Theo đó, mục tiêu của môn học không chỉ thể hiện ở tính nhân văn góp phần hình thành, bồi đắp những tư tưởng, tình cảm và phẩm chất nhân văn cao đẹp của người học, hướng con người đến c
Trang 1BÁO CÁO ĐỀ DẪN HỘI THẢO CHUYÊN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC NGỮ VĂN TRONG NHÀ TRƯỜNG
TRUNG HỌC CƠ SỞ
1 Ngữ văn là một trong những môn học có tầm quan trọng hàng đầu trong
nhà trường phổ thông Đây là môn học xuyên suốt ở nhiều cấp học, bậc học Theo
đó, mục tiêu của môn học không chỉ thể hiện ở tính nhân văn (góp phần hình thành,
bồi đắp những tư tưởng, tình cảm và phẩm chất nhân văn cao đẹp của người học,
hướng con người đến cái chân, thiện, mĩ) mà còn thể hiện ở tính chất công cụ của
nó: giúp học sinh hình thành năng lực Ngữ văn bao gồm năng lực tiếp nhận văn bản (khả năng lĩnh hội, nắm bắt được các thông tin chủ yếu; từ đó hiểu đúng, hiểu thấu đáo, thấy cái hay, cái đẹp của văn bản, nhất là văn bản văn học) và năng lực tạo lập văn bản (khả năng biết viết, biết tổ chức, xây dựng một văn bản hoàn chỉnh đúng quy cách và có ý nghĩa) từ đó biết cách vận dụng vào thực tiễn cuộc sống một cách hiệu quả nhất (giao tiếp, ứng xử hàng ngày; phỏng vấn, sát hạch xin việc làm; thưởng thức nghệ thuật…)
2 Dễ thấy trong bối cảnh hiện nay, môn Ngữ văn nói riêng, các môn khoa
học xã hội nói chung trong nhà trường phổ thông đang bị rơi dần vào quên lãng Sự phát triển của công nghệ thông tin, sự sùng bái vật chất, sự lên ngôi của tâm lí thực dụng, sự xuống cấp của văn hóa đạo đức cộng với áp lực thi cử vào các ngành kinh
tế, khả năng tìm việc làm sau khi ra trường đã khiến cho các em học sinh không còn nhiều hào hứng với các giờ học Ngữ văn Ở mỗi tiết học, lẽ ra học sinh là những diễn viên thực thụ, tự mình tìm hiểu, khám phá kiến thức bài học dưới sự hướng dẫn của người đạo diễn là thầy cô giáo thì trớ trêu thay thầy cô giáo cùng lúc lại vừa đóng vai là đạo diễn vừa kiêm cả diễn viên chính Ở đó, sự tương tác, đối thoại tích cực đúng ra được diễn ra giữa thầy với trò, trò với trò thì lại được thay thế bằng màn độc thoại của thầy, điểm xuyết vào đó là những câu trả lời của học sinh để màn “độc diễn” của thầy bớt đơn điệu hơn Kết quả mang lại sau khi kết thúc giờ học là những tiếng thở phào nhẹ nhõm; những lỗi sai ngớ ngẩn, vô tội vạ về chính tả, dùng từ, đặt câu của các em trong các bài kiểm tra; tình trạng học sinh không viết nổi một tờ giấy xin phép, một biên bản sinh hoạt lớp, một lá đơn xin việc hay hoàn toàn vô cảm trước những hoàn cảnh đáng thương, dửng dưng với những hành động có tính nghĩa
cử cao đẹp mà lẽ ra văn chương đã giáo dục, bồi đắp cho các em đã không còn là
chuyện “xưa nay hiếm” Nói như một nhà thơ nước ngoài: Bi kịch của thời đại
chúng ta là thừa trí tuệ nhưng lại thiếu tâm hồn
Đi tìm nguyên nhân dẫn đến thực trạng nói trên, chúng ta sẽ tìm thấy vô vàn câu trả lời Do nội dung giảng dạy trong sách giáo khoa quá nặng so với nhu cầu thực tiễn và có phần xa rời thực tế Do trình độ của một bộ phận thầy cô giáo chưa theo kịp với những thay đổi của chương trình sách giáo khoa, với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học bộ môn Do khâu kiểm tra đánh giá chưa đủ phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức để kích thích hứng thú học tập của học sinh Do điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn về phương tiện thiết bị dạy học (tranh, ảnh, sơ đồ,
Trang 2dụng cụ nghe, nhìn để minh họa cho bài giảng, tài liệu tham khảo, các tác phẩm văn học) Do nhận thức chưa đúng đắn tầm quan trọng môn học của các bậc phụ huynh
Do tác động của hoàn cảnh xã hội, sự chi phối của tư tưởng thực dụng trong việc chọn ngành nghề (khả năng xin việc làm, mức thu nhập) Do khoảng cách giữa nói
và làm, giữa lí thuyết và thực tiễn của bộ phận có liên quan trong quá trình quản lí, chỉ đạo, thực hiện
3.Trong sản xuất, cái người ta quan tâm nhất chính là chất lượng đầu ra của
sản phẩm có đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng hay không Cũng như thế, trong giảng dạy môn học Ngữ văn, điều quan trọng nhất là chất lượng đầu ra của học sinh có đáp ứng kịp với nhu cầu công việc của xã hội hay không Thiết nghĩ, để giúp học sinh học tốt, học giỏi và học có hiệu quả môn Ngữ văn đòi hỏi sự “dấn thân”, “vào cuộc” mạnh mẽ, tâm huyết của đội ngũ nhà giáo hiện đang giảng dạy môn Ngữ văn, của lãnh đạo, các tổ chức đoàn thể trong nhà trường và sự tham gia của toàn xã hội Trong bối cảnh đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo còn
dở dang như hiện nay, việc lựa chọn khâu kiểm tra đánh giá để đổi mới có thể được xem như là một trong những bước đột phá để nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông nói chung, trường THCS nói riêng Nhận thức rõ điều
đó,Sở GDĐT tổ chức Hội thảo nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn trong nhà trường THCS.Mục tiêu của Hội thảo lần này nhằm rà soát quá trình kiểm tra, đánh
giá môn học Ngữ văn trong nhà trường THCS để nhận diện rõ những khó khăn, bất cập trong quá trình kiểm tra đánh giá môn học Trên cơ sở đó, Hội thảo sẽ xác định
hệ thống giải pháp để đưa ra những định hướng đổi mới, có tính chất đặc thù phù hợp với môn học và với đối tượng học sinh ở nhiều vùng miền khác nhau trên địa bàn tỉnh Theo đó, nội dung của Hội thảo tập trung vào các vấn đề sau:
- Biên soạn đề kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn theo định hướng phát triển
năng lực học sinh
- Cách thức hướng dẫn học sinh ôn luyện phần đọc hiểu trong đề kiểm tra
môn Ngữ văn
- Hướng dẫn học sinh giải quyết một đề bài lí luận văn học
4 Hội thảo nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn trong nhà trường THCSlần
này đã thu hút được sự quan tâm đông đảo của nhiều thế hệ nhà giáo, cán bộ quản lí trong trường THCS, THCS và THPT, Phòng GDĐT Ban tổ chức đã nhận được 32 bài tham luận gửi tới Hội thảo, với nội dung tập trung vào những vấn đề có ý nghĩa thiết thực, quan trọng và cần thiết cho quá trình dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông Theo đó, nhiều bài viết đã cho thấy sự đầu tư công phu, nghiêm túc và thể hiện rõ những trăn trở tâm huyết của các thầy cô giáo đang ngày ngày thắp lửa, giữ lửa và truyền lửa cho học sinh trong quá trình dạy học Ngữ văn Với nội dung phong phú, sâu sắc của các bài tham luận từ nhiều thế hệ nhà giáo, Hội thảo hi vọng
sẽ thu được những kết quả tốt đẹp, những định hướng đúng đắn, những phương pháp - biện pháp khả thi, tích cực để nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi nói riêng, dạy học môn Ngữ văn nói chung trong nhà trường hiện nay./
Trang 3Phần thứ nhất
BIÊN SOẠN ĐỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC HỌC SINH
Trang 4BIÊN SOẠN ĐỀ KIỂM TRA THEO ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
Lê Văn Dũng - Phòng GDĐT huyện Đông Hòa
Đổi mới kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn từ lâu đã trở thành vấn đề quan tâm hàng đầu của dạy văn, học văn Đây chính là khâu then chốt, là công cụ chủ yếu để xác định năng lực nhận thức người học, điều chỉnh quá trình dạy và học; là động lực
để góp phần đổi mới phương pháp dạy học, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng
bộ môn
I THỰC TRẠNG
Thực tế, những năm lại gần đây, các đề kiểm tra, thi tuyển sinh theo hướng đổi mới, có tính ứng dụng cao vào thực tiễn cuộc sống, tôn trọng chính kiến của học sinh, giúp các em bộc lộ năng khiếu, quan điểm, cách nhìn nhận của mình về thế giới xung quanh, tránh việc sao chép tài liệu, đọc vẹt một cách máy móc đã từng bước tạo sự chuyển biến trong dạy văn, học văn Cách đổi mới kiểm tra đánh giá như vậy đã được dư luận đồng tình cao, đón nhận nồng nhiệt
Đối với nhiều giáo viên, đề kiểm tra môn Ngữ văn vẫn chưa thoát khỏi lối cứng nhắc máy móc, đóng kín, tạo cơ hội cho kiểu học thụ động Hoặc có đề “mở” nhưng gây ra những tranh cãi vô lối Chúng ta đã tiếp cận đổi mới kiểm tra đánh giá theo kiến thức kỹ năng rồi đổi mới kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực nhưng không phải từng bài riêng lẻ mà của các chủ đề Như vậy, chuyên đề
tuy không có gì mới nhưng được xem là bước phát triển cao hơn
II GIẢI PHÁP: Hướng dẫn soạn câu hỏi, bài tập kiểm tra đánh giá theo định hướng năng lực của HS
1 Đặc điểm của đánh giá theo định hướng năng lực
Năng lực Ngữ văn được xác định là khả năng của mỗi học sinh thể hiện trong việc thực hiện những mục tiêu kiến thức, kỹ năng, thái độ mà các em đã có sẵn hoặc tiếp thu được và vận dụng trong quá trình học tập để từ đó hình thành và phát triển các năng lực:
- Năng lực sử dụng Tiếng Việt thể hiện ở 4 kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết);
- Năng lực tiếp nhận văn học, cảm thụ thẩm mỹ;
- Năng lực tự học;
- Năng lực thực hành, ứng dụng (trong đó chú trọng tới việc giải quyết tình huống thực tiễn)
a Giữa đánh giá theo định hướng năng lực HS và đánh giá theo chuẩn kiến
thức kỹ năng, đánh giá theo định hướng năng lực được coi là bước phát triển cao hơn của đánh giá theo chuẩn kiến thức kỹ năng
Trang 5Lý do: Đánh giá theo chuẩn kiến thức kỹ năng chủ yếu thiên về đánh giá mức
độ ghi nhớ, tiếp nhận, tái hiện, phát hiện kiến thức và rèn kỹ năng của người học; còn đánh giá theo định hướng năng lực quan tâm nhiều đến sự tiến bộ và khả năng của học sinh được bộc lộ trong quá trình học tập; kích thích được sự tự kiểm tra đánh giá của các em và kiểm định được chính xác, khách quan thành quả học tập và mức độ đạt được mục tiêu dạy học từ đó Chú trọng việc chấm chữa bài kiểm tra
b Không lấy việc kiểm tra đánh giá theo kiến thức kỹ năng đã học làm trung
tâm mà chú trọng khả năng vận dụng kiến thức kỹ năng trong những tình huống khác nhau Đánh giá theo định hướng năng lực chú ý đến các nội dung đánh giá mang tính tổng hợp, tích hợp hướng tới những câu hỏi gắn với việc giải quyết các tình huống thực tiễn trong cuộc sống phù hợp với học sinh; giúp các em biết ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống; kết nối những vấn đề được học với thực tiễn cuộc sống Việc kiểm tra đánh giá này hướng tới khả năng làm phong phú và mở rộng cuộc sống cá nhân của học sinh, kiểm soát những nội dung học tập để tham gia vào
xã hội trên các mặt văn hóa, khoa học…
c Giúp học sinh có cơ hội bộ lộ quan điểm, chính kiến cá nhân, suy nghĩ khác
nhau và cách cảm nhận cá nhân phát triển tư duy sáng tạo, từ đó biết cách tự học; giúp các em yêu thích, say mê học văn
So sánh 2 kiểu câu hỏi:
Ví dụ: khi kiểm tra về chủ đề các biện pháp tu từ (lớp 6), có thể đưa ra câu hỏi về phép nhân hóa:
Câu hỏi theo đánh giá theo chuẩn kiến thức kỹ năng:
1 Thế nào là phép tu từ nhân hóa? Có mấy kiểu nhân hóa?
2 Em hãy chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ nhân hóa được sử dụng trong đoạn thơ sau:
Sắp mưa
Sắp mưa Những con mối Bay ra
Mối trẻ Bay cao Mối già Bay thấp
Gà con Rối rít tìm nơi
ẩn nấp "
(Mưa- Trần Đăng Khoa)
Câu hỏi đánh giá theo định hướng năng lực: Nhận xét của em về cách miêu tả cơn mưa của tác giả Từ đó, hãy viết một đoạn văn tả các loài vật chuẩn bị đón mưa, trong đó có sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa
Trang 62 Cách, quy trình biên soạn đề kiểm tra đánh giá theo định hướng năng lực
Việc xây dựng đề kiểm tra gồm các bước thông thường: kế hoạch ra đề, xây dựng ma trận đề, biên soạn câu hỏi và hướng dẫn chấm, thẩm định đề kiểm tra, hoàn thiện đề Trong đó chú trọng các bước:
Bước 1:Xác địnhmục đích của đề kiểm tra
Đề kiểm tra là một công cụ dùng để đánh giá kết quả học tập của học sinh sau khi học xong một chủ đề, một chương, một học kì, một lớp hay một cấp học nên người biên soạn đề kiểm tra cần căn cứ vào yêu cầu của việc kiểm tra, căn cứ chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình và thực tế học tập của học sinh để xây dựng mục đích của đề kiểm tra cho phù hợp
Bước 2:Xác định yêu cầu về chuẩn kiến thức kỹ năng cần đạt
Bám vào chuẩn kiến thức kỹ năng để kiểm tra phù hợp Theo định hướng hình thành và phát triển năng lực nên khi xác định chuẩn kiến thức, kỹ năng cần hướng đến những năng lực có thể hình thành sau khi học chủ đề
Bước 3:Lập bảng mô tả phát triển năng lực học sinh
Bảng mô tả các mức độ đánh giá theo năng lực nhằm cụ thể hoá chuẩn kiến thức kỹ năng theo các mức độ khác nhau, nhằm đánh giá được khả năng đạt được của học sinh Các mức độ này được sắp xếp theo 4 mức: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, vận dụng cao (nên từ một chuẩn xây dựng các câu hỏi ở những mức khác nhau)
Đề kiểm tra bao gồm các câu hỏi, bài tập theo 4 mức độ yêu cầu:
- Nhận biết: nhắc lại hoặc mô tả đúng kiến thức, kĩ năng đã học;
- Thông hiểu: diễn đạt đúng kiến thức hoặc mô tả đúng kĩ năng đã học bằng ngôn ngữ theo cách của riêng mình, có thể thêm các hoạt động phân tích, giải thích,
so sánh, áp dụng trực tiếp (làm theo mẫu) kiến thức, kĩ năng đã biết để giải quyết các tình huống, vấn đề trong học tập; nội dung thể hiện ở việc thông hiểu thông tin, nắm bắt được ý nghĩa, chuyển tải kiến thức từ dạng này sang dạng khác, diễn giải các dữ liệu, so sánh, đối chiếu tương phản, sắp xếp thứ tự, sắp xếp theo nhóm, suy diễn các nguyên nhân, dự đoán các hệ quả Động từ mô tả yêu cầu cần đạt ở cấp độ
2 có thể quy về nhóm động từ: hiểu được, trình bày được, mô tả được, diễn giải được,
- Vận dụng: kết nối và sắp xếp lại các kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết thành công tình huống, vấn đề tương tự tình huống, vấn đề đã học; Động từ mô tả yêu cầu cần đạt ở cấp độ 3 có thể quy về nhóm động từ: vận dụng được, giải thích được, giải được bài tập, làm được
- Vận dụng cao: vận dụng được các kiến thức, kĩ năng để giải quyết các tình huống, vấn đề mới, không giống với những tình huống, vấn đề đã được hướng dẫn; đưa ra những phản hồi hợp lí trước một tình huống, vấn đề mới trong học tập hoặc trong cuộc sống Nội dung thể hiện ở việc phân tích nhận ra các xu hướng, cấu trúc,
Trang 7những ẩn ý, các bộ phận cấu thành, thể hiện ở việc sử dụng những gì đã học để tạo
ra nhữg cái mới, khái quát hóa từ các dữ kiện đã biết, liên hệ những điều đã học từ nhiều lĩnh vực khác nhau, dự đoán, rút ra các kết luận, thể hiện ở việc so sánh và phân biệt các kiến thức đã học, đánh giá giá trị của các học thuyết, các luận điểm, đưa ra quan điểm lựa chọn trên cơ sở lập luận hợp lý, xác minh giá trị của chứng cứ, nhận ra tính chủ quan, có dấu hiệu của sự sáng tạo Động từ mô tả yêu cầu cần đạt ở cấp độ 4 có thể quy về nhóm động từ: phân tích được, so sánh được, giải thích được, giải được bài tập, suy luận được, thiết kế được
Bước 4:Lập ma trận đề
Việc biên soạn câu hỏi bám vào ma trận đề kiểm tra đã thiết lập để thực hiện định hướng phát triển năng lực của học sinh
Bước 5:Biên soạn câu hỏi, hướng dẫn chấm
Biên soạn câu hỏi, bài tập kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học ứng với mỗi chủ đề đã xác định
Lựa chọn hình thức phù hợp: các loại câu hỏi, bài tập; thường là câu hỏi tự luận; lý giải, phát hiện, nhận xét, đánh giá về văn bản, ngôn ngữ, phong cách nghệ thuật
Cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Nội dung: khoa học và chính xác;
- Cách trình bày :cụ thể, chi tiết những ngắn gọn, dễ hiểu
- Phù hợp với ma trận đề kiểm tra
Để các câu hỏi biên soạn đạt chất lượng tốt, cần biên soạn câu hỏi thoả mãn các yêu cầu sau:
1) Câu hỏi phải đánh giá nội dung quan trọng của chương trình;
2) Câu hỏi phải phù hợp với các tiêu chí ra đề về mặt trình bày và số điểm tương ứng;
3) Câu hỏi yêu cầu HS phải vận dụng kiến thức vào các tình huống mới;
4) Câu hỏi thể hiện rõ nội dung và cấp độ tư duy cần đo;
5) Nội dung câu hỏi đặt ra một yêu cầu và các hướng dẫn cụ thể về cách thực hiện yêu cầu đó;
6) Yêu cầu của câu hỏi phù hợp với trình độ và nhận thức của HS;
7) Yêu cầu HS phải am hiểu nhiều hơn là ghi nhớ những khái niệm, thông tin; tránh những câu hỏi yêu cầu HS học thuộc lòng;
8) Ngôn ngữ sử dụng trong câu hỏi phải truyền tải được hết những yêu cầu của GV ra đề đến HS;
9) Nếu câu hỏi yêu cầu HS nêu quan điểm và chứng minh cho quan điểm của mình thì cần nêu rõ: bài làm của HS sẽ được đánh giá dựa trên những lập luận logic
Trang 8mà HS đó đưa ra để chứng minh và bảo vệ quan điểm của mình chứ không chỉ đơn thuần là nêu quan điểm đó
Bước 6: Xem xét lại việc biên soạn đề kiểm tra:
- Phát hiện những sai sót trong từng câu hỏi, đáp án và thang điểm về nội
dung cũng như cách trình bày;
- Đối chiếu câu hỏi với ma trận để kiểm tra về sự phù hợp giữa chúng;
- Đối chiếu nội dung câu hỏi với chuẩn kiến thức kĩ năng, với nội dung chương trình và trình độ của học sinh
* Một số lưu ý: Câu hỏi tự luận và bài viết: trên cơ sở kiến thức kỹ năng cần
đảm bảo các yêu cầu sau:
1 Tính tích hợp
Vì kiến thức trong môn Ngữ văn không học một cách riêng lẻ mà thường được khai thác dựa trên các đoạn trích hoặc văn bản Điều này không chỉ giúp học sinh có kỹ năng đọc và tiếp nhận văn bản dưới góc độ ngôn ngữ mà còn trang bị cho các em những hiểu biết về các kiến thức làm văn hoặc ngược lại Do đó câu hỏi kiểm tra ngoài việc ghi nhớ, tái hiện còn yêu cầu học sinh nhận diện chúng trong các tình huống cụ thể, hiểu ý nghĩa sử dụng của chúng trong đoạn trích hoặc văn bản
2 Tính ứng dụng thực tiễn
Năng lực Ngữ văn của học sinh thể hiện ở kết quả thực hành các kỹ năng mà học sinh có được từ các bài học Những kỹ năng này còn được thể hiện trong việc ứng dụng vào các tình huống đa dạng trong cuộc sống Do đó việc kiểm tra, đánh giá năng lực học tập của học sinh lý tưởng nhất là thiết kế được một bài tập thực hành tổng hợp, trong đó có sự kết hợp chặt chẽ giữa việc tiếp nhận và tạo lập văn bản Chú trọng tính chất gần gũi, thiết thực, hữu ích, gắn với những tình huống có thực hoặc giả định nhưng gần với thực tiễn cuộc sống
Ví dụ: với chủ đề truyện dân gian lớp 6 có thể đưa ra câu hỏi:
Câu 1 Từ việc được chứng kiến những trận bão số 12 vừa qua, em hãy giải thích tại sao trong các cuộc giao tranh quyết liệt giữa thần nước và thần núi trong truyền thuyết "Sơn Tinh, Thủy Tinh" tác giả dân gian để thần nước phải ngậm ngùi rút quân?
Câu 2 Trong giấc mơ em gặp Thủy Tinh, em hãy kể lại cuộc gặp gỡ tình cờ đó?
3 Tính giáo dục, mang ý nghĩa xã hội, thể hiện được chính kiến cá nhân
Các câu hỏi kiểm tra cần chú trọng phát huy tối đa tính tự giác, tích cực, chủ động của học sinh khi làm bài (hạn chế sử dụng những văn bản, tình huống quá quen thuộc với học sinh, nếu sử dụng những văn bản này, cần tìm tòi đổi mới câu hỏi) Giáo viên cần tìm hiểu nghiên cứu để xây dựng những tình huống giả định sát thực tiễn, lựa chọn những tình huống tạo được tính hấp dẫn, lôi cuốn với học sinh dựa trên những vấn đề có ý nghĩa xã hội, giáo dục sâu sắc, có tính thời sự tạo hứng thú và cung cấp thêm những thông tin bổ ích cho học sinh
Trang 9Bên cạnh đó, thiết kế những câu hỏi, bài tập chú trọng phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS; giúp HS bộc lộ được những quan điểm cá nhân nhằm phát triển tư duy độc lập, tư duy phản biện
Ví dụ: Tập làm văn lớp 9, phần nghị luận về đời sống xã hội có thể ra đề như sau:
NƠI DỰA
Người đàn bà nào dắt đứa nhỏ đi trên đường kia?
Khuôn mặt trẻ đẹp chìm vào những miền xa nào
Đứa bé đang lẫm chẫm muốn chạy lên, hai chân nó cứ ném về phía trước, bàn tay hoa hoa một điệu múa kì lạ
Và cái miệng nhỏ líu lo không thành lời, hát một bài hát chưa từng có
Ai biết đâu, đứa bé bước còn chưa vững lại chính là nơi dựa cho người đàn
bà kia sống
Người chiến sĩ nào đỡ bà cụ trên đường kia?
Đôi mắt anh có cái ánh riêng của đôi mắt đã nhiều lần nhìn vào cái chết
Bà cụ lưng còng tựa trên cánh tay anh, bước từng bước run rẩy
Trên khuôn mặt già nua, không biết bao nhiêu vết nhăn đan vào nhau, mỗi nếp nhăn chứa đựng bao nỗi cơ nhọc gắng gỏi một đời
Ai biết đâu, bà cụ bước không còn vững lại chính là nơi dựa cho người chiến
sĩ kia đi qua những thử thách
(Nguyễn Đình Thi, Tia nắng, NXB Văn học, Hà Nội - 1983)
Từ ý nghĩa văn bản trên, em hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 1,5 trang giấy
thi) trình bày suy nghĩ của em về Nơi dựa của mỗi người trong cuộc sống
III KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ
Việc kiểm tra đánh giá phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau đây:
kỹ năng và thái độ./
Trang 10CÁCH BIÊN SOẠN ĐỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ THEO ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
Lê Thị Hà - Trường THCS Lê Hoàn, Tây Hòa
I ĐẶT VẤN ĐỀ
- Trong quá trình đổi mới giáo dục, việc đổi mới nội dung phương pháp dạy học được chú trọng và xem như một khâu đột phá để nâng cao chất lượng giáo dục Đổi mới dạy học cần hình thức kiểm tra tương xứng để tạo ra động lực thúc đẩy nâng cao chất lượng dạy học Vì vậy đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh là rất cần thiết nhằm phát triển năng lực, trí thông minh, sáng tạo của học sinh, khuyến khích các em vận dụng linh hoạt kiến thức, kỹ năng
đã học vào những tình huống thực tế, làm bộc lộ những cảm xúc thái độ của học sinh trước những vấn đề được đặt ra trong cuộc sống hiện tại
- Kiểm tra đánh giá giúp học sinh biết được kết quả học tập của bản thân, giúp các em liên kết được mạch kiến thức và hình thành, rèn luyện những kĩ năng trong học tập vận dụng vào cuộc sống Bên cạnh đó kiểm tra đánh giá giúp giáo viên biết được việc học tập và chất lượng học tập của học sinh, tự đánh giá được việc giảng dạy của mình mà điều chỉnh nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học cho phù hợp Đổi mới kiểm tra đánh giá sẽ tạo động lực thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, thực hiện tốt mục tiêu giáo dục
- Xuất phát từ thực tế giảng dạy, tổ Ngữ văn trường THCS Lê Hoàn chúng tôi xin trình bày những ý kiến, kinh nghiệm về cách biên soạn một đề kiểm tra theo định hướng phát triển năng lực học sinh
II CÁCH THỨC BIÊN SOẠN ĐỀ
+ Đánh giá năng lực đọc hiểu cần chú ý chọn ngữ liệu đọc hiểu có ý nghĩa giáo dục, ngữ liệu rõ nguồn gốc và có độ tin cậy cao, chọn đa dạng các thể loại: thơ, văn, văn bản nhật dụng, văn bản văn chương, nội dung hợp với các đối tượng học sinh, hấp dẫn thú vị
+ Xây dựng câu hỏi trong đề kiểm tra cần diễn đạt ngắn gọn rõ ràng, câu hỏi phải liên quan đến ngữ liệu, mỗi câu hỏi phải hướng tới một mục đích để đo chính xác mức độ đạt được, không kết hợp nhiều ý nhỏ; không làm khó câu hỏi bằng cách diễn đạt; tránh câu hỏi có cách trả lời hời hợt, mơ hồ, nhiều phương án; không lấy việc kiểm tra kiến thức kĩ năng làm trung tâm mà chú trọng đến khả năng vận dụng kiến thức kĩ năng trong những tình huống khác nhau; chú ý đến kiểu câu hỏi giúp
Trang 11học sinh bộc lộ được những suy nghĩ, quan điểm cá nhân, phát triển tư duy phản biện, tư duy sáng tạo, khuyến khích cách lập luận trái chiều
Ví dụ: Thay vì đặt câu hỏi thiên về học thuộc máy móc, không phát huy được
sự sáng tạo của học sinh: Em hãy đọc thuộc lòng bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của
Thanh Hải và cho biết nội dung nghệ thuật của bài?
Chúng ta có thể thay bằng câu hỏi theo hướng phát triển năng lực của học
sinh: Học bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải, em thích nhất đoạn thơ
nào? Vì sao?
+ Đánh giá kĩ năng tạo lập văn bản của học sinh cần chú ý cách ra đề theo hướng mở và tích hợp
- Trong khâu đánh giá ở môn học Ngữ văn cần chú ý những điểm sau
+ Bám sát mục tiêu môn học và chuẩn kiến thức kĩ năng
+ Cần đánh giá học sinh ở 3 mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng Chú trọng hình thành, phát triển các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết năng lực cảm thụ văn học, năng lực tự học, năng lực thích ứng, năng lực giao tiếp trong các em
+ Coi trọng sự đánh giá toàn diện về các mặt kiến thức, kỹ năng, thái độ dựa trên kết quả thực hành các kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết tiếng mẹ đẻ của học sinh
+ Đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn của học sinh luôn dựa trên quan điểm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh, đánh giá được cách học và vận dụng kiến thức ở các em Mỗi một đề kiểm tra đều đảm bảo cho tất cả các đối tượng học sinh được suy nghĩ tìm tòi, khám phá, thực hiện Việc đánh giá phải giúp học sinh tự đánh giá được kết quả học tập của mình
+ Cần đa dạng hoá các hình thức và nội dung kiểm tra
+ Chú trọng tới tính phân hoá trong khi kiểm tra Đề kiểm tra phải giữ một tỉ
lệ nhất định cho những câu hỏi dễ và câu hỏi khó, sao cho điểm số phải phản ánh trung thực nhất năng lực học tập của mỗi học
2 Quy trình biên soạn đề kiểm tra
- Bước1 Xác định mục tiêu của việc kiểm tra đánh giá: Đề kiểm tra là một công cụ đánh giá kết quả học tập của học sinh sau khi học xong một chủ đề, một chương, một học kỳ, một lớp, một cấp học vì thế người biên soạn đề cần căn cứ vào yêu cầu của việc kiểm tra, căn cứ chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình và thực
tế học tập của học sinh để xây dựng mục đích của đề kiểm tra cho phù hợp
- Bước 2 Xác định hình thức kiểm tra: tự luận
- Bước 3 Thiết lập ma trận đề kiểm tra
+ Chọn chủ đề
+ Xác định yêu cầu về chuẩn kiến thức kĩ năng cần đạt
+ Lập bảng mô tả kiểm tra đánh giá phát triển năng lực học sinh
Trang 12- Bước 4 Biên soạn câu hỏi theo ma trận Cần đảm bảo nguyên tắc: mỗi câu hỏi chỉ kiểm tra một chuẩn hoặc một vấn đề; số lượng câu hỏi và tổng số câu hỏi do
ma trận đề qui định Câu hỏi phải đánh giá nội dung quan trọng trong chương trình Câu hỏi yêu cầu học sinh phải vận dụng kiến thức vào các tình huống mới Câu hỏi thể hiện rõ nội dung và cấp độ tư duy cần đo Câu hỏi phù hợp với trình độ và nhận thức của học sinh Ngôn ngữ trong câu hỏi phải truyền tải được những yêu cầu của giáo viên đối với học sinh
- Bước 5 Xây dựng đáp án và biểu điểm phải cụ thể, chi tiết, rõ ràng, ngắn gọn, nội dung khoa học, chính xác dễ hiểu đúng với ma trận
III XÂY DỰNG ĐỀ KIỂM TRA HỌC KỲ
Bước1 Xác định mục tiêu: kiến thức; kĩ năng; thái độ
Bước 2 Hình thức kiểm tra: tự luận
Cấp độ cao
- Lí giải được ý nghĩa nội dung mà đoạn thơ đề cập
Số câu 1
Tỉ lệ 30 %
30%x10 điểm= 3,0 điểm
30% x
10 điểm
= 3,0
điểm
Trang 13Số câu 1
Tỉ lệ 40 %
40% x 10 = 4,0 điểm
Bước 4 Biên soạn câu hỏi theo ma trận
ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ II THEO MA TRẬN
(Trích Sang thu, Hữu Thỉnh, Ngữ văn 9, Tập hai, NXB Giáo dục)
a) Nêu tác dụng của phép tu từ trong đoạn thơ trên
b) Qua đoạn thơ tác giả muốn gửi gắm những suy ngẫm gì về con người và cuộc đời
Câu 2 (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện yêu cầu:
Dường như vật duy nhất vẫn bình tĩnh, phớt lờ mọi biến động chung là chiếc kim đồng hồ Nó chạy, sinh động và nhẹ nhàng, đè lên những con số vĩnh cửu Còn đằng kia, lửa đang chui bên trong cái dây mìn, chui vào ruột quả bom
Quen rồi Một ngày chúng tôi phá bom đến năm lần Ngày nào ít: ba lần
(Trích Những ngôi sao xa xôi, Lê Minh Khuê, Ngữ văn 9, Tập hai, NXB GD)
a) Xác định thành phần biệt lập- gọi tên thành phần ấy
b) Tìm câu rút gọn có trong đoạn trích
Trang 14c) Chỉ rõ phép liên kết câu và liên kết đọan văn được dùng trong phần trích trên
Câu 3 ( 4 điểm)
Hạnh phúc của trẻ thơ là được đến trường, được học tập, được sống trong tình yêu thương, dìu dắt của thầy cô giáo.Suy nghĩ của em về vai trò của người thầy trong cuộc đời của mỗi người
Bước 5 Xây dựng đáp án, biểu điểm
1 a - Đoạn thơ sử dụng phép ẩn dụ
- Sấm vốn là hiện tượng tự nhiên thường xuất hiện khi trời mưa, ở đây “sấm” tượng trưng cho những vang động bất thường của ngoại cảnh cuộc đời
- Hàng cây đứng tuổi là hàng cây đã trải qua bao mùa mưa nắng Ở đây “hàng cây đứng tuổi” tượng trưng cho những con người từng trải có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống…
0,5
075
0,75
b Học sinh nêu được ý nghĩa ẩn dụ: con người đứng tuổi, từng
trải sẽ bình tĩnh, vững vàng hơn trước những tác động bất thường của ngoại cảnh cuộc đời
3 Yêu cầu chung:
- Thể loại: nghị luận về tư tưởng đạo lí
- Nội dung: Vai trò của người thầy trong cuộc đời của mỗi người
- Hình thức: bài viết có bố cục 3 phần rõ ràng, trình bày mạch lạc, liên kết tốt, lời văn trong sáng
Trang 15- Thầy không chỉ truyền dạy kiến thức mà còn dạy cách làm người, dạy biết điều hay, lẽ phải, dìu dắt nâng đỡ học trò lớn lên hoàn thiện về nhân cách Dạy trò biết sống yêu thương người, đoàn kết,
- Thầy cô còn là những người thắp sáng niềm tin và ước mơ cho học trò để các em biết sống có hoài bão, có lý tưởng
- Những điều mà người thầy truyền dạy cho chúng ta sẽ theo
ta trong suốt hành trình của cuộc đời
(Học sinh lấy dẫn chứng trong thực tế cuộc sống, trong văn học để chứng minh)
4 Bàn bạc mở rộng: "Tôn sư trọng đạo" là truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Tuy nhiên vẫn còn một số học sinh không biết nghe lời, ham chơi, bỏ học, thậm chí còn vô
lễ cãi lại lời thầy cô Đó thực sự là những học sinh hư
- Để bày tỏ lòng biết ơn với thầy cô, mỗi học sinh phải biết kính yêu, phải biết ơn và tôn trọng thầy cô giáo Đồng thời phải biết nỗ lực học tập, tu dưỡng đạo đức để xứng đáng là
Trang 16học trò ngoan
5 Khẳng định lại vấn đề, liên hệ bản thân
0,75 Bước 6 Kiểm tra lại việc biên soạn đề kiểm tra
THỬ TÌM DIỆN MẠO
ĐỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC NGỮ VĂN
Trần Văn Hùng - Trường THCS Triệu Thị Trinh, Sông Cầu
Đã quá lâu rồi chúng ta quen với cách đánh giá học sinh (viết tắt là HS) dựa trên những gì các em được học, được rèn trong nhà trường Không thể bắt các em cứ mãi loay hoay “đánh vật” với những mớ kiến thức sách vở nhà trường cùng những
kĩ năng thực hành trong không gian phòng học để rồi các em gần như “ngơ ngác” khi dấn thân vào cuộc sống Thay đổi cách đánh giá không còn là chuyện xu hướng
mà thực sự đang là yêu cầu
Đề kiểm tra – một công cụ dùng đánh giá, rất cần được thay đổi, nhất là khi dùng để đánh giá năng lực Để đánh giá năng lực Ngữ văn của HS, việc xây dựng đề
có một số điểm khác biệt so với cách ra đề đánh giá kiến thức, kĩ năng (viết tắt là KTKN) Không nói đến quy trình và thao tác biên soạn, xin đề cập đến một số điểm
mà chúng tôi cho là quan trọng
1 Chọn ngữ liệu ra đề
Cũng giống những đề kiểm tra đánh giá năng lực ở các môn học khác, đề kiểm tra đánh giá năng lực Ngữ Văn cũng hướng tới đánh giá nhiều năng lực khác nhau của HS Nhưng do nhiệm vụ và đặc trưng của môn học, đề kiểm tra đánh giá năng lực Ngữ Văn tập trung vào 2 mục tiêu chính: đánh giá năng lực đọc hiểu và năng lực tạo lập văn bản (viết tắt là VB) – loại năng lực chuyên biệt của bộ môn Cấu trúc đề bởi vậy cũng gồm 2 phần chính: phần đọc hiểu và phần viết Cả 2 phần đều dùng ngữ liệu như một phương tiện để định ra các yêu cầu Ngữ liệu luôn là yếu
tố rất quan trọng trong đề bài Việc chọn lựa ngữ liệu như thế nào, vì vậy, cần được quan tâm đặc biệt trong quá trình ra đề
Trong cái nhìn tổng quát có thể nhận ra đề kiểm tra KTKN do hướng đến mục tiêu đánh giá theo chuẩn KTKN nên ngữ liệu chủ yếu truy xuất từ nguồn sách giáo khoa do đó ít hấp dẫn (do HS đã quen) và cũng từ đó ít phát huy năng lực (do HS đã biết) Để đánh giá năng lực Ngữ Văn cần thêm nhiều ngữ liệu mới Đa dạng hóa ngữ liệu (từ kiểu loại VB đến phong cách ngôn ngữ) là việc làm cần thiết Đa dạng thế nào? Ngoài VB nghệ thuật (tác phẩm /đoạn trích tác phẩm) cần đưa thêm VB thông tin (mẫu tin, tranh ảnh, sự kiện…); ngoài các đề tài /chủ đề quen thuộc cần mở rộng
Trang 17ra các đề tài /chủ đề liên quan, gần gũi; ngoài lấy từ sách giáo khoa, sách bài tập cần khai thác thêm từ các ấn phẩm, báo chí, truyền hình, Internet Việc làm này không chỉ giúp giáo viên (viết tắt là GV) tạo ra kho đề phong phú, mới mẻ mà còn tạo cơ hội cho HS vận dụng các năng lực trong những hoàn cảnh mới gắn liền với đời sống mọi mặt Xét về mục đích đánh giá thì việc đa dạng hóa ngữ liệu gần như là một việc làm bắt buộc Tuy nhiên, việc lựa chọn hay sử dụng ngữ liệu để đưa vào đề cần tuân thủ một số nguyên tắc sau:
+ Đảm bảo tính giáo dục, tính thẩm mĩ, tính nhân văn;
+ Độ dài, độ khó, độ hứng thú phù hợp trình độ và tâm lý HS;
+ Xuất xứ tin cậy, rõ ràng;
+ Hàm lượng thông tin cao;
+ Không xa lạ về thể loại và chủ đề /đề tài
Chọn được một ngữ liệu hay là đã tạo được một nền tảng tốt cho đề kiểm tra đánh giá năng lực Nhưng đề bài có đánh giá được năng lực hay không lại còn phụ thuộc vào cách định ra yêu cầu, tức cách hỏi
2 Thiết kế câu hỏi
a) Thiết kế câu hỏi đánh giá năng lực đọc hiểu
Do đọc hiểu là năng lực chuyên biệt của môn Ngữ Văn nên đánh giá năng lực Ngữ Văn nhất thiết phải đánh giá năng lực đọc hiểu và triệt để đánh giá năng lực đọc hiểu
Đọc hiểu một VB, nhất là VB nghệ thuật /VB có tính phức hợp, không chỉ cần kĩ năng (tức cách đọc, cách giải mã) mà thực sự phải vận dụng nhiều năng lực (hiểu biết, liên tưởng, suy luận, suy cảm, cảm thụ, kết nối dữ kiện, trình bày…) Thiết kế câu hỏi đánh giá năng lực vì vậy có những đòi hỏi có phần khác biệt so với thiết kế câu hỏi đánh giá KTKN Xin nêu một ví dụ:
Đánh giá kiến thức, kĩ năng Đánh giá năng lực
Câu hỏi:Biện pháp tu từ gì được
sử dụng trong hai câu thơ “Ôi tiếng
Việt như bùn và như lụa Óng tre ngà
và mềm mại như tơ”? Tác dụng của
ngang bằng, phương diện so sánh là
tính chất → làm nổi bật đặc trưng của
Câu hỏi:Bằng 3-5 câu, hãy trình
bày đặc sắc của hai câu thơ “Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa Óng tre ngà
và mềm mại như tơ”?
→ Năng lực cảm thụ cái hay của 2 câu thơ (về nghệ thuật: so sánh cái trừu tượng với cái cụ thể, dùng hình ảnh biểu tượng, dùng từ biểu cảm; về nội dung: biểu đạt một cách sâu sắc và đầy cảm xúc đặc trưng của tiếng Việt: tiếng Việt là thứ tiếng mộc mạc nhưng rất mượt mà, óng ả và sang trọng)
→ Năng lực trình bày (giới hạn
Trang 18tiếng Việt) trong một đoạn văn ngắn)
Gần như cùng một vấn đề, nhưng hai cách hỏi khác nhau mục tiêu đạt được sẽ không giống nhau Câu hỏi đánh giá KTKN không đòi hỏi HS vận dụng năng lực nên không phát triển được năng lực; câu hỏi đánh giá năng lực buộc HS phải vận dụng năng lực nên qua trả lời, HS sẽ phát triển được năng lực.Phần lớn câu hỏi đánh giá năng lực có độ khó cao hơn so với câu hỏi đánh giá KTKN Nhưng bản chất của việc thiết kế câu hỏi đánh giá năng lực không nằm ở chỗ tạo ra một câu hỏi khó để đánh đố HS mà ở cái cách ta thiết kế câu hỏi sao cho HS phát huy được năng lực qua trả lời Đây chỉ là vấn đề kĩ thuật Cũng từ đó, khi xây dựng hệ thống câu hỏi cho phần đọc hiểu có lẽ GV nên tiết giảm số lượng câu hỏi ở mức độ vừa phải (khoảng 5-6 câu đối với bậc THCS và không quá 10 câu với bậc THPT) và chọn cách hỏi vừa với đối tượng Mặc khác, để đảm bảo đánh giá toàn diện năng lực, hệ thống câu hỏi nên quét trên một phổ đủ rộng cả phần tiếng và phần văn
b) Đề bài viết
Đề bài viết có thể xem là một câu hỏi lớn (chứa một /hơn một vấn đề) Để giải quyết vấn đề HS phải vận dụng nhiều kiến thức, kĩ năng, vốn sống, thái độ cho đến kinh nghiệm của bản thân để làm bài Đề bài viết, vì vậy, luôn là một yếu tố hết sức quan trọng và cũng luôn chiếm một vị thế đặc biệt trong đề thi Ngữ Văn
Xét ở mục tiêu đánh giá, một thời gian dài đề bài viết chỉ hướng tới kĩ năng
viết là chính (và cũng chỉ ở những thể thức gần như khuôn mẫu!) HS viết gì, viết ra
sao cũng chỉ được đánh giá trong khuôn phép hạn định Bởi vậy, cách ra đề bài viết nhìn chung cũng chưa phong phú và thiếu hấp dẫn
Đề bài viết hướng tới đánh giá năng lực, theo chúng tôi, cũng xem trọng khả năng viết nhưng đó không phải là mục tiêu duy nhất, càng không phải là mục đích cuối cùng Đề bài viết phải làm sao tạo động lực cho HS viết (muốn viết, muốn bày tỏ) và gây hứng thú (thích viết, thích bày tỏ) vì chỉ khi như thế các em mới bộc lộ hết cá tính sáng tạo và những gì muốn chia sẻ, muốn thể hiện Đây là cơ sở quan trọng nhất để đánh giá đúng năng lực thật sự của HS qua bài viết
Vậy đề bài viết phải ra như thế nào?Đề mở theo hướng tích hợp, loại đề gần đây được đưa vào các kì thi quốc gia, thi HS giỏi là một lựa chọn thích hợp Tuy nhiên, cũng dễ nhận ra đề tài /chủ đề vẫn chưa cởi mở Ta dạy HS điều tốt, nhưng ta cũng cần dạy các em biết nhận ra cái chưa tốt và thái độ ứng xử với nó Đó là cách sống cần thiết khi hòa nhập Đề bài viết nên mạnh dạn hơn trong chọn đề tài /chủ đề, miễn đừng xa lạ và phản cảm, trái ngược với đạo đức, pháp luật và bản sắc văn hóa dân tộc
Một điều cần nói thêm, ngữ liệu ra đề (cả phần đọc hiểu và phần viết) vẫn dựa chủ yếu trên kênh chữ trong khi nhiều vấn đề của cuộc sống, với sự bùng nổ của công nghệ truyền thông, được phản ảnh sinh động, hiệu quả và không kém phần sâu sắc qua kênh hình ảnh Đây là nguồn ngữ liệu dồi dào, ý nghĩa có thể dùng làm cơ
sở ra đề bài viết rất tốt Chúng ta còn thiếu loại đề này trong khi giới trẻ lại rất mẫn
Trang 19cảm và tương thích mạnh với hình ảnh Đọc hình ảnh, giải mã thông tin trên hình ảnh, nói /viết từ sự khơi gợi của hình ảnh là một năng lực tiềm ẩn mà có lẽ chúng ta đang bỏ quên, bỏ phí trong ra đề lâu nay
Xin nêu một ví dụ:
- Ngữ liệu thứ nhất: (dùng ra đề bài viết)
Trên trang web của CIWEM (đơn vị chuyên quản lý, phát triển nguồn tài nguyên nước và môi trường bền vững - Anh) vừa cho biết, trong cuộc thi ảnh quốc
tế Nhiếp ảnh gia môi trường 2017 (EPOTY 2017) do đơn vị này tổ chức, giải thưởng chung cuộc cao nhất của cuộc thi đã thuộc về nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Linh Vinh Quốc (Gia Lai, Việt Nam) với tác phẩm The hoppeful eyes of the girl making a living by rubbish (tạm dịch Đôi mắt đầy hy vọng của bé gái mưu sinh trên bãi rác)
Tác phẩm “Đôi mắt đầy hy vọng của bé gái mưu sinh trên bãi rác”
Cảm nhận của em về bức ảnh trên Từ thông điệp của bức ảnh, em hãy nói lên suy nghĩ của mình về vấn đề trẻ em hiện nay ở nước ta (bài viết khoảng 2-3 trang giấy thi)
- Ngữ liệu thứ hai:
Trang mạng Kenh14.vn (Kênh giải trí – xã hội) có đăng 2 mẫu tin đáng chú ý
sau:
Mẫu tin thứ nhất: Mẫu tin thứ hai:
Trận hỏa hoạn lịch sử ngày
18/6/2017 đã thiêu rụi những
cánh rừng khu vực miền trung
Tây Ban Nha và cướp đi mạng
sống của 62 người khiến chính
phủ nước này đã ra công bố 3
ngày quốc tang để tưởng nhớ
những nạn nhân xấu số của vụ
4 người thợ đào giếng ở Thuận An Bình Dương, đã chiến đấu suốt đêm qua để cứu bé gái 7 tuổi bị lọt dưới khe giếng Cô bé bị kẹt ở
độ sâu 13m, có thể tiếp tục rơi xuống cuối khe
hở sâu 80m Trong địa hình khó, đất mềm chảy, những người thợ phải làm sao để hố giếng không bị sụt lở đất Họ vừa đào vừa thay phiên nhau trò chuyện để bé đỡ hoảng sợ hoặc không
Trang 20cháy rừng thể ngủ, vì có thể bé buông ống thở nguy hiểm
cho tính mạng ở khu vực ít ôxy, và đội cứu hộ khó xác định được vị trí của bé Đến rạng sáng,
họ đã đưa được em bé lên mặt đất và trao em cho mẹ Khi em bé vào bệnh viện để hồi sức thì
họ thu gom vật dụng đi về nhà Nước mắt lem
má và nụ cười không thể rạng rỡ hơn trên gương mặt những người đàn ông lấm láp bùn đất ấy
(ảnh Pedro Brás, chụp
những người lính cứu hỏa nằm
ngủ 25 phút giữa trận cứu hỏa
(Ảnh chụp một người thợ đào giếng đang uống từng ngụm nước khi cứu hộ - Phước Tuấn)
Ngay sau khi được đăng tải,
bức ảnh này đã nhận được hơn
9,000 lượt yêu thích và hơn 6,000
lượt chia sẻ:
"Tôi dành tất cả lòng
ngưỡng mộ và sự biết ơn đến với
những người lính cứu hỏa Họ đã
chiến đấu không biết mệt mỏi và
can đảm để bảo vệ tính mạng cho
người dân"
"Cảm ơn các anh rất nhiều,
các anh đã làm hết sức mình"
"Từ nước Đức xa xôi, cảm
ơn các anh rất nhiều”
"Tôi là người Pháp nhưng
tôi rất ngưỡng mộ những nỗ lực
mà các bạn đã cống hiến để bảo
vệ cuộc sống cho người dân"…
Chỉ sau vài tiếng đăng tải, khoảnh khắc đắt giá được chụp lại này đã thu hút hơn 68 ngàn lượt like, 4,7 ngàn lời bình luận cùng hơn 2 ngàn lượt chia sẻ
“Các bạn thật tuyệt”
“Rất khâm phục lòng dũng cảm của các bạn”
“Cảm ơn các anh, một hình ảnh đẹp hiếm hoi giữa đời thường”
Trang 21Câu 2: Theo em, cái đẹp toát lên từ 2 bức ảnh là gì?
Câu 3: Nếu may mắn có mặt tại hiện trường lúc ấy, em nghĩ mình sẽ có hành động gì?
Câu 4: Thông điệp mà các bức ảnh mang tới cho người xem?
Câu 5: Đọc những lời chia sẻ từ 2 bức ảnh em nhận ra thái độ gì của mọi
người? Thái độ ấy nói lên điều gì?
Câu 6: Thử viết lời bình (dưới 10 từ) biểu dương về họ
Câu 7: Theo em, điều gì đã khiến những con người trong ảnh dám xả thân trong nguy hiểm?
Phần II – Viết:
Em sẽ nói gì nếu ai đó cho rằng người lính cứu hỏa phải làm vậy vì nghĩa vụ, còn người thợ đào giếng chỉ liều mạng hoặc vì danh tiếng? (Bài viết khoảng 2 trang giấy thi)
3 Xây dựng hướng dẫn chấm
Việc đánh giá (dù theo chuẩn hay năng lực) ở môn Ngữ Văn thì phần cảm tính xem ra vẫn cao hơn các môn khác và không thể tránh khỏi Đây là yếu tố đáng chú ý khi xây dựng hướng dẫn chấm
Với đề kiểm tra đánh giá năng lực thì hướng dẫn chấm càng dễ sa vào định tính vì năng lực là khái niệm khá trừu tượng, khó mà chỉ ra cụ thể trong nhiều trường hợp Để hạn chế điều này, chúng tôi đề xuất cách làm như sau:
- Hướng dẫn chấm phần đọc hiểu: Cơ bản giống hướng dẫn chấm ở đề đánh giá theo chuẩn nhưng theo chúng tôi nên có thêm yêu cầu năng lực cho từng câu hỏi để
người chấm xác định thống nhất năng lực cần đánh giá (xem phần Hướng dẫn chấm của đề)
- Hướng dẫn chấm phần viết:
+ Mục I Yêu cầu chung: Thay vì nêu các yêu cầu chung về kiến thức và kĩ năng (gồm: xác định vấn đề, bố cục, viết câu, diễn đạt, dùng từ…), GV nên nêu lên các yêu cầu chung về năng lực (xác định kiểu loại VB sẽ viết, lựa chọn và phối hợp các phương thức biểu đạt, sáng tạo trong trình bày, huy động kiến thức và vốn sống…) để tạo lập được một VB hoàn chỉnh, phù hợp với vấn đề (xem phần Hướng dẫn chấm, trang 7,8 )
+ Mục II Đáp án – biểu điểm: Đáp án đề kiểm tra đánh giá năng lực cũng cần định ra một số yêu cầu cơ bản nhưng chỉ ở mức tối thiểu chứ không nên quá hoàn chỉnh, vì rằng, nếu đã thật sự hoàn chỉnh thì cũng tức là HS không được làm khác, nói khác và như thế chẳng khác nào triệt tiêu những năng lực mà chúng ta muốn kiểm chứng qua bài làm của các em Một đề mở theo hướng tích hợp thì đáp án cũng có độ mở nhất định Độ mở của đáp án phải được thể hiện rõ trong cách GV xây dựng đáp án ứng với từng câu hỏi trong đề bài Quá chung chung thì không phải
là đáp án nhưng quá cụ thể, rạch ròi đôi khi cũng khó đánh giá năng lực Theo chúng tôi, đáp án đề kiểm tra đánh giá năng lực Ngữ Văn (nhất là đối với phần viết)
Trang 22thì cần xác định rõ đâu là phần bắt buộc, đâu là phần HS có thể sáng tạo (chỉ những sáng tạo mang lại giá trị), và kèm theo đó, tỉ trọng điểm cho các phần cũng cần thể hiện sự tôn trọng, sự khuyến khích năng lực và cá tính sáng tạo của HS Không nên
dùng sáo ngữ Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, nhưng cần… vì
cách diễn đạt này chẳng khác gì cho phép HS được phép trình bày (nội dung và hình thức) theo cách riêng nhưng phải đúng như đáp án (bởi đáp án đã hoàn chỉnh) Giả
dụ nếu HS khi viết bài các em chọn cách trình bày các ý bằng những gạch đầu dòng
(giống lập dàn ý) hoặc diễn đạt theo lối khẩu ngữ, hoặc viết chính tả theo lối chát
chít, hoặc những gì các em trình bày không như đáp án… thì sẽ đánh giá thế nào?
Vậy nên, đã là đáp án của một đề mở thì ngoài phần yêu cầu bắt buộc phải có gợi ý cho phần mở (có thể mở những nội dung gì; trả lời /trình bày sáng tạo thế nào) (xem phần Hướng dẫn chấm, trang 7,8)
Tóm lại, xây dựng một đề kiểm tra đánh giá năng lực Ngữ văn thế nào cho tốt còn nhiều điều đáng bàn Nói cho cùng, để đánh giá được năng lực HS thông qua đề kiểm tra thì chính GV cũng cần phải có năng lực ra đề Những kĩ năng ra đề truyền thống không đủ để ra đề kiểm tra đánh giá năng lực Ở bình diện chung, ngoài sự nổ lực của từng GV, có lẽ cần có tiếng nói chung ở một số phương diện để việc ra đề đáp ứng được mục đích, và trên hết giúp làm thay đổi cách dạy để hướng tới một nền giáo dục chất lượng vì sự phát triển của con người
Xin lấy một đề do chúng tôi biên soạn để làm minh chứng:
ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI LỚP 9 MÔN NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120 phút Phần I – Đọc hiểu: (4 điểm)
Đọc đoạn thơ sau:
“Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về
Có con nghé trên lưng bùn ướt đẫm Nghe xạc xào gió thổi giữa cau tre
Tiếng kéo gỗ nhọc nhằn trên bãi nắng Tiếng gọi đò sông vắng bến lau khuya Tiếng lụa xé đau lòng thoi sợi trắng Tiếng dập dồn nước lũ xoáy chân đê
Tiếng cha dặn khi vun cành nhóm lửa Khi hun thuyền, gieo mạ, lúc đưa nôi Tiếng mưa dội ào ào trên mái cọ Nón ai xa thăm thẳm ở bên trời
Trang 23Câu 1: Đọc đoạn thơ, em nhận ra tiếng Việt có nguồn gốc sâu xa từ đâu? (0,5
điểm)
Câu 2: Cụm từ tiếng mẹ nếu đặt trong dấu ngoặc kép thì phải hiểu là gì? Cách
hiểu ấy dựa trên phương thức chuyển nghĩa nào của từ? (0,5 điểm)
Câu 3: Từ ôi trong khổ thơ cuối là thành phần gì trong câu? Tác giả muốn biểu
lộ cảm xúc gì qua thành phần này?(0,5 điểm)
Câu 4: Cách so sánhtiếng Việt như bùn, lụa,óng tre ngà và tơ hay như thế
nào? Cách so sánh như thế đã làm nổi bật đặc trưng gì của tiếng Việt? (0,5 điểm)
Câu 5: Em cảm nhận âm điệu đoạn thơ ra sao qua lối điệp kiểu cấu trúc câu
(Tiếng mẹ gọi…, Tiếng kéo gỗ…, Tiếng gọi đò…, vv…) cùng cách sắp đặt chúng gần
như liên tục trong các dòng thơ? Âm điệu ấy đã nói lên sức sống của tiếng Việt như thế nào? (1 điểm)
Phần II – Viết: (6 điểm)
Câu 1: (3 điểm)
Em hãy viết một bài văn (khoảng 2 trang giấy thi) trình bày suy nghĩ của
mình về việc sử dụng tiếng Việt của giới trẻ hiện nay
A Hướng dẫn chung:
- Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của Hướng dẫn chấm và Đáp án - Thang
điểm để đánh giá tổng quát bài làm của thí sinh, tránh cách chấm đếm ý cho điểm
- Do đặc trưng của bộ môn Ngữ văn và mục đích của kiểm tra là đánh giá các năng lực nên giám khảo cần chú trọng đến yêu cầu năng lực trong từng phần, từng
câu trong việc vận dụng Hướng dẫn chấm và Đáp án - Thang điểm; khuyến khích
những bài làm thể hiện tốt các năng lực và có tính vận dụng, sáng tạo cao
- Việc chi tiết hoá điểm số của các ý phải đảm bảo không sai lệch với tổng điểm của từng câu, từng phần và được thống nhất trong Hội đồng chấm
- Điểm của toàn bài thi vẫn được giữ nguyên, không làm tròn số
Trang 24B Hướng dẫn cụ thể:
Phần I – Đọc hiểu:
Câu Yêu cầu
năng lực
Câu 1 Nhận biết ý nghĩa đoạn thơ qua ngôn ngữ hình tượng
Tiếng Việt bắt nguồn từ cuộc sống lao động và tâm hồn dân tộc
0,5
Câu 2 Vận dụng kiến thức (về dấu câu) để sử dụng từ cũ theo nghĩa mới;
Vận dụng kiến thức (về phương thức chuyển nghĩa của từ) để lí giải được cơ chế sử dụng ấy
- tiếng mẹ nếu đặt trong ngoặc kép được hiểu là tiếng Việt
/tiếng gọi của đất nước, của hồn thiêng sông núi
- Phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ
0,25
0,25
Câu 3 Nhận biết yếu tố nghệ thuật trong thơ;
Vận dụng kiến thức (thành phần câu) để xác định nội dung cảm xúc trong câu thơ
- Là thành phần cảm thán
- Biểu lộ cảm xúc ngạc nhiên, yêu quý, tự hào
0,25 0,75
Câu 4 Vận dụng kiến thức (biện pháp tu từ) để giải mã ý nghĩa câu thơ
- Lấy cái trừu tượng (tiếng Việt) so sánh với cái cụ thể
(bùn, lụa,óng tre ngà, tơ)
- Làm nổi bật đặc trưng: tiếng Việt mộc mạc, dung dị trong sự óng ả, mượt mà, sang trọng
0,25
0,25
Câu 5 Cảm thụ âm điệu thơ qua các tín hiệu nghệ thuật được xác định;
Giải mã được yếu tố âm điệu trong thơ
- Cách điệp cấu trúc và liệt kê đã tạo ra âm điệu dồn dập, dặt dìu và mênh mang
- Diễn tả sức sống mạnh mẽ, sâu lắng, bất diệt của tiếng Việt
Trang 25- Tạo lập trọn vẹn một văn bản nghị luận bằng các kĩ năng lập luận, trình
bày, bố cục, diễn đạt, dùng từ, kết hợp các phương thức biểu đạt,… để tạo tính
thuyết phục và hấp dẫn
- Vận dụng kiến thức về văn học (về nhà thơ Hạ Tri Chương và bài thơ
Hồi hương ngẫu thư) cùng khả năng cảm thụ thơ kết hợp những hiểu biết về
tiếng Việt và thực tế giao tiếp xã hội để viết
- Bày tỏ được thái độ đúng đắn, rõ ràng
Gợi ý chấm và cho điểm:
1 Nghị luận xã hội: 3,0
* Yêu cầu bắt buộc:
- Giới thiệu khái quát: Tiếng Việt - thứ tiếng giàu đẹp, mang đậm bản sắc dân tộc – đang có sự thay đổi trong cách dùng của một
bộ phận giới trẻ
- Nêu biểu hiện (kết hợp dẫn chứng):
+ Giao tiếp bình thường: Dùng thêm nhiều từ ngữ vay mượn mới đan xen với từ ngữ tiếng Việt
+ Giao tiếp trên mạng: Đơn giản hóa hoặc phức tạp hóa từ ngữ bằng những kiểu kí tự và cách biểu đạt lạ, có khi bí hiểm
- Phân tích nguyên nhân: (kết hợp bày tỏ thái độ) + Xã hội phát triển nhanh, ngôn ngữ cũng thay đổi
+ Chạy theo trào lưu
+ Thể hiện cá tính…
- Suy nghĩ:
+ Mặt tích cực: Góp phần thúc đẩy sự phát triển của tiếng Việt
+ Mặt tiêu cực: Làm mất đi sự chuẩn mực, sự trong sáng của tiếng Việt
+ Giải pháp: Mỗi người tự nâng cao văn hóa, không cổ xúy, không chạy theo xu thế mà bản thân chưa rõ; xã hội cùng tham gia
định hướng thông qua giáo dục, tuyên truyền, ban hành quy định…
- Kết luận: Tiếng Việt là tài sản vô giá của dân tộc Giữ gìn, phát triển tiếng Việt ra sao không chỉ ở cách thức mà còn ở ý thức
* Khuyến khích: Bài viết có lí giải và dẫn chứng xác đáng;
có cái nhìn đa chiều, với thái độ đúng mực /sáng tạo trong lối
Trang 262 Nghị luận văn học 3,0
* Yêu cầu bắt buộc:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn thơ
- Nội dung: Nỗi niềm xót xa và tình cảm gắn bó thủy chung sâu sắc với quê hương của tác giả
+ Xa quê gần cả một đời (Trẻ rời nhà, già mới quay về)
+ Mái tóc pha sương gợi lên cái khắc nghiệt của thời gian, của sương gió phong trần Nó làm thay đổi đáng sợ con người
+ Giọng nói là bản sắc quê hương Giữ nguyên âm sắc quê hương trong giọng nói là giữ trọn hồn quê, nguồn cội sâu thẳm của
con người
- Nghệ thuật: Biện pháp đối ngữ (rời /về, trẻ /già), hình ảnh cụ thể nhưng đầy sức gợi đã làm nổi bật bi kịch và tình cảm sâu kín,
cảm động của nhà thơ
-Đánh giá khái quát đoạn thơ
* Khuyến khích: Cảm nhận tinh tế, sâu sắc, mang tính phát hiện / diễn đạt truyền cảm
0,25 1,5
0,5
0,25 0,5
ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ PHÙ HỢP VỚI VIỆC DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN TRONG TRƯỜNG THCS
Đinh Thị Xuân Tươi - THCS Trần Quốc Toản, Tuy Hòa
1 THỰC TRẠNG
Từ xưa tới nay trong việc đào tạo con người, văn chương vẫn luôn được coi là một công cụ hữu hiệu nhất Không ai có thể phủ nhận tầm quan trọng của văn chương trong việc xây dựng và giữ gìn đạo đức xã hội Nếu nói người giáo viên là
những “Kỹ sư tâm hồn” thì điều đó đúng nhất đối với các thầy cô giáo dạy văn
Ngữ văn chính là bộ môn dễ gây xúc động vui, buồn, tác động nhiều nhất đến thế giới nội tâm của con người, giúp con người phát huy đầy đủ năng lực, phẩm chất để xây dựng cuộc sống
Những năm gần đây việc dạy và học Ngữ văn đã và đang trở thành một điểm
“nóng” ngày càng thu hút sự quan tâm của toàn xã hội Dư luận (và cả thực tế) cho
Trang 27thấy rằng học sinh hiện nay không thích học văn Trong trường THCS vẫn tồn tại tình trạng một số học sinh học theo kiểu đối phó, các em lười đọc, lười suy nghĩ về tác phẩm văn học, ngại viết, ngạiluyện kỹ năng diễn đạt Việc học sinh ngại học Ngữ văn do nhiều yếu tố chi phối, song có lẽ phần lớn là do giáo viên chưa có sức lôi cuốn học sinh, phương pháp dạy còn cứng nhắc Đặc biệt là dạy học và ra đề kiểm tra chưa bám sát đối tượng chưa phát huy được năng lực của học sinh Vì vậy
để học sinh thích học Ngữ văn có lẽ giáo viên cần thực sự hiểu và thực hiện cuộc
vận động “Đổi mới phương pháp dạy văn, đổi mới việc kiểm tra đánh giá học sinh
theo định hướng phát triển năng lực của học sinh
Văn học là món ăn tinh thần của con người, không chỉ dùng lí trí để “nhận” mà còn phải “cảm” bằng trái tim, tâm hồn Vì thế người dạy không thể xem học sinh là
“chiếc bình” cần đổ đầy kiến thức mà phải thấy được rằng các em là những “ngọn đuốc” cần được thắp sáng Vậy làm thế nào để đánh thức khát vọng học văn vốn đang dần tắt nguội, để thắp sáng những nội lực văn chương trong học sinh, để các
em chủ động đến với Văn và yêu Văn? Đánh thức khát vọng văn chương không phải
là điều dễ dàng, giáo viên phải có sự chuẩn bị rất chu đáo, hoàn hảo về giáo án, về các bước lên lớp, về các khâu kiểm tra, đánh giá và đặc biệt là phải tìm ra được phương pháp dạy phù hợp đối với từng đối tượng học sinh
Trong những năm gần đây việc ra đề kiểm tra thi cử đặc biệt là thi tuyển sinh vào lớp 10 của môn Ngữ văn do Sở Giáo dục biên soạn đã có rất nhiều những đổi mới ra đề theo hướng mở phát triển được năng lực của học sinh Tuy nhiên từ thực
tế giảng dạy khối lớp 9 và từ kinh nghiệm của bản thân, chúng tôi nhận thấy học sinh lớp 9 các em chưa có nhiều kinh nghiệm sống, tâm sinh lý lứa tuổi chưa đủ độ chín Thế nhưng các đề nghị luận xã hội ra quá rộng và khó đối với học sinh lớp 9
Đề thi tuyển sinh năm 2017- 2018 của tỉnh Phú Yên chẳng khác nào đề thi trong kì thi tốt nghiệp và tuyển sinh đại học của các em học sinh lớp 12 Trong khi SGK chưa có sự đổi mới, các giáo viên THCS vẫn bám SGK để truyền tải kiến thức cho học sinh thì việc ra đề thi tất cả các ngữ liệu phần đọc hiểu văn bản là những đoạn trích ngoài sách giáo khoa là quá khó đối với các em Phần nghị luận xã hội quá sức đối với sự hiểu biết của các em đặc biệt là những em ở vùng sâu vùng xa Phần nghị luận văn chương thì lại chưa có sự đổi mới theo hướng phát triển tư duy của học sinh
2 GIẢI PHÁP
Trong hội thảo lần này tôi xin đề xuất một số ý kiến sau:
- Muốn biên soạn đề theo hướng phát triển năng lực học sinh như hiện nay thì trước hết phải đổi mới SGK cho phù hợp, đổi mới cách dạy cho học sinh Trong các tiết dạy phải tăng cường các câu hỏi nêu vấn đề, câu hỏi gắn với thực tiễn đời sống
Ví dụ như khi học bài “Lục Vân Tiên cứu Kiều nguyệt Nga”, giáo viên đưa ra các câu hỏi em có suy nghĩ gì về hành động một mình tay không đánh cướp cứu người của Lục Vân Tiên Nếu là em gặp tình huống ấy em sẽ làm gì Từ hành động đánh cướp của Lục Vân Tiên em có suy nghĩ gì về những chàng Lục Vân Tiên hiện nay Khi học “ Bài phong cách Hồ Chí Minh” có thể đưa ra vấn đề từ phong cách sống của Bác em có suy nghĩ gì về việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc của thế hệ trẻ
Trang 28ngày nay Khi dạy bài “ Lặng lẽ Sa Pa” , từ nhân vật anh thanh niên, em có suy nghĩ
gì về một lẽ sống cao đẹp trong cuộc đời Khi dạy các bài nghị luận xã hội ở lớp 7, lớp 8 , lớp 9 thay vì đưa ra các đề trong SGK cũ kĩ, lạc hậu không còn phù hợp nữa bằng việc đưa các vấn đề đề nóng bỏng hiện nay như an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, bạo lực học đường, thể hiện mình, tinh thần tự lập của học sinh, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, văn hoá mạng Những câu hỏi như trên chính là chuẩn bị các em sẽ tiếp cận với cách ra đề mới không thể học vẹt, học tủ mà phải có sự tư duy sáng tạo phát triển năng lực của riêng mình
- Căn cứ vào học sinh để ra đề một cách vừa sức, đừng quá hô hào chạy theo đổi mới đốt cháy giai đoạn không biết chờ đợi mà ra những vấn đề quá sức đối với học sinh để rồi qua mỗi lần thi tuyển sinh số học sinh đạt từ điểm 5 năm trở lên quá khiêm tốn, trong khi số học sinh được điểm 0,1, 2 lại quá nhiều Không nên để tình trạng học sinh chỉ cần 1 điểm là đã đỗ vào trường công lập, thi cử như thế thì tổ chức làm gì cho tốn kém
- Các ngữ liệu đưa ra của phần đọc hiểu nên lấy từ các văn bản ở trong chương trình để học sinh khỏi bỡ ngỡ Còn cách biên tập như thế nào để phát huy được năng lực của học sinh thì đấy là trách nhiệm của người ra đề Một số ví dụ minh hoạ có thể sử dụng ngữ liệu cho các phần đọc hiểu văn bản lấy từ các văn bản đoạn trích trong SGK
*Ví dụ:1
Câu 1: Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới
Người ăn xin
Một người già ăn xin với đôi mắt đỏ hoe, nước mắt giàn giụa, đôi môi tái nhợt,
áo quần tả tơi chìa tay ra xin tôi
Tôi lục hết túi nọ đến túi kia không có lấy một đồng xu, Không có cả khăn tay, chẳng có gì hết.Ông vẫn đợi tôi Tôi chẳng biết làm thế nào Bàn tay tôi run run nắm chặt lấy bàn tay run rẩy của ông:
- Xin ông đừng giận cháu! Cháu không có gì cho cho ông cả
Ông nhìn tôi chăm chăm đôi môi nở nụ cười:
-Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi
Khi ấy tôi chợt hiểu ra: cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận được một cái gì đó từ ông lão
a)Xác định phương thức biểu đạt chính trong văn bản trên
b)Chỉ ra một câu cầu khiến, một câu cảm thán, một câu trần thuật
c)Tìm một câu ghép, xác định chủ ngữ vị ngữ từng vế câu
d) Vì sao cả cậu bé và người ăn xin đều cảm nhận mình đã nhận được ở người kia một cái gì đó? Có thể rút ra bài học gì từ câu chuyện này? Câu chuyện liên quan đến phương châm hội thoại nào?
Trang 29Câu 2: Viết bài văn nghị luận ngắn (khoảng một trang giấy thi) trình bày suy
nghĩ của em về ý nghĩa được gợi ra từ mẩu chuyện trên
* Ví dụ 2:
Câu 1 Đọc đoạn văn sau và thực hiện những yêu cầu bên dưới:
Anh hạ giọng nửa tâm sự, nửa đọc lại một điều đã ngẫm nghĩ nhiều:
- Hồi chưa vào nghề, những đêm bầu trời đen kịt, nhìn kĩ mới thấy một ngôi sao xa, cháu cũng nghĩ ngay ngôi sao kia lẻ loi một mình Bây giờ làm nghề này cháu không nghĩ như vậy nữa Vả, khi ta có việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được? Huống chi viêc của chảu gắn liền với việc của bao anh em, đồng chí dưới kia Công việc của cháu gian khổ thế đấy, nhưng cất nó đi, cháu buồn đến chết mất Còn người thì ai chả “thèm” hở bác? Mình sinh ra là gì, mình đẻ ở đâu, mình vì ai mà làm việc? Đấy cháu tự nói với cháu thế đấy Bác lái xe đi, về Lai Châu cứ đến đây dừng lại một lát Không vào gời “ốp” là cháu chạy xuống chơi, lâu thành lệ Cháu bỗng dưng tự hỏi: Cái nhớ xe, nhớ người ấy thật ra là cái gì vậy? Nếu là nỗi nhớ phôn hoa đô hội thì xoàng Cháu ở liền trong trạm hàng tháng Bác lái xe bao lần dừng, bóp còi toe toe, mặc, cháu gan lì nhất định không xuống
Ấy thế là một hôm, bác lái phải thân hành lên trạm cháu Cháu nói: “ Đấy, bác chả
“thèm” người là gì?”
(Lặng lẽ Sa Pa – Nguyễn Thành Long)
a) Xác định phương thức biểu đạt chính trong văn bản trên
b)Chỉ ra một lời dẫntrực tiếp trong đoạn trích trên và cho biết vì sao đó là lời dẫn trực tiếp?
c) Những lời tâm sự trên anh thanh niên nói với ai? Nói khi nào?
d) Qua những lời tâm sự ấy, em hiểu gì về anh thanh niên?
Câu 2 : Bằng những hiểu biết của em về nhân vật anh thanh niên trong tác
phẩm và qua những tâm sự trên của nhân vật, hãy viết một bài văn nghị luận ngắn (khoảng một trang giấy thi) trình suy nghĩ của em về lẽ sống cao đẹp trong cuộc đời Ngoài hai ví dụ trên thì rất nhiều văn bản trong chương trình chúng ta có thể trích dẫn làm ngữ liệu cho phần đọc hiểu vừa không xa lạ với học sinh mà vẫn có thể phát huy năng lực của học sinh
- Phần câu hỏi nghị luận văn chương không nên ra đề kiểu cảm nhận, phân tích
cụ thể về một đoạn thơ hay một nhân vật nào mà nên ra dưới dạng một nhận định để học sinh đã nắm kiến thức đấy đủ rồi nhưng quan trọng là phải biết triển khai những nội dung ấy như thế nào cho hợp lý và như thế sẽ hạn chế tình trạng học vẹt của học sinh hiện nay:
* Một số ví dụ minh họa về nghị luận văn học:
1 Những điều mà Thanh Hải tâm sự trong bài thơ mùa xuân nhỏ nhỏ mãi là lời nhắc nhở vô cùng có nghĩa đối với chúng ta trong cuộc sống hôm nay Hãy phân tích một số chi tiết trong bài thơ để làm sáng tỏ điều đó
Trang 302 Lời nhắc nhở về đạo lý uống nước nhớ nguồn trong “Ánh trăng” của Nguyễn Duy
3 Những điều mà Y Phương nói với con trong bài thơ“ Nói với con” mãi là lời nhắc nhở vô cùng có ý nghĩa đối với chúng ta trong cuộc sống hôm nay và mai sau Hãy tìm phân tích một số chi tiết trong bài thơ để làm sáng tỏ điều đó
4 Lẽ sống cao đẹp của nhân vật anh thanh niên trongLặng lẽ Sa Pa của
Nguyễn Thành Long
5.Bàn về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân, có ý kiến
cho rằng tình yêu làng quê của ông Hai cơ bản thống nhất với lòng yêu nước nhưng cũng có khi tình yêu ấy mâu thuẫn với òng yêu nước Hãy phân tích nhân vật ông Hai để làm sáng tỏ điều đó
Cách ra đề nghị luận văn học như trên chẳng những kiểm tra được năng lực cảm thụ của học sinh mà còn kiểm tra được trình độ nhận thức của các em về những vấn đề trong cuộc sống Và khi chấm bài cũng dễ dàng phân loại được học sinh: em nào hiểu đề, biết phân tích chứng minh vấn đề, còn những học sinh nào chỉ dừng lại là cái máy ghi âm học theo lối mòn đọc chép không có sự tư duy
3 Kiến nghị
- Khi ra đề cần chọn những giáo viên có kinh nghiệm đang trực tiếp giảng dạy
ở bậc THCS phản biện đề để đảm bảo tính vừa sức cho học sinh
- Khi chấm thi cần triệu tập thêm các giáo viên bậc THCS tham gia chấm thi cùng với giáo viên THPT để cùng thống nhất trong việc đánh giá một cách chính xác nhất năng lực của các em học sinh THCS, đặc biệt là với đặc thù môn Ngữ văn Tránhtình trạng sự lệch pha rất lớn giữa người dạy và người chấm
4 Kết luận : Việc dạy học và kiểm tra đánh theo định hướng phát triển năng
lực của học sinh là một việc làm cần thiết hiện nay Tuy nhiên mỗi chúng cần phải
có cách nhìn nhận thấu đáo vấn đề và có những bước đi vững chắc phù hợp với từng đia phương, từng đối tượng thì mới thực sự có hiệu quả Trên đây là những góp ý nho nhỏ chủ quan mang tính chất cá nhân nên rất cần nhận được sự đóng góp ý kiến của đồng nghiệp để qua hội thảo chúng ta sẽ tìm được hướng đi đúng đắn nhất trong việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh, để mỗi tiết học Ngữ văn thực sự có sức lôi cuốn đối học sinh và mỗi khi thi cử môn Ngữ văn học sinh không cảm thấy sợ hãi./
Trang 31BIÊN SOẠN ĐỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ THEO ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
Phòng GDĐT huyện Đồng Xuân
I PHẦN MỞ ĐẦU
Thực hiện nhiệm vụ đổi mới giáo dục phổ thông theo tinh thần Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 6/3/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, độc lập suy nghĩ của học sinh thì việc làm cấp bách hiện nay là phải đổi mới cách thức biên soạn đề kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh
Đánh giá theo yêu cầu phát triển năng lực học sinh cần xác định được khả năng vận dụng tổng hợp những gì học sinh đã học vào việc giải quyết những tình huống mới
Phương thức đánh giá không chú trọng yêu cầu học thuộc, nhớ máy móc, nói đúng và đầy đủ những điều thầy, cô đã dạy… mà coi trọng ý kiến và cách giải quyết vấn đề của mỗi cá nhân người học; động viên những suy nghĩ sáng tạo, mới mẻ, giàu ý nghĩa; tôn trọng sự phản biện trái chiều, khuyến khích những lập luận giàu sức thuyết phục…
Muốn thế đề kiểm tra và đáp án cần theo hướng mở; với những yêu cầu và mức
độ phù hợp với năng lực của học sinh, phù hợp với nội dung, chương trình giáo dục Trung học
Căn cứ vào thực tế chất lượng học sinh của một vùng địa bàn huyện miền núi nhiều khó khăn, Phòng GDĐT Đồng Xuân đã thống nhất cách thức ra đề kiểm tra đánh giá dựa trên những yêu cầu chung và có sự vận dụng linh hoạt riêng cho từng trường theo khu vực
II PHẦN NỘI DUNG \
1 Yêu cầu giáo viên dạy Ngữ văn phải nắm vững một số yêu cầu về việc đổi
mới trong kiểm tra đánh giá Đó là:
* Đánh giá năng lực Ngữ văn của HS
- Năng lực tiếp nhận văn bản (kĩ năng nghe và đọc)
- Năng lực tạo lập văn bản (kĩ năng nói và viết)
* Khắc phục dần hiện trạng kiểm tra học thuộc lòng văn bản, ghi nhớ máy móc để hướng tới phát huy tính tích cực, chủ động độc lập suy nghĩ của HS; kiểm tra đánh giá kĩ năng vận dụng tổng hợp kiến thức giải quyết tình huống mới
2 Giáo viên nắm vững cách thức quy trình ra đề theo nguyên tắc chung:
- Xác định mục tiêu đề (trong mục tiêu dạy học)
- Xác định hình thức đề kiểm tra
Trang 32- Thiết lập ma trận
- Biên soạn câu hỏi theo ma trận
- Xây dựng đáp án và thang điểm
- Kiểm tra lại việc biên soạn đề
3 Giáo viên vận dụng các yêu cầu chung bộ môn và tình hình thực tế giảng dạy để ra đề phù hợp, khoa học, hiệu quả, đổi mới
* Hình thức đề KT:
- Các đề KT thường xuyên (15 phút ), KT định kì năm học 2016-2017, trong phân môn Văn học và Tiếng Việt có kết hợp trắc nghiêm (TN) và tự luận (TL) Hiện nay từ năm học 2017-2018, theo tinh thần đổi mới GV phải ra đề theo hình thức duy nhất là TL
* Các cấp độ tư duy trong đề (nhận biết -thông hiểu -vận dụng được phân
(1)
-Hiểu
ý nghĩa các yếu tố
kì ảo trong tác phẩm (1) -Hiểu tác dụng
-Hiểu ý nghĩa cách xây dựng hình ảnh nhân vật trong tác phẩm (2)
Viết bài văn ngắn nêu cảm nhận về nhân vật (3)
Trang 33Vì đối tượng HS Đồng Xuân phần lớn đạt mức trung bình, số HS đạt Khá-Giỏi
về năng lực văn học không nhiều nên một số trường có học sinh là người dân tộc,
GV chủ yếu chọn tỉ lệ thích hợp: 5-3-2
* Nội dung kiểm tra: Bước đầu hướng dẫn HS làm quen cấu trúc đề chung
trên cơ sở đề kiểm tra Học kì của Sở GD, đề thi tuyển sinh lớp 10, đề thi THPT
- Đề KT miệng,15 phút : câu hỏi chủ yếu kiểm tra nhận biết và thông hiểu
tu từ (6) -Hiểu một chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm (12)
Trang 34VềTiếng Việt (1 tiết)
- Phần Đọc-hiểu văn bản (làm ngữ liệu-GV kiểm tra các kiến thức TV đã học
có trong văn bản hoặc kiến thức liên quan)
- Phần Làm văn (vận dụng): Đặt câu hoặc viết đoạn văn ngắn (dung lượng) vận dụng kiến thức Tiếng Việt từ văn bản hoặc đã học tạo lập một văn bản mới
xã hội (Kiểm tra tích hợp kiến thứcLàm văn -Văn học -Tiếng Việt)
4 Minh họa đề: (Tham khảo)
*Đề năm học 2016-2017, phân môn Văn học, lớp 9-phần Văn học trung đại
KIỂM TRA VĂN HỌC (PHẦN TRUYỆN TRUNG ĐẠI VIỆT NAM )
Tuần 9-Tiết 45
I.MỤC TIÊU:
1 Kiến thức: Nhằm đánh giá chung những nhận thức của học sinh về các thể loại văn bản đã học cũng như nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm văn học trung đại thông qua bài làm
2 Kỹ năng: Rèn kỹ năng viết và trình bày bài làm rõ ràng, chính xác
3 Thái độ : Ý thức độc lập, trung thực khi làm bài
II MA TRẬN
III ĐỀ KIỂM TRA
A.TRẮC NGHIỆM: (3 điểm)
Trang 351.Những yếu tố kì ảo trong phần cuối truyện Người con gái Nam Xương có
ý nghĩa :
a.Khẳng định Vũ Nương trong sạch ,đức hạnh
b.Tạo nên kết thúc có hậu : Người hiền luôn được hưởng hạnh phúc
c.Thể hiện tấm lòng nhânđạo của tác giả đối với thân phận phụ nữ
d.Khẳng định chân lí : Ở hiền gặp lành Hoàn chỉnh nét đẹp Vũ Nương 2.Những lời bình đan xen lời kể ở đoạn trích "Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh " của Phạm Đình Hổ có tác dụng :
a.Bộc lộ cảm xúc của tác giả về cảnh đẹp trong phủ Chúa
b.Tác giả thể hiện thái độ bất bình ,lên án cuộc sống xa hoa của Chúa Trịnh c.Thể hiện tâm trạng lo lắng cho sự tồn vong của tập đoàn phong kiền Lê -Trịnh
d.Tác giả thể hiện thái độ bất bình ,lên án sự vô đức của Chúa Trịnh và dự báo v
sự sụp đổ của tập đoàn phong kiến Lê-Trịnh
3.Trong 8 câu cuối đoạn trích "Kiều ở lầu Ngưng Bích"Nguyễn Du sử dụng bút pháp ………
4.Thể văn vừa có tính chất văn học ,vừa có tính chất lịch sử là đặc điểm của
a.Liệt kê nỗi buồn của Kiều
b.Diễn tả nỗi buồn chồng chất trong lòng Kiều
c.Nhấn mạnh tâm trạng buồn rầu của Kiều
d.Liệt kê nỗi buồn ,nhấn mạnh tâm trạng buồn rầu của Kiều
7.Chọn ý đúng nhất :
a.Truyện Kiều do Nguyễn Du tự sáng tác cốt truyện
b.Truyện Kiều được viết bằng thơ chữ Hán
c.Truyện Kiều có 3254 câu thơ lục bát ,gồm 3 phần
d.Truyện Kiều có tên gọi khác là Kim Vân Kiều truyện
8 ………xuất thân trong một gia đình đại quý tộc ,dòng họ nhiều đời làm quan và có truyền thống văn học
Trang 369.Tác phẩm Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ có đặc điểm:
a.Viết bằng chữ Nôm ,gồm 20 truyện khai thác từ truyện dân gian
b.Viết bằng chữ Hán ,gồm 20 truyện ,khai thác từ truyện dân gian, truyền
thuyết lịch sử ,dã sử Việt Nam
c.Viết bằng chữ Quốc ngữ ,gồm 20 truyện
10.Hãy sắp xếp cột A(nhân vật) với cột B(lời nói) cho phù hợp:
A(nhân vật ) B(lời nói ) Sắp xếp
1.Lục Vân Tiên a.Gẫm câu báo đáp thù công
2.Kiều Nguyệt
Nga
b.Làm ơn chớ nhớ , chịu ơn chớ quên
c.Làm ơn há dễ trông người trả ơn 11.Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu thường dùng hiện nay có :
a.2082 câu b.2028 câu c.2280 câu d.22 82 câu
12.Chi tiết nào quan trọng nhất tạo ra bi kịch trong Chuyện người con gái
Nam Xương
a.Trương Sinh phải đi lính b.Trương Sinh có tính đa nghi
c.Lời nói của bé Đản về "cái bóng " d.Vũ Nương trầm mình xuống
sông
B TỰ LUẬN: (7điểm )
1.Chép thuộc lòng 4 câu đầu văn bản Cảnh ngày xuân (Truyện Kiều )
(1đ)
2.Tại sao Ngô Gia văn phái không cùng quan điểm với nhà Tây Sơn nhưng
lại xây dựng rất đẹp hình ảnh Nguyễn Huệ và sự thảm bại của quân Thanh cũng
như số phận bi thảm của vua tôi Lê Chiêu Thống trong hồi 14-Hoàng lê nhất thống
chí ? (2đ)
2 Viết văn bản ngắn nêu cảm nhận của em về nhân vật Lục Vân Tiên trong
đoạn trích "Lục Vân Tiêncứu Kiều Nguyệt Nga " (Nguyễn Đình Chiểu ) (4 điểm )
IV ĐÁP ÁN -BIỂU ĐIỂM
A TRẮC NGHIỆM : (3 điểm ) (Mỗi ý đúng 0,25đ/câu )
a c
Trang 37ngụ tình
B TỰ LUẬN: (7 điểm )
1.Viết đủ,đúng 4 câu đầu van bản -không sai lỗi chính tả (1 điểm )
-Sai hoặc thiếu 2 từ (-0,25đ)
*Thiếu 1 ý ,diễn đạt không rõ -0,5đ
2.Yêu cầu : (4 điểm )
a-Viết bài văn ngắn có bố cục 3 phần (1d)
+Suy nghĩ ,tình cảm của em với nhân vật
c-Diễn đạt gọn, rõ ý, mạch lạc Không sai sót nhiều về lỗi chính tả, ngữ pháp (1đ)
*Đề biên soạn mới (Năm học 2017-2018, phân mônVăn học, lớp 9-phần Văn học trung đại )
KIỂM TRA VĂN HỌC LỚP 9
( Phần Văn học trung đại )
2 Kỹ năng: Rèn kỹ năng viết và trình bày bài làm rõ ràng, chính xác
3 Thái độ : Ý thức độc lập, trung thực khi làm bài
Trang 38dụng thấp
Vậ
n dụng cao
- Nhận diện được bút pháp nghệ thuật
- Nhận diện nội dung văn bản
- Nhận diện thông tin tác giả
- Nhận diện đặc điểm của tác phẩm
Số câu: 1
Tỉ lệ: 50%
(50% x 10 điểm = 5 điểm)
50% x
10 = 5,0 điểm
ý nghĩa nội dung một vấn
đề
Trang 3930% x
10 =3,0 điểm
đề xã hội
Số câu: 1
Tỉ lệ: 20%
(20% x10 điểm =2,0 điểm) 20% x10 điểm =
2,0 điểm)
… Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn:
Làn thu thủy nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Trang 40Sắc đành đòi một tài đành họa hai
Thông minh vốn sẵn tính trời, Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm
Cung thương lầu bậc ngũ âm, Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương
Khúc nhà tay lựa nên chương Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân…
(Trích Truyện Kiều– Nguyễn Du)
a) (1,0 điểm) Nêu năm sinh, năm mất của tác giả?
b) (1,0 điểm) “Truyện Kiều” lấy cốt truyện từ đâu? Được viết
theo thể thơ nào? Bao nhiêu câu?
c) (0,5 điểm) Xác định vị trí của đoạn trích trong Truyện Kiều
d) (0,5 điểm) Xác định đoạn thơ tả Thúy Vân, đoạn thơ tả Thúy Kiều?
e) (1,0 điểm) Bút pháp nghệ thuật nào được tác giả sử dụng khi
miêu tả vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều?
g) (1,0 điểm) Nêu khái quát vẻ đẹp của Thúy Vân, Thúy Kiều
trong đoạn trích?
a (1.5 điểm) Tại sao, Nguyễn Du tả Thúy Vân trước, tả Thúy Kiều sau?
b (1.5 điểm) So sánh sự khác nhau khi miêu tả tính cách nhân vật của Nguyễn
Du (Truyện Kiều) và Nguyễn Đình Chiểu (Lục Vân Tiên)
Câu 3 (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nêu cảm nghĩ của em về thân phận người phụ nữ trong xã hội
phong kiến qua 2 tác phẩm Truyện Kiều và Chuyện người con gái Nam Xương
IV ĐÁP ÁN – BIỂU ĐIỂM:
b - Truyện Kiều dựa vào cốt truyện tác phẩm văn xuôi
”Kim Vân Kiều” của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) 1,0