Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo trồng và liều lượng đạm tới sinh trưởng, phát triển của giống lúa Nghi hương 2308 tại Phù Ninh, Phú Thọ (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo trồng và liều lượng đạm tới sinh trưởng, phát triển của giống lúa Nghi hương 2308 tại Phù Ninh, Phú Thọ (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo trồng và liều lượng đạm tới sinh trưởng, phát triển của giống lúa Nghi hương 2308 tại Phù Ninh, Phú Thọ (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo trồng và liều lượng đạm tới sinh trưởng, phát triển của giống lúa Nghi hương 2308 tại Phù Ninh, Phú Thọ (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo trồng và liều lượng đạm tới sinh trưởng, phát triển của giống lúa Nghi hương 2308 tại Phù Ninh, Phú Thọ (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo trồng và liều lượng đạm tới sinh trưởng, phát triển của giống lúa Nghi hương 2308 tại Phù Ninh, Phú Thọ (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo trồng và liều lượng đạm tới sinh trưởng, phát triển của giống lúa Nghi hương 2308 tại Phù Ninh, Phú Thọ (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo trồng và liều lượng đạm tới sinh trưởng, phát triển của giống lúa Nghi hương 2308 tại Phù Ninh, Phú Thọ (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ ĐỨC HÙNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ GIEO TRỒNG
VÀ LIỀU LƯỢNG ĐẠM TỚI SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA GIỐNG LÚA NGHI HƯƠNG 2308 TẠI PHÙ NINH,
PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ ĐỨC HÙNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ GIEO TRỒNG
VÀ LIỀU LƯỢNG ĐẠM TỚI SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA GIỐNG LÚA NGHI HƯƠNG 2308 TẠI PHÙ NINH,
PHÚ THỌ
Ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 8 62 01 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Hữu Hồng
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kêt quả nghiên cứu tronng luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Lê Đức Hùng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiêm cứu đề tài, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã được sự giúp đỡ tận tình và những lời chỉ bảo chân tình từ rất nhiều đơn vị và cá nhân trong và ngoài ngành nông nghiệp Tôi xin ghi nhận và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những tập thể, cá nhân đã dành cho tôi sự giúp đỡ chân thành và quý báu đó
Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng sự giúp đỡ nhiệt tình của PGS-TS Nguyễn Hữu Hồng là người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi về mọi mặt để tôi hoàn thành đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô trong khoa Nông Học, các thầy cô trong phòng Đào tạo trường ĐHNL Thái Nguyên
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của Ủy ban nhân dân xã Tử Đà - huyện Phù Ninh - tỉnh Phú Thọ đã tạo điều kiện giúp tôi thực hiện đề tài này
Cảm ơn sự giúp đỡ, cổ vũ và động viên của gia đình, người thân, bạn
bè đã đồng hành cùng tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Thái Nguyên, ngày tháng 12 năm 2017
Tác giả luận văn
Lê Đức Hùng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU vi
DANH SÁCH CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
2.1 Mục đích: 2
2.2 Yêu cầu đề tài 2
3 Ý nghĩa của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.2.Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa trên Thế giới và ở Việt Nam 5
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa trên Thế giới 5
1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa ở Việt Nam 7
1.1.3 Tình hình sản xuất lúa gạo tại huyện Phù Ninh, Phú Thọ 10
1.3 Tình hình nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật canh tác lúa 14
1.3.1 Những nghiên cứu và kết quả đạt được về phân đạm cho lúa 14
1.3.2 Những nghiên cứu về số dảnh và mật độ cấy 16
1.3.3 Những vấn đề về bón phân cân đối cho lúa 21
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 23
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 23
Trang 62.2 Nội dung nghiên cứu 23
2.3 Phương pháp nghiên cứu 24
2.4 Các biện pháp kỹ thuật 26
2.5 Các chỉ tiêu vàphương pháp theo dõi: 26
2.5.1 Phương pháp theo dõi 26
2.5.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu 26
2.6 Phương pháp xử lý số liệu: 30
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
3.1 Ảnh hưởng của mật độ cấy và các mức đạm đến khả năng sinh trưởng, phát triển của giống lúa Nghi Hương 2308 31
3.1.1 Ảnh hưởng của mật độ cấy và các mức đạm đến thời gian sinh trưởng của giống lúa Nghi Hương 2308 31
3.1.2 Ảnh hưởng của mật độ cấy và các mức đạm đến chiều cao cây của giống lúa Nghi Hương 2308 34
3.1.3 Ảnh hưởng của mật độ cấy và các mức đạm đến khả năng đẻ nhánh của giống lúa Nghi Hương 2308 39
3.1.4 Ảnh hưởng của mật độ cấy và các mức đạm đến sức đẻ nhánh và sức đẻ nhánh hữu hiệu của giống lúa Nghi Hương 2308 45
3.2 Ảnh hưởng của mật độ cấy và các mức đạm đến tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống đổ 49
3.3 Ảnh hưởng của mật độ cấy và mức bón đạm đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và hiệu quả kinh tế của giống lúa Nghi Hương 2308 52
3.3.1 Ảnh hưởng của mật độ cấy và mức bón đạm đến các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa Nghi Hương 2308 52
3.3.2 Ảnh hưởng của mật độ cấy và mức bón đạm đến năng suất của giống lúa Nghi Hương2308 57
3.3.3 Phân tích hiệu quả kinh tế của các công thức thí nghiệm 60
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 63
1 Kết luận: 63
2 Đề nghị: 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 7TGST : Thời gian sinh trưởng
SRI : System of Rice Intensification (hệ hống canh tác lúa cải tiến) FAO : Tổ chức lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc
P : Probability (xác suất)
Trang 8DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên trên thế giới 5
giai đoạn 2010-2016 5
Bảng 1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo của 5 nước sản xuất lúa gạo lớn nhất trên thế giới năm 2016 6
Bảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa ở nước ta 9
từ năm 2006 - 2016 9
Bảng 1.4 Sản lượng lúa phân theo vùng sản xuất 10
Bảng 1.5 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của huyện Phù Ninh 12
giai đoạn 2010 - 2016 12
Bảng 3.1: Ảnh hưởng của mật độ cấy và các mức đạm đến thời gian sinh trưởng của giống Nghi Hương 2308 32
Bảng 3.2: Ảnh hưởng của mật độ cấy và các mức đạm đến động thái tăng trưởng chiều cao cây của giống Nghi Hương 2308 35
Bảng 3.3: Ảnh hưởng của mật độ cấy đến động thái tăng trưởng chiều cao cây của giống Nghi Hương 2308 37
Bảng 3.4: Ảnh hưởng của các mức đạm đến động thái tăng trưởng chiều cao cây của giống Nghi Hương 2308 38
Bảng 3.5: Ảnh hưởng của mật độ cấy và các mức đạm đến động thái đẻ nhánh của giống lúa Nghi Hương 2308 vụ Xuân 2017 40
Bảng 3.6: Ảnh hưởng của mật độ cấy đến động thái đẻ nhánh của giống Nghi Hương 2308 42
Bảng 3.7: Ảnh hưởng các mức đạm đến động thái đẻ nhánh 44
của giống Nghi Hương 2308 44
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của mật độ cấy và các mức đạm đến sức đẻ nhánh chung và sức đẻ nhánh hữu hiệu của giống lúa Nghi Hương 2308 45
Trang 9Bảng 3.9: Ảnh hưởng của mật độ cấy đến sức đẻ nhánh chung và sức đẻ nhánh hữu hiệu của giống lúa Nghi Hương 2308 47 Bảng 3.10: Ảnh hưởng của các mức đạm đến sức đẻ nhánh chung và sức để nhánh hữu hiệu của giống lúa Nghi Hương 2308 48 Bảng 3.11 Ảnh hưởng của mật độ cấy và các mức đạm đến tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống đổ 50 Bảng 3.12 Ảnh hưởng của mật độ cấy và mức bón đạm đến các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa Nghi Hương 2308 53 Bảng 3.13: Ảnh hưởng của mật độ cấy đến các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa Nghi Hương 2308 55 Bảng 3.14: Ảnh hưởng của mức bón đạm đến các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa Nghi Hương 2308 56 Bảng 3.15 Ảnh hưởng của mật độ cấy và mức bón đạm đếnnăng 58 suất của giống lúa Nghi Hương 2308 58 Bảng 3.16: Ảnh hưởng của mật độ cấy đến năng suất của giống lúa Nghi Hương 2308 59 Bảng 3.17: Ảnh hưởng của mức bón đạm đến năng suất của giống lúa Nghi Hương 2308 60 Bảng 3.18 Hiệu quả kinh tế của các công thức thí nghiệm 61
Trang 10DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 3.1 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của giống Nghi Hương 2308 36 Hình 3.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của giống Nghi Hương 2308 trên các nền phân bón đạm khác nhau 39 Hình 3.3 Động thái đẻ nhánh của giống lúa Nghi Hương 2308 41 Hình 3.4 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến động thái đẻ nhánh của giống Nghi Hương 2308 43 Hình 3.5 Ảnh hưởng các mức đạm đến động thái đẻ nhánh của giống Nghi Hương 2308 44
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một trong những nước có nghề truyền thống trồng lúa nước cổ xưa trên thế giới Nông nghiệp trồng lúa vừa đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, vừa là cơ sở kinh tế sống còn của đất nước Sản xuất lúa gạo đảm bảo cung cấp lương thực cho hơn 93 triệu dân trong nước và xuất khẩu sang các thị trường quốc tế Mặt khác nghề trồng lúa còn giải quyết việc làm cho khoảng 70% lực lượng lao động cả nước Điều đó cho thấy lĩnh vực nông nghiệp trồng lúa thu hút đại bộ phận lực lượng lao động cả nước, đóng vai trò rất lớn trong nền kinh tế quốc dân
Phù Ninh là một huyện miền núi nằm phía Đông Bắc tỉnh Phú Thọ với tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 15.648,01 ha Trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 11.099,58 ha chiếm 70,93% diện tích đất tự nhiên, diện tích đất trồng lúa là 4.187,3 ha chiếm khoảng 40% diện tích đất nông nghiệp Để khai thác hiệu quả đất trồng lúa hiện nay huyện đang chú trọng áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiến bộ, giống mới đặc biệt là giống lúa lai để tăng năng suất, sản lượng lúa trên địa bàn huyện và từng bước chuyển dịch sang sản xuất hàng hóa
Giống lúa Nghi Hương 2308 là giống lúa lai ba dòng với các ưu điểm như khả năng thích ứng rộng, kháng bệnh tốt, năng suất cao, chất lượng gạo ngon nên đang được huyện đưa vào cơ cấu giống của vùng trong vài năm gần dây Để khai thác tiềm năng, năng suất của giống trên địa bàn huyện cần đưa
ra được một quy trình hoàn thiện tới bà con nông dân
Trong thâm canh lúa mật độ cấy là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành số bông, quyết định đến năng suất Mật độ cấy liên quan chặt chẽ đến quá trình đẻ nhánh và khả năng chống đổ Việc bố trí mật độ cấy hợp lý nhằm tạo ra mật độ quần thể thích hợp, từ đó nâng cao
Trang 12được hiệu quả quang hợp và làm tăng số bông trên một đơn vị diện tích Việc xác định liều đạm bón thích hợp có vai trò quyết định tới việc nâng cao các yếu tố cấu thành năng suất của cây lúa, cũng như khả năng chống chịu sâu bệnh của giống
Qua thực tế và nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy việc tăng mật độ và lượng phân đạm ở một giới hạn nhất định thì năng suất tăng, nhưng nếu cấy quá dầy, bón đạm quá nhiều, bón không cân đối làm cho cây sinh trưởng phát triển không bình thường và dễ nhiễm sâu bệnh hại do đó làm giảm năng suất
và chất lượng lúa gạo Việc cấy đúng mật độ không những tạo điều kiện tối
ưu cho sinh trưởng phát triển, cho năng suất cao mà còn vô cùng ý nghĩa trong vấn đề chăm sóc lúa Bên cạnh đó việc xác định cấy mật độ đúng còn có
ý nghĩa lớn trong việc sử dụng phân đạm một cách hợp lý, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, hạn chế việc sử dụng phân bón quá mức cần thiết gây ảnh hưởng xấu đến đất canh tác
Xuất phát từ thực tiễn như vậy chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài
“Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo trồng và liều lượng đạm tới sinh
trưởng, phát triển của giống lúa Nghi Hương 2308 tại Phù Ninh, Phú
Thọ”để làm cơ sở giúp người nông dân tăng năng suất, sử dụng đất bền vững
và hoàn thiện qui trình thâm canh lúa Nghi Hương 2308 trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích:
Xác định được lượng đạm và mật độ cấy thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của giống Nghi Hương 2308 tại địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
2.2 Yêu cầu đề tài
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của giống lúa
- Đánh giá tình hình bệnh hại và khả năng chống đổ của giống lúa
Trang 13- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và hiệu quả kinh
tế của giống lúa
3 Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài khẳng định được vai trò của khoa học kỹ thuật đối với sản xuất lúa, đặc biệt là tìm ra các biện pháp canh tác lúa có hiệu quả để đạt được hiệu quả kinh tế cao
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Xác định được công thức phân bón đạm và mật độ cấy hợp lý cho giống Nghi Hương 2308 góp phần tăng năng suất lúa, tăng hiệu quả sản xuất trên một đơn vị diện tích canh tác tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Hiện nay nước ta vẫn là một nước nông nghiệp, chính vì vậy các loại cây trồng lương thực đóng vai trò đặc biệt quan trọng, trong đó cây lúa có những đóng góp rất lớn Trong xu thế hội nhập và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, năng suất cây trồng của nhiều nước trên thế giới so với nước ta có sự vượt trội Vấn đề thiết yếu của ngành nông nghiệp nước ta hiện nay là cải tiến năng suất và chất lượng sản phẩm cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng
Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Thú Thọ, những năm gần đây diện tích đất canh tác lúa trên địa bàn tỉnh xấp xỉ 70.000/ha/năm, trong đó diện tích lúa lai gieo trồng trên 45% diện tích Vì vậy để sản xuất lúa lai trên địa bàn có những bước đi chắc chắn và đẩm bảo
an ninh lương thực việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật hoàn thiện quy trình chăm sóc các giống lúa lai trên địa bàn là vô cùng cần thiết
Trong thâm canh lúa mật độ cấy là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành số bông, tỷ lệ hạt chắc trên bông… quyết định trực tiếp đến năng suất Mật độ cấy liên quan chặt chẽ đến quá trình đẻ nhánh
và khả năng chống đổ Việc bố trí mật độ cấy hợp lý nhằm tạo ra mật độ quần thể thích hợp Mật độ thích hợp tạo cho lúa phát triển tốt, tận dụng hiệu quả dinh dưỡng, nước, ánh sáng Mật độ thích hợp còn tạo nên sự tương tác hài hòa giữa cá thể cây lúa và quần thể ruộng lúa, tạo nên năng suất cao trên một đơn vị diện tích
Bên cạnh đó đạm có vai trò quan trọng trong việc phát triền bộ rễ, thân,
lá, chiều cao và đẻ nhánh của cây lúa Đặc biệt đạm có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình đẻ nhánh của cây lúa Việc cung cấp đạm đủ và đúng lúc làm cho lúa vừa đẻ nhánh nhanh lại tập trung, tạo được nhiều dảnh hữu hiệu, là yếu tố
Trang 15cấu thành năng suất có vai trò quan trọng nhất đối với năng suất lúa Đạm còn
có vai trò quan trọng đối với việc hình thành dòng và các yếu tố cấu thành năng suất khác: số hạt/bông, trọng lượng 1000 hạt và tỷ lệ hạt chắc Vì vậy cung cấp đầy đủ và kịp thời đạm cho cây lúa có vai trò quyết định cho việc đạt năng suất cao
Để có cơ sở hoàn thiện quy trình chăm sóc cho giống lúa lai Nghi Hương 2308 phục vụ cho sản xuất trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, đề tài đã thực hiện nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo trồng và liều lượng đạm đến giống lúa Nghi Hương 2308 ở vụ xuân 2017
1.2.Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa trên Thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa trên Thế giới
Cây lúa có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Đông Nam Á, do khả năng thích nghi rộng nên cây lúa được trồng ở nhiều vùng khí hậu khác nhau trên thế giới Hiện nay có trên 100 nước trồng lúa ở hầu hết các châu lục, với tổng diện tích trên 160 triệu ha Tuy nhiên, sản xuất lúa gạo vẫn tập trung chủ yếu
ở các nước Châu Á, nơi chiếm tới 90% diện tích gieo trồng và sản lượng
(FAOSTAT 2017)[18]
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên trên thế giới
giai đoạn 2010-2016 Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (triệu tấn)
Trang 16Qua bảng 1.1 cho thấy khoảng những năm đầu của thế kỷ 21, diện tích canh tác lúa vẫn có xu hướng tăng nhưng tăng chậm, từ 2008 đến năm 2009 diện tích lại có giảm đôi chút nhưng lại tăng khi sang năm 2010 Từ năm
2011 đến năm 2014 diện tích lúa có độ biến động nhẹ Điều này cho thấy sang đến thế kỷ 21 dân số toàn cầu đã đạt 7 tỷ người, tốc độ đô thị hóa tăng cao diện tích canh tác thu hẹp dần nhất là tại châu Á, châu Mỹ La Tinh nơi tập trung của nhiều nước đang phát triển và là những vùng trồng lúa chính của thế giới Năm 2004 năng suất lúa bình quân trên Thế giới đạt 40,3 tạ/ha sau 12 năm năng suất lúa tăng lên đạt 46,4 tạ/ha năm 2016
Tính đến nay trên Thế giới có trên 100 nước trồng lúa hầu hết ở các châu lục với tổng diện tích 163,27 triệu ha Với việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất như chọn tạo các giống mới có năng suất chất lượng tốt, thâm canh cao làm cho năng suất lúa ngày một nâng cao Trong đó Trung Quốc là nước có sản lượng thu hoạch lúa lớn nhất ( 206,5 triệu tấn/năm ), tiếp đến là Ấn Độ ( 157,2 triệu tấn/năm)
Bảng 1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo của 5 nước sản xuất lúa gạo lớn
nhất trên thế giới năm 2016
Nước Diện tích (triệu
ha)
Năng suất (tạ/ha)
Trang 17Từ bảng 1.2 ta thấy rõ trong 5 nước trồng lúa có sản lượng nhất thế giới đều là các nước ở châu Á với tổng sản lượng đạt 530 triệu tấn, chiếm xấp xỉ 72% sản lượng lúa toàn Thế giới Trung Quốc nước có năng suất cao hơn hẳn đạt 67,5 tạ/ha (Trung Quốc) và sản lượng cũng cao nhất đạt 206,5 triệu tấn Điều đó có thể lý giải là vì Trung Quốc là nước đi tiên phong trong lĩnh vực phát triển lúa lai và người dân nước này có tinh thần lao động cần cù, có trình
độ thâm canh cao Trung Quốc là nước có trình độ khoa học kỹ thuật cao, đầu
tư lớn (Nguyễn Hữu Hồng, 1993)[9] Về năng suất Việt Nam đứng 2 trong top 5 nước trồng lúa chính, đạt 55,8 tạ/ha.Trong các nước có sản lượng lúa gạo nhiều nhất thế giới thì Ấn độ năng suất lúa thấp nhất chỉ đạt 36,2 tạ/ha và thấp hơn so với năng suất trung bình toàn thế giới Tuy nhiên Ấn Độ là nước
có sản lượng lúa gạo đứng thứ 2 toàn thế giới với sản lượng lúa gạo năm 2016 đạt 157,2 triệu tấn chiếm 21,4% tổng sản lượng lúa gạo toàn thế giới
1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước trồng lúa trọng điểm trên thế giới, người Việt Nam vẫn thường tự hào về nền văn minh lúa nước của đất nước mình Từ xa xưa cây lúa đã trở thành cây lương thực chủ yếu, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của người dân Việt Nam.nghề trồng lúa ở Việt Nam có lịch sử lâu đời nhất so với nghề trồng lúa ở các nước châu Á Theo các tài liệu khảo cổ ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam cây lúa đã có mặt từ 3.000 – 2.000 năm Trước công nguyên tổ tiên chúng ta đã thuần hóa cây lúa dại thành cây lúa trồng và đã phát triển nghề trồng lúa đạt được những tiến bộ như ngày nay
Xét về vị trí địa lý, nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, lượng bức xạ mặt trời cao và đất đai phù hợp nên có thể trồng nhiều vụ lúa trong năm và với nhiều giống lúa khác nhau (Đinh Thế Lộc, 2006) [11] Với diện tích trải dài trên 15 vĩ độ Bắc bán cầu từ Bắc vào Nam đã hình thành những đồng bằng châu thổ trồng lúa phì nhiêu, bao gồm Đồng bằng châu thổ
Trang 18sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long, đây là hai vựa lúa lớn nhất của cả nước không những cung cấp lương thực cho cả nước mà xuất khẩu ra nước ngoài
Tính từ năm 1961 đến năm 2005, năng suất lúa của nước ta đã tăng lên 2,8 lần giai đoạn tăng cao nhất là từ thập kỷ 80 đến nay Sản lượng lúa của Việt Nam cũng vì thế mà tăng liên tục từ 9,5 triệu tấn năm 1961 lên 36 triệu tấn năm 2007 và nay là 44,4 triệu tấn năm Từ một nước thiếu ăn, phải nhập khẩu gần 2 triệu tấn gạo/năm trước đây Việt Nam đã vươn lên giải quyết an ninh lương thực cho 93 triệu dân, ngoài ra còn xuất khẩu một lượng gạo lớn
ra thị trường thế giới Những năm gần đây, nước ta luôn đứng hàng thứ 2 trên thế giới (sau Thái Lan) về lượng gạo xuất khẩu (đạt 7,5 triệu tấn năm 2011)
và sẽ ổn định xuất khẩu khoảng 6-7 triệu tấn trong những năm tiếp theo Đây
là thành công lớn trong công tác chỉ đạo và phát triển sản xuất lúa của Việt Nam từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (Nguyễn Thị Nguyệt, 2006) [13]
Từ năm 2006 đến năm 2013 diện tích trồng lúa ổn định tăng đều từ 7,32 triệu ha năm 2006 lên tới 7,90 triệu ha năm 2013 cùng với tiến bộ khoa khọc kỹ thuật năng suất lúa tăng dần đều từ 48,91 tạ/ha đến 52,71 tạ/ha năm
2013 Năm 2014 đến năm 2016 diện tích lúa có giảm đi tuy nhiên không đáng
kể Hiện nay diện tích lúa thống kê năm 2016 đạt 7,79 triệu ha với năm suất
56 tạ/ha do vậy sản lượng lúa luôn duy trì ổn định dù diện tích trồng có giảm chút ít Nguyên nhân chủ yếu là do chuyển đổi mục đich sử dụng đất nông nghiệp nói chung và đất trồng lúa nói riêng làm diện tích trồng lúa giảm đi
Trong mấy năm trở lại đây nhờ chính sách, chủ trương phát triển nông nghiệp của Nhà nước và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất nên dù diện tích trồng lúa có chiều hướng giảm tuy nhiên năng suất hàng năm vẫn duy trì ở mức trên 56 tạ/ha
Trang 19Bảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa ở nước ta
từ năm 2006 - 2016
(triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
( Nguồn: Niên giám thống kê năm 2017)[18]
Việc sản xuất nông nghiệp nước ta trải dài trên bảy vùng sinh thái từ Nam ra Bắc Vùng đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất của cả nước, diện tích và sản lượng lớn gấp gần 3 lần diện tích và sản lượng lúa đồng bằng sông Hồng Lượng gạo nước ta xuất khẩu chủ yếu được tập trung sản xuất ở vùng này Vùng đồng bằng sông Hồng là vựa lúa lớn thứ 2 của cả nước Hàng năm hai vựa lúa đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long chiếm gần 70% tổng sản lượng lúa toàn quốc Nhìn chung năng suất lúa của đồng bằng sông Hồng cao hơn đồng bằng sông Cửu Long nhưng ở đây diện tích đang ngày càng bị thu hẹp do đô thị hoá và công nghiệp hoá điều kiện thời tiết cũng không thuận lợi cho hướng thâm canh tăng vụ Vì vậy khả
Trang 20năng cho phép tăng sản lượng không nhiều so với đồng bằng sông Cửu Long (Nguyễn Hữu Nghĩa và cs, 2007) [12]
Đối với những vùng còn lại do điều kiện tự nhiên không thuận lợi do
đó sản lượng chỉ chiếm một phần nhỏ so với hai vùng trên Điều đó được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.4 Sản lượng lúa phân theo vùng sản xuất
Đồng bằng sông Hồng
Bắc Trung
Bộ
&Duyên hải Nam Trung Bộ
Trung
du và miền núi phía Bắc
Đông Nam
Bộ
Tây Nguyên
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam năm 2017
1.1.3 Tình hình sản xuất lúa gạo tại huyện Phù Ninh, Phú Thọ
Huyện Phù Ninh có vị trí địa lý thuộc phía Đông Bắc tỉnh Phú Thọ, phía Bắc giáp huyện Đoan Hùng, phía Nam giáp thành phố Việt Trì, phía Tây
Trang 21giáp thị xã Phú Thọ, phía Đông có tuyến sông Lô giáp ranh với tỉnh Vĩnh Phúc Địa hình của huyện có các dạng địa hình như đồi núi, bậc thang và lòng chảo, nhưng chủ yếu là đồi núi thấp Các yếu tố khí hậu của vùng mang đặc trưng của nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều Số giờ nắng trung bình hàng năm là 1.760 giờ, tổng tích nhiệt đạt 8.3000C, thuộc loại tương đối cao Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 23,50C, độ ẩm trung bình 86% Với lượng mưa trung bình năm là 1.674 mm, lượng mưa phân bố không đều trong năm, thường mưa nhiều vào các tháng từ tháng năm đến tháng tám và mưa ít vào các tháng mười một, mười hai cho đến tháng một và tháng hai năm sau Nhìn chung, đặc điểm khí hậu trên địa bàn huyện có nhiều thuận lợi đối với đời sống dân sinh, phát triển các ngành sản xuất nông – lâm nghiệp và rất thích hợp cho việc trồng lúa
Theo Chi cục thống kê tỉnh Phú Thọ (2015) [3]: năm 2015, tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Phù Ninh là 15.648,01 ha Trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 11.099,58 ha chiếm 70,93% diện tích đất tự nhiên, diện tích đất trồng lúa là 4.187,3 ha chiếm khoảng 40% diện tích đất nông nghiệp
Những năm gần đây ngành nông nghiệp của huyện nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng đã đạt được những kết quả khả quan, mặc dù diện tích đất trồng lúa có giảm từ 4476,2 ha năm 2010 xuống còn 4.187,3 năm 2015 nhưng năng suất lúa lại có xu hướng tăng lên 52,32 tạ/ha năm 2015 so với 50,59 tạ/ha năm 2010
Trang 22Bảng 1.5 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của huyện Phù Ninh
giai đoạn 2010 - 2016 Chỉ tiêu
Nguồn: Niên giám thống kê theo các năm của Cục thống kê tỉnh Phú Thọ[3]
Từ nằm 2010 đến nay diện tích , năng suất lúa tăng nhanh và ổn định do cơ cấu trà, giống đã được thay đổi Giai đoạn này lúa lai đã được đưa vào cơ cấu giống của tỉnh là biện pháp tạo bước đột phá tăng nhanh năng suất Ngoài ra các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới đã được áp dụng vào sản xuất như việc sử dụng giống có phẩm cấp chất lượng tốt (giống nguyên chủng, xác nhận) được mở rộng góp phần nâng cao độ thuần đồng ruộng, tăng năng suất, ứng dụng thành công công nghệ sản xuất một số tổ hợp giống lúa lai, làm mạ xuân muộn có che phủ nilon đang được áp dụng rộng rãi trong sản xuất ở các địa phương Ứng dụng cơ giới hoá vào sản xuất (chủ yếu là cơ giới hoá khâu làm đất, ra hạt) đã có bước phát triển tốt, ước tính hiện có khoảng 50% diện tích được cơ giới hoá khâu làm đất và trên 90% cơ giới hoá trong khâu ra hạt lúa
Mặc dù đã có nhiều chính sách hỗ trợ, chỉ đạo trong sản xuất cũng như tìm đầu ra sản phẩm cho lúa nhưng năm 2016 cả diện tích trồng lúa và sản lượng lúa đều có chiều hướng giảm so với năm 2015 Nguyên nhân là do người dân chuyển diện tích đất lúa kém hiệu quả sang trồng các loại cây khác
Trang 23Mặt khác đất canh tác lúa ở Phù Ninh có quy mô thửa, vùng còn nhỏ lẻ, manh mún, không tập trung và người dân chưa có sự đầu tư một cách đồng bộ từ khâu quy hoạch, tổ chức sản xuất và chế biến tiêu thụ sản phẩm
Do vậy để sản lượng lúa của huyện tăng trở lại và bắt kịp với các các vùng sản xuất khác trong và ngoài tỉnh cần có những chính sách rõ ràng hơn trong nông nghiệp và áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật mới đưa và trong sản xuất như giống mới, quy trình thâm canh hợp lý
Quy hoạch phát triển nông, lâm nghiệp, thủy sản tỉnh Phú Thọ đến năm
2020, định hướng đến năm 2030, về chương trình phát triển lương thực: đất trồng lúa 41,8 nghìn ha, trong đó đất chuyên trồng lúa nước 28,5 nghìn ha, diện tích gieo trồng cả năm 66 nghìn ha, sản lượng thóc 370 nghìn tấn Chuyển đổi 2.500 - 3.000 ha diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang trồng rau, trồng cỏ chăn nuôi ở những vùng cao hạn và kết hợp nuôi trồng thủy sản ở những vùng trũng thấp Diện tích lúa lai chiếm 45%, diện tích lúa chất lượng cao chiếm 45%, xây dựng “Cánh đồng mẫu lớn”, hình thành các vùng sản xuất lúa chất lượng cao tập trung
Từ đó, việc lựa chọn giống lúa lai thích hợp vùng khí hậu, đất đai trên địa bàn luôn là mối quan tâm của người quản lý ngành nông nghiệp huyện Phù Ninh Một số giống lúa lai trong cơ cấu thời vụ của tỉnh như: Nhị ưu 838, Nhị ưu số 7, GS9, Nghi Hương 2308, TH3-4, Đang được đưa vào sản xuất mạnh mẽ Mấy năm trở lại đây với sự thích nghi, và ưu điểm của giống lúa lai Nghi Hương 2308 như gạo đạt chất lượng cao: hạt thon dài, trắng trong, dinh dưỡng cao, cơm mềm dẻo và có hương thơm Thời gian sinh trưởng ngắn, đẻ nhánh khỏe là giống cảm ôn và chống chịu sâu bệnh khá nên cấy được cả 3 vụ trong năm: Xuân, hè thu và vụ mùa Từ các ưu điểm trên huyện Phù Ninh quy hoạch 1 số xã trên địa bàn huyện trong đó có xã Tử Đà gieo trồng và duy trì diện tích lúa lai Nghi Hương 2308
Trang 24Việc hoàn thiện quy trình gieo trồng và chăm sóc cho giống Nghi Hương 2308 là rất quan trọng Từ đó tạo cơ sở trong sản xuất và chỉ đạo gieo trồng trên địa bàn huyện Ổn định năng suất và thúc đẩy kinh tế nông nghiệp của huyện
1.3 Tình hình nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật canh tác lúa
1.3.1 Những nghiên cứu và kết quả đạt được về phân đạm cho lúa
Một trong những yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất đối với lúa chính
là đạm (N) Đạm là một trong những nguyên tố hóa học cơ bản của cây lúa là thành phần cơ bản của axit amin, axit nucleic và diệp lục đồng thời cũng là yếu tố cơ bản trong quá trình phát triển của tế bào và các cơ quan rễ, thân, lá Trong thành phần chất khô của cây có chứa từ 0,5 – 0,6% đạm tổng số (Phạm Văn Cường, 2005)[4] Theo nghiên cứu tác động của phân đạm đối với cây lúa Theo Tanaka (1965)[21] và Takahashi (1969)[20] đã kết luận: phân đạm làm tăng hàm lượng diệp lục trong lá, tăng hiệu suất quang hợp, tăng diện tích
bề mặt lá tăng tích lũy chất khô và tăng năng suất hạt Theo Jennings và cs (1979)[19] thì khi bón nhiều đạm và áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác thích hợp thì hàm lượng protein sẽ tăng Do vậy, đạm ảnh hưởng đến tất cả các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lúa
Theo Lê Văn Căn (1968)[2], do đạm dễ bị rửa trôi, nên cần chia lượng đạm ra làm nhiều lần qua các thời kỳ sinh trưởng chính của cây Tùy theo thời
kỳ sinh trưởng và hiện trạng của cây lúa mà bón sớm hay bón muộn nhưng khi bón lót phải dựa vào điều kiện thời tiết, khí hậu Cũng theo ông thì cây lúa cần dinh dưỡng đạm trong suốt quá trình sinh trưởng phát triển của chúng Tỷ
lệ đạm trong cây so với trọng lượng chất khô ở các thời kỳ như sau: thời kỳ
mạ 1,54%; đẻ nhánh 3,65%; làm đòng 3,06%; cuối làm đòng 1,95%; trỗ bông 1,17% và chín 0,4%
Trang 25Theo Đỗ Thị Tho (2004) [14], đạm đóng vai trò hết sức quan trọng trong đới sống cây lúa, giữ vị trí quan trọng trong việc tăng năng suất lúa Trong các chất khô của cây trồng có 1-5% đạm tổng số Người ta thấy bộ phận non của cây hàm lượng đạm nhiều hơn trong các bộ phận già, đạm có trong Protit, các axit nucleic của các cơ quan của cây Theo Bùi Huy Đáp,
1999 [7] thì đạm là yếu tố dinh dưỡng chủ yếu của lúa, nó ảnh hưởng nhiều đến số thu hoạch vì chỉ khi có đủ đạm, các chất khác mới phát huy tác dụng
Theo nghiên cứu của Nguyễn Hữu Nghĩa và cs (2007) [12], cho thấy bón phân đạm ở mức 60-90kg N cho các giống lúa đặc sản cải tiến trên chân đất thấp ở Long An cho năng suất cao nhất bón đến mức 120kg N năng suất
sẽ giảm
Theo Đinh Thế Lộc, Vũ Văn Liết (2004)[10]: bón đủ đạm ở giai đoạn đầu sẽ làm tăng chiều cao, số nhánh, tăng kích thước lá, tăng số hạt/bông, tăng tỷ lệ hạt chắc Nếu bị thiếu đạm quá trình sinh trưởng sinh dưỡng bị hạn chế, số hạt/bông sẽ giảm Lúa cần đạm ở giai đoạn đầu và giai đoạn đẻ nhánh
đẻ hình thành số bông tối đa
Theo Phạm Văn Cường (2005)[4], thời kỳ hút đạm mạnh nhất quan sát thấy ở lúa lai là từ đẻ nhánh rộ đến làm đòng, mỗi ngày lúa lai hút 3,52 kg N/ha chiếm 34,68% tổng lượng hút, tiếp đến là giai đoạn bắt đầu đẻ nhánh đến đẻ nhánh rộ, mỗi ngày cây hút từ 2,74 kg N/ha chiếm 26, 82% tổng lượng hút ở giai đoạn cuối, tuy lúa lai hút đạm không mạnh như giai đoạn đầu song giữ một tỷ lệ đạm cao và sức hút đạm rất có lợi cho quang hợp tích lũy chất khô vào hạt Vì thế một lượng đạm nhất định cần được bón vào giai đoạn cuối ( khoảng 20 ngày trước trỗ) là rất quan trọng
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm (ở các mức 0, 60, 120,
180 kg N/ha trên nền phân lân và kali đồng nhất là 90kg P2O5 và 60 kg K2O/ha) đến năng suất chất khô ở các giai đoạn sinh trưởng và năng suất hạt của một số giống lúa lai và lúa thuần, Phạm Văn Cường (2005)[4] đã kết luận
Trang 26rằng: khi tăng lượng đạm bón năng suất các giống lúa đều tăng, tuy nhiên năng suất lúa lai tăng nhiều hơn so với lúa thuần và các chỉ số diện tích lá, tốc
độ tích lũy chất khô của lúa lai vượt trội hơn so với với giống lúa thuần, đặc biệt ở giai đoạn sau cấy 4 tuần
Sau khi tiến hành thí nghiệm 3 vụ liền ở đất phù sa sông Hồng, tác giả Đào Thế Tuấn (1970)[16] đã rút ra kết luận: vụ chiêm cũng như vụ mùa, nếu bón đạm tập trung vào thời kỳ đẻ nhánh thì số nhánh tăng lên rất nhiều về sau lụi đi cũng nhiều, nếu bón tập trung vào cuối thời kỳ đẻ nhánh thì số nhánh lụi
đi ít nhưng tổng số nhánh cũng ít, vì vậy cần chú ý cả hai mặt Trong trường hợp bón đạm tương đối ít nên bón tập trung vào thời kỳ giữa tức là lúc đẻ nhánh rộ
Theo Đỗ Thị Tho (2004)[14] thì nếu giai đoạn đẻ nhánh mà thiếu đạm thì sẽ làm năng suất lúa giảm do đẻ nhánh ít, dẫn đến bông ít Nếu bón không
đủ đạm sẽ làm thấp cây, đẻ nhánh kém, phiến lá nhỏ, lá có thể biến thành màu vàng, bông đòng nhỏ, từ đó làm năng suất giảm Nhưng nếu thừa đạm lại làm cho cây lúa có lá to dài, phiến lá mỏng, dễ bị sâu bệnh, dễ lốp đổ; ngoài ra chiều cao phát triển mạnh, nhánh vô hiệu nhiều, trỗ muộn, năng suất giảm Khi cây lúa được bón đủ đạm thì nhu cầu tất cả các chất dinh dưỡng khác như lân và kali đều tăng Đối với lúa thuần thường đẻ nhánh kém và thiếu tập trung vì vậy cần bón đạm sớm để lúa đẻ nhánh nhanh và hiệu quả Nếu muốn tăng hiệu suất sử dụng phân bón trên lúa thuần cần chú ý bón nhiều ở giai đoạn đẻ nhánh rộ
1.3.2 Những nghiên cứu về số dảnh và mật độ cấy
Mật độ cấy là một kỹ thuật làm tăng khả năng quang hợp của cá thể và quần thể của giống lúa trên ruộng để tăng khả năng tiếp nhận ánh sáng, tạo số
lá và chỉ số diện tích lá thích hợp Mật độ cấy ảnh hưởng đến khả năng đẻ nhánh và số nhánh hữu hiệu/khóm, khả năng chống chịu sâu bệnh… từ đó quyết định đến năng suất lúa Bùi Huy Đáp (1999) [6], cho rằng: Đối với lúa
Trang 27cấy, số lượng tuyệt đối về số nhánh thay đổi nhiều qua các mật độ nhưng tỷ lệ nhánh có ích giữa các mật độ lại không thay đổi nhiều Theo tác giả thì các nhánh đẻ của cây lúa không phải nhánh nào cũng cho năng suất mà chỉ những nhánh đạt được thời gian sinh trưởng và số lá nhất định mới thành bông
Cũng theo Bùi Huy Đáp (1978)[5], cấy ít dảnh cho mỗi khóm từ 2-3 dảnh/khóm thì lúa sẽ đẻ nhánh tốt hơn, có nhiều bông bằng cổ hơn và năng suất cũng cao hơn Nếu cấy 3-4 dảnh/khóm trong những điều kiện bình thường thì nên cấy mật độ 25-30 khóm/m2, ruộng sâu và trong vụ mùa nên cấy trên 40 khóm/m2, còn ruộng tốt bón nhiều phân nên cấy 1-2 dảnh/khóm Nghiên cứu số dảnh cấy vụ Xuân, ông cho rằng trong điều kiện bình thường không nên cấy nhiều dảnh, nhìn chung cấy 2-3 dảnh có ưu thế hơn cấy 5-6 dảnh, nếu mạ bị già nên tăng số dảnh cấy
Hiện nay, tại Việt Nam hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) đã được đánh giá và áp dụng có hiệu quả trên những vùng đất chủ động nước tưới tại hơn 40 nước trên Thế giới và 29 tỉnh của Việt Nam SRI là phương pháp canh tác lúa sinh thái và hiệu quả, tăng năng suất nhưng lai giảm chi phí đầu vào như giống, phân bón, thuốc trừ sâu và nước tưới Những nguyên tắc/kỹ thuật
cơ bản của phương pháp này bao gồm: cấy mạ non, cấy ít dảnh, cấy thưa, quản lý nước, làm cỏ sục bùn và bón phân hữu cơ Đến năm 2010, toàn quốc
đã có 22 tỉnh thực hiện ứng dụng tiến bộ này vào phát triển sản xuất lúa với tổng diện tích trên 280 nghìn ha Một số tỉnh, thành phố đã ứng dụng thành công trong đó có Phú Thọ Ta thấy một trong 5 nguyên tắc cơ bản của SRI thì nguyên tắc cấy thưa, cấy 1-2 dảnh /khóm, với mục đích tăng khả năng đẻ nhánh tối đa giảm sâu bệnh làm tăng khả năng tích luỹ chất khô/khóm, tăng
hệ số kinh tế, năng suất lúa tăng 25-35%, góp phần tăng sản lượng lúa ở vùng đất khó khăn này và tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu (Phạm Thị Thu, Hoàng Văn Phụ, 2014)[15]
Trang 28Các giống lúa khác nhau có khả năng đẻ nhánh khác nhau, bông to, bông nhỏ khác nhau, kiểu cây khác nhau Bố trí mật độ khoảng cách, số dảnh/khóm, số khóm/m2, phù hợp nhằm tạo ra cấu trúc quần thể với số lượng bông số hạt hợp lý thì đạt được số hạt nhiều hạt to và chắc đồng nghĩa với năng suất đạt tối đa Trên cùng một diện tích nếu cấy với mật độ dày thì số bông càng nhiều nhưng số hạt trên bông càng ít và tỷ lệ hạt chắc/bông càng giảm Cấy dầy không những tốn công mà còn giảm năng suất nghiêm trọng Tuy nhiên nếu cấy thưa quá với những giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn sẽ rất khó đạt được số bông tối ưu
Năng suất lúa được quyết định bởi các yếu tố sau: Số bông/đơn vị diện tích, số hạt chắc/bông, tỷ lệ hạt chắc và khối lượng 1.000 hạt Quần thể ruộng lúa muốn đạt được số bông nhiều trước hết cần có số bông/m2 lớn, như vậy mỗi khóm cần có nhiều nhánh và tỷ lệ nhánh hữu hiệu cao, bông lúa có nhiều hạt/ bông và tỷ lệ hạt chắc cao Mật độ cấy là số cây, số khóm trên một đơn vị diện tích, với lúa cấy được tính bằng số khóm/m2 Về nguyên tắc thì mật độ cấy càng cao số bông càng nhiều Trong một giới hạn nhất định việc tăng số bông trên một đơn vị diện tích không làm giảm số hạt trên bông, nhưng vượt quá giới hạn đó thì số hạt trên bông bắt đầu giảm Mật độ thích hợp tạo cho cây lúa phát triển tốt tận dụng được dinh dưỡng và ánh sáng Xác định mật độ cấy thích hợp là yêu cầu cần thiết, nó phải dựa trên cơ sở là tính di truyền của giống, điều kiện tự nhiên, dinh dưỡng và các biện pháp kỹ thuật khác
Benito S Vergara (1990) [1] nghiên cứu về khoảng cách cấy có ảnh hưởng đến sự đẻ nhánh, khi cấy với khoảng cách 50 cm x 50 cm thì số nhánh đạt được trên 1 m2 là 122 nhánh, với khoảng cách 10 x 10 cm thì số nhánh đạt được là 300 nhánh, từ đó ông rút ra kết luận:
+ Khả năng đẻ nhánh có thể đạt được bằng cách cấy thưa trên đất giàu dinh dưỡng, nhưng trong thực tế sản xuất không thể đạt được số dảnh tối đa
+ Số dảnh trên 1 cây tăng cùng với việc tăng khoảng cách giữa các cây
Trang 29+ Số nhánh có thể giảm do cấy quá thưa
Mỗi giống khác nhau thích hợp với mật độ khác nhau giống thấp cây khi cấy dầy cho năng suất tăng rõ rệt và giống cao cây thì ngược lại Vấn đề giữa mật độ và năng suất có nhiều tác giả ngoài nước nghiên cứu và đề cập, các tác giả đề có quan điểm chung đó là việc tăng mật độ ở một giới hạn nhất định thì năng suất tăng nhưng vượt qua giới hạn đó năng suất sẽ không tăng
mà giảm đi
Theo Nguyễn Văn Hoan (2000)[8], các thí nghiệm về mật độ trên giống Bắc Ưu 64 cho thấy: ở mật độ 35 khóm/m2 đạt được 320 bông/m2 và số hạt trung bình một bông đạt 130 hạt Khi tăng mật độ lên 70 khóm/m2 (gấp 2 lần) chỉ đạt 400 bông/m2 và số hạt trung bình một bông giảm xuống chỉ còn 73 hạt Như vậy tăng mật độ lên 2 lần cũng chỉ tăngđược 1,25 lần số bông nhưng
số hạt giảm đi 1,78 lần Cũng theo tác giả, lúa lai là loại hình đẻ khỏe, yêu cầu ánh sáng nhiều thì bông mới to vì thế khoảng cách giữa các hàng lúa cần rộng hơn lúa thường Tuy nhiên cách bố trí gieo cấy theo kiểu truyền thống (hàng cách đều) thì khoảng cách giữa hàng với hàng chỉ có thể đến 30 cm, quá khoảng cách này thì không thể đảm bảo được mật độ cần thiết (29 - 40 khóm/m2)
Cũng theo Bùi Huy Đáp (1999)[6]: Đối với cây lúa, số lượng tuyệt đối
về số nhánh cũng thay đổi nhiều qua các mật độ những tỷ lệ nhánh có ích giữa các mât độ lại không thay đổi nhiều, các nhánh đẻ của cây lúa không phải nhánh nào cũng cho năng suất mà chỉ những nhánh đạt được thời gian sinh trưởng và số lá nhất định mới thành bông
Theo Đỗ Thị Tho (2004)[14] Về nguyên tắc tăng mật độ gieo cấy càng cao, số bông càng nhiều Nhưng trong giới hạn nhất định, khi tăng số bông không làm giảm số hạt trên bông, vượt quá giới hạt quy định thì số hạt/bông
và trọng lượng hạt bắt đầu giảm đi do lượng dinh dưỡng được chia sẻ cho nhiều bông Theo tính toán thống kê cho thấy tốc độ giảm số hạt trên bông
Trang 30mạnh hơn tốc độ tăng số bông/đơn vị diện tích, vì vậy cấy dày đối với lúa lai giảm năng suất nhiều hơn so với lúa thường Tuy nhiên cấy quá thưa với các giống thời gian sinh trưởng ngắn thì khó đạt số bông tối ưu cần thiết theo dự định
Mật độ cấy có ý nghĩa quan trọng đến cấu trúc quần thể ruộng lúa Một quần thể ruộng lúa tốt phải đảm bảo được những chỉ tiêu nhất định để đảm bảo được độ thông thoáng trong suốt thời gian sinh trưởng và phân bố không gian trên một ruộng lúa, đặc biệt là thời kỳ sinh trưởng mạnh nhất Mật độ cấy thích hợp tạo điều kiện cho cây lúa phát triển tốt, tận dụng hiệu quả chất dinh dưỡng, nước và ánh sáng Mật độ thích hợp còn tạo nên sự tương tác hài hòa giữa cá thể cây lúa và quần thể ruộng lúa và cuối cùng năng suất lúa trên một đơn vị diện tích
Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất của các giống lúa là mật độ cấy và mức phân bón Qua nghiên cứu của nhiều tác giả thấy rằng, không có mật độ cấy và mức phân bón chung cho mọi giống lúa trong mọi điều kiện, nói chung các giống lúa càng ngắn ngày càng cần cấy dày, như các giống lúa có thời gian sinh trưởng 75-90 ngày nên cấy mật độ 40-50 khóm/m2; những giống lúa đẻ nhánh khỏe, dài ngày, cây cao trong điều kiện thuận lợi cho lúa phát triển thì cấy mật độ thưa hơn Trong vụ Mùa nên cấy 25-35 khóm/m2, trong vụ Xuân nên cấy 45-50 khóm/m2 Trong trường hợp
mạ tốt và chăm sóc tốt, cấy 1 dảnh vẫn đạt được năng suất và chất lượng cao Đối với giống lúa mẫn cảm với chu kỳ ánh sáng thì mật độ cấy có thể 15-25 khóm/m2 và thưa hơn
Tuy nhiên, các nghiên cứu về mật độ cấy, lượng phân bón phù hợp với các vùng sinh thái, từng giống lúa chưa được nhiều và sự nghiên cứu chưa có tính hệ thống Mặc dù đây là biện pháp kỹ thuật quan trọng nhưng lại phụ thuộc nhiều vào yếu tố như giống, trình độ canh tác, điều kiện thời tiêt khí hậu của từng vùng Bởi vậy, cần có công trình nghiên cứu để tìm được mật
độ cấy tương ứng với các mức phân bón thích hợp nhất phù hợp với từng
Trang 31vùng canh tác là vấn đề cần phải thực hiện thường xuyên của các nhà kỹ thuật Chính vì thế, đề tài mang đầy đủ cơ sở khoa học và thực tiễn
1.3.3 Những vấn đề về bón phân cân đối cho lúa
Hiện nay, Việt Nam là nước sử dụng phân bón tương đối cao so với những năm trước đây do người dân áp dụng được rất nhiều biện pháp kỹ thuật trong thâm canh Theo kết quả khảo sát Việt Nam hiện đang là một trong 20 quốc gia sử dụng phân bón cao nhất thế giới Song do điều kiện khí hậu còn gặp nhiều bất lợi cho nên kỹ thuật bón phân mới chỉ phát huy được 30% hiệu quả đối với đạm và 50% hiệu quả đối với lân và kali
Khi nghiên cứu về kỹ thuật bón phân cho cây trồng, Vũ Hữu Yêm (1995) [17] cho rằng: bón phân cân đối và vừa phải thì việc bón phân có thể làm tăng chất lượng sản phẩm Thiếu chất dinh dưỡng, bón phân không cân đối hoặc quá nhu cầu của cây đều làm giảm chất lượng sản phẩm
Trong sản xuất, bón phân cân đối cho lúa là bón cân đối giữa phân vô
cơ và phân hữu cơ, cân đối giữa các yếu tố dinh dưỡng khoáng để vừa đảm bảo cung cấp cho cây trồng đạt năng suất cao, phẩm chất tốt với hiệu quả phân bón cao vừa ổn định và tăng hàm lượng dinh dưỡng và tăng độ mùn trong đất Việc bón phân phải tuân thủ các định luật sau: “Để đất khỏi bị kiệt quệ cần trả lại cho đất các yếu tố dinh dưỡng mà cây trồng lấy đi theo sản phẩm thu hoạch, cũng như các yếu tố bị mất trong quá trình bay hơi, rửa trôi” Tuy nhiên trong thực tế có những yếu tố dinh dưỡng cây trồng lấy đi nhưng không cần trả lại vì hàm lượng của chúng có quá nhiều trong đất Bón phân cân đối không có nghĩa là phải cung cấp cho cây trồng các nguyên tố dinh dưỡng bằng nhau về khối lượng Cơ sở để xác định được sự cân đối dinh dưỡng với một loại cây trồng chính là định luật tối thiểu do nhà bác học người Đức Liebig phát hiện ra vào năm 1884 Nội dung quy luật này có thể tóm tắt
là tất cả các loại đất đều có chứa một nguyên tố với khối lượng lớn và một hay vài yếu tố với khối lượng ít hoặc rất ít (so với nhu cầu của cây trồng) và
Trang 32chính các yếu tố tối thiểu này sẽ quyết định năng suất Bởi vì chúng ta biết rằng một chất dinh dưỡng cần cho cây trồng dù chỉ thiếu với lượng nhỏ nhất cũng sẽ hạn chế sự sinh trưởng của cây
Bón phân cân đối làm tăng hiệu lực của các loại phân bón và tăng năng suất lúa Theo Lê Văn Căn (1968)[2], trên đất phù sa phải bón phân kali đi đôi với lượng phân đạm hóa học thì mới tăng cường được hiệu lực của phân kali Nếu tỷ lệ bón N/K mất cân đối dẫn đến việc năng suất thấp, còn khi bón đầy
đủ kali sẽ làm tỷ lệ N:P:K cân đối hơn do vậy năng suất tăng lên
Để có cơ sở cho việc bón phân cân đối thì cần thiết phải biết được khả năng cung cấp dinh dưỡng của mỗi loại đất, nhu cầu dinh dưỡng của mỗi loại cây trồng và sự phụ thuộc của mỗi yếu tố vào từng điều kiện thời tiết cũng như chế độ canh tác cụ thể Cuối cùng bón phân cân đối đáp ứng được 3 yêu cầu: bón đúng về các yếu tố dinh dưỡng cây trồng cần, bón đủ về lượng, và bón phù hợp với tỷ lệ các nguyên tố đó: Như trong mùa mưa thì lượng phân bón ít hơn trong vụ Đông Xuân, bón thúc sớm hơn Trong điều kiện hàm lượng kali trong nước tưới cao thì có thể giảm lượng phân kali bón, nếu là những loại đất nhẹ như đất xám, đất cát, đất bạc màu cần tăng lượng kali bón Trên đất phèn thì cần phải bón nhiều lân hơn do đất này nghèo lân, có sự
cố định sắt, nhôm di động Về kỹ thuật bón đối với phân hữu cơ nên bón lót
và bón một lần, còn các loại phân vô cơ thì cần chia nhỏ làm nhiều lần bón
Bón phân cân đối là rất cần thiết trong sản xuất lúa, giúp đảm bảo cho các cây chín đồng đều, hạt đẫy, năng suất cao Tránh cho cây lúa đẻ nhánh lai rai dẫn đến bông chính chín nhanh hơn những bông đẻ muộn, những hạt ở bông nhánh chưa chín khi thu hoạch, độ ẩm tăng cao tăng khả năng bị bệnh Ngoài ra còn giúp giữ vững năngsuất và lợi nhuận tối ưu đồng thời tiết kiệm phân bón và bảo vệ môi trường
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Nguồn gốc giống giống lúa lai ba dòng Nghi Hương 2308 do Công ty TNHH Khoa học kỹ thuật Giống cây trồng Đắc Nguyệt - Tứ Xuyên - Trung Quốc chọn tạo từ tổ hợp lai: Nghi Hương1A/Nghi Khôi 2308, được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống cây trồng mới trong vụ Đông Xuân tại miền Bắc và vụ Mùa tại các tỉnh Trung du, Miền núi phía Bắc theo Quyết định 2878/QĐBNN-TT ngày 04/10/2006
* Đặc điểm nông sinh học của giống:
Thời gian sinh trưởng ở miền Bắc: Vụ Xuân 125 - 130 ngày
Vụ Mùa 110 - 115 ngày Lúa cứng cây khả năng chống chịu sâu bệnh tốt; chống đổ tốt, chịu rét tốt, chất lượng cơm mềm, ngon, có giá trị hàng hóa
* Các loại phân bón dùng trong thí nghiệm:
- Phân đạm - Ure: chứa 46% N
- Phân lân (Supe): chứa 17% P2O5
- Phân Kali clorua: chứa 60% K2O
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
- Thời gian: Vụ Xuân 2017
- Địa điểm: tại xã Tử Đà, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy và liều lượng đạm đến sinh
trưởng giống lúa Nghi Hương 2308
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy và liều lượng đạm đến mức độ sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của giống lúa Nghi Hương 2308
Trang 34- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy và liều lượng đạm đến các yếu
tố cấu thành năng suất, năng suất và hiệu quả kinh tế của giống lúa Nghi Hương 2308
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 35(Việc chọn các mật độ trên là do ở địa phương thường có xu hướng cấy dày ( 50 khóm/m2 ) trong khi SRI khuyến cáo cấy thưa 30-35 khóm/m2 mà vẫn cho năng suất cao)
Các mật độ cấy trên đều cấy với cùng khoảng cách hàng cách hàng (hàng sông) 20 cm, khoảng cách cây cách cây (hàng tay) khác nhau tùy thuộc vào từng mật độ M1, M2, M3, M4
+ Các công thức thí nghiệm: gồm 12 công thức
* Ký hiệu và tổ hợp các công thức thí nghiệm
vệ
Trang 36+ Thúc lần 2 (trước trỗ khoảng 20-25 ngày): 30% N + 50% K2O
- Chế độ nước tưới: Điều tiết nước theo nhu cầu sinh trưởng phát triển của cây lúa
2.5 Các chỉ tiêu vàphương pháp theo dõi:
2.5.1 Phương pháp theo dõi
Tiến hành theo dõi mỗi ô thí nghiệm 10 cây, theo đường chéo 5 điểm
(mỗi điểm 2 cây) Đánh dấu cây theo dõi từ đầu cho đến khi thu hoạch
2.5.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu
Các chỉ tiêu theo dõi, phương pháp đánh giá và thu thập số liệu được áp dụng theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng của giống lúa QCVN 01-55 : 2011/BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
* Các chỉ tiêu sinh trưởng:
- Thời gian bắt đầu đẻ nhánh: Tính từ khi cây lúa bắt đầu đẻ nhánh đầu tiên
Trang 37- Thời gian từ gieo đến trỗ: Xác định từ khi gieo đến khi có 10% số cây
có bông trên ô vươn ra khỏi bẹ lá đòng khoảng 5 cm
- Thời gian sinh trưởng (TGST): tính số ngày từ khi gieo đến khi khoảng 85- 90% số hạt trên bông chín
- Chiều cao cây (cm): Đo từ mặt đất đến chóp lá (ở giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng) hoặc từ sát đất đến đỉnh bông cao nhất (không kể râu hạt ở giai đoạn chín)
- Khả năng đẻ nhánh: định kỳ 7 ngày theo dõi 1 lần, bắt đầu khi lúa bén
rễ hồi xanh và kết thúc khi lúa làm đòng
+ Số nhánh/khóm: đếm trực tiếp số nhánh của mỗi khóm lúa
+ Số nhánh hữu hiệu: đếm những nhánh thành bông
+ Tỷ lệ đẻ nhánh hữu hiệu: áp dụng công thức
* Chỉ tiêu về đặc điểm nông sinh học
- Khả năng chống đổ: Quan sát tư thế của cây trước khi thu hoạch
Điểm 1: Cứng: Cây không bị đổ
Điểm 5: Trung bình: Hầu hết cây bị nghiêng
Điểm 9: Yếu: Hầu hết cây bị đổ rạp
Trang 38* Khả năng chống chịu
Theo dõi tình hình sâu, bệnh hại và đánh giá mức độ gây hại theo QCVN 01-55:2011/BNNPTNT Điều tra mức độ thiệt hại vào thời điểm có xuất hiện sâu, bệnh hại trên đồng ruộng và báo kết quả ở giai đoạn nặng nhất
- Sâu hại chính
+ Sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee): Quan sát lá,
cây bị hại Tính tỷ lệ cây bị sâu ăn phần xanh của lá hoặc lá bị cuốn thành ống Lấy 10 khóm ngẫu nhiên/01 công thức để quan sát
Điểm 0: Không bị hại
Điểm 1: 1-10% cây bị hại
Điểm 3: 11-20% cây bị hại
Điểm 5: 21-35% cây bị hại
Điểm 7: 36-51% cây bị hại
Điểm 9: >51% cây bị hại
+ Sâu đục thân (Chilo suppressalis Walker): Quan sát số dảnh chết
hoặc bông bạc ở giai đoạn đẻ nhánh đến làm đòng và giai đoạn vào chắc đến chín
Điểm 0: Không bị hại
Điểm 1: 1-10% số dảnh chết hoặc bông bạc
Điểm 3: 11-20% số dảnh chết hoặc bông bạc
Điểm 5: 21-30% số dảnh chết hoặc bông bạc
Điểm 7: 31-50% số dảnh chết hoặc bông bạc
Điểm 9: >51% số dảnh chết hoặc bông bạc
- Bệnh hại:
* Bệnh đạo ôn cổ bông
Điểm 0: Không có vết bệnh
Điểm 1: Vết bệnh có trên vài cuống bông hoặc trên gié cấp 2
Điểm 3: Vết bệnh có trên vài gié cấp 1 hoặc phần giữa của trục bông
Trang 39Điểm 5: Vết bệnh bao quanh một phần gốc bông hoặc phần thân rạ phía dưới trục bông
Điểm 7: Vết bệnh bao quanh toàn cổ bông hoặc phần trục gần cổ bông,
có hơn 30% hạt chắc
Điểm 9: Vết bệnh bao quanh hoàn toàn cổ bông hoặc phần thân rạ cao nhất, hoặc phần trục gần gốc bông, số hạt chắc ít hơn 30%
+ Bệnh khô vằn (Rhizoctonia solani Palo): Quan sát độ cao tương đối
của vết bệnh trên lá hoặc bẹ lá (biểu thị bằng % so với chiều cao cây)
Điểm 0: Không có triệu chứng hại
Điểm 1: Vết bệnh ở vị trí thấp hơn 20% chiều cao cây
Điểm 3: Vết bệnh ở vị trí 20 - 30% chiều cao cây
Điểm 5: Vết bệnh ở vị trí 31 - 45% chiều cao cây
Điểm 7:Vết bệnh ở vị trí 46 - 65% chiều cao cây
Điểm 9: Vết bệnh ở vị trí trên 65% chiều cao cây
* Các chỉ tiêu năng suất và hiệu quả kinh tế:
- Số bông hữu hiệu: Tại thời điểm chín đếm số bông có ít nhất 10 hạt chắc của một cây Lấy mẫu: 5 khóm
- Số hạt/ bông: Đếm tổng số hạt có trên bông
Trang 40- Năng suất thực thu (NSTT): Cân khối lượng hạt trên mỗi ô thí nghiệm của 3 lần nhắc lại ở độ ẩm hạt 14%, đơn vị tính kg/ô (lấy hai chữ số sau dấu phẩy) Quy ra tạ/ha
* Hiệu quả kinh tế:
- Lãi thuần = Tổng thu - Tổng chi
Sử lý số liệu bằng chương trình IRISTART với các chỉ tiêu:
- Phân tích sai số thí nghiệm
- So sánh số trung bình