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và một số khuyến nghị

Kết quả nghiên cứu là cơ sở dự báo giá vàng của dân chúng và giới kinh doanh khi các nhân tố trong chính sách tiền tệ biến động Đề tài cũng là cơ sở để Ngân Hàng Nhà Nước tham khảo khi đưa ra các quy định nhằm quản lý, điều tiết hoạt động kinh doanh và dự trữ Vàng cho quốc gia

Do hạn chế về thời gian và kiến thức, đề tài vẫn còn những hạn chế nhất định, nhóm tác giả mong nhận được những góp ý từ quý độc giả và các nhà nghiên cứu để hoàn thiện hơn trong các nghiên cứu tiếp theo

Trang 3

3

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VÀNG VÀ CHÍNH

SÁCH TIỀN TỆ TẠI VIỆT NAM QUA CÁC GIAI ĐOẠN

1.1 Đặc điểm của Vàng, vai trị của Vàng và mối tương quan với Chính sách tiền

tệ tại Việt Nam

1.1.1 Đặc điểm và tính chất của vàng:

Trong lịch sử phát triển của loài người, kim loại đóng góp một phần không nhỏ vào sự tiến hóa Từ thời đại đồ đá, chuyển sang thời đại đồ đồng, kim loại đã đưa xã hội loài người tiến lên một tầm cao mới Thế giới kim loại thật đa dạng và phong phú, trong đó vàng được con người tôn vinh là “vua của các kim loại”

-Vàng có tên Latinh là Aurum, ký hiệu hóa học là Au Nguyên tố hóa học nhóm I thuộc hệ thống tuần hoàn Mendeleep, số thứ tự nguyên tử là 74, nguyên tử lượng là 196,967 Trong các hợp chất hóa học, số oxy hóa của vàng là +1 và +3 Khối lượng riêng của vàng là d=19,32g/cm3 ở 20oC Nhiệt độ nóng chảy là 1060oC Nhiệt độ sôi 2950oC Vàng tinh khiết rất dẻo, người ta có thể dát mỏng được những lá vàng dày 3m Vàng dẫn nhiệt, dẫn điện tốt Vàng tinh khiết mềm, chịu mài mòn tốt, có thể dùng móng tay vạch thành vết

Trong tự nhiên vàng kim loại tồn tại dưới dạng vảy nhỏ lẫn trong đất, cát hay phân tán trong các mỏ thạch anh Hàm lượng của vàng trong vỏ Trái Đất khoảng 4,3.10-7 % Trong nước biển, vàng chiếm một hàm lượng trung bình khoảng 5.10-7

Vàng kim loại không bị đơn axít và đơn hóa chất hòa tan, vàng chỉ hòa tan trong các trường hợp sau:

+Vàng kim loại tan dễ dàng trong nước cường thủy (hỗn hợp axít HCl và axít HNO3 tỷ lệ 3:1)

+Vàng kim loại hòa tan chậm trong dung dịch xyanua (NaCN hay KCN) khi có mặt oxy (O2)

+Vàng kim loại hòa tan trong thủy ngân lỏng (Hg) tạo hỗn hống vàng Hàm lượng đạt 15% thì hỗn hống trở nên rắn

Trang 4

4

+Vàng còn dễ dàng tác dụng với khí clo (Cl2) ở nhiệt độ 150oC, tạo ra những chất oxy hóa rất mạnh nên dễ dàng dùng các chất khử để giải phóng vàng ra khỏi hợp chất

+Nguồn vàng chủ yếu hiện nay được khai thác từ quặng, trong đó mỗi tấn quặng chỉ có khoảng vài gam vàng Để khai thác vàng, quặng vàng được đem nghiền nhỏ, đãi để làm giàu quặng, xyanua hóa, vàng sẽ hòa tan biến thành phức chất NaAu(CN)2 rồi dùng Zn để giải phóng vàng kim loại

- Kim loại vàng có vẻ đẹp sáng bóng, sắc vàng rực rỡ choáng ngợp nên được con người sử dụng để làm đồ trang sức từ những năm trước công nguyên Hàng ngàn năm qua, phụ nữ trên thế giới luôn bị ánh sáng của vàng làm mê mẩn Vì vậy, ngành nữ trang kim hoàn đã phát triển từ thời rất xa xưa Bên cạnh đó, vàng nguyên chất có độ dẻo cao, dễ dát mỏng nên rất thuận lợi cho việc chế tác đồ kim hoàn, các linh kiện điện tử kể cả các vi mạch

1.1.2 Quá trình phát triển của vàng

1.1.2.1 Giá trị sử dụng:

Từ xa xưa, con người đã biết sử dụng vàng để làm các đồ tế tự, các pho tượng thần linh Dần dần, nghề thủ công mỹ nghệ kim hoàn hình thành và phát triển, trước hết phục vụ cho các hoạt động tôn giáo và biểu thị quyền lực như các đồ dùng bằng vàng, các công trình mỹ thuật, kiến trúc, điêu khắc vàng trong các đền chùa, cung điện, trang sức của vua chúa, hoàng tộc Khi vàng được khai thác nhiều hơn, nó được dùng để làm vật trang sức, trang trí, đúc những tượng lưu niệm như : Cúp bóng đá thế giới …

Ngày nay, vàng còn được dùng trong ngành nha khoa với các công dụng trám răng, bịt răng, làm răng giả … Trong ngành công nghiệp, vàng được dùng để chế tạo các linh kiện, thiết bị chính xác trong công nghiệp điện tử, chế tạo dụng cụ quang học, hàng không vũ trụ …

Và vai trò của vàng thật sự quan trọng trong đời sống con người khi nó mang hình thái tiền tệ Lúc đó, vàng có thể được chuyển hóa trực tiếp thành bất cứ hàng

Trang 5

5

hóa nào Đây mới là động lực để con người không ngừng tìm kiếm, khai thác, chế tác và tích trữ vàng trên khía cạnh giá trị nhiều hơn khía cạnh giá trị sử dụng

1.1.2.2 Giá trị của vàng với tính chất tiền tệ:

a/ Thời kỳ trao đổi hiện vật

Thời cổ xưa, loài người sống tập trung trong từng bộ lạc, chủ yếu là săn bắt, hái lượm rồi định cư, nuôi trồng, sản xuất, tự cung tự cấp Khi xuất hiện nhu cầu trao đổi cái đang có của mình để lấy cái cần có của người khác, vàng tham gia vào các cuộc trao đổi hiện vật chỉ thuần tuý với tư cách là một hàng hóa Nó có giá trị sử dụng nhất định, thỏa mãn những nhu cầu cụ thể trong đời sống sinh hoạt con người như những loại vật phẩm khác

Dần dần, nhu cầu của con người ngày càng đa dạng và phong phú, quá trình trao đổi đã xuất hiện một số vật đóng vai trò trung gian trao đổi Đây là những hàng hóa thỏa mãn các yêu cầu : phổ biến, giản dị, ở đâu cũng có, ai cũng biết, được mọi người ưa chuộng, tiện dụng, thông dụng và có thể giữ được lâu ngày … Và các loại quý kim - đặc biệt là vàng - đã thỏa mãn được những yêu cầu trên nên chúng có giá trị trao đổi ngày càng cao

b/ Thời kỳ vàng là một loại tiền tệ:

Với những ưu điểm vượt trội hơn những hàng hóa khác được sử dụng làm vật trung gian trao đổi như:

+ Đồng nhất về chất lượng

+ Dễ chia nhỏ

+ Dễ bảo quản, cất trữ, duy trì giá trị

+ Không quá hiếm nhưng cũng không dồi dào

Nhiều dân tộc đã chọn vàng để làm tiền - biểu hiện giá trị của hàng hóa trong quá trình trao đổi của xã hội loài người

*Phát hành tiền vàng

Tiền vàng được tiêu chuẩn hóa và được phép lưu hành chính thức Việc đúc tiền vàng thể hiện quyền lực của các vua chúa và Nhà Nước, nó biểu thị uy quyền của từng thời đại và là biểu tượng của mỗi quốc gia Dân chúng không được tự ý

Trang 6

6

đúc vàng thành tiền vì dễ có sự khác biệt về hình thức, chất lượng, số lượng vàng chứa trong mỗi đơn vị tiền mà Nhà Nước không thể kiểm soát được Nhà Nước luôn kiểm soát việc phát hành và lưu thông tiền vàng, hướng nó tác động vào các mục tiêu chung của xã hội thời bấy giờ

* Chức năng của tiền vàng

+Phương tiện thanh toán :

Thanh toán trong nước và thanh toán quốc tế, giúp cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, trao đổi hàng hóa trong xã hội được thuận lợi, dễ dàng, thúc đẩy trình độ chuyên môn hóa cao và phân công lao động hợp lý giữa các khu vực

+ Thước đo giá trị:

Với việc sử dụng một đơn vị thanh toán chung khi quy định giá cả, mọi sự giao dịch được đơn giản hóa rất nhiều, đồng thời còn cho phép thanh toán với những kỳ hạn nhất định

+Phương tiện tích trữ hữu hiệu :

Tiền vàng đóng vai trò là một loại của cải, tài sản an toàn không những cho các cá nhân mà cho cả Nhà Nước dưới dạng tài sản quốc gia Ngân Hàng Nhà Nước dự trữ bằng tiền vàng nhằm giải quyết các khó khăn về cán cân thanh toán và đảm bảo giá trị cho những loại tiền tệ khác nhau đang lưu hành trong nước

c/ Thời kỳ vàng đóng vai trò bảo đảm giá trị cho các loại tiền tệ khác ngoài tiền kim loại (tiền vàng, tiền bạc)

Khi nền kinh tế phát triển cao hơn, các ngân hàng cấp cho thân chủ có ký gởi vàng những tấm biên lai có đặc điểm chia thành nhiều tấm nhỏ có thể đổi ra vàng tại ngân hàng ký phát hay chuyển nhượng cho người khác Đây là tiền đề cho sự ra đời của tiền giấy Thời gian đầu, khi phát hành tiền giấy, phải chấp nhận một số điều kiện kiểm soát của nhà nước như sau:

- Điều kiện khả hoán: Số tiền giấy phát hành bất cứ lúc nào cũng có thể đổi lấy tiền thực (tiền vàng) tại ngân hàng phát hành

Trang 7

- Ngân hàng phải trả một số thuế trên giá trị số tiền giấy phát hành thặng dư

so với số vàng bảo đảm

- Mỗi khi nhà nước cần tiền, ngân hàng phát hành phải cho vay không lấy lãi Đây là giai đoạn vàng đóng vai trò đảm bảo giá trị cho tiền giấy Đến khi tiền giấy không còn được chính quyền chấp thuận đổi ra vàng thì vai trò của vàng có suy giảm đáng kể nhưng vẫn chưa bị loại hẳn ra khỏi các giao dịch thanh toán Sau nhiều biến động thăng trầm trong lịch sử, chúng ta đều nhận ra vàng luôn có giá trị thực sự trong việc bảo toàn vốn, nhất là trong những lúc khó khăn về chính trị, thiên tai, chiến tranh…

1.2 Những đặc trưng lớn của Thị trường Vàng tại Việt Nam từ năm 1975 đến nay, và ảnh hưởng của từng thời kỳ kinh tế đến giá Vàng

1.2.1 Giai đoạn 1975-1988:

Đây là thời gian cả nước Việt Nam đang đứng trước hàng loạt những khó khăn như: khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng lại đất nước trên mọi mặt Thời kỳ này, chúng ta thực hiện nền kinh tế tập trung, bao cấp theo mô hình truyền thống của các nước XHCN Đặc điểm của nền kinh tế này không tạo được động lực phát triển, làm suy thoái năng lực sản xuất xã hội, lạm phát gia tăng với tốc độ chóng mặt, có khi lên đếân 700% khiến cho người dân càng mất tin tưởng vào giá trị đồng tiền Thêm vào đó là các chủ trương, chính sách như: đổi tiền, kiểm kê tài sản, kiểm tra hành chính, điều chỉnh giá bán buôn - bán lẻû… khiến cho người dân luôn hoang mang lo sợ Đồng tiền cầm trong tay ngày càng teo tóp dần giá trị nên buộc họ phải thường xuyên tích trữ vàng Trong bối cảnh đó vàng nổi lên với vai trò hàng hóa tiền tệ, là vật đảm bảo giá trị tiền đồng

Không chỉ riêng người dân mà ngay cả các đơn vị sản xuất kinh doanh của Nhà Nước cũng xem vàng và dollar là nơi trú ẩn tạm thời tốt nhất cho vốn lưu động

Trang 8

8

khi họ chưa mua được nguyên liệu Giá của tất cả các loại hàng hóa đều được người dân nhẩm tính và quy ra vàng Vì vậy, nhu cầu của vàng và dollar trong giai đoạn này tăng nhanh Vàng đóng vai trò dự trữ, tích lũy đối với nhân dân và các tổ chức tín dụng

Bên cạnh đó, dù Nhà Nước không công khai thừa nhận vàng làm chức năng lưu thông, thanh toán tiền tệ nhưng trong thực tế người dân đã trao đổi mua bán bằng những đơn vị “tiền vàng” Ví du: mua bán nhà cửa, xe cộ, hàng kim khí điện máy… Nhất là đối với hoạt động phi mậu dịch và buôn lậu (mà trong thời gian này xuất hiện rất nhiều do hàng hóa trong nước còn rất ít và hiếm) thì vàng vẫn có giá trị thanh toán rất mạnh Đặc biệt là những dịp Tết, cuối năm nhu cầu về vàng tăng cao gây sức ép đẩy giá vàng lên Như vậy, trong giai đoạn này ở một khía cạnh nào đó vàng đã thay tiền đồng đóng vai trò thanh toán - là đơn vị thanh toán

Trước tình hình đo,ù dù nhà nước không hề có chủ trương cho mua vàng bạc tư trang nhưng nhu cầu của xã hội luôn cần thiết, do đó mạng lưới kinh doang vàng của

tư nhân đã phát triển bất hợp pháp Tuy nhiên, với kinh nghiệm hoạt động kinh doanh, họ đã làm chủ thị trường vàng tại thành phố Hồ Chí Minh Mặc dù vào thời điểm này, ở thành phố Hồ Chí Minh đã có các cửa hàng kinh doanh vàng bạc nhưng

do thiếu sự lãnh đạo chặt chẽ, các cửa hàng này luôn hoạt động nằm ngoài thị trường Vì vậy, trong giai đoạn này, thị trường vàng thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu là do tư nhân thao túng và đầu cơ, làm giá Điều này dẫn đến hậu quả là Nhà Nước thất thu thuế, không thể kiểm soát được tuổi vàng trên thị trường, khiến cho nhân dân bị thiệt hại nhiều

1.2.2 Giai đoạn 1989-1997

Đây là giai đoạn quản lý vàng theo cơ chế kinh tế thị trường dưới sự quản lý của Nhà Nước Trước những cơn sốt giá vàng quá mạnh, bắt đầu từ năm 1988 trở đi, Nhà Nước đã ban hành nhiều quy định mới như:

- Tạo điều kiện dễ dàng cho các đơn vị, địa phương được phép nhập vàng

- Thừa nhận và cho phép tư nhân – các ngành kinh tế quốc doanh cũng được kinh doanh vàng

Trang 9

Trong giai đoạn này, một số đơn vị quốc doanh đã phát triển và đa dạng hóa hoạt động, cải tiến phương thức kinh doanh … tạo được niềm tin đối với khách hàng như : Công ty vàng bạc đá quý thành phố Hồ Chí Minh (SJC), Công ty vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ) Chính các đơn vị quốc doanh có uy tín này đã góp phần tích cực vào việc loại trừ tệ nạn thao túng giá vàng và hạn chế được việc hỗn loạn trong tuổi vàng của thị trường tư nhân Đặc biệt là sự ra đời của loại vàng miếng nhãn hiệu “Rồng Vàng” của công ty SJC đã kịp thời đáp ứng được nhu cầu của xã hội về dự trữ và thanh toán, góp phần vào việc ổn định giá cả thị trường, hạn chế những cơn sốt giá đột biến khiến thị trường hỗn loạn Trong thời điểm tư nhân thao túng thị trường vàng, người dân hoang mang, chỉ tin tưởng tìm mua vàng miếng hiệu Kim Thành sản xuất từ trước 1975 còn lưu hành trên thị trường, nhưng số lượng rất ít, thì sự xuất hiện vàng miếng hiệu “Rồng Vàng” do Nhà Nước chịu trách nhiệm về chất lượng, phân phối, lưu thông … là một chỗ dựa rất đáng tin cậy cho nhân dân Thêm vào đó, mẫu mã vàng miếng “Rồng Vàng” rất đẹp, thuận tiện trong giao dịch, cất trữ đã chiếm ưu thế Và đặc biệt là hệ thống cửa hàng phân phối dày đặc ở miền Nam và cả nước đã khiến cho thị phần vàng miếng SJC ngày càng được mở rộng và đến được với mọi tầng lớp nhân dân Và cho đến ngày nay, Công ty Vàng Bạc đá quý thành phố Hồ Chí Minh (SJC) thực sự đã xác lập được thị phần và uy tín trên thị trường thành phố Hồ Chí Minh và cả nước – thay thế cho nhãn hiệu Kim Thành – một thời làm chủ thị trường vàng miền Nam và Đông Dương trước năm 1975

Trang 10

10

Tuy nhiên thời gian này có nhiều thay đổi trong chính sách nhập khẩu vàng, chủ yếu là sự thay đổi liên tục đơn vị cấp phép nhập khẩu vàng Lúc thì do ngân hàng trung ương thông quavụ quản lý ngoại hối chịu trách nhiệm, lúc thì do ủy ban nhân dân thành phố cấp phép, lúc lại do tổng công ty vàng bạc đá quý Việt Nam … khiến cho việc nhập khẩu vàng không kịp thời, mất thời cơ Khi giá vàng quốc tế thấp thì không được phép nhập, khi giá cao thì không nhập, làm phát sinh cung cầu giả tạo

Thêm vào đó, trong giai đoạn này, lượng dollar (USD) của nước ta rất khan hiếm Hàng năm, số lượng hàng xuất khẩu để đem ngoại tệ về rất ít nên Nhà Nước

ta lo ngại việc nhập vàng sẽ làm chảy máu ngoại tệ Do đó, từ năm 1997 , Nhà Nước ta đã không cấp quota nhập khẩu vàng nữa

Bên cạnh đó, đây là thời gian chúng ta chuyển tiếp từ cơ chế kinh tế tập trung, bao cấp sang cơ chế kinh tế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà Nước, hành lang pháp lý và những chính sách khuyến khích đầu tư của Nhà Nước vẫn chưa được nhân dân tin tưởng lắm, nên người dân vẫn còn ngại ngần trong việc tiến hành hoạt động kinh doanh trên cả nước Tâm lý của người dân trong giai đọan này vẫn rất ưa chuộng việc tích trữ vàng Hậu quả chính sách tiền tệ sai lầm của giai đoạn trước vẫn còn dư âm, khiến người dân luôn núp dưới bóng của vàng Và vàng vẫn đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của Việt Nam tuy mức độ đã giảm nhẹ hơn nhiều so với giai đoạn trước

1.2.3 Giai đoạn 1997- 2007

Từ năm 1997 cho đến nay, tình hình kinh tế của Việt Nam có nhiều bước chuyển đổi mạnh Nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà Nước dần đi vào quỹ đạo chung, GDP hằng năm gia tăng đáng kể, kiềm chế được lạm phát

Toàn bộ bộ mặt của nền kinh tế Việt Nam đã đổi khác, nhiều thành phần kinh tế trong xã hội được khuyến khích mở rộng hoạt động kinh doanh Nhiều chính sách thông thoáng được ban hành cùng với sự kêu gọi đầu tư ở khắp các tỉnh thành trong cả nước Hành lang pháp lý dần được mở rộng và

Trang 11

11

đảm bảo cho lợi ích của người đầu tư Do đó, người dân Việt Nam đã mạnh dạn hơn trong việc đầu tư kinh doanh, mở rộng hoạt động sản xuất Tâm lý người dân không còn bị ám ảnh bởi tốc độ lạm phát chóng mặt như trước, không còn tâm lý mua vàng cất trữ đề phòng lạm phát Mà đã biết sử dụng tiền đầu tư vào nhiều lĩnh vực như : mua bán bất động sản, đầu tư vào những giấy tờ có giá trị, bỏ vốn sản xuất kinh doanh … Với sự kiềm giữ tốc độ lạm phát như trên, trong 3 năm từ 1999-2001, gần như đồng tiền Việt Nam không bị mất giá là bao Dân chúng đã sử dụng tiền đồng trong mọi giao dịch mua, bán hàng hóa Niềm tin của dân chúng vào tiền đồng đã gia tăng đáng kể Bên cạnh đó việc kềm giữ lạm phát ở mức thấp đã có những hiệu quả tích cực, mặc dù giá vàng trong nước có biến động do ảnh hưởng của giá vàng thế giới thì cũng không ảnh hưởng đến mức lạm phát trong nước

Qua bảng phân tích trên ta thấy, mức biến động của giá vàng và các hàng hóa khác trên thị trường Việt Nam là không tương ứng với nhau Vàng không còn ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế của Việt Nam như trước đây nữa Năm 2000, giá vàng giảm 1,7% nhưng giá các hàng hoá và dịch vụ khác chỉ giảm có 0,6%, còn năm 2001, dù giá vàng tăng 5% do ảnh hưởng cuộc khủng bố ngày 11-9 nhưng giá các hàng hoá và dịch vụ khác chỉ tăng 0,8% Trong khi đó, năm 2002, giá vàng tăng 19,4% do ảnh hưởng bởi tình hình Mỹ muốn tấn công Iraq thì giá các hàng hoá và dịch vụ khác cũng chỉ tăng 4% Nhìn vào chi tiết các tháng trong năm ta cũng không thấy được sự ảnh hưởng của giá vàng đến nền kinh tế Việt Nam, thể hiện rõ trong năm 2002, từ tháng 4 trở đi, giá vàng tăng mạnh nhưng giá các hàng hoá và dịch vụ khác cũng chỉ tăng ở mức rất thấp, không hề có sự đột biến như giá vàng, mặc dù vào cuối năm, giá cũng chỉ nhích nhẹ lên do bị ảnh hưởng bởi giá xăng dầu thế giới tăng

Đặc biệt, từ năm 1997 cho đến năm 2001, Nhà Nước đã ngưng việc cấp quota nhập khẩu vàng vào Việt Nam, do tư tưởng sợ chảy máu ngoại tệ Điều này đã khiến cho hoạt động chuyển vàng lậu từ Campuchia về Việt Nam diễn ra sôi động mỗi khi có sự chênh lệch giá lớn giữa giá thế giới và giá trong nước, mà Nhà Nước thì không thể kiểm soát nổi Tuy nhiên, thị trường trong nước sẽ tự cân đối cung cầu,

Trang 12

12

giá trong nước sẽ dần giảm xuống bằng hoặc thấp hơn giá thế giới thì vàng lậu sẽ không tuồn về nữa Chính từ việc không thể quản lý được lượng vàng tuồn về mỗi đợt chênh lệch giá, cộng thêm việc thất thu thuế do vàng nhập lậu, nên đến năm

2002, Nhà Nước ta đã cho phép cấp quota nhập vàng cho một số đơn vị có đăng ký kinh doanh vàng

Tuy nhiên qua khảo sát giá vàng thế giới và giá vàng SJC ở thị trường thành phố Hồ Chí Minh , chúng ta nhận thấy rằng:

- Chênh lệch giữa giá thế giới và giá trong nước chỉ xảy ra trong thời gian ngắn

- Tốc độ biến động của giá trong nước thấp hơn so với tốc độ biến động của giá thế giới

- Từ năm 2002, đã bắt đầu có quota nhập vàng nhưng do chênh lệch giá thế giới và giá trong nước không nhiều nên mức nhập vàng vẫn rất thấp

1.2.4 Giai đoạn 2007 đến 2010

Đây là giai đoạn thị trường vàng của Việt Nam biến động nhiều nhất, do cĩ sự ra đời của các sàn Vàng trên cả nước Hoạt động giao dịch nhộn nhịp và vượt ngồi tầm kiểm sốt của cơ quan Nhà Nước Sàn vàng đầu tiên ra đời vào ngày 25/5/2007, chỉ hơn một năm sau, thị trường Việt Nam cĩ 7 sàn vàng lớn hoạt động, với khối lượng khớp lệnh và giá trị giao dịch tăng hơn trước rất nhiều

Với đặc điểm giao dịch được sử dụng “địn cân nợ”, nghĩa là khách hàng chỉ cần

ký quỹ 7% thì cĩ thể giao dịch 100%, phần 93% cịn thiếu, sàn sẽ cho khách hàng vay với lãi suất bằng với lãi suất ngân hàng Với những nét hấp dẫn như vậy, sàn vàng đã thu hút lượng người tham gia rất lớn và độ nở rộ của các sàn vàng cũng rất nhanh

Tuy nhiên, đặc điểm giao dịch như trên đã tạo nên lượng cầu về vàng “ảo” trên thị trường 93% giao dịch trên tài khoản đã tạo nên áp lực cầu trên thị trường thực, đẩy giá vàng trong nước cao hơn giá thế giới rất nhiều

Cụ thể, trong ngày 17/9/2008, chỉ riêng 4 sàn giao dịch vàng lớn ở Tp.Hồ Chí Minh đã cĩ số liệu như sau:

Trang 13

và nghĩa vụ của các bên khi tham gia giao dịch trên sàn vàng Đã xảy ra rất nhiều tranh chấp giữa nhà đầu tư và sàn vàng xuất hiện trong quá trình giao dịch ở thời gian này

Vì những lý do đó, đến tháng 3/2010, Nhà Nước cho đóng cửa hoàn toàn các sàn vàng, đưa hoạt động kinh doanh vàng ở thị trường Việt Nam trở về với những hoạt động giao dịch vàng vật chất thuần túy

1.2.5 Giai đoạn 2011 đến nay

Giai đoạn 2011 đến nay, thị trường Vàng đã được Nhà Nước quản lý chặt chẽ bằng Nghị Định 24/2012/NĐ-CP Theo đó, mọi hoạt động về giao dịch Vàng đều bị hạn chế Sàn Vàng đóng cửa, nguồn cung Vàng ra thị trường chỉ do Nhà Nước đảm nhận bằng các đợt đấu thầu, đưa vàng ra thị trường Hoạt động mua và bán vàng miếng chỉ do một

số đơn vị đảm nhiệm, hệ thống cửa hàng vàng dày đặc từ Bắc chí Nam chỉ được giao dịch nữ trang, không giao dịch vàng miếng Hoạt động kinh doanh vàng được Nhà Nước kiểm soát nghiêm ngặt, vàng được xem như hàng hóa đặc biệt, chịu sự chi phối của Nhà Nước Hàng loạt các công ty sản xuất vàng miếng phải đóng cửa xưởng sản xuất, bỏ dỡ thương hiệu đang xây dựng và chấm dứt mua bán những loại vàng miếng khác, ngoại trừ SJC

Trang 14

14

Cụ thể là từ sau Nghị Định 24 ban hành vào năm 2012, thị trường vàng tại Việt Nam có những thay đổi lớn Hàng loạt các thương hiệu vàng miếng phải đóng cửa như vàng Phượng Hoàng của PNJ, Vàng Bông Lúa của Ngân hàng ACB, Vàng AAA của Ngân Hàng Agribank hay Vàng Rồng Thăng Long của Bảo Tín Minh Châu Trên thị trường chỉ giao dịch duy nhất một loại vàng SJC do Ngân Hàng Nhà Nước quản lý mọi mặt, từ nguồn cung ra thị trường, cho đến giá cả các phiên đấu thầu Hoạt động kinh doanh thị trường vàng miếng được Nhà Nước kiểm soát chặt chẽ Ngân hàng Nhà nước

tổ chức cung cấp vàng ra thị trường qua các phiên đấu thầu công khai, tùy vào tình hình cung cầu trên thị trường

Tóm lại: Từ sau năm 1975 đến nay, thị trường vàng Việt Nam đã có những bước

chuyển biến dài, với những dấu mốc quan trọng, đánh dấu vị trí và vai trò quan trọng của vàng trong nền kinh tế Việt Nam Tùy vào đặc điểm của mỗi thời kỳ kinh tế khác nhau mà giá vàng tại thị trường Việt Nam biến động, phản ánh tình hình của mỗi thời

ký khác nhau Việc tham gia điều tiết và kiểm soát thị trường vàng của Nhà Nước là cần thiết Tuy nhiên, việc sử dụng công cụ, chính sách nào để điều hành thị trường thì cần phải có nhiều thông tin cụ thể và chính xác hơn

Trang 15

15

Chương 2: NHỮNG NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN

VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Cơ sở lý thuyết về giá cả

Để nghiên cứu biến động của giá vàng và mức độ tác động của các nhân tố trong chính sách tiền tệ, tác giả nghiên cứu khung lý thuyết hình thành giá cả hàng hóa nói chung và giá cả vàng nói riêng Nhóm tác giả sử dụng lý thuyết về cung cầu hàng hóa để giải thích cho sự hình thành giá vàng tại thị trường Việt Nam

2.1.1 Lý thuyết về cầu:

2.1.1.1 Khái niệm cầu:

Cầu là số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó mà người tiêu dùng muốn mua vả

có khả năng mua, sẵn sảng mua ở các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian nhất định

Hình 1: Biểu đồ minh họa đường cầu đơn giản

2.1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới cầu

a/Tác động của giá tới lượng cầu

*Đường cầu: Là đường biểu diễn mối quan hệ giữa giá cả và

lượng cầu trên trục tọc độ

*Luật cầu: Với hàng hóa thông thường, khi giá cả tăng thì lượng

cầu giảm và ngược lại

P

P1

P2

Q Q2

Q1

Trang 16

16

b/ Tác động của các yếu tố khác tới cầu

*Thu nhập

*Thị hiếu

*Giá của hàng hoá liên quan

*Quy mô thị trường

*Cơ chế chính sách của nhà nước

2.1.1.4.Hàm cầu

*Khái niệm: Hàm cầu là một hàm số biểu diền mối quan hệ giữa lượng cầu và các

nhân tố ảnh hưởng tới cầu

Qua nghiên cứu các yếu tố của cầu, chúng ta có thể biểu diễn mối quan hệ giữa lượng cầu đối với hàng hoá và các yếu tố ảnh hưởng dưới dạng hàm số tổng quát sau:

Q Dx = f (PX, PY, Pz, I, Ntd, CP, E ) Trong đỏ:

Q Dx :Lượng cầu đối với hàng hoá X

PX : Giá của lượng hàng hoá X

Py :Giá của lượng hảng hoá Y

PZ : Giá của lượng hàng hoá Z I: Thu nhập của người tiêu dùng Ntd :SỐ lượng người tiêu dung CP: Các chính sách vĩ mô

E : Kỳ vọng của người tiêu dùng

2.1.2 Lý thuyết về cung:

2.1.2.1 Khái niệm cung:

Cung là số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mả người sản xuất muốn bán và có khả năng bán ở các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian nhất định

2.1.2.2 Lượng cung:

Lượng cung là số lượng hàng hóa mà các doanh nghiệp muốn bán tại một mức giá đã cho với các yếu tố khác không đổi

2.1.2.3.Đường cung: Đường cung lả đường biểu diễn mối quan hệ giữa lượng

cung và giá cả trên một trục toạ độ

Trang 17

17

Hình 2: Biểu đồ minh họa đường cung đơn giản

2.1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến cung

* Tác động của giá đến lượng cung

Giá cả và lượng cung có mối quan hệ tỷ lệ thuận, giá tăng thì cung tăng, giá giàm thì cung giảm với khả năng sản xuất không thay đổi

* Tác động của các yếu tố khác đến cung

+ Công nghệ sản suất

+ Giá cả các yếu tố đầu vào

+ Chính sách thuế

+ Số lượng người sản xuất

+ Số lượng người lao động

+ Các kỳ vọng

2.1.2.5 Hàm cung

Khái niệm: Hàm số cung là hàm số biểu diễn mối quan hệ giữa lượng cung và các

nhân tố ảnh hưởng đến cung

Chúng ta biểu diễn mối quan hệ giữa cung và yếu tố khác dưới dạng tổng quát sau:

Q2

Trang 18

18

Cp : Là cơ chế chính sách của nhả nước

E : Kỳ vọng của doanh nghiệp trong tương lai

2.1.3 Cân bằng thị trường

2.1.3.1 Khái niệm điềm cân bằng: cân bằng là một trạng thái của thị

trường mà ở đó lượng cung bằng với lượng cầu, xác định mức giá cả chung gọi là giá cả thị trường

Tác động qua lại giữa cung và cẩu xác định giá cả và sản lượng hàng hoá, dịch vụ được mua và bán trên thị trường Đường cẩu cho biết lượng hàng hoá mà người tiêu dùng muốn mua tại các mức giá khác nhau và đường cung cho biết số lượng hàng hóa

mà các doanh nghiệp muốn bán tại các mức giá khác nhau Khi tất cả mọi người tham gia vào thị trường có thể mua hoặc bán một lượng bất kỳ mà họ mong muốn, chúng ta nói rẳng thị trường trong trạng thái cân bằng Đó là trạng thái mà cả người mua và người bán đều không thích thay đổi hành vi của họ Mức giá mà người mua muốn mua và người bán muốn bán theo ý của

họ được gọi lả mức giá cân bằng Sản lượng được mua và bán tại mức giá cân bằng gọi là lượng cân bằng

Mô hình cân bằng cung cầu thị trường

Hình 3: Biểu đồ minh họa cân bằng cung cầu trên thị trường

Xác định cân bằng thị trường bằng toán học

Chúng ta có thề xác định cân bằng thị trường bằng công cụ toán học nhờ việc sử dụng phương trình cung cầu;

P

Q Q1

P1

E

Trang 19

19

Qs = QD Giải phương trình, ta thu được giá trị cân bằng và sản lượng cân bằng

2.2 Chính sách tiền tệ và những nhân tố trong chính sách tiền tệ

2.2.1 Định nghĩa chính sách tiền tệ:

Chính sách tiền tệ là quá trình quản lý cung tiền của Ngân hàng Trung Ương để hướng tới một lãi suất mong muốn nhằm mục đích ổn định và tăng trưởng kinh tế

2.2.2 Phân loại chính sách tiền tệ

Tùy vào mục tiêu mà người ta chia chính sách tiền tệ thành các loại như sau:

Bảng 2: phân loại chính sách tiền tệ theo mục tiêu

Chính sách tiền tệ Biến số tác động Mục tiêu dài hạn

Mục tiêu lạm phát Lãi suất của nợ qua đêm Cố định tỷ lệ lạm phát

Mục tiêu mức giá Lãi suất của nợ qua đêm Cố định mức giá

Tổng cung tiền Tốc độ tăng cung tiền Cố định tỷ lệ lạm phát

Chính sách tổng hợp Lãi suất Tỷ lệ thất nghiệp + Lạm phát

2.2.3 Các công cụ của chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ gồm có 6 công cụ sau:

2.2.3.1.Công cụ tái cấp vốn

Đây là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Trung ương đối với các Ngân hàng thương mại Khi cấp 1 khoản tín dụng cho Ngân hàng thương mại, Ngân hàng Trung ương đã tăng lượng tiền cung ứng đồng thời tạo cơ sở cho Ngân hàng thương mại tạo bút tệ và khai thông khả năng thanh toán của họ

2.2.3.2.Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Là tỷ lệ giữa số lượng giữ lại trên tổng số tiền gửi huy động, nhằm điều chỉnh khả năng thanh toán (cho vay) của các Ngân hàng thương mại

Trang 20

20

2.2.3.3.Công cụ nghiệp vụ thị trường mở

Là hoạt động của Ngân hàng Trung ương trong việc mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, điều hòa cung cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến khối lượng dự trữ của các Ngân hàng thương mại, từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín dụng của các Ngân hàng thương mại dẫn đến làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ

2.2.3.4 Công cụ lãi suất tín dụng

Đây là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ bởi vì sự thay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiền trong lưu thông, mà có thể làm kích thích hay kìm hãm sản xuất Nó là 1 công cụ rất lợi hại Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là tổng thể những chủ trương chính sách và giải pháp cụ thể của Ngân hàng Trung ương nhằm điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng trong từng thời

kỳ nhất định

2.2.3.5.Công cụ hạn mức tín dụng

Đây là công cụ can thiệp trực tiếp mang tính hành chính của Ngân hàng Trung ương để khống chế mức tăng khối lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà Ngân hàng Trung ương buộc các Ngân hàng thương mại phải chấp hành khi cấp tín dụng cho nền kinh tế

2.2.3.6.Tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ Nó vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa là biểu hiên quan hệ cung cầu ngoại hối Tỷ giá hối đoái là công cụ, là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tác động mạnh đến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước Chính sách tỷ giá tác động một cách nhạy bén đến tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hóa, tình trạng tài chính, tiện tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hút vốn đầu tư, dự trữ của đất nước Về thực chất tỷ giá không phải là công cụ của chính sách tiền tệ vì tỷ giá không làm thay đổi lượng tiền tệ trong lưu thông Tuy nhiên ở nhiều nước, đặc biệt là các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi coi tỷ giá là công cụ hỗ trợ quan trọng cho chính sách tiền tệ

Trang 21

Hầu hết các giao dịch vàng được phép hoạt động tại Việt nam là giao dịch vàng vật chất

2.3.1 Giao dịch vàng tài khoản

Giao dịch vàng tài khoản là hình thức mua bán không có sự xuất hiện của hàng hóa (ở đây là vàng), nhưng dùng đơn vị là vàng để quy đổi và tính toán giá trị tiền trao đổi trên một tài khoản Mọi giao dịch vàng tài khoản đều sử dụng phần mềm chuyên dụng, tính toán trên số dư tài khoản và có một vài điều khoản được quy ước riêng giữa 2 bên mua bán như: mở tài khoản, số tiền đặt cọc, mức ký quỹ ban đầu, mức ký quỹ duy trì Ở Việt nam, từ năm 2007-2010, với sự xuất hiện của sàn vàng, giao dịch vàng tài khoản dùng giá vàng trong nước niêm yết trên thị trường để giao dịch Khi không còn sàn vàng, hầu hết các giao dịch vàng tài khoản đều sử dụng giá vàng thế giới để giao dịch Từ sau năm 2010, giao dịch vàng tài khoản không được cho phép hoạt động chính thức tại Việt Nam

2.4 Những nghiên cứu về biến động giá vàng

Vàng có một vị trí khá quan trọng trong nền kinh tế, nên khi đề cập đến vàng, nhiều tác giả trong nước và ngoài nước đã nghiên cứu về biến động của giá vàng Theo các tác giả trong và ngoài nước, giá vàng biến động phụ thuộc vào các nhân tố của chính sách tiền tệ chủ yếu như: giá vàng thế giới, tỷ giá, lạm phát, lãi suất tiền gửi ngân hàng Khi đề cập đến giá vàng thế giới tác động đến giá vàng trong nước, tác giả Ký Viet Tran (2009) đã sử dụng mô hình SVAR để đo lường tác động của những cú sốc giá vàng có liên quan đến tỷ giá và lạm phát trong nước Kết quả cho thấy có sự tương quan giữa giá vàng trong nước với tỷ giá và lạm phát Tuy nhiên, trong nghiên cứu này,

Trang 22

22

tác giả không chỉ đo lường các nhân tố của chính sách tiền tệ mà tác giả đo lường tác động của các nhân tố trong chính sách tiền tệ với nhau, và giá vàng tác giả sử dụng ở đây là mức chênh lệch của giá vàng trong nước và thế giới Vì vậy, trong nghiên cứu này chưa thấy rõ được tác động của các biến lạm phát và tỷ giá đến giá vàng, dù có đưa

ra bằng chứng là có sự tương quan

Năm 2004, tác giả Vuong Quan Hoang đã phân tích giá vàng và tỷ giá USD tại thị trường Việt Nam Tác giả đã sử dụng mô hình ARMA-GARCH để ước lượng chuỗi dữ liệu thời gian từ đầu năm 1998 đến tháng 5/2004 Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, tác giả nghiên cứu những nhân tố tác động đến cả vàng và USD, chứ không chỉ tập trung vào các yếu tố tác động đến vàng

Trong khi đó, vào năm 2011- TS Nguyễn Minh Phong-TS Nguyễn Thị Kim Nhã

trong bài “Kinh doanh vàng trong thời lạm phát” ở Tạp chí Thị Trường Tài Chính Tiền

Tệ số 8 ngày 15/4/2011- cho rằng giá vàng chịu tác động của: giá thế giới, lạm phát, sự suy giảm lòng tin vào thị trường nên làm tăng tâm lý tích trữ của người dân Ở đây, các tác giả sử dụng phương pháp định tính, thống kê mô tả để lý luận tại thị trường Việt Nam Vì vậy nên kết quả chưa có số liệu cụ thể

Cũng trong năm 2011- TS.Nguyễn Đại Lai trong bài “Bình luận và đề xuất giải pháp ổn định tỷ giá” ở Tạp chí Thị Trường Tài Chính Tiền Tệ số 6 ngày 15/3/2011- cho rằng giá vàng tăng không phải do mãi lực tăng mà tăng theo giá thế giới, theo giá USD

và theo kỳ vọng lạm phát

Khi đề cập đến giá vàng tại Việt Nam - Ông Đinh Nho Bảng – Phó chủ tịch kiêm Tổng Thư Ký Hiệp Hội kinh Doanh Vàng Việt Nam cho rằng: giá vàng Việt Nam bị tác động bởi: giá vàng thế giới, lạm phát, lãi suất ngân hàng, tỷ giá và cơ chế điều hành xuất nhập khẩu vàng phải có giấy phép hiện nay

Trên đây là những nghiên cứu của các tác giả Việt Nam có liên quan đến đề tài Trên thế giới, cũng có nhiều nghiên cứu về vấn đề này ở các quốc gia khác nhau như: Ganesh Mani and Srivyal Vuyuri khi nghiên cứu về giá vàng ở Ấn Độ, đã dùng phương pháp hồi quy với số liệu theo năm từ 1996 đến 2002 và lấy log đối với các biến phân tích Kết quả hồi quy như sau: giá vàng tại Ấn Độ có ảnh hưởng bởi các nhân tố

sau đây: lạm phát, lãi suất ngân hàng, tỷ giá, thị trường chứng khoán, giá vàng thời kỳ

trước, giá kim loại bạc và các sự kiện làm ảnh hưởng đến giá vàng

Trang 23

23

Khi phân tích về giá vàng -Christophe Faugère- Assistant Professor of Finance

School of Business, University at Albany trong bài “The Price of Gold – A Global Required Yield Theory” cho rằng biến động của giá vàng bị ảnh hưởng bởi các nhân tố: Tỷ lệ tăng của GDP, Tỷ giá, Lạm phát…

- Dr.Sindu – Associate Professor, School of Management Studies, Jawaharlal Nebru Technological University Hyderabad, India (2013) nghiên cứu từ năm 2006 đến

2011 đã tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng tại Ấn Độ, bao gồm: tỷ giá, giá dầu, lạm phát và repo rate Tác giả đã dùng ANOVA để tìm ra tác động của từng nhân tố đến giá vàng tại Ấn Độ Kết quả là tại Ấn Độ, giá dầu và lạm phát có quan hệ cùng chiều với giá vàng, Tỷ giá có quan hệ nghịch chiều với giá vàng và repo thì có giai đoạn quan hệ cùng chiều, và có giai đoạn quan hệ nghịch chiều

2.5 Xác định hướng nghiên cứu tiếp theo

Từ những nghiên cứu của các tác giả trên, nhóm tác giả nhận thấy ở Việt Nam, các nghiên cứu chủ yếu mang tính định tính, những lý luận được đưa ra là kết quả của kinh nghiệm theo dõi và quan sát từ thị trường Những nghiên cứu mang tính định lượng của tác giả trong nước, thì không có nghiên cứu nào dành riêng cho giá vàng,

mà chỉ ước lượng giá vàng như một nhân tố trong mô hình Bên cạnh đó, những nghiên cứu của nước ngoài mang tính định lượng nhiều hơn, các tác giả dùng các công cụ thống kê để đo lường cụ thể Vì vậy nhóm tác giả tìm hiểu các nhân tố của chính sách tiền tệ tác động đến giá vàng của thị trường Việt Nam được đo lường bằng phương pháp định lượng Cụ thể là đo lường tác động của các nhân tố trong chính sách tiền tệ như: lạm phát, tỷ giá, lãi suất…đến giá vàng tại thị trường Việt Nam

Trang 24

Khi đo lường tác động của các nhân tố, tác giả đề xuất sử dụng mô hình hồi quy bình phương bé nhất (OLS) để ước lượng với những kiểm định trong mô hình OLS (Ordinary Least Squares – Bình phương bé nhất) Ở đây chúng ta xét giá vàng trong nước biến động nhiều hay ít do tác động của các nhân tố sau đây:

-Giá vàng thế giới (Goldworld): phần lớn lượng vàng lưu thông trên thị trường

Việt Nam hiện hay là từ nguồn nhập khẩu, sản lượng vàng khai thác trong nước rất ít và nhỏ giọt, chất lượng vàng thu được không cao Hiện nay ở Việt Nam có

1 số mỏ vàng nhỏ nằm rải rác khu vực miền Trung như: mỏ vàng Bồng Miêu (Quảng Nam), Hằng năm, nhà nước đều nhập vàng để lưu thong và cân đối cung cầu trên thị trường Vì vậy, giá vàng Việt Nam bám rất sát giá vàng thế giới

Tuy nhiên, khi vàng thế giới được nhập vào thị trường Việt Nam, thì với tác động của một số nhân tố khác trong nước, khiến cho giá vàng biến động có độ chênh lệch so với giá vàng thế giới Có những thời điểm giá vàng trong nước còn biến động ngược chiều so với giá vàng thế giới với những biên độ rất lớn

Như vậy, bên cạnh việc bám theo giá vàng thế giới, dựa vào những phân tích từ khung lý thuyết và vị trí của vàng trong nền kinh tế Việt Nam, nhóm tác giả ước lượng các nhân tố khác có thể tác động đến giá vàng trong nước như sau:

-Tỷ giá USD so với VN (EXR: exchange rate): đây là nhân tố tác động rất lớn

vì muốn nhập khẩu vàng, các doanh nghiệp hay Ngân Hàng Nhà Nước phải sử dụng đồng USD để nhập vàng Và vì vàng có giá trị lớn, nên mỗi khi cần nhập vàng, thì xuất hiện một mức cầu lớn về USD trên thị trường ngoại tệ Điều này tạo áp lực lên thị trường USD Và vì vậy, tỷ giá USD cũng tác động đến giá vàng trong nước

- Lạm phát (CPI): Khi lạm phát tăng cao, giá trị của tiền đồng bị giảm đi, người

ta lại tìm đến vàng để mong bảo toàn giá trị cho số tài sản của mình Vì vậy, nên lạm phát cũng tác động đến giá vàng tại thị trường Việt Nam

Trang 25

25

- Lãi suất tiền gửi ngân hàng: Khi cất trữ tài sản, kênh gửi tiền ngân hàng có

độ rủi ro cũng thấp nên kênh này thu hút tiền gửi của dân chúng nếu lãi suất hy động tăng cao Ngược lại, khi lãi suất giảm thấp, khi cân đối với lạm phát thì không hiệu quả, lúc này người dân nghĩ đến việc giữ tài sản dưới hình thức mua vàng để đảm bảo giá trị Và như thế, sự biến động của tiền gửi ngân hàng ảnh hưởng đến già vàng ở thị trường trong nước

Khi đề cập đến giá vàng, có rất nhiều nhân tố bên ngoài, cả khách quan lẫn chủ quan cùng tác động đến giá vàng, ví dụ như:

+Chính trị: một tác động nhỏ của chính trị cũng làm giá vàng thay đổi, ví dụ:

Khi Trung Quốc đem giàn khoan Hải Dương vào cắm ở vùng biền của Việt Nam, gây mâu thuẫn trong quan hệ giữa 2 nước, thì giá vàng tại Việt Nam cũng thay đổi mức độ lớn

+Thị trường bất động sản: Việc chuyển đổi tài sản tích lũy của người dân Việt

Nam dưới dạng vàng hay bất động sản, thay đổi tùy tình hình Nếu thị trường bất động sản sôi nổi, người ta lại bán vàng và mua bất động sản, nhưng khi thị trường bất động sản đóng băng, người ta lại muốn nắm giữ bằng vàng Vì có mối tương quan như vậy, nên thị trường bất động sản cũng có ảnh hưởng đến thị trường vàng

Như vậy, có nhiều nhân tố cùng tác động đến giá vàng, nhưng trong giới hạn của bài viết này, tác giả chỉ đo lường tác động của các nhân tố trong chính sách tiền

tệ tác động đến già vàng Vì vậy, nhóm tác giả đã sử dụng các biến sau đây để đưa vào mô hình phân tích

Cụ thể mô hình được diễn giải như sau:

Giá vàng trong nước (Giavang) là một phương trình bao gồm 4 biến độc lập sau: giá vàng thế giới, tỷ giá USD, lãi suất tiền gửi và lạm phát

Giavang = f(goldworld, exr, cpi, lendrate)

- Đề xuất mô hình kinh tế lượng tương ứng:

Giavang = β 0 + β 1 goldworld + β 2 exr + β 3 cpi + β 4 lendrate

Để đo lường tác động của 4 biến độc lập goldworld, exr, cpi và lendrate lên biến phụ thuộc giavang, nhóm tác giả viết phương trình tương quan giữa các biến, kiểm định

mô hình bằng các phương pháp: hồi quy đơn, hồi quy bội và hồi quy lấy log

Trang 26

26

3.2 Trình tự phân tích

3.2.1 Hồi quy đơn:

3.2.1.1 Phương trình hồi quy đơn

Tác giả sử dụng hồi quy đơn để xem xét biến động của giá vàng trong nước có được giải thích bằng các biến độc lập khác như: giá vàng thế giới, tỷ giá, lạm phát, lãi suất tiền gửi Bên cạnh đó, việc sử dụng Hồi quy đơn cũng để kiểm định tính vững của

mô hình hồi quy bội

Y = β0 + β1 Xi + u Với Y : giá vàng trong nước (giavang)

i = 1,2,3,4…

X1 : giá vàng thế giới (goldworld)

X2 : tỷ giá USD/VND (exr)

X3 : lạm phát thể hiện qua chỉ số giá tiêu dùng CPI (cpi)

X4 : lãi suất tiền gửi hàng tháng (lendrate)

3.2.1.2 Giả thiết của mô hình hồi quy đơn

*Giả thiết 1: biến độc lập Xi và biến phụ thuộc Y là tuyến tính Biến độc lập cho trước và không ngẫu nhiên

E(Y/Xi) = β0 + β1 Xi

*Giả thiết 2: Sai số trong mô hình là ngẫu nhiên và có giá trị trung bình bằng 0, phương sai không đổi

E(ui) = 0

Var (ui) = σ2 = const

*Giả thiết 3: Biến độc lập Xi và sai số u không được tương quan với nhau tức là xuất hiện hiện tượng nội sinh

Ngày đăng: 17/04/2018, 03:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w