1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu thực trạng giáo dục thẩm mỹ thông qua môn học tạo hình cho trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non trưng nhị thị xã phúc yên tỉnh vĩnh phúc (2014)

59 261 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 735,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu đề tài này, nhằm tìm ra những biện pháp hữu hiệu nhất để nâng cao việc GDTM cho trẻ mẫu giáo lớn, giúp trẻ hình thành những xúc cảm thẩm mỹ - yêu thích cái đẹp; tạo điều kiện ch

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

TÌM HIỂU THỰC TRẠNG GIÁO DỤC THẨM MỸ THÔNG QUA MÔN HỌC TẠO HÌNH CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN Ở TRƯỜNG MẦM NON TRƯNG NHỊ - THỊ XÃ

Trang 2

Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Khoa Giáo dục Tiểu học, cô Trịnh Thị Xinh, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Ban Giám hiệu trường Mầm non Trưng Nhị đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng 05 năm 2014

Sinh viên

Nguyễn Thị Thanh Huyền

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận là hoàn toàn trung thực Đề tài này chưa được công bố trong bất cứ một công trình khoa học nào khác

Hà Nội, ngày tháng 05 năm 2014

Sinh viên

Nguyễn Thị Thanh Huyền

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

5 Phạm vi nghiên cứu 3

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

7 Giả thuyết khoa học 4

8 Phương pháp nghiên cứu 4

9 Cấu trúc khóa luận 4

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Một số vấn đề về GDTM - GDTM cho trẻ mẫu giáo 5

1.1.1 Khái niệm GDTM 5

1.1.1.1 Khái niệm giáo dục 5

1.1.1.2 Khái niệm thẩm mỹ 5

1.1.1.3 Giáo dục thẩm mỹ 6

1.1.2 Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo 6

1.1.2.1 Khái niệm trẻ em 6

1.1.2.2 Khái niệm trẻ em mẫu giáo 7

1.1.2.3 Khái niệm GDTM cho trẻ em mẫu giáo 7

1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của GDTM cho trẻ mẫu giáo 7

1.2 GDTM cho trẻ mẫu giáo thông qua môn học tạo hình 9

1.2.1 Một số vấn đề về hoạt động tạo hình cho trẻ mẫu giáo 9

1.2.1.1 Khái niệm hoạt động tạo hình 9

1.2.1.2 Nguồn gốc, bản chất của hoạt động tạo hình 10

1.2.1.3 Đặc điểm và khả năng tạo hình của trẻ mẫu giáo lớn 11

Trang 6

1.2.2 GDTM cho trẻ mẫu giáo thông qua môn học tạo hình 13

1.2.2.1 Vai trò của HĐTH đối với việc GDTM cho trẻ 13

1.2.2.2 Ý nghĩa của GDTM cho trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động tạo hình 14

1.2.2.3 Giáo dục cái đẹp thông qua HĐTH 15

1.2.2.4 Các phương pháp dạy học thường được sử dụng trong môn học tạo hình nhằm GDTM cho trẻ 17

1.2.2.5 Các hình thức tổ chức HĐTH cho trẻ mầm non 19

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC THẨM MỸ THÔNG QUA MÔN HỌC TẠO HÌNH CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN Ở TRƯỜNG MẦM NON TRƯNG NHỊ - THỊ XÃ PHÚC YÊN - TỈNH VĨNH PHÚC 23

2.1 Một số nét về khách thể nghiên cứu 23

2.2 Thực trạng về việc GDTM thông qua môn học tạo hình cho TMGL ở trường mầm non Trưng Nhị - thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc 24

2.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về vai trò của việc GDTM thông qua môn học tạo hình cho TMGL (5 - 6 tuổi) 25

2.2.2 Thực trạng về việc tổ chức và thực hiện các phương pháp GDTM cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua môn học tạo hình 26

2.2.3 Kết quả quan sát hoạt động tạo hình 30

2.2.3.1 Trên tiết học 30

2.2.3.2 Trong hoạt động góc 30

2.2.3.3 Trong hoạt động ngoài trời 30

2.2.3.4 Kết quả phân tích hoạt động 31

2.2.3.5 Các tiêu chí và thang đánh giá 31

2.2.3.6 Kết quả thực trạng 33

2.2.4 Thực trạng việc phối hợp giữa giáo viên và gia đình trẻ trong vấn đề GDTM cho TMGL thông qua môn học tạo hình 35

Trang 7

2.3 Nguyên nhân và bước đầu đề xuất một số biện pháp tác động nhằm

nâng cao chất lượng GDTM cho TMGL thông qua môn học tạo hình 38

2.3.1 Nguyên nhân 38

2.3.2 Bước đầu đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng GDTM cho TMGL thông qua môn học tạo hình 39

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43

PHỤ LỤC 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

Trang 8

Cơ sở thực tiễn

Thực tiễn ở trường Mầm non, đa số trẻ chưa phát huy hết khả năng sáng tạo Các phương pháp HĐTH lâu nay đang được sử dụng còn mang tính

áp đặt, dập khuôn theo mẫu, sao chép chưa phát huy hết khả năng sáng tạo và

sự linh hoạt của người giáo viên khi tổ chức HĐTH Do đó, việc GDTM cho trẻ qua môn học tạo hình chưa đạt được kết quả cao Vậy giáo viên phải làm

gì, làm như thế nào để có thể nâng cao chất lượng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ thông qua môn học tạo hình

Trang 9

Nhận thấy tầm quan trọng của môn học tạo hình tôi đã lựa chọn đề tài

“Tìm hiểu thực trạng GDTM thông qua môn học tạo hình cho TMGL ở

trường mầm non Trưng Nhị - thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề này như:

C.Mac, Ănghen trong tuyển tập, T1, NXB Sự thật, Hà Nội (1980) đã đưa ra quan điểm về cái đẹp: “Cái đẹp không chỉ là thước đo hoạt động của con người mà còn là cái chuẩn để chỉ phẩm chất người”

Tác giả Kazakova.T.C - Hãy phát triển tính sáng tạo ở trẻ mẫu giáo - Matxcova, 1995

L.X Vưgotxki (1896-1955), trí tưởng tượng và sáng tạo ở lứa tuổi thiếu nhi, NXB Phụ nữ, Hà Nội, 1985

Krupkaia N K về giáo dục Mẫu giáo XL 1975 - TR208 “cứ để các em làm con tàu mà các em đi bằng những chiếc ghế, cứ để các em dựng ngôi nhà bằng các mảnh gỗ vụn Trong quá trình trẻ chơi trẻ khắc phục khó khăn, nhận biết những cái xung quanh mà tìm ra lối thoát, phát triển óc tưởng tượng, sáng tạo trong quá trình chơi”

Các công trình nghiên cứu về tâm lý học khẳng định: “Tính hình tượng, tính dễ cảm xúc và tính đồng cảm tạo nên đặc trưng ở lứa tuổi mẫu giáo” (A.V Daparojets)

Ở Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về thẩm mỹ nói chung về việc GDTM cho trẻ mầm non nói riêng như:

Tác giả Tào Văn Ân - Trường Đại học Cần Thơ với cuốn Thẩm Mỹ học đại cương

Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết với cuốn Giáo dục cái đẹp cho trẻ thơ, NXB Giáo Dục, Hà Nội (1989)

Và nhiều công trình khác

Trang 10

3 Mục đích nghiên cứu

GDTM là một nội dung không thể thiếu trong quá trình chăm sóc - giáo dục trẻ mầm non Nó có khả năng kỳ diệu tạo ra hiệu quả to lớn đối với sự phát triển toàn diện nhân cách trẻ Tìm hiểu đề tài này, nhằm tìm ra những biện pháp hữu hiệu nhất để nâng cao việc GDTM cho trẻ mẫu giáo lớn, giúp trẻ hình thành những xúc cảm thẩm mỹ - yêu thích cái đẹp; tạo điều kiện cho trẻ được tiếp xúc, khám phá cái đẹp; phát triển các chức năng tâm lý như khả năng tri giác sự vật hiện tượng xung quanh, từ đó phát triển óc sáng tạo, ham muốn tạo

ra cái đẹp Qua tìm hiểu đề tài này, còn giúp giáo viên trau dồi những kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, phục vụ cho công tác giảng dạy sau này

4 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: nghiên cứu trên 100 trẻ mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi tại trường mầm non Trưng Nhị - thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc

- Đối tượng nghiên cứu: GDTM thông qua môn học tạo hình cho trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non Trưng Nhị - thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc

5 Phạm vi nghiên cứu

Việc GDTM cho trẻ trong trường mầm non được thực hiện ở tất cả các

độ tuổi và có thể thực hiện bằng nhiều con đường và ở nhiều mức độ khác nhau Nhưng do thời gian và điều kiện có hạn nên trong đề tài này tôi chỉ tìm hiểu và nghiên cứu thực trạng GDTM thông qua môn học tạo hình cho trẻ mẫu

giáo lớn ở trường mầm non Trưng Nhị - thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm hiểu các vấn đề lý luận về GDTM và HĐTH của trẻ mẫu giáo lớn Tìm hiểu thực trạng GDTM thông qua môn học tạo hình cho trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non Trưng Nhị - thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc và bước đầu đề xuất một số biện pháp để khắc phục và nhằm nâng cao chất lượng của GDTM qua môn học này

Trang 11

7 Giả thuyết khoa học

Việc GDTM cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua môn học tạo hình chưa đạt được kết quả cao Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng

đó là do chất lượng tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ của đội ngũ giáo viên

và điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường chưa được đảm bảo

8 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu lý luận: thông qua các tài liệu về tâm lý học, giáo dục học, phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình…

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp nghiên cứu tự nhiên: hoạt động của trẻ, phương pháp tổ chức của giáo viên

- Phương pháp điều tra:

+ Trao đổi với giáo viên về các biện pháp tổ chức cho trẻ thông qua giờ học tạo hình, trao đổi với phụ huynh học sinh

+ Điều tra bằng phiếu Anket

- Phương pháp đánh giá sản phẩm: dựa trên các tiêu chí để phân tích đánh giá sản phẩm của giáo viên và trẻ

- Phương pháp thông kế toán học: điều tra thu nhập số liệu, tính %, xây dựng bảng số

9 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận bao gồm:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Tìm hiểu thực trạng GDTM thông qua môn học tạo hình cho trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non Trưng Nhị - thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc

Nguyên nhân và bước đầu đề xuất một số biện pháp tác động nhằm nâng cao chất lượng GDTM cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua môn học tạo hình

Trang 12

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Một số vấn đề về GDTM - GDTM cho trẻ mẫu giáo

1.1.1 Khái niệm GDTM

1.1.1.1 Khái niệm giáo dục

Giáo dục (theo nghĩa rộng) là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục, nhằm hình thành nhân cách cho họ

Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là quá trình hình thành cho người được giáo dục lý tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho họ các hoạt động và giao lưu

1.1.1.2 Khái niệm thẩm mỹ

Quan điểm về thẩm mỹ (cái đẹp) đã xuất hiện rất lâu trong lịch sử xã hội loài người nói chung và trong triết học nói riêng Đã có rất nhiều những quan điểm của các nhà Mỹ học về cái đẹp

Theo Mác: “Cái đẹp không chỉ là thước đo hoạt động của con người mà còn là cái chuẩn để chỉ phẩm chất người” Mác viết “súc vật chỉ nhào nặn vật chất theo thước đo giống loài nó, còn con người thì có thể áp dụng thước đo

và thích dụng cho mọi đối tượng, do đó con người cũng nhào nặn vật chất theo quy luật của cái đẹp” (C.Mac, Ănghen trong tuyển tập, T1, NXB Sự Thật, Hà Nội 1980, trang 19)

Như vậy, thẩm mỹ (cái đẹp) gắn bó với phẩm chất sáng tạo của con người, gắn với quá trình hoàn thiện, hoàn mỹ Hay cái đẹp là sự hài hòa, sự cân đối trong đời sống vật chất lẫn tinh thần

Trang 13

1.1.1.3 Giáo dục thẩm mỹ

Khái niệm giáo dục thẩm mỹ trong mỹ học Mác - Lênin được xác định

ở hai nghĩa:

Ở nghĩa hẹp, đó là giáo dục quy về cái đẹp, giáo dục cho con người biết

cảm thụ, đánh giá và sáng tạo ra cái đẹp

Ở nghĩa rộng, đó là sự giáo dục và tự giáo dục, phát huy mọi năng lực

bản chất của người theo quy luật của cái đẹp Như vậy, GDTM tồn tại ở mọi lúc mọi nơi trong cuộc sống, nó đồng nghĩa với sự hình thành thẩm mỹ

Tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ đưa ra khái niệm: “GDTM là quá trình hoạt động chung của nhà sư phạm và của người học sinh, hướng vào việc tổ chức lĩnh hội những nền tảng phổ thông của văn hóa thẩm mỹ, nhằm hình thành ở học sinh những quan hệ thẩm mỹ đúng đắn đối với hiện thực và nghệ thuật, nguyện vọng và năng lực sáng tạo, sống theo quy luật của cái đẹp, góp phần làm cho nhân cách thế hệ trẻ phát triển hài hòa và toàn diện”

Dưới góc độ giáo dục học “GDTM được coi là quá trình tác động có mục đích, có hệ thống nhằm hình thành và phát triển ở trẻ em lòng yêu cái đẹp và năng lực sáng tạo cái đẹp”

Tóm lại, chúng ta có thể hiểu: GDTM là quá trình tác động qua lại giữa

nhà giáo dục và người được giáo dục nhằm hình thành ở mỗi cá nhân năng lực nhận thức, khả năng cảm thụ, đánh giá và sáng tạo cái đẹp trong tự nhiên,

xã hội và trong nghệ thuật

1.1.2 Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo

1.1.2.1 Khái niệm trẻ em

Có quan niệm cho rằng trẻ em là “người lớn thu nhỏ lại”, sự khác nhau

về (cơ thể, tư tưởng, tình cảm) chỉ ở tầm cỡ, kích thước chứ không khác nhau

về chất Theo J.J.Rutxo (1712-1778) trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại và người lớn không phải lúc nào cũng có thể hiểu được trí tuệ, nguyện

Trang 14

vọng và tình cảm độc đáo của trẻ vì trẻ có những cách nhìn, suy nghĩ và cảm nhận riêng

Tâm lí học duy vật biện chứng khẳng định: Trẻ em là đứa trẻ nó vận động, phát triển theo quy luật riêng của trẻ Ngay từ khi ra đời là một con người, có nhu cầu giao tiếp với người lớn Sự phát triển giữa trẻ và người lớn

là về chất

1.1.2.2 Khái niệm trẻ em mẫu giáo

Trẻ em mẫu giáo là trẻ em trong độ tuổi từ 3 - 6 tuổi Từ lúc lọt lòng cho đến 6 tuổi nói chung và TEMG nói riêng là một quãng đời có tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình phát triển chung của trẻ E.L.N Tonxtôi đã nhận định khi nhấn mạnh ý nghĩa của thời kỳ đó rằng: tất cả những cái gì mà đứa trẻ có sau này khi trở thành người lớn đều thu nhận được trong thời thơ ấu Trong quãng đời còn lại những cái mà nó thu nhận được chỉ đáng một phần trăm những thứ đó mà thôi

1.1.2.3 Khái niệm GDTM cho trẻ em mẫu giáo

GDTM cho TEMG là một quá trình sư phạm nhằm hình thành và phát triển ở trẻ em năng lực ban đầu về cảm thụ và nhận biết đúng đắn cái đẹp trong tự nhiên, trong đời sống sinh hoạt xã hội và trong nghệ thuật, giáo dục trẻ lòng yêu cái đẹp, sống theo cái đẹp và biết tạo ra cái đẹp trong cuộc sống

1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của GDTM cho trẻ mẫu giáo

GDTM là một bộ phận quan trọng của giáo dục phát triển toàn diện với thế hệ trẻ và cần được tiến hành ngay từ lứa tuổi mẫu giáo Do những đặc điểm tâm lý ở lứa tuổi này mà trẻ mẫu giáo là thời kỳ “hoàng kim” của GDTM

GDTM là một quá trình tác động có hệ thống và có mục đích vào nhân cách của cá nhân nhằm phát triển năng lực cảm thụ và nhận biết cái đẹp trong

tự nhiên và trong đời sống xã hội, giáo dục lòng yêu cái đẹp và đưa cái đẹp vào trong đời sống một cách sáng tạo

Trang 15

Trong giáo dục học, nếu coi cấu trúc nhân cách trẻ em bao gồm bốn mặt: thể chất, trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ thì ở trẻ mẫu giáo mặt thẩm mỹ phát triển nhanh nhất bởi đặc trưng tâm lý của giai đoạn này được biểu hiện rõ ở tính hình tượng, tính dễ xúc cảm và tính đồng cảm Hơn thế nữa, bản thân sự phát triển thẩm mỹ dễ kéo theo sự phát triển các mặt khác như trí tuệ, đạo đức

và thể chất Nói cách khác, thông qua GDTM, giáo dục đạo đức và giáo dục trí tuệ cho trẻ mẫu giáo sẽ dễ dàng hơn, đạt hiệu quả cao hơn

- GDTM có mối liên hệ mật thiết với giáo dục đạo đức: cảm xúc thẩm mỹ không những xây dựng trên cơ sở cảm thụ cái đẹp mà còn trên cơ sở nắm chắc nội dung tư tưởng của tác phẩm nghệ thuật Những cảm xúc thẩm mỹ có ảnh hưởng đến tâm lý của con người và làm cho tính cách con người thêm cao thượng

Cảm xúc thẩm mỹ làm phong phú cuộc sống của trẻ Góp phần giáo dục tính lạc quan, yêu đời cho trẻ, khơi gợi ở trẻ em tính tích cực sáng tạo và ảnh hưởng đến việc hình thành mối quan hệ của các em với cuộc sống và những người xung quanh

Ví dụ: quan sát trong cuộc sống hàng ngày chúng ta dễ nhận thấy trẻ rất

dễ sung sướng, ngỡ ngàng trước vẻ đẹp tưởng chừng như rất đơn giản, như khi trông thấy một bông hoa tươi thắm, một cánh bướm sặc sỡ, nghe một khúc nhạc hay hoặc một câu thơ giàu vần điệu… những điều đó dễ gây nên những rung động mạnh mẽ trong lòng đứa trẻ khiến chúng dễ dàng cảm nhận

vẻ đẹp xung quanh, trong cuộc sống và trong các tác phẩm nghệ thuật Từ đó hình thành ở trẻ những hành vi văn minh đối với vẻ đẹp đó như: trẻ không hái hoa, bẻ cành hay làm bẩn những bức tranh… Hay trong cuộc sống hàng ngày trẻ thích ngăn nắp, gọn gàng, sạch sẽ; trẻ thích làm những việc giúp đỡ người thân, bạn bè và những người xung quanh; trẻ đồng cảm với những hoàn cảnh khó khăn éo le trong cuộc sống Đó là những cái đẹp trong hành vi và trong tâm hồn trẻ

Trang 16

- Với giáo dục trí tuệ: GDTM là cơ sở, là tiền đề để phát triển trí tuệ cho trẻ mẫu giáo Đứa trẻ ở độ tuổi này không thể tiếp nhận những lý sự khô khan về lẽ phải và cũng dễ khước từ những rao giảng buồn tẻ về điều kiện, trái lại trẻ rất nhạy cảm với những điều đó nếu chúng được biểu hiện dưới hình thức sinh động và giàu màu sắc cảm xúc GDTM khơi dậy ở các em tính tích cực sáng tạo và sự tự giác sắc bén hơn Qua giáo dục cái đẹp trẻ được tiếp xúc, khám phá môi trường xung quanh sẽ làm cho trí tưởng tượng của trẻ phong phú hơn, trẻ chú ý ghi nhớ, tư duy sâu sắc hơn để đưa những hình ảnh

mà chúng thấy được vào trong tác phẩm nghệ thuật tạo hình của mình góp phần phát triển nhận thức

- Với giáo dục lao động và thể chất: GDTM có mối liên hệ trực tiếp với giáo dục lao động và thể chất Bản thân lao động được tổ chức tốt là một phương tiện GDTM Toàn bộ vẻ đẹp của hoàn cảnh và sự tổ chức quá trình lao động có tác dụng tăng năng suất lao động Qua việc tiếp xúc, khám phá tìm hiểu cái đẹp trẻ hứng thú và làm việc say mê, tích cực hơn Sức khỏe và phát triển thể lực tốt, tư thế đẹp bao giờ cũng gây ra cảm giác đẹp mắt và có tác dụng thẩm mỹ đến sự phát triển chung về mặt tinh thần của con người, vẻ đẹp của các thao tác, vận động của nhịp điệu kích thích hứng thú của trẻ đối với việc tập thể dục

Như vậy, GDTM là một bộ phận của giáo dục xã hội chủ nghĩa Góp phần quan trọng vào việc hình thành nhân cách, phát triển toàn diện

1.2 GDTM cho trẻ mẫu giáo thông qua môn học tạo hình

1.2.1 Một số vấn đề về hoạt động tạo hình cho trẻ mẫu giáo

1.2.1.1 Khái niệm hoạt động tạo hình

Trong Từ điển Tiếng Việt, tác giả Hoàng Phê đã giải thích tạo hình là tạo ra các hình thể bằng đường nét, màu sắc, hình khối

Hoạt động là tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm đạt được một mục đích nhất định trong đời sống xã hội

Trang 17

Từ hai khái niệm trên, tác giả Nguyễn Thị Yến Phương trong luận án tiến sĩ của mình đã đưa ra khái niệm “hoạt động tạo hình” như sau: HĐTH là một hoạt động nhận thức đặc biệt mang tính sáng tạo, nó phản ánh hiện thực cuộc sống bằng những hình tượng nghệ thuật, trong đó con người không chỉ khám phá và lĩnh hội thế giới mà còn cải tạo nó theo quy luật của cái đẹp, gửi gắm vào đó tình cảm và tâm hồn người nghệ sĩ

Hoạt động tạo hình là một trong những hoạt động của con người để tạo

ra các sản phẩm có hình thể và có màu sắc đẹp, đem lại khoái cảm thẩm mỹ cho người xem - nhận ra cái đẹp và cảm xúc trước cái đẹp

1.2.1.2 Nguồn gốc, bản chất của hoạt động tạo hình

Trong các công trình nghiên cứu về bản chất hoạt động tạo hình của trẻ, L.X Vưgotxki đã khẳng định rằng, sự lĩnh hội kĩ năng ký hiệu là một hoạt động cơ bản và chung nhất của con người, phân biệt con người với con vật về mặt tâm lý Ông đã nhấn mạnh nguồn gốc xã hội của ký hiệu như một phương tiện giao tiếp phát triển xã hội

Các nhà tâm lý học duy vật biện chứng đã khẳng định rằng: hoạt động tạo hình của trẻ em là một hoạt động tổng hợp khá phức tạp Qua hoạt động

đó trẻ bộc lộ một nhân cách đang được hình thành Sự phát triển hoạt động tạo hình chính là một khía cạnh của sự phát triển tâm lý trẻ em Nghĩa là nó cũng diễn ra thông qua sự lĩnh hội của đứa trẻ những phẩm chất, năng lực tâm

lý đặc trưng cho con người mà những phẩm chất, năng lực này đã được đúc kết trong lịch sử phát triển của loài người và được in dấu trong nền văn hóa vật chất và tinh thần của xã hội Như vậy, HĐTH của trẻ em là một hoạt động

có nguồn gốc xã hội, mang bản chất xã hội rõ rệt

Nếu hiểu theo nghĩa rộng, HĐTH của trẻ em được xem như một quá trình lĩnh hội các kinh nghiệm xã hội

Trang 18

Khi xét ở phạm vi hẹp - trong các hoạt động đa dạng của lứa tuổi mầm non, HĐTH được coi là một hoạt động mang tính sáng tạo nghệ thuật Đó là một quá trình phản ánh những ấn tượng từ cuộc sống xã hội, là quá trình thể hiện những suy nghĩ, tình cảm của trẻ đối với thế giới xung quanh bằng các phương tiện, chất liệu nghệ thuật thông qua các hình tượng mang tính nghệ thuật

Xem xét nguồn gốc tạo hình của trẻ em, nhiều nhà nghiên cứu (J.Piaget, G.H Luquet, L.X Vưgotxki,…) đã khẳng định rằng, cội nguồn của

sự phát triển hoạt động tạo hình chính là sự bắt chước, là sự hình thành và phát triển chức năng ký hiệu

1.2.1.3 Đặc điểm và khả năng tạo hình của trẻ mẫu giáo lớn

Đặc điểm hoạt động tạo hình của trẻ mẫu giáo lớn:

Để có một khả năng phát triển tạo hình cần phải trải qua một qua trình liên tục có hệ thống Nếu như tuổi mẫu giáo bé là nền tảng sự phát triển khả năng tạo hình cho lứa tuổi mẫu giáo nhỡ, thì lứa tuổi mẫu giáo nhỡ lại là cầu nối cho sự phát triển tạo hình ở lứa tuổi mẫu giáo lớn, vốn được coi là bước đệm hết sức cần thiết để chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 Mỗi lứa tuổi đều có một vai trò nhất định trong quá trình phát triển khả năng tạo hình của trẻ Đó là mối quan hệ xuyên suốt không thể tách rời

Chính vì vậy ở mỗi lứa tuổi đều cần có những yêu cầu riêng biệt để phù hợp với tâm lý trẻ Tuổi mẫu giáo lớn trẻ đã có sự phát triển mạnh về thể lực và

sự khéo léo của đôi bàn tay Vì vậy trẻ miêu tả được đặc điểm về hình dáng, đường nét, bố cục và các mối quan hệ của các sự vật, hiện tượng khi vẽ, nặn, cắt, xé, dán TMGL tìm hiểu cái đẹp trong ảnh, đồ dùng, đồ chơi và trong thiên nhiên, nhận biết sự thay đổi của thiên nhiên và loài vật qua màu sắc, hình dáng,

bố cục Trẻ có thể diễn đạt những cảm xúc của mình bằng lời và bằng sản phẩm một cách có mục đích Ở tuổi mẫu giáo lớn trẻ đã biết bàn bạc để nêu lên

ý định chung khi tạo sản phẩm tập thể Biết tự giới thiệu sản phẩm của mình và

Trang 19

nêu nhận xét về sản phẩm của bạn Từ đó giúp trẻ tự hệ thống hóa và chuẩn xác các biểu tượng, nâng cao chất lượng sản phẩm tạo hình, đồng thời tạo bước đệm vững chắc, phát triển khả năng tạo hình ở lứa tuổi phổ thông

Khả năng tạo hình của trẻ mẫu giáo lớn:

Khái niệm “Khả năng”: khả năng có thể hiểu là những đặc điểm riêng

của mỗi cá nhân, đảm bảo cho sự lĩnh hội một cách tương đối dễ dàng và có chất lượng một dạng HĐTH nào đó Khả năng không phải là phẩm chất bẩm sinh, nó chỉ là hình thành và phát triển trong hoạt động Kết quả hoạt động chỉ phụ thuộc vào trình độ phát triển khả năng được hình thành trong hoạt động

đó Mặc dù vậy, sự phát triển khả năng cũng có những điều kiện sinh lý hay còn gọi là cơ sở vật chất của khả năng như cấu tạo của não, kiểu hoạt động của thần kinh cao cấp, cấu tạo của cơ quan cảm giác, cơ quan vận động

TMGL đã nắm được kỹ năng tạo hình và hoạt động có hứng thú, có kết quả khả quan; các sản phẩm của trẻ rất hồn nhiên, ngây thơ, trong sáng về hình thức màu sắc; trẻ thể hiện được cảm thụ hiểu biết MTXQ

- Về quan sát, nhận biết: trẻ đã biết quan sát có chủ đích hơn - quan sát

có nhận xét để hiểu biết về đối tượng

- Về sử dụng phương tiện tạo hình: trẻ biết cầm bút, màu, chì… đúng cách, dễ dàng và thoải mái hơn Điều khiển các khớp ngón tay, cổ tay linh hoạt hơn

Trang 20

+ Tuy nhiên bài vẽ của một số trẻ ở lứa tuổi này còn có một số điểm lưu ý như hình vẽ còn nhỏ và đều làm cho bài vẽ vụn, xếp hình nhiều bài vẽ trở nên rối, sắp xếp hình vẽ như kể, liệt kê…

- Về vẽ màu: vẽ màu tươi sáng, đã chú ý đến độ đậm nhạt của màu gọn trong hình Tuy nhiên, trẻ khi vẽ màu thường di nhiều lần làm cho lì, bong lên, không đẹp; còn yếu về màu bột, màu nước

- Về xếp hình: trẻ xếp được hình theo ý thích, hình xếp rõ nội dung như gia đình, lễ hội, trường học…

- Về xé dán: trẻ xé được một số hình đã rõ đặc điểm, xé thêm các bộ phận, chi tiết của đối tượng và sắp xếp hình theo đề tài

Trên đây là những đặc điểm tạo hình của trẻ mẫu giáo lớn Tuy nhiên

nó không phải là chuẩn mực, chính xác với tất cả

1.2.2 GDTM cho trẻ mẫu giáo thông qua môn học tạo hình

1.2.2.1 Vai trò của HĐTH đối với việc GDTM cho trẻ

Với tư cách là hoạt động nghệ thuật, HĐTH tạo nên nhưng điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển cảm giác, tri giác thẩm mỹ, việc quan sát, tìm hiểu các sự vật hiện tượng giúp trẻ nhận ra các đặc điểm thẩm mỹ (hình dáng, màu sắc, tỷ lệ, sự sắp xếp trong không gian,…), nhận ra nét độc đáo tạo nên

sự hấp dẫn của đối tượng miêu tả

Các đặc điểm thẩm mỹ phong phú, đa dạng của đối tượng miêu tả là những yếu tố kích thích sự xuất hiện của những rung động, của những xúc

Trang 21

cảm thẩm mỹ (cảm xúc về vẻ đẹp của hình, màu, nhịp điệu, vẻ cân đối, hài hòa,…) Từ những xúc cảm thẩm mỹ, giúp trẻ biết thưởng thức cái đẹp tự nhiên và các tác phẩm nghệ thuật

Quá trình tạo các sản phẩm tạo hình (vẽ, nặn, xếp hình, xé dán,…) là điều kiện thuận lợi cho trẻ vận dụng tích cực vốn biểu tượng hình tượng đã tích lũy được để phối hợp, xây dựng hình tượng mới, làm cho sản phẩm tạo hình càng sinh động, đầy hấp dẫn mang màu sắc nghệ thuật Sự thể hiện nội dung tạo hình bằng phương tiện truyền cảm mang tính trực quan (đường nét, hình dáng, màu sắc…) sẽ làm cho cảm xúc thẩm mỹ của trẻ ngày càng trở nên sâu sắc hơn, trí tưởng tượng mang tính nghệ thuật của trẻ ngày càng phong phú

Hoạt động thực tiễn tạo ra các sản phẩm nghệ thuật tạo hình không chỉ

là cơ hội thuận lợi cho trẻ luôn được tiếp xúc với cái đẹp, luôn được rèn luyện trong việc tìm kiếm, tìm hiểu về cái đẹp mà còn nảy sinh và nuôi dưỡng ở trẻ hứng thú với hoạt động nghệ thuật và niềm say mê sáng tạo nghệ thuật

Khác với mọi hoạt động khác trong trường mầm non, tham gia HĐTH trẻ buộc làm quen không chỉ với cái đẹp trong đời sống mà cả trong nghệ thuật (qua tranh, ảnh, đồ thủ công mỹ nghệ…) Qua đó giúp trẻ nhận ra giá trị thẩm mỹ của các sự vật, hiện tượng xung quanh và mong muốn được thể hiện những vẻ đẹp đó một cách sáng tạo nhất

Sự phản ánh hiện thực và biểu lộ tình cảm trong các phương tiện truyền cảm đặc trưng cho các loại hình nghệ thuật vật thể như đường nét, hình dạng, màu sắc, bố cục không gian… chính là con đường lĩnh hội các kinh nghiệm văn hóa thẩm mỹ rất phù hợp với lứa tuổi của trẻ, trên cơ sở đó mà hình thành thị hiếu thẩm mỹ

1.2.2.2 Ý nghĩa của GDTM cho trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động tạo hình

Hoạt động tạo hình lấy GDTM làm mục đích Như vậy góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục nói chung là giáo dục phát triển toàn diện cả về đạo

Trang 22

đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, lao động Vì thế trong chương trình các cấp học đều có nội dung GDTM GDTM thông qua môn học (văn học, mỹ thuật,

âm nhac, kịch…) Ở trường mầm non, chương trình HĐTH chiếm khá nhiều thời lượng và thông qua nhiều bài học như: vẽ, nặn, xé dán, chắp ghép, và làm quen với các tác phẩm tạo hình Tất cả các HĐTH ở trường mầm non đều hướng đến GDTM cho trẻ, tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc, làm quen và tập tạo

ra cái đẹp để trẻ nâng cao nhận thức thẩm mỹ và vận dụng những hiểu biết về cái đẹp vào trong đời sống hàng ngày, từ đó trẻ có ý thức tôn trọng và bảo vệ cái đẹp

1.2.2.3 Giáo dục cái đẹp thông qua HĐTH

 Về hoạt động vẽ

Đối với trẻ em, vẽ chính là sự thể hiện những biểu tượng, ấn tượng, suy nghĩ và tình cảm của trẻ Là sự giao tiếp, “nói chuyện” bằng các hình thức, phương tiện mang tính vật thể Vẽ giúp trẻ suy nghĩ và hình thành các ý tưởng sáng tạo Đây đồng thời là một hình thức rèn luyện trí tuệ, là quá trình tư duy thông qua các hình thức vật thể, trực quan

- Vào tuổi lên ba thì đứa trẻ mới dùng lời nói để đặt tên cho những cái

mà nó định vẽ, mặc dù khi vẽ ra thì không giống với cái định vẽ, nhưng đây là thời điểm rất quan trọng và sự diễn đạt ý định vẽ bằng lời nói chính là thời điểm bắt đầu của HĐTH Khi đứa trẻ nói lên ý định vẽ một cái gì đó tức là nó

đã nhìn thấy hình ảnh đồ họa tương tự và muốn vẽ lại cái đó, cũng tức là nó bắt chước các nét vẽ của người lớn nhằm miêu tả một cái gì đó, nhưng đã giản lược đi rất nhiều

- Đến tuổi mẫu giáo thì phần lớn trẻ bước sang giai đoạn tạo hình, nếu

có sự giúp đỡ, hướng dẫn Trước hết, người lớn cần dạy cho trẻ biết cách cầm bút vẽ, tư thế ngồi đúng để vẽ những đường cơ bản (đường thẳng, đường tròn…) Tuy nhiên cách dạy ở đây không cần theo bài bản y như các giờ dạy

Trang 23

học ở trường phổ thông, mà phải hết sức tự nhiên, lồng được những sự vật sinh động đầy hấp dẫn vào các đường nét khô cứng ấy thì hiệu quả sẽ tốt hơn rất nhiều

- Cùng với việc dạy trẻ những nét cơ bản, người lớn cần hướng dẫn trẻ phối hợp các đường cơ bản ấy thành một hình vẽ sống động hơn để gây hấp dẫn

- Cao hơn nữa từ những đường riêng lẻ dạy trẻ phối hợp lại thành các hình

mà trẻ đã được làm quen như hình vuông, hình tam giác, hình chữ nhật…

- Vấn đề chọn màu cũng được hướng dẫn cẩn thận

- Với những hiểu biết về các đường nét cơ bản, chọn màu, phối hợp màu, trẻ có thể làm ra những bức tranh tùy theo ý thích Để làm được việc đó cần hướng dẫn trẻ quan sát phong cảnh thiên nhiên và sinh hoạt của con người; cần chỉ ra những nét đặc trưng nổi bật và những đặc điểm đẹp mắt, lí thú gần gũi với trẻ thơ

- Bố cục là một vấn đề khó khăn đối với trẻ Nên cho trẻ xem những bức tranh có chọn lọc của những họa sĩ nhí tài hoa, đàm thoại với trẻ về bức tranh để gợi ý, nhận xét bố cục đó

- Những bức tranh của trẻ do bắt chước hoặc do người lớn hướng dẫn

mà trẻ tự tạo ra những cái chưa hề có trong kinh nghiệm

 Về nặn

- Ở trẻ mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi, có thể gợi ý cho trẻ nặn những con vật nuôi quen thuộc trong gia đình hay những con vật giống như đã nhìn thấy ngoài chợ, trong các cửa hàng hay trong sở thú… Đối với những trẻ khéo tay,

có thể hướng dẫn nặn các hình phức tạp hơn và cần khuyến khích trẻ tự nặn theo ý thích của mình

- Cần tạo ra các kiểu tạo hình khác nhau mang tính chất thủ công như cắt dán, chắp ghép Đây là một công trình mang tính tổng hợp, như vậy thu hút nhiều trẻ tham gia, sáng kiến của các cháu sẽ bổ sung cho nhau, tạo nên năng khiếu thẩm mỹ phong phú

Trang 24

 Về trò chơi xây dựng

- Trò chơi xây dựng là trò chơi biểu hiện khả năng tạo hình nhiều nhất Chỉ cần những mẩu gỗ hay nhựa với các hình dạng và màu sắc khác nhau trẻ

có thể lắp ráp, xây dựng những công trình kiến trúc đẹp đẽ

- Ngoài gỗ và nhựa ra, vật liệu xây dựng còn bao gồm nhiều thứ khác như bao diêm, hộp giấy, nắp chai… đặc biệt là những vật liệu từ thiên nhiên như vỏ nghêu, sò, ốc, hến… Với con mắt của trẻ thơ tất cả các vật liệu ấy trong phút chốc đều có thể thành “công trình xây dựng” lí thú Trong những công trình này sáng kiến của trẻ được bộc lộ rõ nét Việc hướng dẫn của người lớn sẽ giúp trẻ có thể hình thành ý đồ xây dựng rõ ràng, biết chọn vật liệu phù hợp, đẹp mắt, pha trộn màu sắc hài hòa Tránh áp đặt một cách cứng nhắc các mẫu có sẵn buộc các cháu phải làm theo

1.2.2.4 Các phương pháp dạy học thường được sử dụng trong môn học tạo hình nhằm GDTM cho trẻ

“Phương pháp” là cách thức hướng dẫn HĐTH cho trẻ mầm non chính

là hệ thống hoạt động qua lại của nhà sư phạm với trẻ để HĐTH nhận thức thẩm mỹ và hoạt động thực tiễn cho trẻ nhằm bồi dưỡng các năng lực tạo hình giúp trẻ nắm được các hiểu biết cũng như các kỹ năng, kỹ xảo tạo hình, hình thành phát triển ở trẻ khả năng sáng tạo

Trong đề tài này sử dụng 4 nhóm phương pháp: nhóm phương pháp thông tin - tiếp nhận, nhóm phương pháp thực hành - ôn luyện, nhóm phương pháp tìm tòi - sáng tạo, nhóm phương pháp mang tính vui chơi

 Nhóm phương pháp thông tin - tiếp nhận

Đây là phương pháp tạo điều kiện phát triển ở trẻ tri thức thẩm mỹ, giúp trẻ hiểu biết về nội dung miêu tả và phương pháp tạo hình, hình thành hứng thú, bồi dưỡng khả năng cảm thụ thẩm mỹ, nhóm này có 3 phương pháp:

Trang 25

Phương pháp quan sát:

Giúp trẻ vận dụng khả năng cảm giác, tri giác, hình thành các biểu tượng rõ nét về đối tượng miêu tả Tiến tới đánh giá thẩm mỹ, thưởng thức cái đẹp Quá trình quan sát phải được tổ chức từng bước, tập cho trẻ biết phân tích, khái quát hình ảnh của đối tượng tri giác

Một quá trình quan sát thường phải phối hợp rất linh hoạt và hợp lý các quá trình tri giác bao quát với tri giác tập chung Cần giúp trẻ bắt đầu bằng quan sát bao quát, sau đó tập chung vào các chi tiết, rồi trở lại quan sát toàn

bộ diện mạo của đối tượng

Nắm vững cách thức, kỹ năng quan sát như vậy trẻ sẽ trở nên tích cực và

tự lập, tích lũy vốn kinh nghiệm cảm xúc, tri giác thẩm mỹ của trẻ sẽ dần được hình thành và trở nên phong phú, làm cơ sở cho sự phát triển óc sáng tạo

Phương pháp dùng lời:

Hoạt động lời nói đóng vai trò khá quan trọng trong việc tạo nên hiệu quả của toàn bộ quá trình tạo hình, dùng lời phải được xác định và phải sử dụng phù hợp với nội dung thông tin và ngữ cảnh Lời giải thích phải rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu, những lời nói mô tả vẻ đẹp của sự vật phải sinh động, đầy tính hình tượng và gợi cảm

 Nhóm phương pháp thực hành - ôn luyện

Là hoạt động của cả giáo viên và trẻ nhằm củng cố tri thức, bồi dưỡng

kỹ năng, rèn luyện, hình thành các kỹ sảo trong hoạt động tạo hình Muốn trẻ

Trang 26

không nhàm chán, cách tổ chức hoạt động phải thu hút được sự chú ý của trẻ, khiến trẻ hứng thú, chủ động tiếp thu những kinh nghiệm mới, vận dụng các kinh nghiệm đã có trong các hoàn cảnh, điều kiện khác nhau

 Nhóm phương pháp tìm tòi - sáng tạo

Hoạt động của trẻ và giáo viên nhằm động viên, kích thích hoạt động tìm kiếm, khám phá và phát hiện trong các HĐTH, qua đó mà phát triển khả năng tư duy sáng tạo, trí tưởng tượng sáng tạo ở trẻ

 Các phương pháp vui chơi

Việc sử dụng biện pháp mang tính vui chơi trong các HĐTH sẽ làm tăng hứng thú của trẻ, tạo nên tâm trạng phấn khởi, mong muốn được vẽ, nặn, cắt, dán và làm tăng hiệu quả của việc huy động trí lực trong quá trình hoạt động

Phân loại các biện pháp đó thành các nhóm:

- Các biện pháp vui chơi tìm hiểu thế giới xung quanh

- Các biện pháp chơi - miêu tả có chủ đề

- Các biện pháp chơi - ôn luyện

- Các biện pháp “trò chơi hóa” sản phẩm tạo hình

1.2.2.5 Các hình thức tổ chức HĐTH cho trẻ mầm non

Có hai hình thức quan trọng:

+ Tổ chức hoạt động tạo hình trong tiết học

+ Tổ chức hoạt động tạo hình ngoài tiết học

 Hoạt động tạo hình trong tiết học

Trên thực tế, tiết tạo hình này đang được coi là hình thức quan trọng, được các trường mầm non quan tâm nhiều nhất

Có nhiều loại tiết học tạo hình: tiết học tạo hình theo nhóm nhỏ, tiết học theo nhóm lớp, tiết học mang tính chủ đạo

Trên tiết học của bộ môn các hoạt động khác HĐTH không đóng vai trò chủ đạo, các nhiệm vụ tạo hình không phải là nhiệm vụ chính, nhưng ở đó

Trang 27

người ta có thể kết hợp giải quyết các nhiệm vụ phát triển khả năng HĐTH của trẻ có thể đưa vào các yếu tố của HĐTH

Các tiết học tạo hình trong trường mầm non được phân theo các loại hình của HĐTH: vẽ, nặn, xếp dán… Ngoài ra còn một số tiết học mang tính ứng dụng như: xếp hình, gấp giấy…

Thể loại các tiết học tạo hình được phân loại theo cơ sở của sự hình thành hình tượng, gồm 3 loại:

+ Các tiết học tạo hình theo mẫu

+ Các tiết học tạo hình theo đề tài

+ Các tiết học tạo hình theo ý thích

Tiết học theo mẫu: là loại tiết học mà ở đó trẻ miêu tả, tái hiện lại một cách tương đối chính xác hình ảnh của đối tượng miêu tả Trên các tiết học này người ta cung cấp kiến thức, những hiểu biết tương đối đầy đủ, chính xác

về đối tượng miêu tả để giúp trẻ hình thành những biểu tượng một cách rõ nét

và tiếp thu những ấn tượng ban đầu một cách sâu sắc Đây là hình thức miêu

tả theo hệ thống biểu tượng tri giác một cách trực tiếp, quan sát mẫu trực tiếp, nếu ta cung cấp trước cho trẻ biểu tượng đó ngoài các tiết học một cách cụ thể, thì nó tạo điều kiện thuận lợi hơn để rèn luyện ở trẻ phát triển khả năng đánh giá bằng mắt, trí nhớ tri giác Khi trẻ đã có những ấn tượng, những hình ảnh về đối tượng mình miêu tả, thì quá trình cho trẻ tái hiện những hình ảnh tri giác tốt hơn Trong các tiết học mẫu, sản phẩm phải giống nhau, sự tương đối giữa hình ảnh được miêu tả chủ yếu của các loại tiết này là những sự vật đơn lẻ, có cấu trúc tương đối đơn giản Mục đích là tập cho trẻ quan sát, cung cấp các hiểu biết, các kỹ năng, kỹ sảo

Tiết học theo đề tài: là nét mang tính ôn luyện, ở đó trẻ phải sử dụng các biểu tượng, hiểu biết đã được tích lũy, cất giữ trong trí nhớ để tái tạo lại các hình ảnh mà nó không nhìn thấy trực tiếp Tiết học theo đề tài còn có thể

Trang 28

hiểu là tạo hình theo trí nhớ hoặc theo sự hình dung (không có mẫu để quan sát trực tiếp) Mục đích của loại tiết này là phát triển trí nhớ hình tượng, tưởng tượng tái tạo, rèn luyện khả năng tích cực, độc lập

Tiết học tạo hình theo ý thích: miêu tả khả năng tượng sáng tạo, thể hiện những biểu tượng, hình tượng mà khả năng tưởng tượng sáng tạo nên Mục đích của loại tiết này là hình thành và phát triển ở trẻ khả năng hoạt động tích cực độc lập, sáng tạo Nội dung miêu tả của tiết học này thể hiện các quan hệ tương đối phức tạp giữa các sự vật hiện tượng trong TGXQ, là sự tổng hợp, phối hợp giữa các nội dung mà trẻ đã thể hiện trên các tiết học tạo hình theo mẫu hoặc theo đề tài

 Hoạt động tạo hình ngoài tiết học

Để giúp trẻ tiếp thu tích lũy, mở rộng vốn kinh nghiệm tri giác, vốn biểu tượng, hình tượng phong phú về TGXQ, cần bổ sung cho hệ thống các tiết học tạo hình ít ỏi bằng hàng loạt hoạt động phong phú “mọi lúc mọi nơi”, trong các giờ học khác, các hoạt đông vui chơi mà mọi hoạt động sinh hoạt hàng ngày của trẻ Chính những hoạt động mang tính tạo hình không bị gò bó, phù hợp với hứng thú và tầm hiểu biết của trẻ, sẽ nuôi dưỡng ở trẻ lòng say

mê với môn học tạo hình và tạo điều kiện phát triển tính tích cực nhận thức ở trẻ Thông qua đó, giáo viên cung cấp cho trẻ những kiến thức về cái đẹp, kỹ năng kỹ xảo, đặc biệt là xúc cảm tình cảm

Các quá trình này có thể là quá trình tri giác chuyên biệt ngoài tiết học cho trẻ tri giác và phải được chuẩn bị các bước đầy đủ cho trẻ tri giác đối tượng miêu tả được tốt Hoặc có thể là hình thức chơi tạo hình HĐTH có mối liên hệ rất chặt chẽ với hoạt động vui chơi Cả hai hoạt động cùng là quá trình lĩnh hội các kinh nghiệm xã hội, quá trình phản ánh hiện thực xã hội qua lăng kính chủ quan của trẻ Qua đó sẽ tạo ra khoảng rộng cho hoạt động của trí tưởng tượng, sáng tạo trong tạo hình

Trang 29

Có thể nói phương châm “học mà chơi, chơi mà học” sẽ rất có hiệu quả, nếu chúng ta biết lồng ghép các biện pháp vào trong phương pháp dạy học cho trẻ Nó không chỉ giúp trẻ cảm thấy hứng thú đối với HĐTH mà thông qua đó trẻ tiếp thu được các tri thức kỹ xảo, tưởng tượng sáng tạo trong quá trình tri thức đối tượng miêu tả đồng thời GDTM cho trẻ đạt hiệu quả cao

Ngày đăng: 16/04/2018, 15:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w