Quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LÊ THỊ THANH GIANG
QUẢN LÝ GIẢM NGHÈO TIẾP CẬN ĐA CHIỀU
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LÊ THỊ THANH GIANG
QUẢN LÝ GIẢM NGHÈO TIẾP CẬN ĐA CHIỀU
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 8.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS MAI NGỌC CƯỜNG
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn GS.TS Mai Ngọc Cường
Các số liệu, kết quả nghiên cứu được nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố dưới bất kỳ hình thức nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Ngày tháng 01 năm 2018
Tác giả luận văn
Lê Thị Thanh Giang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp
đỡ và động viên từ các thầy cô giáo, các ban ngành cùng toàn thể cán bộ nơi tôi chọn làm địa bàn nghiên cứu, gia đình và bạn bè
Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo và Ban giám hiệu nhà trường Đại học kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên đã truyền đạt cho tôi những kiến thức cơ bản và tạo điều kiện giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo GS.TS Mai Ngọc Cường., người đã dành nhiều thời gian trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi hoàn thành quá trình nghiên cứu đề tài này
Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Chủ tịch huyện Võ Nhai, các phòng ban, cán bộ công nhân viên huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tiếp cận và thu thập những thông tin cần thiết cho đề tài
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, những người
đã động viên và giúp đỡ tôi về tinh thần, vật chất trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng 01 năm 2018
Tác giả luận văn
Lê Thị Thanh Giang
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ x
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu 3
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Đóng góp của luận văn 7
6 Kết cấu của luận văn 7
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ GIẢM NGHÈO TIẾP CẬN ĐA CHIỀU 8
1.1 Những vấn đề chung về nghèo tiếp cận đa chiều 8
1.1.1 Khái niệm về nghèo và chuẩn nghèo ở Việt Nam 8
1.1.2 Giảm nghèo tiếp cận đa chiều 11
1.2 Bản chất, nội dung, tác động và nhân tố ảnh hưởng đến quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều 15
1.2.1 Bản chất quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều 15
1.2.2 Nội dung quản lý giảm nghèo đa chiều 17
1.2.3 Tác động của quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều 20
1.2.4 Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều 23
1.3 Kinh nghiệm quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều tại một số địa phương trong cả nước và bài học cho huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 27
1.3.1 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước 27
1.3.2 Bài học kinh nghiệm đối với huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 30
Trang 6Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Câu hỏi nghiên cứu và khung phân tích của luận văn 32
2.1.1 Câu hỏi nghiên cứu 32
2.1.2 Khung phân tích của luận văn 32
2.2 Phương pháp nghiên cứu 33
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 33
2.2.2 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 35
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 36
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 37
2.3.1 Nhóm chỉ tiêu lượng hóa giảm nghèo tiếp cận đa chiều 37
2.3.2 Nhóm chỉ tiêu định tính phản ánh mức độ thực hiện công tác quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều 40
Chương 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGHÈO TIẾP CẬN ĐA CHIỀU TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI NGUYÊN 41
3.1 Thực trạng nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên 41
3.1.1 Khái quát về huyện Võ Nhai 41
3.1.2 Thực trạng nghèo và nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên 49
3.2 Phân tích thực trạng công tác quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai giai đoạn 2014-2016 51
3.2.1 Khái quát công tác quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai giai đoạn 2014-2016 51
3.2.2 Tác động của công tác giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai hiện nay 67
3.2.3 Những hạn chế chủ yếu của quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai 69
Trang 73.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý giảm nghèo tiếp cận
đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai 73
3.3.1 Nhân tố cơ chế chính sách của nhà nước và địa phương về giảm nghèo tiếp cận đa chiều 73
3.3.2 Nhân tố bộ máy tổ chức, công tác phối hợp và đội ngũ cán bộ thực hiện công tác quản lý 75
3.3.3 Nhân tố năng lực phấn đấu vươn lên của hộ nghèo và cận nghèo theo tiếp cận đa chiều 77
3.4 Đánh giá chung về quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai 80
3.4.1 Những mặt đạt được 80
3.4.2 Những mặt hạn chế 81
3.4.3 Nguyên nhân của hạn chế 85
Chương 4 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ GIẢM NGHÈO TIẾP CẬN ĐA CHIỀU TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI NGUYÊN 88
4.1 Phương hướng tăng cường quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều tại huyện Võ Nhai 88
4.1.1 Bối cảnh phát triển của huyện Võ Nhai những năm tới 88
4.1.2 Các chỉ tiêu phấn đấu giảm nghèo tiếp cận đa chiều tại huyện Võ Nhai 89
4.1.3 Phương hướng tăng cường quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai 90
4.2 Một số giải pháp chủ yếu tăng cường quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều tại huyện Võ Nhai 92
4.2.1 Giải pháp hoàn thiện cơ chế chính sách của nhà nước và địa phương về giảm nghèo tiếp cận đa chiều 92
4.2.2 Giải pháp tăng cường năng lực bộ máy tổ chức, công tác phối hợp và đội ngũ cán bộ thực hiện công tác quản lý 94
Trang 84.2.3 Giải pháp nâng cao năng lực phấn đấu vươn lên của hộ nghèo và
cận nghèo theo tiếp cận đa chiều 96
4.3 Đề xuất, kiến nghị 97
4.3.1 Kiến nghị với nhà nước cấp Trung ương 97
4.3.2 Đối với cấp tỉnh tại Thái Nguyên 97
4.3.3 Đối với huyện Võ Nhai 98
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 103
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
LĐTB&XH : Lao động thương binh và xã hội NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
UN : Liên Hiệp Quốc (United Nations)
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Chuẩn nghèo của Việt Nam được xác định qua các thời kỳ 9 Bảng 2.1: Cách thức cho điểm 10 chỉ tiêu đo lường nghèo đa chiều 38 Bảng 3.1: Dân số trung bình huyện Võ Nhai giai đoạn 2013-2016 45 Bảng 3.2: Giá trị sản xuất và cơ cấu ngành kinh tế huyện Võ Nhai giai
đoạn 2013-2016 (Theo giá so sánh năm 2010) 48 Bảng 3.3 Đánh giá về thực tế đạt được trong công tác giảm nghèo tiếp
cận đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai 50 Bảng 3.4 Kế hoạch thực hiện công tác giảm nghèo trên địa bàn huyện
Võ Nhai giai đoạn năm 2014-2016 53 Bảng 3.5 Đánh giá công tác xây dựng chiến lược, lập kế hoạch giảm
nghèo của huyện Võ Nhai 54 Bảng 3.6 Thu nhập của hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn huyện Võ Nhai 57 Bảng 3.7 Tình hình phổ cập trung học cơ sở của hộ cận nghèo và hộ
nghèo trên địa bàn huyện Võ Nhai 57 Bảng 3.8 Tình hình phổ cập tiểu học của hộ cận nghèo và hộ nghèo
trên địa bàn huyện Võ Nhai 58 Bảng 3.9 Tình hình tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh của hộ nghèo,
hộ cận nghèo trên địa bàn huyện Võ Nhai 59 Bảng 3.10 Tình hình cấp thẻ Bảo hiểm y tế của hộ nghèo, hộ cận nghèo
trên địa bàn huyện Võ Nhai 60 Bảng 3.11 Tình hình nhà ở của hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn
huyện Võ Nhai 60 Bảng 3.12 Diện tích nhà ở bình quân đầu người của hộ nghèo và hộ
cận nghèo trên địa bàn huyện Võ Nhai 61 Bảng 3.13 Tình hình tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh của hộ nghèo, hộ
cận nghèo trên địa bàn huyện Võ Nhai 62
Trang 11Bảng 3.14 Tình hình sử dụng hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh của hộ cận
nghèo, hộ nghèo trên địa bàn huyện Võ Nhai 62 Bảng 3.15 Tình hình sử dụng thuê bao điện thoại của hộ nghèo, hộ cận
nghèo trên địa bàn huyện Võ Nhai 63 Bảng 3.16 Tình hình sử dụng internet của hộ nghèo, hộ cận nghèo trên
địa bàn huyện Võ Nhai 64 Bảng 3.17 Tình hình trang bị tài sản phục vụ tiếp cận thông tin của hộ
nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn huyện Võ Nhai 65 Bảng 3.18 Đánh giá của cán bộ quản lý về công tác thanh tra, 67 kiểm tra thực hiện các chính sách giảm nghèo 67 Bảng 3.19 Đánh giá tác động của công tác giảm nghèo tiếp cận đa
chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai 68 Bảng 3.20 Đánh giá tác động của công tác xây dựng kế hoạch giảm
nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai 70 Bảng 3.21 Đánh giá tác động của công tác tổ chức triển khai thực hiện
kế hoạch giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện
Võ Nhai 71 Bảng 3.22 Đánh giá tác động của công tác kiểm tra, giám sát và đánh
giá thực hiện kế hoạch giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai 72 Bảng 3.23 Đánh giá hiệu quả của cơ chế chính sách của nhà nước và
địa phương trong quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai 75 Bảng 3.24 Đánh giá hiệu quả của bộ máy tổ chức, công tác phối hợp và
đội ngũ cán bộ thực hiện trong quản lý giảm nghèo tiếp cận
đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai 77 Bảng 3.25 Đánh giá năng lực phấn đấu vươn lên của hộ nghèo và cận
nghèo trong quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai 79
Trang 12DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Các nhóm đất chính của huyện Võ Nhai 43 Biểu đồ 3.2: Giá trị sản xuất các ngành kinh tế huyện Võ Nhai giai đoạn
2013-2016 48 Hình 3.1: Bản đồ hành chính huyện Võ Nhai 41
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ khung phân tích của luận văn 32
Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức Ban chỉ đạo XĐGN - GQVL huyện Võ Nhai 55
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Khái niệm giảm nghèo đa chiều được Liên hợp quốc đề cập chính thức trong tuyên bố vào tháng 6 năm 2008: “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có đủ
ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không
được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn” (Tuyên bố Liên hợp
quốc, 6/2008, được lãnh đạo của tất cả các tổ chức UN thông qua) Theo đó,
nghèo được đo lường không chỉ bằng nhóm tiêu chí thu nhập mà bằng cả nhóm tiêu chí phi thu nhập bao gồm khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, vệ sinh môi trường và thông tin Cho đến nay, trên thế giới đã có trên 32 quốc gia tiếp cận phương pháp nghèo đa chiều thay cho phương pháp tiếp cận nghèo đơn chiều Có thể nói, phương pháp tiếp cận giảm nghèo đa chiều là cuộc đổi thay lớn trong quan điểm về công tác giảm nghèo Đối với Việt Nam, khái niệm nghèo đa chiều được đề cập chính thức trong đường lối, chủ trương của Đảng từ năm 2013 tại Nghị quyết số 15-NQ/TW Hội nghị lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 Nghị quyết này đã đề ra nhiệm vụ bảo đảm
an sinh xã hội, chú trọng đến việc làm, bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội cho những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc ít người, bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập và một số dịch vụ xã hội cơ bản như khám chữa bệnh, học hành, nhà ở, nước sạch, thông tin, truyền thông
Trang 14Tháng 9 năm 2015, tại Hội nghị Thượng đỉnh Liên hợp quốc thông qua Chương trình nghị sự 2030 về Phát triển bền vững, Việt Nam cam kết xóa bỏ tình trạng nghèo dưới mọi hình thức, không để bất cứ ai bị bỏ lại phía sau Để thực hiện cam kết trước cộng đồng quốc tế, trên cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng, Chính phủ Việt Nam đã chủ động đổi mới phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều, áp dụng cho giai đoạn
2016 - 2020 Trong bối cảnh đó, công tác giảm nghèo đặt ra nhiều thách thức, đòi hỏi cần có những đổi mới mạnh mẽ về tư duy, về chính sách cũng như về phương pháp tổ chức thực hiện Chính vì vậy mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 và quyết định số 1722/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững và ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều cho giai đoạn 2016-2020
Võ Nhai là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, trải qua quá trình xây dựng và phát triển, Võ Nhai đã có những chuyển biến tích cực, vươn lên đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế phát triển mạnh, bộ mặt đô thị có nhiều đổi thay, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh Đến cuối năm 2015, toàn huyện Võ Nhai còn 35,85% hộ nghèo Tuy tỷ lệ hộ nghèo còn cao nhưng công tác xóa đói giảm nghèo đã đạt được những kết quả nhất định Để đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế xã hội từ nay đến năm 2020 vươn tới nền kinh tế công nghiệp thì vấn đề giảm nghèo cần được ưu tiên thực hiện lên hàng đầu
Những năm qua, chính quyền địa phương đã có nhiều biện pháp nhằm tăng cường công tác quản lý giảm nghèo theo hướng tiếp cận đa chiều, nhưng đây là hướng tiếp cận giảm nghèo mới, còn nhiều vấn đề chưa rõ về lý luận nên còn nhiều khó khăn, bỡ ngỡ trong thực tiễn triển khai thực hiện Vì thế, đề tài
nghiên cứu “Quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên” là có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách
Trang 152 Tổng quan các công trình nghiên cứu
Trong quá trình tìm hiểu thực tế và tra cứu tại các thư viện, tạp chí, các trang website cho thấy đã có nhiều đề tài, công trình và bài viết nghiên cứu
liên quan đến giảm nghèo đa chiều và bền vững dưới nhiều góc độ khác nhau
Các công trình nghiên cứu đề cập tới nhiều khía cạnh của hiện tượng đói, nghèo trong các quốc gia, khu vực, địa phương khác nhau Có thể nhắc đến
một số công trình tiêu biểu:
- Thực tiễn diễn ra trên thế giới: Theo kết quả nghiên cứu của Benedito
Cunguara và Kei Kajisa tại tỉnh Zambezia và Sofala của Mô - zăm - bích, năm 2002 và 2005, các yếu tố: hộ có nguồn thu nhập phi nông nghiệp; chủ
hộ có số năm đi học cao hơn hẳn so với các hộ nghèo, quy mô diện tích đất
mà hộ nắm giữ và chấp nhận tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất là những hộ thoát nghèo hoặc những hộ có điều kiện như trên là những hộ thuộc nhóm không phải là hộ nghèo Những hộ có cơ cấu thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp càng lớn, càng có khả năng thoát nghèo Kết quả này
là phù hợp với nghiên cứu thực tế tại vùng cận Sahara - Châu Phi, cái đó nhấn mạnh tầm quan trọng của thu nhập phi nông nghiệp trong việc giảm
nghèo (Reardon và cộng sự, 2007)
Các kết quả được trình bày từ nghiên cứu thực địa tại 35 ngôi làng ở bang Rajasthan, Ấn Độ giữa tháng 5 và tháng 8 năm 2002 của Anirudh Krishna, Đại học Duke, Durham, NC, USA cho thấy: thứ nhất, sự đa dạng hóa nguồn thu nhập lại là nguyên nhân quan trọng nhất giúp hộ nông dân thoát nghèo trong khu vực này Thứ hai, ba nguyên nhân chủ yếu: sức khỏe, nợ nần,
và chi phí giao tế xã hội - kết hợp lại chiếm đến 85% trong tất cả trường hợp bị rơi vào cảnh nghèo Thứ ba, phương pháp nghiên cứu: Phương pháp này dựa nhiều vào các phương pháp đánh giá nghèo mang tính cùng tham gia trước đây, bao gồm Chamber (1997), Narayan và các tác giả khác (2000a), Narayan, Chambers, Shah, và Petesh (2000b), và Salmen (1987) Một quan niệm đa
Trang 16chiều của nghèo nhận ra rằng thiếu thốn là đa dạng và không chỉ giới hạn cho những cân nhắc thu nhập Narayan và Petesch (2007) lập luận có sở cứ rằng
"thiếu tiền chỉ là một trong rất nhiều bất lợi của nghèo và là một trong rất nhiều trở ngại để thoát khỏi một cuộc sống bần cùng hóa" Hiện tại, có hơn 91 quốc gia có đánh giá và đo lường nghèo theo hướng tiếp cận nghèo đa chiều
Ở nước ta đã có nhiều nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo Dưới đây là một số công trình sau:
- Trần Thị Thái Minh Đánh giá nghèo đa chiều của các hộ gia đình
Việt Nam, Luận văn thạc sĩ kinh tế, năm 2014, tác giả đã nêu lên những kết
quả đạt được trong công tác xóa đói giảm nghèo của Việt Nam trong những năm qua, tuy nhiên khi tiếp cận nghèo đa chiều thì Việt nam còn có khoảng cách so với chuẩn mực quốc tế, do xuất phát từ đo lường nghèo đói chủ yếu dựa vào thu nhập mà chưa tính đến các đối tượng khác tuy thu nhập trên chuẩn nghèo nhưng vẫn không tiếp cận được một số nhu cầu thiết yếu về y tế, giáo dục, nước sạch , và mức độ nghèo phẩn ánh chưa chính xác nếu chỉ dựa vào đo lường nghèo đói dựa vào thu nhập; Đề tài đã nghiên cứu nghèo theo hai phương pháp tiếp cận tiền tệ và đa chiều Xác định được các nhóm chỉ tiêu, các chiều mà các hộ nghèo trên cả nước (khu vực, vùng, các nhóm dân tộc) thiếu hụt nhiều nhất, xác định sơ bộ ảnh hưởng của mức giới hạn thiếu hụt lên đối tượng nghèo trong phương pháp đa chiều, xác định được nhóm đối tượng hộ nghèo cần được sự quan tâm hỗ trợ của nhà nước từ đó đề xuất một
số kiến nghị chính sách về chương trình xóa đói giảm nghèo
- Ngô Trung Kiên Giải pháp giảm nghèo theo hướng tiếp cận đa chiều
trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, Luận văn thạc sĩ kinh tế, năm 2016, đề tài đã hệ
thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về nghèo, nghèo đa chiều, giảm nghèo đa chiều; Phân tích, đánh giá thực trạng và nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nghèo và giảm nghèo theo hướng tiếp cận đa chiều tại tỉnh Bắc Kạn; Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện giảm nghèo theo hướng tiếp cận đa chiều cho tỉnh Bắc Kạn hiện nay và giai đoạn 2016 - 2020
Trang 17- Chuẩn nghèo đa chiều vừa là khó khăn, thách thức; vừa là cơ hội cho
công tác xóa đói giảm nghèo bền vững (đăng trên báo Đảng Cộng sản,
12/2016) bài viết đã tổng hợp một số kết quả đạt được trong công tác xóa đói giảm nghèo, nêu lên tiêu chuẩn nghèo đa chiều và xác định những khó khăn, thách thức trong quá trình thực hiện chính sách giảm nghèo đa chiều Bên cạnh những thách thức, bài viết cũng đã chỉ ra rằng việc chuyển đổi phương pháp đo lường nghèo theo cách tiếp cận đa chiều sẽ tạo điều kiện để nhận dạng đối tượng nghèo chính xác, cụ thể hơn, tăng cường tiếp cận các dịch vụ
xã hội cơ bản của người dân để có giải pháp hỗ trợ phù hợp hơn với nhu cầu
và đặc tính của hộ nghèo, hộ cận nghèo, từ đó tạo cơ hội để các địa phương
trong cả nước thực hiện bền vững hơn các chính sách giảm nghèo Nhìn một
cách tổng quan, việc xác định nghèo theo chuẩn đa chiều sẽ tạo ra thêm nhiều thách thức mới cho công tác xóa đói giảm nghèo, nhưng đó cũng là những cơ hội để ngành chuyên môn nhìn nhận đúng bản chất, nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, từ đó có thêm nhiều giải pháp và cách tiếp cận để thúc đẩy công tác xóa đói giảm nghèo một cách thực chất và bền vững
- Nâng cao năng lực cán bộ làm công tác giảm nghèo (đăng trên Báo
Vĩnh Phúc, 02/2017), bài viết đã nêu lên những kết quả đạt được trong công tác xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2011-2015 của tỉnh Vĩnh Phúc, một số hạn chế, bất cập trong công tác giảm nghèo như: Một số địa phương còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự trợ giúp của Nhà nước, chưa chủ động, tích cực tìm biện pháp, phương pháp giúp đỡ cụ thể, thiết thực trợ giúp các đối tượng chủ động vươn lên Công tác tuyên truyền, quản lý, giám sát thực hiện chương trình, chính sách giảm nghèo còn hạn chế Một số công trình phục vụ lợi ích của cộng đồng không được quản lý, bảo quản tốt dẫn tới công trình xuống cấp, hiệu quả sử dụng thấp…Một trong những nguyên nhân chính dẫn tới những tồn tại, bất cập trên là do đội ngũ cán bộ làm công công tác giảm nghèo
Trang 18của tỉnh còn hạn chế Định hướng cho mục tiêu giảm nghèo đa chiều trong giai đoạn 2016 - 2020 giúp nhận dạng đối tượng nghèo một cách chính xác,
cụ thể hơn, đảm bảo công bằng trong thực hiện chính sách, tăng cường tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân, tăng tính hiệu quả của chính sách hỗ trợ, hạn chế tình trạng trông chờ, ỷ lại của đối tượng thụ hưởng
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng quản lý giảm nghèo tiếp cận
đa chiều, trên địa bàn huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2014-2016, luận văn sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên trên địa bàn huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2014-2016,chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2014-2016
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu là quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều liên quan đến công tác xây dựng kế hoạch, tổ chức triển khai thực hiện và kiểm tra giám sát thực hiện quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên
Trang 194.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên
- Về thời gian: luận văn sử dụng số liệu thứ cấp trong giai đoạn 2014 -
2016, số liệu điều tra năm 2017
- Về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn 2014-2016
5 Đóng góp của luận văn
Về lý luận, góp phần làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều liên quan đến công tác xây dựng kế hoạch, tổ chức triển khai thực hiện, công tác kiểm tra giám sát thực hiện và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều
Về thực tiễn, từ thực thực trạng quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều, những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế hiện nay ở huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên, luận văn đề xuất phương hướng và giải pháp tăng cường quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn thời gian tới
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm 4 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên
Chương 4: Phương hướng và giải pháp chủ yếu tăng cường quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên
Trang 20Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ GIẢM NGHÈO
TIẾP CẬN ĐA CHIỀU
1.1 Những vấn đề chung về nghèo tiếp cận đa chiều
1.1.1 Khái niệm về nghèo và chuẩn nghèo ở Việt Nam
1.1.1.1 Khái niệm về nghèo
Khái niệm về nghèo ở Việt Nam tương đồng với những khái niệm về đói nghèo được thừa nhận rộng rãi trên thế giới Hiện nay, Việt Nam đã thừa nhận khái niệm chung về nghèo tại Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu
Á - Thái Bình Dương do Ủy ban kinh tế xã hội châu Á và Thái Bình Dương (ESCAP: United Nations Economic and Social Commision for Asia and
Pacific) tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993: “Nghèo là tình trạng
một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương”
Thực tế cho thấy có sự không thống nhất về quan điểm, khái niệm và đối với từng quốc gia khác nhau sẽ có chuẩn mực đánh giá khác nhau Vì thế, trên cơ sở thống nhất chung về mặt định tính, mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ, mỗi địa phương cần phải xác định thước đo mức nghèo đói của quốc gia, lãnh thổ, địa phương mình
1.1.1.2 Chuẩn nghèo tại Việt Nam
Xác định nghèo là một công việc khó khăn vì nó gắn với từng thời điểm, từng quốc gia và được xem xét ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau Ở nước ta, khi có chủ trương xóa đói giảm nghèo, các cơ quan trong nước và quốc tế đã đưa ra những chuẩn mực để xác định tình hình nghèo đói
Từ năm 2015 trở về trước, Việt Nam chủ yếu xác định chuẩn nghèo theo chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người theo tháng hoặc theo năm Chỉ tiêu này được tính bằng giá trị hoặc bằng hiện vật quy đổi, thường lấy lương thực quy thóc để đánh giá Ngoài ra còn một số chỉ tiêu chế độ dinh dưỡng (calo/người),
Trang 21mức chi nhà ở, chi ăn mặc, chi tư liệu sản xuất, điều kiện học tập, điều kiện chữa bệnh, đi lại Các tiêu chí đánh giá nghèo khác như chỉ số phát triển con người (HDI), Chỉ số hành tinh hạnh phúc (HPI) cũng đã được sử dụng, nhưng chủ yếu
là sử dụng trong các công trình nghiên cứu kinh tế xã hội hoặc tính toán trên phạm vi quốc gia để xác định mức độ phát triển trong so sánh với các nước khác trên thế giới Tại Việt Nam, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan được Chính phủ giao nhiệm vụ chủ trì thực hiện việc điều tra, khảo sát các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, nghiên cứu và đề xuất với Chính phủ, căn cứ vào đề xuất đó Chính phủ công bố mức chuẩn nghèo cho từng giai đoạn cụ thể
Bảng 1.1: Chuẩn nghèo của Việt Nam được xác định qua các thời kỳ
- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo kg gạo/người/tháng 13 15
- Vùng nông thôn đồng bằng, trung du kg gạo/người/tháng 13 20
3 Giai đoạn 1998-2000
- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo đồng/người/tháng 45.000 55.000
- Vùng nông thôn đồng bằng, trung du đồng/người/tháng 45.000 70.000
- Vùng thành thị đồng/người/tháng 45.000 90.000
4 Giai đoạn 2001-2005
- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo đồng/người/tháng 80.000
- Vùng nông thôn đồng bằng, trung du đồng/người/tháng 100.000
Trang 22Từ năm 1993 đến nay Việt Nam đã có 6 lần thay đổi chuẩn nghèo, các mức chuẩn nghèo của Việt Nam trong 3 giai đoạn đầu: giai đoạn 1993-1994, giai đoạn 1995-1997 và giai đoạn 1998-2000 nước ta sử dụng mức chuẩn nghèo theo thu nhập bình quân đầu người trên tháng nhưng được tính quy đổi bằng gạo (kg/người/tháng) Từ năm 2000 trở đi ở nước ta về cơ bản đã xoá được tình trạng đói, do đó mức chuẩn nghèo các giai đoạn 2001-2005 và giai đoạn 2006 - 2010 vẫn được tính theo thu nhập bình quân đầu người trên tháng nhưng được tính bằng giá trị (đồng/người/tháng) Theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/01/2011 đã ban hành tiêu chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015 Theo đó, mức chuẩn hộ nghèo trong giai đoạn 2011-2015 là hộ có mức thu nhập bình quân đến 400.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và đến 500.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị Chuẩn hộ cận nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị
1.1.1.3 Nguyên nhân dẫn đến nghèo đói ở Việt Nam
- Nguyên nhân có tính lịch sử
Việt Nam xuất phát từ một nước nông nghiệp lạc hậu, lại phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh lâu dài và gian khổ, bị tàn phá nặng nề, cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật và nguồn lực của Nhà nước chưa đáp ứng ngay được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương cũng như việc đảm bảo đầy đủ các nguồn lực để hỗ trợ người nghèo Điều này dẫn đến một số vùng, tỉnh, huyện, xã nghèo không tự tạo ra được những điều kiện cũng như phát huy tiềm năng của mình để phát triển, do đó làm cho người dân ở địa bàn cũng phải gánh chịu những khó khăn đó và không thể tự thoát ra khỏi tình trạng nghèo đói
- Nguyên nhân từ thực tiễn
+ Nhóm nguyên nhân do điều kiện tự nhiên: khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, bão lụt, hạn hán, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn
đã và đang kìm hãm sản xuất, từ đó gây ra tình trạng đói nghèo
Trang 23+ Nhóm các nguyên nhân do chủ quan của người nghèo: thiếu kiến thức làm ăn, thiếu vốn, đông con, thiếu lao động, không có việc làm, mắc các
tệ nạn xã hội, ốm đau và gặp phải các rủi ro trong cuộc sống
+ Nhóm các nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách: thiếu hoặc không đồng bộ các chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó khăn, chính sách khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn
và nguồn lực đầu tư còn hạn chế
+ Do Chính phủ thường xuyên điều chỉnh mức chuẩn nghèo cho tiếp
cận với mức chuẩn nghèo thế giới, đối với các nước đang phát triển hiện nay
ở mức là 1USD/người/ngày
+ Số lượng dân cư sống ở các vùng nông thôn cao 67,0% (năm 2015),
trong khi đó tổng sản phẩm quốc dân ở khu vực nông thôn rất thấp Bên cạnh
đó, còn có sự chênh lệch lớn về điều kiện kinh tế xã hội giữa các vùng miền, giữa thành thị và nông thôn, giữa các dân tộc
+ Nền kinh tế Việt Nam đang phát triển nhưng chưa nhanh và chưa
đảm bảo tính bền vững, tình trạng thất nghiệp có xu hướng gia tăng
+ Môi trường bị phá hoại ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, trong
khi đa số người nghèo lại sống nhờ vào nông nghiệp Tình trạng lạm dụng sử dụng hoá chất trong sản xuất nông nghiệp còn khá phổ biến, còn sử dụng các
kỹ thuật canh tác không phù hợp với việc bảo vệ môi trường, thảm thực vật bị phá hoại, tỉ lệ che phủ rừng bị giảm do tình trạng phá rừng Những việc làm
đó tác động đến chất lượng của môi trường đất, nước và tài nguyên sinh vật
1.1.2 Giảm nghèo tiếp cận đa chiều
1.1.2.1 Khái niệm về nghèo đa chiều
Theo Tổ chức Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu
để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có
đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh”
Trang 24Vấn đề nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập Sự thiếu hụt cơ hội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bất hạnh và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo đa chiều Thiếu đi sự tham gia và tiếng nói về kinh tế, xã hội hay chính trị sẽ đẩy các cá nhân đến tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng các lợi ích phát triển kinh tế - xã hội và do vậy bị tước đi các quyền con người cơ bản (UN, 2012:5)
Tuy nhiên, chuẩn nghèo đa chiều có thể là một chỉ số không liên quan đến mức thu nhập mà bao gồm các khía cạnh khác liên quan đến sự thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (Oxfam và ActionAid, 2010:11) Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index) của quốc tế, với ba chiều cạnh chính là: y-tế, giáo dục và điều kiện sống, hiện là một thước đo quan trọng nhằm bổ sung cho phương pháp đo lường nghèo truyền thống dựa trên thu nhập
Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà chính trị và các học giả với quan điểm nghèo là một hiện tượng đa chiều,
cần được chú ý nhìn nhận là sự thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn các nhu
cầu cơ bản của con người Nghèo đa chiều là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống
Khái niệm nghèo đa chiều được đề cập ở Việt Nam từ năm 2013 Đo lường nghèo đa chiều cần được áp dụng để dựng nên một bức tranh đầy đủ và toàn diện hơn về thực trạng nghèo ở nước ta
1.1.2.2 Tiêu chí xác định nghèo tiếp cận đa chiều của Việt Nam
Theo quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 19 tháng 11 năm 2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020 đã quy định rõ các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 Theo đó, các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 gồm tiêu chí về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản Chuẩn nghèo cụ thể như sau:
Trang 25- Khu vực nông thôn: hộ nghèo là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
- Khu vực thành thị: hộ nghèo là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản gồm 10 chỉ số: tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin
Trên cơ sở 5 chiều cạnh nghèo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
đã xây dựng và đề xuất 10 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt trong nghèo đa
chiều tương ứng là: giáo dục người lớn, giáo dục trẻ em, khám chữa bệnh, bảo
hiểm y tế, nhà ở, nước sạch, hố xí, dịch vụ viễn thông, tài sản phục vụ tiếp cận thông tin
Theo tiêu chí mới, một gia đình được coi là hộ nghèo nghiêm trọng nếu
hộ đó thiếu từ 1/2 tổng số nhu cầu cơ bản trở lên; thiếu từ 1/3 - 1/2 tổng số nhu cầu sống cơ bản; thiếu từ 1/5 - 1/3 tổng số nhu cầu cơ bản Nội dung của cách tiếp cận đo lường nghèo đa chiều cần phải xác định được các chiều thiếu hụt, các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt trong từng chiều, đồng thời bám sát
bộ tiêu chí như đề xuất hiện nay Đây là một công việc phức tạp, với nhiều khó khăn thách thức trên thực tế cần được xem xét kỹ lưỡng
Trang 26Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (2015) đã nhận thấy một số khó khăn, vướng mắc khi chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường từ nghèo đơn chiều sang nghèo đa chiều ở Việt Nam Đó là:
- Cách tiếp cận nghèo đa chiều còn mới mẻ, khác hẳn quan niệm về nghèo thu nhập/chi tiêu, đòi hỏi cần có thời gian để chuyển đổi và thích ứng
- Khi tiếp cận đo lường nghèo đa chiều, khái niệm hộ nghèo sẽ khác về nội dung so với xác định chuẩn nghèo thu nhập như hiện nay Trong khi đó,
hệ thống chính sách giảm nghèo hiện hành vẫn dựa trên quy định tiêu chí hộ nghèo dựa vào thu nhập
- Việc xác định các chiều nghèo, chỉ số đo lường, mức độ thiếu hụt đòi hỏi việc dựa trên cơ sở dữ liệu cập nhật và đầy đủ, song hiện nay các số liệu này còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng
- Một số chính sách hiện hành sẽ cần phải thay đổi cùng với yêu cầu sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản pháp luật, do đó đòi hỏi phải có thời gian,
lộ trình, bước đi cụ thể
- Cần tạo được sự đồng thuận, thống nhất cao giữa các cấp, các ngành
và cộng đồng, người dân trong tiếp cận nghèo đa chiều
Tuy nhiên, các khó khăn nói trên mới chỉ là bước đầu Theo chúng tôi, thách thức lớn nhất là thay đổi nhận thức, thậm chí phải xem lại những thành tựu đã có về giảm nghèo (đơn chiều) ở các cấp, vùng miền, địa phương Quá trình chuyển đổi tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều đòi hỏi sự chuẩn bị về năng lực, nguồn lực và thời gian Các địa phương cần tổ chức điều tra, xác định nghèo theo các tiêu chí mới Thay cho cách làm bình xét hộ nghèo như hiện nay, quá trình đánh giá hộ nghèo sẽ phức tạp hơn Ví dụ, sử dụng tiêu chí đánh giá chất lượng nhà ở sẽ khó hơn bởi cần xác định mái nhà làm bằng vật liệu gì, tường làm bằng gì, đo lường diện tích nhà ở và sẽ khó tránh khỏi cảm nhận chủ quan, sai lệch Tương tự, đau ốm có người chăm sóc hay không
có người chăm sóc cần được xác định như thế nào để đảm bảo tính khách quan
Trang 27Cán bộ chương trình giảm nghèo đi rà soát cặn kẽ tiêu chí giảm nghèo đa chiều
có thể khiến một hộ đang nghèo trở thành hộ không nghèo hoặc cận nghèo khiến người dân thấy bất lợi, có xu hướng né tránh và không muốn hợp tác khai báo Trong tâm lý của cư dân nông thôn, cứ có tiền là giàu và họ không phải lúc nào cũng chú ý đến bảo hiểm y tế, chất lượng nhà vệ sinh, Do đó, cần chú trọng công tác tuyên truyền, vận động để tăng sự đồng thuận và nhận thức rõ hơn lợi ích của việc chuyển đổi sang đo lường nghèo đa chiều
Trong thời gian tới, các Bộ Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường, Thông tin và Truyền thông, Ủy ban Dân tộc theo chức năng, nhiệm vụ của mình cần chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cần nghiên cứu, đề xuất cụ thể tiêu chí về các nhu cầu dịch vụ
xã hội cơ bản, xây dựng chuẩn mức sống tối thiểu, chuẩn nghèo chính sách, chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ chưa tiếp cận đầy đủ dịch vụ xã hội theo cách tiếp cận nghèo đa chiều, làm cơ sở cho quá trình thực hiện và đánh giá chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội giai đoạn 2016-2020 Với cách tiếp cận giảm nghèo đa chiều, Chính phủ mong muốn rằng sẽ không còn ai sống dưới mức sống tối thiểu ở Việt Nam vào năm 2020 Đây là mục tiêu quan trọng song không ít khó khăn, thách thức, đòi hỏi sự thống nhất và phối hợp hiệu quả giữa các cấp, các ngành
1.2 Bản chất, nội dung, tác động và nhân tố ảnh hưởng đến quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều
1.2.1 Bản chất quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều
1.2.1.1 Khái niệm quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều
Theo tác giả, quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều là sự tác động của Nhà nước bằng kế hoạch, cơ chế, chính sách của tổ chức bộ máy nhằm quản
lý, điều hành và tổ chức thực hiện giảm nghèo đa chiều, từng bước nâng cao thu nhập và giảm những thiếu hụt về nhu cầu cơ bản về giáo dục, y tế, nhà ở,
điều kiện sống và tiếp cận thông tin của hộ nghèo
Trang 281.2.1.2 Phân biệt phạm vi quản lý giảm nghèo theo thu nhập và quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều
Phạm vi quản lý giảm nghèo theo thu nhập tập trung vào xây dựng và triển khai các chính sách, giải pháp nhằm mục tiêu phát triển kinh tế, tăng thu nhập cho hộ nghèo để từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống, từng bước xóa bỏ tỉnh trạng đói nghèo
Phạm vi quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều tập trung vào tất cả các nội dung về thu nhập và về khả năng tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản (y
tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, tiếp cận thông tin), củng cố và nâng cao chất lượng sống cho người nghèo một cách toàn diện
1.2.1.3 Mục tiêu quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều
Thực hiện mục tiêu giảm nghèo tiếp cận đa chiều là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta nhằm cải thiện đời sống vật chất, văn hóa, sức khỏe và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư; đồng thời thể hiện quyết tâm trong việc thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc mà Việt Nam đã cam kết
Nguồn: Bản Tuyên ngôn Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc tại Hội nghị thượng đỉnh Thiên niên kỷ diễn ra từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 9 năm 2000 tại trụ sở Đại hội đồng Liên hợp quốc ở New York, Mỹ
Những năm qua, việc tập trung thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và các chương trình giảm nghèo đã tạo điều kiện để người nghèo tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản; cơ sở hạ tầng của các huyện, xã nghèo được tăng cường; đời sống người nghèo được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ 22% năm 2005 xuống còn 9,45% năm
2010 Thành tựu giảm nghèo của nước ta thời gian qua được cộng đồng quốc
tế ghi nhận và đánh giá cao
Trang 29Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, số hộ đã thoát nghèo nhưng mức thu nhập nằm sát chuẩn nghèo còn lớn, tỷ lệ hộ tái nghèo hàng năm còn cao; chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư vẫn còn khá lớn, đời sống người nghèo nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn, nhất
là ở khu vực miền núi, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
1.2.2 Nội dung quản lý giảm nghèo đa chiều
1.2.2.1 Xây dựng kế hoạch giảm nghèo tiếp cận đa chiều
Kế hoạch giảm nghèo tiếp cận đa chiều là hệ thống các biện pháp nhằm
thực hiện mục tiêu giảm nghèo về thu nhập và giảm các thiếu hụt về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, tiếp cận thông tin của hộ nghèo;
Yêu cầu của kế hoạch giảm nghèo tiếp cận đa chiều đặt ra là: Kế hoạch
giảm nghèo tiếp cận đa chiều phải được các cấp, các ngành tổ chức triển khai thực hiện thường xuyên, đồng bộ từ cấp trung ương, địa phương đến tận cơ sở với nội dung, hình thức phù hợp từng địa bàn quản lý; kết hợp chặt chẽ giữa kế hoạch giảm nghèo tiếp cận đa chiều với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên
địa bàn nhằm thực hiện có hiệu quả kế hoạch và đạt mục tiêu đề ra
Kế hoạch giảm nghèo tiếp cận đa chiều có tầm quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân Việc đo lường nghèo đói chuyển từ
đơn chiều sang đa chiều để tăng độ bao phủ chính sách tới các đối tượng Tất nhiên đây không chỉ là trò chơi ngôn ngữ Cách tiếp cận đa chiều mới này có tầm quan trọng to lớn, đó là giúp xóa bỏ các rào cản, hạn chế của các chính sách giảm nghèo hiện tại, khuyến khích người nghèo bày tỏ tiếng nói, hàng vạn hộ nghèo tăng tính tự chủ tự lực vươn lên thoát nghèo
Kế hoạch giảm nghèo tiếp cận đa chiều vì thế mà góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững, vừa cải thiện đời sống, tăng thu nhập của người dân, đặc biệt là ở các địa bàn nghèo, vừa đảm bảo an sinh xã hội, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo tiếp cận thuận lợi các dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, tiếp cận thông tin)
Trang 30Nội dung của kế hoạch giảm nghèo tiếp cận đa chiều:
Thứ nhất, xác định mục tiêu giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn
(quy mô, đối tượng, phạm vi giảm nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn)
Thứ hai, cụ thể hóa quy định tiêu chuẩn giảm nghèo tiếp cận đa chiều
phù hợp với địa phương
Căn cứ điều kiện và khả năng thực tế của địa phương, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thể cụ thể nội dung thiếu hụt các nhu cầu xã hội cơ bản của địa phương
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo tổ chức điều tra, xác định đối tượng thụ hưởng chính sách giảm nghèo tiếp cận đa chiều
Thứ ba, tiến hành rà soát việc chuẩn bị các điều kiện để thực hiện mục
tiêu giảm nghèo tiếp cận đa chiều của địa phương; kế hoạch phối hợp nguồn lực thực hiện mục tiêu giảm nghèo tiếp cận đa chiều
1.2.2.2 Tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch giảm nghèo tiếp cận đa chiều
Tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch giảm nghèo tiếp cận đa chiều là các cách thức, phương pháp mà chính quyền các cấp tổ chức triển khai thực hiện từng nội dung của kế hoạch giảm nghèo tiếp cận đa chiều
Yêu cầu của việc tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch giảm nghèo tiếp cận đa chiều là: Cần có triển khai chính sách một cách đồng bộ ở Trung
ương, đồng thời chính quyền địa phương cũng phải tích cực vào cuộc
Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo đơn chiều sang đa chiều là một quá trình Tuy nhiên việc nghiêm túc chuẩn bị triển khai thực hiện kế hoạch giảm nghèo tiếp cận đa chiều của các cấp, các ngành, địa phương sẽ giúp việc thực hiện chủ trương này đạt hiệu quả nhanh hơn, góp phần đảm bảo nội dung Điều 34 Hiến pháp 2013 là “Công dân có quyền được
bảo đảm an sinh xã hội”
Trang 31Nội dung của công tác tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch giảm nghèo tiếp cận đa chiều:
Thứ nhất, phổ biến chủ trương, chính sách, mục tiêu và chương trình kế
hoạch giảm nghèo tiếp cận đa chiều cho các cơ sở trực thuộc
Thứ hai, chỉ đạo các đơn vị trực thuộc thực hiện các chủ trương, chính
sách, mục tiêu và chương trình kế hoạch giảm nghèo tiếp cận đa chiều cho
các cơ sở trực thuộc
Thứ ba, phát hiện những bất cập trong quá trình triển khai chủ trương,
chính sách, mục tiêu và chương trình kế hoạch giảm nghèo tiếp cận đa chiều
để kịp thời điều chỉnh, bổ sung
1.2.2.3 Kiểm tra, giám sát và đánh giá thực hiện kế hoạch giảm nghèo tiếp cận đa chiều
Kiểm tra, giám sát và đánh giá thực hiện kế hoạch giảm nghèo tiếp cận
đa chiều là các hoạt động đảm bảo chất lượng việc thực hiện kế hoạch giảm
nghèo tiếp cận đa chiều của các cấp, các ngành và địa phương cũng như bản thân hộ nghèo, từ đó phát hiện, chấn chỉnh và xử lý những sai phạm, sửa đổi,
bổ sung kịp thời các quy định về giảm nghèo tiếp cận đa chiều, rà soát và kiến nghị để thực hiện thống nhất các nội dung liên quan
Công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá thực hiện kế hoạch giảm nghèo tiếp cận đa chiều có tác dụng trực tiếp và có ý nghĩa sâu sắc trong việc góp phần nâng cao vai trò lãnh đạo của cơ quan quản lý nhà nước các cấp, trách nhiệm của chính quyền địa phương và của cả đối tượng hướng đến của kế hoạch, đó là các hộ nghèo Đồng thời, góp phần đưa kế hoạch ngày
càng mang lại hiệu quả, hoàn thiện được những mục tiêu đã đề ra
Yêu cầu của việc, kiểm tra, giám sát đánh giá thực hiện kế hoạch giảm nghèo tiếp cận đa chiều: nhiệm vụ này cần được tiến hành chủ động, đồng bộ,
toàn diện, đúng quy định của Trung ương và địa phương, tập trung vào những
Trang 32nội dung dễ phát sinh sai phạm, tiêu cực, những vấn đề cấp bách cần giải quyết Qua kiểm tra, giám sát phải đánh giá đúng ưu điểm, chỉ rõ những thiếu sót, khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, xử lý kỷ luật nghiêm minh trên cơ
sở công khai, không bao che, thoái thác
Nội dung của công tác kiểm tra, giám sát đánh giá thực hiện kế hoạch giảm nghèo tiếp cận đa chiều:
Thứ nhất, kiểm tra công tác chỉ đạo, điều hành của các cấp trong tổ chức thực hiện kế hoạch (triển khai thực hiện các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương và của tỉnh liên quan đến kế hoạch; sự phối hợp giữa các bên liên quan trong quá trình tổ chức thực hiện)
Thứ hai, kiểm tra tiến độ thực hiện các dự án, chính sách, chương trình
hỗ trợ giảm nghèo (theo mục tiêu, đối tượng, nguồn vốn từng dự án, chính sách, chương trình hỗ trợ giảm nghèo tiếp cận đa chiều trong kế hoạch); phát hiện những khó khăn, vướng mắc
Thứ ba, kiểm tả mức độ tham gia và hưởng lợi của người dân tại cơ sở
xã, phường, thị trấn và thôn, bản, khối phố trên địa bàn huyện, thành phố, thị
xã (đặc biệt là hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ dân tộc thiểu số, ) trong lập kế
hoạch và thực hiện các hoạt động của kế hoạch
Thứ tư, phát hiện những vi phạm và xử lý vi phạm trong quá trình xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện giảm nghèo tiếp cận đa chiều
Thứ năm, tổng kết rút ra các bài học kinh nghiệm để tiếp tục triển khai trong thời kỳ tiếp theo
1.2.3 Tác động của quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều
Đánh giá tác động là một trong những yêu cầu quan trọng trong quản lý đối với các can thiệp hay hành động ngay từ khi xây dựng kế hoạch, trong quá
trình thực hiện và khi kết thúc
Trang 331.2.3.1 Đối với người dân
Người nghèo được cải thiện một bước về điều kiện sống, tiếp cận tốt hơn các chính sách và nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng cho phát triển kinh tế, tạo việc làm và tăng thu nhập Một số nhu cầu xã hội thiết yếu của người nghèo cơ bản được đáp ứng (nhà ở, nước sinh hoạt, khám chữa bệnh, học tập…) Về lâu dài, giúp người nghèo có được cơ hội tự vươn lên thoát nghèo bền vững, tự giải quyết được vấn đề nghèo đói cũng như những nhu cầu thiết yếu của gia đình mà không cần sự trợ giúp của cộng đồng và Nhà nước
1.2.3.2 Đối với công tác quản lý nhà nước
Giảm nghèo bền vững đã trở thành nhiệm vụ, mục tiêu ưu tiên trong
quá trình chỉ đạo, điều hành của các cấp ủy Đảng và chính quyền từ trung ương đến địa phương; thông qua việc thực hiện các chính sách, chương trình giảm nghèo đã giúp cho Chính phủ, các Bộ, ngành và các địa phương rút ra được bài học kinh nghiệm tốt, từ đó bổ sung, sửa đổi cơ chế, hệ thống chính sách giảm nghèo mới phù hợp hơn
1.2.3.3 Đối với xã hội
Đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, ổn định xã hội: quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều góp phần ổn định xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững, nhất là trong bối cảnh kinh tế đất nước gặp nhiều khó khăn
Nhìn chung, thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các biện pháp, chính sách giảm nghèo tiếp cận đa chiều sẽ cải thiện điều kiện sống, giúp người nghèo tiếp cận ngày càng thuận lợi hơn với các dịch vụ xã hội trước hết là về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt, vệ sinh để kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo do thiếu hụt các chiều tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản; Cải thiện tốt hơn
hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã, thôn đặc biệt khó khăn vùng núi; xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo theo tiêu chí nông thôn mới; Hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo được vay vốn tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội; Đảm bảo 100% người nghèo;
Trang 34người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn; người đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn được cấp thẻ bảo hiểm y tế để giảm chiều thiếu hụt dịch vụ về y tế; 100% học sinh, sinh viên thuộc hộ nghèo là người đồng bào dân tộc thiểu số, học sinh, sinh viên các đối tượng chính sách được miễn giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập, thực hiện đồng bộ các chính sách khác về giáo dục đào tạo theo quy định để giảm nhanh chiều thiếu hụt về giáo dục Đảm bảo hộ nghèo, người nghèo có nhu cầu được trợ giúp pháp lý miễn phí, tạo điều kiện cho người nghèo hiểu biết quyền, nghĩa vụ của mình, chủ động tiếp cận các chính sách trợ giúp của Nhà nước để vươn lên thoát nghèo Hỗ trợ dạy nghề cho lao động nông thôn, đặc biệt là lao động thuộc hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc; tập huấn cho đội ngũ cán bộ giảm nghèo các cấp về kiến thức, kỹ năng quản lý và
tổ chức thực hiện chương trình, giảm nghèo; lập kế hoạch có sự tham gia của người dân để giúp phát triển cộng đồng
Nghèo, trong đó có nghèo cùng cực, phổ biến ở các nhóm dân tộc thiểu
số và các vùng miền có đông dân tộc thiểu số 47% tổng số người nghèo cả nước thuộc nhóm dân tộc thiểu số Các dạng nghèo đô thị mới cũng xuất hiện, trong nhóm dân di cư và lao động phi chính thức do suy giảm kinh tế Nhóm
dễ bị tổn thương do thiên tai, thảm họa, cũng không thể không tính tới trong chính sách lâu dài Họ nghèo về thu nhập và còn nghèo ở các chiều khác như giáo dục, y tế, nước sạch, vệ sinh và nhà ở…, đều tụt hậu rất xa so với mức bình quân cả nước Đó cũng là lý do mục tiêu giảm nghèo bền vững của ta đến năm 2020 không chỉ tiếp tục ưu tiên nguồn lực cho các vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao, khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, mà quan trọng là chuyển đổi phương pháp đo lường nghèo đói từ đơn chiều sang đa chiều, tăng độ bao phủ chính sách tới các đối tượng Xóa nghèo không chỉ tăng thu nhập cho các hộ nghèo mà còn tăng mức độ thụ hưởng của các thành viên trong các dịch vụ xã hội khác Đây có thể xem là phương pháp "mang tầm tương lai”, được Liên Hợp quốc và Ngân hàng Thế giới khuyến nghị các quốc gia trong xóa đói
Trang 35nghèo, Việt Nam sẽ tiên phong đi đầu "Việc khuyến khích người nghèo bày
tỏ tiếng nói, trao quyền để họ tự tìm ra cách thức giảm nghèo, lôi cuốn sự tham gia của người nghèo vào quá trình lập kế hoạch và giám sát thực hiện là
những yếu tố để giảm nghèo bền vững” (Pratibha Mehta, Điều phối viên
Thường trú của Liên Hợp quốc)
1.2.4 Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều
1.2.4.1 Cơ chế chính sách của nhà nước và địa phương về giảm nghèo tiếp cận đa chiều
Cơ chế chính sách chính là cơ sở để các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương thực hiện công tác quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều Nếu thiếu sự liên kết giữa các chính sách (do được thực hiện độc lập bởi các bộ, ngành khác nhau, nhưng lại chưa được phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng) hay có
có sự chồng chéo giữa các chương trình sẽ dẫn tới hiệu quả công tác quản lý không cao, không tạo được niềm tin cho nhân dân
Để có các cơ chế chính sách tác động tốt tới quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều cần chú ý những cơ chế, chính sách cơ bản sau:
- Chính sách huy động nguồn lực giảm nghèo tiếp cận đa chiều (Vốn,
đầu tư,…);
- Chính sách đa dạng hóa hình thức hỗ trợ người nghèo từ nhiều nguồn lực;
- Các chính sách giảm mức thiếu hụt trong giảm nghèo tiếp cận đa
chiều (giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và vệ sinh môi trường, thông tin);
- Sự phối hợp các chương trình, dự án giảm nghèo tại các địa phương
1.2.4.2 Bộ máy tổ chức, công tác phối hợp và đội ngũ cán bộ thực hiện công tác quản lý
Bộ máy tổ chức, công tác phối hợp và đội ngũ cán bộ thực hiện công tác quản lý ảnh hưởng đến quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều: Bộ máy tổ chức và đội ngũ cán bộ quản lý có hoạt động tốt, phối hợp nhịp nhàng và bổ sung, hỗ trợ nhau trong quá trình thực hiện cơ chế chính sách thì mới mang lại
Trang 36hiệu quả thực sự mà chính sách mong muốn mang lại cho người dân Và ngược lại, nếu không có sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng thì chính sách sẽ không đi vào cuộc sống và hiệu quả mà nó mang lại không cao Không đạt được mục tiêu trong công tác quản lý
Để có bộ máy tổ chức, công tác phối hợp và đội ngũ cán bộ thực hiện công tác quản lý tốt cần giải quyết những vấn đề sau:
- Về năng lực bộ máy quản lý: sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp Ủy
đảng, chính quyền, mặt trận và đoàn thể các cấp đối với công tác giảm nghèo bền vững; công tác tuyên truyền về kế hoạch giảm nghèo tiếp cận đa chiều đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung và sâu rộng đến các cấp, các ngành, các tầng lớp dân cư và người nghèo nhằm thay đổi, chuyển biến về nhận thức của người dân trong công tác giảm nghèo; Phân cấp, trao quyền cho địa phương, cơ sở, tạo điều kiện để người dân tích cực tham gia vào các hoạt động của kế hoạch: tổ chức huy động sự tham gia của cộng đồng và xã hội vào giảm nghèo tiếp cận đa chiều
- Về sự phối hợp dọc và ngang của các cơ quan quản lý nhà nước và địa phương:
Mối phụ thuộc ngang tạo điều kiện cần thiết cho cấp dưới phát huy dân chủ, thế mạnh của địa phương để hoàn thành nhiệm vụ mà cấp trên đã giao phó Mối phụ thuộc dọc giúp cho cấp trên có thể tập trung quyền lực Nhà nước để chỉ đạo hoạt động cấp dưới, tạo nên một hoạt động chung thống nhất Nguyên tắc này nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa lợi ích chung của cả nước với lợi ích của địa phương, giữa lợi ích của ngành với lợi ích vùng lãnh thổ
Trách nhiệm giảm nghèo tiếp cận đa chiều không chỉ riêng là trách nhiệm của nhà nước hay một tổ chức nào mà là trách nhiệm chung của toàn
xã hội Để giảm nghèo tiếp cận đa chiều bền vững, vai trò phối hợp của các
cơ quan quản lý nhà nước, của cộng đồng, doanh nghiệp và các tổ chức kinh
tế - xã hội là nhân tố không thể thiếu, nó được thể hiện bằng sự chia sẻ nguồn
Trang 37lực, hỗ trợ các hộ nghèo trên các mặt hoạt động như vốn, tạo thị trường, tạo việc làm, đào tạo lao động hoặc liên doanh liên kết nhằm tạo cơ hội phát triển kinh tế và tiếp cận với những nhu cầu cơ bản của cuộc sống, thúc đẩy hộ nghèo vươn lên thoát nghèo
- Về số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ thực hiện công tác quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều
Giai đoạn 2016 - 2020, chương trình giảm nghèo của nước ta được thực hiện theo quan điểm toàn diện, công bằng, bền vững hơn với việc tiếp cận và triển khai các giải pháp giảm nghèo theo hướng đa chiều Để chương trình đạt mục tiêu đề ra đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó, việc xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý giảm nghèo các cấp có năng lực, nhiệt huyết, tận tâm với công việc được coi là yếu tố đặc biệt quan trọng Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo các cấp chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng Đặc biệt là tại cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) hiện chưa có cán bộ chuyên trách làm công tác giảm nghèo mà đều là kiêm nhiệm Cán bộ cơ sở chưa được đào tạo bài bản chuyên sâu về công tác giảm nghèo lại thường xuyên luân chuyển khiến cho công tác triển khai, thực thi chính sách giảm nghèo đến với các đối tượng còn chậm và khó khăn Hạn chế về trình độ lại thiếu thông tin về quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách và nội dung các chương trình giảm nghèo… dẫn đến khả năng tham mưu, thực hiện chương trình giảm nghèo tại địa phương còn hạn chế Bên cạnh đó, nhiều cán bộ giảm nghèo mới chỉ chú ý thực hiện các chính sách mà chưa quan tâm tuyên truyền
để nâng cao ý thức tự vươn lên của người nghèo, gây ra tâm lý trông chờ vào chính sách hỗ trợ của một bộ phận không nhỏ đối tượng thụ hưởng Công tác giảm nghèo đòi hỏi người cán bộ ngoài chuyên môn nghiệp vụ, còn phải nhiệt huyết, nhạy bén và tính sáng tạo, song một số địa phương chưa coi đó là một vấn đề cần thiết để bố trí cán bộ cho phù hợp nhu cầu của công việc
Trang 38- Công tác tuyên truyền, khuyến khích, tạo ý thức chủ động của các cấp
và người dân, xóa bỏ tư tưởng ỷ lại của các cấp và của bản thân người nghèo, xóa bỏ xu hướng nhiều địa phương, huyện, xã và người dân muốn vào danh sách đối tượng nghèo để được trợ giúp
1.2.4.3 Năng lực phấn đấu vươn lên của hộ nghèo tiếp cận đa chiều
Giảm nghèo tiếp cận đa chiều là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng, Nhà nước và là sự nghiệp của toàn dân Cơ chế chính sách của Nhà nước
có thực sự mang lại hiệu quả cho người nghèo hay không thì ngoài sự vận động đúng hướng của chính quyền địa phương, sự nỗ lực vươn lên của chính hộ nghèo mới là điều quyết định hiệu quả của chính sách giảm nghèo tiếp cận đa chiều
Để nâng cao năng lực phấn đấu vươn lên của hộ nghèo tiếp cận đa chiều cần phải giải quyết một số vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, nâng cao thu nhập của hộ nghèo: Đối với nội dung này, vấn
đề đặt ra là phải tăng cường hỗ trợ phát triển sản xuất cho người dân, phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất ở khu vực nông thôn, miền núi… thông qua công tác khuyến nông, khuyến công; thực hiện chủ trương dồn điền đổi thửa ở những vùng sản xuất, trồng trọt tập trung, đẩy mạnh cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp; khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào nông thôn; xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm nông nghiệp có giá trị kinh tế… Liên quan đến việc đào tạo, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, công tác đào tạo nghề phải gắn với các mô hình, dự án sản xuất có hiệu quả; tạo điều kiện cho lao động nông thôn chuyển dịch việc làm sang sản xuất nông nghiệp công nghệ cao hoặc chuyển đổi sang làm việc trong các khu, cụm công nghiệp…
Thứ hai, nâng cao nhận thức của hộ nghèo: Để công tác giảm nghèo
tiếp cận đa chiều được bền vững thì ngoài việc tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình, chính sách của Trung ương, tỉnh ban hành thì các cấp,
Trang 39ngành, địa phương cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức cho người dân về ý thức tự lực trong lao động sản xuất, thay đổi tư duy, thói quen canh tác, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nhất là không trông chờ ỷ lại vào Nhà nước
1.3 Kinh nghiệm quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều tại một số địa phương trong cả nước và bài học cho huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
1.3.1 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước
1.3.1.1 Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Kạn
Trong thời gian qua, công tác giảm nghèo đã được cấp ủy, chính quyền các cấp tỉnh Bắc Kạn quan tâm chỉ đạo và có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, được cụ thể hóa bằng hệ thống các văn bản chỉ đạo, điều hành; tổ chức các cuộc họp; hội nghị, hội thảo; kiểm tra, sơ kết, tổng kết, đánh giá; huy động, tập trung nguồn lực để thực hiện công tác giảm nghèo, đặc biệt là tại hai huyện nghèo và 58 xã đặc biệt khó khăn, xã An toàn khu
Tổng nguồn vốn đã bố trí cho Chương trình giảm nghèo từ năm 2011 đến năm 2015 là 3.752,109 tỷ đồng (ngân sách Trung ương 877,924 tỷ đồng; vốn vay tín dụng ưu đãi 1.393 tỷ đồng; nguồn từ Dự án quan hệ đối tác vì người nghèo trong phát triển nông lâm nghiệp 515,781 tỷ đồng; nguồn Dự án
hỗ trợ giảm nghèo PRPP 9 tỷ đồng;nguồn vốn huy động do Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam và Bảo hiểm Việt Nam hỗ trợ 87,240 tỷ đồng; nguồn vốn từ các chương trình, dự án, chính sách hỗ trợ giảm nghèo 869,164 tỷ đồng) Ngoài ra còn có nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, nguồn vốn nước ngoài ODA, FDI, nguồn ngân sách địa phương tự cân đối đầu tư cho các công trình hạ tầng tại các địa phương góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo
Từ nguồn vốn trên, trong 5 năm qua, toàn tỉnh đã có trên 40.000 lượt
hộ được hỗ trợ máy móc, thiết bị và công cụ sản xuất, vật tư nông nghiệp, giống cây trồng, vật nuôi; hỗ trợ khai hoang, phục hóa, xây dựng mô hình chăn nuôi, trồng trọt; trên 30.000 lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo, học sinh, sinh
Trang 40viên có hoàn cảnh khó khăn vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội; trên 1 triệu lượt đối tượng là người nghèo, người dân tộc thiểu số được cấp thẻ bảo hiểm y tế, được khám chữa bệnh; trên 10.000 lượt người nghèo được trợ giúp pháp lý miễn phí; hàng trăm nghìn lượt hộ nghèo được hỗ trợ tiền điện, dầu hỏa thắp sáng; miễn giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập, hỗ trợ gạo, tiền
ăn cho trên 100.000 lượt học sinh nghèo, học sinh dân tộc thiểu số; trên 4.000 lao động nông thôn, thanh niên dân tộc thiểu số được đào tạo nghề; giải quyết việc làm cho gần 25.000 người lao động; xóa nhà tạm cho 2.601 hộ nghèo; tổ chức tập huấn bồi dưỡng nâng cao năng lực cho trên 4000 lượt cán bộ; xây dựng và nhân rộng mô hình giảm nghèo Các công trình hạ tầng được đầu tư xây dựng ngày càng hoàn thiện với 820 công trình giao thông, thủy lợi, điện, trường,lớp học, trạm y tế, nhà sinh hoạt cộng đồng, nước sinh hoạt tập trung
Nguồn: Ngô Trung Kiên (2016), Giải pháp giảm nghèo theo hướng tiếp
cận đa chiều trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế 2015), trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên
(2011-1.3.1.2 Kinh nghiệm của huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
Hiệu quả và tính bền vững trong hoạt động giảm nghèo phục thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó có những yếu tố thuộc về phía con người, yếu tố từ chính sách, chương trình giảm nghèo, điều kiện kinh tế xã hội và tác động của một số yếu tố khác Huyện Sóc Sơn đã năm bắt và phân tích rõ các yếu tố, từ
đó đưa ra giải pháp giảm nghèo phù hợp cho từng đối tượng Cụ thể:
* Các yếu tố khách quan
Trình độ phát triển kinh tế xã hội của địa phương có vai trò quyết định tới
sự phát triển những lĩnh vực hoạt động xã hội khác, trong đó có giảm nghèo Trình
độ phát triển kinh tế có tác động trực tiếp tới công tác giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế và thu nhập của dân cư trong quá trình đô thị hóa, không những tạo điều kiện vật chất cho sự hỗ trợ ngày càng lớn của nhà nước cho người nghèo mà còn giúp cho người nghèo có thêm thuận lợi để tự vươn lên