1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Luật Ngân Hàng Việt Nam: Pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng.

16 868 16

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 28,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bước sang năm Mậu Tuất 2018, đất nước ta đang từng bước đi lên đứng vào top thứ 50 quốc gia có nền kinh tế phát triển, cùng với đó là một năm có tốc độ tăng trưởng GDP cao nhất trong 10 năm. Kéo theo đó là một nền kinh tế phát triển thần kì. Đó là những điểm sáng của nền kinh tế nước ta trong nhiều năm qua. Một phần của sự thành công đó cũng là nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước đã cho các doanh nghiệp nước ta hỗ trợ vay vốn để phát triển và khởi nghiệp. Điều này phản ánh tiềm lực của hệ thống Ngân hàng rất mạnh mẽ và các Tổ chức tín dụng đóng vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước. Bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được, hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng những năm qua đã nảy sinh một số biểu hiện không lành mạnh, báo hiệu nguy cơ rủi ro thất thoát vốn tín dụng từ các khoản nợ sau cho vay của các tổ chức tín dụng ngày càng chồng chất. Nếu muốn có một nền kinh tế ổn định, đòi hỏi quốc gia phải có hệ thống ngân hàng vững mạnh, Chính phủ phải thiết lập được hệ thống pháp luật chặt chẽ để đảm bảo được hành lang an toàn cho hệ thống các Tổ chức tín dụng. Vì vậy, để thấy được rõ hơn tầm quan trọng của hoạt động cho vay tín dụng của các tổ chức tín dụng. Thông qua bài tiểu luận môn luật Ngân Hàng Việt Nam về : “ Pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng. ” chúng ta cùng đi sâu và tìm hiểu rõ hơn về hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng từ đó tìm ra một hướng đi đúng đắn và chắc chắn hơn cho nền kinh tế nước ta.

Trang 1

A LỜI MỞ ĐẦU

Bước sang năm Mậu Tuất 2018, đất nước ta đang từng bước đi lên đứng vào top thứ 50 quốc gia có nền kinh tế phát triển, cùng với đó là một năm có tốc độ tăng trưởng GDP cao nhất trong 10 năm Kéo theo đó là một nền kinh tế phát triển thần

kì Đó là những điểm sáng của nền kinh tế nước ta trong nhiều năm qua Một phần của sự thành công đó cũng là nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước đã cho các doanh nghiệp nước ta hỗ trợ vay vốn để phát triển

và khởi nghiệp Điều này phản ánh tiềm lực của hệ thống Ngân hàng rất mạnh mẽ

và các Tổ chức tín dụng đóng vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh

tế đất nước

Bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được, hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng những năm qua đã nảy sinh một số biểu hiện không lành mạnh, báo hiệu nguy cơ rủi ro thất thoát vốn tín dụng từ các khoản nợ sau cho vay của các tổ chức tín dụng ngày càng chồng chất Nếu muốn có một nền kinh tế ổn định, đòi hỏi quốc gia phải có hệ thống ngân hàng vững mạnh, Chính phủ phải thiết lập được hệ thống pháp luật chặt chẽ để đảm bảo được hành lang an toàn cho hệ thống các Tổ chức tín dụng Vì vậy, để thấy được rõ hơn tầm quan trọng của hoạt động cho vay tín dụng của các tổ chức tín dụng Thông qua bài tiểu luận môn luật Ngân Hàng Việt

Nam về : “ Pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng ”

chúng ta cùng đi sâu và tìm hiểu rõ hơn về hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng từ đó tìm ra một hướng đi đúng đắn và chắc chắn hơn cho nền kinh tế nước ta

Trang 2

B NỘI DUNG

I Khái quát về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng

1 Một số khái niệm

- Theo quy định tại khoản 1 điều 4 luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy

định: “Tổ chức tín dụng(TCTD) là doanh nghiệp được thành lập theo quy định

của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.”

- Căn cứ vào khoản 16 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy

định “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết

giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.

2 Các đặc trưng cơ bản của hoạt động cho vay của các TCTD

Để phân biệt cho vay với tư cách là một hoạt động của các TCTD- với giao dịch vay tài sản trong đời sống dân sự thông thường, cũng như phân biệt cho vay với các hình thức cấp tín dụng khác của TCTD chúng ta dựa trên các đặc trưng cơ bản sau đây:

- Thứ nhất về chủ thể thì chủ thể cho vay là TCTD Khác với các giao dịch vay tài

sản thông thường, chủ thể vay có thể là bất kì ai có đầy đủ năng lực hành vi dân sự

và sở hữu tài sản vay, trong hoạt động cho vay, bên cho vay phải là tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động hợp pháp, có đủ điều kiện để tiến hành hoạt động cho vay Ở đây, hoạt động cho vay không phải là một giao dịch dân sự đơn thuần mà thực chất là một hoạt động kinh doanh, trong đó, tổ chức tín dụng muốn

có được lợi nhuận thông qua hoạt động cho vay Bên cạnh yếu tố về mục đích, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng còn được thực hiện một cách chuyên nghiệp, liên tục và có tính chuyên môn nghiệp vụ sâu sắc

Chính vì hoạt động cho vay trong lĩnh vực ngân hàng là hoạt động mang tính chuyên nghiệp cao nên chủ thể thực hiện hoạt động cho vay là các TCTD phải được thành lập hợp pháp, có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật cụ thể là các quy định của luật các TCTD năm 2010, bộ luật dân sự năm 2005, luật doanh

nghiệp năm 2005…vv, và chịu sự giám sát chặt trẽ của ngân hàng nhà nước

(NHNN)

Trang 3

- Thứ hai: đối tượng cấp tín dụng trong hoạt động cho vay là vốn (tiền tệ) Khác

với hoạt động cho thuê tài chính, đối tượng cấp tín dụng là tài sản; đối với hoạt động chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá, đối tượng cấp tín dụng là giá trị của các giấy tờ có giá thì đối tượng của hoạt động cho vay luôn luôn là vốn (tiền tệ) Vốn ở đây có thể là đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ Trong hoạt động cho vay bằng ngoại tệ, tổ chức tín dụng cần đáp ứng thêm một số yêu cầu khác của pháp luật

- Thứ ba: thời hạn trong hoạt động cho vay rất đa dang, có thể là ngắn hạn, trung

hạn và dài hạn Trong hoạt động cho vay, mục đích của TCTD là cấp cho bên đi vay một khoản tiền để họ sử dụng vào hoạt động sản suất kinh doanh hoặc tiêu dùng Yếu tố mà tổ chức tín dụng xem xét để quyết định cho vay chính là tính hiệu quả của việc sử dụng tiền vay và căn cứ vào các biện pháp đảm bảo tiền vay Nói cách khác, khi tiến hành cho vay TCTTD sẽ không bị phụ thuộc vào thời hạn tối đa hay tối thiểu phải tuân thủ Căn cứ vào nhu cầu xin vay của bên đi vay, TCTD có thể tiến hành cho vay với nhiều thời hạn khác nhau, thậm chí thời hạn vay có thể chỉ là một vài ngày (trong trường hợp cho vay qua đêm) Đây chính là điểm khác biệt giữa hoạt động cho vay và các hoạt động cấp tín dụng khác của TCTD Cụ thể, trong hoạt động cho thuê tài chính, thời hạn vay phụ thuộc vào thời gian khấu hao của tài sản thuê Trong chiết khấu giấy tờ có giá, TCTD phải căn cứ vào thời hạn thanh toán còn lại của giấy tờ có giá để quyết định có nên mua lại hay không Còn đối với hoạt động bao thanh toán, thời hạn cấp tín dụng phải căn cứ vào thời gian phát sinh các khoản phải thu của bên được cấp tín dụng

- Thứ tư: quan hệ cho vay được điều chỉnh bởi các quy định pháp luật ngân hàng

Với bản chất là hoạt động ngân hàng nên quan hệ pháp luật về cho vay giữa TCTD

và khách hàng chịu sự điều chỉnh trước tiên và trên hết bởi các quy định của pháp luật ngân hàng Luật các TCTD đã có nhiều quy định về hoạt động cho vay như điều kiện vay vốn, nội dung hợp đồng tín dụng, các biện pháp bảo đảm tiền vay, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng tín dụng.vv… Để cụ thể hóa các quy định này của luật các TCTD, NHNN đã ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (Ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và được sửa đổi bổ xung bởi các quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN và số 738/2005/QĐ-NHNN), điều chỉnh khá chi tiết các nội dung của quan hệ cho vay Chính vì vậy, mặc dù cũng có bản chất là quan hệ pháp luật dân sự, nhưng bộ luật dân sự chỉ đóng vai trò là luật chung, còn luật các TCTD là luật chuyên ngành Do đó, chỉ những vấn đề không được luật các TCTD điều chỉnh, các bên mới vận dụng các quy định trong bộ luật dân sự để áp dụng

Trang 4

3 Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động cho vay của các TCTD

Để hoạt động cho vay được đảm bảo an toàn, phù hợp với lợi ích của cả bên cho vay và bên vay, hoạt động cho vay của TCTD được thực hiện trên những nguyên tắc nhất định, và các nguyên tắc này có ảnh hưởng quan trọng đến việc xây dựng và ban hành các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay Các nguyên tắc đó là:

- Nguyên tắc hoàn trả: cơ sở lý luận của nguyên tắc này dựa vào đặc điểm, với tư

cách là chủ thể trung gian tín dụng, TCTD chủ yếu sử dụng số tiền huy động được

từ các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội để cho vay Ở giai đoạn huy động vốn, TCTD tham gia với tư cách là người đi vay, do vậy phải có nghĩa vụ hoàn trả cho người gửi tiền đúng hạn cả gốc và lãi, muốn thực hiện được điều này, với tư cách là chủ thể cho vay, TCTD có quyền yêu cầu bên đi vay hoàn trả cho mình đúng hạn cả gốc và lãi Ngay cả khi chính TCTD( bên cho vay) là chủ thể vi phạm hợp đồng thì bên vay vẫn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ Những vi phạm của bên cho vay sẽ chịu những chế tài sử lý như phạt vi phạm hoặc bồi thường thệt hại chứ không thể bù trừ vào số tiền bên vay phải trả

Để đảm bảo nguyên tắc hoàn trả, pháp luật có các quy định nhằm yêu cầu TCTD phải đánh giá khả năng của bên vay, xây dựng các phương án phòng ngừa rủi ro cũng như giám sát khoản vay hiệu quả Bên cạnh đó, pháp luật cũng cho phép các bên có những thỏa thuận sửa đổi hợp đồng phù hợp như gia hạn nợ, điều chỉnh kì hạn trả nợ để bên vay thực hiện tốt nghĩa vụ hoàn trả của mình

- Nguyên tắc tín nhiệm: tín nhiệm là nền tảng của tín dụng, tức là việc chuyển giao

nguồn vốn chỉ được thực hiện khi TCTD( bên cho vay) có niềm tin vào khả năng trả nợ của bên vay Nguyên tắc tín nhiệm sẽ đảm bảo cho TCTD quyết định cho vay một cách chính xác và hiệu quả, không làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của TCTD đối với các khoản vốn đã huy động từ nhận tiền gửi và các hình thức huy động khác

Để đảm bảo nguyên tắc tín nhiệm, pháp luật đã quy định bên vay phải thỏa mãn những điều kiện nhất định mới được quyền vay vốn Bên cạnh đó, pháp luật cũng cho phép TCTD được quyền đánh giá về khả năng tài chính của khách hàng rồi mới quyết định cho vay Để có được sự tín nhiệm của TCTD, bên vay cần chứng tỏ năng lực tài chính, khả năng sử dụng vốn vay và có những cam kết chắc chắn về khả năng trả nợ Để tăng them sự tín nhiệm, trong nhiều trường hợp, các bên có thể thỏa thuận về các biện pháp bảo đảm khả năng trả nợ như cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh

Trang 5

Tuy nhiên, cơ sở của lòng tin( sự tín nhiệm) này không đơn thuần dựa vào ý chí củ quan của người ra quyết định cho vay mà cần thiết phải có những tiêu chí nhất định Những tiêu chí này pháp luật cho phép TCTD được quyền quy định trong quy chế cho vay của mình Do đó trên thực tế có những trường hợp chủ thể

có đủ điều kiện vay vốn theo quy định của pháp luật nhưng TCTD vẫn cảm thấy có yếu tố rủi ro thì vẫn có thể bị từ chối cho vay

II.Pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng

1 Quy trình cho vay vốn của các TCTD

Việc xây dựng quy trình cho vay của các TCTD là dựa trên những quy định thực

tế của pháp luật hiện hành: “Khi có nhu cầu vay vốn, khách hàng gửi cho tổ chức

tín dụng giấy đề nghị vay vốn và các tài liệu cần thiết chứng minh đủ điều kiện vay vốn như quy định tại Điều 7 Quy chế này Khách hàng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác và hợp pháp của các tài liệu gửi cho tổ chức tín dụng.”( Khoản 1 điều 14 Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ).

Thẩm định hồ sơ tín dụng là tất cả những hành vi mang tính nghiệp vụ pháp lý do TCTD thực hiện nhằm xác định các điều kiện vay vốn đối với bên vay ,trên cơ sở

đó mà quyết định cho vay hay không “ Tổ chức tín dụng xây dựng quy trình xét

duyệt cho vay theo nguyên tắc bảo đảm tính độc lập và phân định rõ ràng trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định cho vay ”.( Khoản

1 điều15 Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN Về việc ban hành Quy chế cho vay của

tổ chức tín dụng đối với khách hàng )

Việc thiết lập và không ngừng hoàn thiện quy trình cho vay của các TCTD có ý

nghĩa hết sức quan trọng Xây dựng một quy trình cho vay hợp lý sẽ góp phần

nâng cao chất lượng ,giảm thiểu rủi ro trong khi cho vay Hơn nữa,quy trình cho vay còn là cơ sở cho việc thiết lập các thủ tục ,hồ sơ vay vốn về mặt hành chính,và thủ tục pháp lý quan trọng đó là thiết lập HĐTD

Trang 6

2 Hợp đồng tín dụng, cơ sở pháp lý quan trọng

Sau khi ra quyết định chấp thuận cho khách hàng vay vốn các TCTD sẽ

hướng dẫn khách hàng ký kết HĐTD Theo quy định tại điều 17 của Quyết định

1627/2001/QĐ-NHN “ Việc cho vay của tổ chức tín dụng và khách hàng vay phải

được lập thành hợp đồng tín dụng ”.Chủ thể tham gia ký kết HĐTD là bên cho

vay(các TCTD) và bên vay (khách hàng có nhu cầu vay vốn ) Theo quy định tại điều 51 của Luật Các tổ chức tín dụng ,mọi hợp đồng tín dụng đều phải ký kết bằng văn bản thì mới có gía trị pháp lý Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả

nợ và những cam kết khác được các bên thỏa thuận

Văn bản hợp đồng tín dụng bao gồm văn bản viết và văn bản điện tử.Hợp đồng tín dụng được xác lập thông qua phương diện điện tử dứới hình thức thông điệp dự liệu được coi là giao dịch bằng văn bản Các văn bản hợp đồng điện tử được coi là

có giá trị pháp lý như văn bản hợp đồng viết và có giá trị chứng cứ trong quá trình giao dịch hợp đồng tín dụng được ký kết bằng văn bản sẽ tạo ra một bằng chứng

cụ thể cho việc thực hiện hợp đồng và giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng

3 Các nội dung cơ bản của HĐTD

Theo quy định tại điều 17 của Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN “ … Hợp

đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thỏa thuận”.

Trang 7

Nội dung của hợp đồng tín dụng là tổng thể những điều khoản do các bên có đủ tư cách chủ thể cam kết với nhau một cách tự nguyện, bình đẳng và phù hợp với pháp luật Các điều khoản này vừa thể hiện ý trí của các bên, đồng thời cũng làm phát sinh những quyền và nghĩa vu pháp lý cơ bản của mỗi bên tham gia hợp đồng tín dụng Nội dung của hợp đồng tín dụng (các điều khoản của hợp đồng) phải do các bên tự định đoạt trên nguyên tắc đồng thuận ý chí, phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội

3.1 Chủ thể của hợp đồng tín dụng

Theo quy định của pháp luật hiện hành, một TCTD muốn trở thành chủ thể cho

vay trong HĐTD phải thỏa mãn đầy đủ các điều kiện sau đây :

+ Có giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng Nhà nước cấp

+ Có điều lệ do Ngân hàng Nhà nước chuẩn y

+ Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hợp pháp

+ Có người đại diện đủ năng lực và thẩm quyền để giao kết hợp đồng tín dụng

với khách hàng.(Điều 28 luật Các TCTD sửa đổi bổ sung năm 2004).

Riêng với các tổ chức không phải là TCTD muốn trở thành chủ thể cho vay trong hợp đồng tín dụng thì chỉ cần thỏa mãn những điều kiện như :có giấy phép hoạt động ngân hàng ,có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và có người đại diện hợp pháp Trong giấy phép hoạt động ngân hàng và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của loại tổ chức này phải ghi rõ hoạt động cho vay là hoạt động ngân hàng được phép thực hiện

Bên vay trong HĐTD là các tổ chức ,cá nhân thỏa mãn các điều kiện do pháp

luật quy định và các điều kiện khác do các bên thỏa thuận Khi vay vốn tại TCTD khách hàng phải thoả mãn các điều kiện vay vốn theo quy định của pháp luật,Tổ

Trang 8

chức tín dụng xem xét và quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện sau:

Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân

sự theo quy định của pháp luật: “ Đối với khách hàng vay là pháp nhân và cá

nhân Việt Nam:

- Pháp nhân phải có năng lực pháp luật dân sự

- Cá nhân và chủ doanh nghiệp tư nhân phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự

- Đại diện của hộ gia đình phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự

- Đại diện của tổ hợp tác phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự

- Thành viên hợp danh của công ty hợp danh phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự

- Đối với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân nước ngoài phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật của nước mà pháp nhân đó có quốc tịch hoặc cá nhân đó là công dân, nếu pháp luật nước ngoài

đó được Bộ Luật Dân sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định hoặc được điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia quy định

- Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.

- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.

- Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy định của pháp luật.

Trang 9

- Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”.

3.2 Một số quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên tham gia hợp đồng tín dụng

- Quyền và nghĩa vụ của bên cho vay

Với tư cách là bên cho vay, đồng thời là chủ nợ trong quan hệ cho vay, bên cho vay có những quyền và nghĩa vụ pháp lý cơ bản sau đây:

“Yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh dự án đầu tư, phương án

sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi, khả năng tài chính của mình và của người bảo lãnh trước khi quyết định cho vay Từ chối yêu cầu vay vốn của khách hàng nếu thấy không đủ điều kiện vay vốn,

dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn không có hiệu quả, không phù hợp với quy định của pháp luật hoặc tổ chức tín dụng không có đủ nguồn vốn để cho vay”.

Nghĩa vụ chuyển giao tiền vay đầy đủ, đúng thời hạn và địa điểm cho khách hàng vay sử dụng (nghĩa vụ giải ngân).Nghĩa vụ này phát sinh do việc bên cho vay

đã cam kết cho khách hàng vay được sử dụng số tiền của mình trong thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả.Nếu bên cho vay vi phạm nghĩa vụ này (nghĩa vụ giải ngân) như giả ngân chậm hoặc không chịu giải ngân theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng thì vấn đề trách nhiệm pháp lý của họ là như thế nào? với hiện trạng pháp luật hiện hành ở Việt Nam, trong trường hợp đó bên vay được coi là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, vì thế có trách nhiệm phải bồi thường các thiệt hại vật chất đã xảy ra cho bên vay Ngoài ra bên cho vay còn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình như đã cam kết, trừ trường hợp cả hai bên cùng thoả thuận chấm dứt hợp đồng tín dụng trước thời hạn

Nghĩa vụ kiểm tra, giám sát việc sử dụng tiền vay và trả nợ của khách hàng “Tổ

chức tín dụng xây dựng quy trình và thực hiện kiểm tra, giám sát quá trình vay

Trang 10

vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng phù hợp với đặc điểm hoạt động của tổ chức tín dụng và tính chất của khoản vay, nhằm bảo đảm hiệu quả và khả năng thu hồi vốn vay; gửi quy trình kiểm tra giám sát vốn vay của khách hàng cho Thanh tra Ngân hàng Nhà nước.”.

Quyền yêu cầu bên vay hoàn trả tiền vay đúng thoả thuận, kể cả tiền phạt, tiền

bồi thường thiệt hại (nếu có).” Khi đến hạn trả nợ mà khách hàng không trả nợ,

nếu các bên không có thoả thuận khác, thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản bảo đảm vốn vay theo sự thoả thuận trong hợp đồng để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với trường hợp khách hàng được bảo lãnh vay vốn; Miễn, giảm lãi vốn vay, gia hạn

nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ thực hiện theo quy định tại Quy chế này; mua bán nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và thực hiện việc đảo nợ, khoanh nợ, xoá nợ theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”.

- Quyền và nghĩa vụ của bên vay

Với tư cách là người hưởng tín dụng, đồng thời là con nợ trong quan hệ cho vay, bên vay có những quyền và nghĩa vụ cơ bản sau đây:

Quyền từ chôí các yêu cầu không hợp lý của tổ chức tín dụng khi kết, thực hiện và thanh lý hợp đồng tín dụng

Quyền năng này được pháp luật quy định nhằm tạo cho khách hàng vay khả năng chống lại các yêu cầu rõ ràng là không hợp lý của TCTD, có thể gây ra những bất lợi cho họ nếu buộc phải thoả mãn các yêu cầu này, ví dụ khách hàng vay có quyền từ chối cung cấp thông tin và hoạt động kinh doanh của mình nhưng

rõ ràng là không liên quan gì đến việc sử dụng vốn và hoàn trả vốn vay cho tổ chức tín dụng…

Ngày đăng: 16/04/2018, 23:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w